“Đệ nhất thi sĩ miền Nam” Vũ Hoàng Chương – Lạc loài trong cõi nhân sinh

Khi tiếng kêu đớn đau của thi sĩ Hàn Mặc Tử ở phương Nam chợt vụt tắt, thì vòm trời thi ca đất Việt dường như chỉ còn một Vũ Hoàng Chương đang quằn quại với những vết thương xẻ nát tâm hồn. Thì kỳ lạ thay, từ chính vết thương đang rỉ máᴜ ấy lại vẽ ra một lối đi riêng, một con đường cho thi ca ngay từ buổi đầu đến với thơ mới.

Nếu ai đó đã nói, thơ là tiếng nói hồn nhiên trong trẻo của tâm hồn, là tuổi thơ của loài người còn sót lại… thì quả thật với Vũ Hoàng Chương, nó lại là tiếng bi ai được cất lên từ nỗi đau rách nát của linh hồn. Chính vì vậy, thơ ông đã chạm đến tận cùng nỗi đau và sự cảm thông của con người. Để rồi thơ văn Vũ Hoàng Chương không chỉ đóng đinh vào lòng người, mà còn dán chặt tên tuổi ông vào nền văn học nước nhà. Ông viết nhiều thể loại, từ thơ, văn đến cả kịch thơ… Hơn hai chục tác phẩm tuy chưa hẳn đã là nhiều, nhưng chính tư tưởng, hình tượng nghệ thuật mới làm nên chân dung và sự nghiệp sáng tác đồ sộ Vũ Hoàng Chương.

Vũ Hoàng Chương sinh năm 1915 tại Nam Định, trong một gia đình nho giáo. Cha ông là quan tri huyện, mẹ ông cũng hay chữ, yêu văn học và âm nhạc, nên ông được học và tiếp cận với Hán văn từ nhỏ. Sau đó, Vũ Hoàng Chương học tiếp tiếng Pháp và vào học trung học, đỗ tú tài Pháp tại Hà Nội năm 1938. Đang học luật ông bỏ đi làm ngành hỏa xa và in tập Thơ Say đầu tay vào năm 1940. Năm 1941 ông theo học khoa toán, Đại học khoa học Hà Nội. Rồi một lần nữa ông lại bỏ xuống Hải Phòng dạy học và cùng với Chu Ngọc, Nguyễn Bính lập ra Ban Kịch Hà Nội.

Năm 1943 ông in tập thơ Mây, rồi theo kháng chiến. Một thời gian sau ông bỏ kháng chiến về thành, rồi di cư vào Nam. Từ đây ông theo nghề dạy học và viết văn làm thơ. Thời gian này, ông viết nhiều, được dịch và in ra nhiều thứ tiếng. Do vậy, tên tuổi ông đến gần hơn với bạn đọc nước ngoài cũng như văn bút quốc tế.

Sau năm 1975 ông bị bắt vào tù và mất ngay sau đó vào tháng 9 năm 1976.

thủ bút của Vũ Hoàng Chương

Có thể nói, Vũ Hoàng Chương là nhà thơ lớn của dân tộc. Nếu nhìn lại văn học sử, ta có thể thấy: Sau sự cổ vũ của các cụ Phan Khôi, Nguyễn Văn Vĩnh… Vũ Hoàng Chương góp phần không nhỏ, cùng với những Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Nguyễn Nhược Pháp, Xuân Diệu, Huy Cận… mở đường tiên phong cho phong trào thơ mới từ những thập niên đầu của thế kỷ hai mươi. Thơ ông sang trọng, giàu nhạc tính, tuy cách tân mà vẫn mang mang hoài cổ.

Tập Mây (in năm 1943) và Lửa Từ Bi (năm 1963) có thể chưa phải là những thi tập hay nhất của Vũ Hoàng Chương, nhưng với tôi, nó là hai tập thơ tiêu biểu nhất cho từng giai đoạn, tư tưởng cũng như thi pháp sáng tác của ông.

Vũ Hoàng Chương xuất hiện vào thời kỳ cuối của phong trào thơ mới bằng tập Thơ Say. Nhưng phải đến thi tập Mây (năm 1943) tên tuổi ông mới được khẳng định trên thi đàn. Và tập thơ này đã làm rung động giới thưởng ngoạn, bởi giọng điệu thơ khác hẳn với những thi sĩ cùng thời.

Thật vậy, khi đọc và và nghiên cứu sâu về thơ Vũ Hoàng Chương, tôi mới chợt nhận ra cái tôi, cái riêng biệt trong thiên tình sử của ông, sao mà nó khác với những tuyên ngôn tình yêu, dành cho hội trường, đọc nơi đông người như trong thơ tình Xuân Diệu đến vậy. Với khoảng cách, sự trái ngược này, chỉ có cảm thụ của cá nhân người đọc mới có thể tự so sánh rạch ròi. Nếu được phép gắn ông hoàng, bà chúa cho thơ (tình) như người ta vẫn thường làm, với tôi chắc chắn vương miện đó phải được trao cho Vũ Hoàng Chương.

Sinh ra, lớn lên trong gia đình quyền quí, nhưng cuộc sống, tình yêu Vũ Hoàng Chương luôn tuyệt vọng, chán chường. Để tự thoát ra khỏi cuộc sống bơ vơ nơi địa ngục:

“Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh”

Ông đã treo hồn mình lơ lửng giữa vòm trời thi ca. Và Vũ Hoàng Chương không chỉ lạc loài giữa cõi nhân sinh hiện hữu này, mà chính linh hồn ông cũng lạc khỏi thân xác mình. Do vậy, đọc Vũ Hoàng Chương, ta có cảm giác thơ ông được chiết ra từ khói thuốc, men rươu trong những cơn chao đảo, thất tình điên loạn.

Vâng! Chỉ có những cơn say ấy mới có thể nhập linh hồn vào với thể x̠ác, để thi nhân đủ can đảm đi đến tận cùng sự thật đắng cay. Những tiếng kêu bi thảm đó, làm ta ngỡ, trái tim người thi sĩ tựa hồ vỡ vụn. Và biết bao đêm trường như vậy, nấm mồ sầu thảm đó vẫn được đong bằng nước mắt của thi nhân:

“Là thế là thôi là thế đó
Mười năm thôi thế mộng tan tành
Mười năm trăng cũ ai nguyện ước
Tố của Hoàng ơi Tố của Anh

Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu ghi mười hai
Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc
Tố của Hoàng nay Tố của Ai”

Có lẽ, không có nỗi đau nào bằng sự đổ vỡ, phụ bạc của tình yêu, nhất là trái tim dễ vỡ của thi nhân. Và Vũ Hoàng Chương cũng không nằm ngoài cái qui luật đó.

“Yêu sai lỡ để mang sầu trọn kiếp
Tình mười năm còn lại mấy tờ thư!”.

Đứng trước sự bế tắc của xã hội và tình yêu nhà thơ luôn cảm thấy lạc loài, bơ vơ với cuộc sống đang hiện hữu, nên luôn luôn muốn từ bỏ, thoát ly nó, tìm đến cõi mộng ảo địa đàng. Thật vậy! Vũ Hoàng Chương đang trốn chạy, tìm nơi ẩn nấp. Và cứ tưởng rằng, trốn vào men say và khói thuốc, thì sẽ mất đi nỗi đau, sầu nhớ đó, nhưng rượu đã cạn, thuốc đã tàn càng buốt lạnh thêm tâm hồn thi nhân:

“Say đã gắng để khuây sầu lẻ gối
Mưa, mưa hoài rượu chẳng ấm lòng đau
Gấm thế nào từ buổi lạnh lùng nhau
Vàng son có thay màu đôi mắt biếc?

Tình đã rời đi riêng mình tưởng tiếc
Thôi rồi đây chiều xuống giấc mơ xưa
Lá, lá rơi nằm bệnh mấy tuần mưa
Say chẳng ngắn những đêm dằng dặc nhớ…”.

Có thể nói, Mây là tập thơ hay và tiêu biểu về sự bế tắc tình yêu, cuộc sống của Vũ Hoàng Chương. Trong đó, có một số bài, một số câu thơ mới táo bạo đã đạt đến độ toàn bích. Có lẽ, ở thời điểm đó, ngoài Vũ Hoàng Chương không ai dám viết và viết hay được như vậy. Có một điều đặc biệt, đa phần những bài thơ hay của ông đều thuộc thể thất ngôn. Ta hãy đọc lại đoạn trích trong bài Đời Vắng Em Rồi, để thấy rõ sự chia ly và tình yêu đắng chát như vậy, nhưng lời thơ rất đẹp, nhẹ nhàng và trau chuốt:

“…Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai”

Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không
Mà đây lòng trắng một mùa đông
Tương tư nối đuốc thâu canh đợi
Thoảng gió trà mi động mấy bông.”

Trong cuộc sống đầy thị phi này, có rất nhiều người có những mối tình đầu đổ vỡ, đắng cay. Nhưng thất vọng sầu thảm, gục mặt vào bồng bềnh men khói, tìm đam mê, khoái cảm, quên đi nỗi buồn dằng dặc như Vũ Hoàng Chương, thì quả thật trong văn học sử đất Việt, (ngoài Hàn Mặc Tử cùng thời) dường như chỉ có nhà thơ, nhà biên kịch Lưu Quang Vũ (có thể) coi là hậu nhân của ông mà thôi.

Vũ Hoàng Chương là người giỏi Hán Văn và chịu nhiều ảnh hưởng Đường thi.
Mỗi lần đọc ông, ta lại thấy hồn cốt của Bạch Cư Dị, Lý Bạch… chợt hiện về. Những Đà Giang, Nghe Hát… đã nối dài thêm mạch chảy Tỳ Bà Hành, một thi phẩm gắn liền với tên tuổi Bạch Cư Dị. Và khi viết, ông sử dụng nhiều từ Hán Việt cũng như hình tượng điển tích, làm cho lời thơ sang trọng ẩn chứa thiền triết hoài cổ. Những nét phương đông cổ kính ấy cho ta cảm giác gần gũi lạ thường.

Tuy sâu sắc như vậy, nhưng thơ ông lại kén người đọc, nhất là tầng lớp bình dân và những người ít am hiểu văn học cũng như (tích tuồng) lịch sử. Đoạn trích trong bài Chân Hứng dưới đây, cho ta thấy rõ điều đó:

“Từ thuở chàng say ôm vũ trụ
Thu trong bầu rượu một đêm trăng.
Nhảy xuống muôn trùng sông quạnh quẽ
Đem theo chân hứng gửi cô Hằng.

Ngựa ơi hãy nghỉ chân cuồng khấu
Cho thoả lòng ta nỗi khát khao
Ta chẳng mò trăng như Lý Bạch
Nhưng tìm thi hứng mất đêm nao…

Tình hoa thuở trước xô về đọng
Ơi phiến gương vàng một tối nay.
Ta lặng buông thân trời lảo đảo,
Mơ hồ sông nước choáng men say…”

Cũng là người yêu thích thơ Đường, nên tôi hay tìm đọc những bài cổ thi qua bản dịch của các nhà thơ, dịch giả tên tuổi. Bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, tôi đã được đọc từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường qua bản dịch của Tản Đà, sau đó là những bản dịch Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Khương Hữu Dụng và một số người khác. Tuy nhiên bản dịch của Tản Đà hay và nhiều người biết hơn cả.

Nhưng gần đây tôi mới tìm được bản dịch của Vũ Hoàng Chương. Đọc xong, tôi lặng người, bởi lời thơ thoát, thoáng đạt giữ nguyên thể thơ Đường, nhưng vẫn kéo tâm trạng sầu nhớ nao nao đi đến tận cùng trong lòng người lữ khách. Qủa thật, bản dịch của Vũ Hoàng Chương tôi thích hơn so với bản dịch theo thể lục bát của Tản Đà. Với tôi, đây là tác phẩm (dịch) tuyệt bút của ông. Chúng ta đọc lại dịch phẩm cuả Tản Đà và của Vũ Hoàng Chương, để nhìn nhận so sánh:

“Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.

Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” (Tản Đà)

“Xưa hạc vàng bay vút bóng người,
Đây Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
Vàng tung cánh hạc đi đi mất,
Trắng một màu mây vạn vạn đời.

Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu,
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
Gần xa chiều xuống đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!” (Vũ Hoàng Chương)

Nhát dao cắt đôi đất nước và cuộc di cư năm 1954 là bước ngoặt lớn nhất không chỉ cho riêng Vũ Hoàng Chương, mà cho cả dân tộc. Ông thực sự hoang mang trước sự bi đát ấy. Và với ông, lúc này bàn đèn kho’i thuốc dường như không còn là nơi trú ngụ cho thể xác lẫn tâm hồn. Sự dằn vặt làm ông thao thức và luôn tự hỏi về thân phận con người trong loạn ly.

Bài Nguyện Cầu của Vũ Hoàng Chương ra đời trong hoàn cảnh, tâm trạng như vậy. Bài thơ mang hương vị thiền ở thể lục bát. Khi viết bài này, dường như thi sĩ muốn bỏ cái tham, sân, si của con người để đến gần nơi cửa phật. Cả bài thơ như một câu hỏi tu từ: “Ta còn để lại gì không?” nhằm răn mình, răn đời vậy. Đây là bài thơ không chỉ hay nhất trong thi tập Rừng Phong, mà còn là trong số (ít) những bài hay nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông:

“Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi.
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước, xa xôi dặm về

Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương
Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này.

Ðể ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời.
Nói chi thua được với đời
Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu.

Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặc, ta cầu đó thôi!
Ðêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian.

Một phen đã nín cung đàn
Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm.”

Trong cái xã hội nhá nhem điên loạn và sự bấp bênh của thân phận con người, tết Bính thìn 1976, Vũ Hoàng Chương trải lòng mình vào Vịnh Bức Tranh Gà Lợn. Đây là bài thơ hay và lạ. Lạ bởi có lẽ ít ai dám đưa tục ngữ, thành ngữ vào trong thơ như ông một cách dân dã và châm biếm như vậy. Và bài thơ có tính thời sự cao, dễ thuộc đi vào mọi tầng lớp trong xã hội và lan truyền nhanh ở trong nước cũng như ra hải ngoại.

“Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn, om sòm rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có hoạ
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh

Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh“

Tôi không rõ bài thất ngôn tứ tuyệt: Dấu Hỏi Vây Quanh Kiếp Người, được thi sĩ Vũ Hoàng sáng tác từ khi nào? Đây là bài thơ có tính thiền triết, đầy hình tượng ám ảnh, cho ta cảm giác rờn rợn khi đọc. Cả kiếp người là một câu hỏi, một câu hỏi trong vòng luẩn quẩn, đến lúc nhắm mắt xuôi tay không lời giải đáp, mà chỉ có tiếng vọng lại khi nắp quan tài sập lại:

“Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người
Sên bò nát óc máu thầm rơi
Chiều nay một dấu than buông dứt
Đinh đóng vào săng tiếng trả lời.”

Bài thơ này, tiếng vọng kia, phải chăng là câu kết hay lời khép lại của chính cuộc đời thi sĩ Vũ Hoàng Chương?

Trích theo bài của tác giả Đỗ Trường

Hồi ức về “con đường đến trường” của các thế hệ học sinh ngày xưa

Hàng năm, cứ đến khoảng tháng 8, tháng 9 là mùa tựu trường. Nhìn hoàn cảnh hiện nay của các bé nhi đồng bước chân vào tiểu học, nhiều người lớn không thể xua đi hết cảm giác thương cảm cho “con đường đến trường” trong thời đại hiện nay.

Bởi vì từ lâu rồi, các thế hệ học sinh đã không thể thấm thía được đoạn văn này của Thanh Tịnh, vốn đã quen thuộc với hầu hết thế hệ học trò xưa kia:

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

Ngày nay, đường đi học của các em, kể cả nông thôn lẫn thành thị, đầy những bụi bặm, xe cộ và không thiếu những cạm bẫy chực chờ. Xã hội ngày càng văn minh, càng phát triển thì không gian tuổi thơ của các em bị thu hẹp lại rất nhiều. 

Tuổi thơ của tôi chỉ mới đi qua được vài chục năm, nhưng lúc đó hãy còn đẹp lắm. Khi hoàng hôn đã khuất dạng, màn đêm kéo đến và thế gian không được soi rọi bởi ánh điện văn minh như hiện nay, nhưng chúng tôi vẫn có ánh trăng bừng sáng cả một khoảng sân rộng, ở đó trẻ em cả làng có thể tụ tập và vui chơi trong một khung cảnh rất thanh bình.

Con đường đến trường khi gần, khi xa, nhưng luôn an toàn, và chúng tôi vẫn có thể tự đi bộ đến trường. Đó là một hành trình như một chuyến phiêu lưu để chúng tôi – những đứa trẻ bắt đầu hình thành ý thức – có thể khám phá những điều mới lạ ở hai bên vệ đường.

Nếu có bạn nào thắc mắc con đường đến trường ở thời điểm xa xưa hơn nữa, vào cái thời thập niên 1950-1960 ở miền Nam, tác giả Hoàng Lan Chi đã kể lại như sau:

Con đường đến trường tiểu học thật dễ thương. Ngày ấy chúng tôi đi bộ nhiều, chẳng vù vù xe máy như bây giờ. Đi bộ đến trường thật vui. Cứ tung tăng chân sáo, vừa đi vừa hái hoa bắt buớm. Ôi sao ngày đó Sài Gòn nhiều hoa bướm thế! Hai bên đường những hàng rào hoa dâm bụt đo đỏ xinh xinh. Nhìn vào trong, nhà nào cũng có vườn, cây cối xum xuê. Bướm bay la đà. Những con bướm đủ màu sắc, nhưng bướm vàng nhiều nhất. Nếu nhìn riêng thì bướm vàng không đẹp nhưng khi bay lượn giữa rừng lá xanh thì đàn bướm vàng thật duyên dáng. Chúng như một nét điểm xuyết cho bức họa hoa lá… Tôi thích nhìn bướm bay, tôi thích ngắm hoa nở.

Trường học to vừa phải, lớp học đủ ánh sáng. Mỗi sáng thứ hai chào cờ, đứng nghiêm và hát quốc ca: “Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi…”

Ừ thì thanh niên luôn được dạy dỗ là “đáp lời sông núi”.

Chúng tôi được học những bài công dân giáo dục đầu tiên và chúng đã ăn sâu mãi vào tiềm thức. Đủ biết các cụ nói uốn cây khi chúng còn non là đúng. Tuổi ngây thơ coi những lời thầy cô là khuôn vàng thước ngọc:

  • Không phá của công
  • Không xả rác ngoài đường
  • Phải nhường ghế cho người lớn tuổi, phụ nữ có thai trên xe buýt
  • Phải dắt em bé hay cụ già qua đường
  • Phải ngả nón chào khi xe tang đi qua
  • Không gian lận. Nói dối là xấu xa…

Chúng tôi đã được dạy như thế đó và chúng tôi đã làm theo như thế đó. Ôi Sài Gòn của tôi ơi, bây giờ tôi đi giữa phố phường mà lạc lõng vô cùng khi chỉ mình tôi ngả nón chào người chết hay chạy nép vào lề nhường cho xe cấp cứu đi qua! (Hoàng Lan Chi – Hồi ký của một người con gái đất Bắc tại Sài Gòn trước 75)

Trong 1 bài viết trên báo Tri Thức Trẻ, tác giả Trang Trần so sánh việc học của thời xưa và thời nay như sau:

Thời xưa, chuyện học hành của lũ trẻ nhàn hạ lắm. Học ít vô cùng, mà chơi nhiều hơn. Trẻ em ngày xưa, đa phần chỉ học một buổi, sáng hoặc chiều trong ngày, chương trình học cũng rất nhẹ nhàng, phù hợp với lứa tuổi. Hồi ấy, hiếm thấy đứa nào bị cận thị hay gù lưng, vẹo xương sống vì phải vác theo những chiếc cặp nặng trịch hay còng lưng ngồi làm bài tập liên miên. Cặp sách chỉ có vài quyển vở được bọc bằng giấy báo, giấy bìa màu xi-măng, sang lắm là giấy gói quà loại mỏng và sách học, cái hộp bút nhựa đựng thước kẻ, bút chì, tẩy và bút kim tinh, thêm cái compa nữa là quá đầy đủ.

Phương tiện đến trường chủ yếu của tụi nhỏ chính là xe “căng hải” (hai cẳng – đi bộ). Cả đám gần nhà thường chờ nhau, xúm xít dàn hàng năm hàng ba, vừa dắt nhau đến trường vừa cười đùa ríu ran. Hiếm lắm mới có chuyện bố mẹ dắt con hay anh chị lớn chở em nhỏ bằng xe đạp đến trường. (Trang Trần – báo Tri Thức Trẻ)

Còn ngày nay, học đúng là một gánh nặng với trẻ em ngay từ khi chập chững vào mẫu giáo. Trước khi vào lớp 1, các em đã phải tăng ca học chữ, chứ không như xưa, khi trẻ em vào lớp 1 như một tờ giấy trắng. Học chính khóa ngày 2 buổi chưa đủ, các em ngày nay phải học thêm buổi tối, học năng khiếu… từ sáng đến tối chỉ có học mà bài vở vẫn không hết thì đâu còn thời gian để vui chơi.

Bọn trẻ ngày nay có lẽ không thể hình dung ra được những trò chơi dân dã của ngày xưa, không tốn tiền và luôn cần thật nhiều người cùng tham gia chơi, càng đông càng vui. Chỉ cần một khoảng sân rộng, vài ba hòn đá, viên bi… là đủ để lũ nhóc chơi đủ trò từ bắn bi, đánh đáo, ô ăn quan hay bịt mắt bắt dê cũng đủ để những tiếng cười giòn tan vang lên.

Tuổi thơ của quá khứ dân dã mà thanh bình đó, có lẽ là sẽ không bao giờ quay lại được nữa.

Bài: Đông Kha

Vũng Tàu năm 1967-1968 qua bộ ảnh của Terry Maher

Từ thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, phố biển Vũng Tàu (còn được gọi là Cap Saint Jacques) trở thành địa điểm đi nghỉ quen thuộc tầng lớp thượng lưu ở phía Nam, tuy nhiên cơ sở hạ tầng ở đây còn khá hoang sơ.

Đến thời đệ nhất cộng hòa, Vũng Tàu được củng cố và phát triển để đáp ứng nhu cầu của một nơi nghỉ mát và du lịch quan trọng ở phía Nam Việt Nam. Ngoài nghề đánh bắt, chế biến hải sản và trồng trọt nương rẫy truyền thống, nhiều cơ sở hạ tầng được xây dựng, cửa hàng cửa hiệu, cơ sở dịch vụ, phục vụ cho việc ăn chơi, giải trí đã được chính quyền khẩn trương hoàn thiện, khiến cho bộ mặt thành phố ngày một hoa lệ.

Từ năm 1964, Vũng Tàu trở thành trị xã trực thuộc trung ương, Tên chính thường được biết tới tên gọi Đặc khu Vũng Tàu, ban có thể xem hình ảnh cơ sở quân sự của đặc khu Vũng Tàu ở dưới đây.

Tấm hình này được nhiếp ảnh gia Terry Maher (quân nhân Mỹ) chụp năm 1968. Mời các bạn xem thêm những tấm ảnh khác, chủ yếu được chụp trên đường Trần Hưng Đạo, con đường nhộn nhịp bậc nhất Vũng Tàu trước năm 1975.

Tác giả của bộ ảnh
Bến xe ngựa trên đường Trần Hưng Đạo, khu vực tập trung nhiều khách sạn, quán bar, con đường nằm song song với đường ven Bãi Trước này thường được lính Mỹ gọi là bar street.
Có rất nhiều lính Úc đóng quân ở Vũng Tàu. Trong hình là hãng hàng không của Úc đang đón các quân nhân. Phi trường Vũng Tàu lúc đó trở thành một sân bay quân sự quan trọng tại Nam phần.

Nhà thờ Giáo xứ Vũng Tàu, còn được gọi là nhà thờ Lớn
Chùa Phật Bửu Tự trên đường Nguyễn Thái Học
Các nữ sinh tụ tập bên quầy bánh mì nướng bên ngoài một ngôi trường ở Vũng Tàu.
Rạp chớp bóng
Trước cửa Tây chợ Vũng Tàu đường Trần Hưng Đạo

Grand Hotel, nơi lưu trú ưa thích của quân nhân Hoa Kỳ khi tham quan Vũng Tàu

Khách sạn – vũ trường Ly Ly trên đường Trần Hưng Đạo
Bạch Dinh, là dinh thự có kiến trúc châu Âu cuối thế kỷ 19, nằm bên sườn núi Lớn của thành phố Vũng Tàu. Nơi đây từng được dùng làm nơi nghỉ mát cho Toàn quyền Đông Dương, Hoàng đế Bảo Đại và các đời Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Nơi đây cũng là nơi chính quyền thuộc địa Pháp làm nơi giam lỏng vua Thành Thái từ ngày 12 tháng 9 năm 1907 đến năm 1916. Hiện nay, Bạch Dinh được dùng làm nhà bảo tàng, trưng bày các chuyên đề như: đồ gốm thời Khang Hy vớt được từ tàu cổ đắm tại khu vực Hòn Cau – Côn Đảo cùng nhiều hiện vật có giá trị khác được tìm thấy qua các đợt khai quật khảo cổ ở Bà Rịa – Vũng Tàu…
Bạch Dinh nằm góc trái của hình, bên sườn núi Lớn
Các quán bar trên đường Phan Thanh Giản (nay là đường Lý Tự Trọng)
Một bác quân cảnh đang điều phối giao thông
Chiếc “xe ca” quen thuộc liên tỉnh Sài Gòn – Vũng Tàu
Đường Quang Trung ven bãi Trước có rất nhiều kiosk bán nước hình lục giác

Đường ven biển Quang Trung
Ngoại vi Vũng Tàu

Thực hiện: Đông Kha (nhacxua.vn)
Nguồn ảnh: Terry Maher

Vũng Tàu 50 năm trước qua bộ ảnh của Barry Connors

Thời đệ nhất cộng hòa, Vũng Tàu là một quận thuộc tỉnh Phước Tuy mới thành lập. Đến năm 1964, Vũng Tàu trở thành thị xã trực thuộc trung ương và thường được gọi là “đặc khu Vũng Tàu.

Trong giai đoạn 1964 – 1972, quân đội Hoàng gia Úc đã huy động tổng cộng 61.000 quân Hải, Lục, Không quân đến phục vụ tại Vũng Tàu. Phi trường Vũng Tàu trở thành một sân bay quân sự quan trọng tại Nam phần. Trong số những quân nhân Úc đó có Barry Connors, đồn trú ở căn cứ quân sự Úc tại Vũng Tàu trong 2 năm 1970-1971 với nhiệm vụ là một đầu bếp. Ông đã chụp lại những hình ảnh Vũng Tàu cách đây tròn 50 năm sau đây.

Tác giả Barry Connors tại Vũng Tàu năm 1970
Từ trại lính Úc nhìn về phía căn cứ Radar trên Núi Lớn

Ngọn hải đăng trên Núi Nhỏ (còn được gọi là núi Tao Phùng). Ngày nay là một địa điểm tham quan nổi tiếng của Vũng Tàu
Bạch Dinh nhìn từ phía dưới đường. Tòa dinh thự này được xây trên đỉnh đồi có thể nhìn bao quát bên dưới
Grand Hotel, nơi lưu trú ưa thích của quân nhân Hoa Kỳ khi tham quan Vũng Tàu
Quán cóc ở gốc cây, hình ảnh quen thuộc không chỉ ở Vũng Tàu mà ở tất cả vùng quê xưa. Ở đây có thể bán nước, bán chè, hoặc đủ thứ đồ ăn vặt
“bar street” của Vũng Tàu xưa
Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu nhìn từ Núi Lớn, là cơ sở đào tạo nam thiếu niên trên hai phương diện: Văn hóa Phổ thông và Cơ bản Quân sự. Tiêu chí của trường là đào tạo và huấn luyện cho lớp thiếu niên khi ra trường sẽ trở thành binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan hoặc trở thành những kỹ sư, bác sĩ, giáo viên… để phục vụ trong quân đội.
Trận banh giao hữu của quân đội

Tàu mắc cạn Ioannis K, do Công ty Saint Ioannis Shipping Corp, Hy Lạp là chủ sở hữu. Con tàu phải nằm đó trong hơn 20 năm, kể từ 1968 cho đến cuối thập niên 1980.
Vị trí cuối của Bãi Sau
Bãi Sau Vũng Tàu

Bãi tắm ở Bãi Sau một ngày cuối tuần

Chợ Vũng Tàu

Bắt cá ở Bãi Trước
Y Viện Vũng Tàu
Căn cứ Radar của quân đội Mỹ trên Núi Lớn, vì vậy người nước ngoài gọi Núi Lớn là “đồi Radar”

Thực hiện: Đông Kha (nhacxua.vn)
Hình ảnh: Barry Connors

 

Nhìn lại Vũng Tàu 50 năm trước qua bộ ảnh tuyệt đẹp của Rod Allen

Có lẽ dân Saigon không ai là không một lần ghé biển Vũng Tàu. Khắp dải đất miền nam có thêm nhiều bãi biển xa hơn, có thể đẹp hơn Vũng Tàu, như Mũi Né (Phan Thiết), Ninh Chữ (Phan Rang), hoặc xa hơn nữa ở Nha Trang, Phú Yên, Quy Nhơn, Đà Nẵng… Nhưng đối với dân Saigon xưa, và cho đến tận ngày nay, đi du lịch tắm biển Vũng Tàu vẫn là một chọn lựa lý tưởng.

Trước năm 1975, Vũng Tàu cũng là nơi chuyên dành cho những chàng G.I. (General/Government Issue: lính Mỹ) đến nghỉ dưỡng, ăn chơi. Trong loạt ảnh dưới đây của ông Rod Allen – là một G.I – chụp khoảng năm 1971-1972, trong thời gian ông nhận nhiệm vụ ở Vũng Tàu, các bạn sẽ được nhìn thấy một hình ảnh Vũng Tàu tương đối khác lạ với những góc ảnh độc đáo.

Đây là hình của tác giả Rod Allen chụp tại Vũng Tàu năm 1971
Sân bay quân sự Vũng Tàu
Bãi Dứa – Vũng Tàu

Một bar dành cho các lính Mỹ
Nhà màu trắng chính giữa là Bạch Dinh nằm bên sườn núi Lớn. Người Pháp từng giam lỏng vua Thành Thái tại đây khi ngài về nước sau khi bị đày. Từ năm 1934, dinh này thành nơi nghỉ mát của vua Bảo Đại.

Chùa Thích Ca Phật Đài nằm trên mạn sườn phía Bắc của Núi Lớn, đây là quần thể kiến trúc Phật giáo nổi tiếng ở Vũng Tàu được khởi xây từ thập niên 1960. Vẻ đẹp của Thích Ca Phật Đài chính là sự kết hợp giữa kiến trúc tôn giáo và phong cảnh thiên nhiên.

Từ năm 1990 trở về trước, người dân và du khách mỗi khi đến Bãi Sau của phố biển Vũng Tàu đều thấy một con tàu lớn, bị bỏ hoang, rỉ sét, nằm phơi mình ngay sát mép nước. Tên của con tàu ấy là Ioannis K, do Công ty Saint Ioannis Shipping Corp, Hy Lạp là chủ sở hữu. Con tàu đã nằm đó trong hơn 20 năm, kể từ 1968 cho đến cuối thập niên 1980.

Một tiệm tạp hóa ở Vũng Tàu

Thực hiện: Đông Kha (nhacxua.vn)
Hình ảnh: Rod Allen

Vũng Tàu hơn 50 năm trước qua bộ ảnh tuyệt đẹp của nhiếp ảnh gia Michael Holt

Ngày xưa dân Sài Gòn và miền Nam thường gọi Vũng Tàu là Ô Cấp. Cách đây 60 năm Vũng Tàu đã có rất nhiều bãi biển đẹp và xanh mát như bãi Sau (Thùy Vân), bãi Trước (Tầm Dương), bãi Dứa (Hương Phong), bãi Dâu (Phương Thảo) cùng bãi tắm Long Hải.

Ngày nay, tên gọi Ô Cấp vẫn được người ta biết đến khi là tên gọi của quán cafe hướng biển nổi tiếng ở Vũng Tàu mà du khách nào cũng đã từng ghé chân.

Vì sao có tên gọi Ô Cấp? Cái tên này xuất phát từ thế kỷ 19, khi các nhà hàng hải Bồ Đào Nha khi đi qua mũi đất này đã lấy tên Thánh Jacques đặt cho nó, do đó người Pháp gọi nơi này là Cap Saint Jacques (do mũi đất mang tên thánh Jacques). Người Việt theo đó gọi là Cấp (gốc tiếng Pháp: Cap) hoặc Ô Cấp (gốc tiếng Pháp: Au Cap). Hiện nay mũi đất cực đông của Vũng Tàu có tên gọi là “mũi Nghinh Phong”.

Còn xuất xứ của tên gọi Vũng Tàu, đó là ngày xưa toàn khu vực này là vùng đất bãi lầy, nơi thuyền buôn của người ngoại quốc thường vào trú đậu nên gọi là Vũng Tàu.

Sau đây xin mời các bạn xem lại hình ảnh Vũng Tàu trong những năm 1967-1968 qua bộ ảnh của nhiếp ảnh gia Michael Holt. Những hình ảnh rực rỡ này có thể sẽ gợi nhớ đến một thời kỷ niệm đối với nhừng người đã sinh sống ở miền Nam hơn 50 năm trước, mỗi cuối tuần thường đi biển Ô Cấp để hóng mát. Đặc biệt là nơi này tương đối gần với Sài Gòn nên sẽ gắn liền với ký ức một thời của người dân đô thành.

Hình bên trên là đường lên Hải Đăng. Ngày nay ngã 3 này vẫn còn, và đường lên Hải Đăng vẫn rất nhỏ như xưa.

Những quầy bar này rất được quân nhân Hoa Kỳ ở Việt Nam ưa thích

Thực hiện: Đông Kha (nhacxua.vn)
Ảnh: Michael Holt

Nha Trang đẹp và yên bình qua những tấm ảnh màu trước năm 1975 (Phần 2)

Mời các bạn xem lại loạt ảnh chụp trước năm 1975 của thành phố biển Nha Trang. Sau khi đăng phần 1 và nhận được nhiều lời phản hồi tốt của độc giả, trong đó có những người đã từng gắn bó với Nha Trang vào 40-50 năm trước, xin đăng tiếp phần 2 này, là những tấm ảnh chọn lọc đẹp nhất trong hàng trăm tấm ảnh của nhiều nhiếp ảnh gia cả trong nước và quốc tế.

Trong phần này, các bạn không chỉ nhìn lại được những đường phố quen thuộc của Nha Trang xưa như đường Độc Lập, Bá Đa Lộc, Hoàng Tử Cảnh… đặc biệt là con đường ven biển tuyệt đẹp mang tên Duy Tân (nay bị đổi thành Trần Phú), mà còn xem được cảnh biển với một màu xanh ngắt, cảnh làng quê yên bình với cảnh đồng lúa vàng rực rỡ, những ngôi biệt thự sang trọng, những dãy nhà cổ kính, và cả những cô gái xứ biển mặn mà trong tà áo dài tinh khôi.

Đường dọc biển Duy Trân, nay là con đường Trần Phú đẹp nhất Nha Trang

Biệt điện Cầu Đá là một cụm 5 toà biệt thự mang phong cách kiến trúc Pháp, được xây trên đỉnh núi năm 1923. Nơi đây còn được gọi là Lầu Bảo Đại do vua Bảo Ðại thường đến nghỉ trong giai đoạn 1940-1945.
Làng chài ở Nha Trang nhìn từ khu quân sự trên cao điểm Hawk Hill

Đường Hoàng Tử Cảnh, nay là Hoàng Văn Thụ
Đảo Hòn Tre, là đảo lớn nhất nằm trong vịnh Nha Trang., cách thành phố Nha Trang 5 km. Hiện nay đảo này là VinPearl Land
Đường Độic Lập, nay là đường Thống Nhất. Các nữ sinh trung học đi lạc quyên.
Đường Độc Lập (nay là đường Thống Nhất)

Đảo Hòn Tre, là đảo lớn nhất nằm trong vịnh Nha Trang., cách thành phố Nha Trang 5 km. Hiện nay đảo này là VinPearl Land
Ngôi nhà trên đường Bá Đa Lộc (nay là Lý Tự Trọng)

Nhà có mái dốc lớn nhất ở giữa hình là rạp Tân Tân trên đường Độc Lập

Xem lại phần 1: https://nhactrinh.vn/nha-trang-dep-va-yen-binh-qua-nhung-tam-anh-mau-truoc-nam-1975/

Thực hiện: Đông Kha (nhacxua.vn)
Nguồn ảnh: manhhai flickr

Nha Trang đẹp và yên bình qua những tấm ảnh màu trước năm 1975

Nha Trang là thành phố biển du lịch quen thuộc của Việt Nam. Trong bài viết này, mời các bạn xem lại những tấm ảnh được chụp trước năm 1975.

Trước thế kỷ 18, vùng đất này thuộc nước Chiêm Thành nên đến nay vẫn còn nhiều di tích của người Chăm, nổi tiếng nhất là Tháp Bà Po Nagar. Bản thân tên gọi Nha Trang cũng được phiên âm từ tiếng của người Chăm.

Đây là tu viện La San Nha Trang được xây dựng từ năm 1932 và hoàn thành năm 1933. Tu viện La San chuyên về ngành giáo dục. Viện gồm hai dãy nhà kiến trúc đồ sộ xây bằng gạch làm sơ-tập-viện và tập-tu-viện nằm trên ngọn đồi La San (đối diện với tu viện dòng Phanxicô). Bên dưới là hình ảnh trong khuôn viên của tu viện này.

em bé Nha Trang xưa

Cô hàng nước ngọt
Phía xa là Nhà thờ Núi Nha Trang, người dân hay gọi là Nhà Thờ Đá, vì được xây dựng bằng đá, hoặc Nhà Thờ Ngã 6. Đây là nhà thờ nổi tiếng được xây từ năm 1928

Với những người sống trước 1975, ai cũng quen thuộc với những tên đường như Duy Tân, Phan Thanh Giản, Độc Lập… ở Nha Trang xưa. Sau 1975 có rất nhiều tên đường bị đổi tên, sau đây xin ghi lại các tên đường cũ và mới để các bạn tiện tra cứu.

  • Đại lộ Duy Tân -> đường Trần Phú
  • Đường Phan Thanh Giản -> đường Pasteur
  • Đường Trưng Nữ Vương -> đường Hai Bà Trưng
  • Đường Phan Nam -> đường Trần Văn Ơn
  • Đường Lê Văn Duyệt -> đường Nguyễn Thiện Thuật
  • Đường Phạm Hồng Thái và Ôn Như Hầu -> đường Nguyễn Gia Thiều
  • Đường Công Quán -> đường Yết Kiêu
  • Đường Trần Cao Vân -> đường Ngô Sĩ Liên
  • Đường Nhà thờ -> đường Lê Thành Phương
  • Đường Hai Chùa -> đường Tô Vĩnh Diện
  • Đường Triệu Ẩu -> đường Bà Triệu
  • Đường Hoàng Diệu -> đường Trần Đường và Võ Văn Ký
  • Đường Độc Lập -> đường Thống Nhất
  • Đường Hoàng Tử Cảnh -> đường Hoàng Văn Thụ
  • Đại lộ Gia Long -> đường Thái Nguyên
  • Đường Miếu Bà -> đường Lý Quốc Sư
  • Đường Bá Đa Lộc -> đường Lý Tự Trọng
  • Đại lộ Nguyễn Tri Phương -> đường Nguyễn Chánh
  • Đường Hàm Nghi -> đường Nguyễn Thị Minh Khai
  • Đường Lê Quang Định -> đường Trần Quang Khải
  • Đường Nguyễn Trãi -> đường Võ Trứ
  • Đường Thủ Khoa Huân -> đường Nguyễn Hữu Huân
  • Đường Phù Đổng Thiên Vương -> đường Phù Đổng
  • Đường Ngô Tùng Châu -> đường Trương Định
  • Đường Ký Con -> đường Đô Lương
  • Đường Mạnh Tử -> đường Trần Khánh Dư
  • Đường Khổng Tử -> đường Lê Chân
  • Đường Phước Hải -> đường Nguyễn Trãi
  • Đường Nguyễn Tường Tam -> đường Trần Bình Trọng
  • Đường Nguyễn Hoàng -> đường Ngô Gia Tự
  • Tỉnh lộ số 4 -> đường Lê Hồng Phong
  • Đường Hòn Lớn -> đường Tôn Đản

Thực hiện: Đông Kha (nhacxua.vn)
Nguồn ảnh: manhhai flickr

Thiếu nữ Huế trong những tà áo dài tuyệt đẹp qua loạt ảnh của LIFE năm 1961

Học trò xứ Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không đành

Đó là những câu thơ rất dễ thương ca ngợi nét đẹp làm say lòng người của những cô gái Huế. Nói bao nhiêu thì cũng không đủ, những câu chữ vụng về không thể mô tả được hết,  xin mời các bạn lùi lại 60 năm để chiêm ngưỡng nét đẹp của các “O Huế” ngày xưa qua loạt ảnh sống động này:

Từ lâu áo dài được xem là “quốc phục” của người Việt. Thời xưa không chỉ phụ nữ, mà nam giới cũng mặc áo dài như một loại lễ phục. Tiền thân của áo dài hiện đại được xem là loại áo ngũ thân có xuất xứ từ Huế, ra đời vào thế kỷ 18 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát.

Đến thời nhà Nguyễn, Huế không chỉ là kinh đô, mà còn là xứ sở của áo dài, là nơi tập trung các loại hình trang phục áo dài phong phú và đẹp nhất, từ các loại triều phục, phẩm phục dành cho vua chúa, hoàng gia, quan lại quý tộc; nhung phục dành cho võ quan, binh lính; tế phục, tang phục và thường phục dành cho mọi tầng lớn nhân dân. Áo dài không chỉ là y phục thường ngày, mà còn là một thoại lễ phục, ban đầu là từ Huế, sau đó bắt đầu phổ biến ra khắp đất nước. Vì vậy từ xưa cho đến ngày nay, Huế vẫn được xem là xứ sở của áo dài, phụ nữ Việt nói chung và thiếu nữ Huế nói riêng trở nên đằm thắm, dịu dàng và kín đáo hơn khi mặc lên chiếc áo dài truyền thống.

Đông Kha – fb.com/1xuaxua
Nguồn ảnh: manhhai flickr

 

Đường Tự Do (Sài Gòn) tuyệt đẹp trong những tấm ảnh phục chế màu năm 1961

Trong những tấm hình dưới đây, chúng ta sẽ được thấy những khoảnh khắc đẹp của một đoạn ngắn đường Tự Do của Sài Gòn năm 1961. Đây vốn là những tấm ảnh trắng đen quen thuộc của tạp chí LIFE được nhacxua.vn phục chế màu bằng công cụ colorize và photoshop.

Đoạn đường Tự Do trong những tấm ảnh này được chụp trong đoạn từ Nguyễn Thiếp đến Lê Lợi, chỉ trong khoảng vài trăm mét. Có thể thấy người dân đi bộ rất nhiều giống như trên đường phố các nước phát triển hiện nay. Đường Tự Do là con đường sang trọng, đẹp bậc nhất Sài Gòn xưa, là con phố Tây với rất nhiều hàng quán và cơ sở phục vụ cho người Pháp, sau đó là Mỹ. Đường Tự Do này giới hạn những phương tiện thô sơ nên khi nhìn lại những tấm hình sau đây, nhiều người đã rất kinh ngạc vì không khác một đường phố ở phương Tây.

Dãy nhà bên trái là khu thương mại mặt tiền đường Tự Do, nối liền khối với Phòng Thông Tin Đô Thành bên đường Lê Lợi và có một mặt hướng đường Nguyễn Huệ.

Chiếc taxi sơn 2 màu xanh trắng hiệu Renault của Pháp đã trở thành một trong những biểu tượng của Sài Gòn trước 1975

Bên trái dãy nhà có đường hẻm xuyên qua tòa để đi thông qua đại lộ Nguyễn Huệ. Bên trong là khu thương mại và có hàng quán. Ngày nay lối đi này vẫn còn với các hàng bán đồ lưu niệm cho du khách.

Người chụp hình đang đứng giữa ngã 3 Tự Do – Nguyễn Thiếp (nay là Đồng Khởi – Nguyễn Thiệp), ngay trước tiệm bánh – cafe nổi tiếng Brodard để chụp về phía Continental Palace. Bên phải hình là Caravelle Hotel với mặt tiền tầng trệt là cơ sở giao dịch của hãng hàng không Pháp – Air France, là một trong những chủ sở hữu của Caravalle. Vào thời điểm chụp tấm hình này, khách sạn Caravelle cũng vừa mới được xây xong.

Dãy nhà bên trái này có thể thấy Tiệm đồng hồ Longines, là tiệm hàng hiệu độc nhất dành cho giới siêu giàu.

Những tà áo dài rất đẹp thấp thoáng trên hè phố. Dãy nhà bên trái hình, chúng ta có thể thấy biển hiệu CINE, đó chính là rạp chớp bóng mang tên Catinat (tên cũ của đường Tự Do).

Những nam  thanh nữ tú Sài Gòn xưa nhìn rất thanh lịch trên đường phố.

Đoạn này đã lùi về phía xa một chút qua bên kia phía đường Nguyễn Thiệp. Bên trái hình này là tiệm thuốc nổi tiếng PHARMACIE DE FRANCE.

Ngay phía trước là giao lộ nổi tiếng Tự Do – Lê Lợi với các địa điểm Continental Paplace, trụ sở Quốc Hội (Opera House cũ), Caravelle Hotel, Eden, Phòng thông tin đô thành.

Có lẽ xe của ông bác này bị hư rồi, mà giữa trung tâm này khó tìm được chỗ sửa nên phả dẫn bộ.

Đông Kha (nhacxua.vn)
Nguồn ảnh: LIFE, manhhai flickr