Nguồn gốc tên gọi địa danh ở Sài Gòn: Phần 14 – Địa danh Bến Nghé và những hình ảnh đẹp về sông Sài Gòn xưa

Sông Bến Nghé là một phần của sông Sài Gòn (thuộc hệ thống sông Đồng Nai), là đoạn sông từ cư xá Thanh Đa đến nơi đổ vào sông Đồng Nai ở đoạn Thạnh Mỹ Lợi (Thủ Đức).

Cái tên địa danh Bến Nghé xuất hiện khá sớm, ban đầu là tên của một bến nước ở Sài Gòn, sau đó là tên của một đoạn của sông Sài Gòn, hiện nay thì dùng để chỉ một địa phường (Phường Bến Nghé thuộc quận 1 của Sài Gòn).

Tuy nhiên, hiện nay trên bản đồ khúc sông này vẫn được ghi là sông Sài Gòn, còn cái tên Bến Nghé hiện chỉ còn dùng để chỉ một con rạch nhỏ đổ ra sông. Rạch Bến Nghé là ranh giới tự nhiên của quận 1 và quận 4, bắt đầu từ ngã 3 sông Sài Gòn (sông Bến Nghé), kết thúc tại ngã tư nơi giao với kênh Tàu Hủ, kênh Tẻ và kênh Đôi. Các cây cầu bắc qua rạch Bến Nghé hiện nay theo thứ tự là cầu Khánh Hội, cầu Mống, cầu Calmette, cầu Ông Lãnh, cầu Nguyễn Văn Cừ.

Rạch Bến Nghé ở đoạn trên của hình, có thể thấy được cầu Khánh Hội và cầu Mống bắt qua con rạch

Theo nhà văn Sơn Nam, địa hình Bến Nghé gồm hai vùng rõ rệt. Phía bắc là gò đất cao, nơi xây dựng thành trì; còn phía nam là đất thấp, vùng sình lầy ven rạch Bến Nghé. Nhà cửa phần nhiều là nhà sàn của dân nằm san sát ven kênh rạch, tại các khu chợ thì có những dãy nhà mái lợp ngói, cột gỗ, vách trát vôi (chủ yếu của quan lại, điền chủ). Trong vùng lúc này đã hình thành nhiều khu chợ như: chợ Bến Thành (đây là chợ chính của hệ thống chợ Bến Nghé), chợ Bến Sỏi, chợ Điều Khiển, chợ Thị Nghè, chợ Tân Kiểng… Ghe thuyền vẫn là phương tiện đi lại chủ yếu của người dân nhờ có mạng lưới kênh rạch chằng chịt. Sau cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng cho phá bỏ thành Quy (thành Bát Quái) và xây thành mới nhỏ hơn là thành Phụng, lúc này chợ và phố xá tại Bến Nghé cũng bị tàn phá ít nhiều.

Sài Gòn trước khi bị người Pháp chiếm là một nơi có kênh rạch chằng chịt chảy xung quanh thành Gia Định, đặc biệt là lúc đó khu vực trung tâm Sài Gòn hầu như toàn bộ là các kênh/rạch dẫn nước, rất thuận tiện cho giao thương đường thủy, do đó sông Bến Nghé năm xưa luôn nhộn nhịp tàu thuyền, thương cảng Bến Nghé (nay là Cảng Sài Gòn) thu hút tàu bè của thương nhân ngoại quốc đến buôn bán đông đảo.

Toàn cảnh bến Cảng Sài Gòn thập niên 1960

Sự giao thương đường thủy nhộn nhịp đó dẫn đến sự hình thành các bến thuyền dọc rạch Bến Nghé, kênh Tàu Hủ, cho đến hàng trăm năm sau đó, những con đường dọc bờ sông hoặc kênh rạch vẫn được gọi là Bến (tức bến thuyền), chứ không gọi là đường, như là Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, Bến Vân Đồn, Bến Hàm Tử, Bến Trần Văn Kiểu…

Chữ “Bến” đó cũng xuất hiện từ thời Pháp đặt tên đường, như Bến Bạch Đằng từng mang tên quai de Donnai, quai Napoleon, quai du Commerce, quai Francis Garnier, quai le-Myre-de-Vilers, Bến Chương Dương – Bến Hàm Tử (tức Võ Văn Kiệt ngày nay) từng mang tên quai de l’Arroyo Chinois, quai de Belgique, quai de Cho-Quan, Bến Trần Văn Kiểu tên là quai de Mytho… Chữ “quai” trong tiếng Pháp chính là “bến tàu”.

quai de Belgique xưa (nay là đại lộ Võ Văn Kiệt)

Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức mô tả sông Bến Nghé rộng 142 tầm (1 tầm = 3.2m), sâu 10 tầm, khi nước lên sâu 13 thước ta (1 thước ta = 0.324m), sông này vừa rộng lớn vừa trong sâu, những tàu buôn và ghe thuyền sông biển trong và ngoài nước ra vào không ngớt, trông thấy đầu tàu nối liền, đuôi cột buồm chi chít, đủ biết đó là nơi đô hội.

Khi người Pháp chiếm được Gia Định, họ đã cho san lấp hết các kênh rạch ở khu vực giáp sông Bến Nghé (là Quận 1 ngày nay) và xây dựng trên đó nhiều dinh thự (Dinh Norodom, dinh Toàn quyền, dinh Thống đốc…), công sở (Bưu điện, Pháp đình, tòa thị chính…), xây một số khách sạn và nhà thờ, đồng thời tổ chức quy hoạch đường sá để biến Sài Gòn thành một đô thị ở vùng Viễn Đông theo kiểu mẫu Paris. Kể từ đó, bộ mặt của Gia Định cũ bị thay đổi, tuy nhiên giao thương đường thủy vẫn đóng vai trò quan trọng với Sài Gòn, nơi có cửa ngõ là sông Bến Nghé luôn tấp nập tàu thuyền ghé bến.

Đại lộ Nguyễn Huệ khi còn là một con kênh nhỏ chảy ra sông Bến Nghé

Ngoài ra, ngay từ năm 1890 người Pháp đã cho xây dựng cảng Ba Son, là nơi có những nhà xưởng đồ sộ và ụ tàu để đóng và sửa chữa tàu, là di sản hàng hải lâu đời của Sài Gòn. Cảng Ba Son nằm ở khu vực sông Bến Nghé tiếp giáp với rạch Thị Nghè.

Trong bài này mới các bạn nhìn lại những hình ảnh nhộn nhịp trên sông Bến Nghé trong thời gian 100 năm, kể từ thế kỷ 19.

Sông Sài Gòn năm 1866. Cây cầu nhỏ bắc ngang qua rạch Bến Nghé sau này là cầu Khánh Hội, bên kia là bến Nhà Rồng ở quận 4 ngày nay

Rạch Bến Nghé đổ ra sông Sài Gòn, nơi có cầu quay Khánh Hội

Cột cờ Thủ ngữ ở Bến Bạch Đằng ngày nay. Ảnh chụp năm 1866

Cờ Thủ ngữ ở Bến Bạch Đằng ngày nay. So với ảnh bên trên ảnh này có thêm tòa nhà của ông Wang Tai (Vương Đại) đang được xây dựng, nằm ở góc Hàm Nghi – Bến Bạch Đằng ngày nay

Thuyền trên sông Bến Nghé năm 1866

Rạch Bến Nghé khoảng thập niên 1870. Dãy nhà nhà trong hình nay nằm trên con đường ngày nay là đại lộ Võ Văn Kiệt (Bến Chương Dương cũ)

Toàn cảnh rạch Bến Nghé và sông Bến Nghé thập niên 1870

Tàu trên sông Sài Gòn năm 1888. Thời điểm này đoạn đường này được người Pháp đặt tên là Quai du Commerce, đến 1896 đổi là Quai Francis Garnier, và 1920 đổi thàmh Quai le Myre de Vilers. Từ năm 1955, đường này mang tên Bến Bạch Đằng. Ngày nay đường này là 1 phần của đường Tôn Đức Thắng

Trước đây, sông Bến Nghé còn có tên là Ngưu Chữ, Ngưu Tân hay Tân Bình giang (do chảy qua phủ Tân Bình xưa), theo nghĩa: Ngưu là trâu; tân hay chữ là bến; giang là sông.

Có 2 thuyết giải thích cho cái tên Bến Nghé:

Theo phó bảng Nguyễn Văn Siêu trong cuốn Phương Đình dư địa chí (1900) thì: tục truyền sông này nhiều cá sấu, từng đàn đuổi nhau kêu gầm như tiếng trâu rống, cho nên gọi tên như thế (nghé tức trâu con). Sách Đại Nam nhất thống chí, phần tỉnh Gia Định, cũng chép tương tự.

Theo học giả Trương Vĩnh Ký: Bến Nghé có nguồn gốc từ tiếng Khmer: Kompong: bến, Kon Krabei: con trâu. (Le Cisbassac, tr. 192). Nhà địa danh học Lê Trung Hoa cũng đồng ý rằng: Bến Nghé là cái bến mà “người ta thường cho trâu, bò ra tắm” vì có nhiều địa danh cấu tạo bằng “bến + tên thú” như: rạch Bến Nghé (Nhà Bè), rạch Bến Tượng (Sông Bé)…Cho nên Bến Nghé có lúc còn được gọi là Bến Trâu như trong bài “Gia Định thất thủ vịnh”: Tàu khói chạy mây tuôn sông mấy khúc, lờ lạt Bến Trâu”.

Bến Cảng nhìn từ Quận 4

Toàn cảnh Bến Bạch Đằng, Bến trái là sông Bến Nghé. Bên trái hình là đoạn cầu Khánh Hội, qua bên kia cầu là đường Trình Minh Thế (nay là đường Nguyễn Tất Thành) để đi Quận 4

Nhắc đến sông Bến Nghé, không thể không nhắc đến bến phà (và đò) Thủ Thiêm, đưa khách từ Bến Bạch Đằng sang bán đảo Thủ Thiêm xưa.

Bên kia sông Bến Nghé là bán đảo Thủ Thiêm

Một khu vực nổi tiếng khác, ranh giới của sông Bến Nghé và trung tâm Sài Gòn, chính là Bến Bạch Đằng, nơi có rất nhiều tàu hải quân neo đậu vào thập niên 1960-1970.

Bến đò gần cột Thủ ngữ năm 1890, nay là Bến Bạch Đằng

Một đoạn đường Bến Bạch Đằng nhìn từ trên cao, góc nhìn toàn cảnh của 2 đại lộ Hàm Nghi – Nguyễn Huệ và đường Tự Do. Ngoài cùng bên phải là công trường Mê Linh

Phía bên tay trái là đoạn giao giữa Bến Bạch Đằng và Bến Hàm Tử (nay trở thành đường Võ Văn Kiệt). Đó cũng là nơi tiếp giáp của sông Sài Gòn và rạch Bến Nghé

Từ sông Bến Nghé nhìn vào đầu đường Bến Bạch Đằng, đầu đại lộ Hàm Nghi

Từ sông Bến Nghé nhìn vào đầu đại lộ Nguyễn Huệ

Hàng ghế để ngồi uống cafe nước ngọt hóng mát ở dọc Bến Bạch Đằng

Bến Bạch Đằng và tàu thuyền trên sông Bến Nghé

Một vài hình ảnh công trường Mê Linh nằm trên Bến Bạch Đằng, nhìn ra sông Bến Nghé:

Ở ngay bến Bạch Đằng, nhìn ra sông Bến Nghé là một trong những khách sạn lâu đời nhất Sài Gòn: Majestic. Từ trên Majestic có thể nhìn toàn cảnh sông Bến Nghé và Bến Bạch Đằng. Sau đây là những hình ảnh chụp từ trên Majectic xuống bến sông:

Một số hình ảnh khác của sông Bến Nghé (sông Sài Gòn):

Đông Kha – chuyenxua.net

Nguồn gốc tên gọi địa danh ở Sài Gòn: Phần 13 – Cầu Ông Lãnh và Cầu Muối

Ông Lãnh là tên cây cầu nổi tiếng ở Sài Gòn, cùng với cầu Khánh Hội và cầu Camette, là 3 cây cầu cùng bắc qua rạch Bến Nghé để nối Quận Nhứt với Quận Tư ở phía Khánh Hội hiện nay. Cầu Ông Lãnh cũng là tên khu chợ nổi tiếng Sài Gòn tồn tại hơn 100 năm, bắt đầu từ thế kỷ 19.

Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Ông Lãnh, nằm bên rạch Bến Nghé năm 1955

Bên cạnh Cầu Ông Lãnh là khu chợ Cầu Muối, một thời là chợ đầu mối lớn nhất Sài Gòn.

Vị trí chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối trong bản đồ hiện nay

Ngày nay, cái tên Cầu Ông Lãnh còn được đặt tên cho một phường của Quận 1 Sài Gòn, trung tâm của phường là đường Nguyễn Thái Học ở đầu cầu Ông Lãnh. Ngoài ra, môt thời gian dài hồi nửa đầu thế kỷ 20, người ta còn gọi một đoạn đường ven rạch Bến Nghé (xưa là đường Bến Chương Dương, nay là đại lộ Võ Văn Kiệt) là đường Cầu Ông Lãnh, vì nó đi qua khu vực Cầu Ông Lãnh.

Đường Cầu Ông Lãnh thuộc tuyến đường quan trọng nối Sài Gòn với Chợ Lớn thời đầu thế kỷ 20, còn được gọi là Đường Dưới

Vào thời thế kỷ 19, đường Nguyễn Thái Học ngày nay vẫn còn là một con rạch nối từ rạch Bến Nghé đi vào bên trong (thường được gọi là rạch Cầu Ông Lãnh), theo ghi chép của Petrus Ký thì trên rạch này có một cây cầu gỗ bắc qua con rạch nhỏ này để dẫn vào một lò mổ gia súc (thường gọi là Lò Heo), được gọi là cầu Ông Lãnh. Như vậy ban đầu cầu Ông Lãnh (cũ) không bắc qua rạch Bến Nghé như hiện nay.

Nếu theo đúng lời Petrus thì cầu Ông Lãnh ban đầu nằm ở vị trí như trong bản đồ dưới đây (bản đồ Sài Gòn năm 1882)

Nói thêm về rạch Cầu Ông Lãnh, nó khởi nguồn là một con rạch từ nhiên, đi từ rạch Bến Nghé chạy quanh khu Cầu Quan – Cầu Muối – Cầu Kho, với nhiều nhánh tẽ mang tên địa phương của những cây cầu: cầu Kho (rạch Cầu Kho), cầu Muối (rạch Cầu Muối), Cầu Quan (rạch Cầu Quan)… Sau này người Pháp mở rộng rạch Cầu Ông Lãnh thì một đoạn của con rạch này trở nên thẳng tắp giống như là một con kênh đào.

Đoạn rạch Ông Lãnh lúc đã được mở rộng, được thể hiện trong bản đồ Sài Gòn năm 1878. Lúc này con rạch đã được quy hoạch để làm đường, trong bản đồ ghi là Rue projetée (quy hoạch đường), chính là đường Nguyễn Thái Học hiện nay

Sang đến thập niên 1910-1920, khi người Pháp tiến hành xây chợ Bến Thành, mở đại lộ Gallieni (nay là đường Trần Hưng Đạo) và lấp rạch Cầu Ông Lãnh để làm thành đường Abattoir/Kitchener (nay là Nguyễn Thái Học) thì họ mới xây thêm một cây cầu bắc qua rạch Bến Nghé ở khu vực cầu Ông Lãnh cũ, được gọi là cầu Ông Lãnh (cầu mới).

Khu vực cầu Ông Lãnh trong bản đồ Sài Gòn năm 1896. Khu vực ghi chữ Abattoir là Lò mổ, là khu chợ Cầu Muối sau này

Bản đồ Sài Gòn năm 1926 có vẽ rõ cầu Ông Lãnh ở vị trí mới, bắc qua rạch Bến Nghé (Arroyo Chinois). Đường Kitchener trong hình là đường Nguyễn Thái Học ngày nay

Cây cầu “mới” này được trùng tu nhiều lần, trước khi bị đập bỏ năm 2000 để xây dựng cầu Ông Lãnh hiện nay to và rộng hơn cũ.

Một số hình ảnh cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Ông Lãnh và khu Cầu Ông Lãnh ngày xưa:

Về xuất xứ của tên gọi ông Lãnh, có nhiều giả thuyết khác nhau, trong đó giả thuyết được nhiều người chấp nhận nhất là theo nhà bác học Petrus Ký ghi chép lại, ông Lãnh là Lãnh Binh Thăng, tên thật là Nguyễn Ngọc Thăng, một võ tướng chống Pháp thời kỳ đầu tiên, từng là thuộc tướng của Bình Tây Đại Nguyên Soái – Trương Định.

Năm 1848, dưới thời vua Tự Đức, Nguyễn Ngọc Thăng được thăng chức “lãnh binh”, nên thường được gọi là Lãnh Binh Thăng.

Tháng 9 năm 1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha mở đầu xâm lược Đại Nam khi tấn công vào Đà Nẵng. Sau 5 tháng bị cầm chân, liên quân này quyết định đem 2/3 lực lượng để đánh vô thành Gia Định, lúc đó đang được Võ Duy Ninh làm hộ đốc trấn giữ. Lãnh Binh Thăng đóng quân ở Thủ Thiêm đã đem quân ra cứu viện, nhưng do quân viễn chinh đến từ Âu Châu vượt trội về khí tài nên thành Gia Định thất thủ. Lãnh Binh Thăng đã cho quân trấn thủ ở vùng chùa Cây Mai, thời gian này ông đã cũng cố đồn lũy và cho xây một cây cầu gỗ qua rạch Bến Nghé để tiện cho việc đi lại, sau này được Pháp xây lại bằng cầu bê tông, người dân quen gọi là cầu Ông Lãnh.

Dù triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước năm 1862 để nhượng 3 tỉnh Nam kỳ cho Pháp, nhưng Lãnh Binh Thăng vẫn không đầu hàng, rút quân về Gò Công rồi phối hợp với nghĩa quân Trương Định chiến đấu ngoan cường trước khi cả 2 lần lượt hy sinh vào các năm 1864 và 1866.

Nghe tin Lãnh Binh Thăng mất, vua Tự Đức có phong sắc, áo, mão và một thanh gươm. Ông được an táng ở Giồng Keo, làng Lương Mỹ, tổng Bảo Thành (nay là ấp Căn Cứ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).

Từ năm 1955, thời đệ nhứt cộng hòa, ở Bến Tre có con đường mang tên Lãnh Binh Thăng. Ở Sài Gòn cũng có con đường tên Lãnh Binh Thăng ở Quận 11.

Về cây cầu mang tên Ông Lãnh, ghi chép sớm nhất là của Petrus Ký, phỏng đoán rằng “chiếc cầu gỗ do ông Lãnh binh ở gần đó cho bắc qua, chắc là ông Lãnh Binh Thăng này, chớ không phải ai khác”.

Ngay trong tấm bản đồ Sài Gòn năm 1867, chỉ 1 năm sau khi Lãnh Binh Thăng mất, có ghi chú vị trí Cầu Ông Lãnh, điều đó cho thấy có thể rằng tên cầu này được đặt ngay khi lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng còn sống. .

Bản đồ Sài Gòn năm 1867

Cũng theo ghi chép của Petrus Ký, 5 ngôi chợ nổi tiếng ở Sài Gòn là Bà Hạt (nay thuộc quận 10), Bà Quẹo (quận Tân Bình), Bà Chiểu (Bình Thạnh), Bà Hom (Bình Tân) và Bà Điểm (huyện Hóc Môn) được đặt theo tên 5 người phụ nữ vốn là các bà vợ của Lãnh Binh Thăng.

Những vị quan đa thê thời xưa thường áp dụng phương pháp kinh tế tự túc nên vị lãnh binh đã lập 5 chợ ở khu vực khác nhau, giao cho mỗi bà cai quản một cái. Việc này tránh các bà đụng mặt nhau, đồng thời chuyên tâm làm kinh tế.

Tuy nhiên, thông tin này không được nhiều nhà nghiên cứu tán thành. Cụ Vương Hồng Sến nói rằng nên thận trọng khi nói rằng “Ông Lãnh” và “Bà Chiểu”, Bà Điểm”, “Bà Hom”, “Bà Hạt”, “Bà Quẹo” là vợ chồng. Theo cụ Sển, Bà Hạt, Bà Điểm, Bà Chiểu có thể là người đầu tiên buôn bán tại các chợ này, sau lấy tên đặt cho chợ. Giống như chợ Bà Hoa ở khu ngã tư Bảy Hiền (quận Tân Bình), do người đàn bà tên Hoa đã hiến đất xây chợ và là người đầu tiên buôn bán nên người ta lấy tên bà đặt cho ngôi chợ.

Tháng 8 năm 1864, phó đô đốc de La Grandière ký quyết định lập một ngôi chợ trên khu đất nằm bên rạch Bến Nghé, ở phía đông cầu Ông Lãnh, đó chính là chợ Cầu Ông Lãnh nổi tiếng. Theo nhà văn Sơn Nam, đến năm 1874 chợ Cầu Ông Lãnh mới xây cất xong. Nơi đây dần phát triển thành khu chợ đầu mối trái cây, thủy hải sản lớn nhất Sài Gòn lúc bấy giờ.

Cầu Ông ãnh và chợ Cầu Ông Lãnh thập niên 1940

Ở cách không xa chợ Cầu Ông Lãnh là một khu chợ nổi tiếng khác, đó là chợ Cầu Muối.

Theo cụ Vương Hồng Sển ghi trong cuốn Sài Gòn Năm Xưa, khu vực mang tên Cầu Muối đã có từ thời triều Nguyễn. Từ rạch Cầu Ông Lãnh, có một nhánh rẽ khác, và có một cây cầu ván nhỏ bắc qua nhánh rẽ này để vận chuyển muối, vì vậy cây cầu nhỏ được đặt tên là Cầu Muối, và con rạch nhỏ này cũng mang tên rạch Cầu Muối.

Kho muối là những dãy nhà lá nằm dọc 2 bên bờ rạch, ngay bên cạnh lò mổ. Những năm cuối thập niên 1910, rạch Cầu Ông Lãnh bị lấp để làm đường thì các rạch nhỏ xung quanh (trong đó có rạch Cầu Muối) vẫn còn, nằm bao quanh khu vực lò mổ. Con đường nằm ở vị trí rạch Cầu Ông Lãnh cũ được đặt tên tên chính thức là đường Abattoir (đường Lò Mổ), sau đó đổi tên thành đường Kitchener, trước khi mang tên đường Nguyễn Thái Học từ năm 1955 cho đến nay. Có thể nhìn thấy rõ rạch Cầu Muối nằm bao quanh lò mổ trong các tấm bản đồ Sài Gòn đầu thế kỷ 20 sau đây:

Bản đồ Sài Gòn năm 1921. Lúc này rạch Ông Lãnh đã được lấp, thành đường Kitchener. Ô số 82 là Lò mổ, xung quanh khu này vẫn còn hệ thống rạch nhỏ. Đường Gallieni trong hình là đường Trần Hưng Đạo ngày nay. Trong bản đồ này, vẫn chưa có cầu Ông Lãnh bẳc qua rạch Bến Nghé (kinh Tàu Hủ)

Đường Kitchener (nay là Nguyễn Thái Học) và Chợ Cầu Muối xưa

Năm 1947, khu lò mổ được di dời, một số tiểu thương đang buôn bán trái cây từ miền Tây Nam Bộ lên chợ Cầu Ông Lãnh đã có sáng kiến mua rau cải đặc sản từ Đà Lạt về phân phối trên khu đất hoang của khu vực Lò Heo cũ, cũng là kho muối cũ, Cầu Muối cũ. Chợ rau này nằm ngay trên khu vực kho muối cũ, sát bên cạnh Cầu Muối cũ, nên được gọi là chợ Cầu Muối. Một thời gian dài chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối tồn tại song song và gần nhau.

Trên bảng tên chợ Cầu Muối ghi rõ chợ được thành lập chính thức năm 1947, tái thiết năm 1971 (là năm chợ bị cháy lớn)

Một số hình ảnh chợ Cầu Muối trước 1975:

Chợ Cầu Muối bị cháy cuối năm 1971

Đầu năm 1971, chợ Cầu Muối bị cháy lớn, chính quyền đã phải dùng đến trực thăng để chữa cháy. Trong các hình sau đó, có thể thấy hình ảnh máy bay quân sự lấy nước ở rạch Bến Nghé, ngay chợ Cầu Ông Lãnh, để chữa cháy cho chợ Cầu Muối:

Một số hình ảnh khác về vụ cháy chợ Cầu Muối năm 1971:

Tháng 4 năm 1999, tại chợ Cầu Ông Lãnh cũng xảy ra hỏa hoạn khiến toàn bộ khu nhà lồng chợ trái cây bị thiêu rụi. Cũng trong khoảng thời gian này, chính quyền thành phố đã có chủ trương di dời các chợ đầu mối ra ngoại thành.

Đông Kha – chuyenxua.net

Lịch sử hình thành và những hình ảnh đẹp nhất của các biệt thự cổ Đà Lạt

Một trong những nét kiến trúc đại diện cho thành phố sương mù Đà Lạt chính là những tòa biệt thự cổ Đà Lạt. Với kiến trúc mang phong cách Âu Châu cùng với các yếu tố kiến trúc phù hợp với thời tiết, cảnh quan Đà Lạt, những căn biệt thự cổ ở đây đem lại cảm giác mãnh liệt về vẻ đẹp “một thời hoàng kim”, vẻ đẹp về một thời đại của Đà Lạt đang dần bị lãng quên.

Thành phố Đà Lạt hiện đang lưu giữ, tôn tạo hơn 2000 ngôi biệt thự cổ, và phố núi thơ mộng này được ví như “bảo tàng kiến trúc quốc gia”. Ngoài những kiến trúc nổi tiếng, là những công thự là Nhà thờ Con Gà, Cao đẳng sư phạm, Ga Đà Lạt, Dinh Bảo Đại… Đà Lạt còn có những biệt thự ẩn hiện trong nhiều con đường rợp bóng thông xanh, vừa ma mị vừa mang sức hút kỳ lạ đối với du khách.

Dinh III của vua Bảo Đại

Ngày nay, những biệt thự cổ ở Đà Lạt được gọi chung là “biệt thự Pháp”. Cách nói này không hoàn toàn đúng nếu nó mang ý nghĩa là biệt thự được xây theo phong cách Pháp. Thực tế, biệt thự cổ Đà Lạt có kiểu dáng hết sức đa dạng, không chỉ có biệt thự mang phong cách của nước Pháp mà còn nhiều công trình khác mang ảnh hưởng từ kiến trúc Trung Âu, Bắc Âu, phong cách vùng Scandinavia, vùng Alps, vùng Normandie, và cả phong cách chiết trung, giao thoa giữa Á-Âu. Vì vậy, khi nói biệt thự Pháp ở Đà Lạt, người ta muốn nói đến những công trình kiến trúc – bao gồm cả công thự và dinh thự – được xây vào thời kỳ Việt Nam thuộc Pháp, đa số là khoảng thập niên 1930-1940.

Ngoài những công trình nổi tiếng, còn rất những căn ẩn mình trong con đường hẻo lánh phủ bóng thông xanh.

Dù là ảnh hưởng từ phong xách kiến trúc nào thì biệt thự cổ ở Đà Lạt thường có mái dốc, ống khói và cửa sổ mái. Do Đà Lạt mưa nhiều và lạnh nên mái dốc và tường đá dày là hai “chất liệu” người Pháp kết hợp từ đặc trưng Đà Lạt vào các công trình kiến trúc. Ngoài những đặc trưng chung đó thì hầu hết các biệt thự cổ đều có những cách điệu riêng để thể hiện cá tính của gia tộc chủ sở hữu.

Hầu hết những du khách đến Đà Lạt đều thấy ấn tượng với những căn biệt thự cổ tại đây. Dù hàng trăm năm đã qua, vẻ đẹp của những biệt thự đó vẫn trường tồn, nó như là hiện thân của sự huyền bí lẫn kỳ vĩ vì mang trên mình nhiều dấu tích được khắc lên bởi thời gian.

Sự hình thành của biệt thự cổ Đà Lạt gắn liền với lịch sử Đà Lạt thuở ban đầu, khi vùng đất này được những nhà quy hoạch người Pháp tạo dựng nên. Bài viết này sẽ vén bức màn thời gian để nhìn về thời quá khứ xa xôi đó, khi những biệt thự đầu tiên được mọc lên ở Đà Lạt.

Những năm đầu thế kỷ 20, Đà Lạt được khởi đầu chỉ với 19 căn nhà gỗ, trong đó nhiều cái chưa dựng xong.

Một trong số đó dành cho thị trưởng Đà Lạt đầu tiên là Paul Champoudry. Công việc của Paul Champoudry lúc đó chủ yếu chỉ là… tưởng tượng, tức là phác thảo ra một đô thị tương lai vốn chỉ bắt đầu từ con số 0.

Champoudry từng là ủy viên hội đồng thành phố Paris những năm 1894-1895. Ông là người giám sát việc thi công đường tàu điện ngầm và những công trình chuẩn bị cho Hội chợ quốc tế Paris 1900. Đến nhậm chức ở Đông Dương, ông là người xây dựng đồ án quy hoạch đầu tiên của Đà Lạt lúc đó vẫn là một “sa mạc bao la” của rừng thông và cỏ hoang.

Trong phác thảo đồ án năm 1905, Champoudry đã nêu lên những vấn đề đầu tiên về kiến trúc đô thị ở Đà Lạt. Theo ông, “nếu người ta muốn xây dựng một thành phố có cá tính độc đáo qua các kiến trúc đa dạng, thì phải ủy thác cho nhiều kiến trúc sư khác nhau. Một kiến trúc sư duy nhất không tránh khỏi sẽ mang lại sự đơn điệu đáng tiếc về phong cách”.

Đò án của Paul Champoudry được Toàn quyền Đông Dương duyệt năm 1906, nhưng chỉ được thực thi một phần thì bị ngưng trệ vì thiếu kinh phí trầm trọng và sự thiếu nhất quán trong chính sách của chính quyền ở thuộc địa. Đà Lạt đứng trước nguy cơ bị chìm vào quên lãng.

Tuy nhiên sau đại chiến thế giới thứ nhất, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut đã bày tỏ mong muốn biến Đà Lạt trở thành điểm nghỉ mát trên cao số 1 của Đông Dương. Năm 1921, kiến trúc sư Ernest Hébrard nhận nhiệm vụ thiết lập đồ án quy hoạch Đà Lạt.

Đồ án năm 1923 của Hébrard, trong đó việc quy định về mặt kiến trúc đã có sự đối lập với mong muốn trước đó của Paul Champoudry. Hébrard mong muốn có sự thống nhất tuyệt đối về phong cách xây dựng, tạo ra một hệ thống kiến trúc được cho là hiện thân của lý trí khoa học và dung nạp văn hóa, hàm ý một sự cân bằng hoàn hảo giữa quá khứ và tương lai, mỹ học và công nghiệp, nghệ thuật cao và tính chất bản địa. Điều đó có nghĩa là sẽ kiểm soát không chỉ những công thự vốn nằm trong phạm vi trách nhiệm của ông, mà cả những ngôi biệt thự tư nhân nữa.

Phác họa Đà Lạt theo đồ án của Hébrard

Vì muốn có sự đồng nhất tuyệt đối và kiến trúc nên Hébrard cự tuyệt quan điểm không can thiệp và cho phép nhiều phong cách đa dạng của Champoudry.

Hôtel du Parc thập niên 1920, sau 1975 là Novotel Dalat Hotel, rồi lại đổi thành Mercure Dalat Hotel

Quy hoạch năm 1923 của Hébrard đề nghị rằng “để tránh sự xấu xí du nhập vào Đà Lạt, các ngôi biệt thự nên dựa trên những sơ đồ do chính quyền cung cấp, kèm theo các cam kết là phải thực hiện đúng theo đó. Có thể dễ dàng thiết kế nhiều kiểu nhà khác nhau, và các thầu khoán sẽ xây dựng những biệt thự đúng tiêu chuẩn này với chi phí đã ấn định trước. Hệ thống này đã thành công tại Welwyn City, gần London”. Hébrard lập luận rằng những chủ biệt thự có quyền trông đợi những hàng xóm tương lai xây những ngôi biệt thự tương tự như của họ.

Năm 1925, Hébrard còn đệ trình một loạt thiết kế cho Ủy ban vệ sinh công cộng của Đà Lạt, trong đó nhiều bản vẽ những ngôi nhà chấp nhận được về phương diện vệ sinh và thẩm mỹ đã được phân phát cho các công ty xây dựng và bất động sản.

Đồ án quy hoạch Đà Lạt của Hébrard được áp dụng gần 10 năm thì tình hình có nhiều biến đổi. Cuộc khủng hoảng năm 1933-1935 xảy ra, tình hình kinh tế tài chính khó khăn khiến người ta phải xem xét lại giá trị áp dụng của đồ án Hébrard. Vì lý do kinh tế, việc thực hiện đồ án đầy tham vọng của Hébrard rất tốn kém, nên cần có một đồ án chỉnh trang mới, chính xác, cụ thể hơn, kèm theo những quy định có hiệu lực pháp lý để hướng dẫn mọi công tác xây dựng, nhất là những sáng kiến tư nhân khi họ có yêu cầu xây dựng công trình, nhà cửa.

Biệt thự nghỉ mát của Thống đốc Nam Kỳ (thập niên 1920). Trước 1975 là tòa Hành chánh tỉnh Tuyên Đức. Nay là UBND Tỉnh Lâm Đồng

Vào năm 1933, kiến trúc sư Louis Georges Pineau (1898 – 1987) trình bày một nghiên cứu mới về “Chỉnh trang thành phố Đà Lạt” có quan niệm thực tế hơn Hébrard: Trước mắt Đà Lạt chưa là thủ đô hành chính hay là thủ đô nghỉ hè của Đông Dương, chương trình phát triển đựợc giới hạn lại, chỉ chỉnh trang một nơi nghỉ dưỡng với mức phát triển tương đối vừa phải.

Trong thời kỳ này, vô số những ngôi biệt thự được mọc lên ở Đà Lạt, khi đó thì đồ án của Hébrard đã xếp lại, còn đồ án của người quy hoạch tiếp theo là Pineau đã ưu tiên phong cách Pháp cho những biệt thự tư nhân, còn các công thự thì ưa chuộng phong cách hiện đại. Pineau đã ghi lại như sau:

“Kiến trúc nào sẽ được lựa chọn cho Đà Lạt? Không có gì nghi ngờ, câu trả lời sẽ là phong cách Châu Âu, và dĩ nhiên là Pháp, đến mức độ người ta thậm chí có thể nhận ra một trường phái kiến trúc hoàn toàn Pháp. Có một thực tế về địa lý nhân văn là khi một người đi xa, người ta mang theo bên mình hình ảnh về nơi đã từng sống…”

Đôi tình nhân và căn biệt thự ven hồ, Đây là tư gia của dược sĩ Nguyễn Thị Hai, nguyên phó chủ tịch Hạ Nghị Viện. Sau năm 75 căn biệt thự này bị tịch thu và trưng dụng làm nhà hàng Xuân Hương

Phong cách đa dạng, không kiểm soát của kiến trúc ở Đà Lạt không đưa đến sự hỗn loạn quá lớn như sự lo lắng của Hébrard, mà ngược lại, kiểu dáng đa dạng của những biệt thự Đà Lạt đã trở nên độc đáo và nổi tiếng cho đến tận ngày nay.

Một câu hỏi thú vị mà nhiều người quan tâm, đó là các biệt thự Đà Lạt được xây dựng ra sao? Trong hồ sơ giấy tờ của Paul Veysseyre, một trong những kiến trúc sư chính làm việc ở Đà Lạt vào cuối thập niên 1930, đầu thập niên 1940 (là nhà thiết kế của nhiều công trình tôn giáo và hơn 50 biệt thự ở Đà Lạt, trong đó có 2 dinh Bảo Đại), người ta tìm thấy những quyển sách nhỏ, hình cắt từ báo chí, những mẩu quảng cáo từ những tạp chí kiến trúc thời đó. Chắc chắn là ông kiến trúc sư này đã đưa chúng cho khách hàng xem để lựa ra một mẫu nhà ưng ý nhất trong số những thiết kế mới nhất, bao gồm những phong cách vùng miền, và những biệt thự mùa hè ở Côte d’Azur.

Dinh II của vua Bảo Đại

Từ tài liệu này cho thấy, các thiết kế biệt thự của Đà Lạt dựa trên các phong cách kiến trúc đa dạng, chứ không đơn thuần là bắt chước những thiết kế ở Pháp.

Ngày nay, người ta vẫn còn thấy lại những biệt thự cổ mang phong cách Trung Âu hoặc Bắc Âu. Phong cách biệt thự Berghaus tìm thấy sự tương đồng nào đó trong hình dáng cong tròn tao nhã của Lycee Yersin (nay là trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt) và ngọn tháp chuông thanh thoát của nó.

Trong một tài liệu viết năm 1943, Claude Perrens đã ví kiến trúc của Lycee Yersin với tháp chuông của tòa thị chính Stockholm (Thụy Điển). Sự giống nhau quả là đáng kinh ngạc. Sự song hành của phong cách Scandinavia và Bắc Âu được lặp lại nhiều lần.

Tòa thị chính Stockholm

Suzanne Coussillan – người đã ở Đà Lạt năm 1946, kể lại rằng nơi này gợi nhớ Thụy Sĩ, hay thậm chí là Na Uy. Sở dĩ như vậy là vì nhà quy hoạch Pineau có quan hệ mật thiết với mạng lưới những kiến trúc sư đến từ Đức, Hà Lan và Thuy Sĩ. Ông đã nhờ các đồng nghiệp này gởi những ấn phẩm của họ đến Đông Dương.

Không phải tất cả những ngôi biệt thự ở Đà Lạt đều thuộc sở hữu tư nhân. Nhiều chi nhánh của các cơ quan chính quyền thuộc địa ở Sài Gòn lẫn Hà Nội đã mua và xây dựng các dinh thự nghỉ mát cho nhân viên của mình.

Sang đầu thập niên 1940, nước Pháp và Đông Dương dưới sự kiểm soát của chính thể Vichy (chính phủ phe Trục), là thời mà Đà Lạt có sự quay lại với lối quy hoạch tập trung cứng nhắc kiểu Hébrard, vì chính thế mới cho rằng không tìm thấy cá tính riêng của Đà Lạt, mà chỉ là sự sao chép, bắt chước phong cách của nhiều nơi ghép lại.

Năm 1942, vùng ngoại ô phía Bắc Đà Lạt xuất hiện một phân khu được quy hoạch xây dựng một khu cư xá, đặt tên là Cư xá hoa viên Đô đốc Decoux (theo tên của Toàn quyền Đông Dương chính phủ Vichy lúc đó), là những biệt thự liền kề quy mô nhỏ dành cho những người Âu châu trước đó đã bị gạt ra khỏi Đà Lạt vì không có khả năng trả tiền khách sạn hoặc mua một biệt thự riêng.

Khu nhà theo kiểu khu đô thị hiện nay, những ngôi nhà nằm liền kể nhau gợi nhớ về những ngôi nhà mái dốc vùng Alps, nằm ở khu vực gần trường Đại học Yersin ngày nay (trước 1975 là trường trung học Trần Hưng Đạo). Đó là những ngôi nhà được gọi là “đơn giản mà tao nhã, được quy hoạch hoàn hảo, và được trang bị đơn sơ”. dành cho những người da trắng nghèo ở Đông Dương.

Cũng trong thời kỳ chính thể Vichy, những kiến trúc sư người Việt bắt đầu thiết kế và xây dựng thêm nhiều biệt thự ở Đà Lạt, nổi tiếng nhất trong số đó là Phạm Nguyên Mậu. Công luận lúc đó khen ông là người đã xây dựng những công trình vững chắc, với phần hoàn thiện trang nhã, trái ngược với một vài biệt thự được xây dựng một cách chắp vá trước đó vì thiếu kinh phí.

Nhắc tới những biệt thự cổ ở Đà Lạt, không thể không nhắc đến ngôi biệt thự có thể xem là nổi tiếng nhất và lâu năm nhất còn lại, được biết đến với cái tên dinh tỉnh trưởng Đà Lạt, là tư dinh của những người đứng đầu Đà Lạt. Thời thập niên 1950, nơi này thuộc về ông thị trưởng Đà Lạt, kiêm tỉnh trưởng tỉnh Tuyên Đức, nên từ đó thường được gọi là Dinh Tỉnh Trưởng.

Dinh nằm trên một ngọn đồi cách chợ Đà Lạt chỉ vài trăm mét theo đường chim bay, cuối đường Lý Tự Trọng hiện nay. Từ trên dinh có thể nhìn bao quát được gần trọn vẹn thành phố mộng mơ.

Được xây dựng theo phong cách Pháp với một tòa dinh thự đồ sộ 2 tầng lầu và một tầng trệt. Dinh Tỉnh Trưởng là một trong những kiến trúc được người Pháp xây dựng sớm nhất ở Đà Lạt (từ trước năm 1910), đến nay đã tồn tại hơn 100 năm đang nằm khiêm tốn, lạc lõng trước những toà nhà hiện đại với lối kiến trúc pha tạp.

Tầng trên cửa sổ mở ra 4 hướng: phía nam nhìn ra khu chợ và khu người Việt, phía bắc nhìn lên hướng núi Lang Biang, phía đông nhìn xuống hồ, phía tây nhìn sang phía đồi ấp Mỹ Lộc. Một thời, nơi đây từng là Bảo tàng Lâm Đồng. Khi bảo tàng dời về đường Hùng Vương (P.10, Đà Lạt), thì dinh bị bỏ hoang phế.

Nguồn ảnh: vietnampropertyforum.vn

Một thời, nơi đây từng là Bảo tàng Lâm Đồng nhưng sau đó lại bị bỏ hoang phế khi bảo tàng dời về đường Hùng Vương (P.10, Đà Lạt). Đến năm 2011, tỉnh Lâm Đồng có chủ trương giao cho một nhà đầu tư tôn tạo công trình để khai thác kinh doanh, nhưng họ lại không thực hiện.

Năm 2019, ba phương án kiến trúc khu vực đồi Dinh tỉnh trưởng thuộc quy hoạch chi tiết Khu trung tâm Hòa Bình, TP Đà Lạt (Lâm Đồng) được trưng bày và vấp phải nhiều sự phản đối từ dư luận.

Đến tháng 10 năm 2021, UBND tỉnh Lâm Đồng đã chọn phương án nâng dinh Tỉnh trưởng Đà Lạt lên 28 m so với vị trí ban đầu, đồng thời xây dựng tổ hợp khách sạn, thương mại, trung tâm hội nghị 1.500 chỗ. Tuy nhiên phương án này tiếp tục bị nhiều người phản đối vì không bảo tồn được nguyên vẹn di sản độc đáo này, và cũng là mảng xanh duy nhất còn lại ở khu vực trung tâm Đà Lạt.

Mỗi căn biệt thự dường như đều có một “số mệnh” riêng từ khi sinh ra, có những căn bị nhà nước trưng dụng làm văn phòng, một số khác trở thành resort, vài căn bị bỏ hoang, rất ít căn thuộc sở hữu tư nhân và rất nhiều biệt thự vẫn còn “long đong” chưa được “định đoạt”.

Một trong những căn hiện đang được tô lên lớp sơn hiện đại

Biệt thự này hiện là một trong những văn phòng làm việc

Những trục đường chính có nhiều biệt thự cổ Đà Lạt gồm: Trần Hưng Đạo (khu Cadasa resort), đường Hoàng Diệu, đường Trần Bình Trọng (bao gồm cả khu biệt điện Trần Lệ Xuân) và một số đường hẻm dốc khác.

Những khu có biệt thự cổ đẹp nhất Đà Lạt còn đến hiện nay là Anna Mandara Dalat resort, Cadasa resort, khu biệt điện Trần Lệ Xuân và trung tâm lưu trữ quốc gia IV.

Một trong những căn biệt thự cổ trong khu Cadasa resort.

Biệt thự Violet ngày thứ tư nằm trong khu Cadasa

Một số hình ảnh khác của khu biệt thự cổ trên đường Trần Hưng Đạo (Cadasa resort)

Một số hình ảnh của Biệt điện Trần Lệ Xuân:

Khu biệt điện Trần Lệ Xuân có 3 biệt thự tuyệt đẹp là Hồng Ngọc, Lam Ngọc (có nơi gọi là Lâm Ngọc), Bạch Ngọc và khu vườn Nhật Bản lúc nào cũng xanh mướt cỏ cây.

Nằm ở số 2 đường Yết Kiêu, xung quanh là khu hành chính của công an thành phố, biệt điện Trần Lệ Xuân hơi “ẩn mình” so với nhiều điểm du lịch khác. Nơi này vắng vẻ so với những điểm du lịch mới nổi, trong khi khu biệt điện này mang vẻ đẹp rất trang nhã.

Vẻ đẹp của biệt thự Lâm Ngọc

Lâm Ngọc trước năm 75

Từ biệt thự Hồng Ngọc có thể nhìn được trọn vẹn thành phố Đà Lạt

Con đường sau biệt thự Lâm Ngọc là nơi bà Trần Lệ Xuân thường đi dạo

Với khuôn viên rộng 13.000 m2, khu biệt điện bao gồm biệt thự Bạch Ngọc với hồ bơi nước nóng hiện đại, biệt thự Lâm Ngọc nằm bên vườn hoa Nhật Bản và Hồng Ngọc với view toàn cảnh thành phố Đà Lạt xinh đẹp, trong đó biệt thự Lam Ngọc còn được trang bị hầm trú ẩn và đường hầm thoát hiểm riêng. Khu biệt điện được trùng tu và mở cửa lại vào năm 2008 và đồng thời trở thành trung tâm lưu trữ quốc gia IV.

Hồ bơi nước nóng trước Bạch Ngọc

Vẻ cổ kính phía sau Lâm Ngọc được tô điểm thêm bởi sắc hoa giấy

Nơi đẹp nhất trong khu biệt điện này có lẽ là vườn hoa Nhật Bản với sự chăm chút tỉ mỉ và đặc biệt là hồ nước thiết kế thành bản đồ hình chữ S của Việt Nam. Biệt thự Lam Ngọc nằm bên khu vườn này với cổng hoa rực rỡ sắc màu đẹp không kém gì những biệt thự của Âu châu.

Khu vườn Nhật Bản bên trong biệt thự Lam Ngọc

Hồ nước trong vườn Nhật Bản. Khu vườn được các chuyên gia đến từ Nhật thiết kế

Toàn cảnh khu biệt điện Trần Lệ Xuân

Hình ảnh khu biệt thự cổ Lê Lai (Ana Mandara Dalat Resort):

Một số hình ảnh của Lang-Bian Palace từ thập niên 1920. Sau năm 1954 đổi lại thành Dalat Palace:

Khu biệt thự ở Đà Lạt năm 1968

Nha địa dư quốc gia, tên thời Pháp là Le Service Géographique de l’Indochine, đến nay vẫn còn

chuyenxua.net biên soạn

Câu chuyện về những tỷ phú Sài Gòn xưa – Kỳ 6: Nguyễn Văn Hảo – Từ anh nông dân trở thành tỷ phú nổi tiếng Sài Gòn

Ngày nay, nhiều người hẳn vẫn tò mò về chủ nhân xưa kia của ngôi biệt thự cổ có hình dáng độc đáo như một con tàu, với mặt trước nhỏ và mở rộng dần về phía sau, giống như một “ốc đảo” biệt lập, hiện nay vẫn còn ở giữa bốn con đường Trần Hưng Đạo, Ký Con, Lê Thị Hồng Gấm và Yersin, toạ lạc ngay trung tâm quận 1, cách chợ Bến Thành chỉ vài phút đi bộ.

Xem xét xung quanh ngôi biệt thự này, người qua đường có thể nhìn thấy dòng chữ NG. V. HAO được khắc nổi rất lớn trên cửa chính và các cửa sổ của ngôi biệt thự tại các mặt quay ra đường. Đó chính là tên của vị chủ nhân Nguyễn Văn Hảo, một đại gia nổi tiếng của Miền Nam xưa, ông trùm trong giới buôn bán phụ tùng xe hơi và là người sở hữu rạp hát lớn nhất của Sài Gòn trước 1975.

Từ anh nông dân phất lên thành ông chủ lớn

Tỷ phú Nguyễn Văn Hảo sinh năm 1890 tại xã Nhị Long, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh trong một gia đình bình thường với nhiều đời làm nông nghiệp. Cha ông có tới ba người vợ, mẹ ruột ông là vợ ba, còn ông Hảo là con thứ ba của mẹ mình. Thưở nhỏ, ông Hảo sống cùng cha mẹ ở quê nhà Trà Vinh, ngoài việc ruộng đồng phụ giúp gia đình, ông Hảo cũng được cha cho ăn học chút ít.

Sau này, thấy ông Hảo chững chạc, thông minh, lanh lợi và chăm chỉ nhưng chỉ ở nhà làm ruộng, ông Nguyễn Văn Kiệu, anh trai cùng cha khác mẹ với ông Hảo, lúc này đang là chủ một cửa tiệm kinh doanh phụ tùng ô tô làm ăn khá phát đạt ở trung tâm Sài Gòn, bèn đưa ông lên phụ giúp công việc kinh doanh của mình. Từ một người phụ việc, vốn chăm chỉ, lại ham học hỏi, chẳng mấy chốc ông Hảo đã học được nghề buôn bán, thay ráp phụ tùng, trở thành thợ chính trong tiệm của anh trai, đồng thời đưa được vợ con lên Sài Gòn sống cùng mình.

Sau thời gian dài làm việc cho anh trai, tích luỹ được số vốn liếng kha khá cùng kinh nghiệm làm ăn kinh doanh, ông Hảo ngỏ lời xin anh trai cho mở tiệm riêng trên đường Trần Hưng Đạo. Điều đặc biệt là cửa tiệm đầu tiên mà ông Hảo thuê và ăn nên làm ra từ đó thuộc sở hữu của gia đình chú Hoả, vị đại gia giàu có bậc nhất Sài Gòn xưa.

Khi công việc buôn bán phụ tùng, sửa chữa xe cộ đi vào ổn định, ông Hảo sắm một cây xăng bơm tay để trước cửa tiệm, mở bán thêm xăng xe, dầu nhớt các loại cho xe cộ qua lại và lui tới cửa hàng của ông. Dù mở tiệm sau nhiều thương nhân người Việt và cả người Pháp khác, nhưng với sự mềm dẻo, khéo léo và nhanh nhạy trong kinh doanh, cửa tiệm của ông Hảo luôn tấp nập khách ra vào. Khi công việc kinh doanh lớn hơn, ông Hảo giao lại việc buôn bán tại cửa tiệm cho vợ, kết hợp với bà con họ hàng mở thêm chi nhánh ở tỉnh, bản thân ông chủ yếu lo việc lấy hàng và giao dịch với chủ hàng từ Pháp. Theo lời kể lại, vợ ông Hảo cũng là một người kinh doanh khéo léo, chăm chỉ và biết chiều lòng khách hàng. Cánh tài xế đường dài từ miền Tây lên rất thích mua bán phụ tùng tại tiệm của vợ ông Hảo vì sự tận tình, cởi mở và dân dã, khác biệt hoàn toàn với những tiệm phụ tùng khác, nhất là cung cách xa lạ của các tiệm người Pháp. Đặc biệt, nếu là tài xế lái xe thuê đến mua hàng, bà Hảo còn “biếu” ngược lại họ vài đồng cà phê, thuốc lá cho vui.

Chẳng mấy chốc, vợ chồng ông Hảo đã có một số vốn lớn trong tay và tậu được miếng đất “vàng” ngay trung tâm quận 1 để xây một toà nhà lớn (chính là căn biệt thự cổ ngày nay). Toà nhà được khởi công xây dựng từ năm 1933, đến năm 1935 thì hoàn thành một phần, gia đình ông Hảo dọn vào sinh sống và kinh doanh, toà nhà sau đó tiếp tục được xây cất và hoàn thiện vào năm 1937.

Toà biệt thự có tổng diện tích khoảng 800m2, gồm có 3 tầng lầu và 1 sân thượng, được xây theo kiến trúc Pháp phổ biến thời bấy giờ, một số vật liệu xây dựng như gạch bông được nhập khẩu trực tiếp từ Pháp. Toàn bộ tầng trệt khu biệt thự được ông Hảo ngăn ra làm nơi kinh doanh buôn bán đủ thứ ngành nghề xoay quanh những chiếc xe hơi. Mặt tiền phía đường Trần Hưng Đạo, ông Hảo cộng tác với hãng Caltex mở cây xăng. Mặt tiền đường Lê Thị Hồng Gấm, ông mở garage bán xe.

Ảnh ngôi nhà chụp trước năm 1975 nhìn từ phía đại lộ Trần Hưng Đạo. Phía trước là bảng hiệu hãng vỏ xe Michelin và cây xăng Caltex

Phía bên hông biệt thự, hai mặt quay ra đường Ký Con và đường Yersin ông Hảo đặt văn phòng làm việc, cửa hàng bán phụ tùng xe hơi và nhà kho. Ở các tầng trên, nửa trước căn nhà phía đường Trần Hưng Đạo là nơi ở của đại gia đình ông, nửa phía sau đường Lê Thị Hồng Gấm, ông Hảo ngăn thành 6 căn hộ cho thuê.

Nói thêm về việc kinh doanh xe hơi của ông Hảo, từ năm 1940, ông Hảo liên hệ với các hãng xe từ phương Tây, nhập xe hơi nguyên chiếc về bán cho người Việt. Một số thương hiệu xe hơi mà ông kinh doanh có thể kể đến như Fiat, Nash, Lancia,…. Bên cạnh bán xe, ông Hảo bao thầu luôn các dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa cho các hãng xe, đồng thời làm đại lý vỏ ruột xe hơi cho hãng Michelin. Có thể nói, dù xuất thân từ nông dân, học vấn ít ỏi, ông Hảo đã nhanh chóng học hỏi và có những mối quan hệ làm ăn sâu rộng với người Pháp; đồng thời với phong cách kinh doanh bình dân, tận tâm, gần gũi với khách hàng người Việt, ông cạnh tranh trực tiếp và là đối thủ đang gờm của các thương nhân người Pháp làm ăn tại Sài Gòn.

Việc kinh doanh tiếp tục phất lên, thấy khu đất gần đó (nằm giữa 4 con đường Trần Hưng Đạo, Bùi Viện, Đề Thám, Nguyễn Thái Học) có diện tích và vị trí đắc địa không kém khu đất hiện tại, ông Hảo tiếp tục tung tiền thu mua và đầu tư xây dựng hai dãy nhà lầu với khoảng hơn 20 căn liền kề ở khu vực “mũi tàu” để cho thuê kinh doanh.

Cư xá Nguyễn Văn Hảo ở góc Trần Hưng Đạo – Bùi Viện, tòa nhà trong hình này từng cho thuê phòng trà Tháp Ngà (Tour d’Ivoire) nổi tiếng một thời, ngày nay vẫn còn

Chỉ tính riêng tiền cho thuê khu nhà này mỗi năm ông Hảo đã thu được hàng ngàn đồng bạc Đông Dương. Phần cuối khu đất ông xây dựng rạp hát cải lương mang tên mình, chính là rạp Nguyễn Văn Hảo nổi tiếng.

Dãy nhà ngói đỏ là khu nhà của ông Nguyễn Văn Hảo cho thuê
Cư xá Nguyễn Văn Hảo góc Trần Hưng Đạo – Bùi Viện vào thập niên 1950

Xây Rạp Hát vì yêu Cải Lương

Sinh ra và lớn lên ở xứ sở cải lương, ông Nguyễn Văn Hảo cũng như bao người dân miền Tây khác, mê cải lương từ trong máu thịt. Chính vì vậy mà khi có đủ lực về tài chính, ông bèn xúc tiếc việc xây rạp hát Nguyễn Văn Hảo.

Trước năm 1960, rạp Nguyễn Văn Hạo được coi là “thánh đường” cải lương, một số nghệ sĩ gọi rạp bằng cái tên “hàng không mẫu hạm” Nguyễn Văn Hảo. Sở dĩ những cái tên như vậy ra đời là bởi đây là rạp hát cải lương lớn nhất, đắt khách nhất Sài Gòn thời đó. Rạp có đến ba tầng khán phòng với 1.200 chỗ ngồi. Tầng trệt của khán phòng đặt 500 chiếc ghế tựa, lót nệm, bọc da đỏ sang trọng dành cho 2 hạng vé cao nhất, khách VIP và hạng nhất. Tầng 2 gồm cũng gồm 400 ghế tựa, lót nệm, bọc da đỏ tương tự như tầng trệt dành cho vé hạng nhất và hạng nhì tuỳ theo hàng ghế. Tầng trên cùng, tầng 3 là khu vực dành cho vé hạng ba, có 300 chỗ ngồi là những băng ghế dài, đóng thành từng tầng từ thấp lên cao để khán giả có thể dễ dàng nhìn thấy sân khấu.

Ngoài 1.200 chỗ ngồi chính thức này, có những vở diễn lượng khách đến xem quá đông, người ta còn bán thêm vé ghế súp đặt dọc các đường đi để khách ngồi xem hát, có khi hết cả vé súp, khách chẳng cần câu nệ ghế ngồi, mua vé hạng đứng, chen chúc đầy các lối đi để xem hát. Lần đông nhất phải kể đến là vào năm 1953, đoàn Hoa Sen ra mắt vở Đoàn Chim Sắt tại rạp Nguyễn Văn Hảo, khách rần rần kéo tới rạp, đứng chật kín các hành lang, lối đi, chen lên cả bục sân khấu, lẫn hậu trường để xem hát.

Thập niên 1940 – 1960, rạp Nguyễn Văn Hảo là địa điểm mà các đoàn hát nổi tiếng như Hoa Sen, Năm Châu, Hương Mùa Thu,… thường chọn trình diễn khi ra mắt các vở cải lương mới, hoặc trình diễn một kỹ thuật diễn, hát mới.

Thập niên 1970, cải lương bị thất thế một thời gian dài khi điện ảnh các nước du nhập mạnh mẽ vào Việt Nam. Các rạp hát cải lương lần lượt phải đóng cửa hoặc chuyển đổi công năng. Rạp Nguyễn Văn Hảo cũng không tránh khỏi vòng xoáy đó. Năm 1970, rạp Nguyễn Văn Hảo được ông Nguyễn Văn Đối thuê lại, để sửa sang làm rạp chiếu phim. Từ “thánh địa” cải lương thập niên 1950-1960, rạp Nguyễn Văn Hảo được gọi bằng một cái tên mới thức thời hơn là “Ciné Nguyễn Văn Hảo”.

Sau năm 1975, rạp Nguyễn Văn Hảo một lần nữa đổi tên thành rạp Công Nhân. Ngày nay, rạp Công Nhân còn có một tên gọi khác là Nhà hát kịch Thành phố, toạ lạc tại số 30 Trần Hưng Đạo, lưng quay về phía đường Bùi Viện.

Về quê xây chùa, xây chợ & làm việc thiện

Từ trước năm 1960, khi đang còn làm ăn rất phát đạt tại Sài Gòn, ông Nguyễn Văn Hảo đã quay về Càng Long tìm mua một khu đất rộng 150 công với mục đích xây một ngôi chùa lớn cho quê hương mình. Sau khi được chính quyền chấp thuận, ông thuê kỹ sư Phan Hiếu Kinh thiết kế kiến trúc.

Điểm đặc biệt của chùa ông Hảo (Hảo Tâm Tự) là ngôi tháp cao 9 tầng và lối kiến trúc tân thời pha lẫn Á Đông. Do ở quê, điều kiện giao thông, thợ thuyền và vật liệu đều mua bán khó khăn nên phải mất 8 năm ròng rã ngôi chùa mới cơ bản hoàn thành.

Ông Hảo có hai bà vợ, bà vợ đầu là người ông cưới khi còn trẻ ở quê, hai người có 1 người con chung là ông Nguyễn Tâm Thạnh sinh năm 1929 tại Càng Long, cũng là người con ruột duy nhất của ông Hảo. Sau gia đình ông Hảo nhận thêm một người cháu ruột làm con nuôi. Bà vợ đầu chính là người đã cùng chung tay kinh doanh, buôn bán, gây dựng lên sự nghiệp lớn cùng ông.

Về người con trai tên Nguyễn Tâm Thạnh, dù được sinh ra và bao bọc trong gia đình giàu có, được cha mẹ cho ăn học đầy đủ ở trường Tây, có thời gian được gửi lên Đà Lạt học. Nhưng theo lời kể của nhiều người, khác với tính cách ôn hoà, niềm nở, chịu thương chịu khó của cha mẹ, ông Thạnh lại có phần nóng nảy, không thích công việc kinh doanh và khá ham chơi. Ông thường kết giao thân thiết, tụ tập chơi bời, đua xe, bắn chim với nhiều “công tử” Sài Thành thời đó. Ngoài ra, ông Thạnh còn có sở thích lái xe jeep đi rừng, có khi đi suốt mấy tháng trời, ở dài ngày trong các cánh rừng từ Đồng Nai, Ninh Thuận, Lâm Đồng và ra tận Khánh Hoà.

Năm 1966, vợ cả qua đời, ông Hảo lúc này 76 tuổi, người con trai duy nhất là Nguyễn Tâm Thạnh dù đã 37 tuổi nhưng không thể tiếp quản việc kinh doanh của cha mẹ. Ông Hảo quyết định đóng cửa công ty kinh doanh phụ tùng, giao gara xe và cây xăng cho người con nuôi quản lý kinh doanh, các tài sản khác ông giao lại cho con trai Nguyễn Tâm Thạnh. Về phần mình, ông Hảo trở về quê nhà Càng Long, sinh sống từ đó cho tới lúc mất cùng người vợ sau.

Tuy nhiên, là người năng động tích cực, ông Hảo chẳng ở không được bao lâu, về Càng Long, ông lại tiếp tục mua đất xây chợ, xây các dãy nhà phố làm chỗ cho người dân trong vùng mua bán. Ông Hảo cũng từng vác đơn xin phép chính quyền xây cầu vượt, cầu nối bắc ngang sông để thuận tiện đi lại nhưng không được cấp phép.

Những năm cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, chùa ông Hảo trở thành nơi che chở, trú tránh, nuôi dưỡng những người dân chạy loạn từ khắp nơi lui tới. Những thửa đất dư quanh chùa, ông Hảo cho dân trong vùng mượn để trồng cấy, mưu sinh. Nhiều nguồn tin cho rằng, thời gian ở Càng Long, ông Hảo còn bí mật ủng hộ rất nhiều tài sản, tiền bạc, vật dụng, thuốc men, lương thực gửi vào vùng kháng chiến.

Năm 1971, ông Hảo qua đời khi đang ở tại Sài Gòn. Theo di nguyện, con cháu đưa ông về an táng tại khu mộ riêng của gia đình được xây sẵn từ năm 1940 tại Càng Long. Khu mộ của gia đình ông Hảo, sau nhiều biến cố thời cuộc, nhiều lần bị đào bới để trộm cắp tài sản hiện vẫn còn tồn tại. Sau khi ông Hảo qua đời, người vợ sau của ông Hảo là bà Nguyễn Thị Dài đã thay chồng coi sóc ngôi chùa. Năm 1975, toàn bộ tài sản của ông Hảo, trong đó có ngôi chùa và cả khu thờ cúng của gia đình ông Hảo bị “tịch thu” sung công, bà Dài tiếp tục ở lại trong ngôi nhà nhỏ cạnh khu thờ tự cho đến năm 1979 thì qua đời và chính quyền “tịch thu” hoàn toàn các khu nhà này.

Hậu duệ nghèo khó

Như đã kể ở trên, ông Hảo chỉ có một người con trai duy nhất là ông Nguyễn Tâm Thạnh, nhưng ông Thạnh lại không đủ lực để tiếp quản gia nghiệp hay làm nên nghiệp lớn như cha. Ngược lại hoàn toàn với người cha chỉ hiếm hoi có một con độc nhất, ông Thạnh lại rất đông con, riêng với người vợ thứ ba đã sanh cho ông tới 9 người con. Chính vì vậy, sau biến cố năm 1975, khi toàn bộ tài sản của gia đình bị kê biên, gia đình ông Thạnh chỉ được giữ lại phần diện tích nhà đã sinh sống từ thời ông Hảo là hai tầng trên ở nửa toà biệt thự phía trước.

Năm 1976, ông Thạnh từng có thời gian về Bà Rịa làm rẫy nhưng cũng chẳng thể lo nổi cho bầy con đông đúc. Để có tiền nuôi gia đình, ông Thạnh phải lần lượt gỡ bán hầu hết các đồ vật quý giá trong nhà, hết đồ quý giá phải bán luôn những thứ cơ bản, đến cả những tấm kính chồng ồn cũng phải gỡ bán. Con cái ông Thạnh lớn lên trong cảnh thiếu thốn, bần hàn, hầu hết không được học hành đầy đủ. Hiện nay, những người con của ông Thạnh đều đã trưởng thành, con cháu đề huề, nhiều người vẫn sống cả gia đình trong những căn phòng ở căn biệt thự cũ, có người phiêu bạt về quê hoặc đi nơi khác sinh sống nhưng hầu như tất cả đều vất vả với những công việc tay chân, làm đủ nghề để sống.

chuyenxua.vn biên soạn

Lịch sử hình thành và những hình ảnh đẹp nhất của Hồ Xuân Hương ngày xưa ở trung tâm Đà Lạt

Đà Lạt là một nơi chốn kỳ lạ, rất gần gũi và thân quen với những ai từng đặt chân tới, là nơi dễ dàng làm cho du khách phải lòng ngay từ lần đầu gặp gỡ. Đà Lạt mang một vẻ đẹp đắm say hiếm nơi nào ở Việt Nam có được, dù cho ngày nay đã mất đi nhiều phần.

Nhắc đến Đà Lạt, người ta thường nhớ đến hồ Xuân Hương ở ngay trung tâm thị tứ đã tồn tại từ hơn 100 năm trước, là hồ nước tuyệt đẹp, thơ mộng, trữ tình mà cho đến nay nhiều người vẫn tưởng là “hồ tự nhiên”.

Thực tế, đây là hồ nước nhân tạo đã được đào từ thuở Đà Lạt còn hoang sơ, ban đầu chưa có tên gọi mà thường được ghi chung chung là Lac (tiếng Pháp nghĩa là “hồ”), Grand Lac (Hồ Lớn) hoặc Lac de Dalat (Hồ Đà Lạt). Trong nhiều tài liệu tiếng Pháp, hồ nước trung tâm này được ghi rõ là “Le lac artificiel” (dịch nghĩa là hồ nhân tạo).

Năm 1937, một ký giả người Pháp đã viết về Đà Lạt thuở đó và nhắc tới hồ nhân tạo này như sau:

“Ở Đà Lạt, quyết tâm của người Pháp đã tạo ra một thành phố tao nhã và hài hòa, phát triển theo đúng cái cách thức đã biến nó thành một tiểu thương đường thực sự, trong một môi trường của những vườn hoa và cây thông… Khi thiết kế thành phố, chúng ta tránh những tòa nhà phô trương và vô duyên. Khắp mọi nơi, những biệt thự xinh xắn nằm khép mình sau những vườn hoa nhiều màu sắc, những khu vườn đầy các loại hoa có xuất xứ từ châu Âu. Những con đường rộng tráng nhựa và có không gian thoải mái. Trên mặt nước trong trẻo của hồ nhân tạo rộng lớn, những con thiên nga tuyệt đẹp chậm rãi bơi qua…”

Ngay từ 100 năm trước, hồ trung tâm Đà Lạt đã là một điểm nhấn cho xứ sở được xây dựng với mục đích nghỉ dưỡng của người Pháp, và cho đến tận ngày nay, hồ Xuân Hương trở thành một phần không thể thiếu của thành phố này. Nếu như không có hồ Xuân Hương với những làn sương mờ ảo trên mặt hồ trong buổi sớm mai, thì có lẽ Đà Lạt bị mất đi phần nhiều vẻ đẹp lãng mạn và nhiều người yêu mến.

Vào năm 1944, trong một bài phỏng vấn của tạp chí Indochine, tỉnh trưởng tỉnh Lang Bian trong thời gian 1917-1920 là Cunhac cho biết như sau:

“Hồ được hình thành tương đối gần đây. Thực vậy, do sáng kiến của tôi, hồ được làm vào năm 1919, do kỹ sư công chánh Labbé thực hiện. Vào khoảng 1921-1922, theo lệnh của Công sứ Garnier, đập đất cũ chống đỡ con đường đã được nâng cao và kéo dài thêm và năm sau đó, một cái đập thứ hai được xây dựng ở hạ lưu, như vậy hình thành hai hồ nước. Do không có đập tràn (déversoir), cả hai đập bị vỡ do những cơn dông dữ dội của trận bão tháng 5 năm 1932; ngay sau đó chúng được làm lại trong cùng những điều kiện như trước. Con đập bằng đá được xây dựng vào khoảng 1934-1935, xa hơn một chút về phía hạ lưu so với các con đập cũ.”

Tuy nhiên, người đầu tiên có sáng kiến xây dựng một hồ nước giữa trung tâm Đà Lạt không phải là Cunhac. Ngay từ đầu thế kỷ 20, người phụ trách công chánh ở Đà Lạt là ông Rousselle đã trình bày dự án này cho công sứ Phan Rang là Odend’hal (vào năm 1902, Đà Lạt vẫn trực thuộc tỉnh Phan Rang, đến năm 1916 thì tỉnh Lang Biang mới được thành lập, cùng lúc với thị tứ Đà Lạt).

Đà Lạt thập niên 1920, cách đây 100, khi đang được xây dựng

Sau đây là thông tin về việc đào hồ đăng trên tập san Sử Địa 23-24 năm 1971 – Đặc khảo Đà Lạt.

Kiến trúc sư Louis-Georges Pineau – tác giả của Đồ án chỉnh trang và mở rộng Đà Lạt năm 1933 – đã đánh giá tầm quan trọng của hồ nước này như sau:

“Hồ nước là trung tâm và là sức hấp dẫn của Đà Lạt. Không có hồ nước thì khi đi ngang qua thành phố, thung lũng Cam Ly chỉ là một vùng trũng sình lầy. Baguio – trạm nghỉ dưỡng vùng cao của Philippines, đã hiểu quá rõ tầm quan trọng của nước trong một phong cảnh miền núi và trong một thành phố nghỉ dưỡng, nhưng đành phải bằng lòng với Công viên Burnham (Burnham Park) của một bồn trũng hình chữ nhật – thua xa vẻ đẹp của Hồ Đà Lạt.

Hồ Xuân Hương hình thành một phần từ năm 1919, tại nơi vốn là một vùng đầm lầy có dòng sông Cam Ly (người dân quen gọi là suối Cam Ly) chảy qua. Sông Cam Ly là một phụ lưu của sông Đa Dâng (Đa Dâng là thượng nguồn của sông Đồng Nai). Trên dòng Cam Ly đi qua có nhiều thắng cảnh nổi tiếng của Đà Lạt, ngoài hồ Xuân Hương còn có hồ Than Thở, thác Cam Ly và thác Voi. Trước khi hồ được đào, vùng đầm lầy này là nơi mọc nhiều có lác để dệt chiếu, và là ruộng lúa của người Lạch sản xuất ven dòng Cam Ly. Ở gần ngay đó là một buôn của người Lạch.

Các kỹ sư công chánh đã xây đập nước để ngăn dòng Cam Ly và đào rộng ra để thành một hồ lớn ở chính giữa Đà Lạt. Ruộng lúa vốn nằm trong lòng hồ, nên người Lạch phải dời đến buôn Rơhàng Kròc (người Pháp phiên âm là Ankroet). Sau đó, khi xây dựng đập Suối Vàng, người Lạch lại phải dời đến buôn Đờng Tiang Đe ở trung tâm huyện Lạc Dương hiện nay.

Năm 1923, hồ được mở rộng thêm và xây thêm một đập nước thứ 2 ở phía dưới tạo thành 2 hồ. Tháng 3 năm 1932, một cơn bão lớn làm bểt cả 2 đập nước làm cho tràn hồ, gây thiệt hại thảm khốc về người.

Trận lụt làm bể đập năm 1932, nước tràn hồ

Vì vậy đến năm 1934 – 1935, một kỹ sư người Việt là Trần Đăng Khoa thiết kế và xây dựng một đập lớn bằng đá: đó là cầu ông Đạo ngày nay.

Đập Ông Đạo, nay là cầu Ông Đạo

Đập nước nằm trước Dinh Quản Đạo mà vị Quản đạo (tương đương với vị trí chủ tịch của địa phương) nên được dân địa phương gọi là “ông Đạo”, và khi đập cũng là cầu xây xong, người dân quen gọi là “Cầu Ông Đạo” cho đến tận ngày nay.

Cầu Ông Đạo thập niên 1950

Ông Quản Đạo thời điểm đó là Trần Văn Lý, sau 1955 trở thành lực lượng đối lập với tổng thống Ngô Đình Diệm, từng ra ứng cử tổng thống vào năm 1967.

Thảm kịch vỡ đập và lũ lụt năm 1932 đã đẩy nhanh tiến độ mở rộng hồ và nạo vét lòng hồ, đồng thời một câu lạc bộ du thuyền được thành lập trên hồ trong thời gian này, mang tên “La Grenouillère”, dịch nghĩa là Đầm Ếch, vì nó có hình dáng tựa một con ếch, cấu trúc nhà sàn trên cột như bay bỗng trên mặt nước. Đây là công trình nổi bật gắn liền với hồ Xuân Hương vẫn còn cho đến nay và được người dân gọi là Thủy Tạ.

Hồ Lớn và La Grenouillère

Sau đó, do nhiều nguyên nhân nên phong trào thể thao bơi lội ở Đà Lạt không phát triển được, Câu lạc bộ được giao thầu khai thác như một quán giải khát nhỏ.

Sau 1975, Nhà Thuỷ Tạ trở thành một nhà hàng nhỏ dưới sự quản lý điều hành của Công ty Du lịch Lâm Đồng. Công trình kiến trúc Nhà Thuỷ Tạ luôn được tô điểm với màu vôi trắng nổi bật trên nền xanh của mặt nước hồ Xuân Hương, đã trở thành một hình ảnh đặc trưng của Đà Lạt.

Trước nhà Thuỷ tạ là một vườn hoa nhỏ (ngày xưa gọi là vườn hoa Tao Đàn) với nhiều loài hoa đẹp, trong đó có một trong những cây phượng tím (Jacaranda acutifolia) xưa nhất trồng từ năm 1960.

Hình ảnh đầu thập niên 1930, khi chưa có Thủy Tạ

Những ngày đầu khi phố thị Đà Lạt được hình thành, một khu người Việt được quy hoạch ở sát hồ, về phía Đông, nhằm nằm tách biệt với khu vực người Âu châu. Cả một thời kỳ, hồ Xuân Hương (lúc này được gọi là Hồ Lớn) đóng vai trò như là một sự phân cách người An Nam đối với người Âu Châu, trong chủ trương phân định, tách biệt dân cư của những người kiến tạo nên Đà Lạt vào lúc đó.

Tên gọi hồ Xuân Hương chỉ được gọi từ khoảng đầu thập niên 1950, được thị trưởng Đà Lạt lúc đó là Nguyễn Vỹ đặt, với ý nghĩa là hương của mùa xuân. Chính ông này cũng là người đặt tên cho Thung Lũng Tình Yêu khi nhận thấy nơi đó có được nhiều đôi tình nhân ưa thích, thường cùng nhau hò hẹn.

Hồ Xuân Hương cũng trùng với tên của nữ thi sĩ nổi tiếng, nên nhiều người nghĩ rằng có sự liên quan khi đặt tên, nhưng không có thông tin xác thực nào được ghi chép lại.

Hồ nước này đã trải qua nhiều lần sửa chữa vào các năm: 1947, 1953, 1979, 1984, 1996.

Lần sửa chữa năm 1984, đáy hồ được nạo vét chủ yếu bằng thủ công và gia cố xi phông. Từ năm 1996, hồ Xuân Hương được tôn tạo theo dự án gồm 4 hạng mục chính: Sửa chữa gia cố công trình xi phông tháo lũ kết hợp với cầu giao thông; Nạo vét hồ bằng phương tiện cơ giới, khôi phục diện tích mặt nước và dung tích hồ; Tôn tạo bờ hồ chống sạt lở, xây dựng các vườn hoa nhỏ, đường đi dạo quanh hồ; Xây dựng 4 hồ chứa ngăn chặn bồi lắng và chống ô nhiễm nguồn nước.

Vào mùa nắng, mặt hồ Xuân Hương trong xanh, phẳng lặng, nhưng vào mùa mưa, thỉnh thoảng nước đỏ ngầu do phù sa các dòng suối chảy về.

Hiện nay, Hồ Xuân Hương rộng 38ha, có độ sâu trung bình 1,5m, nằm trên độ cao 1478m so với mực nước biển, là nơi mà hầu như du khách nào đi Đà Lạt cũng ngang qua vài lần.

Một số hình ảnh hồ Xuân Hương qua các thời kỳ:



chuyenxua.vn biên soạn

Nhạc sĩ Song Ngọc và những ca khúc nổi tiếng

Nhạᴄ sĩ Song Ngọᴄ là một trong những nhạᴄ sĩ nổi tiếng nhất ᴄủa dòng nhạᴄ vàng với một số lượng lớn ᴄa khúᴄ nổi tiếng và đã trở thành bất tử, đó là những bài hát đượᴄ sáng táᴄ ᴄả trướᴄ và sau năm 1975. Ngoài vai trò là một nhạᴄ sĩ tên tuổi, ông ᴄòn là một doanh nhân thành đạt sau khi sang hải ngoại.

Nhạᴄ sĩ Song Ngọᴄ tên thật là Nguyễn Ngọᴄ Thương, sinh năm 1943 ở Long Xuyên. Bút danh Song Ngọᴄ đượᴄ ông ghép từ tên ᴄủa mình (Ngọᴄ Thương) với người bạn gái tên là Ngọᴄ. Ngoài ra ông ᴄòn sáng táᴄ với ᴄáᴄ bút danh Hàn Sinh, Nguyên Hà, Hoàng Ngọᴄ Anh, Anh Tuyến.


Click để nghe Hương Lan hát Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân thu âm trước 1975

Nhạᴄ sĩ Song Ngọᴄ ᴄó sự nghiệp sáng táᴄ đa dạng, phong phú về giai điệu lẫn thể loại. Nhắᴄ đến Song Ngọᴄ, người ta nhớ nhiều đến nhừng bài nhạᴄ vàng phổ thông đại ᴄhúng, như Xin Gọi Nhau Là ᴄố Nhân, Gặp Lại ᴄố Nhân… những bài nhạᴄ lính như Kỷ Niệm Một Mùa Hè, Người Nữ Đồng Đội, Thư ᴄho Vợ Hiền… đặᴄ biệt là loạt bài viết ᴄhung với nhạᴄ sĩ Hoài Linh là Một ᴄhuyến Bay Đêm, ᴄhúng Mình 3 Đứa, ᴄhiều Thương Đô Thị, Thiệp Hồng Anh Viết Tên Em, Nó Và Tôi… Song song với đó, ông ᴄũng viết nhạᴄ tình ᴄa trữ tình lãng mạn, từ những sáng táᴄ đầu tay là Mưa ᴄhiều, Tiễn Đưa, sau đó là Định Mệnh, Tình Yêu Như Bóng Mây, Hà Nội Ngày Tháng ᴄũ…

Nhạc sĩ Song Ngọc (đeo kính) và nhạc sĩ Hoài Linh

Ngoài khả năng sáng táᴄ, nhạᴄ sĩ Song Ngọᴄ ᴄòn là một tay trống ᴄó hạng, từng ᴄhơi trống trong ban nhạᴄ Khánh Băng. Sau năm 1975, ông trở thành doanh nhân thành đạt hiếm hoi trong giới nhạᴄ sĩ.

Nhạᴄ sĩ Song Ngọᴄ đến với âm nhạᴄ từ thuở ᴄòn rất nhỏ, 6 tuổi đã họᴄ đàn mandoline, sau đó tập tành sáng táᴄ từ khi ᴄòn theo họᴄ trường tư thụᴄ Tân Thịnh ở Tân Định.

Năm 1958, khi mới đượᴄ 15 tuổi, Song Ngọᴄ đã ra mắt nhạᴄ phẩm đầu tay là Mưa ᴄhiều với điệu Valse dìu dặt. Bài hát sau đó đã đượᴄ đài phát thanh Sài Gòn ᴄhọn hát nhiều lần qua những giọng ᴄa hàng đầu thời đó là Thái Hằng, Thái Thanh, Minh Trang, Ánh Tuyết, Kim Tướᴄ, ᴄhâu Hà… đượᴄ nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam mua bản quyền xuất bản. ᴄa khúᴄ tiếp theo là Bừng Sáng đã vinh dự đượᴄ ban hợp ᴄa Thăng Long trình diễn nhiều lần trên đài phát thanh.

Ông quen biết nhạᴄ sĩ Nguyễn Hiền khi tìm đến đài phát thanh Sài Gòn và đượᴄ nhạᴄ sĩ này hướng dẫn trong những bướᴄ đầu ᴄủa sự nghiệp sáng táᴄ, sau đó Song Ngọᴄ ᴄòn đượᴄ thụ giáo thêm với nhạᴄ sư Nghiêm Phú Phi.


Click để nghe Thái Thanh hát Bừng Sáng, ca khúc được nhạc sĩ Song Ngọc sáng tác năm 17 tuổi

Năm 1961, khi vẫn là một ᴄậu họᴄ trò, Song Ngọᴄ phổ nhạᴄ ᴄho bài thơ Tiễn Đưa ᴄủa Nguyên Sa, ᴄũng là bài thơ đầu tiên ᴄủa thi sĩ nổi tiếng này đượᴄ phổ nhạᴄ. Song Ngọᴄ kể lại rằng một hôm ᴄó một người bạn gái ᴄhép tặng ᴄho ông bài thơ ᴄó tựa đề là Tiễn Biệt. Ông tưởng rằng bài thơ là ᴄủa ᴄô bạn gái sáng táᴄ, vì rất thíᴄh bài thơ này nên ông đã thứᴄ trắng nguyên một đêm để phổ thành nhạᴄ, lấy tựa đề là Tiễn Đưa. Sau khi hoàn thành xong, ông ᴄầm bài hát đi khoe với bạn bè, thì mới đượᴄ bạn ᴄho biết đây là 1 bài thơ nổi tiếng ᴄủa thi sĩ Nguyên Sa đã sáng táᴄ lúᴄ ᴄòn du họᴄ ở bên Pháp trướᴄ năm 1954.


Click để nghe Khánh Ly hát Tiễn Đưa

Sau đó, nhạᴄ sĩ Song Ngọᴄ quyết định đến gặp thi sĩ Nguyên Sa tại nhà ở đường Pasteur để xin phép phổ bài thơ thành nhạᴄ. Dù  đượᴄ sự đồng ý ᴄủa Nguyên Sa, nhưng thi sĩ này không đồng ý để tên ᴄhung trong sáng táᴄ, nên sau đó bài nhạᴄ đượᴄ phát hành mà ᴄhỉ ghi tên ᴄủa Song Ngọᴄ ᴄhứ không ghi tên táᴄ giả lời thơ.

Thời điểm đó, Song Ngọᴄ ᴄòn rất nhỏ, ᴄhưa ᴄó tên tuổi gì, nên ᴄó thể vì vậy mà nhà thơ Nguyên Sa đã từ ᴄhối việᴄ để tên mình trên một nhạᴄ phẩm ᴄủa một ᴄậu họᴄ sinh ᴄhưa ai biết là ai.

Sau khi họᴄ xong trung họᴄ, vào giữa năm 1962, nhạᴄ sĩ Song Ngọᴄ nhập ngũ khóa 14 trường Bộ Binh Thủ Đứᴄ, đây ᴄũng là thời gian ông sáng táᴄ bài ᴄhiều Thương Đô Thị ᴄhung với nhạᴄ sĩ Hoài Linh, với nội dung là 1 người tiễn bạn ᴄủa mình vào lính.


Click để nghe Hương Lan hát Chiều Thương Đô Thị

Đó ᴄũng là ᴄa khúᴄ khởi đầu ᴄho hàng loạt ᴄa khúᴄ viết về người lính nổi tiếng đượᴄ 2 nhạᴄ sĩ ᴄó tuổi đời rất ᴄhênh lệᴄh này ᴄùng hợp soạn (nhạᴄ sĩ Hoài Linh sinh năm 1920, lớn hơn Song Ngọᴄ 23 tuổi). Tốt nghiệp trường BB Thủ Đứᴄ, nhạᴄ sĩ Song Ngọᴄ ra trường phụᴄ vụ tại tiểu đoàn TLᴄ Dân Sự Vụ, sau đó phụ tráᴄh văn nghệ ᴄho Tổng Y Viện ᴄộng Hoà.

Nhạc sĩ Song Ngọc và nhạc sĩ Nhật Ngân

Năm 1966, nhạᴄ sĩ Song Ngọᴄ lập gia đình với một người ᴄon gái mới 16 tuổi, và người vợ này đã gắn bó với ông ᴄho tận phút ᴄuối ᴄùng ᴄủa ᴄuộᴄ đời.

Vợ chồng nhạc sĩ Song Ngọc

Từ nửa ᴄuối thập niên 1960 ᴄho đến năm 1975, Song Ngọᴄ phụ tráᴄh một số ᴄhương trình âm nhạᴄ trên đài phát thanh và đài truyền hình, đồng thời ᴄhủ trương thựᴄ hiện 5 băng nhạᴄ Song Ngọᴄ, ᴄho đến nay vẫn ᴄòn đượᴄ nhiều người tìm nghe.


Click để nghe băng nhạc Song Ngọc</p

Sau năm 1975, gia đình nhạᴄ sĩ Song Ngọᴄ rời Việt Nam đúng ngày 30 tháng 4 năm 1975 dể sang Hoa Kỳ. Thời gian đầu trên xứ người, trong khi ᴄộng đồng người Việt phải ᴄhật vật mưu sinh, thì với sự tinh tường ᴄủa một nhạᴄ sĩ ᴄó đầu óᴄ kinh doanh, Song Ngọᴄ trở thành một doanh nhân thành đạt trong lĩnh vựᴄ địa ốᴄ. Từ thập niên 1980, khi ᴄuộᴄ sống ᴄủa người Việt hải ngoại bắt đầu ổn định và nhu ᴄầu thưởng thứᴄ âm nhạᴄ, nhạᴄ sĩ Song Ngọᴄ sáng táᴄ trở lại và ᴄó nhiều ᴄa khúᴄ nhiều thể loại rất đượᴄ yêu thíᴄh, như Hà Nội Ngày Tháng ᴄũ, Yêu ᴄái Đèn ᴄù, Đàn Bà (năm 1984), ᴄhuyện Người Đàn Bà Ngàn Năm Trướᴄ (năm 1998).

Nhạᴄ sĩ Song Ngọᴄ qua đời vào ngày 14 tháng 10 năm 2018 tại thành phố Houston, Texas vì tai biến mạᴄh máu não sau khi nhập viện để điều trị những biến ᴄhứng ᴄủa 2 bệnh ung thư ᴄùng lúᴄ liên quan đến phổi và thận.

Đông Kha – chuyenxua.vn

Câu chuyện về những tỷ phú Sài Gòn xưa – Kỳ 5: Từ người thợ vá xe đạp trở thành chủ rạp Hưng Đạo nổi tiếng

Thời xưa, nếu đi ngang qua đại lộ Trần Hưng Đạo ở góc đường Nguyễn Cư Trinh, ai cũng dễ dàng nhìn thấy một rạp hát bề thế, mang tên là Hưng Đạo. Trong rất nhiều hình ảnh xưa còn lại, chúng ta dễ dàng nhìn thấy rạp hát mà đến ngày nay vẫn còn sau hơn 60 năm.

Năm 1958, ông Nguyễn Thành Niệm, một đại phú gia – chủ hãng xuất nhập cảng xe hơi, đồ phụ tùng xe hơi, xe máy, tủ lạnh và máy lạnh… ở ngay ngã tư các đường Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Cư Trinh và Cô Bắc, đã bỏ tiền ra xây cất tòa nhà Hưng Ðạo 1, rạp Hưng Ðạo và một tòa nhà khác được đặt tên là Hưng Ðạo 2 ở ngay ngã tư, góc đường Phát Diệm (nay là đường Trần Đình Xu) và đại lộ Trần Hưng Ðạo.

Ðến đầu năm 1960, các công trình này mới hoàn thành và đưa vào khai thác. Lúc đó đoàn Thanh Minh – Thanh Nga còn mướn thường trực rạp hát Thành Xương ở đường Yersin của ông Phạm Minh Tấn. Lúc này thì người em vợ của ông Nguyễn Thành Niệm tên là Ân được trao quyền quản lý rạp Hưng Ðạo. Ông Ân đã mời bà bầu Thơ đến văn phòng của ông trên lầu ba ở ngay mặt tiền rạp Hưng Ðạo để giới thiệu rạp hát và mời bà bầu Thơ đưa đoàn Thanh Minh – Thanh Nga về hát khai trương và ký hợp đồng hát thường trực ở rạp Hưng Ðạo.

Ðến khoảng cuối năm 1967, Hưng Ðạo trở thành “đại bản doanh” của đoàn Thanh Minh – Thanh Nga. Tất cả những tuồng mới của đoàn, như Con gái chị Hằng, Ðôi mắt người xưa, Ngã rẽ tâm tình, Áo cưới trước cổng chùa, Vàng sáu bạc mười, Hoa Mộc Lan… đều khai trương tại Hưng Ðạo và diễn liên tục khoảng một tháng trước khi chuyển đến điểm diễn khác.

Ðây cũng là thời đỉnh cao của đoàn Thanh Minh – Thanh Nga. Muốn xem tuồng mới, khán giả phải mua vé từ sáng sớm. Nhiều xuất hát, chưa đến 10h sáng, phòng vé đã đóng cửa, treo bảng “hết vé”.

Rạp Hưng Đạo ở gần rạp Nguyễn Văn Hảo, và dù ra đời sau nhưng Hưng Đạo nhưng đã lấn áp các rạp lớn khác, một phần cũng nhờ đoàn Thanh Minh – Thanh Nga.

Sân khấu rạp Hưng Đạo được xây dựng đại vĩ tuyến, chiều ngang rất rộng để các đoàn hát thoải mái dựng tuồng, dựng cảnh.

Ngoài ra lúc này cũng là thời điểm các phim màn ảnh rộng Ðài Loan, Hồng Kông, Ấn Ðộ… được nhập về chiếu ở Sài Gòn rất nhiều, nên rạp Hưng Đạo có màn hình đại vĩ tuyến cũng là để tận dụng vào những ngày không diễn cải lương thì sẽ kinh doanh chiếu phim màn ảnh rộng. Mặc dù đoàn Thanh Minh – Thanh Nga có nhiều khán giả, đủ mọi giới, đủ mọi thành phần xã hội, nhưng không thể ngày nào rạp Hưng Ðạo đều diễn cải lương.

Sau năm 1975, rạp Hưng Ðạo được giao cho đoàn cải lương Trần Hữu Trang quản lý, đổi tên thành Rạp Trần Hữu Trang, tiếp tục là nơi sáng đèn cho các đoàn cải lương hoạt động tại Sài Gòn cho đến nay.

Chủ nhân của rạp Hưng đạo là ông Nguyễn Thành Niệm, một người có xuất thân cơ hàn, từ một người vá xe đạp ở lề đường đã vươn lên trở thành một thương gia giàu có, một tỷ phú của Sài Gòn. Tương truyền, ông chủ của rạp Hưng Đạo có câu nói rằng: “Cuộc đời cũng giống như một sân khấu, mình cố làm sao cho sân khấu lộng lẫy thì càng hay…”

Vào thập niên 1940, phương tiện giao thông trên đường phố Sài Gòn vẫn đa số là xe đạp. Khi đó ở góc đường Général Marchand và Gallieni (nay là Nguyễn Cư Trinh – Trần Hưng Đạo), có một chàng thanh niên nhập cư tuổi đôi mươi ngồi cặm cụi sửa và vá xe đạp trên lề đường.

Dù làm nghề chân tay, nhưng chàng trai đó vẫn vận dụng tối đa đầu óc để công việc được thuận lợi. Sửa xe có tâm, trung thực, hư đâu sửa đó, tiền công vừa phải, đôi khi sửa miễn phí những cái lặt vặt để khách quay lại lần sau. Dần dần khách truyền tai nhau và đến sửa xe ngày càng đông, có những người bị hư xe ở xa nhưng cũng dẫn bộ tới nơi để sửa.

Sau đó không lâu, đến một ngày người ta thấy phía sau chỗ thợ sửa xe còn bày bán thêm vỏ, ruột xe đạp và những phụ tùng khác để thay cho khách nào cần. Thời đó không có chợ phụ tùng hoặc các loại phụ tùng xe được bày bán khắp nơi như ngày nay, cho nên việc phục vụ linh hoạt của Niệm được bà con ủng hộ. Hai năm sau, khách hàng nhìn thấy có thêm một hai chiếc xe đạp lắp ráp hoàn chỉnh dựng ở đó để bán cho ai cần với giá phải chăng. Hàng của Niệm lắp đến đâu bán được đến đó, ông bắt đầu tích góp được vốn.

Vài năm sau khi làm nghề, không còn vá xe lề đường nữa, Niệm có đủ tiền thuê hẳn một góc nhà và khai trương tiệm “Nguyễn Thành Niệm, sửa xe và bán phụ tùng xe đạp”.

Việc làm ăn tiếp tục thuận lợi, đến đầu thập niên 1950, một dãy phố dài dọc theo đại lộ Gallieni (Trần Hưng Đạo) đoạn Marchand (Nguyễn Cư Trinh) đến xưởng đúc Nguyễn Văn Dung có đến 30 căn nhà mặt tiền được ông Niệm mua lại.

Sở dĩ ông mua được nhiều nhà như vậy là do lúc đó Nam kỳ trải qua một thời gian khủng hoảng, tình hình kinh tế chính trị chưa được ổn định, nhiều người bán nhà ở Sài Gòn để hồi hương, nên ông Niệm mua được với giá rẻ.

Cuối thập niên 1950, Công ty Indo – Comptoir của Nguyễn Thành Niệm trở thành một trong 10 công ty xuất nhập khẩu phụ tùng xe cơ giới lớn nhất Sài Gòn có chi nhánh ở khắp miền Nam, vươn tới Nam Vang, Vientian, Pakse (Lào).

chuyenxua.vn biên soạn

Những công trình kiến trúc trăm năm còn lại ở Sài Gòn – Kỳ 1

Có những công trình có tuổi đời hơn 100 năm đã trở thành biểu tượng của Sài Gòn ngày nay đã được xây dựng từ thời Pháp thuộc, như là Chợ Bến Thành, Tòa Đô Chánh, Nhà Thờ Đức Bà, Bưu Điện Trung Tâm… và cơ sở của các trường trung học đã ra đời từ đầu thế kỷ 20 như trường Gia Long, Petrus Ký, Lê Quý Đôn…

Ngoài ra, Sài Gòn còn có các tòa nhà có quy mô nhỏ hơn nhưng cũng vẫn đang tồn tại suốt hơn 100 năm qua như trụ sở công ty SHELL, Hội Trường Diên Hồng, Ngân hàng Đông Dương, Kho Bạc Sài Gòn, khách sạn Continental Palace, Majestic…

Trong loạt bài này, cùng điểm lại những công trình có tuổi đời hơn 100 năm nhưng vẫn còn cho đến nay.

Dinh Xã Tây – Tòa Đô Chánh

Dinh Xã Tây (nay là tòa nhà trụ sở UBND Thành Phố) được khởi công xây dựng từ năm 1899, nhưng trong quá trình xây dựng đã xảy ra một số sự cố và phải thay đổi thiết kế, nên phải đến năm 1909 mới hoàn thành. Đây là tòa thị chính, nơi làm việc của Hội đồng thị xã, điều hành cả vùng Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn, được người Việt gọi là DInh Xã Tây. Sang thập niên 1950, thời Quốc Trưởng Bảo Đại, tên gọi chính thức trở thành Dinh Đốc Lý, đến thời VNCH, nơi này mang tên Tòa Đô Chánh từ năm 1955 đến 1975.

Dinh Xã Tây lúc đang xây dựng, năm 1904

Dinh Xã Tây nằm ở vị trí đắc địa và nhộn nhịp nhất của Sài Gòn, ở phía cuối đại lộ Charner (này là đường Nguyễn Huệ) nhìn ra sông Sài Gòn.

Ban đầu thì 2 dãy nhà 2 bên của Dinh Xã Tây chỉ có một tầng, đến thập niên 1950 được nâng thêm một tầng và nối dài thêm để mở rộng không gian, như trong hình bên dưới:

Phía trước Dinh Xã Tây là 5 bộ cửa ở lối vào được đúc bằng gang, màu sơn nguyên thủy là màu xanh rắn rỏi. Đây không phải là loại cửa kín bưng, mà được trổ hình hoa văn rất nghệ thuật. Trung tâm mỗi cánh cửa có hình 2 chữ V và S lồng vào nhau. V viết tắt cho Ville còn S chính là Sài Gòn. Ville de Saigon, tiếng Pháp, nghĩa là thành phố Sài Gòn.

Thiết kế ᴄủa tòa Dinh Xã Tây đượᴄ mô phỏnɡ thеᴏ kiểu nhữnɡ lầu ᴄhuônɡ ở miền Bắᴄ nướᴄ Pháp. Trong hình bên dưới, có thể thấy trướᴄ tòa nhà ɡhi ᴄhữ Hᴏtеl dе Villе, dịᴄh sanɡ tiếnɡ Anh ᴄó nɡhĩa là City Hall, trᴏnɡ tiếnɡ Việt ɡọi là Tòa Thị Chính. Tuy nhiên người Việt quen gọi đây là Dinh Xã Tây, theo nghĩa Việt là làng của Tây, nơi các viên chức Pháp làm việc. Công việc của Xã Tây do một viên thị trưởng người Pháp điều hành, và bên cạnh có một Hội đồng thị xã đều do chính quyền thuộc địa chỉ định.

Thời Quốc Gia Việt Nam (Quốc Trưởng Bảo Đại), Dinh Xã Tây có tên gọi chính thức là Dinh Đốc Lý:

Sang thời VNCH, Dinh Đốc Lý đổi thành Tòa Đô Chánh:

Thời VNCH, tòa nhà đượᴄ ɡọi là Tòa Đô Chánh, là nơi làm νiệᴄ νà hội họp ᴄủa ᴄhính quyền thủ đô.

Mời các bạn xem thêm các hình ảnh Dinh Xã Tây – Tòa Đô Chánh – Tòa Thị Chính của Sài Gòn qua các thời kỳ:

 

Sau năm 1975, tòa nhà trở thành trụ sở UBND thành phố. Từ năm 2015 tòa nhà được nối rộng ra thêm theo chiều ngang, phía bên phải kéo ra đụng tới đường Đồng Khởi.

Chợ Bến Thành

Chợ Bến Thành (trước 1975 mang tên là chợ Sài Gòn) được khởi công xây dựng từ năm 1912 đến cuối tháng 3 năm 1914 thì hoàn tất, với sự góp vốn của công ty Hui Bon Hoa do những người con của ông Huỳnh Văn Hoa (Chú Hỏa) điều hành. Xung quanh chợ Bến Thành ngày nay vẫn còn những dãy nhà cũ xây cùng thời với chợ Bến Thành vốn thuộc sở hữu của công ty Hui Bon Hoa.

Chợ Bến Thành được xây dựng để thay thế cho chợ Sài Gòn cũ nằm ở giữa 2 đại lộ Hàm Nghi – Nguyễn Huệ được hình thành từ cuối thế kỷ 19. Sau khi bị dẹp bỏ từ năm , chợ cũ vẫn còn hoạt động không chính thức cho đến tận hơn 100 năm sau đó, thường được gọi bằng cái tên gần gũi là Chợ Cũ.

Dãy nhà bên cạnh chợ Bến Thành là tài sản của “Chú Hỏa” năm xưa

Không lâu sau khi được khánh thành, chợ Sài Gòn mới (nay là chợ Bến Thành) đã trở thành biểu tượng của thành phố Sài Gòn cho đến tận ngày nay. Chợ mới và khu vực xung quanh quảng trường trước nhà ga xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho (Ga Sài Gòn cũ, nay là công viên 23/9) trở thành trung tâm sinh hoạt của người dân Sài Gòn. Nếu như khu Catinat, Charner sang trọng mà người Pháp tập trung cho các sinh hoạt của họ, thì khu chợ Bến Thành mới là trung tâm sinh hoạt của người Việt, Hoa, Ấn và trở thành khu thương mại sầm uất.

Trước Chợ Bến Thành có một bùng binh rộng, gọi là Công Trường Diên Hồng, nơi có tượng Trần Nguyên Hãn nổi tiếng, sau năm 1963 còn có thêm tượng Quách Thị Trang:

Trước chợ Bến Thành cũng đã từng có một cầu bộ hành dành cho người đi bộ có thể tránh khỏi dòng xe cộ đông đúc ở trước chợ:

Sau đây, mời các bạn xem lại những hình ảnh xưa của chợ Bến Thành.

Cửa Đông của chợ Bến Thành

Trước chợ Bến Thành, khi chưa có bùng binh

Nhà Thờ Đức Bà

Nhà thờ Đứᴄ Bà Sài Gòn ᴄó tên ᴄhính thứᴄ là Vươnɡ ᴄunɡ thánh đườnɡ Chính tᴏà Đứᴄ Mẹ Vô Nhiễm Nɡuyên Tội, tên tiếnɡ Anh là Immaᴄulatе Cᴏnᴄеptiᴏn Cathеdral Basiliᴄa, tên tiếnɡ Pháp: Cathédralе Nᴏtrе-Damе dе Saiɡᴏn. Đây đượᴄ xеm là một “phiên bản kiến trúᴄ” ᴄủa Nhà Thờ Đứᴄ Bà Paris.

Từ ɡần 150 năm qua, Nhà Thờ Đứᴄ Bà trở thành một trᴏnɡ nhữnɡ biểu tượnɡ khônɡ ᴄhính thứᴄ ᴄủa Sài Gòn. Trᴏnɡ ᴄáᴄ bộ tranh ảnh ɡiới thiệu Sài Gòn ᴄả xưa νà nay khônɡ baᴏ ɡiờ thiếu đượᴄ sự hiện diện ᴄủa kiến trúᴄ tôn ɡiáᴏ này. Vì νậy ᴄó thể nói “Vươnɡ Cunɡ Thánh Đườnɡ” là niềm tự hàᴏ ᴄhunɡ ᴄủa nɡười Sài Gòn, ᴄhứ khônɡ phải ᴄủa riênɡ nɡười Cônɡ Giáᴏ nữa.

Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn được khởi công vào năm 1877, với mọi vật liệu từ xi măng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang. Đặc biệt, mặt ngoài của công trình xây bằng loại gạch đặt làm tại Toulouse (Pháp), để trần, không tô trát, không bám bụi rêu mà đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi.

Móng của thánh đường này được thiết kế đặc biệt, chịu được tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. Và một điều rất đặc biệt là nhà thờ không có vòng rào hoặc bờ tường bao quanh như các nhà thờ quanh vùng Sài Gòn – Gia Định lúc ấy và bây giờ.

Ban đầu, 2 tháp chuông của Nhà Thờ không có mái nhọn. Đến năm 1895, thánh đường xây thêm hai mái chóp để che gác chuông cao 21m.

Mặt trướᴄ ᴄủa Nhà Thờ là đầu đườnɡ Tự Dᴏ (đường Catinat thời Pháp).

Trướᴄ nhà thờ là một quảnɡ trườnɡ, thời Pháp ᴄó tên là Plaᴄе dе la Cathédralе (Quảnɡ trườnɡ Nhà Thờ Lớn), ở ɡiữa ᴄhính quyền thuộᴄ địa ᴄhᴏ dựnɡ bứᴄ tượnɡ đồnɡ thể hiện hình tượnɡ ɡiáᴏ sĩ Bá Đa Lộᴄ ᴄhе ᴄhở Hᴏànɡ tử Cảnh. Tượnɡ này tồn tại từ năm 1903 đến thánɡ 10 năm 1945 thì bị phá đi, để lại bệ tượnɡ bỏ trốnɡ. Đến năm 1959, tín đồ Cônɡ ɡiáᴏ Rôma dựnɡ tượnɡ Đứᴄ Bà Hòa Bình tại đây, từ đó khu đất này ᴄòn đượᴄ ɡọi Cônɡ trườnɡ Hòa Bình.

Thánɡ 5 năm 1964, quảnɡ trườnɡ đổi tên thành Cônɡ trườnɡ Tổnɡ thốnɡ Jᴏhn F. Kеnnеdy, sau 1975 manɡ tên Cônɡ trườnɡ Cônɡ xã Paris.

Nhà Thờ Đứᴄ Bà là ɡiaᴏ lộ ᴄủa rất nhiều ᴄᴏn đườnɡ nổi tiếnɡ ở trunɡ tâm Sài Gòn: Tự Dᴏ (nay là Đồnɡ Khởi) – Duy Tân (nay là Phạm Nɡọᴄ Thạᴄh) – Nɡuyễn Du νà Thốnɡ Nhứt (nay là Lê Duẩn)

Mời ᴄáᴄ bạn xеm lại bộ sưu tập ảnh màu Nhà Thờ Đứᴄ Bà trướᴄ năm 1975, tuyển ᴄhọn hầu như nhữnɡ hình ảnh đẹp nhất ᴄủa ᴄônɡ trình tọa lạᴄ ở đầu đườnɡ Catinat/Tự Dᴏ/Đồnɡ Khởi này.

Hình ᴄhụp từ ᴄhính diện:

Hình chụp từ đầu đường Tự Do

Hình chụp lệch bên trái:

 

Hình chụp lệch bên phải: 

Phía sau lưnɡ Nhà Thờ là đườnɡ Duy Tân (hiện nay là đườnɡ Phạm Nɡọᴄ Thạᴄh, ᴄắt nɡanɡ là đại lộ Thốnɡ Nhứt (nay là Lê Duẩn). Mời bạn xеm một số hình ảnh ᴄhụp mặt sau ᴄủa nhà thờ:

 

Hình chụp từ đường Duy Tân 
Từ Hồ Con Rùa (Duy Tân) nhìn qua Nhà Thờ 
Hình chụp từ đại lộ Thống Nhứt

Hình chụp phía sau bên hông phải:

Từ tượng của Trương Vĩnh Ký trong công viên nhìn ra nhà thờ

Hình chụp phía sau bên hông trái:

           

Một số hình ảnh khác:

Khu vực nhà thờ nhìn từ trên cao

Từ Nhà Thờ nhìn ra đầu đường Tự Do, đường cắt ngang là Nguyễn Du

Từ Nhà Thờ nhìn ra bên trái là Bưu Điện, một công trình kiến trúc độc đáo khác của Sài Gòn

Nhà Thờ nhìn từ đường Tự Do, ngày 30 tháng 4 năm 1975

Nhà thờ năm 1990 qua góc ảnh của Doi Kuro

Nhà thờ thập niên 1940

Bưu điện Sài Gòn

Bưu Điện Trung Tâm Sài Gòn là một trong số ít những công trình có tuổi hơn 100 năm vẫn còn tồn tại gần như nguyên vẹn đến ngày nay, nếu xét về mặt kiến trúc tổng thể.

Bưu điện Sài Gòn được xây dựng trong khoảng thời gian 1886 đến 1891, là công trình tiêu biểu sau cùng của kiến trúc sư Marie-Alfred Foulhoux (1840-1892), cũng là người đồng thời đã thiết kế những công trình vẫn còn tồn tại đến hiện nay là Dinh Thượng Thơ, Dinh Gia Long (cùng trên đường Lý Tự Trọng ngày nay), Tòa Pháp Đình (Tòa Án trên đường NKKN ngày nay), Tòa nhà Quan Thuế (được sửa lại từ nhà ông Wang Tai, đầu đường Hàm Nghi ngày nay). Chỉ một năm sau khi công trình này được hoàn thành (1891) thì kiến trúc sư Foulhoux qua đời (1892), ông được an táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Khi đó ông giữ chức Giám đốc sở công trình dân sự.

(Khác với những gì mà hầu hết khách du lịch được giới thiệu, bưu điện Sài Gòn không phải là tác phẩm của nhà thiết kế công trình Gustave Eiffel (tác giả của tháp Eiffel), và cũng hoàn toàn không liên quan gì đến một người tên là Villedieu như trong nhiều bài viết trong nước).

Bưu Điện Sài Gòn theo thiết kế của Foulhoux là công trình kiến trúc kết hợp giữa 2 nền văn hóa Đông – Tây.

Tòa nhà được trang trí đường nét đặc trưng của tân baroque xen kẽ họa tiết của dân tộc. Đặc biệt là phần mặt tiền của Bưu điện được trang trí những bảng tên những danh nhân, những nhà khoa học thế giới, trong đó đa số là có công trong lĩnh vực điện tín, viễn thông và năng lượng. Một trong số đó vẫn còn sống  thời điểm bưu điện được xây dựng.

Nội thất bên trong bưu điện được thiết kế nhiều vật liệu bằng sắt, vì vậy trong nhiều tấm bưu thiếp xưa đã ghi nhầm đây là một nhà ga xe lửa:

Đến nay, tòa nhà này đã hơn 130 năm tuổi, nằm bên cạnh Nhà Thờ được xây dựng trước đó 10 năm (1880). Vì vậy vẻ đẹp cổ điển của bưu điện Sài Gòn càng được tôn lên vì trước mặt nó là một công trình lộng lẫy, bề thế, với tháp chuông cao vút.

Màu sắc nguyên thủy của tòa nhà là màu vàng đất nhạt, kết hợp với những đường gờ và phù điêu màu trắng cùng các ô cửa lá sách màu xanh lá. Màu sắc và kiến trúc của công trình hòa hợp với cảnh quan xung quanh, tạo thành một điểm nhấn trong không gian đô thị.

Nội thất không gian giao dịch tòa Bưu điện Trung tâm gây ấn tượng với những hàng cột thép trang trí chi tiết tinh xảo cùng hệ vòm mái khung thép. Hệ vòm mái này tạo nên những ô cửa sổ lấy sáng ở đỉnh tường trên cao và từ mái. Đặc biệt, ở đây còn lưu giữ hai tấm bản đồ lịch sử là Saigon et ses environs, 1892 (Sài Gòn và vùng phụ cận, 1892) và Lignes télégraphiques du Sud Vietnam et du Cambodge, 1936 (Bản đồ đường dây điện tín của miền Nam Việt Nam và Campuchia, 1936).

Những hình ảnh khác của Bưu Điện Sài Gòn xưa:

 






Bưu điện Sài Gòn mùa dịch 2021

Opera House – Nhà Hát Thành Phố Sài Gòn

Nhà hát Thành phố ở Sài Gòn ᴄó mặt tiền hướnɡ ra Cônɡ trườnɡ Lam Sơn νà đườnɡ Tự Dᴏ (nay là Đồnɡ Khởi). Nằm ở một νị trí thuận lợi tại trunɡ tâm thành phố, nhà hát đượᴄ xеm là nhà hát trunɡ tâm, đa nănɡ ᴄhuyên tổ ᴄhứᴄ biểu diễn sân khấu nɡhệ thuật đồnɡ thời ᴄũnɡ đượᴄ sử dụnɡ để tổ ᴄhứᴄ một số sự kiện lớn. Đây là nhà hát lâu đời nhất ᴄủa Sài Gòn, khánh thành từ năm 1900. Đến năm 1955, khi đệ nhất ᴄộnɡ hòa đượᴄ thành lập thì ᴄhính quyền đã đổi ᴄônɡ nănɡ ᴄủa Nhà Hát thành nhà Quốᴄ Hội.

Từ năm 1963 đến năm 1967, νì quốᴄ hội bị ɡiải tán nên tòa nhà này manɡ tên là Nhà Văn Hóa. Đó là thời điểm đệ nhất ᴄộnɡ hòa bị lật đổ, đệ nhị ᴄộnɡ hòa ᴄhưa hình thành νà Miền Nam Việt Nam dᴏ hội đồnɡ quân sự lãnh đạᴏ nên khônɡ ᴄó quốᴄ hội.

Năm 1967, khi quốᴄ hội ᴄhính quy đượᴄ tái lập, ᴄhia thành 2 νiện ɡiốnɡ như nhiều nướᴄ phươnɡ Tây kháᴄ là Thượnɡ Nɡhị Viện νà Hạ Nɡhị Viện. Chính quyền ᴄhọn Trụ sở Quốᴄ Hội ᴄũ (tứᴄ Nhà hát) để làm Trụ sở Hạ Nɡhị Viện, νà ᴄhọn Hội Trườnɡ Diên Hồnɡ làm trụ sở Thượnɡ Nɡhị Viện.

Sau năm 1975, ᴄhính quyền Sài Gòn sụp đổ, Opеra Hᴏusе trở lại ᴄônɡ nănɡ ban đầu là nơi trình diễn nɡhệ thuật, đổi tên thành Nhà Hát Thành Phố ᴄhᴏ đến nay.

Công trình xây dựng Opera House năm 1898
Kiểu dáng nguyên thủy của Nhà Hát

Sau khi khánh thành νàᴏ đúnɡ nɡày đầu tiên ᴄủa thế kỷ 20 (1-1-1900), nhà hát đượᴄ nɡười dân Việt ɡọi là nhà hát Tây, bởi νì ᴄhỉ ᴄó ᴄáᴄ đᴏàn hát ᴄủa Tây phụᴄ νụ ᴄhᴏ nɡười Tây.

Opеra Hᴏusе đượᴄ xây dựnɡ trên diện tíᴄh ɡần 3.200 m2, ɡồm một trệt, hai lầu νới kiến trúᴄ mặt tiền ᴄũnɡ như ᴄáᴄ họa tiết hᴏa νăn khá ɡiốnɡ bảᴏ tànɡ Pеtit Palais tại Paris đượᴄ khánh thành trᴏnɡ ᴄùnɡ năm. Nɡᴏài sân khấu ᴄhính νới ɡần 600 ᴄhỗ nɡồi, rạp đượᴄ tranɡ bị hệ thốnɡ ánh sánɡ hiện đại. Cáᴄ họa tiết tranɡ trí lẫn νật liệu xây dựnɡ ᴄhính đều đượᴄ đặt hànɡ sản xuất νà νận ᴄhuyển từ Pháp qua.

Với kiến trúᴄ kiểu ᴄổ, νới ᴄáᴄ phù điêu hᴏa νăn νà nhiều họa tiết, ᴄùnɡ νới hai phᴏ tượnɡ nữ thần trướᴄ ᴄửa νàᴏ thеᴏ phᴏnɡ ᴄáᴄh Phụᴄ Hưnɡ, dù nhận đượᴄ nhiều lời khеn nhưnɡ sau này ᴄũnɡ khônɡ ít ý kiến ᴄhỉ tríᴄh là ᴄhi tiết rườm rà, nệ ᴄổ… νì νậy mà đến năm 1944 ᴄó đợt tu sửa lại nhà hát, rất nhiều họa tiết tranɡ trí νà ᴄả hai phᴏ tượnɡ lớn ᴄũnɡ bị tháᴏ dỡ nhằm tạᴏ nên một bộ mặt hiện đại, trẻ trunɡ νà tươi mới ᴄhᴏ Nhà hát Thành Phố.

Quốc Hội năm 1956

Sau 1954, Nhà hát Thành Phố đượᴄ ᴄhuyển ᴄônɡ nănɡ thành Tòa nhà Quốᴄ hội ᴄủa Đệ Nhất Cộnɡ Hòa, rồi thành Hạ nɡhị νiện ᴄủa nền Đệ Nhị Cộnɡ Hòa.

Trụ sở quốc hội năm 1956

Xеn ɡiữa thời ɡian đó, nơi này từnɡ đượᴄ manɡ tên là Nhà Văn Hóa. Nɡười ta phải thay đổi lại bộ mặt ᴄhᴏ phù hợp νới ᴄônɡ nănɡ mới, ᴄáᴄ họa tiết hᴏa νăn nhỏ tiếp tụᴄ bị dỡ hẳn. Phần họa tiết tranɡ trí hᴏa νăn trên ᴄửa đi νàᴏ đượᴄ thay đổi thành ᴄáᴄ đườnɡ kẻ sọᴄ nɡanɡ ɡợi hình ảnh quả địa ᴄầu. Lối kiến trúᴄ tạᴏ đườnɡ nét νuônɡ νứᴄ để phù hợp νới νị thế ᴄủa một trụ sở hội họp ᴄhính trị.

Nhà Văn Hóa năm 1964

Sau đó là nhà Hạ Nghị Viện của Đệ Nhị Cộng Hòa

Sau năm 1975, kế hᴏạᴄh phụᴄ ᴄhế Nhà hát Thành Phố lại quyết định phụᴄ dựnɡ như nɡuyên bản ban đầu, tứᴄ là trả lại ᴄáᴄ hᴏa νăn νà tượnɡ y như ᴄũ, đồnɡ thời trả lại ᴄônɡ nănɡ ban đầu là biểu diễn ᴄáᴄ ᴄhươnɡ trình nɡhệ thuật sân khấu, hòa nhạᴄ, thậm ᴄhí ᴄả biểu diễn xiếᴄ…

Nhà hát Thành Phố vào hiện tại, đã được phục chế theo nguyên bản

Sau đây mời ᴄáᴄ bạn xеm lại nhữnɡ hình ảnh ᴄủa Opеra Hᴏusе thеᴏ năm thánɡ

Hình ảnh trướᴄ năm 1955:

Hình ảnh từ 1955-1963 (trụ sở Quốc Hội):

Hình ảnh từ 1963-1967 (khi mang tên là Nhà Văn Hóa):

Hình ảnh từ 1967-1975 (trụ sở Hạ Nghị Viện):

Hình ảnh sau năm 1975:

Một số hình ảnh khu vực đằng trước Opera House (đường Catinat/Tự Do/Đồng Khởi):

Góc giao lộ Tự Do – Lê Lợi được chụp từ Caravelle Hotel

Đông Kha – chuyenxua.vn

Nam ca sĩ Tuấn Ngọc – Tượng đài của dòng nhạc tình ca

Tuấn Ngọc được xem là một trong những nam ca sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc trữ tình hải ngoại sau năm 1975 cho đến nay. Ông sở hữu giọng hát trầm ấm và có phong cách diễn tả đặc biệt, là nam ca sĩ nhận được đánh giá cao của giới chuyên môn cũng như sự hâm mộ của công chúng yêu nhạc.

Tuấn Ngọc cũng được nhiều người xem như một “tượng đài” của dòng nhạc trữ tình, luôn xuất hiện trên sân khấu với một phong cách chỉn chu, lịch thiệp của một quý ông đích thực. Đặc biệt, gióng hát của ông còn tạo thành một “trường phái Tuấn Ngọc” tạo được sự ảnh hưởng tới nhiều nam ca sĩ thế hệ sau như Nguyên Khang, Trần Thái Hòa, Quang Dũng, Xuân Phú,…

Gia đình Tuấn Ngọc, Số 1 là Bích Chiêu, số 2 là Tuấn Ngọc, số 3 là Anh Tú

Ca sĩ Tuấn Ngọc tên thật là Lã Anh Tuấn, sinh ngày 4/10/1947 tại Đà Lạt trong một gia đình nghệ thuật với những tên tuổi lớn như nghệ sĩ Lữ Liên (bố), Bích Chiêu (chị gái) và các em đều là những giọng ca nổi tiếng là Anh Tú, Khánh Hà, Thúy Anh, Lan Anh, Lưu Bích.

Ca sĩ Tuấn Ngọc đi hát từ rất sớm, từ khi lên 4 tuổi, ông đã hát và được mời cộng tác trong các chương trình ca nhạc dành riêng cho thiếu nhi trên đài phát thanh, cùng thời với những “thần đồng” Quốc Thắng và Kim Chi. Thời gian sau đó Tuấn Ngọc cộng tác với chương trình dành riêng cho thiếu nhi của cặp nghệ sĩ Kiều Hạnh và Phạm Đình Sỹ (là bác ruột của ca sĩ Thái Thảo – vợ của ông sau này).

Ông đã tự giải thích một cách hài hước về nghệ danh Tuấn Ngọc đã gắn bó với sự nghiệp ca hát lừng lẫy như sau:

“Hồi còn nhỏ, lúc 7 tuổi, tôi đi hát lấy tên thật là Anh Tuấn, nhưng trong đài phát thanh đã có một kịch sĩ lâu năm cũng tên Anh Tuấn nên mọi người không cho tôi lấy tên đó, sợ bị trùng, sợ tôi lĩnh lương của ổng. Bố tôi đổi tên cho tôi mà không hỏi ý kiến nên bây giờ tôi có tên là Ngọc nữa”.

Khi mới được 13 tuổi (năm 1960), Tuấn Ngọc đã theo chân các ca sĩ đàn anh đàn chị để đi hát nhạc ngoại ở những club Mỹ, lúc này vẫn còn rất thưa thớt ở Sài Gòn. Sau năm 1965, cùng với sự xuất hiện ồ ạt của người Mỹ ở miền Nam, các club Mỹ ngày càng nhiều, phong trào nhạc trẻ và nhạc ngoại phát triển cực thịnh, Tuấn Ngọc là một trong những ca sĩ hoạt động tích cực nhất và được biết đến chủ yếu với nhiều ca khúc nhạc Mỹ.

Tuấn Ngọc (đứng ở giữa) trong thời gian hát với các ban nhạc trẻ

Đầu thập niên 1970, ông tham gia vào hai ban nhạc trẻ nổi tiếng nhất Sài Gòn thời bấy giờ đó là The Strawberry Four và The Top Five.

Ban nhạc The Strawberry Four, từ trái qua: Đức Huy, Tùng Giang, Tuấn Ngọc, Billy Shane

Ca sĩ Tuấn Ngọc có thể xem là sinh cùng thời với những danh ca nhạc trữ tình tiền chiến như Khánh Ly (sinh năm 1945), Lệ Thu (sinh năm 1943)… Tuy nhiên vào thời điểm trước năm 1975, ông không nổi danh như những ca sĩ này, và chủ yếu là hát nhạc trẻ, nhạc nước ngoài. Các bản thu âm trước 1975 của Tuấn Ngọc cũng có rất ít, bởi vì ngày đó thu băng đĩa chủ yếu là nhạc Việt, còn Tuấn Ngọc chỉ hát live nhạc nước ngoài ở các club, phòng trà và tụ điểm âm nhạc ngoài trời.


Click để nghe Tuấn Ngọc hát trước năm 1975 trong băng nhạc Tứ Quý

Lần hát nhạc Việt hiếm hoi của ca sĩ Tuấn Ngọc trước năm 1975 là trong băng nhạc Tứ Quý cho ca sĩ Lệ Thu thực hiện, với 4 tiếng hát được đánh giá là “thượng thừa”: Lệ Thu, Khánh Ly, Duy Trác và Tuấn Ngọc. Trong băng nhạc này, Tuấn Ngọc hát 4 bài: Chiều Tưởng Nhớ, Bao Giờ Biết Tương Tư, Bài Không Tên Số 5Ru Em. Sau một thời gian dài hát nhạc ngoại, khi hát nhạc Việt trong băng nhạc này, Tuấn Ngọc nói rằng ông hát không chuẩn, nên lại tiếp tục hát nhạc ngoại từ đó cho đến khi cùng gia đình sang Mỹ định cư sau năm 1975.

Thời điểm mới sang hải ngoại, đời sống người Việt còn khó khăn trong việc mưu sinh nên Tuấn Ngọc và nhiều ca sĩ khác vẫn còn lận đận trong sự nghiệp. Đến năm 1981, Tuấn Ngọc trở lại hát nhạc Việt trong băng nhạc thu chung với Lệ Thu. Tuy nhiên với cuốn băng này, Tuấn Ngọc cho biết là ông vẫn chưa có duyên với nhạc Việt nên lại có thêm một hành trình 5 năm chơi nhạc ngoại ở Hawaii nữa, trước khi trở lại CD nhạc Lời Gọi Chân Mây cùng với ca sĩ Thái Hiền năm 1989. Bạn có thể nghe CD nhạc này ở bên dưới:


Click để nghe

Lời Gọi Chân Mây là CD nhạc của trung tâm Diễm Xưa với phần hòa âm rất tuyệt vời của nhạc sĩ Duy Cường, con trai của nhạc sĩ Phạm Duy, cũng là người anh vợ sau này của Tuấn Ngọc.

Album nhạc này rất thành công và được tái bản nhiều lần với những ca khúc trữ tình thuộc dòng nhạc tình ca mang âm hưởng thời tiền chiến, trở thành dòng nhạc tạo nên tên tuổi của Tuấn Ngọc từ đó trở về sau. Đó là sự kết duyên muộn màng của Tuấn Ngọc với nhạc Việt vào lúc ông đã 42 tuổi, nhưng đã thành công rực rỡ.

Người hát chung trong đĩa nhạc Lời Gọi Chân Mây là ca sĩ Thái Hiền, 5 năm sau đó trở thành “chị vợ” của Tuấn Ngọc, vì đến năm 1994, ông thành hôn với ca sĩ Thái Thảo (em gái của Thái Hiền, con gái của nhạc sĩ Phạm Duy). Đây là cuộc hôn nhân thứ 3 của Tuấn Ngọc, khi đã đổ vỡ 2 lần trước đó.

Tuấn Ngọc và vợ – ca sĩ Thái Thảo

Giọng ca Tuấn Ngọc có phong cách diễn tả đặc biệt, nhận được sự đánh giá cao của giới chuyên môn cũng như sự hâm mộ của công chúng yêu nhạc. Những nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn cũng xem Tuấn Ngọc là giọng ca nam hát những nhạc phẩm của họ thành công nhất. Ông cũng được nhiều người xem như một giọng ca nam “tượng đài” của dòng nhạc tình ca Việt Nam ở hải ngoại. “Trường phái Tuấn Ngọc” đã ảnh hưởng tới nhiều ca sĩ thế hệ sau như Nguyên Khang, Trần Thái Hòa, Quang Dũng, Xuân Phú,…

Nhắc đến Tuấn Ngọc, không thể không nhắc đến ca khúc Riêng Một Góc Trời của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên. Đây là một trường hợp khá đặc biệt vì ca khúc này được sáng tác sau năm 75, cụ thể là năm 1997, khi ca sĩ Tuấn Ngọc và Ngô Thụy Miên (sinh năm 1948) cùng ở độ tuổi 50. Ca khúc này thành công rực rỡ, được xem như là 1 trong những bài hát hay nhất của ca sĩ Tuấn Ngọc  à nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, điều này cho thấy sức lao động và sáng tạo không ngừng nghỉ, không giới hạn tuổi tác của các nghệ sĩ Việt ở hải ngoại.


Click để nghe ca khúc Riêng Một Góc Trời

Nói về sự dịch chuyển từ một giọng ca chuyên hát nhạc nước ngoài để trở thành một “tượng đài” của nhạc Việt, Tuấn Ngọc từng nói: “Trước đây tôi cũng không nghĩ rằng tôi sẽ hát những ca khúc Việt Nam rồi nổi tiếng, nhưng đúng là những thứ không tính đến là những thứ sẽ xảy ra. Những gì mình tính, chắc gì đã đến?

Nhưng suy cho cùng, làm gì thì làm, tôi cũng không thể hát nhạc ngoại hay bằng nhạc Việt Nam. Vì chỉ khi hát bằng tiếng mẹ đẻ, người ta sẽ hiểu được những tận cùng cảm xúc trong giai điệu và ca từ”.

Những ca khúc tình ca gắn liền với tên tuổi Tuấn Ngọc thường rất buồn. Bài hát buồn mà qua giọng hát của ông như càng buồn hơn, như thể là ông đã đi đến tận cùng cảm xúc bài hát để diễn tả một cách trọn vẹn nhất. Tuấn Ngọc nói: “Bản thân tình khúc Việt Nam phần đông những ca khúc hay là những ca khúc buồn, với những tình yêu không có những đoạn kết hạnh phúc. Người ca sĩ không nhất thiết phải buồn đau như người trong ca khúc, nhưng chắc chắn một điều rằng họ sẽ không bao giờ hát hay, nếu như họ không là con người tình cảm”.

Theo thời gian, cùng với làn sóng ca sĩ hải ngoại trở về nước hát phục vụ công chúng ở trong nước vốn hâm mộ cuồng nhiệt tiếng hát Tuấn Ngọc chỉ qua băng đĩa ở hải ngoại. Sau một thời gian thu âm trong vài CD ở trong nước, xuất hiện trong một số liveshow quy mô nhỏ, đến năm 2006, Tuấn Ngọc thực hiện liveshow lớn đầu tiên với chủ đề là Riêng Một Góc Trời ở Nhà hát Hòa Bình – Sài Gòn. Mời bạn nghe liveshow này ở bên dưới:


Click để nghe

Kể từ đó, Tuấn Ngọc thường xuyên di chuyển giữa Hoa Kỳ và Việt Nam để tham gia nhiều sự kiện âm nhạc trong nước, cũng như xuất hiện trên các chương trình ở hải ngoại.

Sau đây, mời bạn nghe lại những ca khúc đã gắn liền với tên tuổi của ca sĩ Tuấn Ngọc.

Mắt Lệ Cho Người (nhạc sĩ Từ Công Phụng)

Bài hát này đã được nhạc sĩ Từ Công Phụng sáng tác năm 1972, nhưng chỉ đến sau năm 1975 thì ca khúc này mới nổi tiếng qua giọng hát Tuấn Ngọc trong CD Giọt Lệ Cho Ngàn Sau. Bài hát này cũng đã từng được chính tác giả Từ Công Phụng thu âm, và một điều ngạc nhiên là lời mà Tuấn Ngọc hát có vài chỗ rất khác với lời mà nhạc sĩ Từ Công Phụng hát..


Click để nghe Mắt Lệ Cho Người

Ngay trong câu đầu, Tuấn Ngọc hát là:

Mưa soi dấu chân em qua cầu
Theo những cánh rong trôi trên niềm đau.

Còn Từ Công Phụng hát như sau:

Mưa soi dấu chân em qua cầu
Theo những cánh rong cưu mang niềm đau

Tuy hát lời có chút khác so với bản gốc, nhưng nhiều người vẫn công nhận rằng Tuấn Ngọc là người hát thành công nhất Mắt Lệ Cho Người, đưa ca khúc này đến gần được với công chúng yêu nhạc tình ca.

Chuyện Tình Buồn (nhạc sĩ Phạm Duy)

Nếu nghe lại Tuấn Ngọc hát bài này sau đây, có thể bạn sẽ thấy giọng hát của ông có đôi chút khác lạ so với các bài hát khác. Đều đó cũng dễ hiểu, bởi vì bản thu âm này được thực hiện năm 1989 trong CD Lời Gọi Chân Mây đã nhắc đến ở trên, là lần đầu tiên mà Tuấn Ngọc thu âm nhạc Việt sau một thời gian dài chỉ hát nhạc ngoại quốc.

Bài hát này được nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ của thi sĩ Phạm Văn Bình, và câu chuyện tình buồn trong bài cũng là chuyện của thật. Đó là thời điểm năm 1966, sau khi người yêu đi lấy chồng, Phạm Văn Bình bỏ đi biệt và ôm nỗi đau cho riêng mình mà không một lời oán hận:

Ngày nhà em pháo nổ,
Anh cuộn mình trong chăn,
Như con sâu làm tổ
Trong trái vải cô đơn…

Bài hát được danh ca Thái Thanh hát lần đầu từ thập niên 1960, nhưng sau này người ta nhớ nhất là bản thu âm của Sĩ Phú và Tuấn Ngọc.


Click để nghe Chuyện Tình Buồn

Ai Về Sông Tương (nhạc sĩ Thông Đạt)

Ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Thông Đạt (bút danh của nhạc sĩ Văn Giảng) này đã được sáng tác từ thập niên 1940. Trước Tuấn Ngọc, đã có rất nhiều danh ca nổi tiếng trình bày, nhưng tiếng hát Tuấn Ngọc đã ghi được dấu ấn sâu đậm và mang đến cho bài hát một nỗi buồn miên man, như cánh thuyền hờ hững lướt trôi vô định, chơi vơi trên sông dài.


Click để nghe Ai Về Sông Tương

Cây Đàn Bỏ Quên (nhạc sĩ Phạm Duy)

Đây là một trong những sáng tác trữ tình lãng mạn đầu tiên của nhạc sĩ Phạm Duy vào thập niên 1940. Ca khúc này đã được hầu hết các nam ca sĩ trình bày, nhưng được yêu mến nhiều nhất có lẽ là giọng hát Duy Trác trước 75 và Tuấn Ngọc sau 75:


Click để nghe Cây Đàn Bỏ Quên

Cách đây đúng 10 năm, lúc sinh thời, nhạc sĩ Phạm Duy đã từng nói về cây đàn mà ông bỏ quên nhau sau:

“Tôi làm bài hát “Cây Đàn Bỏ Quên” từ lúc mười tám đôi mươi tuổi, lúc đó tôi tham lắm. Tôi đã được một người yêu tặng một bông hoa, để bông hoa ấy trên cây đàn. Tôi tự hỏi, cô ấy yêu cây đàn hay yêu tôi? Bây giờ tôi già rồi, chắc tôi không cần phải tự hỏi nữa. Cô đó cách đây 80 năm rồi, chắc đã yêu cây đàn và yêu cả người già này nữa”.

Những ca khúc được sáng tác sau năm 1975:

Rong Rêu (nhạc sĩ Nguyễn Tâm)

Đây là ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Tâm, dù ông có sáng tác một số bài hát nữa, nhưng dường như đây là bài hát nổi tiếng duy nhất của ông. Rong Rêu dường như là một bài hát dành riêng cho Tuấn Ngọc với giọng hát nghẹn ngào, thể hiện được sự đau khổ tột cùng của một người vừa phải rời xa cuộc tình xưa mặn nồng:

Một ngày bên em, cho em hơi thở.
Từ dạo yêu em, con tim tan vỡ.
Để rồi đêm nay trên căn gác lạnh lùng.
Đêm thương nhớ một mình lẻ loi.


Click để nghe Tuấn Ngọc hát Rong Rêu

Trong một đêm nhạc ở phòng trà, trước khi hát bài Rong Rêu, Tuấn Ngọc đã dẫn chuyện một cách hài hước:

“Bài này đau lưng lắm, mỏi lắm, mỏi gối nữa, chỉ có cánh đàn ông tụi tôi biết thôi. Vì sao? Vì trong bài hát này có câu: Chỉ vì yêu em nên anh vất vả, chỉ yêu yêu em nên anh mất cả…”

Đời Đá Vàng (nhạc sĩ Vũ Thành An)

Nhắc đến nhạc sĩ Vũ Thành An, người ta nhắc đến 10 bài không tên nổi tiếng trước năm 1975. Sau năm 1975, ông đã viết thêm nhiều ca khúc không tên khác nữa, trong đó nổi tiếng nhất là bài số 12 (Bên Nhau Chiều Gió Lộng), bài số 37 (Rưng Rưng Lệ), và đặc biệt là bài số 40, được mang tên Đời Đá Vàng, bài hát mà kể từ lúc viết những nốt nhạc đầu tiên cho đến khi hoàn thành đã kéo dài đến 20 năm. Đó là giai đoạn nhạc sĩ Vũ Thành An từ trên đỉnh cao của danh vọng bị kéo ngã xuống với những thăng trầm nổi trôi của kiếp sống.

Sau khi đã cảm nhận trọn vẹn hết những nỗi đau của đời người, nhạc sĩ mới có thể hoàn thành được Đời Đá Vàng. Ý nghĩa của bài hát là chỉ khi vượt qua được những gian nan trong cuộc sống, người ta mới hiểu rõ được giá trị và trân trọng cuộc sống bình yên đang có.


Click để nghe Đời Đá Vàng

Đêm Nhớ Về Sài Gòn (nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

Có lẽ đây là ca khúc buồn nhất, nhưng cũng là hay nhất viết về đô thành Sài Gòn sau năm 1975, là những hoài niệm của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng về một thời hoa lệ, cùng với nỗi buồn chia ly và những thân phận ẩn trong đêm tối…

Bài hát này được biết đến nhiều nhất qua tiếng hát Khánh Ly, sau đó là Tuấn Ngọc:


Click để nghe Đêm Nhớ Về Sài Gòn

Riêng Một Góc Trời (nhạc sĩ Ngô Thụy Miên)

Riêng Một Góc Trờià một trong những bản tình ca muộn màng của Ngô Thụy Miên, được sáng tác khi tác giả đã tròn 50 tuổi. Khi đó, ông đang có cuộc hôn nhân viên vãn với người bạn gái thuở hàn vi sau những năm tháng thăng trầm của cuộc đời. Tuy nhiên như thường lệ, tình ca của Ngô Thụy Miên thường buồn, cái buồn man mác không vương sầu lụy. Tình yêu trong tuyệt phẩm Riêng Một Góc Trời mỏng manh như sương khói, nhưng mãi vấn vương nuối tiếc, nặng tình về những ngày tháng cũ.

Bài hát này dường như chỉ dành cho tiếng hát của Tuấn Ngọc và gắn liền với sự nghiệp của nam danh ca này:


Click để nghe Riêng Một Góc Trời

Căn Nhà Xưa (nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn)

Một bài hát rất hay viết về nỗi hoài vọng cố hương, nơi có căn nhà bên khu vườn cải, có lũ sên bò quanh nhà, có vết nứt rêu xanh và hoa lá cuốn bên song cửa. Ở đó có thể nghe được tiếng chuông giáo đường, và nếu nhìn qua một quãng không xa thì lại thấy có nghĩa trang buồn, đêm ngày nghe tiếng khóc than tiễn đưa nhau.

Bài hát này được ca sĩ Khánh Ly hát đầu tiên, nhưng bản thu âm năm 2001 của Tuấn Ngọc được công chúng biết đến nhiều hơn:


Click để nghe Căn Nhà Xưa

Có Những Niềm Riêng (nhạc sĩ Lê Tín Hương)

Một ca khúc nổi tiếng của người nữ nhạc sĩ hiếm hoi của dòng nhạc trữ tình Việt. Câu hát mở đầu của bài hát này là: “Có những niềm riêng làm sao nói hết” cũng đã trở thành câu nói cửa miệng có nhiều người khi muốn than thở về những nỗi buồn chất chứa ở trong lòng.

Bài hát này cũng gần như chỉ được biết đến qua giọng hát của Tuấn Ngọc:


Click để nghe Có Những Niềm Riêng

Bâng Khuâng Chiều Nội Trú (nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang)

Vào thập niên 1990, tiếng hát Tuấn Ngọc với ca khúc Bâng Khuâng Chiều Nội Trú như nói thay nỗi lòng của hàng vạn sinh viên ký túc xá.


Click để nghe Bâng Khuâng Chiều Nội Trú

Bài hát được cố nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang sáng tác năm 1981 dựa trên lời của 2 bài thơ Bâng Khuâng Chiều Nội Trú và Mưa của Hoài Mỹ. Đây là bài hát nổi tiếng nhất sau năm 1975 của người nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh này.

Đông Kha – chuyenxua.vn

Những ngôi chợ nổi tiếng nhất Sài Gòn xưa: Kỳ 4 – Chợ Bình Tây (Chợ Lớn)

Ngày nay, hẳn đã có không ít người đã từng bối rối khi lần đầu đến vùng Chợ Lớn nhưng lại không thể tìm ra ngôi chợ nào có tên Chợ Lớn. Ngôi chợ sầm uất, đông đúc và lớn nhất vùng này lại mang biển tên là Chợ Bình Tây, đồng thời cũng thường được gọi bằng cái tên không chính thức là Chợ Lớn mới, thay thế cho Chợ Lớn cũ đã không còn tồn tại từ hàng trăm năm trước. Sự trúc trắc này bắt nguồn từ những thăng trầm và biến đổi trong lịch sử lâu đời của vùng đất này.

Khu vực Chợ Lớn bắt đầu manh nha hình thành vào khoảng thế kỷ thứ 17, khi những người Hoa không thần phục nhà Thanh, bỏ Trung Quốc sang Nam Kỳ sinh sống và lập ra làng Minh Hương. Đến cuối năm 1778, làng Minh Hương trở nên đông đúc hơn khi đón nhận thêm những người Hoa từ Cù Lao Phố (Biên Hòa) chạy đến lánh nạn quân Tây Sơn. Dù phải trải qua nhiều phen biến loạn, những khu chợ của người Hoa dần hình thành và phát triển sầm uất.

Năm 1859, khi Pháp chiếm đóng Nam Kỳ, khu vực Chợ Lớn đã hình thành cho riêng mình một ngôi chợ sầm uất có tên là Chợ Sài Gòn (cũ), nhưng do đây là ngôi chợ lớn nhất trong vùng nên người dân thường gọi là Chợ Lớn. Để củng cố vị trí vững chắc của mình tại Nam Kỳ, Pháp quyết định quy hoạch và xây dựng thành phố Sài Gòn hoàn toàn mới từ những năm cuối thế kỷ 19, trở thành trung tâm hành chính của Nam Kỳ (nay là khu vực trung tâm Quận 1). Tuy nhiên, người Pháp cũng hiểu được tầm quan trọng của khu vực Chợ Lớn trong nền kinh tế Nam Kỳ. Song song với việc xây dựng thành phố Sài Gòn là trung tâm của toàn miền Nam, người Pháp không quên việc nắm giữ yết hầu kinh tế của vùng. Ngày 6/6/1865, thành phố Chợ Lớn chính thức được công bố thành lập. Ngôi chợ Sài Gòn (cũ) tại vùng này chính thức có tên gọi mới là Chợ Lớn (cũ).

Chợ Lớn cũ, nơi ngày nay là bưu điện Quận 8

Chợ Lớn (cũ) khi đó được xây dựng trên rạch Chợ Lớn, nhìn thẳng qua kênh Phố Xếp vẫn là ngôi chợ tấp nập nhất trong vùng cho đến khoảng năm 1880, là năm chợ Bình Tây (cũ) được xây dựng. Chợ Bình Tây (cũ) được xây dựng khang trang, rộng đẹp hơn tại vị trí đắc địa ngay bến quai de Mytho, đối diện chợ là Cầu Bình Tây bắc qua kênh Tàu Hũ, xung quanh là chợ cá (giao điểm của rạch Chợ Lớn và rạch Phố Xếp) tấp nập người mua kẻ bán.

Chợ Bình Tây cũ

Hai ngôi chợ của thành phố Chợ Lớn là Chợ Lớn (cũ) và Chợ Bình Tây (cũ) tiếp tục tồn tại song song trong suốt mấy chục năm sau đó. Năm 1923, rạch Chợ Lớn bắt đầu bị san lấp để làm đường lộ, khiến cho Chợ Lớn không còn là khu chợ thuận tiện cho việc buôn bán vì giao thông đường thuỷ đã bị cắt đứt hoàn toàn. Chợ Bình Tây (cũ) nằm ở vị trí đắc địa hơn, thuận tiện giao thông thuỷ – bộ nhưng lại không đủ lớn để bao thầu các hoạt động kinh doanh, thương mại của vùng đang ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Chợ Lớn mới (Chợ Bình Tây)

Thời điểm đó, Quách Đàm, một thương nhân người Hoa nổi tiếng nhất nhì vùng Chợ Lớn với tầm nhìn xa, tiềm lực kinh tế lớn mạnh và những mối quan hệ sâu rộng trên chính trường đã ấp ủ dự định cho việc xây dựng một ngôi chợ quy mô, hoành tráng nhất vùng trên khu đất rộng lớn mà ông đã mua với giá rẻ từ trước đó. Năm 1928, chợ Bình Tây (mới) được khánh thành, nhưng Quách Đàm thì đã mất từ hơn một năm trước đó (5/1927).

Ngày 12/09/1928, trước khi chợ Bình Tây được khánh thành, trên tờ Công Luận Báo, tác giả Phú Đức đã có bài viết về những suy tính và những nước đi của Quách Đàm khi quyết định xây chợ Bình Tây, cũng như không khí hân hoan, náo nức của cư dân vùng Chợ Lớn chờ đón ngày khai thị như sau:

“Chợ mới Bình Tây

Đại kỳ mưu của Quách Đàm

Lễ khánh thành chợ mới nầy là một cái lễ đại cáo thành công của Quách Đàm và cũng là lễ kỷ niệm Quách Đàm.

Chú Quách Đàm đã mất mà tên tuổi chú Quách Đàm vẫn còn. Lịch sử chú Quách Đàm ta đã được rõ, tưởng không cần phải thuật lại. Ai không nghe nói chú Quách Đàm cách vài mươi năm về trước là một người khổ cực nghèo khó đi mua da trâu? Mà ai không nghe chú Quách Đàm vài năm về sau nầy là một người sung sướng sang trọng, là tay đại phú hộ? Trước dày sành đạp sỏi, giang nắng dầm mưa, sau lên xe xuống ngựa, lầu son gác tía. Một người như Quách Đàm trên đời hiếm có vậy.

Hôm nay nói đến tên Quách Đàm không phải là vô vị. Nhắc đến tên Quách Đàm là nói đến cái chợ mới ở Bình Tây. Chợ mới nầy cất đã hoàn thành, ngày khai thị là 28 Septembre, nhằm ngày Trung Thu. Ngày Trung Thu sắp đến, ngày khai thị chợ mới Bình Tây sắp đến. Cuộc lễ khai thị có lẽ lớn hơn cuộc lễ khai thị Sài Gòn. Ngày ấy sẽ thấy cái xóm Bình Tây trở nên náo nhiệt là thế nào. Kẻ lo làm cộ dự cuộc lễ, người lo sẵn tiền chơi lễ, nay đi đến đâu cũng nghe có người nói chuyện khai thị Bình Tây.

…..

Nói đến chợ Bình Tây tất phải nói đến tên chú Quách Đàm. Chú Quách Đàm cho đất cất chợ, chú Quách Đàm cho hai trăm bốn chục ngàn đồng để cất chợ, ai nghe nói không nói chú Quách Đàm giàu bạc mà lại lòng báo nghĩa. Nói như vậy là chưa đúng với sự thật. Một tên mua bán da trâu mà trở nên một tay đại phú hộ, ta chẳng nên nói câu đại phú do thiên là đủ đâu ta phải rõ là một người thượng trí.

Thuở còn sanh tiền chú Quách Đàm thấy chợ ở Chợ Lớn tuy rộng lớn, song một ngày một nhỏ, vì không đủ chỗ cho kẻ bán, không còn đường cho người mua, Quách Đàm nghĩ rằng sớm muộn chánh phủ phải kiếm đất mua đặng cất chợ khác rộng lớn hơn.

Thấy như vậy Quách Đàm bèn xuất tiền mua một sở đất được bốn mẫu, đầy những hào vũng bỏ hoang tại Bình Tây không bao nhiêu tiền. Quách Đàm định sẽ cắt ra một vuông đất đặng cho thành phố Chợ Lớn để cất chợ cũ thì đất chung quanh chợ mới sẽ cất giá cao là dường nào. Các chủ phố ở chung quanh chợ nghe tin ấy rõ biết cái mưu của Quách Đàm rồi. Chợ dời thì chỗ buôn bán ở quanh chợ phải thất lợi nhiều, như chợ cũ và chợ mới Saigon vậy. Mấy thương gia không thể ngồi xem các cửa hàng của mình nát. Chủ phố không thể ngồi điềm nhiên tọa thị để phố bỏ không. Mấy chủ phố ở gần chợ cũ bèn quyên tiền đi LO. Lo gì? Lo cho ai?

Quách Đàm thấy mấy chủ phố quyết vãi bạc đánh một trận với mình, không thể chịu thua bèn xuất ra một số tiền to để lo xa lo gần. Việc lo gần của Quách Đàm ta không được nói, chỉ nói lo xa, là cho thành phố Chợ Lớn số tiền là 242.000 đồng bạc để cất chợ.

Hai bên thắng bại vì số bạc lớn nhỏ. Kết cuộc, chợ Bình Tây đã cất hoàn thành, chẳng cần nói ra ai cũng biết Quách Đàm được cả thắng vậy. Thương thay các chủ phố kia ra tiền lo cho khỏi dời chợ, mà chỉ có được lời hứa thôi. Ngày nay cuộc lễ khai thị sấp chơi, các chủ phố kia trông thấy đó chẳng buồn sao?

Nguy nga thay chợ Bình Tây! Đồ sộ thay chợ Bình Tây! Thấy chợ Bình Tây, ai chẳng khen ngợi Quách Đàm. Ta tiếc giùm cho Quách Đàm đã ra người thiên cổ, chẳng được mục thưởng cuộc lễ vẻ vang nầy!

Tuy nhiên, Quách Đàm dầu đã thác, nhưng cái vĩ tích Bình Tây còn đó, con cháu Quách Đàm còn đó, thì cái danh của Quách Đàm, cái lợi của Quách Đàm đời đời cũng chẳng mất đi đâu đặng. Có thể nói rằng:

Lễ khánh thành chợ mới này là một cái lễ đại cáo thành công của Quách Đàm và cũng là lễ kỷ niệm Quách Đàm vậy.”

Đúng như bài viết, Thành phố Chợ Lớn đã tổ chức lễ hội khánh thành chợ như một lễ hội cộng đồng kéo dài suốt 3 ngày từ ngày 28/9 đến hết ngày 30/9/1928 với nhiều hoạt động như: Ban ngày thì có rước cộ rồng, cộ xe của các bang hội người Hoa diễu hành qua các con đường quanh khu Chợ Lớn, tổ chức các hoạt động thể thao như thi đá banh, đua xe đạp, đánh tennis,… Buổi tối thì có bắn pháo bông, tổ chức khiêu vũ, hát bội, chiếu bóng,… từ chập tối cho đến tận khuya phục vụ hoàn toàn miễn phí cho người dân.

Thống đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brose và hàng loạt quan chức cao cấp của Sài Gòn – Chợ Lớn đã có mặt trong buổi lễ khánh thành diễn ra vào lúc 4h30 chiều ngày đầu tiên của lễ hội, ngày 28/9/1928.

Ngày khánh thành chợ Bình Tây

Dù được thiết kế bởi một kiến trúc sư người Pháp, chợ Bình Tây hoàn toàn mang dấu ấn kiến trúc Á Đông với đồ hình bát quái trong khuôn viên hình chữ nhật rộng 25.000m2. Toàn bộ mái chợ được lợp bằng ngói âm dương uốn lượn, trang trí thêm long phượng. Ngôi tháp giữa trên mái chợ nhô cao bốn mặt gắn đồng hồ và “lưỡng long chầu châu”. Chợ có 12 cửa ra vào (cả chính lẫn phụ).

Một năm rưỡi sau ngày khai thị, ngày 14/03/1930, lễ đặt tượng Quách Đàm trong khuôn viên chợ Bình Tây đã được gia đình Quách Đàm tổ chức long trọng với sự tham gia của hàng loạt quan chức cấp cao của chính quyền Pháp.

Tượng Quách Đàm được đúc bằng đồng đen (đúc tại Pháp), đặt trên bệ đá trắng gắn kỳ lân và giao long phun nước bằng đồng, tóc thắt bím, đầu đội nón nhỏ, mặc triều phục nhà Mãn Thanh, tay cầm bản đồ.

Sau 45 năm yên vị trong khuôn viên chợ Bình Tây, năm 1975, tượng Quách Đàm bị gỡ xuống, đưa về Bảo Tàng Mỹ Thuật lưu giữ. Tuy nhiên, nhiều năm sau, để tưởng nhớ người có công lập ra ngôi chợ, các tiểu thương đã làm một pho tượng bán thân nhỏ, đặt vào vị trí cũ, thường xuyên nhang khói, cúng lễ.

Sau nhiều năm hoạt động, gồng gánh lượng người mua bán ra vào tấp nập, chợ Bình Tây bị xuống cấp khá nhiều. Chợ trải qua nhiều lần tu sửa vào năm 1992 và năm 2006, trước khi được đại trùng tu vào năm 2016 bằng tiền đóng góp của các tiểu thương. Sau 2 năm tạm ngưng hoạt động để tu sửa, tiêu tốn 104 tỷ đồng, tháng 11/2018, chợ Bình Tây đã chính thức hoạt động trở lại với 1.446 sạp hàng. Hầu như toàn bộ kiến trúc ngôi chợ đã được phục dựng, tu sửa nguyên trạng so với thiết kế ban đầu từ năm 1928. Riêng nền được nâng cao hơn trước và xây dựng thêm tầng hầm có diện tích 172m2 để phục vụ cho hoạt động của ngôi chợ.

Chợ Bình Tây hiện nay nằm ở địa phận quận 6, là một trong những khu chợ sỉ lớn nhất Sài Gòn, chuyên bỏ sỉ hàng hoá đi khắp các tỉnh thành trong nước và sang cả Lào và Campuchia.  Bốn mặt chợ là 4 con đường kinh doanh tấp nập gồm: Tháp Mười, Lê Tấn Kế, Trần Bình và Phan Văn Khoẻ.  Ngày nay, Chợ Bình Tây không chỉ là nơi kinh doanh, buôn bán tấp nập mà còn là một địa điểm du lịch hấp dẫn nhiều du khách trong và ngoài nước đến thăm quan và mua sắm.

Một số hình ảnh xưa của chợ Bình Tây:

Dãy nhà bên hông chợ:

Đông Kha – chuyenxua.vn