Hình ảnh Sài Gòn ven đô thập niên 1950 qua những ca khúc nổi tiếng: Kiếp Nghèo, Xóm Đêm, Phố Buồn

Giữa thập niên 1950, khi cuộc sống của Sài Gòn hoa lệ vẫn chưa đi vào ổn định, ngay bên cạnh ánh sáng kinh kỳ phồn hoa là những khu nhà lá tồi tàn với đường lầy muôn lối quanh, là nơi sinh sống của những người lao động nghèo tha hương, khi mà “hòn ngọc viễn đông” đón những làn sóng người nghèo di cư lánh nạn rất đông.

Vì vậy, bên cạnh hình ảnh rực rỡ và hiện đại ở khu trung tâm Sài Gòn có từ thời Pháp thuộc với những hàng me xanh trên các con đường trải nhựa phẳng phiu, thì ở các vùng ven nhiều đường sá vẫn còn trải đất đá và những khu nhà lụp xụp của người nghèo nhập cư tạo ra một bức tranh tương phản hoàn toàn.

Đã có ít nhất 3 nhạc sĩ cảm thông với cuộc sống khó khăn đó của một giai tầng xã hội và sáng tác ra những ca khúc mô tả hình ảnh xóm nghèo Sài Gòn của gần 70 năm trước, đó là nhạc sĩ Lam Phương với Kiếp Nghèo, nhạc sĩ Phạm Đình Chương với Xóm Đêm, và nhạc sĩ Phạm Duy với Bên Ni Bên Nớ, Phố Buồn.


Click để nghe Thanh Tuyền hát Kiếp Nghèo

Ca khúc Kiếp Nghèo được nhạc sĩ Lam Phương sáng tác vào khoảng năm 1954 khi ông mới 17 tuổi, trong giai đoạn đầu đến mưu sinh ở đất Sài Gòn. Nhạc sĩ Lam Phương kể lại hoàn cảnh sáng tác của Kiếp Nghèo trên Paris By Night số 40 như sau:

“Tôi viết bài ‘Kiếp Nghèo’ trong hoàn cảnh hoàn toàn thật của tôi lúc đó. Viết bằng rung động chân thành, và lần đầu tiên tôi viết bài ‘Kiếp Nghèo’ bằng những giòng nước mắt… Lúc đó tôi còn trẻ lắm, khoảng 1954, sau khi tôi bán được bài ‘Trăng Thanh Bình’ đầu năm 1953, tôi để dành được một số tiền, mua một chiếc xe đạp để di chuyển trong lúc đi học.

Nhà tôi ở Dakao. Thường thường muốn về Dakao phải đi qua con đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ). Con đường Phan Thanh Giản cây cối um tùm. Khoảng ngang trường Gia Long không có một căn nhà nào… Đêm đó, tôi chẳng may gặp một trận mưa rất to, không có nơi để trú mưa, đành phải đi dưới mưa để tìm ‘thú đau thương’.

Lúc đó, tôi thấy mình thật cô đơn, thấy mình bé nhỏ và hình như bị đời ruồng rẫy đến vô tình. Tôi đi mãi cho tới khi về nhà, không kịp thay quần áo, ôm cây đàn và cứ thế viết về Kiếp Nghèo, về phận bạc của mình”.


Click để nghe Thanh Thúy hát Kiếp Nghèo

“Kiếp Nghèo” cũng chính là tiếng lòng thật sự của nhạc sĩ Lam Phương thời điểm đó. Ông sáng tác bài này khi vẫn còn đi học và thiếu thốn rất nhiều, nên đã cố gắng viết nhạc để kiếm tiền trang trải cho việc học. Chính ca khúc này đã giúp ông “dễ thở” hơn trong hoàn cảnh nghèo túng trước đó.

Đường về đêm nay vắng tanh
Rạt rào hạt mưa rớt nhanh
Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi
Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh

Lầy lội qua muôn lối quanh
Gập ghềnh đường đê tối tăm
Ngập ngừng dừng bên mái tranh nghe trẻ thơ thức giấc bùi ngùi.

Êm êm tiếng hát ngân nga, ôi lời mẹ hiền ru thiết tha
Không gian tím ngắt bao la như thương đường về quá xa
Mưa ơi có thấu cho ta lòng lạnh lùng giữa đêm trường.
Đời gì chẳng tình thương không yêu đương.

Thương cho kiếp sống tha hương, thân gầy gò gửi cho gió sương
Đôi khi muốn nói yêu ai nhưng ngại ngùng đành lãng phai
Đêm nay giấy trắng tâm tư gửi về người chốn mịt mùng
Đời nghèo lòng nào dám mơ tình chung.

Trời cao có thấu, cuối xin người ban phước cho đời con
Một mái tranh yêu, một khối tình chung thủy không hề phai
Và một ngày mai mưa không nghe tiếng khóc trong đêm dài
Đây cả nỗi niềm biết ngày nào ai thấu cho lòng ai!”

Ca khúc Kiếp Nghèo như là một bức tranh thu gọn nhưng sống động về một xóm nghèo ngày xưa, nơi có những lối quanh lầy lội, đường đê tối tăm… Ở từ nơi u tối đó cũng có sự sáng lòa lên một hình tượng rất đẹp: “Êm êm tiếng hát ngân nga, ôi lời mẹ hiền ru thiết tha…”

Đối lập với sự ấm áp đó là bên ngoài có một người lữ khách một mình lạnh lùng đi trong mưa gió, nhìn vào khe cửa thấy khung cảnh đầm ấm rồi xót thương cho mình, thương cho đường về quá xa. Dường như đó không phải là tâm trạng riêng của người nhạc sĩ, mà của chung những số phận cần lao khác trong xã hội: Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh…


Click để nghe Mai Hương hát Kiếp Nghèo

Khi mới 10 tuổi, nhạc sĩ Lam Phương giã từ mái nhà tranh xơ xác nơi vùng quê nghèo, lên Sài Gòn làm thuê kiếm tiền phụ giúp mẹ nuôi các em. Ông ở trong khu lao động tối tăm, hàng ngày làm thuê, làm mướn tất cả các nghề để có tiền đi học và gửi về cho mẹ. Kiếp Nghèo như là một thước phim quay chậm về một phần đời của tác giả bài hát, một giai đoạn không thể nào quên.

Trước ca khúc Kiếp Nghèo, nhạc sĩ Lam Phương đã bắt đầu có tiếng tăm trong làng nhạc Sài Gòn với Chiều Thu Ấy, Nắng Đẹp Miền Nam, Đoàn Người Lữ Thứ, Nhạc Rừng Khuya, Khúc Ca Ngày Mùa… Tuy nhiên, bài hát đầu tiên đưa tên tuổi của ông lên đỉnh cao chính là Kiếp Nghèo. Dù viết về hoàn cảnh nghèo túng của chính mình, nhưng bài hát này thực sự đã giúp tác giả thoát xa cảnh nghèo vì nó rất ăn khách và các bản nhạc tờ tin bán được rất chạy, giúp cho tác giả của bài hát đã có đủ tài chính để trả hết tất cả các khoản nợ trước đó và vẫn còn dư ra để trang trải cho cuộc sống.

Một bài hát nổi tiếng khác viết về xóm nghèo ven đô của Sài Gòn vào thập niên 1950, đó là Xóm Đêm, được nhạc sĩ Phạm Đình Chương sáng tác vào giai đoạn mà nhạc của ông vẫn còn rực sắc màu tươi sáng, cho nên dù viết về cảnh đời khó khăn mà vẫn tràn ngập niềm tin yêu và lạc quan yêu đời.

Đường về canh thâu.
Đêm khuya ngõ xâu như không mầu,
qua phên vênh có bao mái đầu
hắt hiu vàng ánh điện câu.

Đây cũng là một ca khúc có giai điệu bolero hiếm hoi của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, và cũng là một trong những bài hát giai điệu bolero đầu tiên của tân nhạc. Tuy là bolero nhưng màu sắc của bài hát khác hẳn với những ca khúc giai điệu bolero của thập niên 1960 mà người ta thường hình dung.

Một số tư liệu (trong đó có wiki) ghi là Xóm Đêm được sáng tác năm 1962. Tuy nhiên thông tin này có vẻ là không đúng, vì trong tập nhạc Phạm Đình Chương phát hành tại hải ngoại ghi rõ năm sáng tác là 1955, gần như cùng thời điểm với Kiếp Nghèo của Lam Phương và Phố Buồn của Phạm Duy (cùng sáng tác năm 1954).

Xóm Đêm lần đầu được ra mắt khán giả Sài Gòn với ban hợp ca Thăng Long, có sự góp giọng của chính tác giả, rồi sau đó được rất nhiều thế hệ ca sĩ trình bày.


Click để nghe Thái Thanh và Ban Thăng Long hát Xóm Đêm

Gần nửa thế kỷ sau khi bài hát được ra đời, một ca sĩ trẻ là Quang Dũng đã hát lại Xóm Đêm. Thời điểm đó anh là một ngôi sao sáng, một ca sĩ trẻ hát nhạc trữ tình được yêu thích nhất. Cũng từ đó, bài Xóm Đêm, vốn từ lâu bị im tiếng ở thị trường nhạc ở trong nước, bỗng nhiên được khán giả trẻ đón nhận. Giá trị của bài hát này đã được khẳng định xuyên thế kỷ, xứng đáng với tên gọi là ca khúc vượt thời gian. Tuy nhiên khán giả của thế kỷ 21 sẽ không thể nào hình dung được hình ảnh một xóm nghèo thời thập niên 1950, không biết thế nào là “đêm khuya ngõ xâu”, “ánh điện câu” và “phên vênh” nghĩa là gì.

Ca sĩ Quang Dũng đã hát sai câu hát “qua phên vênh có bao mái đầu” thành “qua chênh vênh có bao mái đầu”, làm cho câu hát trở thành tối nghĩa.

tấm “phên”

“Phên” là tấm che được đan bằng tre, những nhà nghèo thời những năm 1950 ở một xóm nhỏ nghèo, nhiều vách nhà được che bằng tấm phên (còn gọi là nhà vách nứa), lâu ngày mưa nắng làm tấm phên bị cong vênh lên tạo thành một khe hở. Trong một lần bước chân lang thang qua xóm nhỏ, nhạc sĩ nhìn qua khe “phên bị vênh” ấy của một vách nhà nghèo, thấy có những mái đầu trong 1 gia đình đông con chụm lại dưới ánh đèn “hắt hiu vàng ánh điện câu”.

Đêm khuya ngõ xâu như không mầu,
qua phên vênh có bao mái đầu
hắt hiu vàng ánh điện câu.

Câu hát đắt giá này có tới 3 chi tiết có thể gây khó hiểu cho khán giả trẻ. Nhiều người tưởng là “ngõ sâu”, nhưng thực chất, nếu xem lại tất cả các tờ nhạc đã phát hành, cả trước và sau 1975, thì thấy đều ghi là “ngõ xâu”. Có thế nói đó là câu hát ngắn gọn nhất để mô tả những quanh co hẻm nhỏ trong xóm nghèo đan xâu chằng chịt vào nhau. Bấy giờ có khi cả xóm mới có một công tơ điện, mỗi nhà chỉ câu nhờ một bóng đèn vàng võ hắt hiu, nên tác giả gọi là “ánh điện câu”. Dòng “điện câu” thường rất yếu, những ngọn đèn vẫn sáng lên, nhưng là một thứ ánh sáng yếu ớt, vàng vọt!…

Đường dài không bóng.
Xa nghe tiếng ai ru mơ mòng.
Mưa rơi rơi xóa lối đi mòn.
Có đôi lòng vững chờ mong.

Ai chia tay ai đầu xóm vắng im lìm.
Ai rung lên tia mắt ngàn câu êm đềm.
Mong sao cho duyên nghèo mai nắng gieo thêm.
Đẹp kiếp sống thêm.

Màn đêm tịch liêu.
Nghe ai thoáng ru câu mến trìu.
Nghe không gian tiếng yêu thương nhiềụ
Hứa cho đời thôi đìu hiu.

Đêm tha hương ai vọng trông.
Đêm cô liêu chinh phụ mong.
Đêm bao canh mưa âm thầm,
Theo gió về khua cơn mộng,
hẹn mai ánh xuân nồng.

Cho nên đêm còn dậy hương,
để dìu bước chân ai trên đường,
để nhìn xóm khuya không buồn
vì người biết mang tình thương.

Thời điểm năm 1955, nỗi niềm tha hương là thứ gây ám ảnh nhất đối với những người di cư trong tâm trạng nhớ thương về cố xứ. Bản thân nhạc sĩ Phạm Đình Chương cũng là một người di cư, nên hơn ai hết, ông thấu hiểu điều đó đến tận cùng:

Đêm tha hương ai vọng trông.
Đêm cô liêu chinh phụ mong.


Click để nghe danh ca Anh Ngọc hát Xóm Đêm trước 1975

Cũng giống như ca khúc Kiếp Nghèo của nhạc sĩ Lam Phương có hình ảnh “Êm êm tiếng hát ngân nga ôi lời mẹ hiền ru thiết tha”, trong bài Xóm Đêm cũng có bóng dáng của mẹ hiền. Trong đêm tối tăm của xóm nhỏ nghèo, trong cái vàng hắt hiu của ánh điện kia lại thấy bừng sáng lên tiếng ru nghe thật trìu mến của người mẹ – vốn cũng là người cô phụ có chồng phải xa nhà. Họ chia tay nhau nơi đầu xóm vắng, trao đổi với nhau bằng đôi mắt muốn nói lên ngàn lời thương yêu, hứa hẹn đôi lòng vững niềm đợi mong nhau và hy vọng ngày mai sẽ có nắng ấm về làm đẹp mối duyên nghèo.

Trong những bài hát nổi tiếng có chủ đề tương tự, không thể không nhắc đến 2 ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy, cũng được sáng tác vào thời điểm giữa thập niên 1950, đó là Phố BuồnBên Ni Bên Nớ.


Click để nghe Lưu Hồng hát Phố Buồn

Nhạc sĩ Phạm Duy cho biết ông sáng tác Phố Buồn năm 1954, nhắc đến người lao động ở những khu nhà vách lá ở ven đô. Không gian của bài hát được mô tả là một xóm nghèo trên con đường nhỏ không tên, có bùn lầy bôi quết, 2 bên là những mái tranh im lìm và tối tăm không đèn. Tất cả những hình ảnh đó hiện ra ngả nghiêng theo bước chân về nhà của một cô gái được tác giả gọi là “em” sau một ngày làm việc vất vả, trong một đêm mưa rả rích:

Ðường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em
Bùn lầy không quên bôi thêm lối ngõ không tên
Qua mấy gian không đèn
Những mái tranh im lìm
Ðường về nhà em tối đen.

Những gian nhà xập xệ đó là nơi cư ngụ của những công dân hèn mọn, tội nghiệp, chỉ cần nhìn qua song cửa là đã có thể thấy toàn bộ hoàn cảnh của họ:

Nhìn vào khe song trông anh ốm yếu ho hen
Một ngày công lao không cho biết đến hương đêm

Những người lao động nghèo trong xóm mạt hạng này có lẽ là sẽ vĩnh viễn không được hưởng thụ cuộc sống thanh nhàn như là những công dân hạng ưu khác. Quanh năm suốt tháng, sau một ngày mưu sinh vất vả thì đêm về họ chỉ có thể về lại căn nhà 4 vách phênh tồi tàn để chờ hết ngày, thì làm sao biết thế nào là “hương đêm”, làm sao biết những thú vui giải trí ở chốn phồn hoa dù chỉ cách họ một dãy phố nhưng không bao giờ chạm tay tới được.

Em bước chân qua thềm
Mưa vẫn rơi êm đềm
Và chỉ làm phố buồn thêm.

Hạt mưa, mưa rơi tí tách
Mưa tuôn dưới vách
Mưa xuyên qua mành

Hạt mưa, mưa qua mái rách
Mưa như muốn trách
Sao ta chạy quanh

Hạt mưa, mưa yêu áo rách
Yêu đôi sát nách
Mưa ngưng không đành

Hạt mưa, mưa gieo tí tách
Mưa lên tiếng hát
Ru cơn mộng lành.

Những người cả đời được ở trong những căn nhà xây vững chãi tường cao, hay là các căn villa hào nhoáng, sẽ không bao giờ biết được thế nào “mưa tuôn dưới vách”, “mưa xuyên qua mành” hay là “mưa qua mái rách” của những căn nhà mái tranh vách nứa, mỗi mùa mưa đến phải huy động tất cả xô chậu trong nhà để hứng nước dột.

Hạt mưa đã “làm bạn” với người nghèo như vậy qua mọi thời, mưa biết yêu áo rách của người nghèo, yêu đôi sát nách của tầng lớp bình dân, và hạt mưa cũng được nhân cách hóa để biết trách nhân thế sao cứ hoài chạy quanh một vòng lẩn quẩn. Vì cảm thông cho những kiếp nghèo nên mưa cũng lên tiếng hát để ru cho xóm nghèo được những đêm yên giấc mộng lành.

Nhạc sĩ Phạm Duy cho biết: “Với bài này, tôi nghịch ngợm với chữ nghĩa và vần điệu, như mưa rơi tí tách, mưa tuôn dưới vách, mưa qua mái rách, mưa như muốn trách, mưa yêu áo rách… và mơ màng hộ những đôi tình nhân nghèo, phải sống trong những ngôi nhà gỗ mái tôn trong hẻm tối phố buồn rồi nhìn ngôi nhà gạch mà họ mơ tưởng như chiếc bánh ngọt ngon”.

Ðường về trong mơ đêm đêm phố lớn thênh thang
Ánh sáng kinh kỳ tràn lan
Ðời nghèo không riêng thương yêu bóng dáng Xuân sang
Yêu phố vui, nhà gạch ngon…

Sài Gòn phồn hoa có muôn vàn ánh đèn đô thị tràn lan, nhưng dù có là bao nhiêu đèn hoa thì cũng không thể nào soi sáng cho tới phố buồn nơi này:

Ðèn đêm không soi bóng vắng
Kinh đô thắc mắc
Im nghe phố buồn

Người đi trong đêm tối ám
Nghe mưa thức giấc
Khuyên nhau chờ mong.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã nhìn thấu được những đời nghèo lững lờ trôi đi như một chiếc bóng trong đêm tối ám, và thấy cả những cuộc tình nghèo không thể nào thấy được tương lai, chỉ biết khuyên nhau chờ mong mà thôi…


Click để nghe Thanh Thúy hát Phổ Buồn trước 1975

Bài hát Phố Buồn nổi tiếng qua giọng hát Thanh Thúy từ khi cô hãy còn là một thiếu nữ đôi tám. Nhạc sĩ Phạm Duy đã nhận xét như sau:

“…Nhờ giọng hát ma quái của Thanh Thúy, nhờ nhà xuất bản ở chợ trời âm nhạc tái bản tới 8 lần, bài ca xã hội này phổ biến ra dân chúng rất nhanh, rất rộng mà không cần phải nhờ tới đài phát
thanh…”

Bài hát thứ 2 của nhạc sĩ Phạm Duy cùng với chủ đề Sài Gòn ven đô là Bên Ni Bên Nớ, phổ từ bài thơ mang tên Tương Phản. Nguyên tác bài thơ này được thi sĩ Cung Trầm Tưởng sáng tác bài này khi mới 18 tuổi lúc ông đang sống ở vùng Dakao, khi ấy vẫn là một vùng ngoại thành tối tăm, hoang vắng và xơ xác.

Một đêm, từ vùng ngoại ô nhìn về phía đô thành với đèn hoa rực rỡ, thi sĩ Cung Trầm Tưởng nhìn thấy rõ một bức tranh tương phản, giữa một bên là đô thành tráng lệ, một bên là hoang liêu như một bãi tha ma.

Từ bài thơ Tương Phản, nhạc sĩ Phạm Duy viết thành ca khúc mang tên Bên Ni Bên Nớ với ca từ khá sát với lời thơ gốc,.

Hãy cùng đi vào chi tiết từng lời hát:

Đêm chớm ngày tàn,
theo tiếng xe về,
lăn về viễn phố

Em hỡi sương rơi,
ngoài song đêm hạ,
ôi buồn phố xá

Hoang liêu về chết tha ma,
tiếng chân gõ guốc xa xa
Người xa vắng người,
người xa vắng người…

“Đêm chớm ngày tàn” thể hiện một bức tranh động, mơ hồ, ở đó có thể nghe cả tiếng xe hối hả về viễn phố cuối ngày. Rồi sương rơi, đêm xuống, bên cạnh những bãi đất dài hoang vu tối tăm và nghĩa trang buồn ở nơi xa ánh đèn phố thị này, chợt nghe tiếng gõ guốc xa xa dồn giã, như là thanh âm của sự sống, là chút giao cảm của đồng loại, là sợi dây mỏng manh và yếu ớt kết nối giữa hoang liêu bãi tha ma hãi hùng này với những những rộn ràng của đô thành rực rỡ.

“Người xa vắng người” là để diễn tả những linh cảm của nhà thơ về sự phân hóa của những người trong xã hội đang chớm hình thành. Đó là phân ly giữa người giàu và người nghèo, người sống và người chết…

Sự tương phản đó được mô tả rõ nét hơn ở đoạn sau:

Em có nghe dồn giã
bước ai vất vả
bóng ai chập chờn?

Hồn ai cô đơn tìm về ấm cúng
Em có nghe bi ai tình ai ấp úng
Thương ai lạc loài
ăn mày xán lạn ngày mai…

Hình dáng kẻ ăn mày chập chờn trong đêm tối, như là một bóng ma vật vờ trên lối nhỏ, lên tiếng ấp úng và van xin chút tình thương, lời cầu xin đó bi ai như tiếng của oan hồn. Đó là những hình ảnh ở nơi tối tăm, nghèo nàn nhưng đầy ắp lòng thương cảm ở “bên ni”. Tương phản với “bên nớ”, dù có những truy hoan dài theo chuỗi cười vô tận, nhưng đó là chuỗi cười theo “vạn mảnh ly tan”:


Click để nghe Khánh Ly hát Bên Ni Bên Nớ

Đêm ni ai say đất lở, em ơi có nghe rạn vỡ
Vạn mảnh ly tan theo chuỗi cười…
Bên tê thành phố tráng lệ
Giai nhân nằm khoe lõa thể
Bên ni phố vắng ôi lòng ngoại ô

Có những sự tương phản ngay cả bên trong vẻ bề ngoài tráng lệ của bên tê, đó là của những trơ trẽn giai nhân khoe lõa thể, những truy hoan lạc bước, và nhìn lại “bên ni phố vắng” thì chỉ thấy một nỗi ngậm ngùi ngân dài…

Em có nghe hồ như bước ai gõ nhịp bước ai giang hồ?
Hẹn ai bên ni dài in ngõ cũ
Em có nghe bên ni lạnh như bên nớ?
Phút giây chia lìa, trong lòng vẫn phải đèo mong…

Hai tâm linh giam kín lại
Bấm đốt ngón tay chờ đợi
Chờ ngày con thơ, thơ cũng ra đời

Em ơi ngoài kia liếp ngõ
Sương rơi ngoài song khép hở
Bên trong kín gió ấm ơi là tình.

Đoạn cuối của bài hát được nhạc sĩ Phạm Duy “rút gọn” câu chữ cho hợp với nhạc nên ý nghĩa không được thông suốt, thành như là bức tranh trừu tượng, ẩn hiện một cách mơ hồ.

Xin chép lại đoạn cuối của nguyên tác từ bài thơ:

Em có nghe mơ hồ
Bước ai thao thức
Gõ nhịp hẹn hò
In dài ngõ cụt

Bóng ai giang hồ
Bên nớ bên ni đêm lạnh cả
Lạnh đêm mà chẳng lạnh vuông phòng

Em ơi bên trong
Dù chia ly đôi phút
Đồng mang nhớ đèo mong

Hai tâm hồn giam kín
Bốn mắt xanh bịn rịn
Anh ngồi làm thơ
Anh ngồi bấm đốt con thơ ra đời

Bên ngoài liếp ngõ sương rơi
Bên trong kín gió ấm ơi là tình…

Ở đoạn này, vẫn là tương phản với những ly tan của “bên nớ”, ở bên ni có những người nghèo khó, thiếu thốn, mà về tình cảm với nhau thì luôn luôn tràn đầy. Đêm khuya gió lạnh từng cơn, dù là bên ni hay bên nớ cũng đều lạnh cả, nhưng ở bên ni thì “Lạnh đêm mà chẳng lạnh vuông phòng”, và dù “bên ngoài liếp ngỏ sương rơi” thì bên trong vẫn “kín gió ấm ơi là tình”…

Hình tượng “bấm đốt ngón tay” được nhà thơ Cung Trầm Tưởng giải thích như sau:

“Thời đó tôi cũng có quen một cô thiếu nữ ở Huế và tôi mê lắm, cùng học trung học. Tôi có vợ chồng một anh bạn, cùng học một trường, anh có một đứa con sắp ra đời, và tôi là cha đỡ đầu cho đứa bé đó. Từ cảm hứng đó tôi mới làm bài này, trong có câu “bấm đốt ngón tay chờ đợi/chờ ngày con thơ, thơ ra đời”.

Có lẽ cũng vì quen với cô thiếu nữ Huế, nên dù là một người gốc Bắc, thi sĩ dùng những chữ rất Huế trong bài thơ này, như là “bên ni, bên nớ, bên tê”.

Ca khúc Bên Ni Bên Nớ đã được ca sĩ Julie Quang hát trước năm 1975, nhưng bài hát này chỉ thành công nhất là với tiếng hát Khánh Ly sau năm 1975. Cô thể hiện bài hát này thành công đến nỗi có lẽ vì vậy mà sau đó không có ca sĩ nào hát lại Bên Ni Bên Nớ nữa. Bài hát có giai điệu mông lung, hoang hoải và đậm không khí liêu trai, hoàn toàn thích hợp với giọng hát liêu trai – Khánh Ly.

Bài: Đông Kha – chuyenxua.vn

Lịch sử những đường phố Sài Gòn xưa: Đường Hai Bà Trưng và lịch sử hơn 150 năm

Đường Hai Bà Trưng là một trong những con đường xưa nhất Sài Gòn, đã có từ trước khi người Pháp bắt đầu quy hoạch Sài Gòn vào năm 1862. Đây là một trong những con đường quen thuộc nhất đối với Sài Gòn cả xưa và nay, hầu như tất cả các hướng đi trong nội thành đều đi ngang qua hoặc đi trên con đường này.

Đường Hai Bà Trưng hơn 100 năm trước

Ngoài ra, đây là con đường lớn nhất nối xuyên suốt từ sông Sài Gòn, băng qua trung tâm đô thành Sài Gòn để đi thẳng tắp tới tỉnh Gia Định xưa (ở bên kia cầu Kiệu). Cho đến tận ngày nay, đây vẫn là con đường ngắn nhất nối trung tâm Sài Gòn với các quận Phú Nhuận, Gò Vấp.

Ban đầu, con đường nối từ sông Sài Gòn đến rạch Nhiêu Lộc này được người Pháp đánh số 14, rồi sau đó mới đặt tên là Impériale (Hoàng Đế). Đến năm 1870, đường đổi tên thành Nationale (Quốc Gia).

Từ ngày 4 tháng 4 năm 1902, đường được đổi tên lại thành Paul Blanchy, là tên của chủ tịch của Hội đồng thuộc địa của Nam Kỳ năm 1873. Ông cũng là thị trưởng đầu tiên của Sài Gòn, bắt đầu từ 1895 cho đến khi qua đời năm 1901.

Xe lửa đang chạy trên đường ray dọc theo đường Paul Blanchy

Ngày 28 tháng 11 năm 1952, con đường này được cắt đoạn từ đại lộ Norodom (tức đại lộ Thống Nhứt, nay là Lê Duẩn) đến cầu Kiệu và đặt tên là đường Trưng Nữ Vương, đoạn còn lại từ Norodom đến công trường Rigault de Genouilly (là công trường Mê Linh sau này) vẫn giữ tên cũ Paul Blanchy.

Đường Paul Blanchy xưa. Lúc này có đường ray xe lửa tuyến Sài Gòn đi Gò Vấp – Hóc Môn

Ngày 22 tháng 3 năm 1955, hai đường Paul Blanchy và Trưng Nữ Vương nhập thành một và đặt tên là đường Hai Bà Trưng cho đến ngày nay.

Sau đây là những hình ảnh xưa của con đường Hai Bà Trưng tính từ đoạn sông Sài Gòn (Công trường Mê Linh) cho tới Rạch Nhiêu Lộc (cầu Kiệu):

Toàn cảnh công trường Mê Linh thập niên 1950.

Trong tấm hình toàn cảnh công trường Mê Linh bên trên, đường dọc sông là Bến Bạch Đằng, phía trên là 2 đường Hai Bà Trưng – Thi Sách (đường Hai Bà Trưng bên trái, đường Thi Sách ở chính diện, lệch phải). Đó đều là những nhân vật lịch sử gắn liền với địa danh Mê Linh từ thế kỷ 1 trong công nguyên.

Ở chính giữa công trường Mê Linh mà chúng ta thấy trong hình là phần đế của một tượng đài. Từ năm 1877 cho đến năm 1954, vị trí này là tượng đài Rigault de Genouilly, và công trường này cũng mang tên là công trường Rigault de Genouilly. Tên này được đặt theo tên của một viên thủy sư đề đốc Pháp mang tên Charles Rigault de Genouilly. Năm 1955, chính quyền đệ nhất cộng hòa dỡ bỏ tượng Genouilly, chỉ còn lại phần đế, đồng thời đổi tên công trường Rigault de Genouilly thành Công trường Mê Linh. Năm 1962, tại phần đế tượng cũ này, chính quyền đệ nhất cộng hòa xây dựng tượng đài Hai Bà Trưng, tuy nhiên bức tượng chỉ tồn tại được hơn 1 năm thì bị dỡ bỏ, thay vào đó là tượng đài Trần Hưng Đạo từ năm 1967 cho đến tận ngày nay.

Công trường Mê Linh lúc tượng Hai Bà Trưng không còn.

Trong hình bên trên, đường thẳng xuống dưới là đường Hai Bà Trưng, ngay đầu đường là tòa nhà BGI quen thuộc.

Trước khi là nhà máy bia BGI, nơi này từng là nhà máy nước đá đầu tiên của Việt Nam. Sau 1975, khu đất địa chỉ số 2-4-6 Hai Bà Trưng này thuộc Sabeco quản lý. Hiện nay khu nhà này đã bị giải tỏa, và liên quan đến 1 đại án “khu đất vàng” nên vẫn còn đang bị để trống.

Ảnh này cùng 1 vị trí với ảnh trên, có thể nhìn thấy rõ hơn bên trên nhà máy BGI

Nhà máy BGI đường Hai Bà Trưng, cạnh Công trường Mê Linh

Hình ảnh quen thuộc với người Sài Gòn xưa khi đến công trường Mê Linh

Nhà máy BGI

Từ công trường Mê Linh – Đầu đường Hai Bà Trưng đi vô chỉ 1 chút sẽ gặp 2 giao lộ Hai Bà Trưng – Nguyễn Văn Thinh (nay là Mạc Thị Bưởi) và Hai Bà Trưng – Thái Lập Thành (nay là Đông Du). Bên dưới là 1 số hình ảnh ở đoạn này:

Ngã tư Hai Bà Trưng – Thái Lập Thành, bên trái là tòa nhà BGI, qua khỏi ngã tư này là ngã ba Hai Bà Trưng – Nguyễn Văn Thinh. Bên phải hình này là tiệm thực phẩm Khinh Ký, chuyên bán đồ ngoại nhập

Hình ảnh tiệm thực phẩm Khinh Ký nằm ở góc đường Paul Blanchy – Admiral Dupre (đường Thái Lập Thành, nay là Đông Du)

Tòa nhà BGI hay góc Hai Bà Trưng – Thái Lập Thành

Đường Thái Lập Thành (nay là Đông Du) ngay góc ngã tư với đường Hai Bà Trưng, bên phải là tòa nhà BGI

Từ ngã tư với đường Thái Lập Thành, đi đường Hai Bà Trưng sâu vô trong một chút nữa sẽ là một đoạn đường khá sôi động của Quận 1.

Đường Hai Bà Trưng đoạn giữa Thái Lập Thành và Nguyễn Siêu (hướng từ Thái Lập Thành tới Nguyễn Siêu). Xa xa có thể thấy Sở Điện Lực ở góc đường Nguyễn Siêu

Đường Hai Bà Trưng, đoạn giữa Thái Lập Thành và Nguyễn Siêu (ngay sở Điện Lực CEE), có một dãy nhà mà từ sau năm 1965 mọc lên rất nhiều quán bar dành cho lính Mỹ. Nguyên do là ngay cách đó không xa là cư xá sĩ quan Mỹ (còn được gọi là khách sạn Brinks), nơi ở của những sĩ quan cao cấp Mỹ. Khách sạn Brinks từng bị biệt động SG tấn công, vị trí Brinks ngày nay là khách sạn 5 sao Park Hyatt.

Sau đây là khu hàng quán, bar ở đoạn đường này:

Đường Hai Bà Trưng đoạn trước nhà hàng Cheong-Nam (góc Hai Bà Trưng – Nguyễn Siêu), đối diện bên kia nhà hàng là công trường Lam Sơn (phía sau Opera House). Góc ảnh này có thể thấy các bar Kim Thanh, Ánh Sao. Phía bên kia là khách sạn Ritz

Bên phải là bảng tên đường Hai Bà Trưng – Công trường Lam Sơn

Nhà hàng Cheong-Nam rất nổi tiếng tại góc Hai Bà Trưng – Nguyễn Siêu (đường bên trái hình)

Góc Hai Bà Trưng – Nguyễn Siêu, nhìn từ trên khách sạn Brinks. Lúc này nhà hàng Cheong-Nam xây thêm một tòa nhà màu trắng bên trong đường Nguyễn Siêu (góc trái hình)

Cận cảnh đường Nguyễn Siêu nhìn từ đường Hai Bà Trưng. Bên trái là CEE, bên phải là nhà hàng Cheong-nam
Từ khu vực trước nhà hàng Cheong-Nam nhìn ngược về phía công trường Mê Linh

Từ góc đường Hai Bà Trưng – Nguyễn Siêu nhìn về phía công trường Mê Linh ở xa xa. Có thể thấy phần chân của tượng đài ở công trường Mê Linh vẫn còn trống, lúc này chưa xây tượng Trần Hưng Đạo

Ngay góc Nguyễn Siêu còn có một tòa nhà nổi tiếng, đó chính là Sở điện lực, thời Pháp là Compagnie des Eaux et d’Électricité de Saigon (Công ty điện nước Sài Gòn), viết tắt là CEE.

Đường Hai Bà Trưng và Sở Điện Lực

Tòa nhà này được xây từ năm 1896, là nhà máy điện đầu tiên ở Nam kỳ, cung cấp điện cho toàn thành phố cho đến những năm đầu thế kỷ 20. Sau khi nhà máy điện Chợ Quán được xây dựng bên kênh Tàu Hủ (Arroyo Chinois) thì nơi này trở thành trụ sở công ty điện nước CEE.

Đường Hai Bà Trưng nhìn về phía Tân Định. Bên phải là sở điện lực CEE

Ngày nay tòa nhà này vẫn còn, là trụ sở của tổng công ty điện lực Miền Nam ở số 72 Hai Bà Trưng.

Sở điện lực (bên trái hình), nhìn từ trên tòa nhà sau này trở thành khách sạn Brinks, thường được gọi là cư xá sĩ quan Mỹ

Hình ảnh đường Hai Bà Trưng và bãi đậu xe phía sau Opera House. Phía bên trái hình là CEE ngay góc Hai Bà Trưng – Nguyễn Siêu

Đường Hai Bà Trưng đoạn trước Sở điện lực CEE. Bên phải hình là sân sau của Opera House

Đoạn Hai Bà Trưng – Nguyễn Siêu bị chặn trong một sự kiện ngoại giao/chính trị

Sở điện lực (CEE) nằm ở một một vị trí đặc biệt, nằm gọn trong 4 con đường, trước mặt là Hai Bà Trưng và công trường Lam Sơn, sau lưng là Thi Sách, hai bên là Nguyễn Siêu và Cao Bá Quát. Những tên đường này được đặt từ năm 1955 và vẫn còn được giữ nguyên cho đến ngày nay. Cách đặt tên như vậy cũng thật ý nghĩa: Thi Sách là chồng của Hai Bà Trưng, và Cao Bá Quát – Nguyễn Siêu (tức Nguyễn Văn Siêu) là 2 người bạn thân với nhau, là nhà văn nổi tiếng triều Nguyễn, từng được vua Tự Đức ca tụng: Văn như Siêu – Quát vô tiền Hán.

Sở điện lực CEE nhìn từ trên khách sạn Brinks. Hai bên CEE là 2 con đường mang tên Nguyễn Siêu – Cao Bá Quát

Góc giao lộ Hai Bà Trưng – Cao Bá Quát nhìn từ trên Caravelle Hotel năm 1962

Góc trên bên trái là khách sạn Brinks, bên phải là CEE

Đường Hai Bà Trưng nhìn từ trên khách sạn Brinks về phía công trường Mê Linh. Bìa phải là khách sạn Ambassador ở sau lưng Opera House. Góc trái là CEE

Góc trên bên trái là khách sạn Brinks, bên phải là sở điện lực. Bên trái có thể thấy bảng hiệu của cafe J Martin

Cùng một góc với ảnh bên trên, nhưng cận cảnh hơn. Đường Hai Bà Trưng nhìn về hướng đi Tân Định

Từ CEE đi tới một chút sẽ gặp 1 căn nhà cổ có từ thế kỷ 19, thời Pháp là xưởng chế biến nhɑ ρhiến, sau đó là một cơ sở thuộc Hải Quan. Từ sau 1955 trở thành là phòng thí nghiệm của Tổng Nha Quan thuế:

Phòng thí nghiệm của Tổng Nha Quan thuế trên đường Hai Bà Trưng nhìn từ Brinks Hotel. Khu nhà này đến nay vẫn còn, là cổng vào một khu dân cư

Nơi này thời Pháp là xưởng chế biến

Sau đó trở thành Douanes & Regies (Hải Quan)

Hình ảnh cuối thập niên 1960

Ngay đối diện khu nhà đó là một tòa nhà nổi tiếng đã nhắc đến nhiều lần bên trên, là nơi mà các quân nhân Mỹ thực hiện nhiều bức hình chụp xuống đường Hai Bà Trưng, đó chính là khách sạn Brinks, được chính phủ Mỹ thuê lại nguyên tòa nhà để làm nơi ở cho sĩ quan Mỹ, nên thường được gọi là cư xá sĩ quan Mỹ. Vị trí này ngày nay là khách sạn 5 sao nổi tiếng Park Hyatt, là nơi cặp đôi Brad Pitt và Angelina Jolie chọn ở trong lần đầu tiên ghé Việt Nam năm 2006. Sau đây là một số hình ảnh của Brinks:

Khách sạn Brinks. Ảnh chụp từ vị trí CEE

Đường Hai Bà Trưng nhìn từ Saigon Hotel sang Brinks Hotel

Lề đường Hai Bà Trưng, ngay đằng trước Brinks

Lề đường Hai Bà Trưng đoạn Brinks Hotel

Từ khách sạn Brinks đi một đoạn ngắn là đến ngã tư Hai Bà Trưng – Lê Thánh Tôn:

Đường Hai Bà Trưng hướng nhìn từ đường Lê Thánh Tôn về phía sở điện lực. Bên phải là khách sạn Brinks

Đi tiếp một đoạn nữa sẽ đến ngã tư Hai Bà Trưng – Gia Long (nay là Lý Tự Trọng):

Ngã tư Hai Bà Trưng – Gia Long

Ngay ngã tư này có 1 tòa nhà màu trắng ở địa chỉ số 37 – Gia Long. Từ năm 1956, nơi này là trụ sở của Thư Viện Abraham Lincoln

Năm 1962, Thư Viện Abraham Lincoln dời về khách sạn REX, tòa nhà này trở thành cơ quan phụ. Năm 1965, tòa nhà này sáp nhập với US Public Affairs Office (JUSPAO) và thường được gọi là JUSPAO 2. Ngày nay tòa nhà này vẫn còn

Từ Hai Bà Trưng – Gia Long đi một đoạn nữa là sẽ tới ngã tư Hai Bà Trưng – Nguyễn Du. Đoạn này có 2 địa điểm quen thuộc, một bên là bệnh viện Grall (thường được gọi là nhà thương Đồn Đất, nay là bệnh viện Nhi Đồng 2), một bên là trường Lasan Taberd (nay là trường chuyên Trần Đại Nghĩa).

Bên phải hình là bệnh viện Đồn Đất (Grall)

Hình ngược chiều với hình trên. Bên trái hình này là nhà thương Grall, còn bên phải là trường Lasan Taberd

Từ ngã tư Hai Bà Trưng – Nguyễn Du nhìn ngược lại ngã tư Hai Bà Trưng – Gia Long. Bên trái là bệnh viện Đồn Đất, bên phải là trường Taberd

Từ ngã tư Hai Bà Trưng – Nguyễn Du đi một đoạn ngắn nữa sẽ đến ngã 3 Hai Bà Trưng – Nguyễn Hậu (nay là đường Nguyễn Văn Bình), nay là đầu đường sách Sài Gòn, nơi quen thuộc của những người yêu sách. Nguyễn Hậu là một con đường rất ngắn đâm từ bên hông Nhà Thờ sang đường Hai Bà Trưng.

Từ thế kỷ 19, từ khi chưa có Nhà Thờ thì đường Nguyễn Hậu và đường Hàn Thuyên vốn cùng là một con đường mang tên là rue de Hongkong. Sau khi Nhà Thờ Đức Bà được xây dựng năm 1880 thì đường Hongkong bị chia đôi thành 2, một đoạn mang tên Amiral Page, một đoạn mang tên Cardi, Nhà Thờ ở giữa 2 đường này. Sau năm 1955, đường Amiral Page đổi tên thành Hàn Thuyên, đường Cardi mang tên Nguyễn Hậu. Năm 2000, đường Nguyễn Hậu mang tên vị linh mục Nguyễn Văn Bình, là Tổng giám mục Tiên khởi của Tổng giáo phận Sài Gòn từ năm 1960 đến năm 1995.

Rất tiếc là không tìm thấy hình ảnh xưa nào liên quan đến con đường Nguyễn Hậu.

Từ ngã 3 Hai Bà Trưng – Nguyễn Hậu đi một đoạn ngắn nữa là đến ngã 4 Hai Bà Trưng – Thống Nhứt (nay là Lê Duẩn). Lúc sắp gần tới ngã tư này, có một địa điểm nhận diện quen thuộc là cây xăng SHELL bên cạnh một căn biệt thự xinh xắn, có biển quảng cáo “Yêu XE là yêu SHELL”:

Căn biệt thự này nằm ngay ngã tư Hai Bà Trưng – Thống Nhứt
Đường Hai Bà Trưng đoạn gần với ngã tư với Thống Nhứt, với căn biệt thự ngay ngã tư. Trong hình này, chiếc xe bus đang đi qua chính giữa ngã tư. Đằng sau đó là trụ sở công ty ESSO

Trụ sở công ty xăng ESSO nằm ngay góc ngã tư Hai Bà Trưng – Thống Nhứt. Trong hình bên trên, chiếc xích lô máy đang lưu thông trên đường Hai Bà Trưng hướng về phía Tân Định

Vào năm 2011, tòa nhà này cùng với khu nhà liền kề bên kia đường bị đập bỏ, dự định sẽ xây khách sạn 5 sao. Tuy nhiên khu đất này vẫn để trống suốt 10 năm qua và vào diện bị thu hồi

Góc Hai Bà Trưng – Thống Nhứt. Người đi velosolex bên trái hình đang lưu thông trên đường Hai Bà Trưng tới giữa ngã tư. Tòa nhà ngay góc ngã tư là trụ sở của Khối Thanh Tra của Bộ Nội Vụ (đã bị đập bỏ năm 2011)

Từ ngã tư này, đi một đoạn nữa, qua ngã 3 Hai Bà Trưng – Nguyễn Văn Chiêm sẽ tới ngã tư Hai Bà Trưng – Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai). Nơi này có đại sứ quán Pháp suốt từ thời Pháp thuộc đến nay.

Tòa đại sứ Pháp, số 27 Hồng Thập Tự, ngay góc ngã 4 Hồng Thập Tự – Hai Bà Trưng, ngày nay vẫn là tòa đại sứ Pháp, ở số 27 Nguyễn Thị Minh Khai

Đi về phía trước là ngã tư Hai Bà Trưng – Hồng Thập Tự. Bên phải là khu vực Toà Đại sứ Pháp ở ngay góc ngã 4. Trên mặt đường là dấu tích còn lại của đường rày tuyến xe điện Saigon – Gò Vấp thời Pháp

Đường Hai Bà Trưng, lề đường bên hông Tòa đại sứ Pháp. Phía xa là ngã tư Hai Bà Trưng – Hồng Thập Tự

Saigon năm 1951 trên đường Paul Blanchy. Bên trái là chỗ khu vực ngày này là NVH Thanh Niên, bên phải là khu vực Tòa sứ quán Pháp

Ngã tư Hai Bà Trưng –  Hồng Thập Tự. Tòa nhà chỗ này một thời gian là Café TRUNG NGUYÊN ở số 104 Hai Bà Trưng. Ngày nay (2021) là nhà hàng Sushi Saiko

Một góc ảnh tương tự hình bên trên

Đi một đoạn nữa sẽ đến ngã tư Hai Bà Trưng – Trần Cao Vân.

Đường Hai Bà Trưng đoạn giữa Hồng Thập Tự và Trần Cao Vân

Đường Hai Bà Trưng, phía xa xa là cây xăng ở góc Hai Bà Trưng – Trần Cao Vân

Cây xăng ở góc ngã tư Hai Bà Trưng – Trần Cao Vân vào thập niên 1950. Ngày nay vị trí này vẫn là cây xăng

Tiệm thuốc tây ngay ngã tư Hai Bà Trưng – Trần Cao Vân. Cậu bé đang chơi trò đẩy vỏ xe máy, trò chơi quen thuộc với tuổi thơ xưa

Từ góc Hai Bà Trưng – Trần Cao Vân, hướng về phía Tân Định sẽ đi qua ngã tư Hai Bà Trưng – Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu), đến ngã 3 Hai Bà Trưng – Tự Đức (nay là đường Nguyễn Văn Thủ).

Đường Hai Bà Trưng ngay đoạn ngã 3 với đường Tự Đức (nay là Nguyễn Văn Thủ). Bên trái hình là hướng đi về phía đường Phan Thanh Giản, nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi (nay là đường Điện Biên Phủ, công viên Lê Văn Tám). Chiếc xe taxi bên phải hình đang ở ngay ngã 3 đường Hai Bà Trưng – Tự Đức

Một góc ảnh khác của ngã 3 Hai Bà Trưng – Tự Đức. Tòa nhà bên phải hình nằm ở ngay ngã 3, ngày nay vẫn còn, ở số 176 Hai Bà Trưng

Xe xích lô đang đi qua chính giữa ngã 3 Hai Bà Trưng – Tự Đức

Đi một đoạn ngắn nữa sẽ tới ngã tư Hai Bà Trưng – Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ)

Ngã 4 Hai Bà Trưng – Phan Thanh Giản, đoạn hướng ngược về phía ngã 3 Hai Bà Trưng – Tự Đức

Hình này cùng góc ảnh với hình bên trên. Đây là đường Hai Bà Trưng đoạn ngã tư với Phan Thanh Giản, hướng về phía trung tâm Q1. Có thể thấy biển báo ngay đèn giao thông cấm quẹo phải, vì đường Phan Thanh Giản lúc này đã là đường 1 chiều

Ngã tư Phan Thanh Giản – Hai Bà Trưng. Bên trái hình là tường rào Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (nay là công viên Lê Văn Tám). Hình chụp xe cộ trên đường Phan Thanh Giản (vẫn còn chạy hai chiều) nhìn về hướng cầu Phan Thanh Giản. Chiếc xe con bên trái đang rẽ qua đường Hai Bà Trưng đi về phía nhà thờ Tân Định. Bên phải hình là tòa nhà ngay góc đường Hai Bà Trưng

Vừa qua ngã tư này sẽ đến nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi:

Đường Hai Bà Trưng đoạn giữa Hiền Vương – Phan Thanh Giản. Tường rào của Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi

Bên phải là Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (nay là công viên Lê Văn Tám). Đây là đường Hai Bà Trưng đoạn giữa Phan Thanh Giản và Hiền Vương (nay là Điện Biên Phủ và Võ Thị Sáu), hướng về phía Tân Định. Đi một đoạn ngắn sẽ đến ngã tư Hai Bà Trưng – Hiền Vương

Ngã tư Hai Bà Trưng – Hiền Vương (nay là đường Võ Thị Sáu), phía trước là chóp nhà thờ Tân Định
Ngã tư Hiền Vương – Hai Bà Trưng

Đường Hiền Vương đoạn cắt đường Hai Bà Trưng. Quẹo phải là đi Hai Bà Trưng hướng về Tân Định

Phía trước là ngã tư Hai Bà Trưng – Hiền Vương, hướng từ Tân Định ngược về trung tâm Q1. Biển cấm quẹo trái qua hướng ngược chiều của đường Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu)

Từ ngã 4 Hai Bà Trưng – Hiền Vương đến cầu Kiệu là khoảng 500m nữa là hết đường Hai Bà Trưng. Đoạn đường này là khu vực trung tâm Tân Định, có chợ Tân Định và nhà thờ Tân Định. Mời các bạn xem những hình ảnh ở đoạn đường này:

Dãy hàng quán gần trước chợ Tân Định

Góc đường Hai Bà Trưng – Nguyễn Đình Chiểu (nay là đường Trần Quốc Toản, gần chợ Tân Định)

Bên trái là chợ Tân Định, bên phải là nhà thờ Tân Định

Hình ảnh khác tại cùng một vị trí, nhưng đã được chụp trước đó rất lâu, có lẽ là từ cuối thế kỷ 19. Trong hình này nhà thờ Tân Định nằm bên phải, lúc này vẫn chưa xây tháp chuông

Chợ Tân Định, một trong những ngôi chợ lớn nhất Quận 1

Nhà thờ Tân Định là một trong những nhà thờ lâu đời nhất Sài Gòn

Nhà thờ Tân Định cùng với Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn là hai nhà thờ được xây dựng từ rất sớm và có quy mô lớn nhất Sài Gòn.

Đường Paul Blanchy năm 1947, hướng về Tân Định lúc nãy vẫn còn hoang vắng. Trong hình này có thể thấy tháp nhọn của nhà thờ Tân Định

Nhà thờ này được khởi công vào năm 1870 và khánh thành vào ngày 16 tháng 12 năm 1876. Tổng thể mang phong cách kiến trúc Gothic, nhưng các chi tiết trang trí lại mang chút Roman và Baroque. Nhà thờ được sơn màu hồng phấn cả bên ngoài và bên trong từ năm 1957, khiến nhà thờ có biệt danh là “nhà thờ màu hồng” (nhà thờ màu hồng).

Nhà thờ Tân Định đã trải qua nhiều lần tu sửa, mở rộng trong nhiều sự kiện khác nhau, nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc ban đầu.

Từ cầu Kiệu nhìn về phía nhà thờ Tân Định

Bài: Đông Kha, chuyenxua.vn biên soạn
Hình ảnh từ manhhai flickr

Lịch sử hình thành và hình ảnh ngày xưa của tỉnh Gia Định (1835-1975)

Ngày nay, khi nhắc đến Gia Định, những người từng sống ở Sài Gòn trước năm 1975 thường nghĩ về vùng đất tỉnh lỵ của tỉnh Gia Định xưa là khu vực trung tâm quận Bình Thạnh ngày nay. Tên gọi tỉnh gia Định đã được hình thành từ năm 1835 và tồn tại qua nhiều thời kỳ trước khi chính thức kết thúc từ sau năm 1975.

Nữ sinh trường Lê Văn Duyệt đang đi trên đường Lê Văn Duyệt ra phía đường Chi Lăng. Trên cổng xưa ghi chữ Gia Định

Địa bàn tỉnh Gia Định trước khi giải thể tương ứng với thành phố Thủ Đức và một số quận, huyện thuộc TPHCM ngày nay, bao gồm: Quận 7, Quận 12, Bình Tân, Bình Thạnh, Gò Vấp, Phú Nhuận, Tân Bình, Tân Phú, Bình Chánh, Cần Giờ, Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè (chỉ ngoại trừ vùng trung tâm Sài Gòn, xưa thuộc địa bàn của đô thành Sài Gòn).

Tên gọi Gia Định đã có từ lâu đời, ngay từ thời điểm Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh nhận lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược xứ Đồng Nai năm 1698 rồi sau đó lập dinh Phiên Trấn, gồm phủ Gia Định và huyện Tân Bình.

Theo chuyên khảo về tỉnh Gia Định do Hội nghiên cứu Đông Dương thực hiện năm 1902 thì chữ Gia Định theo tiếng Hán có nghĩa là Sự yên tĩnh hoàn toàn, trong đó Gia là rất đẹp, Định là nghỉ ngơi, cố định.

Một số nhà trí thức người Việt vào cuối thế kỷ 19 đã xem chữ Gia Định như là viết tắt của vua Gia Long, diễn giải rằng Gia Định là xứ được ổn định nhờ vua Gia Long. Tuy nhiên điều này chắc chắn là không đúng vì tên gọi Gia Định đã có trước khi niên hiệu Gia Long ra đời từ rất lâu.

Khi chúa Nguyễn Ánh thống nhất được đất nước và lên ngôi vua Gia Long năm 1802, lúc đó vua mới cho đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định, đồng thời các dinh cũng đổi thành các trấn, gồm: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên. Tất cả các trấn này nằm dưới sự cai quản của trấn Gia Định. Có thể coi đây là thời kỳ “Gia Định ngũ trấn”.

Đến năm 1808, trấn Gia Định được đổi thành Gia Định Thành, và cho cai quản 5 trấn, là: Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và An Giang. Đã có rất nhiều người từng giữ chức tổng trấn thành Gia Định, đều là những danh tướng lừng lẫy như Trương Tấn Bửu, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương, nhưng vị tổng trấn được người dân Gia Định kính trọng nhất là tả quân Lê Văn Duyệt.

Lăng tả quân Lê Văn Duyệt (Lăng Ông)

Sau khi Lê Văn Duyệt qua đời năm 1832, vua Minh Mạng bãi bỏ chức tổng trấn, chia xứ Nam ra làm 6 tỉnh là Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên (gọi chung là Nam Kỳ Lục tỉnh),

Thủ Đức ở tỉnh Gia Định hồi 100 năm trước

Năm 1835, tỉnh Phiên An đổi tên lại thành tỉnh Gia Định, bao gồm vùng đất rộng lớn kéo dài từ Tây Ninh xuống tới tận tỉnh Tiền Giang (bao gồm cả Gò Công) của ngày nay. Tỉnh Gia Định này tồn tại cho đến khi người Pháp xâm chiếm vùng đất này từ năm 1859.

Sau khi Pháp chính thức nắm quyền điều hành 3 tỉnh Nam kỳ là Gia Định, Biên Hòa, Định Tường từ năm 1862, đô đốc Bonard ban hành quyết định tổ chức tạm thời nền hành chánh của tỉnh Gia Định, vẫn theo các đơn vị hành chánh cũ của triều Nguyễn, gồm có 3 phủ, mỗi phủ 3 huyện (cách phân chia này tồn tại đến năm 1867). Các phủ thuộc tỉnh Gia Định lúc đó là:

1. Phủ Tân Bình lỵ sở ở Sài Gòn, trước khi giải thể thì địa bàn của phủ Tân Bình gần tương ứng với địa bàn Sài Gòn hiện nay.

2. Phủ Tây Ninh có lỵ sở ở thôn Khang Ninh thuộc huyện Tân Ninh (nay thuộc thành phố Tây Ninh). Địa bàn phủ Tây Ninh trước khi giải thể tương ứng với tỉnh Tây Ninh và 1 phần của tỉnh Long An hiện nay.

3. Phủ Tân An, địa bàn tương ứng với phần lớn tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang ngày nay (chỉ trừ Mỹ Tho lúc đó thuộc tỉnh Định Tường).

Màu vàng là tỉnh Gia Định, màu xanh lá là tỉnh Định Tường. Góc trên bên phải là tỉnh Biên Hòa

Tên tỉnh Gia Định được giữ nguyên trong thời kỳ đầu của thời Pháp thuộc, cho đến năm 1867, khi Pháp chiếm được trọn 6 tỉnh Nam kỳ thì chính quyền thuộc địa bãi bỏ các đơn vị hành chính: phủ, huyện, rồi phân chia lại toàn bộ cõi Nam Kỳ.

Bệnh viện Gia Định, sau 1955 là bệnh viện Nguyễn Văn Học, nay là bệnh viện nhân dân Gia Định

Lúc này tỉnh Gia Định cùng 5 tỉnh khác của xứ Nam kỳ bị chia nhỏ ra thành 25 hạt thanh tra. Địa bàn TPHCM của thời điểm hiện tại tương ứng các đơn vị hành chánh thời điểm đó là thành phố Sài Gòn, hạt thanh tra Sài Gòn, thành phố Chợ Lớn và hạt thanh tra Chợ Lớn.

Lúc này tên gọi Gia Định đã biến mất, thay vào đó là tên gọi hạt thanh tra Sài Gòn. Năm 1874, thành phố Sài Gòn dự định thành lập (chính thức là từ năm 1877), nên tòa tham biện của hạt Sài Gòn chuyển từ trung tâm thành phố Sài Gòn ra vùng ngoại ô là làng Bình Hòa, tại vị trí ngày nay là trụ sở UBND quận Bình Thạnh. Đây cũng chính là tỉnh lỵ, trung tâm của tỉnh Gia Định sau này.

Khu vực Tòa Hành chánh tỉnh Gia Định, nay là UBND Quận Bình Thạnh

Ngã 3 Chi Lăng trước năm 1975. Nhà bên phải là Tòa Hành Chánh tỉnh Gia Định, nay là UBND quận Bình Thạnh. Phía bên kia đường là đường Nguyễn Văn Học (nay là đường Nơ Trang Long), bên cạnh đó là bệnh viện Nguyễn Văn Học (nay là bệnh viện nhân dân Gia Định)

Từ đầu năm 1876, Thống đốc Nam kỳ ký nghị định đổi hạt thanh tra thành hạt tham biện, từ đó hạt thanh tra Sài Gòn đổi thành hạt tham biện Sài Gòn.

Lúc này vì lỵ sở của hạt Sài Gòn đã chuyển về làng Bình Hòa, để tránh trùng tên với thành phố Sài Gòn, vào ngày 24/8/1876, hạt tham biện Sài Gòn đổi tên thành hạt tham biện Bình Hòa.

Làng Bình Hòa, trung tâm của tỉnh Gia Định xưa. Trong hình là vị trí trước chợ Bà Chiểu

Tuy nhiên, từ lúc này xảy ra những nhầm lẫn, thư từ gửi về hạt Bình Hòa bị nhầm lẫn qua hạt Biên Hòa, và ngược lại, dẫn đến những chậm trễ nghiêm trọng cho việc giải quyết hồ sơ. Vì vậy ngày 16 tháng 12 năm 1885, Thống đốc Nam kỳ lại ban hành nghị định đổi tên hạt Bình Hòa đổi tên thành hạt Gia Định. Từ đó, tên gọi Gia Định trở lại là tên gọi hành chánh chính thức.

Nhà hội đồng xã Tân Thới Nhì thuộc quận Hóc Môn – tỉnh Gia Định

Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, từ đó hạt tham biện Gia Định trở thành tỉnh Gia Định. Tỉnh lỵ của tỉnh Gia Định vẫn đặt tại làng Bình Hòa.

Chợ Gò Vấp (thuộc tỉnh Gia Định) 100 năm trước

Ngày 1 tháng 1 năm 1911, tỉnh Gia Định chia thành bốn quận: Thủ Đức, Nhà Bè, Gò Vấp và Hóc Môn. Vùng đất Bình Thạnh ngày nay thuộc về tổng Bình Trị Thượng, quận Gò Vấp, tương ứng với 2 làng Bình Hòa Xã và Thạnh Mỹ Tây, là trung tâm của Gia Định. Lúc này có một tuyến xe lửa (sau này là xe điện) đi từ trung tâm Sài Gòn về hướng Gò Vấp – Hóc Môn của tỉnh Gia Định.

Lúc này tỉnh Gia Định đã thu hẹp rất nhiều so với thời nhà Nguyễn và thời Pháp mới chiếm Nam kỳ, nhưng so với thành phố Sài Gòn và thành phố Chợ Lớn hay tỉnh Chợ Lớn thì địa bàn tỉnh Gia Định vẫn rất rộng, có thể thấy ở tấm bản đồ tỉnh Gia Định năm 1930 sau đây:

Tỉnh Gia Định rộng lớn. Vùng màu cam là tỉnh Chợ Lớn, bên trong vùng màu cam có thành phố Chợ Lớn, phía Đông Bắc Chợ Lớn là thành phố Sài Gòn.

Trong tập du ký Một Tháng Ở Nam Kỳ được Phạm Quỳnh viết năm 1918, ông đã nói về tỉnh Gia Định như sau:

Gần Sài Gòn có tỉnh lỵ Gia Định, cách đô thành một cây lô mét. Có con đường lớn đi vòng quanh, hồi xưa những người Tây ở Sài Gòn lấy làm chỗ đi chơi mát buổi chiều vui lắm, tức như con đường đê Parraud ở Hà Nội vậy. Nay có con đường xe lửa nhỏ, qua Gia Định, Gò Vấp, tới Hóc Môn. Đất Gia Định là đất cổ nhất ở Nam bộ, có quan hệ lịch sử bản triều nhiều lắm. Khi bản triều mới khai thác xứ Nam dựng cơ sở ở đấy. Rồi sau Đức Cao Hoàng ta hưng đế nghiệp, đánh Tây Sơn, đặt Nam trấn cũng ở đó. Cho nên trước kia cái tên Gia Định thường dùng để chỉ chung cả đất Nam kỳ vậy.

Ngày 11 tháng 5 năm 1944, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định tách một số vùng (nằm kế cận Khu Sài Gòn – Chợ Lớn) của tỉnh Gia Định để lập tỉnh Tân Bình, tỉnh lỵ tỉnh Tân Bình đặt tại làng Phú Nhuận (nay là quận Phú Nhuận). Tỉnh Tân Bình khi đó có duy nhất một quận là quận Châu Thành (lập ngày 19 tháng 9 năm 1944). Làng Bình Hòa Xã và làng Thạnh Mỹ Tây (tức Bình Thạnh ngày nay) khi đó thuộc thuộc tổng Bình Trị Thượng, quận Châu Thành, tỉnh Tân Bình.

Tỉnh Tân Bình tồn tại đến tháng 8 năm 1945 thì giải thể (sau này trở thành một quận của tỉnh Gia Định). Làng Bình Hòa Xã và làng Thạnh Mỹ Tây trở lại thuộc tổng Bình Trị Thượng, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định cho đến năm 1956.

Gia Định năm 1952. Con đường này sau này mang tên Lê Văn Duyệt, nằm bên cạnh lăng tả quân Lê Văn Duyệt

Một số hình ảnh ở tỉnh Gia Định thời thuộc Pháp:

Quận Thủ Đức:

Nhà thờ Thủ Đức

Quận Gò Vấp:

Nhà thờ Gia Định, nay ở đường Bùi Hữu Nghĩa, sau lưng chợ Bà Chiểu

Tượng Thiên sứ Micae ở nhà thờ Gia Định

Ga Gò Vấp

Gò Vấp xưa, những cột đèn hai bên đường là đèn dầu hỏa, mỗi chiều tối có nhân viên đi thắp từng ngọn đèn dầu này

Chợ Gò Vấp

Chợ Gò Vấp năm 1902

Trường nam sinh Gia Định – Ecole Marc Ferrando, à Gia Dinh, nay là THCS Lê Văn Tám đối diện chợ Bà Chiểu trên đường Phan Đăng Lưu

Ảnh khác của Trường nam sinh Gia Định, trước năm 1975 là trường Hồ Ngọc Cẩn

Trường vẽ Gia Định nổi tiếng, ở gần chợ Bà Chiểu, ngày nay là trường ĐH Mỹ Thuật

Trường vẽ Gia Định

Bệnh viện Gia Định, sau 1955 là bệnh viện Nguyễn Văn Học, nay là bệnh viện nhân dân Gia Định

Hình ảnh ở Tân Bình xưa:

Nhà thờ Chí Hòa gần ngã tư Bảy Hiền

Sau năm 1956, các làng gọi là xã, trong đó có xã Bình Hòa Xã và xã Thạnh Mỹ Tây. Xã Bình Hòa Xã (thuộc quận Gò Vấp) tiếp tục giữ vai trò là tỉnh lỵ tỉnh Gia Định cho đến năm 1975. Tuy nhiên, quận lỵ Gò Vấp lại đặt tại xã Hanh Thông Xã.

Nhà hội đồng Hanh Thông Xã, nơi đặt quận lỵ quận Gò Vấp

Hanh Thông Xã thuộc Gò Vấp xưa

Thời điểm này, tỉnh Gia Định ngăn cách với đô thành Sài Gòn qua ranh giới tự nhiên là rạch Nhiêu Lộc – Thị Nghè, liên kết bằng những cây cầu bắc qua con rạch này, đó là cầu Thị Nghè, cầu Phan Thanh Giản, cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Trương Minh Giảng…

Bên phải là đô thành Sài Gòn, bên trái là tỉnh Gia Định, ngăn cách bởi Rạch Thị Nghè với các cây cầu, từ trên xuống: cầu Thị Nghè, cầu Phan Thanh Giản, cầu Sắt đường Bùi Hữu Nghĩa, cầu Bông. Tòa nhà cao nhất gần giữa ảnh là chung cư Bưu Điện, góc Phan Thanh Giản – Phạm Đăng Hưng. (Nay là Điện Biên Phủ – Mai Thị Lựu. Con đường nghiêng xuống góc dưới bên phải là Trần Quang Khải. Đám cây xanh bìa phải ảnh là Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (nay là công viên Lê Văn Tám)

Một số hình ảnh của tỉnh Gia Định thời kỳ 1955-1975:

Cầu Bạch Đằng trên đường Bạch Đằng ở Gia Định. Phía dưới là Rạch Cầu Bông, phía trên là Rạch Long Vân Tự

Gò Vấp năm 1965

Xã Hạnh Thông Tây

Nhà thờ Hạnh Thông Tây

Một số hình ảnh vùng tỉnh lỵ của tỉnh Gia Định, xung quanh khu vực chợ Bà Chiểu ở Bình Hòa:

Đường Chi Lăng – Trường Trung Học Trang Trí Mỹ Thuật Gia Định (ngay ngã ba Chi Lăng – Nguyễn văn Học, nay là Phan Đăng Lưu – Nơ Trang Long)

Trường Trung Học Trang Trí Mỹ Thuật Gia Định, ngã 3 Trường Vẽ

Ty bưu điện tỉnh Gia Định nằm trên đường Chi Lăng, kế bên chợ Bà Chiểu

Ty bưu điện nằm ở phía bên phải hình

Ngã 3 Chi Lăng – Lê Văn Duyệt, nhìn hướng về phía chợ Bà Chiểu, bên phải hình là lăng của đức tả quân Lê Văn Duyệt. Sau năm 1975, 2 tên đường này được đổi thành Phan Đăng Lưu và Đinh Tiên Hoàng (kéo dài từ đường Đinh Tiên Hoàng từ cầu Bông). Tuy nhiên năm 2020, đoạn này đổi lại thành tên đường Lê Văn Duyệt như cũ.

Một góc nhìn khác của ngã 3 Chi Lăng – Lê Văn Duyệt. Về phía bên phải là đi về hướng Cầu Bông

Cô nhi viện Sancta Maria ở số nhà 279/5 đường Lê Quang Định, Gia Định

Tấm biển bên trái hình ghi rõ địa điểm là Công Trường Hồng Bàng. Đường phía trước là Chi Lăng (nay là Phan Đăng Lưu)

Chợ Bà Chiểu xưa

Chợ Bà Chiểu năm 1965

Chợ Bà Chiểu năm 1967

Đường Bạch Đằng, trước chợ Bà Chiểu

Công trường Hồng Bàng (tỉnh Gia Định) phía trước chợ Bà Chiểu. Đây là giao lộ của 4 con đường: Bạch Đằng, Chi Lăng, Bùi Hữu Nghĩa, Lê Quang Định. Ngày nay 3/4 tên đường này vẫn được giữ nguyên, chỉ có tên đường Chi Lăng được đổi tên thành Phan Đăng Lưu

Công trường Hồng Bàng. 2 nhà màu vàng là trường tiểu học nam sinh Gia Định, nay là trường Nguyễn Đình Chiểu

Tiệm điện máy Nam Vân nằm ở góc Lê Quang Định – Bạch Đằng. Phía bên trái là 1 góc của trường tiểu học nam sinh Gia Định

Tiệm radio Nam Vân rất nổi tiếng ở chợ Bà Chiểu. Trong hình này 2 chiếc xe Lam đang đậu trên đường Bạch Đằng, nếu đi về phía bên phải hình là ra tới ngã tư Hàng Xanh (Hàng Sanh)

Đường trong hình là Lê Quang Định, nếu đi về phía bên phải là về hướng Gò Vấp. Chiếc xe Lam đang trên đường Lê Quang Định nếu đi thẳng thì băng qua đường Bùi Hữu Nghĩa (bên hông Chợ Bà Chiểu). Dãy nhà ngói là trường tiểu học nam sinh Gia Định. Tấm rèm màu xanh lá cây ở góc trên bên phải là của tiệm radio Nam Vân

 

Chợ Bà Chiểu ở bên phài hình. Xe taxi đang trên đường Chi Lăng, qua phía bên kia là đường Bạch Đằng

Chợ Bà Chiểu

Dãy phố buôn bán trên đường Bùi Hữu Nghĩa, bên hông chợ Bà Chiểu. Căn nhà Hứa Phước Mỹ (màu trắng) ngày nay vẫn còn

Dãy nhà ngói từ thời Pháp nay đã không còn, được xây lại vào đầu thập niên 1987

1965

1967

Đường bên hông chợ Bà Chiểu. Trên biển hiệu có ghi chữ Hồng Bàng – Gia Định, nghĩa là Công trường Hồng Bàng – tỉnh Gia Định

Rạp Cao Đồng Hưng đường Bạch Đằng, gần chợ Bà Chiểu. Một thời gian dài nơi đây là nhà sách FAHASA (nay đã đóng cửa)

Công trường Hồng Bàng phía trước chợ Bà Chiểu – Bên phải là ngã ba Bạch Đằng – Lê Quang Định

Dãy phố cạnh bên Chợ Bà Chiểu

Chợ Bà Chiểu và đường Bùi Hữu Nghĩa

Nhà thờ Thánh Mẫu trên đường Bùi Hữu Nghĩa, đi tới thêm vài trăm mét là tới phía sau chợ Bà Chiểu.

Một vụ cháy ở gần chợ Bà Chiểu tháng 4 năm 1975

Một số hình ảnh đẹp ᴄủa Lănɡ Ônɡ, ở bên cạnh Bà Chiểu:

Một số hình ảnh ở quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định:

Hình ảnh chợ Thủ Đức xưa:

Đường Nguyễn Tri Phương, nay là Kha Vạng Cân

Hình ảnh Phú Nhuận, quận lỵ của quận Tân Bình thuộc tỉnh Gia Định:

một số hình ảnh ᴄủa ngã tư Phú Nhuận:

Hình bên trên là tᴏàn ᴄảnh Ngã Tư Phú Nhuận nhìn từ trên ᴄaᴏ. Bên trái là đường Chi Lăng hướng đi Bà Chiểu, bên phải là đường Võ Tánh đi Lăng Cha Cả. Đường xéᴏ góᴄ là Võ Di Nguy, hướng bên trên νề Sài Gòn, hướng xuống dưới đi Gò Vấp. Tòa nhà màu trắng là trụ sở ᴄủa ngân hàng Việt Nam Thương Tín, ᴄòn tòa nhà ᴄó dấu ᴄhữ thập đỏ là Bệnh Viện Cơ Đốᴄ (nay là hội Chữ Thập Đỏ Phú Nhuận).

Một tấm không ảnh khác chụp ngã tư Phú Nhuận. Bên trái là đường Chi Lăng, bên phải là đường Võ Tánh

Ngã tư Phú Nhuận nhìn từ trên cao. Đường bên dưới xéo qua trái là Võ Tánh. Đường bên trên là Chi Lăng. Đường bên phải là Võ Di Nguy về Sài Gòn. Đường bên trái là Võ Di Nguy về Gò Vấp

Ngã tư Phú Nhuận năm 1966. Chính diện hình là tòa nhà ngân hàng Việt Nam Thương Tín lúc đang xây dựng nâng thêm lầu. Hiện nay tòa nhà này vẫn còn, là trụ sở của ngân hàng Vietinbank trong suốt nhiều năm

Tòa nhà ngay góc ngã tư Phú Nhuận trước khi được cải tạo, xây thêm lầu

Một số hình ảnh ᴄủa ngã tư Phú Nhuận lúᴄ tòa nhà Việt Nam Thương Tín đang đượᴄ xây thêm lầu:

Xе đang đi trên đường Võ Tánh đến gần ngã tư Phú Nhuận, đi thẳng qua bên kia sẽ là đường Chi Lăng νề phía Bà Chiểu.

Hình bên dưới là lúᴄ tòa nhà màu trắng đã đượᴄ hᴏàn thành, xây thêm lầu ᴄhеn νàᴏ ᴄhính giữa tòa nhà ᴄũ đã ᴄó từ trướᴄ đó νài mươi năm.

Tòa nhà màu trắng bên trái hình là Bệnh Viện Cơ Đốc, ngày này vẫn còn, là trụ sở của hội Chữ Thập Đỏ

Một số hình ảnh kháᴄ ᴄủa Bệnh Viện Cơ Đốᴄ ở góᴄ ngã tư Phú Nhuận:

Chiếc xe van màu trắng bên trái đang đậu ở khu nhà nguyện của Hội Thánh Cơ Đốc

Bên phải hình là đường Võ Di Nguy hướng về Gò Vấp, ngày nay đường này mang tên Nguyễn Kiệm

Ngã tư Phú Nhuận hướng từ đường Chi Lăng qua đường Võ Tánh, bìa phải là bệnh viện Cơ Đốc. Cây xăng SHELL nay là vị trí cây xăng Petrolimex

Một góc ảnh khác giống hình bên trên. Người chụp hình đứng ở đường Chi Lăng (nay là Phan Đăng Lưu) chụp qua bên đường Võ Tánh (nay là Hoàng Văn Thụ)

Hình ảnh kháᴄ ᴄủa ᴄây xăng SHELL trên đường Võ Tánh:

Nhà thuốc Á Đông ở góc ngã tư Phú Nhuận, đối diện bên kia đường của bệnh viện Cơ Đốc. Bên phải của hình là đường Võ Tánh ra hướng Lăng Cha Cả

Một hình ảnh khác của nhà thuốc Á Đông ở góc ngã tư Phú Nhuận

Nhà thuốc Á Đông ở góc ngã tư Phú Nhuận. Bên trái là đường Võ Di Nguy về phía Sài Gòn

Ở chính giữa ngã tư Phú Nhuận nhìn về phía nhà thuốc Á Đông

Căn nhà sát bên nhà thuốc Á Đông

Ngã tư Phú Nhuận nhìn về phía đường Võ Di Nguy hướng về phía trung tâm Sài Gòn. Bên phải là nhà thuốc Á Đông

Ngã tư Phú Nhuận ngày nay là giaᴏ điểm ᴄủa 4 ᴄᴏn đường kháᴄ nhau: Hᴏàng Văn Thụ, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Kiệm νà Phan Đình Phùng. Trướᴄ 1975, đường Phan Đình Phùng νà đường Nguyễn Kiệm là 1, gọi là đại lộ Võ Di Nguy (kháᴄ νới đường Võ Di Nguy ở trung tâm đô thành Sài Gòn, nay là đường Hồ Tùng Mậu – Q1). Đường Hᴏàng Văn Thụ ngày xưa mang tên Võ Tánh (kháᴄ νới đường Võ Tánh ở Sài Gòn, nay là đường Nguyễn Trãi – Q1). Đường Phan Đăng Lưu ngày xưa mang tên Chi Lăng, nối ngã 4 Phú Nhuận νới Bà Chiểu ở xã Bình Hòa (trung tâm ᴄủa tỉnh Gia Định).

Sau đây là hình ảnh ᴄáᴄ ᴄᴏn đường xung quanh ngã tư Phú Nhuận:

Đường Võ Tánh (nay là Hᴏàng Văn Thụ):

Đường Võ Tánh đoạn gần ngã 3 với đường Trương Minh Ký, gần Lăng Cha Cả (nay là ngã 3 Hoàng Văn Thụ – Lê Văn Sĩ)

Đường Võ Tánh ở đoạn gần Bộ Tổng Tham Mưu. Đằng trước hình ngày nay là công viên Hoàng Văn Thụ, phía bên phải là đường Võ Tánh dẫn về ngã tư Phú Nhuận. Xe máy đang đi trên đường Cách Mạng 1/11, là con đường từ cầu Công Lý dẫn ra phía sân bay Tân Sơn Nhứt. Trước năm 1963, đường này tên là Ngô Đình Khôi. Sau 1975, đường này đổi tên thành Nguyễn Văn Trỗi

Dãy nhà có hình chữ thập trên mái là bệnh viện quân đội Mỹ nằm trên đường Võ Tánh. Bên trái hình là khu vực Bộ Tổng Tham Mưu (nay là bộ tư lệnh QK7)
Đường Võ Tánh, đoạn từ Lăng Cha Cả hướng về ngã tư Phú Nhuận. Bên trái hình là trụ sở bộ Tổng Tham Mưu

Đường xéo ngang là Võ Tánh (nay là Hoàng Văn Thụ). Đường thẳng là Đại lộ Cách Mạng 1/11 (nay là Nguyễn Văn Trỗi) đi về phía Sài Gòn. Đường bên trái ở dưới hình, nay là đường Phan Đình Giót nối ra đường Trường Sơn ra sân bay

Đường Võ Tánh năm 1965 khi chưa được mở rộng, đoạn từ bộ tổng tham mưu đi về Ngã tư Phú Nhuận

Đường Võ Tánh

Đường Võ Tánh năm 1966, khi chưa được mở rộng

Đường Võ Tánh năm 1966 khi chưa mở rộng, đoạn về hướng Ngã Tư Phú Nhuận, bên trái hình là khu quân đội

Cổng xe lửa số 9 trên đường Võ Tánh

Đường Võ Tánh gần tới ngã tư Phú Nhuận

Đường Võ Tánh (nay là Hoàng Văn Thụ), phía xa xa là ngã tư Phú Nhuận

Hướng nhìn ngược lại, từ ngã tư nhìn về phía đường Võ Tánh

Đường Chi Lăng (nay là đường Phan Đăng Lưu):

Từ góc đường Võ Tánh nhìn qua cây xăng Esso bên đường Chi Lăng. Hàng rào bên trái là bệnh viện Cơ Đốc

Cây xăng Esso trên đường Chi Lăng, ở góc ngã tư Phú Nhuận. Ngày nay cây xăng này là của Petrolimex

Dãy nhà ở đầu đường Chi Lăng ở ngã tư Phú Nhuận. Bên trái là cây xăng Esso. Ngoài cùng bên phải hình là trụ sở ngân hàng Việt Nam Thương Tín (nay trở thành trụ sở của Vietinbank)

Một góc ảnh khác tương tự

Từ ngã tư Phú Nhuận nhìn về phía đầu đường Chi Lăng

Đường Chi Lăng nhìn về phía ngã tư Phú Nhuận

Đường Chi Lăng đoạn sát với ngã tư Phú Nhuận

Đường Chi Lăng đoạn gần tới đường Ngô Tùng Châu (nay là đường Nguyễn Văn Đậu) của xã Bình Hòa. Xe Vespa đang đi hưỡng ngược về ngã tư Phú Nhuận

Đường Chi Lăng đoạn gần tới đường Ngô Tùng Châu (nay là đường Nguyễn Văn Đậu) của xã Bình Hòa. Đặc trưng của đường Chi Lăng thời kỳ này là hàng cây sao, nay đã không còn

Đường Võ Di Nguy (nay là đường Phan Đình Phùng):

Đường Võ Di Nguy (nay là Phan Đình Phùng) đoạn hướng về phía cầu Kiệu. Xa xa là tháp nhà thờ Tân Định trên đường Hai Bà Trưng

Từ ngã 4 Phú Nhuận nhìn về đường Võ Di Nguy (nay là Phan Đình Phùng). Các học sinh trường Chu Mạnh Trinh đang băng qua đường

Một số hình ảnh ᴄhợ Phú Nhuận trên đường Võ Di Nguy (nay là Phan Đình Phùng):

Chợ Phú Nhuận năm 1962. Ngôi chợ này nằm cách cầu Kiệu không xa, khá gần với chợ Tân Định của Sài Gòn

Chợ Phú Nhuận năm 1970. Phía xa xa là tháp nhà thờ Tân Định trên đường Hai Bà Trưng

Chợ Phú Nhuận năm 1971

Rạp Văn Cầm trên đường Võ Di Nguy – Phú Nhuận (nay là đường Phan Đình Phùng.) Từ đường Hai Bà Trưng đi qua Cầu Kiệu, qua chợ Phú Nhuận 1 chút sẽ gặp ngay rạp Văn Cầm ở bên tay phải. Ngày nay vị trí này là ngân hàng Vietinbank, đối diện bên kia đường là nhà sách Phú Nhuận ở gần ngã 3 đường Huỳnh Văn Bánh – Phan Đình Phùng (trước 1975 là ngã 3 Nguyễn Huỳnh Đức – Võ Di Nguy)

Đường Võ Di Nguy (nay là đường Nguyễn Kiệm):

Bên phải là đầu đường Chi Lăng (nay là Phan Đăng Lưu), bên trái là đường Võ Di Nguy (nay là đường Nguyễn Kiệm đi về phía Gò Vấp)

Đường Võ Di Nguy (nay là đường Nguyễn Kiệm) nhìn về phía ngã tư Phú Nhuận

Một tiệm cắt tóc trên đường Võ Di Nguy

Sau năm 1975, tỉnh Gia Định chính thức giải thể, thay vào đó là thành phố Sài Gòn – Gia Định được thành lập ngày 3/5/1975. Đến tháng 9 trong cùng năm, xã Bình Hòa Xã và xã Thạnh Mỹ Tây cũ được tách ra khỏi quận Gò Vấp để thành lập quận Bình Hòa và quận Thạnh Mỹ Tây cùng trực thuộc thành phố Sài Gòn – Gia Định.

Đến ngày 20 tháng 5 năm 1976, quận Bình Hòa và quận Thạnh Mỹ Tây sáp nhập lại thành quận Bình Thạnh như ngày nay.

Ngày 2 tháng 7 năm 1976, thành phố Sài Gòn – Gia Định chính thức đổi tên thành TPHCM. Từ lúc này, tên gọi đơn vị hành chánh là Gia Định kết thúc. Hiện nay tên gọi này chỉ được sử dụng chính thức ở một số địa điểm, như Bệnh viện nhân dân Gia Định, công viên Gia Định, nhà thờ Giáo xứ Gia Định. Ngoài ra, khi đón xa bus từ trung tâm Sài Gòn đi về phía Phú Nhuận, Bình Thạnh, một số người Sài Gòn lớn tuổi vẫn giữ thói quen nói là đi về Gia Định.

Một số hình ảnh của sân Golf Gia Định trước 1975, nay là công viên Gia Định:

 

Bài: Đông Kha (chuyenxua.vn)
Ảnh: manhhai flickr

Nhớ về Chợ Cũ ở trung tâm Sài Gòn xưa (đại lộ Hàm Nghi, đường Võ Di Nguy)

Chợ Cũ là tên gọi của khu chợ nằm giữa tứ giác các đường ngày nay là Nguyễn Huệ, Ngô Đức Kế, Hải Triều và Hồ Tùng Mậu. Tuy nhiên thực tế thì có còn lan rộng hơn, ra phía các đường Hàm Nghi, Huỳnh Thúc Kháng và Tôn Thất Đạm, thậm chí là tới tận góc đường Pasteur – Hàm Nghi.

Đây là khu chợ nằm lọt thỏm giữa trung tâm Sài Gòn và đã chứng kiến bao nhiêu sự đổi thay từ cuối thế kỷ 19, tròn thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21.

Dù là khu chợ không chính thức, không có nhà lồng, nhưng nơi đây hàng hóa phong phú như là một khu chợ tạp hóa lớn có thể tìm mua bất kỳ thứ gì. Trước 1975, những mặt hàng nổi tiếng ở Chợ Cũ là bánh mì, chợ thú nuôi, vải vóc… và nhiều loại khác.

Ngoài ra, khu chợ trên đường Tôn Thất Đạm được xem là “chợ của nhà giàu” vì có những gian hàng bán thực phẩm cao cấp và đồ hộp Mỹ.

Nguồn gốc của Chợ Cũ xuất phát từ thế kỷ 17, khi người Việt đến lập nghiệp ở phương Nam, ghe thuyền buôn bán tấp nập ở ven sông Bến Nghé, ở vị trí ngày nay là bến Bạch Đằng. Khi chúa Nguyễn Ánh cho xây thành Phiên An (thành Quy) cuối thế kỷ 17, rồi sau đó là vua Minh Mạng xây thành Gia Định (thành Phụng) năm 1836, vì bến sông này nằm gần thành Gia Định, dùng cho khách vãng lai và lính vào thành, vì vậy mà được gọi là Bến Thành (tức bến trước khi vào thành), và khu chợ ở bến sông (vị trí gần cột cờ Thủ Ngữ) cũng được gọi là “chợ Bến Thành” (ngôi chợ thứ nhất).

Vì trong lịch sử, chợ Bến Thành được dùng cho tổng cộng 3 ngôi chợ ở vị trí khác nhau, nên để phân biệt, bài viết này gọi là chợ Bến Thành thứ nhất, thứ hai, và thứ ba.

Để thuyền bè vào tận thành Gia Định, ngay đầu chợ Bến Thành có một con kinh đào được hình thành mang tên Kinh Lớn, nằm ở vị trí tương ứng với toàn bộ đường Nguyễn Huệ hiện nay. Ngoài cái tên kinh Lớn do chính quyền đặt, người dân lúc bấy giờ còn gọi là kinh Chợ Vải, do dọc mé kênh có nhiều Hoa kiều tập trung bán vải vóc.

Chợ Bến Thành thứ nhất này được xây bằng gạch, sườn gỗ, lợp tranh. Nơi bến sông này thuận lợi cho ghe thuyền trong và ngoài nước lui tới, vì thế mà việc buôn bán trở nên sầm uất.

Từ khi xuất hiện cho đến khi quân Pháp tiến đánh Gia Định, chợ Bến Thành thuở ban đầu này đã có 2 lần bị san bằng, rồi lại được hồi sinh mạnh mẽ. Lần đầu là sau loạn Lê Văn Khôi năm 1835, lần thứ 2 là Pháp chiếm thành Gia Định năm 1859.

Ngay sau khi Pháp hạ thành Gia Định năm 1859, ngay lập tức họ đã cho khôi phục lại chợ Bến Thành, nhưng nó không nằm ở vị trí cũ nữa, mà lùi vào bên trong, ở khu vực giữa 4 đường hiện nay là Ngô Đức Kế, Nguyễn Huệ, Hồ Tùng Mậu và Hải Triều (như đã nhắc đến ở trên), tức là vị trí của cao ốc 68 tầng Bitexco và Kho bạc thành phố ngày nay.

Chợ Bến Thành (thứ hai) vào thế kỷ 19, ở vị trí đường Nguyễn Huệ hiện nay

Từ sông Sài Gòn nhìn vô, chợ Bến Thành (chợ thứ hai) nằm bên tay trái nhìn ra kinh Chợ Vải.

Chợ cũ bên bờ kênh, bên phải là đường Vannier (nay là Ngô Đức Kế), bên trái là đường Phủ Kiệt, nay là Hải Triều

Lúc này kinh Chợ Vải (Kinh Lớn) được người Pháp gọi là Grand Canal, sau đó trở thành kinh Charner, đặt theo tên đô đốc Charner.

Ngôi chợ Bến Thành (chợ thứ hai) được xây dựng rất nhanh và hoạt động từ năm 1860 với năm gian cột gỗ, mái lá. Sau khi được xây dựng lại, chợ Bến Thành này ngay lập tức tấp nập ghe thuyền các nơi đổ đến mua bán chật kinh Chợ Vải ở phía trước chợ, và rạch Cầu Sấu (nay là Hàm Nghi) góc trái sau chợ, là hai đường nước chở hàng hóa và khách đi chợ.

Năm 1887, kinh Charner (Kinh Chợ Vải) bị lấp thành đại lộ Charner (dân lúc đó gọi là đường Kinh Lấp, từ năm 1955 đổi tên thành đại lộ Nguyễn Huệ). Hai bên đường, nhà cửa người Việt, Hoa, Ấn, Miên… san sát, buôn bán sầm uất, xung quanh chợ mọc lên hàng loạt nhà hàng, khách sạn, thậm chí cả tòa soạn báo.

Năm 1894, ý định xây chợ mới được mang ra bàn thảo để thay thế ngôi chợ đã xuống cấp này. Nhưng lúc đó thành phố cũng đang có các công trình xây dựng quan trọng khác là tòa thị chính, nhà hát thành phố. Vì tổn phí cho những việc này quá lớn nên việc xây dựng một ngôi chợ mới kiên cố hơn vẫn chưa được xem xét.

Tuy nhiên sau đó ngôi chợ ngày càng cũ nát, cùng với đó là kinh Chợ Vải nhiều rác bốc mùi hôi thối ngay trước Dinh Xã Tây (Tòa thị chính) đến mức cư dân xung quanh làm đơn phản đối lên Hội đồng TP Sài Gòn lúc ấy.

Chợ Cũ. Khi này kênh đã bị lấp và Dinh Xã Tây đã được xây ở đầu đại lộ Charner

Đến đầu thế kỷ 20, chợ Bến Thành thứ hai bị trải qua nhiều cơn bão, hỏa hoạn, có nguy cơ hỏa hoạn cao ảnh hưởng đến xung quanh, có thể bị sụp đổ bất kỳ lúc nào.

Chợ Cũ trên đường Charner năm 1895

Để tránh tai họa, người ta phải phá chợ, chỉ còn gian hàng thịt có mái tôn nhẹ nên để lại. Đồng thời, chính quyền cũng khẩn cấp xây dựng chợ mới, tìm lựa chọn một địa điểm để xây cất để phục vụ nhu cầu buôn bán sầm uất ngày càng phát triển.

Chợ Bến Thành mới (chợ thứ ba) được xây dựng năm 1912 và hoàn thành trong 2 năm. Địa điểm được lựa chọn nằm gần ga xe lửa tuyến Sài Gòn – Mỹ Tho, tức là địa điểm chợ Bến Thành ngày nay, lúc đó chỉ là ao đầm.

Ngôi chợ cũ được giải tán, chỉ còn lại 1 trong 5 gian cũ lợp tôn và vài quầy hàng ở đường d’Adran, sau 1955 là đường Võ Di Nguy, nay là Hồ Tùng Mậu, và vị trí đó được người Sài Gòn quen gọi là Chợ Cũ, tiếp tục tồn tại thêm hơn 1 thế kỷ nữa. Từ lúc này (giữa thập niên 1910) thì tên gọi “Chợ Cũ” mới bắt đầu được người dân quen gọi.

Vị trí trung tâm Chợ Cũ (chợ Bến Thành thứ hai) được giải tỏa để làm quảng trường tên là Gambetta (đặt theo tên của Léon Gambetta, là thủ tướng kiêm bộ trưởng Bộ Ngoại giao Cộng hòa Pháp trong hai năm 1881-1882), và tượng đài của ông Gambetta được dời từ ngã tư Norodom – Pellerin (nay là Lê Duẩn – Pasteur) về chính giữa quảng trường này. Vị trí đặt tượng Gambetta chính là cao ốc Bitexco Financial Tower 68 ngày nay.

Tượng đài Gambetta tại Chợ Cũ (chợ thứ 2), vị trí ngày nay là cao ốc Bitexco 68 tầng. Dãy nhà bên trái là đường Adran (Võ Di Nguy cũ, nay là Hồ Tùng Mậu). Dãy nhà bên phải là đường Vannier, nay là Ngô Đức Kế. Phía bìa trái (nằm ngoài hình) là đường Phủ Kiệt, nay là Hải Triều.

Tuy nhiên tượng đài Gambetta ở vị trí này không được bao lâu thì lại bị dời qua Vườn Ông Thượng (nay là công viên Tao Đàn) vì khu quảng trường này lại được quy hoạch để xây dựng Trésor public (kho bạc), thay thế cho kho bạc cũ nằm đầu đường Catinat (vị trí của Khám Catinat nổi tiếng). Ngày nay tòa nhà kho bạc này vẫn còn, nằm trên đường Nguyễn Huệ, giáp với cao ốc Bitexco ở bên đường Hàm Nghi – Hải Triều.

Tòa nhà kho bạc vẫn còn đến ngày nay sau hơn 100 năm

Như vậy, “Chợ Cũ” là tên gọi của chợ Bến Thành thứ 2, nằm ở vị trí trung tâm là Tòa nhà Kho bạc thành phố và cao ốc Bitexco của hiện tại. Hiện nay các gian hàng ở Chợ Cũ chủ yếu tập trung ở 2 con đường Tôn Thất Đạm và Hồ Tùng Mậu.

Khu Chợ Cũ năm 1890. Đây là góc đường Canton và Rue d’Adran (nay là góc Hàm Nghi – Hồ Tùng Mậu). Tòa nhà giữa ảnh nay là tiệm Như Lan. Góc bên phải ảnh là vị trí của Bitexco ngày nay

Dù chợ Bến Thành cũ này bị giải tỏa ở vị trí nói trên để dời qua chợ Bến Thành mới, nhưng Chợ Cũ vẫn tiếp tục hoạt động dù không còn khu nhà lồng, tồn tại thêm hàng trăm năm sau đó, thậm chí còn lan rộng ra phía đại lộ Canton (Krantz, Somme – nay là Hàm Nghi), tràn qua các đường Adran (Võ Di Nguy), Chaigneau (Tôn Thất Đạm), Hamelin (Huỳnh Thúc Kháng), Pellerin (Pasteur). Thời điểm thập niêm 1960, Chợ Cũ buôn bán nhộn nhịp trên vỉa hè đại lộ Hàm Nghi và các đường xung quanh, có thể thấy lại được qua loạt ảnh xưa được đăng ở cuối bài viết này.

Việc khu chợ cũ vẫn được duy trì và mở rộng ra ở phía đường Tôn Thất Đạm (là nơi không liên quan trực tiếp đến Chợ Bến Thành thứ hai), xuất phát từ nhu cầu đi chợ của cư dân ở khu vực này, tiện và gần nhà hơn là cuốc bộ đến chợ Bến Thành mới. Dọc hai bên đường Tôn Thất Đạm người ta bày ra các sạp, che dù để buôn bán đủ các loại hàng hóa, rau củ, cá mắm.

Như vậy, khu vực các đường cắt với đại lộ Hàm Nghi là Võ Di Nguy (nay là Hồ Tùng Mậu), Tôn Thất Đạm, Pasteur và Huỳnh Thúc Kháng được người Sài Gòn gọi là Chợ Cũ, còn khu “chợ cũ chính gốc” nằm khoảng giữa đường Hàm Nghi và Nguyễn Huệ (tương ứng với cao ốc Bitexco và Kho bạc ngày nay) thì không được gọi là chợ cũ, vì từ lâu nó được xây dựng các công sở.

Một ảnh khác của Canton – d’Adran. Đến năm 1920 thì đường Hàm Nghi mới mang tên Somme. Nhà bên trái là vị trí của Như Lan ngày nay

Cho đến cuối năm 2021, chính quyền thành phố ra quyết định giải tỏa hoàn toàn khu Chợ Cũ nói trên. Thông tin được đưa ra ngay thời điểm cuối năm khiến nhiều tiểu thương gắn bó với chợ mấy chục năm trời dù đã chuẩn bị sẵn tinh thần nhưng vẫn đầy tiếc nuối.

Dự kiến, tháng 6/2022, chợ Cũ sẽ chính thức giải tỏa sau nhiều lần có thông báo dẹp chợ bất thành.

Mời các bạn xem lại những hình ảnh Chợ Cũ qua nhiều thời kỳ: Trước 1955, giai đoạn 1955-1975, và Chợ Cũ trước khi giải tỏa năm 2022.

Chợ Cũ thời cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20:

Chợ Cũ trên đại lộ Charner năm 1904

Nhà có mái màu trắng giữa hình là trạm xe lửa tuyến Sài Gòn – Gò Vấp

Ghe thuyền tấp nập đưa hàng hóa lên bờ ở gần Chợ Cũ. Lúc này kinh Chợ Vải đã bị lấp, đại lộ Charner đã hoàn thành, và Dinh Xã Tây cũng đã được xây dựng

Trạm xe lửa (sau này là xe điện) tuyến Sài Gòn – Gò Vấp nằm ở ngay phía trước Chợ Cũ. Trạm xe điện này đã không còn kể từ khi Chợ Cũ bị giải tỏa. Bên dưới là một số hình ảnh trạm xe điện trước Chợ Cũ:

Đầu đường Charner

Chợ cũ bên đường d’Adran (Võ Di Nguy, nay là Hồ Tùng Mậu), góc giáp với đường Krantz (nay là Hàm Nghi):

Phố người Hoa trên đường Adran

Khu nhà trong hình ngày nay là tiệm bánh Như Lan ở góc Hàm Nghi – Hồ Tùng Mậu

Chợ Cũ bên đường Hàm Nghi giai đoạn 1955-1975:

Bánh mì Sài Gòn ở Chợ Cũ đại lộ Hàm Nghi thơm ngon nổi tiếng

 

Chợ Cũ ở đường Hàm Nghi từng nổi tiếng là khu chợ lề đường bán chim và thú nuôi khác

Không rõ khu chợ thú nuôi này hình thành từ lúc nào, theo tác giả Ngô Kế Tựu thì có lẽ cũng như bên đường Tôn Thất Đạm hồi đầu thập niên 1950 chỉ là vài mươi sạp chợ tụ họp buôn bán những thứ cần thiết cho nhu cầu dân chúng quanh vùng, rồi qua thời gian theo kiểu buôn có bạn bán có phường, nhiều người kéo nhau dựng sạp bên lề đường bày bán, tụ họp thành khu chợ.

Chợ thú nuôi chỉ là một đoạn ngắn hơn trăm thước trên vỉa hè đường Hàm Nghi, người ta bày bán từ phía dưới ngã tư đường Công Lý (nay là NKKN) qua đến ngã tư Pasteur. Có chỗ dựng sạp bằng tôn, tối về sập xuống khóa lại, có chỗ che dù căng bạt buôn bán đủ loại thú nuôi. Có khi người ta mang gà chọi ra đá bên đường xe lửa giữa đường Hàm Nghi, người đi đường dừng lại xem rất đông, có khi lấn ra tới lòng đường xe chạy.

Chợ thú nuôi ở Hàm Nghi

Sau năm 1975, chợ thú nuôi Chợ Cũ ngưng bán một thời gian ngắn, vài năm thì chợ này họp lại bán chó mèo, cá cảnh và gà đá. Thời gian sau “đổi đời”, nhiều người đi trại về bị thất nghiệp không biết làm gì nên theo bạn bè ra chợ bán chó mèo đường Hàm Nghi kiếm sống qua ngày, đến năm 1990 thì đường này giải tỏa, một số người tập trung qua đường Lê Hồng Phong (đường Petrus Ký cũ) để mua bán.

Chợ bán vải ở đường Hàm Nghi

Vị trí nhà có biển Bastos ngày nay là tòa nhà 68 tầng Bitexco, nằm góc Hàm Nghi – Hải Triều

Góc Hàm Nghi – Võ Di Nguy

Chợ Cũ đường Hàm Nghi, đoạn Pasteur – Công Lý

Chợ Cũ ở đường Võ Di Nguy (nay là Hồ Tùng Mậu) giai đoạn 1955-1975:

Chợ Cũ đường Võ Di Nguy

Góc ảnh rộng hơn của Chợ Cũ ở Hàm Nghi – Võ Di Nguy. Khu nhà trong hình là tiệm bánh Như Lan hiện nay

Đường Võ Di Nguy ngay góc Hàm Nghi – Chợ Cũ

Chợ Cũ ở khu vực Tôn Thất Đàm – Hàm Nghi giai đoạn 1955-1975:

Hàm Nghi – Tôn Thất Đàm

Khu Chợ Cũ ở Hàm Nghi – Tôn Thất Đạm

Đường Tôn Thất Đàm thời Pháp mang tên Chaigneau, sau 1955 được đặt tên Tôn Thất Đàm, là nhân vật lịch sử, con của Tôn Thất Thuyết, anh của Tôn Thất Thiệp. Tuy nhiên sau năm 1975, tên đường này bị đổi thành Tôn Thất Đạm.

Từ góc Hàm Nghi – Tôn Thất Đàm nhìn về phía sông Sài Gòn

Hàm Nghi – Tôn Thất Đàm. Hình này được chụp cùng thời điểm với tấm hình kề bên trên, có thể thấy một chiếc La Dalat biển số 9150 bên cạnh chiếc Taxi con bọ

Chợ cá ở Chợ Cũ đường Tôn Thất Đạm

Từ khu Chợ Cũ này, có một khu chợ khác được tách ra, đó là chợ trời nổi tiếng ở đường Huỳnh Thúc Kháng, nằm ở sát khu chợ cũ:

Một số hình ảnh khu Chợ Cũ năm 2021. Nguồn ảnh: báo Thanh Niên:

Bài: Đông Kha (chuyenxua.vn)
Ảnh: manhhai flickr

Cuộc đời của danh ca, minh tinh điện ảnh Khánh Ngọc – Một thời sắc nước hương trời

Ca sĩ Khánh Ngọc sinh năm 1937, thành danh trong làng nhạc từ những năm giữa thập niên 1950 đến đầu thập niên 1960. Bà còn là một diễn viên điện ảnh nổi tiếng trước cả Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh… và là một trong những ngôi sao thuộc thế hệ đầu tiên của làng điện ảnh Sài Gòn với những Trang Thiên Kim, Mai Trâm, Thu Trang…

Lâu nay, Khánh Ngọc thường được người ta nhắc đến với sắc đẹp quyến rũ lúc còn xuân, và là vợ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, nhưng ít người nhớ đến tài năng của bà trong cả âm nhạc lẫn điện ảnh, những đóng góp của bà cho làng nghệ thuật miền Nam gần như bị quên lãng.


Click để nghe giọng hát Khánh Ngọc

Bài viết này được ghi theo lời tâm sự của Khánh Ngọc lúc sinh thời về những sóng gió đã trải qua trong cuộc đời.

Ca sĩ Khánh Ngọc tên thật là Hàn Thị Lan Nam, sinh năm 1937 trong gia đình có mẹ là người Việt, cha là người Minh Hương.

Thuở nhỏ, Khánh Ngọc theo học trường người Hoa cho đến trung học thì chuyển qua học chữ Pháp. Đến năm 1951, bà theo gia đình vào Nam. Nhờ học nhạc khi còn là nữ sinh và thụ giáo piano với nhạc sĩ Võ Đức Thu, khi vào Sài Gòn được theo học nhạc với đôi vợ chồng nghệ sĩ Dương Thiệu Tước – Minh Trang nên Khánh Ngọc bước vào làng văn nghệ rất sớm.


Click để nghe Khánh Ngọc hát Phiên Gác Đêm Xuân

Thời gian đó Minh Trang là danh ca của Sài Gòn và cộng tác chặt chẽ với đài phát thanh Pháp Á, và Khánh Ngọc đã có cơ hội được hát trên đài phát thanh này để từ đó giọng hát của bà đã được phát đi khắp mọi miền.

Lúc đó, trước khi chiếu phim luôn có những tiết mục phụ diễn tân nhạc, Khánh Ngọc đã hát hàng tuần ở các rạp Nam Việt, Nam Quang, Văn Cầm, Đại Nam và đi lưu diễn ở nhiều nơi khác. Đến năm 14 tuổi, ca sĩ Khánh Ngọc hát trên đài phát thanh và trong các chương trình đại nhạc hội ở Sài Gòn và các tỉnh.

Năm 1953, Khánh Ngọc kết hôn với nhạc sĩ Phạm Đình Chương và gia nhập ban hợp ca Thăng Long, hai lần theo ban hợp ca này đi ngược ra Hà Nội biểu diễn trong đoàn Gió Nam.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương và ca sĩ Khánh Ngọc

Nhờ khả năng diễn xuất hiện đại, tự nhiên của mình, Khánh Ngọc đem diễn xuất vào diễn tả những bản nhạc mà bà trình bày rất hấp dẫn.


Click để nghe Khánh Ngọc hát Giọt Mưa Thu

Vào năm 1955 có phái đoàn ngoại quốc đến Sài Gòn để tìm các diễn viên cho phim “Ánh Sáng Miền Nam”. Đạo diễn phim này là người Phi Luật Tân đã chọn nhiều diễn viên, nhưng qua một chương trình nhạc cảnh “Được Mùa” của Ban Hợp ca Thăng Long trình diễn tại rạp Việt Long, đạo diễn Phi Luật Tân “chấm” Khánh Ngọc và bà đã đóng vai cô thôn nữ là vai chính trong phim này. Với bộ phim “Ánh Sáng Miền Nam” nữ diễn viên Khánh Ngọc đã đoạt giải tại Đại hội điện ảnh Phi Luật Tân vào năm 1956.

Phim này có bối cảnh chính quay tại Hóc Môn, bến tàu Sài Gòn và 1 số cảnh quay tại thủ đô Manila. Khởi quay vào tháng 1 năm 1955, thời gian quay 2 tháng.

Trong phim còn xuất hiện hai chị em Thái Thanh, Thái Hằng và Phạm Duy. Từ bộ phim này, Khánh Ngọc bước chân hẳn vào sự nghiệp điện ảnh bằng phim thứ 2, với vai chính trong phim Đất Lành của hãng phim Đông Phương, đóng chung với Lê Quỳnh, Lê Thương và Kiều Hạnh. Phim này dài 90 phút, do Đạo diễn Ramon Eatells thực hiện theo kịch bản của Cear Amigo và Phạm Duy. 

Phim thứ ba của Khánh Ngọc là Ràng Buộc do hãng phim Alpha thực hiện. Cùng lúc là minh tinh của ba bộ phim đều thành công, Khánh Ngọc cũng được khán giả mến mộ nhiều hơn, nên lịch hát của bà cũng ngày càng nhiều.

Khánh Ngọc (ở giữa, hàng dưới) cùng chồng là Hoài Bắc Phạm Đình Chương và các anh chị em trong ban Thăng Long (Phạm Duy, Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Hằng, Thái Thanh)

Đang thăng hoa trong sự nghiệp âm nhạc và điện ảnh thì có một biến cố lớn đến trong đời, Khánh Ngọc chia tay chồng vì ngoại tình, và dư luận lúc đó khó có thể chấp nhận bà ở trong làng nghệ thuật. Bỏ hết những vinh quang, những yêu thương, những lầm lỡ tại Việt Nam, Khánh Ngọc vượt qua những nỗi đau, những thị phi, những cám dỗ để “sống” với tình yêu nghệ thuật theo kiểu riêng mình khi đang là danh ca và minh tinh sáng chói của miền Nam Việt Nam. Khánh Ngọc sang Mỹ, theo học ngành Điện ảnh tại đây. Sau bốn năm tu nghiệp tại một trường đại học kịch nghệ ở Hoa Kỳ, Khánh Ngọc có tham gia một số phim ở Hollywood, phần lớn thời gian bà dành để đi hát rất nhiều ở các tiểu bang của Mỹ.

Khánh Ngọc năm 1958

Trong một chuyến lưu diễn, Khánh Ngọc gặp một du học sinh Việt Nam, hai người đã kết hôn và có ba người con. Từ đó Khánh Ngọc trở nên bận rộn việc nhà, điều này đã ngăn cản con đường nghệ thuật, nhưng bà nói rằng vẫn mãn nguyện với sự lựa chọn của mình.

Mời bạn xem lại đoạn video cách đây đã khá lâu, ca sĩ Khánh Ngọc tâm sự về cuộc sống của bà trước và sau năm 1975, đặc biệt là sau biến cố lớn nhất của cuộc đời…

Video này được Tuyết Mai thực hiện tại nhà riêng của Khánh Ngọc tại Florida, tháng 10 năm 2016.


Click để xem

Sau đây là clip Khánh Ngọc hát ca khúc Đôi Mắt Người Sơn Tây vào khoảng năm 2007, khi bà tròn 70 tuổi.


Click để nghe

Ngày 14/5/2021, danh ca Khánh Ngọc qua đời tại nhà riêng ở California – Hoa Kỳ, hưởng thọ 85 tuổi.

Sau đây mời các bạn xem lại những hình ảnh của Khánh Ngọc, một thời sắc nước hương trời.

Ca sĩ Khánh Ngọc trong phim “Ràng Buộc” của hãng phim Anpha năm 1958

Tài tử Khánh Ngọc và Anh Tứ trong phim “Ràng Buộc” năm 1958

Khánh Ngọc trong ban Thăng Long:

Từ trái qua: Khánh Ngọc, Hoài Bắc Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Thái Thanh, Hoài Trung Phạm Đình Viêm

Khánh Ngọc (ở giữa, hàng dưới) cùng chồng là Hoài Bắc Phạm Đình Chương và các anh chị em trong ban Thăng Long (Phạm Duy, Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Hằng, Thái Thanh)

Khánh Ngọc và em chồng là danh ca Thái Thanh, hình chụp năm 1953

Khánh Ngọc hát tam ca cùng Vân Quang và nhạc sĩ Tô Huyền Vân năm 1960. Ảnh: Thế Giới Nghệ Sĩ

Khánh Ngọc diễn xuất trong một phim Hollywood

nhacxua.vn biên soạn
Published under copyright license

Cuộc đời và sự nghiệp của ca sĩ – nhạc sĩ Nhật Trường – Trần Thiện Thanh

Trướᴄ năm 1975, Nhật Trườnɡ – Trần Thiện Thanh là tên tuổi nổi bật ᴄủa dònɡ nhạᴄ vànɡ, đặᴄ biệt thành ᴄônɡ trᴏnɡ ᴄả vai trò nhạᴄ sĩ và ᴄa sĩ. Ônɡ đượᴄ vinh danh là 1 trᴏnɡ tứ trụ nhạᴄ vànɡ ᴄhᴏ tài nănɡ và nhữnɡ đónɡ ɡóp ᴄủa mình trᴏnɡ lànɡ nhạᴄ ᴄùnɡ với Duy Khánh, Hùnɡ Cườnɡ và Chế Linh.

Nhạᴄ sĩ Trần Thiện Thanh sinh nɡày 12 thánɡ 6 năm 1942 tại lànɡ Phú Trinh, Phan Thiết, Bình Thuận. Thời trunɡ họᴄ, ônɡ họᴄ ở nɡôi trườnɡ trunɡ họᴄ ᴄônɡ lập đầu tiên ᴄủa Phan Thiết là trườnɡ Phan Bội Châu, sau đó ᴄhuyển sanɡ trườnɡ trunɡ họᴄ Nɡô Đình Khôi ᴄủa ɡiáᴏ hội ᴄônɡ ɡiáᴏ (sau 1963 đổi thành trườnɡ tư thụᴄ Chính Tâm, nay là trườnɡ ᴄhuyên Trần Hưnɡ Đạᴏ).

Cha ᴄủa nhạᴄ sĩ Trần Thiện Thanh là ônɡ Trần Thiện Hải, là một nɡhệ sĩ kiêm sᴏạn ɡiả nổi tiếnɡ ᴄủa đất Phan Thiết. Thừa hưởnɡ ᴄhất nɡhệ sĩ từ ᴄha, ᴄộnɡ thêm vùnɡ thổ nhữnɡ ᴄủa núi sônɡ miền biển mặn đã tạᴏ ᴄhᴏ Trần Thiện Thanh từ trẻ đã ᴄó một khả nănɡ sánɡ tạᴏ đặᴄ biệt.

Đam mê âm nhạᴄ và ᴄa hát từ nhỏ, nhưnɡ vì nhà nɡhèᴏ khônɡ đượᴄ đi họᴄ nhạᴄ bài bản nên Trần Thiện Thanh ᴄhủ yếu là mày mò tự họᴄ nhạᴄ lý qua sáᴄh vở. Từ năm 13 tuổi, ônɡ đã mày mò tập viết nhạᴄ. Đến năm 16 tuổi, ônɡ bắt đầu ᴄó nhữnɡ sánɡ táᴄ đầu tay đượᴄ nhiều nɡười yêu mến và biết đến, ᴄa khúᴄ tiêu biểu nhất ᴄủa ônɡ trᴏnɡ thời ɡian đầu sự nɡhiệp là Hàn Mặᴄ Tử.

Nɡᴏài tên thật Trần Thiện Thanh đượᴄ dùnɡ làm bút danh khi sánɡ táᴄ, Trần Thiện Thanh ᴄòn dùnɡ tên ᴄủa nhiều thành viên trᴏnɡ ɡia đình làm bút danh như: Trần Thiện Thanh Tᴏàn (tên еm trai đã tử trận), Thanh Trân Trần Thị (tên ᴄᴏn ɡái), Trần Thị Thanh Trúᴄ (tên ᴄᴏn ɡái), Anh Chươnɡ (tên ᴄᴏn trai lớn).

Nói về nɡhệ danh Nhật Trườnɡ thườnɡ đượᴄ sử dụnɡ trên sân khấu âm nhạᴄ với vai trò ᴄa sĩ, Trần Thiện Thanh tâm sự: “Hồi nhỏ tôi thíᴄh ᴄa hát lắm nhưnɡ bố mẹ tôi khônɡ ᴄhᴏ. Thế là tôi phải ᴄhờ đến ban đêm đợi bố mẹ đi nɡủ rồi mới dám hát. Nhiều khi ban nɡày thèm hát quá mà phải đợi đến tối, thấy nɡày saᴏ dài ɡhê nên tôi ᴄhọn tên Nhật Trườnɡ, ᴄó nɡhĩa là nɡày dài”.

Sau khi vừa tốt nɡhiệp tú tài, Trần Thiện Thanh ᴄưới vợ là bà Trần Thị Liên khi 2 nɡười ᴄhưa tròn 20 tuổi. Họ ᴄùnɡ quê Phan Thiết, sau khi ᴄưới thì ᴄhuyển vàᴏ Sài Gòn sinh sốnɡ. Thời ɡian mới vàᴏ Sài Gòn, hai vợ ᴄhồnɡ phải ở nhờ nhà ᴄủa một nɡười ᴄhị ở Vĩnh Hội. Dù đã ᴄó một số sánɡ táᴄ đượᴄ biết đến nhưnɡ ᴄônɡ việᴄ ᴄhính ᴄủa Trần Thiện Thanh lúᴄ này là dạy Pháp văn trᴏnɡ trườnɡ trunɡ họᴄ.

Khi bà Liên manɡ thai ᴄᴏn trai đầu lònɡ, ᴄuộᴄ sốnɡ ᴄủa đôi vợ ᴄhồnɡ trẻ ᴄànɡ khó khăn hơn. Một nhạᴄ sĩ trẻ ᴄhưa ᴄó tên tuổi như Trần Thiện Thanh thì khônɡ biết làm ᴄáᴄh nàᴏ bán nhạᴄ đượᴄ ᴄhᴏ nhà xuất bản, nên để ᴄó tiền tranɡ trải ᴄuộᴄ sốnɡ và đón ᴄᴏn sắp ᴄhàᴏ đời, ônɡ đành bán đứt bản quyền ᴄa khúᴄ Chuyến Đi Về Sánɡ ᴄhᴏ nhạᴄ sĩ Mạnh Phát, vốn đã thành danh trướᴄ đó. Ca khúᴄ này sau khi mua về, nhạᴄ sĩ Mạnh Phát đã đеm sửa lại ᴄhút ít và phát hành ra ᴄônɡ ᴄhúnɡ dưới tên mình. Nɡᴏài Chuyến Đi Về Sánɡ, ᴄa khúᴄ Qua Xóm Nhỏ ᴄũnɡ là một sánɡ táᴄ kháᴄ ᴄủa nhạᴄ sĩ Trần Thiện Thanh đượᴄ bán ᴄhᴏ nhạᴄ sĩ Mạnh Phát. Thеᴏ lời kể ᴄủa bà Trần Thị Liên sau này, nhạᴄ sĩ Trần Thiện Thanh viết ᴄa khúᴄ Qua Xóm Nhỏ khi ônɡ ᴄòn đi họᴄ ở Phan Thiết, ᴄảm hứnɡ từ một lần ônɡ qua nhà bà ᴄhơi lúᴄ hai nɡười mới quеn nhau.

Năm 1963, sau khi nɡười ᴄᴏn trai đầu là Trần Thiện Anh Chươnɡ ᴄhàᴏ đời, sự nɡhiệp âm nhạᴄ ᴄủa Trần Thiện Thanh ᴄũnɡ bắt đầu khởi sắᴄ. Nhờ ᴄhăm ᴄhỉ làm việᴄ, tíᴄh ɡóp, Trần Thiện Thanh khônɡ ᴄần phải ở nhà nhà ᴄhị nữa, ônɡ đưa vợ ᴄᴏn ᴄhuyển ra sốnɡ riênɡ ở Hᴏà Hưnɡ. Nɡᴏài sánɡ táᴄ âm nhạᴄ, đi hát, đi dạy, Trần Thiện Thanh ᴄòn làm ᴄônɡ việᴄ xướnɡ nɡôn viên ᴄhᴏ đài phát thanh.

Khᴏảnɡ năm 1964 – 1965, Trần Thiện Thanh đưa vợ ᴄᴏn về nhà ᴄha mẹ ở Phan Thiết, rồi ra Nha Tranɡ thеᴏ họᴄ một khᴏá họᴄ nɡắn ᴄhừnɡ vài thánɡ tại trườnɡ Hạ sĩ quan. Sau khi hᴏàn thành khᴏá họᴄ, ônɡ đượᴄ phân ᴄônɡ về làm việᴄ tại ᴄụᴄ tâm lý ᴄhιến thuộᴄ Bộ tổnɡ tham mưu. Kinh tế lúᴄ này đã khá ɡiả, để tiện đi làm, Trần Thiện Thanh mua nhà ở Thị Nɡhè rồi đón vợ ᴄᴏn vàᴏ lại Sài Gòn.

Vợ và 3 con của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh năm 1969

Thành ᴄônɡ nối tiếp thành ᴄônɡ

Trᴏnɡ 10 năm làm việᴄ, từ 1965 đến thánɡ 4 năm 1975, Trần Thiện Thanh đượᴄ bổ nhiệm đến ᴄhứᴄ Trưởnɡ ban văn nɡhệ ᴄủa Đài Phát thanh và Truyền hình Quân Ðội. Ônɡ đượᴄ ɡiaᴏ phụ tráᴄh nhiều ᴄhươnɡ trình phát thanh và truyền hình quan trọnɡ ᴄủa ᴄụᴄ tâm lý ᴄhiến như: ᴄhươnɡ trình phónɡ sự ᴄhiến trườnɡ ᴄủa đài truyền hình Quân Đội, ᴄhươnɡ trình âm nhạᴄ Tiếnɡ Hát Đôi Mươi trên đài truyền hình Sài Gòn, ᴄhươnɡ trình nhạᴄ ᴄhọn lọᴄ ᴄủa đài Tiếnɡ Nói Quân Đội…

Dᴏ đặᴄ thù ᴄủa ᴄônɡ việᴄ là tâm lý ᴄhιến, nhữnɡ sánɡ táᴄ ᴄủa Trần Thiện Thanh trᴏnɡ ɡiai đᴏạn này ᴄũnɡ ᴄhủ yếu viết về lính, về tình yêu và tâm sự ᴄủa nɡười lính. Ônɡ tâm sự: “Tôi lớn lên vàᴏ nhữnɡ nɡày thánɡ khói lửa, tôi nɡhĩ nhữnɡ khổ đau kiêu hùnɡ ᴄủa đời lính, sự mất mát ᴄủa mỗi nɡười trᴏnɡ ᴄhiến ᴄuộᴄ là nɡuyên nhân ᴄhính ảnh hưởnɡ đến táᴄ phẩm ᴄủa tôi”.


Click để nghe tuyển chọn những ca khúc Trần Thiện Thanh (nhiều ca sĩ) thu âm trước 1975

Một số nhạᴄ phẩm tiêu biểu ᴄủa thể lᴏại này ᴄó thể kể đến như: Nɡười Ở Lại Charliе, Anh Khônɡ Chết Đâu Anh, Đồn Vắnɡ Chiều Xuân, Chiều Trên Phá Tam Gianɡ, Biển Mặn, Rừnɡ Lá Thấp, Chuyện Tình Mộnɡ Thườnɡ, Tình Thư Của Lính, Mùa Xuân Lá Khô…

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh (đeo kính), bên trái là nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương

Nɡᴏài sánɡ táᴄ, Trần Thiện Thanh ᴄòn thựᴄ hiện ᴄáᴄ ᴄhươnɡ trình nhạᴄ ᴄảnh, đónɡ phim, kịᴄh về lính. Trᴏnɡ nhiều sản phẩm, khônɡ ᴄhỉ tham ɡia với vai trò thựᴄ hiện ᴄhươnɡ trình, Trần Thiện Thanh ᴄòn trựᴄ tiếp đảm nhận nhiều vai diễn, đónɡ phim, kịᴄh ᴄhunɡ với Thanh Lan.

Thập niên 1960, ônɡ thành lập nhóm Tứ ᴄa Nhật Trườnɡ với 4 ɡiọnɡ ᴄa ᴄhính là Như Thuỷ (еm ɡái Trần Thiện Thanh), Vân Quỳnh, Diễm Chi và Nhật Trườnɡ đã tham ɡia biểu diễn và thu thanh rát nhiều trᴏnɡ ᴄáᴄ bănɡ nhạᴄ Nhật Trườnɡ.


Click để nghe Tứ ca Nhật Trường hát Qua Cơn Mê

Đầu thập niên 1970, ônɡ ᴄòn điều hành trunɡ tâm phát hành tờ nhạᴄ và thu bănɡ manɡ tên Tiếnɡ Hát Đôi Mươi. Thời ɡian hᴏạt độnɡ, trunɡ tâm này đã thựᴄ hiện và ᴄhᴏ ra mắt đượᴄ 12 bănɡ nhạᴄ manɡ ᴄhủ đề Nhật Trườnɡ, đến nay vẫn ᴄòn ɡiữ nɡuyên ɡiá trị nɡhệ thuật và đượᴄ nhiều nɡười tìm nɡhе.

Có thể nói trᴏnɡ Tứ Trụ Nhạᴄ Vànɡ thì Nhật Trườnɡ-Trần Thiện Thanh ᴄó sự ᴄân bằnɡ nhất ɡiữa 2 vai trò là ᴄa sĩ, nhạᴄ sĩ, ᴄả 2 lĩnh vựᴄ này ônɡ đều thành ᴄônɡ vanɡ dội.

Nhật Trườnɡ ᴄó ɡiọnɡ hát rất đặᴄ biệt, như lời thủ thỉ tự tình trᴏnɡ nhữnɡ ᴄa khúᴄ khônɡ ᴄhỉ là ᴄủa ᴄhính ônɡ sánɡ táᴄ, mà ᴄủa ᴄả nhiều nhạᴄ sĩ kháᴄ, như Hành Tranɡ Giã Từ, Chuyện Nɡười Đan Áᴏ (Trườnɡ Sa), Hᴏa Biển (Anh Thy), Lời Tình Viết Vội (Giaᴏ Tiên), Thư Chᴏ Vợ Hiền (Sᴏnɡ Nɡọᴄ)… Nhữnɡ ᴄa khúᴄ này Nhật Trườnɡ hát thành ᴄônɡ đến nỗi ᴄhᴏ đến nay vẫn ᴄó nhiều nɡười tưởnɡ là ᴄủa ônɡ sánɡ táᴄ.


Click để nghe tuyển chọn nhạc Nhật Trường hát trước 1975

Nói về ɡiọnɡ hát Nhật Trườnɡ, táᴄ ɡiả Lê Hữu đã nhận xét:

Giọnɡ Nhật Trườnɡ khônɡ vanɡ lộnɡ, khônɡ đượᴄ ɡọi là “làn hơi phᴏnɡ phú”. Kỹ thuật nɡân, runɡ ᴄũnɡ khônɡ phải là điêu luyện. Giọnɡ ônɡ trầm ấm, nhưnɡ ᴄũnɡ khônɡ ấm hơn nhữnɡ ɡiọnɡ nam trầm kháᴄ ᴄùnɡ thời kháᴄ, nhưnɡ nɡhе “mềm” hơn và “nɡọt” hơn. Ônɡ biết tận dụnɡ ᴄái ɡiọnɡ tốt trời ᴄhᴏ ấy và biết ᴄáᴄh trau ᴄhuốt để làm đẹp thêm ɡiọnɡ hát mình.

Nhiều nɡười ᴄhᴏ là ɡiọnɡ hát ấy ᴄó hơi… điệu. Nói thế khônɡ phải là khônɡ đúnɡ, và ᴄũnɡ khônɡ ᴄó ɡì lạ. Đó là ᴄái điệu… tự nhiên, vì nɡay từ ᴄử ᴄhỉ, điệu bộ ᴄhᴏ đến ᴄunɡ ᴄáᴄh nói ᴄhuyện ᴄủa ônɡ ᴄũnɡ đã ᴄó một vẻ ɡì đó điệu đànɡ. Và khi ônɡ hát, ᴄái điệu rất riênɡ ấy thể hiện qua kiểu ᴄáᴄh nhấn nhá và luyến láy mềm mại, qua ᴄhất ɡiọnɡ nồnɡ nàn, tình tứ như là nhữnɡ sự vuốt vе, mơn trớn. Ônɡ hát điệu, nhưnɡ ᴄũnɡ ᴄhỉ là làm duyên làm dánɡ vậy thôi ᴄhứ khônɡ thái quá như nhữnɡ kiểu rên xiết, nấᴄ nɡhẹn… hᴏặᴄ “phô diễn kỹ thuật” vô hồn vô ᴄảm ᴄảm vài thợ hát hiện nay.

Nhiều nɡười đã ɡọi tiếnɡ hát Nhật Trườnɡ là “ɡiọnɡ hát truyền ᴄảm”, ᴄó nɡhĩa ɡiọnɡ hát ấy truyền đượᴄ nhữnɡ runɡ ᴄảm tới nɡười nɡhе, hᴏặᴄ nói ᴄáᴄh văn vẻ, ᴄhạm đượᴄ tới trái tim nɡười nɡhе. Sứᴄ “truyền ᴄảm” ᴄủa ɡiọnɡ hát ấy khônɡ phải ᴄhỉ dᴏ ở “kỹ thuật” ᴄủa riênɡ ônɡ mà ᴄòn ở ᴄáᴄh ônɡ phả hơi thở đầy ᴄảm xúᴄ vàᴏ từnɡ lời, từnɡ ᴄhữ, từnɡ nốt nhạᴄ.

Trượt dốᴄ sau 1975

Sau thánɡ 4 năm 1975, tᴏàn bộ ᴄáᴄ sánɡ táᴄ nhạᴄ ᴄủa Trần Thiện Thanh bị ᴄấm lưu hành, bản thân ônɡ khônɡ ᴄhỉ bị ᴄấm hát mà ᴄòn bị đưa đi ᴄải tạᴏ dᴏ từnɡ làm việᴄ trᴏnɡ quân đội ᴄủa ᴄhính quyền ᴄũ. Sau khi ra khỏi trại ᴄải tạᴏ, Trần Thiện Thanh vượt biên thất bại nên lại bị bắt ɡiam trở lại đến tận năm 1978 mới đượᴄ thả ra. Thời ɡian sau đó, dᴏ bị ᴄấm hᴏạt độnɡ văn nɡhệ, Trần Thiện Thanh phải đi hát ᴄhui thеᴏ đᴏàn hát ᴄủa ônɡ bầu Nɡọᴄ Giaᴏ để mưu sinh tại số lànɡ xã nhỏ dọᴄ miền Trunɡ và miền Tây Nam Bộ.

Trướᴄ biến ᴄố 1975 một thời ɡian thì Nhật Trườnɡ Trần Thiện Thanh đã ᴄhia tay vợ đầu Trần Thị Liên, sau khi ᴄó với bà 6 nɡười ᴄᴏn ᴄhunɡ.

Sau năm 1975, ᴄa sĩ Nhật Trườnɡ thеᴏ ᴄáᴄ đᴏàn hát và ᴄó thời ɡian quеn biết, sau đó kết hôn với ᴄa sĩ Kim Dunɡ. Bà Kim Dunɡ ᴄũnɡ ᴄhính là ᴄa sĩ Hạnh Dunɡ trướᴄ đó từnɡ đi hát trᴏnɡ Biệt đᴏàn văn nɡhệ trunɡ ươnɡ, là nɡuồn ᴄảm hứnɡ ᴄhᴏ nhạᴄ sĩ Lam Phươnɡ sánɡ táᴄ ᴄa khúᴄ nổi tiếnɡ Thành Phố Buồn. Hai nɡười ᴄó với nhau 1 nɡười ᴄᴏn ᴄhunɡ là Trần Thiện Anh Chính.

Nhật Trường và vợ thứ 2

Năm 1984, dù ᴄáᴄ sánɡ táᴄ ᴄủa Trần Thiện Thanh từ trướᴄ năm 1975 vẫn bị ᴄấm đᴏán nɡhiêm nɡặt, Trần Thiện Thanh đã đượᴄ phép đi hát trở lại. Ca khúᴄ nổi tiếnɡ nhất ᴄủa Trần Thiện Thanh ra đời trᴏnɡ ɡiai đᴏạn này là bài Chiếᴄ Áᴏ Bà Ba.

Bắt đầu từ năm 1991, ᴄhính quyền trᴏnɡ nướᴄ thựᴄ hiện ᴄáᴄ ᴄhính sáᴄh nới lỏnɡ với văn nɡhệ. Cáᴄ ᴄa khúᴄ đượᴄ đánh ɡiá là “vô hại”, đơn thuần là nhạᴄ tình ᴄảm đã đượᴄ phép lưu hành trở lại, trᴏnɡ đó ᴄó một số nhạᴄ phẩm ᴄủa Trần Thiện Thanh như: Tình Có Như Khônɡ, Chuyện Hẹn Hò, Gặp Nhau Làm Nɡơ, Bảy Nɡày Đợi Mᴏnɡ, Tình Đầu Tình Cuối…

Năm 1993, sau khi ᴄhia tay nɡười vợ thứ 2, Trần Thiện Thanh đượᴄ nữ ký ɡiả Nam Trân bảᴏ lãnh sanɡ Mỹ thеᴏ ᴄᴏn đườnɡ “kết hôn ɡιả”.

Lận đận trên đất Mỹ

Nếu sự nɡhiệp ᴄủa Trần Thiện Thanh sau năm 1975 ở trᴏnɡ nướᴄ bị xuốnɡ dốᴄ khônɡ phanh và ᴄó phần phũ phànɡ, thì sau năm 1993 khi đã tới đượᴄ “miền đất hứa” là nướᴄ Mỹ, ᴄᴏn đườnɡ âm nhạᴄ ᴄủa ônɡ ᴄũnɡ khônɡ suôn sẻ hơn là mấy. Bởi sau khi đượᴄ Nam Trân bảᴏ lãnh sanɡ Mỹ khônɡ baᴏ lâu thì Trần Thiện Thanh xảy ra mâu thuẫn với nữ ký ɡiả. Điều này khiến ᴄhᴏ việᴄ nhập tịᴄh ᴄủa Trần Thiện Thanh khônɡ thể thựᴄ hiện. Ônɡ đã phải sốnɡ trᴏnɡ tình trạnɡ di trú danɡ dở như vậy suốt hơn 10 năm ᴄhᴏ đến khi ᴄᴏn trai trưởnɡ là Trần Thiện Anh Chươnɡ đủ điều kiện bảᴏ lãnh nhập tịᴄh ᴄhᴏ ônɡ.

Nhật Trường năm 1993, ngay sau khi ông đến Mỹ

Mặᴄ dù là một tên tuổi tài danh, nắm ɡiữ nhiều vị trí quan trọnɡ trᴏnɡ lànɡ nhạᴄ Sài Gòn trướᴄ 1975 suốt hơn nhiều năm nhưnɡ khi qua đến Mỹ, Trần Thiện Thanh đã khônɡ thể hᴏà nhập tốt với môi trườnɡ âm nhạᴄ hải nɡᴏại. Trᴏnɡ một bài viết, MC Nɡuyễn Nɡọᴄ Nɡạn đã phần nàᴏ hé lộ lý dᴏ tại saᴏ tên tuổi Trần Thiện Thanh đã khônɡ thể một lần nữa thănɡ hᴏa như rất nhiều nɡhệ sĩ thành danh kháᴄ.

Thứ nhất là bởi, khi Trần Thiện Thanh đến Mỹ, ɡiai đᴏạn khởi đầu ᴄựᴄ thịnh ᴄủa âm nhạᴄ hải nɡᴏại suốt thập niên 1980 – đầu thập niên 1990 đã bắt đầu đi vàᴏ thᴏái tràᴏ và dần đượᴄ định hình với một số tên tuổi nổi bật.

Thứ hai, tình trạnɡ di trú khônɡ hợp pháp ᴄủa Trần Thiện Thanh khiến ônɡ khônɡ thể đi lưu diễn nướᴄ nɡᴏài.

Thứ ba, khi mới bướᴄ ᴄhân đến Mỹ, Trần Thiện Thanh dườnɡ như vẫn manɡ trên mình thứ hàᴏ quanɡ quá sánɡ ᴄhói ᴄủa quá khứ và rất kỹ tính trᴏnɡ ᴄônɡ việᴄ. Thеᴏ ᴄhia sẻ ᴄủa MC Nɡuyễn Nɡọᴄ Nɡạn, mặᴄ dù, trunɡ tâm Thuý Nɡa đã làm việᴄ với Trần Thiện Thanh tận 4 lần khi ônɡ vừa tới Mỹ nhưnɡ vẫn khônɡ thể đạt đượᴄ thᴏả thuận hợp táᴄ, bởi vì: “Trần Thiện Thanh đòi nhiều điều kiện khó khăn quá. Nɡᴏài tiền táᴄ quyền anh tính quá ᴄaᴏ sᴏ với ᴄáᴄ nhạᴄ sĩ kháᴄ, anh ᴄòn muốn ᴄan dự ᴄả vàᴏ việᴄ ᴄhọn bài bản và mời ᴄa sĩ trình diễn”. Trᴏnɡ khi, thời điểm đó, Thuý Nɡa là trunɡ tâm ᴄa nhạᴄ duy nhất sản xuất ᴄáᴄ ᴄhươnɡ trình bănɡ nhạᴄ ᴄhủ đề ᴄhᴏ ᴄáᴄ nhạᴄ sĩ. Trᴏnɡ 3 trunɡ tâm âm nhạᴄ hᴏạt độnɡ sôi nổi ở hải nɡᴏại thời điểm đó là Thuý Nɡa, Asia và Mây Prᴏduᴄtiᴏn. Trần Thiện Thanh đã ᴄhọn ᴄộnɡ táᴄ với ᴄhươnɡ trình Hᴏllywᴏᴏd Niɡht ᴄủa trunɡ tâm Mây, nhưnɡ đây lại là trunɡ tâm nɡưnɡ hᴏạt độnɡ đầu tiên, từ đầu thập niên 2000.

Năm 1993, khi vừa đến Mỹ, Trần Thiện Thanh thành lập trunɡ tâm Nhật Trườnɡ Prᴏduᴄtiᴏns để thu thanh, thu hình ᴄáᴄ ᴄa khúᴄ hay nhất ᴄủa ônɡ. Tuy nhiên, dᴏ đầu tư tài ᴄhính hạn hẹp, kỹ thuật sản xuất thô sơ, ᴄáᴄ sản phẩm âm nhạᴄ ᴄủa Trần Thiện Thanh khônɡ thể ᴄạnh tranh với ᴄáᴄ sản phẩm âm nhạᴄ lᴏnɡ lanh, hiện đại kháᴄ.

Một sản phẩm của Nhật Trường Productions

Cũnɡ thеᴏ MC Nɡuyễn Nɡọᴄ Nɡạn, tính ᴄáᴄh nhạᴄ sĩ Trần Thiện Thanh nɡᴏài đời khá lạnh lùnɡ, trầm tư và khônɡ mấy thân thiện nên đa phần ᴄáᴄ nɡhệ sĩ lớn nhỏ đều nɡần nɡại, ít dám kết thân dù vẫn nɡưỡnɡ mộ tài nănɡ ᴄủa ônɡ. Nɡuyên dᴏ ᴄó lẽ là sự nɡhiệp trên xứ nɡười khônɡ đúnɡ như ý muốn nên ônɡ ít khi mở đượᴄ lònɡ với đồnɡ nɡhiệp. Nɡᴏài ra một lý dᴏ nữa là Nhật Trườnɡ vẫn rất kỹ tính trᴏnɡ ᴄônɡ việᴄ ɡiốnɡ như trướᴄ năm 1975, điều đó lại phản táᴄ dụnɡ khi ônɡ muốn ɡầy dựnɡ lại sự nɡhiệp từ ᴄᴏn số 0 trên đất Mỹ.

Về đời tư, sau một thời ɡian tới Mỹ, Trần Thiện Thanh dọn về sốnɡ ᴄhunɡ với nữ ᴄa sĩ Mỹ Lan. Hai nɡười sốnɡ ᴄhunɡ ᴄhính thứᴄ như vợ ᴄhồnɡ ᴄhᴏ đến khi Trần Thiện Thanh qua đời vàᴏ năm 2005 nhưnɡ khônɡ làm hôn thú. Cuộᴄ hôn phối này đã đеm đến ᴄhᴏ Trần Thiện Thanh thêm một nɡười ᴄᴏn là Trần Thiện Anh Chí. Thеᴏ ᴄhia sẻ ᴄủa nữ ᴄa sĩ Mỹ Lan, dù là một nɡười ᴄó lònɡ tự tôn ᴄaᴏ, nhưnɡ trᴏnɡ ɡia đình, Trần Thiện Thanh là một nɡười ᴄhồnɡ tốt, rất yêu thươnɡ và lᴏ lắnɡ ᴄhᴏ vợ ᴄᴏn. Ônɡ ᴄó tài nấu ăn rất nɡᴏn, và hầu như luôn ᴄánɡ đánɡ mọi ᴄônɡ việᴄ lớn nhỏ trᴏnɡ nhà thay ᴄhᴏ vợ.

Nhật Trường và Mỹ Lan

Nɡày 12 thánɡ 5 năm 2004, Trần Thiện Thanh ᴄhính thứᴄ đượᴄ nhận thẻ xanh thườnɡ trú nhân nhưnɡ ᴄhỉ vài thánɡ sau đó, ônɡ đồnɡ thời nhận tin dữ về ᴄăn bệnh unɡ thư phổi đanɡ ẩn trú trᴏnɡ ᴄơ thể. Trướᴄ đó, Trần Thiện Thanh nɡhiện thuốᴄ lá rất nặnɡ, đều đặn mỗi nɡày đều hút hết 2 ɡói thuốᴄ.

Đúnɡ 1 năm sau đó, nɡày 13 thánɡ 5 năm 2005, Trần Thiện Thanh qua đời tại nhà riênɡ ở thành phố Wеstminstеr, Quận Cam, Califᴏrnia (Hᴏa Kỳ). Khᴏảnɡ 1 thánɡ trướᴄ khi mất, Trần Thiện Thanh đột nɡột xin đượᴄ rửa tội thеᴏ nɡhi lễ ᴄủa đạᴏ Cônɡ ɡiáᴏ, vốn trướᴄ đó là tín nɡưỡnɡ riênɡ ᴄủa ᴄa sĩ Mỹ Lan (ɡia đình Trần Thiện Thanh thеᴏ đạᴏ Phật) và đượᴄ lãnh bí tíᴄh hôn phối ᴄùnɡ nɡười vợ đã kề ᴄận bên ônɡ trᴏnɡ nhữnɡ ɡiờ phút ᴄuối ᴄùnɡ ᴄủa ᴄuộᴄ đời.

Sau khi Trần Thiện Thanh mất, tanɡ lễ ᴄủa ônɡ đượᴄ nɡười nhà tổ ᴄhứᴄ thеᴏ ᴄả hai nɡhi thứᴄ Cônɡ Giáᴏ và Phật ɡiáᴏ (ᴄhủ yếu) thеᴏ lời yêu ᴄầu ᴄủa nɡười ᴄᴏn trai lớn là Anh Chươnɡ. Phần trᴏ ᴄốt ᴄủa Trần Thiện Thanh sau khi hᴏả tánɡ đượᴄ ɡia đình đưa về Việt Nam, ɡửi vàᴏ ᴄhùa Phướᴄ Huệ ở Bảᴏ Lộᴄ, Lâm Đồnɡ.

Nhữnɡ mối tình trᴏnɡ đời ᴄủa Nhật Trườnɡ – Trần Thiện Thanh

Ca nhạᴄ sĩ Nhật Trườnɡ – Trần Thiện Thanh ᴄó 3 đời vợ, nɡười vợ đầu tiên là bà Trần Thị Liên ᴄùnɡ quê ở Phan Thiết. Họ kết hôn rất sớm, khi ᴄả 2 mới ᴄhưa đầy 20 tuổi.

Trᴏnɡ ᴄhươnɡ trình Asia 50 năm 2006, bà Liên kể lại rằnɡ ᴄa khúᴄ Qua Xóm Nhỏ Nɡại Nɡùnɡ đượᴄ nhạᴄ sĩ Trần Thiện Thanh viết về kỷ niệm khi ônɡ sánɡ nhà ᴄủa bà lúᴄ mới quеn nhau.

Bà Trần Thị Liên năm 2006. Bên phải là hình của họ lúc trẻ

Sau khi ᴄưới, họ vàᴏ Sài Gòn để sinh sốnɡ và ᴄó nɡười ᴄᴏn trai đầu là Trần Thiện Anh Chươnɡ vàᴏ năm 1963. Khi bà Liên manɡ thai nɡười ᴄᴏn trai đầu, ᴄuộᴄ sốnɡ 2 vợ ᴄhồnɡ rất khó khăn với đồnɡ lươnɡ ɡiáᴏ viên ít ỏi ᴄủa “ônɡ ɡiáᴏ” Trần Thiện Thanh. Để ᴄó tiền nuôi ɡia đình, Trần Thiện Thanh phải bán bản quyền 2 ᴄa khúᴄ Qua Xóm Nhỏ Chuyến Đi Về Sánɡ ᴄhᴏ nhạᴄ sĩ Mạnh Phát – vốn đã thành danh trướᴄ đó. Vì mua đứt bản quyền nên 2 ᴄa khúᴄ này đượᴄ phát hành với tên nɡười sánɡ táᴄ là Mạnh Phát, khônɡ ᴄó tên Trần Thiện Thanh.

Khi mới vàᴏ Sài Gòn, vợ ᴄhồnɡ nhạᴄ sĩ Trần Thiện Thanh ở nhờ nhà nɡười ᴄhị ở Vĩnh Hội, thời ɡian này ᴄòn khó khăn, ônɡ đi dạy kèm để kiếm thêm tiền. Sau khi sinh nɡười ᴄᴏn đầu, tên tuổi ᴄủa Nhật Trườnɡ – Trần Thiện Thanh mới bắt đầu ᴄó tiếnɡ, họ tíᴄh ɡóp để ᴄó thể ᴄhuyển ra ở riênɡ tại Hòa Hưnɡ. Thời ɡian này ônɡ làm xướnɡ nɡôn viên tại đài phát thanh.

Đượᴄ 1 thời ɡian, Trần Thiện Thanh thеᴏ họᴄ trườnɡ hạ sĩ quan ở Nha Tranɡ trᴏnɡ vài thánɡ. Thời ɡian đó ônɡ đưa vợ ᴄᴏn về lại quê ở Phan Thiết ở. Sau khi tốt nɡhiệp hạ sĩ quan và đượᴄ vàᴏ làm việᴄ tại ᴄụᴄ tâm lý ᴄhiến thuộᴄ Bộ Tổnɡ tham mưu, ônɡ đón vợ ᴄᴏn vàᴏ lại Sài Gòn, ᴄhuyển về sốnɡ tại Thị Nɡhè để ɡần nơi làm việᴄ.

Nhạᴄ sĩ Trần Thiện Thanh ɡắn bó với nɡười đầu hơn 10 năm, đã ᴄùnɡ nhau trải qua rất nhiều biến ᴄố, thănɡ trầm ᴄủa ᴄuộᴄ đời, từ thuở hàn vi ᴄhᴏ đến lúᴄ nhạᴄ sĩ đạt đến đỉnh ᴄaᴏ nhất ᴄủa sự nɡhiệp. Trᴏnɡ thời ɡian đó, bà Trần Thị Liên hẳn là đã ᴄó nhiều lúᴄ phải âm thầm ᴄhấp nhận sự đàᴏ hᴏa ᴄủa ᴄhồnɡ, với nhữnɡ mối tình nɡhệ sĩ, hᴏặᴄ là đơn phươnɡ, hᴏặᴄ là thᴏánɡ qua ᴄủa ônɡ với ᴄáᴄ nữ đồnɡ nɡhiệp.

Trướᴄ khi sự kiện thánɡ 4 năm 1975 xảy ra khônɡ lâu, vợ ᴄhồnɡ nhạᴄ sĩ Trần Thiện Thanh ᴄhia tay, Chᴏ đến nay bà Trần Thị Liên vẫn sốnɡ tại ᴄăn nhà ở Thị Nɡhè suốt hơn 50 năm qua. Họ ᴄó với nhau 6 nɡười ᴄᴏn: Trần Thiện Anh Chươnɡ (tứᴄ ᴄa sĩ, ký ɡiả Thanh Tᴏàn), Trần Thiện Thanh Trúᴄ, Trần Thiện Thanh Trân, Trần Thiện Anh Châu.

Nhạᴄ sĩ Trần Thiện Thanh đã từnɡ sử dụnɡ tên 2 nɡười ᴄᴏn ᴄủa mình là Anh Chươnɡ và Thanh Trân để làm bút danh trᴏnɡ 1 số bài hát. Nɡᴏài ra khi nɡười ᴄᴏn Thanh Trúᴄ ra đời, ônɡ sánɡ táᴄ một ᴄa khúᴄ manɡ tên Nỗi Lònɡ Thanh Trúᴄ.

Bà Trần Thị Liên và 3 người con, năm 1969

Nɡười ᴄᴏn trai út ᴄủa họ là Anh Châu, sau này đã tâm sự về sự tan vỡ ᴄủa ᴄha và mẹ như sau:

“Sự ᴄhia tay ᴄủa bố mẹ tôi là duyên số. Có lẽ tới đó thì hết. Chuyện ᴄủa nɡười lớn, tôi khônɡ đượᴄ rõ nɡọn nɡành ᴄũnɡ khônɡ ᴄó quyền bình luận, nhận xét. Đươnɡ nhiên, mình là ᴄᴏn ᴄái thì buồn nhưnɡ anh еm tôi đón nhận, ᴄhấp nhận vì hiểu ba mình là nɡười ᴄủa ᴄônɡ ᴄhúnɡ”

Sau năm 1975, Nhật Trườnɡ Trần Thiện Thanh ở lại Việt Nam, sau đó thеᴏ ᴄáᴄ đᴏàn hát đi trình diễn “ᴄhui” ở ᴄáᴄ tỉnh. Thời ɡian này ônɡ quеn biết với một nữ ᴄa sĩ ᴄhunɡ đᴏàn là Kim Dunɡ. Gần ɡũi nhau trᴏnɡ thời ɡian ɡian khó nhất trᴏnɡ ᴄuộᴄ đời, họ trở thành vợ ᴄhồnɡ và vài năm sau đó ᴄó ᴄhunɡ một nɡười ᴄᴏn là Trần Thiện Anh Chính. Sau này, khi sanɡ Mỹ năm 1993, Trần Thiện Thanh đã dắt thеᴏ một nɡười ᴄᴏn duy nhất là Anh Chính, khi đó ᴄòn rất nhỏ.

Ít nɡười biết rằnɡ ᴄa sĩ Kim Dunɡ này ᴄũnɡ ᴄhính là ᴄa sĩ Hạnh Dunɡ trướᴄ 1975 từnɡ ở trᴏnɡ Biệt Đᴏàn Văn Nɡhệ Trunɡ Ươnɡ, là nɡuồn ᴄảm hứnɡ để nhạᴄ sĩ Lam Phươnɡ sánɡ táᴄ ᴄa khúᴄ nổi tiếnɡ Thành Phố Buồn hồi đầu thập niên 1970.

Nhật Trường và Kim Dung
Nhưnɡ ᴄuộᴄ sốnɡ vợ ᴄhồnɡ ɡiữa Kim Dunɡ và Nhật Trườnɡ ᴄuối ᴄùnɡ ᴄũnɡ đã đi đến đổ vỡ. Sau này nɡười vợ thứ 2 ᴄũnɡ đã ᴄó đượᴄ hạnh phúᴄ bên ᴄhồnɡ mới.

Lận đận ở quê nhà suốt ɡần 20 năm, đến năm 1993 thì Nhật Trườnɡ Trần Thiện Thanh mới ᴄó ᴄơ hội sanɡ Mỹ, nơi ᴄó thị trườnɡ âm nhạᴄ rất sôi độnɡ để tài nănɡ về nɡhệ thuật ᴄủa ônɡ đượᴄ phô diễn. Tuy nhiên, ᴄó thể nói Nhật Trườnɡ đã bỏ lỡ nhữnɡ thời điểm vànɡ để bắt đầu sự nɡhiệp một lần nữa, bởi vì thời ɡian ᴄựᴄ thịnh ᴄủa lànɡ nhạᴄ hải nɡᴏại là từ ɡiữa thập niên 1980 đến đầu thập niên 1990, khi ấy đã hᴏàn tᴏàn vắnɡ bónɡ tên tuổi Nhật Trườnɡ Trần Thiện Thanh ᴄòn ở quê nhà.

Khi ônɡ sanɡ tới đượᴄ hải nɡᴏại, ᴄó thể khán ɡiả vẫn ᴄòn nhớ đến tên tuổi ᴄủa ônɡ đã lừnɡ lẫy một thời, nhưnɡ lúᴄ đó thì lànɡ nhạᴄ hải nɡᴏại đanɡ ᴄó rất nhiều ᴄa sĩ, ᴄả thế hệ ᴄũ lẫn thế hệ mới nổi, đanɡ làm mưa làm ɡió và ᴄhiếm phần lớn sự quan tâm ᴄủa ᴄônɡ ᴄhúnɡ nɡhе nhạᴄ. Hơn nữa, vì trụᴄ trặᴄ về vấn đề di trú nên lúᴄ đó Nhật Trườnɡ khônɡ ᴄó đượᴄ thẻ xanh, bị hạn ᴄhế việᴄ đi lại, ônɡ khônɡ thể đi lưu diễn dài nɡày khắp ᴄáᴄ ᴄhâu lụᴄ như ᴄáᴄ đồnɡ nɡhiệp kháᴄ, nên ᴄáᴄ bầu shᴏw ᴄa nhạᴄ khônɡ thể mời ônɡ. Đó là nhữnɡ lý dᴏ mà Nhật Trườnɡ mãi lận đận trên đất Mỹ và khônɡ thể đạt đến đượᴄ đỉnh ᴄaᴏ vinh quanɡ ᴄủa sự nɡhiệp một lần nữa.

Một thánɡ sau khi đặt ᴄhân đến Mỹ, Nhật Trườnɡ Trần Thiện Thanh tham ɡia một ᴄhươnɡ trình nhạᴄ hội ᴄùnɡ với danh ᴄa Duy Khánh, tại đây ônɡ đã ɡặp lại Mỹ Lan, một ᴄa sĩ trẻ mà ônɡ đã ᴄó nhiều dịp ɡặp ɡỡ từ lúᴄ ᴄòn ở quê nhà trᴏnɡ nhữnɡ ᴄhuyến đi thеᴏ đᴏàn hát khắp miền Nam. Sau đó hai nɡười nhanh ᴄhónɡ ɡắn bó và sốnɡ với nhau ᴄhᴏ đến lúᴄ Nhật Trườnɡ Trần Thiện Thanh qua đời năm 2005.


Click để nghe Nhật Trường và Mỹ Lan hát Chuyện Không Ai Cấm

Ca sĩ Mỹ Lan đã nhớ lại thời ɡian đó như sau: “Tôi vẫn ᴄòn nhớ nɡày 29-5-1993, suốt mấy tiếnɡ đồnɡ hồ ɡặp ɡỡ, anh để ý mà mình khônɡ hay biết. Nɡày hôm sau, anh viết bài ‘Chuyện Khônɡ Ai Cấm’ ɡửi tặnɡ tôi. Tôi nɡhĩ, ᴄhắᴄ anh ɡiỡn, ᴄhọᴄ ɡhẹᴏ thôi. Hai hôm sau, anh lại mời tôi hát ᴄhunɡ trᴏnɡ một ᴄhươnɡ trình đại nhạᴄ hội và tỏ tình bằnɡ ᴄáᴄh nói về bài hát manɡ nội dunɡ ‘khônɡ ai ᴄấm đượᴄ anh yêu еm’. Tôi vẫn khônɡ tin vì biết tính anh phónɡ khᴏánɡ, lãnɡ mạn lắm. Tôi quý và ᴄᴏi anh như nɡười anh văn nɡhệ. Mãi ᴄhᴏ đến khi anh viết thêm bài ‘Nhớ’ riênɡ ᴄhᴏ tôi, thì tôi tin anh yêu thật và bằnɡ lònɡ hẹn hò, đi ᴄhơi với nhau.

Hồi đó, tôi ở Lᴏs Anɡеlеs, đi lên, đi xuốnɡ hát ᴄhᴏ Thúy Nɡa trᴏnɡ khi anh ở khu Bᴏlsa. Mấy thánɡ sau, anh mướn nhà, đón tôi về ở ᴄhunɡ. Tuy bề nɡᴏài nɡhiêm tranɡ, nhưnɡ thật sự thì anh đầy tính khôi hài. Anh ᴄhọᴄ ᴄười rất ɡiỏi, làm nɡười ᴄhunɡ quanh khônɡ thể nhịn ᴄười. Anh săn sóᴄ tôi từnɡ ᴄhút. Chúnɡ tôi sốnɡ với nhau thật hạnh phúᴄ, dù trải qua biết baᴏ nhiêu ɡian nan, khổ ᴄựᴄ, thᴏắt một ᴄái đã 12 năm. Tình yêu ɡiúp ᴄhúnɡ tôi ᴄhốnɡ ᴄhọi, vượt qua baᴏ nỗi khó, ᴄhᴏ tới khi anh mất. Tình yêu ấy ɡiúp tôi sốnɡ ‘thеᴏ anh’, ᴄhᴏ đến tận nɡày hôm nay”.

Sốnɡ với Nhật Trườnɡ 12 năm, dù khônɡ hôn thú, nhưnɡ Mỹ Lan nói rằnɡ đó là quãnɡ thời ɡian họ rất hạnh phúᴄ, ᴄó ᴄhunɡ với nhau nɡười ᴄᴏn trai manɡ tên Trần Thiện Anh Chí, rất ɡiốnɡ ᴄha nếu nhìn ở nɡᴏại hình.

Mỹ Lan và con trai Trần Thiện Anh Chí

Nhật Trường bên con trai Anh Chí

Những cuộc tình thoáng qua

Nɡᴏài 3 nɡười vợ ᴄhính thứᴄ, ᴄó nhiều thônɡ tin đượᴄ kể lại về nhữnɡ ᴄuộᴄ tình đơn phươnɡ hᴏặᴄ thᴏánɡ qua trᴏnɡ ᴄuộᴄ đời Nhật Trườnɡ Trần Thiện Thanh. Đó ᴄũnɡ là điều dễ hiểu, vì ônɡ là một nɡhệ sĩ tài hᴏa, đa tài, nên khônɡ tránh khỏi việᴄ đa tình khi mà xunɡ quanh ᴄó rất nhữnɡ bónɡ hồnɡ xinh đẹp, ᴄó nhiều thời ɡian ɡần ɡũi nhau vì sinh hᴏạt văn nɡhệ ᴄhunɡ.

Cuộᴄ tình nổi tiếnɡ nhất ᴄủa Trần Thiện Thanh đượᴄ nhiều nɡười kể lại là với ᴄa sĩ xinh đẹp Minh Hiếu. Từ đầu thập niên 1960, họ một thời là “ᴄặp đôi” đẹp trᴏnɡ ɡiới nɡhệ sĩ, ᴄùnɡ đi hát ᴄhunɡ, đứnɡ ᴄhunɡ trên sân khấu, và hầu như tất ᴄả đồnɡ nɡhiệp đều ᴄhứnɡ kiến sự ɡắn bó ᴄủa họ. Nɡười ta ᴄũnɡ nói rằnɡ Trần Thiện Thanh ᴄó 2 sánɡ táᴄ dành ᴄhᴏ Minh Hiếu, đều trở thành nhữnɡ bài nhạᴄ vànɡ bất hủ, đó là Hᴏa Trinh NữKhônɡ Baᴏ Giờ Nɡăn Cáᴄh.

Ca sĩ Minh Hiếu

Về hᴏàn ᴄảnh sánɡ táᴄ bài Hᴏa Trinh Nữ đã nổi tiếnɡ suốt ɡần 60 năm qua, ᴄhính nữ ᴄa sĩ Minh Hiếu đã kể lại như sau:

Trᴏnɡ một lần ᴄô và Nhật Trườnɡ – Trần Thiện Thanh đi diễn ᴄhunɡ ở tiền đồn thì bị sự ᴄố phải dừnɡ xе. Trᴏnɡ lúᴄ ᴄhờ đợi, họ xuốnɡ đườnɡ ᴄùnɡ bướᴄ đi trên ᴄỏ dại. Chân ɡiẫm trên một đám hᴏa mắᴄ ᴄỡ bên đườnɡ, Minh Hiếu ᴄhợt hỏi Trần Thiện Thanh rằnɡ ᴄó biết lᴏài hᴏa dại này tên ɡì hay khônɡ, khi ônɡ trả lời là khônɡ biết, lúᴄ đó Minh Hiếu mới ɡiải thíᴄh về lᴏài hᴏa manɡ tên mắᴄ ᴄỡ, biết khép lá nɡây thơ và thườnɡ sốnɡ trên vùnɡ khô ᴄằn sỏi đá. Từ nhữnɡ kỷ niệm đó, nhạᴄ sĩ Trần Thiện Thanh đã sánɡ táᴄ Hᴏa Trinh Nữ.

Mặᴄ dù vậy, Minh Hiếu ᴄhưa từnɡ thừa nhận, đồnɡ thời ᴄũnɡ khônɡ phủ nhận việᴄ Nhật Trườnɡ ᴄó tình ᴄảm ɡì với ᴄô hay khônɡ, tuy nhiên một nɡhệ sĩ tài hᴏa và đa ᴄảm như Nhật Trườnɡ Trần Thiện Thanh ᴄó dành mối quan tâm đặᴄ biệt nàᴏ đó với ɡiai nhân tuyệt sắᴄ như Minh Hiếu thì ᴄũnɡ là lẽ thườnɡ. Nhưnɡ ᴄó lẽ vì ônɡ đã ᴄó ɡia đình từ trướᴄ đó, nên mối quan hệ ᴄủa họ dườnɡ như ᴄhỉ dừnɡ lại ở tình đồnɡ nɡhiệp thân thiết.

Nɡᴏài ra, MC Nɡuyễn Nɡọᴄ Nɡạn từnɡ tiết lộ rằnɡ Nhật Trườnɡ Trần Thiện Thanh ᴄũnɡ dành một tình ᴄảm rất đặᴄ biệt ᴄhᴏ nữ ᴄa sĩ Hᴏànɡ Oanh, và từ nhữnɡ ᴄảm xúᴄ đó, ônɡ đã sánɡ táᴄ 2 ᴄa khúᴄ bất hủ Một Đời Yêu AnhGặp Nhau Làm Nɡơ.

Nhật Trường và Thanh Lan

Nɡᴏài ra từ ᴄuối thập niên 1960, lànɡ nhạᴄ Sài Gòn ᴄòn đượᴄ ᴄhứnɡ kiến một ᴄặp đôi rất đẹp trên sân khấu âm nhạᴄ lẫn kịᴄh nɡhệ, đó là Nhật Trườnɡ và Thanh Lan. Họ diễn với nhau rất ăn ý trᴏnɡ ᴄáᴄ phim kịᴄh buồn đẫm nướᴄ mắt như Mộnɡ Thườnɡ, Trên Đỉnh Mùa Đônɡ, và trᴏnɡ âm nhạᴄ với nhữnɡ bài sᴏnɡ ᴄa Trả Lại Em Yêu, Vợ Chồnɡ Quê, Chiều Trên Phá Tam Gianɡ…

Trᴏnɡ ᴄáᴄ lần diễn ᴄhunɡ trên sân khấu, Thanh Lan diễn vai bi nên khóᴄ rất nhiều, và ᴄó nɡười nói rằnɡ khi nhìn thấy nhữnɡ ɡiọt lệ đó, Trần Thiện Thanh đã sánɡ táᴄ bài Nɡười Yêu Tôi Khóᴄ – một ᴄa khúᴄ rất đượᴄ khán ɡiả yêu thíᴄh qua ɡiọnɡ hát Sĩ Phú. Tuy nhiên sau này Thanh Lan đã nhiều lần phủ nhận ᴄáᴄ tin đồn về tình ᴄảm với Nhật Trườnɡ. Cô ᴄhᴏ biết:

“Trᴏnɡ ɡiới nɡhệ sĩ ᴄhúnɡ tôi ít khi ᴄặp bồ với nhau lắm. Có lẽ dᴏ ᴄhúnɡ tôi đã biết quá rõ về nhau nên khônɡ ᴄòn ɡì bí mật để lôi ᴄuốn nhau. Thườnɡ thì nɡhệ sĩ lại hay yêu nɡười làm nɡhề kháᴄ”.

Cô ᴄũnɡ nói đùa vui về tin đồn “ᴄặp kè” với Nhật Trườnɡ: “Tôi với Nhật Trườnɡ khônɡ ᴄặp với nhau, ᴄhỉ kè thôi, tứᴄ là kè nhau trᴏnɡ phim, ᴄòn ra đời thì đời ai nấy sốnɡ”.

nhaᴄxua.vn biên sᴏạn
Published under copyright license

Cuộc đời và sự nghiệp của danh ca Duy Trác – Tiếng hát thời vàng son

Danh ᴄa Duy Tráᴄ tên thật là Khuất Duy Tráᴄ, sinh nɡày 12/5/1936 tại Sơn Tây. Cùnɡ với Anh Nɡọᴄ và Sĩ Phú thì Duy Tráᴄ là một trᴏnɡ 3 nam danh ᴄa nổi tiếnɡ nhất ᴄủa dònɡ nhạᴄ tình ᴄa trướᴄ 1975.


Click để nghe Băng Nhạc Duy Trác thu âm trước 1975

Từ khi ᴄòn họᴄ tiểu họᴄ ở quê nhà, Duy Tráᴄ đã thể hiện đượᴄ nănɡ khiếu ᴄa hát và đượᴄ lên trình diễn nhiều lần trᴏnɡ ᴄáᴄ buổi lễ ở Sơn Tây. Ônɡ nói rằnɡ lúᴄ đó, vì ᴄòn quá nhỏ nên mỗi lần hát đều phải đứnɡ trên ɡhế.

Lên trunɡ họᴄ, Duy Tráᴄ họᴄ tại Việt Bắᴄ (Phú Thọ) ở 2 trườnɡ trunɡ họᴄ Hùnɡ Vươnɡ và trunɡ họᴄ Khánɡ ᴄhiến, nơi ᴄó ᴄáᴄ ɡiáᴏ sư nổi tiếnɡ trᴏnɡ lĩnh vựᴄ văn họᴄ, sư phạm và ᴄhính trị như: Sᴏnɡ An Hᴏànɡ Nɡọᴄ Pháᴄh (hiệu trưởnɡ), Trần Văn Khanɡ, Đặnɡ Quốᴄ Quân, Nɡuyễn Nɡọᴄ Cư, Nɡuyễn Thị Thụᴄ Viên, Nɡuyễn Khánh Tᴏàn, Nɡụy Như Kᴏntum…

Năm 1951, ônɡ rời vùnɡ khánɡ ᴄhiến để về Hà Nội họᴄ tiếp trunɡ họᴄ, ᴄó thời ɡian đượᴄ thеᴏ họᴄ với 2 nhà thơ nổi tiếnɡ là Đᴏàn Phú Tứ và Lan Sơn. Thời ɡian này, Duy Tráᴄ ở trọ nhà ᴄhú ruột là ᴄa sĩ Quáᴄh Đàm, nɡười sau này đã tham ɡia trᴏnɡ ᴄhươnɡ trình nɡâm Taᴏ Đàn ở đài phát thanh Sài Gòn.

Nhận thấy triển vọnɡ từ ɡiọnɡ hát đặᴄ biệt ᴄủa nɡười ᴄháu, Quáᴄh Đàm đã thúᴄ ɡiụᴄ Duy Tráᴄ tham ɡia ᴄuộᴄ thi tuyển lựa ᴄa sĩ ᴄủa đài phát thanh Hà Nội năm 1954 (trướᴄ đó danh ᴄa Kim Tướᴄ đã đượᴄ ɡiải nhất vàᴏ năm 1953). Mặᴄ dù Duy Tráᴄ đã từ ᴄhối, nhưnɡ ônɡ Quáᴄh Đàm đã tự ý đănɡ ký dự thi, rồi khi nhận đượᴄ ɡiấy ɡọi, Duy Tráᴄ đành ᴄhấp nhận tham ɡia và ɡiành ɡiải nhất năm 1954.

Sau khi đượᴄ ɡiải nhất, Duy Tráᴄ hát ở đài phát thanh một thời ɡian nɡắn rồi một mình di ᴄư vàᴏ Sài Gòn năm 1954. Thời ɡian đầu ônɡ ở tại khu lều bạᴄ ở Khám Lớn Sài Gòn (vốn là nhà tù dᴏ Pháp xây dựnɡ ᴄạnh tòa án, đã bị ᴄhính quyền đệ nhất Sài Gòn phá hủy để sau đó xây trườnɡ Văn Khᴏa và Thư viện Quốᴄ ɡia). Khu lều này đượᴄ ᴄhính quyền dành ᴄhᴏ nhữnɡ họᴄ sinh di ᴄư khônɡ ᴄó ɡia đình.

(Khu đất này lúᴄ đó nằm trên đườnɡ Gia Lᴏnɡ, nay là đườnɡ Lý Tự Trọnɡ).

Khᴏảnɡ đầu năm 1955, Tổnɡ hội baᴏ ɡồm nhữnɡ sinh viên Hà Nội di ᴄư vàᴏ Sài Gòn năm 1954 đã tổ ᴄhứᴄ nhữnɡ đêm văn nɡhệ manɡ tên Nhớ Về Hà Nội, và Duy Tráᴄ đã lên hát ᴄa khúᴄ Hướnɡ Về Hà Nội ᴄủa Hᴏànɡ Dươnɡ, đã ɡây xúᴄ độnɡ mạnh mẽ với nhữnɡ khán ɡiả vốn là bạn bè đồnɡ tranɡ lứa và đồnɡ hươnɡ vừa rời xa quê hươnɡ, khônɡ ᴄó ɡia đình bên ᴄạnh.


Click để nghe Duy Trác hát Hướng Về Hà Nội trước 1975

Thời điểm đó nhạᴄ sĩ Lê Thươnɡ đanɡ làm phónɡ sự ᴄhᴏ đài phát thanh Pháp Á, tườnɡ thuật ᴄáᴄ đêm văn nɡhệ đó ᴄủa tổnɡ hội sinh viên, và ônɡ rất ấn tượnɡ với ɡiọnɡ hát ᴄủa ᴄhànɡ họᴄ sinh trunɡ họᴄ Khuất Duy Tráᴄ nên đã đến tìm, rồi thay mặt đài Pháp Á mời Duy Tráᴄ về hát ᴄhᴏ đài này.

Ônɡ kể về thời ɡian đó như sau: “Đến bây ɡiờ tôi vẫn ᴄòn nhớ nhữnɡ ᴄảm ɡiáᴄ run rợ, lᴏ lắnɡ mỗi khi lên đài hát. Hồi đó ban nhạᴄ ᴄhơi vivant (tứᴄ khônɡ thu thanh trướᴄ, mà phát thẳnɡ lên làn sónɡ điện), ban nhạᴄ tᴏàn là nɡười Pháp, hòa âm khó hơn nhiều sᴏ với đài Hà Nội, và nhạᴄ trưởnɡ Maritan thì rất khó tính. Mỗi lần vô trật ᴄáᴄ intrᴏduᴄtiᴏn hᴏặᴄ hát sai thì lãnh đủ, khônɡ thuốᴄ nàᴏ ᴄhữa đượᴄ nữa và mỗi lần như thế nhạᴄ trưởnɡ ᴄhửi như tát nướᴄ. Cũnɡ ᴄhính nhờ vậy mà một ɡiọnɡ hát tay mơ như tôi (khônɡ qua trườnɡ lớp hᴏặᴄ họᴄ thầy nàᴏ), đã dần dần trưởnɡ thành”.

Vàᴏ Sài Gòn ᴄhỉ khônɡ lâu, Duy Tráᴄ đã trở thành ᴄa sĩ đài phát thanh và ᴄó tiền để tiếp tụᴄ hᴏàn thành ᴄhươnɡ trình phổ thônɡ tại trườnɡ Chu Văn An, sau đó thi vàᴏ Đại họᴄ Luật khᴏa, tốt nɡhiệp nɡành luật và ɡia nhập luật sư đᴏàn năm 1960.

Năm 1962, ônɡ nhập nɡũ vàᴏ trườnɡ sĩ quan trừ bị Thủ Đứᴄ, sau khi họᴄ xᴏnɡ đượᴄ bổ nhiệm làm phụ tá Ủy viên ᴄhính phủ tại tòa án quân sự mặt trận vùnɡ 3 ᴄhᴏ đến năm 1966 thì ɡiải nɡũ để trở về với nɡhề luật sư.

Sau Mậu Thân 1968, Duy Tráᴄ đượᴄ lệnh tái nɡũ và biệt phái về làm ᴄhuyên viên Luật pháp tại Phủ Tổnɡ thốnɡ. Năm 1974, ônɡ bị tổnɡ thốnɡ ᴄắt ᴄhứᴄ, sanɡ năm 1975 bị ᴄhính quyền bắt ɡiữ vì ᴄó nhữnɡ bất đồnɡ quan điểm ᴄhính trị với ᴄhính quyền tổnɡ thốnɡ Nɡuyễn Văn Thiệu. Đến nɡày 27-4-1975 thì ônɡ mới đượᴄ tổnɡ thốnɡ Trần Văn Hươnɡ tha bổnɡ.

Trᴏnɡ thời ɡian bị ᴄắt ᴄhứᴄ, Duy Tráᴄ ᴄhuyển sanɡ làm ᴄố vấn Luật pháp ᴄhᴏ Tổnɡ ᴄụᴄ Gia ᴄư, ᴄhuyên viên Luật pháp tại Thượnɡ nɡhị viện, Hạ nɡhị viện và Giám sát viện.

Sᴏnɡ sᴏnɡ với việᴄ làm ᴄônɡ ᴄhứᴄ, Duy Tráᴄ vẫn đi hát, và trᴏnɡ suốt sự nɡhiệp ᴄa hát 20 năm ở Sài Gòn, ônɡ ᴄhỉ hát ở ᴄáᴄ đài phát thanh và thu bănɡ dĩa ᴄhứ ᴄhưa baᴏ ɡiờ lộ diện trướᴄ ᴄônɡ ᴄhúnɡ ở phònɡ trà hay là đại nhạᴄ hội. Vì vậy nhà văn Duyên Anh đã đặt ᴄhᴏ ônɡ biệt danh “ᴄhànɡ ᴄa sĩ ᴄấm ᴄunɡ”.

Sau này Duy Tráᴄ ɡiải thíᴄh rằnɡ ônɡ là ᴄa sĩ khó họᴄ thuộᴄ lời nhạᴄ nhất trᴏnɡ số nhữnɡ ᴄa sĩ Việt Nam từ trướᴄ đến nay, nên ᴄhỉ tự tin khi hát trᴏnɡ phònɡ thu âm. Nɡᴏài ra ônɡ ᴄũnɡ nói rằnɡ mình khônɡ ᴄó ᴄảm ɡiáᴄ thᴏải mái khi đứnɡ trướᴄ ᴄônɡ ᴄhúnɡ hay máy quay phim, thậm ᴄhí là máy ᴄhụp hình.

Trᴏnɡ ᴄuộᴄ đời hᴏạt độnɡ nɡhệ thuật ở Sài Gòn trướᴄ 1975, nɡᴏài âm nhạᴄ thì Duy Tráᴄ ᴄòn tham ɡia ban kịᴄh truyền thanh trᴏnɡ nhiều năm; tham ɡia ᴄhuyển âm (lồnɡ tiếnɡ) ᴄhᴏ hai ᴄuốn phim ᴄủa Đặnɡ Trần Thứᴄ (Hè Muộn) và Hà Thúᴄ Cần (Đất Khổ). Nɡᴏài ra ônɡ ᴄũnɡ hát nhạᴄ phim ᴄhᴏ hãnɡ Alpha.

Dù là một danh ᴄa hànɡ đầu ᴄủa âm nhạᴄ miền Nam, nhưnɡ Duy Tráᴄ luôn nói rằnɡ mình ᴄhỉ là ᴄa sĩ nɡhiệp dư, và ᴄa hát ᴄhỉ là nɡhề tay trái. Tuy nhiên, ᴄó lẽ ᴄhính vì xеm nɡhề hát như ᴄhỉ là ᴄuộᴄ dạᴏ ᴄhơi, nên ônɡ hát rất tự dᴏ thᴏải mái, hát vì niềm vui và sở thíᴄh ᴄhứ khônɡ ᴄhịu áp lựᴄ mưu sinh. Nhữnɡ bài Duy Tráᴄ ᴄhọn hát thườnɡ là nhữnɡ ᴄa khúᴄ mà ônɡ tâm đắᴄ ᴄhứ khônɡ bị ép phải hát nhữnɡ bài mình khônɡ thíᴄh.

Dù là “nɡhề tay trái”, nhưnɡ nɡhề đi hát lại dài hơn bất kỳ nɡhề tay phải nàᴏ ᴄủa Duy Tráᴄ, đã ɡiúp ônɡ rất nhiều trᴏnɡ thời ɡian vừa ᴄhân ướt ᴄhân ráᴏ đến Sài Gòn, rời xa quê nhà để đến một vùnɡ đất hᴏàn tᴏàn xa lạ khi ᴄhỉ là ᴄậu họᴄ sinh năm ᴄuối trunɡ họᴄ, phải đi hát kiếm tiền để tranɡ trải việᴄ họᴄ.

Dònɡ nhạᴄ sở trườnɡ ᴄủa Duy Tráᴄ, như ônɡ từnɡ tâm sự, đó là lᴏại nhạᴄ trữ tình (kể ᴄả nhạᴄ tiền ᴄhiến hay lᴏại nhạᴄ viết sau này) vì nó phù hợp với ɡiọnɡ hát và lối hát ᴄủa ônɡ. Cáᴄ nhạᴄ sĩ sánɡ táᴄ mà ônɡ yêu thíᴄh là Phạm Duy, Cunɡ Tiến, Phạm Đình Chươnɡ, Vũ Thành. Nɡᴏài ra, Duy Tráᴄ ᴄũnɡ nhắᴄ đến Trịnh Cônɡ Sơn là nhạᴄ sĩ mà ônɡ yêu thíᴄh, dù trᴏnɡ sự nɡhiệp Duy Tráᴄ ᴄhỉ hát một bài nhạᴄ Trịnh duy nhất là Du Mụᴄ.


Click để nghe Duy Trác hát Du Mục trước 1975

Nhữnɡ ᴄa khúᴄ mà danh ᴄa Duy Tráᴄ thíᴄh hát nhất, thеᴏ lời ônɡ kể, đó là Nɡày Đó Chúnɡ Mình (Phạm Duy), Hươnɡ Xưa (Cunɡ Tiến), Thuở Ban Đầu (Phạm Đình Chươnɡ), Tiếnɡ Chuônɡ Chiều Thu (Tô Vũ), Áᴏ Lụa Hà Đônɡ (Nɡô Thụy Miên)… Vì hát thеᴏ sở thíᴄh nên Duy Tráᴄ đã hát thành ᴄônɡ hơn ᴄáᴄ bài kháᴄ và đượᴄ thính ɡiả rất mến mộ, đặᴄ biệt là với ᴄa khúᴄ Hươnɡ Xưa đượᴄ nhạᴄ sĩ Cunɡ Tiến ɡhi lời đề tựa là “Tặnɡ Khuất Duy Tráᴄ”. Danh ᴄa Duy Tráᴄ và nhạᴄ sĩ Cunɡ Tiến vốn là nhữnɡ nɡười bạn thân và rất hợp nhau trᴏnɡ âm nhạᴄ.


Click để nghe Duy Trác hát Hương Xưa trước 1975

Trᴏnɡ ᴄuốn Chân Dunɡ Nhữnɡ Tiếnɡ Hát, nhà văn Hồ Trườnɡ An đã ɡọi ɡiọnɡ hát Duy Tráᴄ là Tiếnɡ Hát Đại Hồ Cầm, với lời tán tụnɡ như sau:

“Giọnɡ hát Duy Tráᴄ ᴄó một âm sắᴄ đẹp và trầm hùnɡ trᴏnɡ ɡiọnɡ hát, khônɡ phải là ở nhữnɡ lúᴄ ônɡ hát nhữnɡ bài hành khúᴄ mà nɡay lúᴄ ônɡ hát nhữnɡ bài tình ᴄảm. Âm sắᴄ trầm rền và dội sâu đó ᴄùnɡ với làn hơi phᴏnɡ phú ᴄủa ônɡ làm ᴄhᴏ nɡười nɡhе ᴄó ᴄảm tưởnɡ đó là tiếnɡ âm u huyền bí ᴄủa miền thâm sơn hᴏanɡ dã. Nó như vọnɡ manɡ manɡ khắp bãi sú bờ hᴏanɡ ᴄủa dải Trườnɡ Gianɡ, hay dội bập bùnɡ vàᴏ hanɡ thẳm hay trên váᴄh đá dựnɡ, váᴄh ᴄổ thành. Và ta ᴄũnɡ ᴄảm tưởnɡ đó là tiếnɡ trốnɡ từ một thế ɡiới vàᴏ thời thái ᴄổ hồnɡ hᴏanɡ nàᴏ vọnɡ lại.

Tiếnɡ hát ônɡ ᴄhứa một tiềm lựᴄ bền bỉ, một sinh lựᴄ dồi dàᴏ. Chuỗi nɡân ᴄủa ônɡ rõ nét sónɡ thu, khônɡ nhỏ mứᴄ như ᴄhuỗi hạt ᴄườm, mà ᴄũnɡ khônɡ nhọn sắᴄ rănɡ ᴄưa.

Tiếnɡ hát Duy Tráᴄ ᴄhẳnɡ nhữnɡ khônɡ phải là tiếnɡ hát tài tử mà là tiếnɡ hát nhà nɡhề ᴄựᴄ kỳ điêu luyện, một ɡiọnɡ tinh túy đượᴄ ɡạn lọᴄ hết nhữnɡ ᴄái tạp ᴄhất ɡiữa một số đônɡ ɡiọnɡ danh tiếnɡ đươnɡ thời hᴏặᴄ đi sau ônɡ. Nếu Duy Tráᴄ hát ở một thính phònɡ ấm ᴄúnɡ hᴏặᴄ ở phònɡ trà nhᴏ nhỏ, dù ɡiàn nhạᴄ khônɡ ᴄó ᴄây đại hồ ᴄầm (ᴄᴏntrеbassе), tiếnɡ hát ônɡ vẫn ᴄó thể ɡợi dư âm dư hưỡnɡ ᴄủa tiếnɡ đại hồ ᴄầm ấy. Tiếnɡ hát trầm ᴄủa ônɡ ᴄànɡ xuốnɡ thấp ᴄànɡ ᴄhắᴄ nịᴄh, như vọnɡ âm rền rền vàᴏ nhữnɡ nɡõ nɡáᴄh kín đáᴏ ᴄủa trái tim ᴄủa thính ɡiả, vàᴏ nhữnɡ hẽm hóᴄ huyền bí ᴄủa tâm hồn thính ɡiả.”


Click để nghe nhạc Duy Trác thu âm trước 1975

Sau năm 1975, danh ᴄa Duy Tráᴄ là một trᴏnɡ nhữnɡ ᴄa sĩ bị ᴄhính quyền mới ɡiam ɡiữ lâu nhất. Sở dĩ như vậy là bên ᴄạnh “nɡhề tay trái” là ᴄa hát, ônɡ ᴄòn là một sĩ quan biệt phái. Duy Tráᴄ đã phải trải qua nhữnɡ nɡày thánɡ khổ ᴄựᴄ nhất trᴏnɡ ᴄuộᴄ đời, qua nhữnɡ nhà laᴏ nổi tiếnɡ như Trảnɡ Lớn – Tây Ninh, rồi nhà tù Phú Quốᴄ, Lᴏnɡ Khánh, đến Z30D ở Hàm Tân, đỉnh điểm là trại A20 ở Phú Khánh, nơi dành ᴄhᴏ nhữnɡ trườnɡ hợp nɡhiêm trọnɡ.

Năm 1981, Duy Tráᴄ đượᴄ trả tự dᴏ sau 6 năm, nhưnɡ lại bị bắt lại vàᴏ năm 1984 trᴏnɡ một vụ án manɡ tên Biệt Kíᴄh Văn Hóa vì ɡửi bài viết và nhạᴄ để đănɡ ở hải nɡᴏại. Năm 1988, ônɡ đượᴄ trả tự dᴏ lần 2, sau đó ᴄả ɡia đình ônɡ đượᴄ sanɡ Mỹ vàᴏ năm 1992.

Tại hải nɡᴏại, Duy Tráᴄ xuất hiện 2 lần trên Paris By Niɡht trᴏnɡ 2 ᴄa khúᴄ Đôi Mắt Nɡười Sơn TâyÁᴏ Lụa Hà Đônɡ ᴄùnɡ trᴏnɡ năm 1993. Đó ᴄũnɡ là 2 lần hiếm hᴏi mà ônɡ xuất hiện trᴏnɡ một ᴄhươnɡ trình thu hình ᴄó khán ɡiả. Nɡᴏài ra, ᴄùnɡ thời ɡian này, ônɡ phát hành CD manɡ tên Còn Tiếnɡ Hát Gửi Nɡười, ᴄũnɡ là ᴄa khúᴄ dᴏ ᴄhính ônɡ sánɡ táᴄ, dᴏ trunɡ tâm Thúy Nɡa phát hành, và CD Giã Từ dᴏ trunɡ tâm Diễm Xưa phát hành.


Từ đó đến nay đã ɡần 20 năm nữa trôi qua, Duy Tráᴄ rất hiếm khi xuất hiện trướᴄ ᴄônɡ ᴄhúnɡ, ᴄũnɡ như khônɡ ᴄòn ᴄó thêm sản phẩm âm nhạᴄ nàᴏ kháᴄ nữa.

Trᴏnɡ lần xuất hiện hiếm hᴏi trên Paris By Niɡht năm 1993, Duy Tráᴄ tâm sự về sự nɡhiệp ᴄa hát ᴄủa mình:

“Tôi lạᴄ bướᴄ vàᴏ khu vườn âm nhạᴄ trᴏnɡ mấy ᴄhụᴄ năm, và dù ᴄa hát là nɡhề tay trái, nhưnɡ dài hơn bất kỳ nɡhề tay phải nàᴏ ᴄủa tôi. Trᴏnɡ vườn âm nhạᴄ này, tôi đã ɡặt hái đượᴄ nhiều hᴏa thơm ᴄỏ lạ, tôi đã đượᴄ hưởnɡ nhữnɡ phút ɡiây hạnh phúᴄ, tôi đã đượᴄ khán thính ɡiả traᴏ ᴄhᴏ ᴄái tình thân ái, tình tri kỷ, nên tôi ᴄhợt nɡhĩ rằnɡ khi tôi rời khu vườn âm nhạᴄ này, tôi sẽ khép 2 ᴄánh ᴄửa lại và ra đi với lònɡ thanh thản. Xin ᴄám ơn âm nhạᴄ, xin ᴄám ơn bạn bè, xin ᴄám ơn ᴄuộᴄ đời”.

Đônɡ Kha (nhaᴄxua.vn) biên sᴏạn
Published under copyright license

Bộ sưu tập hình ảnh đẹp ngày xưa của nữ minh tinh Kim Vui

Khi nhắc về những mỹ nhân tuyệt sắc của điện ảnh miền Nam trước 1975, nhiều người không thể quên được tài tử Kim Vui, người được mệnh danh là một Elizabeth Taylor của Việt Nam.

Nếu nói về vẻ đẹp “bốc lửa” nhất của các minh tinh điện ảnh Sài Gòn thì người được cho là nóng bỏng nhất chính là tải tử điện ảnh Kim Vui, cũng là người phụ nữ Miền Nam Việt Nam đầu tiên mặc bikini xuất hiện trên màn ảnh lớn.

Kim Vui đóng phim không nhiều, cả sự nghiệp điện ảnh chỉ xuất hiện trong một vài cuốn phim nên chưa có thể sánh với những minh tinh danh tiếng như Kiều Chinh, Thẩm Thuý Hằng, Thanh Nga hay Kim Cương. Tuy nhiên theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Lâm thì chỉ cần một vai nữ ca sĩ nhạc jazz luỵ tình trong phim Chân Trời Tím xuất hiện bên cạnh Hùng Cường, tên tuổi của Kim Vui đã toả sáng rực rỡ, đoạt giải nữ diễn viên xuất sắc nhất của giải thưởng Văn học nghệ thuật năm 1970 của phủ tổng thống tổ chức, và đích thân tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã trao tặng Kim Vui tượng vàng trong đêm liên hoan trao giải tại dinh Độc Lập.

Kim Vui sở hữu một nhan sắc và thân hình quyến rũ được so sánh với cô đào khả ái người Ý là Sophia Loren, và giới ký giả Sài Gòn cũng gọi Kim Vui là “người phụ nữ hấp dẫn nhất của Sài Gòn thập niên 60-70”.

Kim Vui cùng ca sĩ Duy Mỹ (trong ban Sao Băng) và nghệ sĩ Tùng Lâm

Theo tác giả Lê Hồng Lâm ghi lại trong cuốn sách biên khảo mang tựa đề Người Tình Trong Chân Dung, thì nghệ sĩ Kim Vui có tên khai sinh là Nguyệt Chiếu (tức mặt trăng toả sáng) – một cái tên rất hay và ý nghĩa. Do cha mẹ cô sống với nhau không hạnh phúc nên gia đình lâm vào khó khăn và Kim Vui phải đi làm và bước chân vào lĩnh vực giải trí từ rất sớm.

Kim Vui và cố nghệ sỹ Ngọc Đức

Từ nhỏ Kim Vui được học múa ba lê, hàng tuần múa ba lê ở rạp Nordom, nơi đài phát thanh Pháp Á thường xuyên tổ chức cuộc thi tuyển lựa ca sĩ. Tại đây giám đốc Việt ngữ của đài Pháp Á là ông Hoàng Cao Tăng cùng với danh ca Minh Trang (đang làm việc tại đài) đã phát hiện ra Kim Vui có giọng alto rất hay nên khuyến khích đi hát. Chính danh ca Minh Trang là người đặt cho nghệ danh là Kim Vui, với mong muốn là cuộc đời nữ nghệ sĩ này sẽ luôn gặp suôn sẻ, nhiều niềm vui. Tuy nhiên Kim Vui thừa nhận: “Cuộc đời của tôi lại buồn nhiều hơn vui”.

Vì học múa ba lê từ nhỏ, sau đó chuyển sang nhảy belly dance nên thời trẻ Kim Vui có được một vóc dáng gợi cảm và quyến rũ đến như vậy.

Năm 17 tuổi, cô tham gia cuộc thi hát ở đài Pháp Á và sau đó được giám đốc là ông Hoàng Cao Tăng mời hợp tác với đài, cô chính thức trở thành ca sĩ và nhanh chóng nổi tiếng. Ngoài hát nhạc Việt, Kim Vui còn hát nhạc Anh, Pháp, Ý, mỗi tối đi diễn ở 10-12 phòng trà khác nhau.


Click để nghe Kim Vui hát bài Chân Trời Tím

Trong giai đoạn năm năm cuối của thập niên 1950, Kim Vui cùng với Minh Tuyết, Tuyết Hằng… nổi lên như một hiện tượng đợt sóng mới của tân nhạc.

Về giọng hát của Kim Vui, nhà văn Hồ Trường An nhận xét: “Kim Vui có giọng tốt, làn hơi mượt mà, kỹ thuật già dặn, cách ngân nga tuyệt vời. Đó là một giọng hát trong trẻo, thanh tao”.

Có lẽ trong hàng ngũ các nữ ca sĩ, các nữ kịch sĩ, các nữ minh tinh màn bạc, Kim Vui đẹp bốc lửa nhất và đa tài đa diện nhất.

Nhà văn Hồ Trường An nói về ngoại hình của nữ minh tinh: “Kim Vui mặc áo dài thì áo dài phải mang ơn chị, vì nhờ chị mà áo mới đạt được cái đẹp trong công việc đỡ ngực bó eo người mặc, với lồng lộng những nét tròn mê hoặc. Kim Vui mặc áo đầm hở vai mầu đỏ, và mang găng đen kéo quá khửu, trông chị bốc lửa như Rita Hayworth trong phim Gilda”.

Sau lĩnh vực ca hát, Kim Vui bắt đầu dấn thân vào lĩnh vực sân khấu và điện ảnh, tuy có hơi muộn. Ban đầu cô đóng một vài vai phụ trong những vở thoại kịch của đoàn kịch Kim Cương, nhưng không để lại nhiều dấu ấn.

Đến cuối thập niên 1960, Kim Vui mới thử sức với lĩnh vực điện ảnh trong các bộ phim Thương Hận, Phản Bội, Cúi Mặt, nhưng vẫn không để lại nhiều tiếng tăm.

Hùng Cường và Kim Vui trong phim Chân Trời Tím

Một cơ may đến với Kim Vui khi cô được đạo diễn Lê Hoàng Hoa mời đóng vai chính trong phim Chân Trời Tím cùng với Hùng Cường. Có người nói rằng ban đầu đạo diễn đã mời Thẩm Thuý Hằng, nhưng người đẹp này từ chối vì không muốn đóng chung với một kép cải lương là Hùng Cường, nên Kim Vui được chọn để thay thế. Cũng từ bộ phim này, cả Hùng Cường và Kim Vui đều trở thành một hiện tượng mới rất đình đám trong làng điện ảnh Miền Nam đầu thập niên 1970.

Kim Vui trong phim Chân Trời Tím

Dù thời lượng của Kim Vui xuất hiện trong phim không nhiều bằng Hùng Cường, nhưng cô lại nhận được nhiều lời khen ngợi hơn do lối diễn xuất tự nhiên và chân thật.

Một điều thú vị là Kim Vui và Hùng Cường từng là bạn học trường đạo từ thuở còn nhỏ.

Phim Chân Trời Tím khởi chiếu năm 1970 và gây nên một cơn sốt vé hiếm có tại Miền Nam. Tuy nhiên sau thành công với phim này, Kim Vui lại giã từ điện ảnh vì bận việc kinh doanh. Lúc đó cô phải lo lắng cho những người con đang tuổi ăn học nên không có thời gian quan tâm đến sự nghiệp riêng.

Người chồng đầu tiên của Kim Vui kim nghiện ɾượᴜ nặng, thường xuyên bạo hành vợ. Khi tỉnh ra có hối hận, nhưng rồi không thể chịu đựng nổi, Kim Vui quyết tâm chia tay để nuôi con một mình. Không may người con gái bị bệnh nan y phải nằm nhà thương Đồn Đất suốt 7 năm. Đây là bệnh viện Tây nên viện phí rất đắt, Kim Vui phải lao vào kinh doanh để có tiền lo cho con.

Không như phần lớn ca sĩ hay minh tinh tài tử khác trong làng nghệ thuật, thu nhập chủ yếu từ ca hát và diễn xuất, thì Kim Vui rất giỏi trong việc kinh doanh. Vừa là mẹ đơn thân lo cho con, lại phải lo kinh doanh cho hãng thu thanh riêng mang tên Kim Vui và cả công việc ở nhà in, cô đành từ chối các lời mời đóng phim.

Năm 1971, Kim Vui lên xe hoa lần thứ 2 cùng với một kiến trúc sư người Mỹ tên là Robert E. Henry.

Năm 1972, Kim Vui theo chồng sang sinh sống và kinh doanh ở đảo Guam, thi thoảng cũng đi hát ở một vài night club cho đỡ nhớ nghề, nhưng cũng chỉ là công việc văn nghệ cho vui. Với người chồng thứ 2 này, Kim Vui nói rằng lấy nhau mới nhận ra rằng hôn nhân không có tình yêu, nên sau đó không bao lâu thì tan vỡ.

Sau tháng 4 năm 1975, Kim Vui chuyển sang sinh sống tại Mỹ. Thời điểm này bà từng có thời gian ngắn làm xướng ngôn viên cho đài KOAM của Mỹ, chương trình tiếng Việt, dành cho đồng bào mới qua. Thời gian sau đó bà sang châu Phi kinh doanh, làm chủ một hãng xuất nhập khẩu gỗ, có cơ sở ở Anh, Pháp và Châu Phi, sau đó bà còn lấn sang lĩnh vực bất động sản. Bà nói rằng phải bận rộn công việc kinh doanh như vậy cũng là muốn lo cho con cái thành đạt:

“Tôi kiếm được rất nhiều tiền nhưng cũng rất gian khổ. Đàn bà có lẽ không ai muốn làm như vậy cả, nhưng vì con cái thì khổ mấy tôi cũng không từ nan” (Kim Vui – Trích trong cuốn Người Tình Không Chân Dung – tác giả Lê Hồng Lâm)

Sau đây, mời các bạn xem lại một số hình ảnh Kim Vui xuất hiện cùng Hùng Cường trong phim Chân Trời Tím:

Về cuộc sống hiện nay ở tuổi ngoài 80 tại Hoa Kỳ, Kim Vui đang sống cùng với người chồng hiện tại là người ngoại quốc, một nhà văn, và là cựu điệp viên CIA tên là Frank Scotton, người đã có mối tình kéo dài nhiều năm với cô, nhưng họ chỉ vừa mới cưới được vài năm.

Kim Vui kể rằng họ gặp nhau năm 1963 khi cô đi hát ở một phòng trà Mỹ ở Đà Lạt, rồi yêu nhau nhưng không thành, vì công việc của một điệp viên khi đó rất phức tạp, di chuyển nhiều và bí mật nhân thân. Phải hơn 50 năm sau đó, ông Frank tình cờ tìm được số điện thoại của Kim Vui và đã nối lại tình xưa khi cả hai đã trở lại thành người độc thân.

Kim Vui kể lại rằng thời gian sau 1975, cả hai đã đi tìm nhau vòng quanh thế giới như trò chơi cút bắt. Ông Frank Scotton muốn tìm lại người cũ nên nhắn tin trên đài VOA, Kim Vui tìm tới thì ông đổi đi chỗ khác, bà chỉ biết để lại địa chỉ, nhưng mỗi khi ông chạy đi tìm tới địa chỉ đó thì bà đã dọn đi nơi khác. Khi Kim Vui sống ở Ba Tư, ông qua tìm thì bà đã dọn qua Ai Cập. Khi Kim Vui nghe nói ông đang làm việc ở Phi Châu, bà quay lại thì ông lại bị đổi đi rồi… Cứ như vậy đến vài chục năm họ mới tìm được nhau.

Kim Vui kể về những tháng ngày hiện tại như sau: “Giờ đây, tôi đi nhà thờ vào mỗi cuối tuần để cầu nguyện cuộc sống cuối đời bình yên và ra đi nhẹ nhàng bên cạnh Frank. Tôi không luyến tiếc hay mơ ước gì nữa”.

Kim Vui và ca sĩ Thanh Lan ở Dinh Độc Lập

Anh Lân, ca sĩ Mỹ Thể, Kim Vui, Túy Hồng, Đạo diễn Lê Hoàng Hoa tại đêm trao giải Văn Học Nghệ Thuật tại Dinh Độc Lập

Kim Vui và tài tử Trần Quang

Kim Vui – Kiều Chinh tham gia liên hoan phim tại Đài Loan

Từ trái qua: Trịnh Công Sơn, Thúy Nga, Mỹ Thể, Kim Vui, Lê Hoàng Hoa

Kim Vui và Giao Linh

Kim Vui hiện nay, cùng nhạc sĩ Lam Phương

Đông Kha – chuyenxua.vn

Cuộc đời lận đận của danh ca Mộc Lan – Mỹ nhân tuyệt sắc một thời của làng tân nhạc Việt Nam

Mộc Lan là một trong những nữ danh ca nổi tiếng nhất Sài Gòn từ cuối thập niên 1940, được nhiều người nhận xét là có tài sắc vẹn toàn. Bà không chỉ sở hữu giọng hát đẹp và chuẩn mực, mà còn là người có sắc nước hương trời từng một thời được những tao nhân mặc khách cùng những nhạc sĩ nổi tiếng theo đuổi. Mộc Lan là người vợ đầu tiên của nhạc sĩ Châu Kỳ, đồng thời cũng có những giai thoại ly kỳ về tình cảm mà các nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và Hoàng Trọng đã dành cho bà vào thập niên 1950.

Sắc đẹp lộng lẫy thời thiếu nữ của Mộc Lan được mô tả là “đẹp như tranh vẽ, da trắng như trứng gà bóc, răng đều như hạt cườm, tay như là tay tiên”, vì vậy nên dễ hiểu rằng bất kỳ người đàn ông nào cũng có thể bị hút hồn bởi vẻ đẹp của Mộc Lan.

Danh ca Mộc Lan tên thật là Phạm Thị Ngà, sinh năm 1931 tại Hải Phòng trong gia đình có 8 anh chị em (3 trai 5 gái).

Khi Mộc Lan được 7 tuổi thì mồ côi cha, thời gian sau đó gia đình rơi vào thảm cảnh bi đát, tan đàn xẻ nghé. Đầu thập niên 1940, vì muốn thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, người anh cả trong nhà tên là Long đã dẫn 2 người em gái là Ngọc và Ngà (Mộc Lan) vào Sài Gòn tha phương cầu thực.

Dù hoàn cảnh khó khăn, không được học hành đến nơi đến chốn, nhưng Mộc Lan đã sớm bộc lộ được khả năng thiên phú về âm nhạc. Lớn lên, cô được nhạc sĩ Lê Thương phát hiện và dẫn dắt bước vào con được ca hát, và chính nhạc sĩ này cũng là người đặt cho bà nghệ danh là Mộc Lan. Lúc đó bà mới 16 tuổi, được đứng trên sân khấu lần đầu trong nhạc cảnh Trên Sông Dương Tử của Lê Thương năm 1947. Bên cạnh đó Mộc Lan còn được nhạc sĩ Long Tuyền hướng dẫn về nhạc lý.


Click để nghe Mộc Lan hát Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa thập niên 1960

Ca khúc nổi tiếng nhất thời kỳ này của Mộc Lan là Em Đi Chùa Hương của nhạc sĩ Trần Văn Khê, trên hầu hết các khấu từ Bắc chí Nam, khán giả đều yêu cầu bà hát bài này.

Tại Sài Gòn, Mộc Lan gặp nhạc sĩ Châu Kỳ, lúc đó là một ca sĩ nổi tiếng từ Huế mới vào Sài Gòn ca hát từ năm 1947. Hai người trở thành đôi trai tài gái sắc rất hợp ý nhau cả trên sân khấu lẫn ngoài đời, cùng nhau xuất hiện trên khắp các sân khấu, phòng trà, phụ diễn tân nhạc tại các rạp Văn Cầm, Aristo, Thanh Bình, Quốc Thanh, Khải Hoàn…


Click để nghe Châu Kỳ – Mộc Lan song ca 2 bài Chiều (Dương Thiệu Tước) và Sơn Nữ Ca (Trần Hoàn)

Gặp nhau chưa đầy nửa năm, họ chính thức trở thành vợ chồng, Châu Kỳ đưa Mộc Lan về Huế ra mắt gia đình. Hai vợ chồng được ông Thái Văn Kiểm – Giám đốc Nha Thông tin và Đài Phát thanh Huế tạo điều kiện cho được hát thường xuyên trên đài với mức lương 3.800 đồng/tháng – một mức lương khá hậu hĩnh vào thời điểm bấy giờ.

Tuy nhiên cuộc hôn nhân này không được dài lâu, họ chia tay năm 1954 vì không thể hòa hợp được.

Sau khi tay với nhạc sĩ Châu Kỳ, danh ca Mộc Lan đi bước nữa với một người vốn là bạn thuở thiếu thời, nhưng theo một bài báo năm 1957 thì cuộc hôn nhân đó cũng kết thúc chóng vánh vì đó là một người chồng bất tài chỉ muốn “đào mỏ” từ danh tiếng của vợ.

Sau mối tình đầu đau đớn năm 17 tuổi, rồi trải qua 2 cuộc hôn nhân buồn, đến cuộc hôn nhân thứ 3 thì Mộc Lan mới tìm được một bến đỗ thực sự, đó là trung tá Trương Minh Đẩu, từng là chánh văn phòng của tướng Dương Văn Minh thời điểm năm 1975.

Hồng nhan bạc phận, danh ca Mộc Lan đã trải qua liên tiếp những chuyện buồn, những vấp váp khi bước chân vào đời như bất kỳ cô gái trẻ nào khác, nhưng riêng trong lĩnh vực nghệ thuật thì bà đã tiến được những bước thật dài. Không chỉ được các nhạc sĩ đánh giá cao về giọng hát khi hát trên đài phát thanh trong các ban nhạc Tiếng Tơ Đồng, Vũ Thành, Văn Phụng…, bà còn được công chúng đặc biệt yêu mến, thường xuyên xuất hiện ở các sân khấu đại nhạc hội và phòng trà khắp Sài Gòn, nơi nào cũng muốn có giọng hát và nhan sắc của Mộc Lan hiện diện.

Mộc Lan cũng cùng với 2 danh ca nổi tiếng khác Châu Hà, Kim Tước hợp thành ban tam ca Mộc Kim Châu, là 3 người có lối hát giống nhau, có sự thẩm âm và xướng âm gần tương tự nhau, cùng nhau góp giọng thường xuyên trên các đài phát thanh ở Sài Gòn cho tới năm 1975, tuy nhiên lại ít có dịp cùng trình diễn trên sân khấu.


Click để nghe giọng hát của Mộc – Kim – Châu

Với rêng Mộc Lan, bà được đánh giá là bên cạnh kỹ thuật thanh nhạc tốt thì giọng hát vẫn có sự mềm mại và uyển chuyển, khi lên nốt cao vẫn chuẩn mực, không bị mỏng, và hát những nốt thấp vẫn rất rõ chữ.


Click để nghe Mộc Lan hát Biệt Ly thập niên 1950

Sau năm 1975, cũng như hầu hết những nghệ sĩ miền Nam khác ở lại trong nước, Mộc Lan lâm vào tình cảnh rất khó khăn. Chồng là sĩ quan bị đi tù, bà phải một mình nuôi dưỡng những người con, trong đó có người con gái (với chồng thứ 2) bị bệnh tâm thần nhiều năm. Bản thân bà cũng bị bệnh phổi nặng phải đi bác sĩ hàng ngày để theo dõi, nên phải giã từ sân khấu và nghiệp ca hát từ sớm.

Danh ca Mộc Lan năm 1996, tiếp nhà báo Trần Quốc Bảo tại nhà ở Q3

Những năm cuối đời, danh ca Mộc Lan sống trong một căn nhà cấp 4 tồi tàn trong một hèm rất nhỏ và sâu trên đường Lê Văn Sĩ Q3, sống cùng với người con gái bị tâm thần ngoài 50 tuổi. Bà qua đời ngày 11/5 năm 2015, hưởng thọ 84 tuổi.

Là một ca sĩ tài sắc vẹn toàn, Mộc Lan không thể tránh khỏi hồng nhan bạc phận, những lận đận truân duyên trong đường tình duyên.

Nhắc đến danh ca Mộc Lan, người ta nhớ đến đôi song ca Châu Kỳ – Mộc Lan từ thập niên 1940, là 1 trong 3 đôi song ca nổi tiếng thời đó, cùng với Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết và Mạnh Phát – Minh Diệu. Có những điểm chung rất đặc biệt của 3 đôi song ca này: đều là những cặp vợ chồng, rất ăn ý với nhau cả trên sân khấu lẫn ngoài đời, và người chồng sau đó trở thành những nhạc sĩ lừng danh của tân nhạc.

Trước khi lập gia đình với nhạc sĩ Châu Kỳ, ít người biết rằng Mộc Lan đã trải qua một mối tình đầu từ khi mới 16-17 tuổi và có kết thúc rất đau buồn.

Trong lần trả lời phỏng vấn báo Kịch Ảnh năm 1957, bà tâm sự:

“Đời tôi kể như đã mất từ năm 1947. Mối tình đầu tan vỡ, người yêu vắn số, ôi bao nhiêu điều đau khổ!”


“Châu Kỳ chỉ là người chồng đầu tiên của tôi, còn người mà tôi trao gửi mối tình đầu tiên là một sinh viên, một chàng trai đã dạy tôi biết sống ở đời, giúp tôi thành người, trước khi chàng xa lánh cõi thế gian này”.

Theo bài báo này, Mộc Lan còn chia sẻ rằng vì cứu bà mà người yêu bị người ta ám hại. Đầu năm 1947, Mộc Lan bị Tây bắt (bà không nói rõ lý do vì sao bị bắt), người yêu từ chiến khu trở về thành để vận động cho bà được tự do, rồi khi quay trở lại, ông bị chính đơn vị của mình nghi ngờ và thủ tiêu ở một miền rừng núi xa xôi.

Vài năm sau đó, danh ca Mộc Lan gặp nhạc sĩ Châu Kỳ tại nhà của Mạnh Phát – Minh Diệu. Lúc đó Châu Kỳ từ Huế vào Sài Gòn và đang bắt đầu bước chân vào làng nhạc.

Đôi trai tài gái sắc Châu Kỳ – Mộc Lan nhanh chóng kết thành một đôi, kết hợp ăn ý cả trên sân khấu lẫn ngoài đời, cùng nhau xuất hiện trên khắp các sân khấu, phòng trà, phụ diễn tân nhạc tại các rạp Văn Cầm, Aristo, Thanh Bình, Quốc Thanh, Khải Hoàn…


Click để nghe Châu Kỳ – Mộc Lan song ca 2 bài Chiều (Dương Thiệu Tước) và Sơn Nữ Ca (Trần Hoàn)

Gặp nhau chưa đầy nửa năm, họ chính thức trở thành vợ chồng, nhạc sĩ Châu Kỳ đưa Mộc Lan về Huế ra mắt gia đình. Hai vợ chồng họ được ông Thái Văn Kiểm – Giám đốc Nha Thông tin và Đài Phát thanh Huế tạo điều kiện cho được hát thường xuyên trên đài với mức lương 3.800 đồng/tháng – một mức lương khá hậu hĩnh vào thời điểm bấy giờ. Tuy nhiên tại Huế, tổ ấm của đôi song ca tài danh và nổi tiếng nhất đương thời lại chỉ là một căn phòng nhỏ phía sau Ty Thông tin Huế dưới chân cầu Trường Tiền, khác xa với hình ảnh rực rỡ của họ khi đứng trên sân khấu.

Nhà văn Trần Áng Sơn, em ruột của ca sĩ Mộc Lan, kể lại trong hồi ký:

“Anh rể tôi – nhạc sĩ Châu Kỳ khá đẹp trai, giỏi nhạc hát hay, không cao lớn nhưng đứng trên sân khấu không đến nỗi bị khuất lấp bởi sự rực rỡ của chị tôi. Giọng hát của anh chị tôi là một sự tô điểm cho nhau, khi họ song ca, cảnh vật trở nên tưng bừng, lòng người rộn rã. Mặc dù lúc đó ở Huế có cặp song ca nổi tiếng Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết nhưng họ thuộc về một lớp khán giả riêng biệt, khác hẳn với đôi uyên ương Mộc Lan – Châu Kỳ, họ thuộc về mọi lứa tuổi, mọi thành phần nhưng trước hết là giới trẻ bởi sự trẻ trung của mình và cũng vì nghệ thuật ca hát mới mẻ mà họ cống hiến mỗi khi xuất hiện…”

Đó có thể xem là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của Châu Kỳ – Mộc Lan, dù chỉ được trong thời gian ngắn ngủi. Ở Huế được một thời gian, xuất hiện tin đồn về mối quan hệ thân thiết giữa Mộc Lan cùng một người đàn ông khác làm cho nhạc sĩ Châu Kỳ có những phản ứng dữ dội, ông đưa vợ vào lại Sài Gòn sinh sống để tránh xa thị phi. Tuy nhiên điều đó vẫn không thể níu kéo được cuộc hôn nhân ngắn ngủi. Năm 1954, đôi trai tài gái sắc chính thức đường ai nấy đi.

Đây là giai đoạn đầy những đau thương, u uất chất chứa trong nhiều ca khúc của nhạc sĩ Châu Kỳ, đó là Khúc Ly Ca, Đàn Không Tiếng Hát, Từ Giã Kinh Thành…

Sau này nhạc sĩ Châu Kỳ tiết lộ lý do tan vỡ là vì Mộc Lan đã ngoại tình. Còn phía Mộc Lan, trong một lần trở lời phỏng vấn báo Kịch Ảnh năm 1957, bà nói rằng mình đã bị người khác nói xấu và xuyên tạc nên chồng đã hiểu nhầm, và khi vợ chồng đã không tin tưởng nhau thì đành xa nhau.

Vào những năm cuối đời, trả lời nhà báo Hà Đình Nguyên trên báo Thanh Niên năm 2010, danh ca Mộc Lan thổ lộ thêm về chồng cũ, và nguyên nhân 2 người chia tay: “Ông ấy rất hiền lành, đã hứa làm cái gì thì làm tới nơi. Riêng với phong trào âm nhạc thì ông ấy rất nhiệt tình. Sống có tình cảm nên bạn bè rất quý. Có điều nhậu vô là nói lèm bèm. Tính tôi nghe nhiều không chịu được, bực lắm! Mình đi hát thì phải tiếp xúc với nhiều người mà ông ấy lại quá ghen…”

Sau khi tan vỡ hôn nhân với nhạc sĩ Châu Kỳ, danh ca Mộc Lan đi bước nữa với một người đàn ông khác, nhưng cũng theo bài báo Kịch Ảnh năm 1957 thì cuộc hôn nhân đó cũng kết thúc chóng vánh vì đó là một người chồng bất tài chỉ muốn “đào mỏ” từ danh tiếng của vợ.

Người chồng thứ 2 và người con gái đầu lòng của danh ca Mộc Lan

Trong bài báo đó, phóng viên đặt câu hỏi:

Cuộc lập gia đình lần thứ hai hình như cũng chẳng đem lại hạnh phúc cho cô, phải không?

Mộc Lan tâm sự:

“Vâng đúng thế. Tôi gặp anh ấy – một người bạn thuở thiếu thời, anh ngỏ ý muốn cùng tôi chung sống giữa lúc tôi vừa ly dị Châu Kỳ xong. Chán cuộc đời ca hát, nên tôi nhận lời. Ai ngờ, phải có ai ngờ, mục đích của anh là lấy tôi để có một người vợ đi hát kiếm tiền, trong lúc đó, tôi lại lầm tưởng là lấy chồng để có thể lánh xa cuộc đời nghệ sĩ…”

Sau mối tình đầu đau đớn năm 17 tuổi, rồi trải qua 2 cuộc hôn nhân buồn, đến cuộc hôn nhân thứ 3 thì Mộc Lan mới tìm được một bến đỗ thực sự, đó là trung tá Trương Minh Đẩu, từng là chánh văn phòng của tướng Dương Văn Minh thời điểm năm 1975.

Giai thoại về những cuộc tình

Giai thoại nổi tiếng nhất, ly kỳ nhất liên quan đến những người đã theo đuổi giai nhân Mộc Lan, đó là câu chuyện về nhạc sĩ tài hoa Đoàn Chuẩn – một công tử giàu có và phong lưu bậc nhất thời đó. Nhiều người cùng thời đã xác nhận rằng nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đã sáng tác 2 ca khúc Gởi Người Em Gái Miền Nam Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay để tặng cho Mộc Lan, nhưng câu chuyện đằng sau đó thật ly kỳ và cũng không kém phần hoang đường, thường được các báo lá cải trích dẫn lại.

Xuất phát của câu chuyện sau đây là từ cuốn sách Chuyện Tình Nghệ Sĩ do nhạc sĩ Lê Hoàng Long soạn và xuất bản khoảng thập niên 1990, từ câu chuyện này, sau đó có nhiều dị bản khác nhau.

Theo Lê Hoàng Long kể lại, vào khoảng năm 1953, danh ca Mộc Lan có ra Hà Nội lưu diễn tại nhà Hát Lớn Hà Nội, nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đi nghe hát, rồi say mê trước nhan sắc lộng lẫy của nàng ca sĩ, nên đem lòng thầm yêu trộm nhớ.

Sau khi Mộc Lan kết thúc 10 ngày Bắc du và trở lại Sài Gòn, Đoàn Chuẩn đáp máy bay vào theo, dò hỏi được địa chỉ nhà người đẹp ở đường Champagne (nay là đường Lý Chính Thắng). Biết được rằng lúc này Mộc Lan đã thôi chồng và ở một mình, nhưng nhạc sĩ Đoàn Chuẩn không tới nhà mà muốn gây ấn tượng với người đẹp một cách không giống ai, và cũng không ai cũng làm được vì rất tốn kém. Ông ra một cửa hàng bán hoa tươi, ngỏ ý muốn đặt tiền trước cả tháng để mỗi sáng tiệm cho người mang đến địa chỉ cô Mộc Lan một bó hồng tươi đỏ thắm, khi đưa hoa không được nói tên ai gửi tặng.

Sau khi nhận hoa 3 tuần liên tục như vậy, cô ca sĩ xinh đẹp rất tò mò muốn biết người tặng là ai, nhưng người đưa hoa nói là không biết, Mộc Lan trả lời là nếu không biết thì xin từ chối không nhận hoa nữa.

Ông chủ tiệm hoa nghe vậy liền đánh điện tín ra Bắc để hỏi nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, và vị nhạc sĩ này bằng lòng tiết lộ danh tính và đưa địa chỉ, đồng thời gửi chi phí để cửa tiệm tiếp tục giao hoa tặng thêm 2 tháng nữa.

Nhận được thông tin, Mộc Lan liền biên thư cảm ơn công tử – nhạc sĩ họ Đoàn, ngỏ ý sẽ có ngày được hội ngộ. Họ gửi cho nhau hàng chục bức thư nữa trước khi Mộc Lan lên đường ra Bắc. Đích thân “Đoàn công tử” đón nàng ở phi trường Gia Lâm và đưa về khách sạn sang trọng Hôtel Métropole ở giữa đại lộ Tràng Tiền, gần nhà hát lớn thành phố.

Tuy nhiên mối tình đó có thể chỉ là tình nghệ sĩ thoáng qua, có thể chỉ là sự say nắng của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn trước nhan sắc rực rỡ của người đẹp, vì thời điểm đó ông đã có gia đình. Câu chuyện này được nhạc sĩ Lê Hoàng Long chép lại, chứa đựng những sự vô lý hoang đường như một tiểu thuyết ngôn tình và cũng chưa bao giờ được người trong cuộc xác nhận.

Ngoài ra, theo nhà văn Trần Áng Sơn, một nhạc sĩ nổi tiếng cũng có thời gian theo đuổi Mộc Lan vào cuối những năm 1950, đó là “ông hoàng tango” Hoàng Trọng.

Thập niên 1950-1960, ban nhạc Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng rất nổi tiếng trên đài phát thanh, và Mộc Lan chính là một trong những ca sĩ thường xuyên của ban Tiếng Tơ Đồng, nên họ thường xuyên có dịp gặp gỡ nhau.

Lúc đó nhạc sĩ Hoàng Trọng đã chia tay vợ, gà trống nuôi con, còn Mộc Lan cũng đã qua 2 đời chồng, sống cùng em trai là Trần Áng Sơn. Ông Sơn đã viết trong hồi ký như sau:

“Trong con mắt tôi, anh Hoàng Trọng không phải là mẫu người phụ nữ thích. Người tầm thước nhưng hơi nặng nề, nước da ngăm bì bì, gương mặt không có cá tính. Tuy nhiên, tính anh lại rất hiền, củ mỉ cù mì, ít nói, thuộc loại tán gái bằng cách ngồi lì, chẳng nói và có lẽ cũng chẳng liếc mắt đưa tình. Anh rất thường đến thăm chị tôi, mỗi lần anh đến, anh ngồi một đống. Đến âm thầm khi về cũng lặng lẽ. Lối tán này hình như làm chị tôi… hết chịu nổi! Có vẻ như anh không phải là kẻ đi chinh phục, lại không biết gì về tâm lý phụ nữ và thế là anh bị “nốc ao” ngay ngưỡng cửa nhà tôi”.

Sau đây là bài viết của nhà văn Thanh Tâm Tuyền về danh ca Mộc Lan đăng báo Kịch Ảnh vào năm 1957, khi Mộc Lan đã 26 tuổi, qua 2 đời chồng với những cuộc tình lận đận như người ta vẫn thường nói về hồng nhan bạc phận. Khi đó tên tuổi của Mộc Lan không còn ở thời đỉnh cao rực rỡ nữa, nhưng giọng hát quyến rũ của bà vẫn thường xuất hiện trên đài phát thanh và thỉnh thoảng góp mặt ở phòng trà.

Qua bài viết này của Thanh Tâm Tuyền, chúng ta có thể có cái nhìn khái quát về phong thái trên sân khấu của một danh ca nổi tiếng bậc nhất của Sài Gòn thập niên 1950.

[…]

Khi Mộc Lan xuất hiện, nàng thường mỉm cười, nụ cười vu vơ ngạo mạn. Nàng hát, cái môi dưới hay trễ xuống, đầu thỉnh thoảng gục gặc như muốn gây gổ, nửa như làm nũng. Và giọng hát của nàng?

Tôi đang phải tưởng tượng để nhớ. Đã lâu lắm tôi không còn được nghe Mộc Lan hát nữa, nàng vắng tiếng trên làn sóng điện, vắng bóng ở các phòng trà ngày nay, tất cả, không thể tìm được một giọng quý như giọng Mộc Lan. Tôi được nghe Mộc Lan hát lần đầu tiên ở Croix du Sud, lúc ấy mọc Lan không còn ở trong thời kỳ huy hoàng của nàng nữa, ngôi sao của nàng đang mờ. Đối với thính giả ở xứ này, tên tuổi của một ca sĩ lên xuống theo với ánh rực rỡ của nhan sắc và tuổi tác. Hình như Mộc Lan cũng biết vậy, nàng biết rằng nàng đã là một người đàn bà, một người đàn bà thường như mọi người khác và nàng sắp sửa phải nhường chỗ cho những thiếu nữ còn thừa tuổi trẻ và dung nhan để ném xuống đám đông những mộng tưởng viển vông, nên nụ cười vu vơ ngạo mạn của nàng như một hàng rào che chở cho nàng chống với sự đón tiếp dửng dưng của thính giả.

Cái tội cho người theo đuổi nghề hát là chỉ có một tấm thân một khuôn mặt không thể lẩn trốn được (người diễn viên trên sân khấu còn khó cả một thế giới ảo tưởng của tấn tuồng che đậy cho, những vai trò để trú ẩn), nên khi đám đông nhìn lên thấy nàng đang khác không còn là ảo ảnh, nghĩa là cách xa chập chờn trước mặt nó, thì nó sẽ vội ngoảnh mặt ngay, đám đông vốn là cái đám đông đến nghe Mộc Lan thời bấy giờ, chỉ mới chừng sáu năm thôi, thời chỉ có một phòng trà duy nhất mở vào chiều thứ 7 và Chủ nhật, là cái đám đông ưa ngọ nguậy của đường Catinat gồm phần lớn những kẻ vừa chạy thoát một cơn khiếp hãi đến không phải để nghe hát, mà để mua một chút ảo tưởng lười biếng với gia đình với bè bạn trong những buổi cuối tuần tẻ nhạt. Tôi cũng ở giữa đám ấy, thường với Duy Thanh, tôi nghe ở ngoài tai như những tiếng động nhộn nhạo cho đỡ trống trải, còn Duy Thanh thì ghi cái quang cảnh, và hình ảnh Ánh Tuyết trên mặt bàn kính hoặc trên tờ giấy tính tiền để cười đùa với nhau.

Và giọng hát của nàng? Tôi phải kể một kỷ niệm mới tả được. Tôi thật sự nghe Mộc Lan hát ở một nơi khác. Đó là ở tiệm khiêu vuc Au Châlet. Lúc đó đã quá nửa đêm, khách rất vắng, trước đó Khánh Ngọc hát có những câu như: “Ta cười cho vỡ trái tim này, cho người vũ nữ nhíu đôi chân mày, ta cười trên mái tóc đêm dày”. Hồi ấy Khánh Ngọc đang gặp chuyện buồn, đến lượt Mộc Lan hát bài cuối cùng, bài Trở Về Dĩ Vãng. Giọng của nàng rồi trong gian nhà làm toàn bằng cây mờ tối, khi lên cao tối và lạnh, khi xuống thấp ấm và sáng, tiếng ngân kín đáo khép nép vừa đủ, đầu nàng, mái tóc ngắn, nghểnh lên và cúi xuống như kể lể với chính mình. Giọng hát của nàng có một chức cám dỗ của sự lạnh nhạt (tôi không nói giọng của nàng lạnh nhạt) bởi nó cuốn lấy nàng trong một sự tiêu hủy ngấm ngầm hoang mang như những đợt sóng xô trùm lên mỏm đá. Bài hát có những câu: “Em thường khóc khi chiều xuống, lòng nhớ nhung triền miên…”

Mộc Lan lĩnh xướng trong ban Tiếng Tơ Đồng

Quả thật Mộc Lan là một ca sĩ.

Nàng có một đời sống của riêng nàng, một đời sống theo nhiều người nói lại lắm nông nổi đoạn trường, riêng tôi được biết một lần nàng đã tự ý tới mất mát cái ᴄҺết và được cứu sống. Nhưng thiết tưởng đời sống ấy cũng giống như trăm nghìn đời sống khác, trong một thời đại nhiều cay đắng hờn tuổi hơn hân hoan hạnh phúc, nó thuộc của nàng, nàng phải sống, nàng không đóng trò nên người khác cũng chẳng nên tò mò.

Hãy nghe giọng hát của nàng để thấy một thứ mầu nhiệm trong tầm thường.

Tôi rất sợ phải nghe những người hát mà trong tiếng vẩn đục những tâm sự thống thiết bi ai. Làm thế nào mà mang được cuộc đời vào trong tiếng hát? Giả thử được chăng nữa thì người hát đang đóng trò hơn đang hát, người ấy đang muốn nặn mình làm một huyễn tượng cho đám đông, đang ở trong cơn mê sảng bệnh hoạn của sự phô trương giả dối. Âm nhạc là một nghệ thuật không ăn nhập gì với căn bệnh ấy.


Click để nghe Mộc Lan hát Biệt Ly thập niên 1950

Mộc Lan hát những bài buồn thật hay, giọng của nàng khi sáng khi tối vừa nhẹ nhàng vừa đầy sâu, sự chuyển động không uốn éo hời hợt ở ngoài, nhiều lúc người nghe có cảm tưởng nó vạch những con đường thẳng kia có dấu những giao động chụp trời rất tinh. Mộc Lan làm chủ được giọng hát của nàng, nàng không làm nặng nhọc nó bằng những xúc động vụn vặt của đời mình, nhờ đó vô tình nàng đã được nó hóa thân cho nàng. Mộc Lan hát thoát ra, phút chốc quá khứ mờ tan, nàng hiển hiện với giọng của nàng ở ngoài cái đời sống lắm đau thương mà nàng phải chịu. Cũng với tiếng hát nàng tách rời ra khỏi tấm thân trơ trọi, cái khuôn mặt ngơ ngác ở nơi đó in rõ vết tích của một đời phải sống, nàng và tiếng hát ở trong một thế giới thật trong sạch mà thời gian bàng hoàng thấy mình đang bị gói tròn vào vĩnh viễn, ở một cường độ cao hơn, giọng hát có thể làm cho con người đổi khác, đó là sự mầu nhiệm rất tầm thường.


Click để nghe Mộc Lan hát Suối Tóc cùng ban Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng

Tôi nhớ đến thần thoại Trương Chi: “người thì thật xấu hát thì thật hay” đã làm cô MỵNương thất vọng. Để tạ lỗi cùng giai nhân, Trương Chi đã ᴄҺết, gởi lại trái tim là một khối ngọc sáng ngời nơi chứa tiếng hát của chàng. Tôi nghĩ rằng Trương Chi chưa khám phá được năng lực mầu nhiệm của tiếng hát nơi chàng. Thật vậy, Mỵ Nương yêu chàng qua một khoảng xa cách, chàng ở dưới sông nàng, ngồi trên lầu, có một thứ ánh sáng lung linh mờ tịt che phủ cho chàng. Khi gặp nàng, Trương Chi đã tiến sát gần quá, ánh sáng kia tan mất, chàng hiện nguyên hình là một gã thuyền chài. Nếu bấy giờ Trương Chi lên tiếng hát, tiếng hát sẽ đưa chàng cách xa che chở cho chàng. Mỵ Nương lại thấy mình vời vợi đối với chàng đứng chứng kiến Trương Chi hóa thân một cách huyễn hoặc, chàng là một người khác. Nhưng khốn nổi cái cặp mắt soi bói tàn ác của Mỵ Nương dập tắt tiếng hát của Trương Chi, và giả thử chàng còn đủ can đảm trỗi giọng thì tiếng hát sẽ đưa chàng vào thế giới của riêng chàng, chàng không thể yêu Mỵ Nương được nữa. Bởi chàng yêu Mỵ Nương, chàng ngậm miệng mà ᴄҺết.

Một người bạn của tôi đã già và từng trải, một hôm tìm gặp tôi đặng nói với tôi một điều: Tình cờ anh được nghe tiếng nói của một người bạn gái của tôi, anh đã sửng sốt, đó là thứ âm thanh hiếm có mà từ trước anh vẫn ao ước được gặp (anh là một nhạc sĩ đã đập đàn nhường lại tên tuổi cho người em). Tôi hiểu anh vì tôi hiểu được cái ý nghĩa linh diệu của một giọng người. Với tiếng nói loài người trồi dần ra khỏi cái bóng tối của rừng rú hang hốc, của cô đơn lạnh lẽo, của ý thức mùng. Nhưng tiếng nói thường ngày nếu có mang tới cho người ta sự đầm ấm vuốt ve của đồng đội thì cũng vẫn còn lẫn những xô chạm hắt hủi. Khi con người biết cất tiếng hát, nó mới hiểu cái quý giá của giọng người, đó là thứ tiếng nói ở trên cao rất trong sạch vì được âm nhạc gội rửa hết trần tục. Hiểu như thế người ta sẽ bực mình khi nghe thấy tiếng hát bị thô tục hóa vì những phiền nhiễu của tâm tình vụn vặt.

Nghe Mộc Lan hát tôi vẫn ao ước có những bài hát được viết riêng cho xứng với giọng nàng, muốn thấy cái giá trị của một giọng, người ta phải nghe những bài hát riêng của giọng ấy. Ở xứ này các ca sĩ tranh nhau giành giựt những bài hát, thường lại là những bài hát không tạo nỗi cá tính cho tác giả, chứ chưa nói đến việc làm vinh dự kẻ khác. Tôi lại ao ước được nghe Mộc Lan trình diễn những buổi riêng của mình nàng để tôi có dịp kiểm chứng lòng ngưỡng mộ của mình…

nhacxua.vn biên soạn
Published under copyright license

Cuộc đời lận đận của nhạc sĩ Lê Hựu Hà – Người tiên phong sáng tác nhạc trẻ thuần Việt

Trᴏnɡ lànɡ nhạᴄ Sài Gòn trướᴄ 1975, nhạᴄ sĩ Lê Hựu Hà là nɡười đã ᴄó nhiều đónɡ ɡóp ᴄhᴏ nhạᴄ Việt nói ᴄhunɡ và nhạᴄ trẻ nói riênɡ, với nhữnɡ bướᴄ đi tiên phᴏnɡ manɡ tính khai phá. Ônɡ là một trᴏnɡ nhữnɡ nɡười Việt hᴏá nhạᴄ trẻ Âu – Mỹ đầu tiên ở Việt Nam, ban đầu là sᴏạn lời Việt ᴄhᴏ nhạᴄ nɡᴏại, sau đó là tự sánɡ táᴄ hᴏàn tᴏàn nhạᴄ Việt thеᴏ phᴏnɡ ᴄáᴄh pᴏp-rᴏᴄk.

Khi mà lànɡ nhạᴄ trẻ Sài Gòn thập niên 1970 hầu hết là ᴄáᴄ ban hát nhạᴄ nướᴄ nɡᴏài, hᴏặᴄ hát lời Việt ᴄủa ᴄáᴄ nhạᴄ nướᴄ nɡᴏài nổi tiếnɡ, thì nhạᴄ sĩ Lê Hựu Hà kiên định thеᴏ ᴄᴏn đườnɡ sánɡ táᴄ nhạᴄ trẻ Việt, với nhiều ᴄa khúᴄ tiêu biểu: Tôi Muốn, Yêu Em, Yêu Đời Yêu Nɡười, Hãy Vui Lên Bạn Ơi, Hãy Nɡướᴄ Mặt Nhìn Đời… Có thể xеm Lê Hựu Hà ᴄùnɡ nhữnɡ nɡười bạn trᴏnɡ ban Phượnɡ Hᴏànɡ đã đặt nền mónɡ ᴄhᴏ lᴏại nhạᴄ rᴏᴄk Việt sau này, và ban Phượnɡ Hᴏànɡ (với 2 nhân vật ᴄhủ ᴄhốt là Lê Hựu Hà và Nɡuyễn Trunɡ Canɡ) ᴄũnɡ đượᴄ xеm là ban nhạᴄ rᴏᴄk Việt đầu tiên.

Thеᴏ quan điểm ᴄủa nhạᴄ sĩ Tuấn Khanh thì Lê Hựu Hà là một trᴏnɡ nhữnɡ nhạᴄ sĩ bị “undеrratеd” (bị đánh ɡiá thấp hơn ɡiá trị đónɡ ɡóp) nhất trᴏnɡ lànɡ nhạᴄ Việt từ xưa đến nay, khi ɡiá trị manɡ tính tiền phᴏnɡ và khai phá ᴄủa ônɡ vẫn đanɡ xuất hiện ở mọi nẻᴏ ᴄủa âm nhạᴄ hiện đại, nhưnɡ ᴄônɡ laᴏ đó lại bị phủ lấp vì nhiều lý dᴏ.

Nhạᴄ sĩ Lê Hựu Hà sinh nɡày 5 thánɡ 6 năm 1946 tại Sài Gòn trᴏnɡ một ɡia đình Phật ɡiáᴏ, với Pháp danh là Đồnɡ Thành. Ônɡ là ᴄᴏn thứ 2 trᴏnɡ ɡia đình, ᴄha mẹ đều là ᴄônɡ ᴄhứᴄ và nhà ɡiáᴏ, hᴏàn tᴏàn khônɡ ᴄó ai yêu thíᴄh và thеᴏ đuổi nɡhệ thuật, vì vậy dù yêu thíᴄh âm nhạᴄ nɡay từ nhỏ nhưnɡ Lê Hựu Hà luôn bị ᴄha ᴄấm đᴏán và nɡăn ᴄản. Thеᴏ lời kể ᴄủa nhữnɡ nɡười еm trᴏnɡ ɡia đình, nɡay từ thời trunɡ họᴄ, Lê Hựu Hà thườnɡ phải nói dối ᴄha là đi họᴄ văn hᴏá nhưnɡ thựᴄ ᴄhất là lén đi tập đàn. Chính vì hᴏàn ᴄảnh éᴏ lе này mà Lê Hựu Hà khônɡ đượᴄ họᴄ hành bài bản, ᴄhủ yếu là tự họᴄ.

Vì ɡiỏi Tiếnɡ Anh nên nhạᴄ sĩ Lê Hựu Hà thườnɡ nɡhе rất nhiều ᴄáᴄ lᴏại nhạᴄ Âu – Mỹ, đến năm 17 tuổi bắt đầu tập tành sánɡ táᴄ nhữnɡ ᴄa khúᴄ đầu tay thеᴏ phᴏnɡ ᴄáᴄh trẻ trunɡ, nhưnɡ ɡia đình vẫn khônɡ hay biết.

Gia đình ᴄhỉ biết ᴄhuyện Lê Hựu Hà ᴄhơi đàn và sánɡ táᴄ nhạᴄ trᴏnɡ một lần tình ᴄờ nhìn thấy ônɡ xuất hiện trên truyền hình, đanɡ trình diễn ᴄùnɡ ban nhạᴄ Hải Âu ônɡ thành lập. Tuy nhiên, việᴄ này vẫn khônɡ làm lay ᴄhuyển quan điểm ᴄủa ᴄha Lê Hựu Hà đối với ɡiới nɡhệ sĩ và nɡhệ thuật. Dᴏ vậy, trᴏnɡ suốt nhiều năm, nhạᴄ sĩ Lê Hựu Hà phải luôn sốnɡ trᴏnɡ hai vai trò, ban nɡày là một viên ᴄhứᴄ nɡân hànɡ mẫn ᴄán, ᴄòn ban đêm thì trở thành một nɡhệ sĩ đúnɡ với đam mê ᴄủa mình.

Ônɡ từnɡ tâm sự:

“Tôi sinh năm 1946, là dân Sài Gòn ᴄhính ɡốᴄ. Gia đình rất khó nên khônɡ dễ ɡì đến với âm nhạᴄ. Từ nhỏ đến lớn ônɡ bà ɡià ᴄhỉ muốn tôi làm viên ᴄhứᴄ nhà nướᴄ. Thế là tôi trở thành một viên ᴄhứᴄ nɡân hànɡ mấy ᴄhụᴄ năm. Tuy nhiên vì yêu âm nhạᴄ từ thuở nhỏ, nên ban nɡày thì làm việᴄ, ban đêm tôi lén họᴄ nhạᴄ, rồi làm nhạᴄ ᴄônɡ ở ᴄáᴄ ᴄlub và sau đó ᴄhính thứᴄ hᴏạt độnɡ âm nhạᴄ ᴄhủ yếu ở lĩnh vựᴄ biểu diễn. Còn sánɡ táᴄ ᴄa khúᴄ, trướᴄ tiên tôi viết ᴄhᴏ ᴄhính tôi. Tôi dùnɡ âm nhạᴄ để ɡiải tᴏả nhữnɡ tình ᴄảm khi vui, khi buồn ᴄủa ᴄhính mình”.

Nɡượᴄ lại với nɡười ᴄha hà khắᴄ, mẹ Lê Hựu Hà lại rất thươnɡ ᴄᴏn. Bà âm thầm ủnɡ hộ ᴄᴏn bằnɡ ᴄáᴄh nɡồi ᴄanh ᴄửa hànɡ đêm, ᴄhờ Lê Hựu Hà đi diễn khuya về để mở ᴄửa ᴄhᴏ ᴄᴏn vàᴏ nhà.

Từ ᴄánh ᴄhim báᴏ bãᴏ Hải Âu…

Năm 1966, khi đanɡ là sinh viên trườnɡ Đại họᴄ văn khᴏa Sài Gòn, ban nhạᴄ Hải Âu dᴏ Lê Hựu Hà thành lập từ năm 1965 ᴄó dịp trình diễn tại Đại nhạᴄ hội Họᴄ sinh – Sinh viên diễn ra ở Trườnɡ trunɡ họᴄ Lasan Tabеrd (này là trườnɡ Trần Đại Nɡhĩa ở đườnɡ Nɡuyễn Du). Trᴏnɡ số thành viên ban nhạᴄ, ᴄó một ɡiọnɡ ᴄa nữ mới ᴄhỉ họᴄ lớp 11 sau này trở thành nữ ᴄa sĩ nổi tiếnɡ Thanh Lan. Trᴏnɡ buổi diễn này, ban nhạᴄ Hải Âu ᴄó dịp trình diễn một số ᴄa khúᴄ Việt hᴏá manɡ phᴏnɡ ᴄáᴄh trẻ trunɡ, hiện đại với dàn nhạᴄ điện tử. Nhữnɡ thể nɡhiệm táᴏ bạᴏ này ᴄủa Lê Hựu Hà và nhóm bạn ᴄhính là khởi đầu ᴄhᴏ tràᴏ lưu âm nhạᴄ Việt mới mẻ, ᴄuồnɡ nhiệt và sôi độnɡ tại Sài Gòn.

Một số ᴄa khúᴄ đầu tay ᴄủa Lê Hựu Hà ᴄũnɡ đượᴄ ban nhạᴄ Hải Âu đеm ra trình diễn nhưnɡ khônɡ đủ độ “ép phê” với khán ɡiả trẻ thời bấy ɡiới vốn ᴄhỉ thần tượnɡ và đam mê ᴄáᴄ bản nhạᴄ nɡᴏại quốᴄ.

Có thể nói, mặᴄ dù ban nhạᴄ Hải Âu khônɡ ɡây đượᴄ sự phấn khíᴄh ᴄần ᴄó trᴏnɡ ɡiới trẻ để phát triển mạnh mẽ như nhiều ban nhạᴄ ᴄhuyên trình diễn nhạᴄ nɡᴏại thời đó như Spᴏtliɡhts ᴄủa Tuấn Nɡọᴄ, Lеs Fanatiᴄs ᴄủa Cônɡ Thành, Lеs Vampirеs ᴄủa Đứᴄ Huy,… nhưnɡ việᴄ một ban nhạᴄ trẻ dám mạᴏ hiểm thử sứᴄ với lᴏại nhạᴄ trẻ sôi độnɡ thuần Việt đã ɡây ra nhiều bất nɡờ ᴄhᴏ ɡiới thưởnɡ nhạᴄ.

Tại đại hội nhạᴄ trẻ đầu tiên đượᴄ tổ ᴄhứᴄ trên sân trườnɡ Tabеrd năm 1965 dᴏ Trườnɡ Kỳ tổ ᴄhứᴄ, ɡiữa một rừnɡ tên band nhạᴄ là tiếnɡ Tây, Hải Âu là band duy nhất manɡ tên tiếnɡ Việt (trướᴄ đó lấy tên là Thе Sеaɡulls), trưởnɡ ban nhạᴄ Lê Hựu Hà ᴄùnɡ nhữnɡ ᴄánh ᴄhim hải âu đã manɡ lại một khônɡ khí mới lạ ᴄhᴏ ᴄhươnɡ trình.

Khônɡ ᴄhỉ manɡ tên thuần Việt, ban Hải Âu ᴄòn manɡ đến đại hội nhạᴄ trẻ ᴄa khúᴄ thuần túy Việt Nam duy nhất ᴄủa ᴄhươnɡ trình, đó là bài manɡ tên Hươnɡ đượᴄ Lê Hựu Hà sánɡ táᴄ dựa trên ᴄảm hứnɡ từ tên ᴄủa mối tình đầu ᴄủa táᴄ ɡiả. Tuy manɡ một sắᴄ thái mới mẻ nhưnɡ ɡặp phải sự lấn át nặnɡ nề ᴄủa nhữnɡ nhạᴄ phẩm nɡᴏại quốᴄ quеn thuộᴄ nên phần trình diễn ᴄủa Hải Âu ᴄhỉ nhận đượᴄ một sự tán thưởnɡ ở mứᴄ trunɡ bình.

Nhà báᴏ – nhạᴄ sĩ Trườnɡ Kỳ kể lại rằnɡ sau phần trình diễn ᴄủa Hải Âu, Lê Hựu Hà đã tâm sự rằnɡ ônɡ rất hồi hộp khi đưa sánɡ táᴄ ᴄủa mình ra trướᴄ ᴄônɡ ᴄhúnɡ, ɡồm tᴏàn ɡiới trẻ yêu thíᴄh nhạᴄ nɡᴏại quốᴄ. Tuy ᴄhưa ᴄạnh tranh nổi với nhạᴄ Pháp, nhạᴄ Mỹ đanɡ ᴄhiếm lĩnh thị trườnɡ, nhưnɡ ônɡ ᴄũnɡ hy vọnɡ dần dần việᴄ làm ᴄủa mình sẽ đượᴄ để ý. Việᴄ đó đã xảy ra khi ban nhạᴄ Phượnɡ Hᴏànɡ xuất hiện thời ɡian sau này.

Thời ɡian sau đó, ban nhạᴄ Hải Âu tan rã, ᴄó lẽ là bởi lúᴄ đó ᴄhưa phải là thời ᴄủa nhữnɡ bài nhạᴄ trẻ thuần Việt mà Lê Hựu Hà quyết tâm thеᴏ đuổi, nhưnɡ mặᴄ dù vậy thì sau đó ônɡ vẫn kiên định với ᴄᴏn đườnɡ sánɡ táᴄ nhạᴄ trẻ Việt ᴄhᴏ nɡười Việt.

Lê Hựu Hà & Ban Phượng Hoàng và những người bạn, trong hình này có nhạc sĩ Nam Lộc, nhạc sĩ – nhà báo Trường Kỳ

…đến ban nhạᴄ Phượnɡ Hᴏànɡ huyền thᴏại

Đầu thập niên 1970, hầu hết ᴄáᴄ ban nhạᴄ trẻ tại Sài Gòn đều tham ɡia vàᴏ tràᴏ lưu “Việt hᴏá” ᴄáᴄ ᴄa khúᴄ nhạᴄ nɡᴏại để trình diễn. Lê Hựu Hà ᴄó ᴄơ duyên ɡặp ɡỡ với nhạᴄ sĩ Nɡuyễn Trunɡ Canɡ khi đó đanɡ là nhạᴄ sĩ ᴄủa ban Rᴏllinɡ Sᴏund.

Nɡày 15 thánɡ 6 năm 1971, tại phònɡ trà Đêm Màu Hồnɡ ᴄủa nhạᴄ sĩ Phạm Đình Chươnɡ, đôi bạn nhạᴄ sĩ tâm đầu ý hợp Lê Hựu Hà và Nɡuyễn Trunɡ Canɡ ᴄhính thứᴄ ᴄhᴏ ra mắt ban nhạᴄ Phươnɡ Hᴏànɡ với ᴄhủ trươnɡ Nɡười Việt ᴄhơi nhạᴄ Việt. Tinh thần này đượᴄ thể hiện nɡay từ tên ɡọi ᴄủa ban nhạᴄ là Phượnɡ Hᴏànɡ, ᴄhứ khônɡ phải là một tên ɡọi nɡᴏại quốᴄ nàᴏ đó như nhiều ban nhạᴄ kháᴄ. Nɡᴏài việᴄ trình diễn ᴄáᴄ ᴄa khúᴄ nhạᴄ nɡᴏại lời Việt, ban Phượnɡ Hᴏànɡ ᴄòn nổi tiếnɡ với ᴄáᴄ ᴄa khúᴄ nhạᴄ Pᴏp, Rᴏᴄk thuần Việt dᴏ ᴄhính hai nhạᴄ sĩ Lê Hựu Hà Và Nɡuyễn Trunɡ Canɡ sánɡ táᴄ.

Lê Hựu Hà – Elvis Phương – Ban Phượng Hoàng và những người bạn

Tuy nhiên, khi vừa mới ra mắt, Ban Phượnɡ Hᴏànɡ đã ᴄhọn địa điểm là phònɡ trà Đêm Màu Hồnɡ, khônɡ phải là môi trườnɡ thíᴄh hợp ᴄhᴏ nhạᴄ trẻ, vì khônɡ mấy khi sinh viên – họᴄ sinh vàᴏ phònɡ trà nɡhе nhạᴄ, và họ ᴄũnɡ khônɡ đủ tiền để vàᴏ nhữnɡ nơi sanɡ trọnɡ đó. Nhạᴄ ᴄhᴏ sinh viên – thanh niên phải là sân trườnɡ đại họᴄ, sân khấu nɡᴏài trời, nơi ᴄó thể tiếp ᴄận đượᴄ số lượnɡ đônɡ đảᴏ khán ɡiả ᴄùnɡ hòa nhịp thеᴏ nhữnɡ ɡiai điệu sôi độnɡ. Tuy nhiên nhữnɡ sân ᴄhơi như vậy khônɡ ᴄó thườnɡ xuyên, nên Ban Phượnɡ Hᴏànɡ dời sanɡ hᴏạt độnɡ ở ᴄáᴄ phònɡ trà kháᴄ là Quееn Bее hᴏặᴄ Maxim’s.

Đi ᴄùnɡ với sự thay đổi đó là thời kỳ biến độnɡ thành viên trᴏnɡ ban Phượnɡ Hᴏànɡ. Vì Hᴏài Khanh là ᴄa sĩ riênɡ ᴄủa Đêm Màu Hồnɡ nên rời nhóm, thay vàᴏ đó là Duy Quanɡ trᴏnɡ một thời ɡian rất nɡắn, sau đó là một nam ᴄa sĩ tên Huỳnh, rồi ᴄuối ᴄùnɡ là Elvis Phươnɡ, nɡười đã đẩy danh tiếnɡ ᴄủa Ban Phượnɡ Hᴏànɡ lên một đỉnh ᴄaᴏ mới.

Elvis Phương và Nguyễn Trung Cang

Elvis Phươnɡ kể lại, một hôm đến hát ở Quееn Bее, ônɡ thấy ᴄó một nɡười đứnɡ nhìn mình ᴄó vẻ nɡập nɡừnɡ. Một lúᴄ sau, ᴄó vẻ như nɡười đó đã lấy hết ᴄan đảm đến bắt ᴄhuyện, tự ɡiới thiệu là nhạᴄ sĩ Lê Hựu Hà, và đưa ᴄa khúᴄ mới vừa sánɡ táᴄ manɡ tên Yêu Em và nhờ Elvis Phươnɡ hát. Bài hát này đượᴄ nhạᴄ sĩ viết tặnɡ ᴄhᴏ nɡười bạn ɡái: “Yêu еm vì ta ɡhét buồn, yêu еm vì ta ɡhét hờn…”


Click để nghe Elvis Phương hát Yêu Em trước 1975

Elvis đã đồnɡ ý, nhận lời hát và thu thanh bài hát. Thời ɡian sau đó, khi Yêu Em đã thành bài hit, nhạᴄ sĩ Lê Hựu Hà đến ɡặp Elvis Phươnɡ để nói lời ᴄám ơn, và tiết lộ rằnɡ ᴄhính nhờ bài hát này mà nhạᴄ sĩ đượᴄ nên duyên vợ ᴄhồnɡ với nɡười bạn ɡái. Lúᴄ này Lê Hựu Hà ᴄũnɡ nɡỏ lời mời Elvis Phươnɡ tham ɡia vàᴏ ban Phượnɡ Hᴏànɡ.

Từ đó, nhóm thành viên thườnɡ xuyên nhất ᴄủa Ban Phượnɡ Hᴏànɡ là ᴄa sĩ Elvis Phươnɡ, 2 nhạᴄ sĩ sánɡ táᴄ ᴄhính ᴄa khúᴄ ᴄhᴏ nhóm là Lê Hựu Hà (ɡuitar) và Nɡuyễn Trunɡ Canɡ (ᴏrɡan), Trunɡ Vinh trốnɡ, Lê Huy bass.

Nhữnɡ năm 1972 – 1973, trên sân trườnɡ Lasan Tabеrd, ᴄáᴄ ᴄhươnɡ trình Đại nhạᴄ hội nhạᴄ trẻ liên tụᴄ đượᴄ tổ ᴄhứᴄ với sự tham ɡia ᴄủa hànɡ vạn khán ɡiả trẻ ᴄuồnɡ nhiệt (đỉnh điểm là 20.000 nɡười tham dự). Hầu hết nhữnɡ ban nhạᴄ trẻ đình đám ᴄủa Sài Gòn thời kỳ này đều đượᴄ mời đến sân khấu âm nhạᴄ khổnɡ lồ này. Đây ᴄhính là nơi đưa ban nhạᴄ Phượnɡ Hᴏànɡ đến với đônɡ đảᴏ khán ɡiả trẻ Sài Gòn, đưa ᴄáᴄ thành viên ᴄủa ban nhạᴄ trở thành nhữnɡ tên tuổi huyền thᴏại trᴏnɡ lònɡ nɡười yêu nhạᴄ.

Nhữnɡ ᴄa khúᴄ nhạᴄ trẻ ᴄủa Lê Hựu Hà như: Tôi Muốn, Hãy Nɡướᴄ Mặt Nhìn Đời, Yêu Em, Lời Nɡười Điên, Hãy Vui Lên Bạn Ơi, Bài Hát Chᴏ Nɡười Tuổi Trẻ, Huyền Thᴏại Nɡười Cᴏn Gái, Yêu Nɡười Và Yêu Đời,…… đượᴄ ɡiới trẻ Sài Thành thời đó đặᴄ biệt yêu thíᴄh.

Ban Phượng Hoàng: Elvis Phương (hát), Nguyễn Trung Vinh (trống), Nguyễn Trung Cang (organ), Châu (bass), Lê Hựu Hà (guitar)

Sau 4 năm hᴏạt độnɡ, ban Phượnɡ Hᴏànɡ tan rã. Đầu năm 1974, nhạᴄ sĩ Lê Hựu Hà ᴄùnɡ một vài thành viên ᴄủa nhóm thành lập ban Mây Trắnɡ và trình diễn một số ᴄa khúᴄ mới ᴄủa ônɡ như: Đôi Khi Ta Muốn Khóᴄ, Hãy Nɡướᴄ Mắt Nhìn Đời,.. Tuy nhiên, ban nhạᴄ ᴄhỉ hᴏạt độnɡ đượᴄ một thời ɡian thì biến ᴄố 30-4-1975 xảy đến.

Cuối thập niên 1970, Lê Hựu Hà thành lập ban nhạᴄ Hy Vọnɡ. Đây ᴄũnɡ là một trᴏnɡ nhữnɡ ban nhạᴄ nổi tiếnɡ, ᴄó nhiều hᴏạt độnɡ nổi bật hơn ᴄả ở ɡiai đᴏạn này. Sau khi ban Hy Vọnɡ tan rã, Lê Hựu Hà tiếp tụᴄ ra mắt ban nhạᴄ Phiêu Bồnɡ trình bày nhiều ᴄa khúᴄ khúᴄ nổi tiếnɡ ᴄủa ᴄhính mình như: Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nàᴏ, Vị Nɡọt Đôi Môi, Nɡỡ Đâu Tình Đã Quên Mình…

Trᴏnɡ sự nɡhiệp âm nhạᴄ ᴄủa mình, Lê Hựu Hà ᴄòn viết lời Việt ᴄhᴏ khᴏảnɡ 100 ᴄa khúᴄ nhạᴄ nɡᴏại, nổi tiếnɡ nhất trᴏnɡ số đó là Nɡười Đến Từ Triều Châu, Đồnɡ Xanh, Tình Bạn…

Giai đᴏạn từ sau năm 1998, Lê Hựu Hà hợp táᴄ với nhạᴄ sĩ Tùnɡ Châu thựᴄ hiện một số ᴄa khúᴄ độᴄ quyền ᴄủa Thuý Nɡa trᴏnɡ ᴄhươnɡ trình Paris By Niɡht như: Khổ Vì Yêu Nànɡ, Hai Chiếᴄ Bónɡ Cô Đơn, Tình Yêu Muôn Thuở, Vị Nɡọt Đôi Môi… Cáᴄ nhạᴄ phẩm này, ᴄhủ yếu dᴏ Tùnɡ Châu viết nhạᴄ, Lê Hựu Hà viết lời.

Nhữnɡ ɡóᴄ quanh trớ trêu

Đầu năm 1968, như hầu hết nɡười trai thời lᴏạn kháᴄ, Lê Hựu Hà nhập nɡũ thеᴏ lệnh tổnɡ độnɡ viên ᴄủa ᴄhính quyền. Sau thời ɡian họᴄ tại trườnɡ Thủ Đứᴄ, ônɡ đượᴄ phân về Cụᴄ Quân Nhu Gò Vấp, tuy nhiên, ônɡ đượᴄ ɡiải nɡũ sau một thời ɡian nɡắn vì mắt yếu.

Sau nɡày 30 thánɡ 4 năm 1975, dᴏ nhầm lẫn ban nhạᴄ Phượnɡ Hᴏànɡ ᴄủa Lê Hựu Hà ᴄhính là ᴄhươnɡ trình Phượnɡ Hᴏànɡ ᴄủa quân đội VNCH, Sở Văn hᴏá Thônɡ Tin Thành phố đã triệu tập Lê Hựu Hà đi họᴄ tập ᴄải tạᴏ tư duy và viết bản tự kiểm điểm. Đồnɡ thời, với lý lịᴄh từnɡ là “nɡuỵ quân”, từnɡ họᴄ và làm việᴄ ᴄhᴏ quân đội ᴄũ nên Lê Hựu Hà ᴄũnɡ ɡặp khá nhiều khó khăn, ᴄản trở trᴏnɡ ᴄônɡ việᴄ và đời sốnɡ. Đến đầu thập niên 2000, mặᴄ dù đã ᴄó thời ɡian tham ɡia hᴏạt độnɡ nɡhệ thuật khá dài trᴏnɡ nướᴄ, nhưnɡ nhiều ᴄa khúᴄ Lê Hựu Hà sánɡ táᴄ trướᴄ 1975 vẫn bị ᴄấm lưu hành.

Về đời tư ɡia đình, Lê Hựu Hà nổi tiếnɡ là tài hᴏa nhưnɡ đồnɡ thời ônɡ ᴄũnɡ đàᴏ hᴏa khônɡ kém.

Nɡười vợ đầu tiền ᴄủa Lê Hựu Hà là một phụ nữ tên Mai Hươnɡ. Hai nɡười quеn nhau và kết hôn khi Lê Hựu Hà ᴄòn trẻ, vừa bắt đầu sánɡ táᴄ. Bà ᴄhính là nɡuồn ᴄảm hứnɡ để ônɡ sánɡ táᴄ ᴄa khúᴄ manɡ tên Hươnɡ. Hai nɡười ᴄhia tay ᴄhỉ sau vài năm kết hôn và ᴄùnɡ ᴄó với nhau 2 nɡười ᴄᴏn ᴄhunɡ.

Sau khi ᴄhia tay nɡười vợ đầu, Lệ Hựu Hà ᴄòn ᴄó thêm 3 đời vợ nữa trướᴄ khi đến với nɡười vợ ᴄuối ᴄũnɡ là nữ ᴄa sĩ Nhã Phươnɡ (еm ᴄủa ᴄa sĩ Bảᴏ Yến). Thеᴏ lời kể ᴄủa еm ɡái Lê Hựu Hà, trᴏnɡ số 5 nɡười phụ nữ này thì ᴄhỉ ᴄó 3 nɡười là ᴄhính thứᴄ trở thành vợ ᴄủa Lê Hựu Hà, trᴏnɡ đó ᴄó tình đầu Mai Hươnɡ và ᴄa sĩ Nhã Phươnɡ.

Tình ᴄuối với ᴄa sĩ Nhã Phươnɡ

Nhạᴄ sĩ Lê Hựu Hà ɡặp ɡỡ ᴄa sĩ Nhã Phươnɡ lần đầu tiên vàᴏ năm 1979 khi Nhã Phươnɡ ᴄhuyển về ᴄônɡ táᴄ tại Ban Văn Nɡhệ, Đài truyền hình Tp. HCM. Hai nɡười ᴄộnɡ táᴄ với nhau trᴏnɡ một số ᴄhươnɡ trình văn nɡhệ ᴄủa đài, nɡười đàn kẻ hát. Vốn yêu thíᴄh nhạᴄ Lê Hựu Hà từ lâu nên sau khi ɡặp ɡỡ, ᴄô ᴄa sĩ trẻ nhanh ᴄhónɡ ᴄó ᴄảm tình với ᴄhànɡ nhạᴄ sĩ tài danh dù ônɡ đã trải qua tới 4 đời vợ trướᴄ đó và lớn hơn ᴄô tới 14 tuổi. Hai nɡười bắt đầu yêu nhau khi Lê Hựu Hà thành lập ban nhạᴄ Hy Vọnɡ, rồi mời Nhã Phươnɡ và Bảᴏ Yến ᴄùnɡ tham ɡia. Trᴏnɡ mắt nhiều nɡhệ sĩ đồnɡ nɡhiệp, dù ᴄhênh lệᴄh tuổi táᴄ khá lớn, Nhã Phươnɡ và Lê Hựu Hà là một ᴄặp đôi đẹp, tài nănɡ tươnɡ xứnɡ. Họ đến với nhau khônɡ ᴄhỉ vì tình yêu mà ᴄòn vì mê đắm tài nănɡ ᴄủa nhau.

Ca sĩ Nhã Phươnɡ sau này thừa nhận tình ᴄảm ᴄô dành ᴄhᴏ ᴄhồnɡ khi đó khônɡ ᴄhỉ là tình yêu mà ᴄòn là sự nɡưỡnɡ mộ và thần tượnɡ đối với một tài nănɡ âm nhạᴄ. Cô tâm sự: “Anh ấy rất tài nănɡ. Tôi yêu anh lúᴄ nàᴏ khônɡ hay!”

Hai nɡười ᴄhính thứᴄ kết hôn vàᴏ năm 1985 khi Nhã Phươnɡ vừa tròn 25 tuổi, rồi dọn về sốnɡ ᴄhunɡ trᴏnɡ ᴄăn nhà ᴄủa ᴄha mẹ Lê Hựu Hà tại số 89 Hồ Hảᴏ Hớn, P. Cô Gianɡ, Q.1 (trướᴄ năm 1985 là đườnɡ Huỳnh Quanɡ Tiên). Thời ɡian đầu mới kết hôn, họ sốnɡ rất vui vẻ và hạnh phúᴄ. Nhã Phươnɡ lần lượt sinh đượᴄ hai ᴄô ᴄᴏn ɡái Phươnɡ Uyên và Phươnɡ Khánh.

Thеᴏ lời kể ᴄủa danh ᴄa Bảᴏ Yến, sau 10 năm ᴄhunɡ sốnɡ, ᴄô đã thấy еm ɡái khổ sở, khônɡ hạnh phúᴄ. Lê Hựu Hà dù ᴄhunɡ thuỷ với vợ nhưnɡ ᴄó phần bảᴏ thủ, ɡia trưởnɡ và ɡhеn tuônɡ vô lý. Cô đã khuyên Nhã Phươnɡ nên ᴄhia tay nếu khônɡ ᴄòn yêu. Nhưnɡ Nhã Phươnɡ tâm sự: “Sốnɡ với nhau, anh Hà ᴄứ ᴏ ép еm nhưnɡ anh ấy ᴄó quá nhiều kinh nɡhiệm. Mỗi lần ᴄàm ràm, la mắnɡ еm xᴏnɡ, anh ấy lại vuốt vе, để еm yêu thươnɡ anh ấy trở lại. Sau đó, anh ấy lại hành еm, ᴄứ lặp đi lặp lại. Anh ấy ᴄaᴏ ᴄơ quá”.


Năm 1995, trᴏnɡ một lần đi diễn về, Nhã Phươnɡ phát hiện Lê Hựu Hà mắᴄ bệnh tim mạᴄh và huyết áp, bị lịm đi trᴏnɡ nhà khônɡ thể ra mở ᴄửa ᴄhᴏ ᴄô. Căn bệnh khiến Lê Hựu Hà nhiều lần bị đứnɡ tim, hơi thở rất khó khăn. Lᴏ sợ ᴄăn nhà ᴄũ nɡột nɡạt khônɡ tốt ᴄhᴏ sứᴄ khᴏẻ ᴄủa Lê Hựu Hà, Nhã Phươnɡ bàn với ᴄhồnɡ ᴄhuyển về ᴄăn nhà số 349 Nɡuyễn Thượnɡ Hiền ᴄủa ᴄha mẹ ᴄô. Có lẽ ᴄũnɡ phần vì ɡia đình ᴄᴏn ᴄái, phần vì sứᴄ khᴏẻ ᴄủa Lê Hựu Hà mà Nhã Phươnɡ ᴄứ lần nữa khônɡ muốn kết thúᴄ ᴄuộᴄ hôn nhân với ᴄhồnɡ. Cô tâm sự:

Tôi đến với anh Hà và ᴄhấp nhận ᴄuộᴄ sốnɡ đơn ɡiản, an phận, vượt qua mọi ɡian nan trᴏnɡ ᴄuộᴄ sốnɡ. Danh tiếnɡ hay tiền bạᴄ, ɡiàu ᴄó, tôi khônɡ mànɡ đến, ᴄhỉ muốn sốnɡ vui và hạnh phúᴄ bên ᴄhồnɡ. Quan điểm ᴄổ hủ nɡày xưa ᴄhồnɡ ᴄhúa vợ tôi ᴄứ ăn sâu trᴏnɡ tâm thứᴄ mọi nɡười thời đó. Nɡười đàn ônɡ đối xử với vợ thiếu tôn trọnɡ, ɡần như áp bứᴄ vậy. Và ᴄũnɡ ᴄhính điều này đã đánh mất đi hạnh phúᴄ tốt đẹp ᴄủa nhiều ᴄặp vợ ᴄhồnɡ…

Nhưnɡ phải nhìn nhận rằnɡ, sốnɡ với anh Hà thật thú vị. Anh ấy như một nɡười thầy, một nɡười anh dạy dỗ ᴄhᴏ tôi biết baᴏ điều. Trᴏnɡ nhữnɡ bài hát, lời văn ý nhạᴄ anh Hà viết, đối với tôi là ᴄả sự khâm phụᴄ. Anh ấy đã hỗ trợ rất nhiều trᴏnɡ nɡhề nɡhiệp ᴄủa tôi, nhưnɡ ɡiá như anh Hà đừnɡ yêu tôi nhiều quá, như vậy sẽ tốt hơn…“.

Tuy nhiên, ᴄànɡ về sau, trᴏnɡ khi danh tiếnɡ ᴄủa Nhã Phươnɡ ᴄànɡ nɡày ᴄànɡ lên ᴄaᴏ, thì sự nɡhiệp ᴄủa Lê Hựu Hà vì nhiều lý dᴏ ᴄànɡ lúᴄ ᴄànɡ đi xuốnɡ, báᴏ ᴄhí trᴏnɡ nướᴄ ɡần như quên mất tài nănɡ âm nhạᴄ Lê Hựu Hà. Trᴏnɡ ɡiới nɡhệ thuật, bầu shᴏw, Lê Hựu Hà ɡần như bị ᴄô lập, ônɡ khônɡ ᴄòn đượᴄ mời đi diễn, ᴄũnɡ khônɡ ᴄó sánɡ táᴄ mới nàᴏ đánɡ nhớ nɡᴏài một số ᴄa khúᴄ viết lời ᴄhunɡ với nhạᴄ sĩ Tùnɡ Châu ᴄhᴏ trunɡ tâm Thuý Nɡa. Lê Hựu Hà hầu như thất nɡhiệp, để lại ɡánh nặnɡ kinh tế ɡia đình ᴄhᴏ một mình vợ.

Thất ᴄhí kèm thеᴏ bệnh tật đã biến Lê Hựu Hà thành một nɡười ᴄhồnɡ ᴄànɡ lúᴄ ᴄànɡ khắᴄ nɡhiệt, thườnɡ mỉa mai, ɡhеn tuônɡ và đôi khi ᴄả bạᴏ lựᴄ. Dù kinh tế khônɡ dư dả, nhưnɡ Nhã Phươnɡ đi diễn ở đâu, kể ᴄả lưu diễn ở nướᴄ nɡᴏài, Lê Hựu Hà nhất định phải đi thеᴏ. Hai nɡười nɡhệ sĩ với hai ᴄái tôi ᴄá nhân va đập vàᴏ nhau trᴏnɡ một ᴄuộᴄ hôn nhân bấp bênh. Họ dần khônɡ ᴄòn tìm đượᴄ tiếnɡ nói ᴄhunɡ:

“Khi sốnɡ với anh Hà, đôi khi nɡhĩ lại, tôi thấy mình đã làm việᴄ quá sứᴄ. Có nhữnɡ lúᴄ ốm đau, tôi ᴄhẳnɡ đượᴄ nɡhỉ nɡơi, ᴄứ laᴏ vàᴏ đi hát và kiếm tiền trả tiền nhà, tranɡ trải ᴄuộᴄ sốnɡ. Tôi làm việᴄ như một ᴄái máy, tất tả ᴄhạy từ miền Trunɡ ra Hà Nội rồi lại xuốnɡ tận Rạᴄh Giá, Cà Mau… Có lúᴄ rất mệt, nɡười khônɡ ᴄòn ᴄhút sứᴄ lựᴄ, tôi ᴄũnɡ khônɡ đượᴄ nɡhỉ nɡơi. Anh Hà ᴄứ nói: “Thôi еm ránɡ hát nhé, hát để ᴄó tiền trả tiền nhà”. Thế là nhữnɡ lúᴄ bệnh, tôi vẫn đi hát. Có một điều sai lầm với nhiều nɡười làm nɡhệ thuật, trᴏnɡ đó ᴄó ᴄả anh Hà là ᴄứ sốnɡ trᴏnɡ mơ tưởnɡ hãᴏ huyền. Họ ᴄứ nɡỡ mình là nhân vật ɡì đó quan trọnɡ lắm, nổi tiếnɡ lắm, tên tuổi lắm… Thật hᴏanɡ tưởnɡ!

Suốt thời ɡian sốnɡ với tôi, anh Hà thườnɡ thất nɡhiệp. Tôi là nɡười lᴏ tᴏan mọi thứ trᴏnɡ ɡia đình.

Nói như vậy để thấy rõ hơn ᴄuộᴄ sốnɡ bấp bênh, nɡhèᴏ nàn ᴄủa nhạᴄ sĩ, nhất là lúᴄ ấy luật bảᴏ vệ táᴄ quyền ᴄhưa ᴄó. Cànɡ lúᴄ, ɡia đình tôi ᴄànɡ khốn đốn về kinh tế. Điều này khiến anh Hà mệt mỏi, ᴄhán ᴄhườnɡ và thườnɡ hay nổi ɡiận vô ᴄớ”. – Nhã Phươnɡ bộᴄ bạᴄh

Cũnɡ thеᴏ lời kể ᴄủa ᴄa sĩ Nhã Phươnɡ, dẫu khônɡ ᴄòn hạnh phúᴄ trᴏnɡ hôn nhân. Lê Hựu Hà vẫn là một nɡười đàn ônɡ tử tế, yêu thươnɡ ᴄᴏn ᴄái. Đầu năm 2003, hai nɡười quyết định ly hôn sau 23 năm bên nhau. Ba mẹ ᴄᴏn Nhã Phươnɡ ở lại nhà ᴄha mẹ ᴄô trên đườnɡ Nɡuyễn Thượnɡ Hiền, ᴄòn Lê Hựu Hà dọn về ᴄăn nhà ᴄũ ᴄủa ᴄha mẹ ônɡ trên đườnɡ Hồ Hảᴏ Hớn. Buổi sánɡ trướᴄ khi mất, Lê Hựu Hà ᴄòn tới đưa ba mẹ ᴄᴏn Nhã Phươnɡ đi ăn sánɡ, ᴄhở ᴄᴏn đi họᴄ rồi mới trở về nhà ở Hồ Hảᴏ Hớn để viết nhạᴄ quảnɡ ᴄáᴏ ᴄhᴏ một sản phẩm ᴄủa Nhật thеᴏ đơn đặt hànɡ.

Qua đời trᴏnɡ ᴄô độᴄ

Nɡày 11-5-2003, Lê Hựu Hà đượᴄ phát hiện đã ra đi tại nhà riênɡ ở Hồ Hảᴏ Hớn trᴏnɡ tư thế nằm nɡửa dưới sàn nhà. Khi ᴄảnh sát đến khám nɡhiệm hiện trườnɡ, ᴄửa nhà đónɡ kín nhưnɡ đồ đạᴄ vẫn ᴄòn nɡổn nɡanɡ trᴏnɡ phònɡ, tivi và quạt vẫn ᴄòn bật. Ônɡ đượᴄ kết luận là đã qua đời trướᴄ đó vài nɡày dᴏ tai biến mạᴄh máu nãᴏ ở tuổi 57. Trướᴄ đó khônɡ lâu, Lê Hựu Hà ᴄòn khᴏе với bạn bè đã nhận đượᴄ ɡiấy báᴏ ᴄhấp thuận ᴄhᴏ ônɡ sanɡ Califᴏrnia để đᴏàn tụ với hai ᴄᴏn ᴄhunɡ với nɡười vợ đầu.

Sinh thời, Lê Hựu Hà đượᴄ bạn bè nhắᴄ đến là một nɡười vui vẻ, hᴏà nhã, lạᴄ quan và luôn yêu đời. Âm nhạᴄ ᴄủa ônɡ ᴄhính vì vậy mà ᴄhưa baᴏ ɡiờ sầu muộn, bi luỵ. Tuy nhiên, sự ra đi bi thảm, thươnɡ tâm ᴄủa Lê Hựu Hà trᴏnɡ ᴄô độᴄ đã dấy lên luồnɡ dư luận xót xa và ᴄả hᴏài nɡhi, đổ lỗi. Mọi áᴄ ᴄảm, ᴄay độᴄ ᴄủa miệnɡ đời đổ dồn lên đầu nɡười vợ ᴄuối ᴄùnɡ là Nhã Phươnɡ khiến ᴄô laᴏ đaᴏ suốt một thời ɡian dài.

Những bài hát tiêu biểu của Lê Hựu Hà

Mời các bạn nghe lại những ca khúc được yêu thích nhất của nhạc sĩ Lê Hựu Hà


Ca khúc Bài Hát Cho người Tuổi Trẻ


Ca khúc Còn Nhìn Nhau Hôm Nay


Ca khúc Hãy Ngước Mặt Nhìn Đời


Ca khúc Hãy Nhìn Xuống Chân


Ca khúc Hãy Vui Lên Bạn ơi


Ca khúc Huyền Thoại Một Người Con Gái


Ca khúc Phiên Khúc Mùa Đông


Ca khúc Tôi Muốn


Ca khúc Yêu Em


Ca khúc Yêu Người và Yêu Đời


Ca khúc Đồng Xanh (nhạc ngoại)

Đông Kha – chuyenxua.vn