Câu chuyện về những căn villa (biệt thự) ở Sài Gòn ngày xưa

Nếu nhắc về những ngôi biệt thự xưa ở Sài Gòn, có thể chia thành 2 loại, thứ nhứt là biệt thự cổ kiến trúc Pháp được xây trước năm 1954, chủ yếu là từ đầu thế kỷ 20 với khoảng 1300 căn biệt thự, đa phần tập trung ở quận 3 với khoảng 800 căn. Còn loại thứ 2 là biệt thự phong cách tân thời được xây từ sau năm 1954 cho đến năm 1975.

Hầu hết những căn biệt thự cổ kiến trúc Pháp đều nằm ở vị trí đắc địa, nên ngày nay khi bị xuống cấp, chủ nhân của nó không có ý định tôn tạo lại mà muốn phá hủy để dễ bán lại đất nền có giá trị lớn. Vì vậy đa số căn biệt thự cổ Sài Gòn có quy mô nhỏ đã bị xóa sổ một cách đáng tiếc, chỉ còn lại một số biệt thự lớn có giá trị bảo tồn cao nên nhà nước không cho dỡ bỏ.

Căn biệt thự cổ nổi tiếng nhất ở Sài Gòn có lẽ là tòa biệt thự có 99 cửa của đại phú gia Hứa Bổn Hòa (Hui Bon Hoa, chú Hỏa) được hoàn thành năm 1934, nằm trên 3 con đường thời Pháp là d’Ayot – Alsace Loraine – Hamelin. Sau năm 1975, ba tên đường này đổi thành Nguyễn Văn Sâm – Phó Đức Chính – Hồ Văn Ngà, tòa nhà được gia tộc họ Hứa ở cho đến năm 1975 thì được chính quyền mới tiếp quản, rồi trở thành Bảo tàng Mỹ thuật từ năm 1987 cho đến nay. Ba tên đường xung quanh tòa nhà này cũng đổi thành Nguyễn Thái Bình – Phó Đức Chính – Lê Thị Hồng Gấm (quận 1)

Một căn biệt thự cổ khác rất đẹp và có giá trị lớn là căn ở vị trí tiếp giáp ba mặt tiền đường Nguyễn Thị Diệu, Bà Huyện Thanh Quan và Võ Văn Tần có tuổi đời hơn 100 năm, vài năm trước được định giá 35 triệu USD. Biệt thự được xây dựng trên hai lô đất rộng 2.800 m2 (diện tích xây dựng 1.100 m2, cảnh quan 1.700 m2).

Căn biệt thự kiến trúc Pháp có giá 35 triệu USD

Ngoài ra có hàng trăm căn biệt thự kiến trúc Pháp lớn nhỏ khác còn lại trong nội đô Sài Gòn.

Ngoài những căn biệt thự cổ có từ thời Pháp này, sau 1954 ở Sài Gòn còn mọc lên một số căn biệt thự có kiến trúc tân thời do một thế hệ kiến trúc sư tài năng người Việt thiết kế:

Đây là căn biệt thự khác của gia tộc chú Hỏa nằm ở số 1 Lý Thái Tổ, sau này trở thành nhà khách chính phủ
Một căn biệt thự ở Sài Gòn
Biệt thự đường Trương Minh Giảng của ông Trương Bửu Điện, từng là lãnh sự của VNCH tại Hoa Kỳ, đại sứ VNCH tại Singapore và Tổng trưởng Bộ thông tin năm 1971.
Biệt thự trên đường Công Lý, đối diện sân Phan Đình Phùng. Đây là nơi ở của Thống đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam – Lê Quang Uyển. Ngày nay nơi này là trụ sở Vidotour Indochina (địa chỉ 145 Nam Kỳ Khởi Nghĩa).

Hình bên trên là căn biệt thự nổi tiếng do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, nằm ở góc đường Hồng Thập Tự – Duy Tân, nay là Nguyễn Thị Minh Khai – Phạm Ngọc Thạch. Trước 1975 là biệt thự của ông bà Ưng Thi (chủ rạp Rex). Có một thời gian ông bà Trần Văn Chương (song thân của bà Nhu) ở đây.

Sau năm 1975, có một thời gian nơi này là trụ sở Tổng lãnh sự quán Trung Quốc. Sau khi lãnh sự quán chuyển qua đường Hai Bà Trưng như hiện nay, tòa nhà này được cho thuê để mở nhà hàng Con Gà Trống.

Biệt thự trên đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng), đối diện Bệnh viện Grall (nay là Nhi Đồng 2). Biệt thự này dành cho các bác sĩ của bệnh viện ở
Căn biệt thự này nằm trên đường Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa), gần ngã tư Hiền Vương (nay là Võ thị Sáu), đối diện bên kia đường là viện Pasteur. Hiện nay tòa nhà này vẫn còn ở số nhà 173, sát bên nhà hàng Suối Đá.
Một biệt thự yên tĩnh, thuộc trường học của cộng đồng người Mỹ trước 1965. Khu vực này sau 1965 là BV Dã chiến 3 của Quân đội Mỹ ở khu vực gàn công viên Hoàng Văn Thụ ngày nay.
Can biệt thự nhỏ trên đường MInh Mạng, nay là đường Ngô Gia Tự. Bên phải là vườn hoa nhỏ góc Minh Mạng – Trần Hoàng Quân (nay là góc Ngô Gia Tự – Nguyễn Chí Thanh). Đi về bên trái là tới Đại học xá Minh Mạng, trường Trung Học Chu Văn An và nhà thờ Nữ Thánh Jeanne d’Arc.

Đây là căn biệt thự nổi tiếng ở số 60 Trần Quý Cáp, tư dinh của tướng Westmoreland – tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại Vêịt Nam ở góc đường Trần Quý Cáp – Đoàn Thị Điểm, nay là Võ Văn Tần – Đoàn Thị Điểm. Tướng Westmoreland ở đây từ năm 1964 đến 1968. Sau đó là tướng Creighton Abrams (1968-1972), và sau cùng, Tướng Frederick Weyand C ở từ năm 1972 cho đến khi quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam.

Sau này, biệt thự trở thành trụ sở công ty xây dựng Hòa Bình. Mời các bạn xem 1 vài hình ảnh khác:

Biệt thự trên đường Bạch Đằng, gần ngã tư Phan Chu Trinh ở Gia Định.

Hình ảnh một số biệt thự khác ở Sài Gòn:

Đông Kha (biên soạn) – Nguồn: nhacxua.vn

“Mời người lên xe, về miền quá khứ” – Phần 5: Sài Gòn năm 1959

Mời các bạn trở về quá khứ của Sài Gòn hơn 60 năm trước, với loạt ảnh được chụp vào năm 1959.

Đầu tiên là loạt ảnh của nhiếp ảnh gia Nguyễn Bá Mậu ghi lại hình ảnh của thành đô Sài Gòn. Hình chụp của ông rất khác biệt với đa số tấm ảnh về Sài Gòn trước 1975 của các quân nhân Mỹ, vốn chỉ là những tay máy nghiệp dư.

Hình ảnh này được người nhà của ông Nguyễn Bá Mậu đăng trên artcorner.vn, tất cả những hình sau đây đều được chụp vào năm 1959.

Bến Bạch Đằng ngay đầu đường Tự Do

Dinh Độc Lập khi còn kiến trúc cũ:

Dưới đây là Cầu Mống nối Quận 1 và Quận 4 được xây vào cuối thế kỷ 19, là một trong những cây cầu cổ xưa nhất của Sài Gòn hiện nay vẫn còn được giữ lại và chỉ dành cho đi bộ tham quan.

Đại lộ Nguyễn Huệ nhìn về phía Tòa Đô Chánh
Người Sài Gòn đi bộ trên vỉa hè đường Tự Do, ngay công viên Chi Lăng
Đại lộ Đồng Khánh, nay là đường Trần Hưng Đạo B
Đại lộ Lê Lợi nhìn về phía trụ sở Quốc Hội
Công trường Lam Sơn nhìn từ khách sạn REX
Đại lộ Lê Lợi
Đoạn Đồng Khánh – Ngô Quyền (nay là Trần Hưng Đạo – Ngô Quyền)

Tiếp theo là những hình ảnh Sài Gòn năm 1959 đăng trên tập san Tiếng Dội Miền Nam của Trần Tấn Quốc:

Trụ sở Quốc hội nhìn qua bồn nước từ ngã tư đại lộ Nguyễn Huệ và Lê Lợi
Một tòa chung cư 7 từng trên đường Hai Bà Trưng
Bến xe đò lục tỉnh đường Trương Vĩnh Ký lúc nào cũng đông hành khách
Đại lộ Khổng Tử (Chợ Lớn) có chiều đi về, ngăn cách bởi hàng cây thông ngay ngắn
Ðường Tự Do là đường mà khách ngoại quốc ưa thăm viếng nhất
Đường Võ Tánh, những nhà đồ sộ đã thay thế cho những nhà lụp xụp cũ

Một số hình ảnh khác của Sài Gòn năm 1959:

Hình Thanh Nga năm 17 tuổi trên báo Màn Ánh Sân Khấu năm 1959
Đại lộ Hàm Nghi nhìn từ Bến Bạch Đằng. Chiếc xe xanh đang quẹo là Chevrolet Mỹ đi theo hướng đường rầy xe lửa từ ga Sài-Gòn ra Hàm Nghi qua cầu Khánh Hội – Trịnh Minh Thế Q4
Đại lộ Nguyễn Huệ đoạn Ngô Đức Kế
Nhà hát thành Phố được chuyển công năng thành trụ sở của Quốc Hội từ năm 1955
Một hẻm nhỏ Sài Gòn
Sông Sài Gòn đoạn bến Bạch Đằng

Tòa Đô Chánh năm 1959
Bên trong chợ Bến Thành
Cầu Khánh Hội nối Quận 1 và Quận 4, từ Bến Bạch Đằng sang đường Trình Minh Thế
Khách sạn Caravelle đăng xây gằn xong. Khách sạn nổi tiếng này được xây năm 1957 và khai trương vào Noel năm 1959. Tầng trệt cao ốc có văn phòng thương mại của hãng Air France. Khách sạn này được xây dựng với cổ phẩn của hãng Catinat Foncier, hãng hàng không Air France và cả Giáo hội Công giáo Việt Nam. Nhân khi đó Air France vừa mới mua được một đoàn máy bay phản lực Caravelle của xưởng sản xuất Sud Aviation nên đã đề nghị dùng tên “Caravelle” để gọi tòa nhà này.

Đông Kha (nhacxua.vn)

 

Sài Gòn năm 1961 qua những tấm hình được phục chế màu

Sau đây là những tấm hình chụp Sài Gòn năm 1961, vốn là ảnh đen trắng của tạp chí danh tiếng LIFE. Chúng tôi sử dụng công cụ colorize và photoshop để phục chế màu cho những tấm hình này được sống động hơn. Do hình ảnh được phục chế chủ yếu là quá trình tự động, nên màu sắc chắc chắn không giống 100% so với sự thật, tuy nhiên cũng góp phần để chúng ta có thể nhìn lại Sài Gòn vào 60 năm trước được chân thật hơn.

Một số hình ảnh trước chợ Bến Thành:

Dãy nhà trong hình xưa kia thuộc về gia tộc của Hua Bon Hoa (chú Hỏa), được xây dựng cùng lúc với chợ Bến Thành từ năm 1911. Ngày nay dãy nhà thương mại này vẫn còn, nằm trên đường Phan Chu Trinh.

Đường Đồng Khánh ở Chợ Lớn, nay là đường Trần Hưng Đạo B

Một quý cô xinh đẹp đang băng qua đại lộ Nguyễn Huệ từ bên công viên Đống Đa

Phụ nữ Sài Gòn lịch thiệp với áo dài hoa truyền thống và váy xòe hiện đại

Công trường Lam Sơn

Một thiếu nữ Sài Gòn xưa

fb.com/1xuaxua
Nguồn ảnh: LIFE, manhhai flickr

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

“Mời người lên xe, về miền quá khứ” – Phần 4: Sài Gòn năm 1958

Tiếp theo 3 phần trước, đã giới thiệu những hình ảnh chọn lọc của Sài Gòn trong những năm đầu của thời kỳ đệ nhất cộng hòa, đó là 1955, 1956, 1957.

Sau đây xin giới thiệu những hình ảnh của Sài Gòn năm 1958.

Rửa xe ở một góc đường Hùng Vương năm 1958
Dinh Độc Lập năm 1958. Kiến trúc này đã tồn tại từ năm 1871, đến năm 1962 thì bị phá hủy. Công trình này được đánh giá là có quy mô bề thế và mang dấu ấn thời gian nhiều hơn Dinh Độc Lập mới được xây năm 1963 của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.
Tem năm 1958 có hình ảnh Dinh Độc Lập
Cây xăng ở góc đường Hai Bà Trưng – Trần Cao Vân năm 1958. Ngày nay 2 đường này vẫn được giữ nguyên tên, và vị trí này vẫn là cây xăng, nay mang tên Petrolimex ở số 22 Trần Cao Vân.
Đại lộ Lê Lợi năm 1958, nhìn về phía nhà Quốc Hội. Bên trái là thương xá Eden vừa mới xây không lâu
Đường Đồng Khánh (nay là đường Trần Hưng Đạo B). Rạp xinê bên trái sau này là rạp LIDO, đang chiếu phim “Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer” (Les Aventures de Tom Sawyer). Nơi cột đèn bên phải là ngã ba Đồng Khánh – Châu Văn Tiếp (nay là ngã ba Trần Hưng Đạo B – Trần Xuân Hòa).
Đây là bức ảnh rõ nhất của Hội Trường Diên Hồng năm 1958.

Xin nói thêm về tòa nhà Hội Trường Diên Hồng ở bên trên, nơi mà sau này từ năm 1967 trở thành trụ sở của Thượng Nghị Viện, thuộc Quốc Hội. Tòa nhà này được chính quyền Pháp xây năm 1927 để làm trụ sở phòng thương mại mới (trụ sở cũ nằm ở công trường Mê Linh, đến nay vẫn còn, trở thành 1 quán bar). Trụ ở mới này được thiết kế phong cách tân cổ điển, có chút ảnh hưởng từ cả kiến trúc Chăm và Khơ Me.

Năm 1945, khi quân Nhật nắm quyền ở Đông Dương, quân đội đã sử dụng toà nhà này như là một trung tâm thẩm vấn. Sau đó Pháp tái chiếm Đông Dương rồi dùng toà nhà này để làm trụ sở quân đội.

Năm 1955, khi quân đội Pháp đã rời Đông Dương, toà nhà này trở thành một trung tâm Hội Nghị và được đặt tên là Hội Trường Diên Hồng như đã thấy ở hình trên, là nơi tổ chức những phiên họp quan trọng thời đệ nhất cộng hoà.

Góc đường ngay phía sau nhà Quốc Hội, đường Hai Bà Trưng với trụ sở điện lực CEE. Bên trái CEE là đường Nguyễn Siêu, bên phải CEE là đường Cao Bá Quát. Đó là tên của 2 danh sĩ đời vua Tự Đức.

Xin nói thêm về tòa nhà CEE ở bên trái của hình bên trên, hiện nay là trụ sở của Tổng công ty Điện Lực Miền Nam.

CEE là chữ viết tắt của Compagnie des Eaux et d’Électricité de Saigon, nghĩa là Công ty Điện Nước Sài Gòn được thành lập năm 1900, ban đầu có nhiệm vụ cung cấp nước cho các vùng Chợ Lớn, Sài Gòn và cả Nam Vang (Phnompenh).

Đến năm 1909, CEE đã mua lại SEVS – là một công ty điện khác – để chính thức trở thành nhà cung cấp cả điện lẫn nước cho Sài Gòn, Chợ Lớn và Phnom Penh.

Mặc dù nước Pháp đã chấm dứt sự hiện diện tại Việt Nam từ năm 1954, nhưng công ty CEE của Pháp vẫn hoạt động đến năm 1967 theo hợp đồng ký với chính quyền VNCH, rồi sau đó mới chuyển giao lại cho công ty Sài Gòn Điện Lực.

Cận cảnh hình ảnh góc đường Hai Bà Trưng – Nguyễn Siêu năm 1958. Bên trái của hình này là đường Nguyễn Siêu.
Đoàn làm phim Người Mỹ Trầm Lặng (The Quiet American) năm 1958, đang quay một cảnh ngay trước nhà Quốc Hội, công trường Lam Sơn. Phía sau hình có thể thấy là trụ sở của Phòng Thông Tin Đô Thành.

Xin nói thêm về phim Người Mỹ Trầm Lặng được quay tại Sài Gòn năm 1958, vì có 1 số chi tiết thú vị.

Từ năm 1956, đạo diễn người Mỹ Joseph L. Mankiewicz tới miền Nam Việt Nam cần tuyển một thiếu nữ châu Á tóc dài để đóng vai chính là một thiếu nữ người Việt tên là Phượng cho phim The Quiet American, được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Graham Greene, có bối cảnh là thành phố Sài Gòn năm 1952.

Trong thành phần Ban Giám Khảo lựa chọn diễn viên có tài tử Lê Quỳnh và vài người Pháp khác, và người đẹp xứ Đà Lạt 18 tuổi tên là Huỳnh Thị Bê đã được chọn vào vai diễn này. Có một điều đặc biệt, đó là Huỳnh Thị Bê chính là người vợ đầu của danh ca Hùng Cường, là mẹ của ca sĩ Quang Bình.

Tuy nhiên khi hãng phim dự tính mời cô Huỳnh Thị Bê sang Hawaii đóng những cảnh đầu của phim, cũng là lúc đám hỏi giữa cô và Hùng Cường vừa tổ chức xong, nên Hùng Cường không đồng ý cho cô đi một mình sang ngoại quốc, vì thế cô Huỳnh Thị Bê đành từ chối hợp đồng đóng phim trên.

Sau đó đoàn làm phim chuyển hướng sang mời một người mà sau đó đã trở thành minh tinh nổi tiếng nhất của Miền Nam, đó là Kiều Chinh.

Kiều Chinh kể lại rằng năm 1956, khi cô đang đi lễ nhà thờ về và dạo bước trên đường Tự Do, thì vị đạo diễn nổi tiếng Hollywood Joseph L. Mankiewicz đang ngồi trong quán cafe tầng trệt Contentinal Palace đã phát hiện ra và ngay lập tức mời cô đóng vai Phượng cho phim The Quiet American. Ông đạo diễn đưa script kịch bản cho Kiều Chinh để cô về đọc thuộc và ngày hôm sau sẽ lên thử vai.

Khi Kiều Chinh trở về, trình bày với cha mẹ chồng sự việc này. Khi đó cô mới lấy chồng, ở nhà cha mẹ chồng. Lúc đó điện ảnh chưa thịnh hành ở Việt Nam, nên việc một cô gái được Hollywood mời đóng phim là một việc gì đó rất lạ lẫm, và sau khi nghe sơ qua kịch bản, cha mẹ chồng của Kiều Chinh không đồng ý để cô tham gia đóng vai chính trong phim.

Kiều Chinh quay trở lại gặp vị đạo diễn, trình bày lại và cáo lỗi vì không tham gia được, ông cảm thấy rất ngạc nhiên, nhưng cũng đành chịu, và mời Kiều Chinh đóng một vai cameo chỉ xuất hiện có vài giây trong phim và không có thoại.

Đến 1 năm sau, Kiều Chinh mới chính thức bén duyên với điện ảnh trong bộ phim Hồi Chuông Thiên Mụ năm 1957 và trở thành nữ minh tinh nổi tiếng nhất của miền Nam từ trước đến nay.

Sau nhiều lần hụt vai chính, khi các cô gái người Việt gốc không thể tham gia đóng phim được, đoàn làm phim Mỹ chấp nhận một sự thật rằng văn hóa của Việt Nam thời đó không cho phép các cô gái “nhà lành” đóng những vai có hoàn cảnh rất “éo le” như trong phim The Quiet American, cuối cùng họ đành mời một cô diễn viên người Ý tên là Giorgia Moll, hóa trang thành người Việt để đóng vai Phượng.

Ở giữa là Giorgia Moll đóng vai Phượng trong cảnh quay ở Sài Gòn năm 1958
Sân bay Tân Sơn Nhứt năm 1958
Majestic Hotel năm 1958, đường Bến Bạch Đằng
Đoạn gần trước nhà thờ Đức Bà. Nhà bên phải là nhà xứ (nhà cha sở)
Trường sinh ngử Hội Việt Mỹ số 55 đường Mạc Đỉnh Chi,phía sau trường là đường Phùng Khắc Khoan
Một hình ảnh khác của Hội Việt Mỹ (VAA Vietnamese American Association)
Hải quân công xưởng năm 1958, tức xưởng đóng tàu Ba Son. Nơi này đang lắp ráp một bộ phận của tàu chiến cho hải quân

Dưới đây là một hình ảnh khác của xưởng đóng tàu Ba Son năm 1958, với hình ảnh ụ đóng tàu đã có từ thời Pháp thuộc.

Tàu của Úc trên bến Bạch Đằng năm 1958
Đường Hùng Vương ở Chợ Lớn với đường rầy xe lửa nằm ở giữa.
Thánh đường Hồi giáo đường Thái Lập Thành, nay là đường Đông Du
Tòa Đô Chánh nhìn từ Đại lộ Nguyễn Huệ. Có thể thấy lúc này đường rất vắng vẻ.
Mít tiinh ủng hộ tiến bộ phụ nữ vào ngày 1/4/1958 trước Tòa Đô Chánh

bài: Đông Kha
nguồn: nhacxua.vn
nguồn ảnh: manhhai flickr

Lon gô (guigoz) – Ký ức một thời không thể nào quên

Lon Guigoz (lon gô) là vật dụng quen thuộc và gắn liền với tuổi thơ của nhiều người từ trước 1975 cho đến những năm 1980.

Khi nhìn lại những nhìn ảnh này, có thể là sẽ có cả một bầu trời kỷ niệm ập về đối với những người ở lứa tuổi ngũ tuần. Có nhiều nơi đọc trại tên cái lon gô – guigoz thành mi-gô, bi-gô, li-gô, nhưng đều là tên gọi của một vật dụng đã gắn bó nặng tình nặng nghĩa với cuộc sống thường ngày của hầu hết người Miền Nam hơn nửa thế kỷ trước.

Lon guigoz như là một huyền thoại trong ký ức của mọi người, thay vì gọi là “cái lon”, người ta gọi luôn là “cái gô”, thí dụ: mang gô cơm lên rừng…

Lon sữa guigoz có cấu tạo bằng nhôm (chứ không bằng thiết như các lon sữa hiện nay) của hãng Nestle Thụy Sĩ, được sản suất tại Pháp, Hòa Lan, và theo chân người Pháp nhập vào Việt Nam từ trước năm 1954, nhưng nhiều nhất là từ sau năm 1955 ở miền Nam.

Có hai loại sữa Guigoz, loại trắng cho trẻ sơ sinh, và loại màu vàng cho tuổi từ một năm trở đi. Loại sữa bột này phổ biến đến nỗi hầu như gia đình trung lưu nào cũng nuôi con bằng sữa Guigoz, và những chiếc lon nhôm, dày dặn, với dung tích 0.75 lít, có chiều cao 18cm, đường kính 8cm. Đặc điểm của vỏ lon gô là bền, không rỉ sét, nắp đậy kín nhưng dễ mở, thường được các bà nội trợ cất giữ để đựng thực phẩm ở trong bếp, trừ muối, nó có thể đựng đường, ớt, tiêu hành hay các thức ăn khô.

Tại Hà Nội cũng có sữa guigoz, nhưng ít và hiếm quý hơn, và chỉ có trước năm 1954. Sau năm 1954 thì sữa Guigoz không còn được nhập vào miền Bắc nữa, nhưng ở miền Nam vô cùng phổ biến và hầu hết em bé con nhà khá giả thời đó đều được uống loại sữa này.

Có điều đặc biệt là điều làm người ta nhớ nhất không phải là hương vị của sữa ra sao, mà là sự tiện dụng của lon guigoz sau khi đã uống hết bột sữa. Bởi vì bột sữa chỉ có em bé (nhà khá giả) mới được uống, còn cái “lon gô” thì gắn bó với tất cả mọi người, từ già tới trẻ, từ nhà nghèo đến nhà giàu.

Hồi xưa, con nhà nghèo ở nông thôn thường không được uống sữa Guigoz, mà chỉ uống sữa đặc hoặc là nước gạo bỏ tí đường. Nhưng vỏ lon guigoz thì nhà nào cũng có, đặc biệt là nhà nghèo, để làm vật dụng cần thiết vì tính đa dụng của nó. Các nhà giàu có nhà còn dùng lon guigoz để đựng vàng lá. Lon gô không chỉ để đựng đồ, mà nó còn có công dụng như một cái nồi để nấu tiện dụng.

Lon gô có thể giữ được ấm, nên cha hoặc anh chị thường bới cơm mang đi làm. Nó cũng giữ lạnh tuyệt vời nên cũng có thể mang đựng nước uống lạnh, cà phê để mang đi công sở. Lon cấu tạo dài, chứ không cạn như các lon khác, nên đựng được nhiều nước, khi cần uống là mở nắp ra uống luôn, không cần rót ra ly mà không sợ bị tràn hoặc đổ. Ngoài ra nắp cũng đậy rất kín, không bị rò nước hoặc thức ăn, nhưng khi cần mở thì cũng rất dễ dàng, không bị xiết chặt.

Từ năm 1965 trở về sau, miền Nam đã nhập cảng nhiều loại sữa bột khác dành cho trẻ em, nhưng chiếc lon sữa Guigoz vẫn còn tồn tại trong hầu hết gia đình vì nó bền, chắc, khó móp méo hay hư hỏng.

Sau năm 1975, sữa Guigoz không còn được nhập cảng, và cái vỏ lon của nó trở nên quí giá và thông dụng với tất cả mọi tầng lớp trong xã hội miền Nam. Những người tù cải tạo có lon gô trong các sinh hoạt thường ngày vì nhỏ gọn và tiện dụng. Mỗi sáng sớm, dân làm rẫy hay đi rừng dồn cơm vô lon gô kèm bịch muối mè, rồi đi bộ vài chục cây số làm, trưa lấy gô cơm ra ăn và chiều lại đi bộ về. Vì nắp lon đậy kín, khi bị mưa lỡ để bên ngoài chưa kịp mang vào chòi cũng không bị nước mưa thấm vào. Đối với dân lao động, vỏ lon gô trở thành thân thiết hơn bao giờ hết vì ngày nào đi làm đều kè kè bới theo “gô cơm”.

Thật là chỉ có một cái lon sữa thôi mà gợi lại cho người Sài Gòn biết bao nhiêu kỷ niệm không thể nào quên.

Mời bạn xem thêm một số hình ảnh về “cái gô” huyền thoại này.

Bài: Đông Kha
Nguồn: nhacxua.vn

“Mời người lên xe, về miền quá khứ” – Phần 3: Sài Gòn năm 1957

Tiếp theo 2 phần trước, giới thiệu những hình ảnh Sài Gòn được chụp trong 2 năm 1955, 1956.

Đến năm 1957, lúc này miền Nam bắt đầu ổn định về chính trị và không có quá nhiều sự kiện nổi trội, và hình ảnh của Sài Gòn trong năm 1957 còn lưu lại cho đến ngày nay cũng không có nhiều, ngoài chùm ảnh của nhiếp ảnh gia nổi tiếng Nguyễn Bá Mậu ở dưới đây.

Nhà nhiếp ảnh Nguyễn Bá Mậu sinh năm 1928, cuộc đời của ông gắn liền với đất Đà Lạt. Ông có nhiều tác phẩm nhiếp ảnh được giải quốc tế. Các góc ảnh chụp khắp nơi ở Miền Nam của ông Nguyễn Bá Mậu rất khác biệt với đa số tấm ảnh về Sài Gòn trước 1975 của các quân nhân Mỹ, vốn chỉ là những tay máy nghiệp dư.

Hình ảnh của Nguyễn Bá Mậu được căn chỉnh bố cục rất đẹp và nghệ thuật.

Những tấm ảnh sau đây của ông được lấy từ trang artcorner.vn:

Kiến trúc tuyệt vời của Dinh Độc Lập trước khi bị phá hoại năm 1962.

Công trình trong hình này được xây dựng xong năm 1871, được đặt tên ban đầu là Dinh Norodom, lấy theo tên của Quốc vương Campuchia lúc bấy giờ.

Từ 1871 đến 1887, dinh là nơi làm việc của Thống đốc Nam kỳ nên gọi là dinh Thống đốc Nam kỳ. Từ 1887 đến 1945, các Toàn quyền Đông Dương đã sử dụng dinh thự này làm nơi ở và làm việc nên dinh gọi là dinh Toàn quyền. Nơi ở và làm việc của các Thống đốc chuyển sang dinh Gia Long gần đó. Tuy nhiên, dinh chỉ được sử dụng làm nơi làm việc cho Toàn quyền Đông Dương cho đến năm 1906. Sau khi Phủ Toàn quyền ở Hà Nội được xây dựng xong thì các Toàn quyền và hầu hết bộ máy giúp việc dời ra Hà Nội. Nơi đây chỉ còn lại các cơ quan thuộc Phủ Toàn quyền đặc trách ở Nam Kỳ. Mặc dù vậy dân gian vẫn quen gọi đây là dinh Toàn quyền.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Dinh Norodom trở thành nơi làm việc của chính quyền Nhật ở Việt Nam. Nhưng đến tháng 9 năm 1945, Nhật thất bại trong thế chiến, Pháp trở lại chiếm Nam bộ, Dinh Norodom trở lại thành trụ sở làm việc của Cao ủy Pháp tại Đông Dương, một chức vụ gần tương đương với chức vụ Toàn quyền thời thuộc địa.

Đến năm 1954, dinh là nơi làm việc của thủ tướng Ngô Đình Diệm, sau đó trở thành tổng thống VNCH. Lúc này ông quyết định đổi tên dinh thành Dinh Độc Lập. Đến năm 1962, dinh bị phe đối lập làm sập toàn bộ cánh trái, do không thể khôi phục nên kiến trúc tuyệt đẹp này đã bị phá bỏ để xây dinh mới như ngày nay, sau 90 năm tồn tại.

Hai tấm ảnh chụp chợ Bến Thành năm 1957 của Nguyễn Bá Mậu. Lúc này chợ đã được xây được 43 năm. Kiến trúc chợ hơn 100 năm qua hầu như không thay đổi, trở thành biểu tượng quen thuộc của Sài Gòn. Ngôi chợ được xây từ năm 1912 đến 1914 với vốn đầu tư của đại phú gia người gốc Hoa nổi tiếng là Hứa Bổn Hòa

Dãy nhà mái ngói bên trái của hình hiện nay vẫn còn sau hơn 100 năm. Đó là dãy nhà cũng gia Hứa Bổn Hòa xây cùng lúc với chợ Bến Thành để kinh doanh.

Nhà thờ Tân Định chụp năm 1957 tại đường Hai Bà Trưng. Nhà thờ này được xây trước Nhà thờ Đức Bà chỉ một vài năm, có quy mô lớn nhất thời điểm đó. Nhà thờ Tân Định đã trải qua nhiều lần tu sửa, mở rộng trong nhiều sự kiện khác nhau, nhưng không hề xóa đi nét kiến trúc ban đầu đã tồn tại gần 150 năm.

Một góc ảnh quen thuộc của Sài Gòn, đó là đường Tự Do, khách sạn Continental và phía trước nhà Quốc Hội. Trong ảnh này có thể thấy xe con nối đuôi nhau đi trên đường Tự Do.

Góc Trần Hưng Đạo – Bùi Viện năm 1957. Khối nhà trong ảnh là Phòng trà Tour d’Ivoire, sau này đổi tên Việt thành Tháp Ngà.

Cảng Sài Gòn năm 1957

Bên trong Thảo Cầm Viên năm 1957. Đây là 1 trong 8 vườn bách thảo lâu đời nhất thế giới.

Đền Kỷ Niệm và Viện Bảo Tàng bên trong Thảo Cầm Viên. Hiện nay những kiến trúc này vẫn còn.

Chợ Bình Tây (Chợ Lớn) năm 1957. Khu chợ này khánh thành năm 1930 và được thương gia người Hoa là Quách Đàm bỏ tiền ra xây dựng vào năm 1928 rồi tặng cho chính quyền thành phố lúc bấy giờ.

Đổi lại, ông chỉ xin được xây dựng thêm mấy dãy nhà phố xung quanh chợ và được đặt tượng mình giữa chợ khi mất. Chợ Bình Tây được xây dựng mang phong cách kiến trúc Á Đông nhưng ứng dụng những kỹ thuật hiện đại phương Tây đương thời và được đánh giá là một trong những ngôi chợ đẹp nhất Sài Gòn.

Một số hỉnh ảnh khác của Sài Gòn năm 1957:

Lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng tại Sài Gòn ngày 7/3/1957. Hình chụp tại góc Tự Do – Gia Long. Góc trên phải là Công viên Chi Lăng.

Không ảnh chụp khu vực Nhà Thờ Đức Bà, Bưu Điện Trung Tâm năm 1957. Có thể thấy khuc vực này được quy hoạch rất đẹp.

Một góc khu vực chợ Bến Thành năm 1957

Xích lô máy trên đại lộ Thống Nhứt. Phía bên kia là đường Pasteur

Xích lô chờ khách ở góc đường Tự Do – Nguyễn Văn Thinh (nay là Đồng Khởi – Mạc Thị Bưởi)

Đông Kha (nhacxua.vn)

 

“Mời người lên xe, về miền quá khứ” – Phần 2: Sài Gòn năm 1956

Xin mượn một câu hát nổi tiếng trong nhạc Phạm Duy, trong loạt bài viết đưa độc giả “về miền quá khứ” này, chúng tôi xin kể lại, và lật lại những tấm ảnh xưa của Sài Gòn từ những năm 1955 đến 1975. Sau phần 1 với những hình ảnh năm 1955, phần 2 này là những hình ảnh của Sài Gòn năm 1956.

Năm 1956 có một số sự kiện mang ý nghĩa lớn với Sài Gòn và cả miền Nam. Đây là năm chính phủ tổ chức thành lập và tuyển cử bầu ra Quốc Hội lập hiến, rồi ban hành hiến pháp VNCH đầu tiên, và ngày ban hành hiến pháp là 26 tháng 10 năm 1956 cũng trở thành ngày quốc khánh đầu tiên.

Mừng Lễ Quốc Khánh 26-10-1956

Mời các bạn xem lại những tấm ảnh chụp Sài Gòn trong năm 1956 sau đây:

Bồn nước trước Tòa Đô Chánh. Lúc này tấm hình treo trên tòa nhà là tổng thống Ngô Đình Diệm, thay cho hình quốc trưởng Bảo Đại trong thời gian trước đó

Năm 1900, Nhà Hát Thành Phố được khánh thành. Đến năm 1956 thì được cải tạo lại để trở thành trụ sở Quốc Hội. Tòa nhà bị thay đổi lại bên ngoài để phù hợp với công năng mới. Các họa tiết hoa văn nhỏ bị tháo dỡ, hàng cột tròn bị phá bỏ. Phần họa tiết trang trí hoa văn trên cửa đi vào được thay đổi thành các đường kẻ sọc ngang như kinh tuyến và vĩ tuyến trên địa cầu. Lối kiến trúc tạo đường nét vuông vức để phù hợp với vị thế của một trụ sở hội họp chính trị.

Hình chụp Nhà Thờ Đức Bà năm 1956
Đài tưởng niệm (hiện nay là đền vua Hùng) bên trong vườn Bách Thảo (Thảo Cầm Viên). Ở đằng trước là tượng voi được vua Thái Lan Paramindr Maha Pradjahipok (tức Rama VII) tặng sau chuyến thăm Sài Gòn vào năm 1930. Bức tượng voi được chuyển từ Bangkok đến Cảng Nhà Rồng vào ngày 30/10/1935. Chiều cao của bức tượng coi là 1,5 m, trọng lượng ước tính trên một tấn và được đặt trên bệ cao 1,6 m.
Một mặt của Đài tưởng niệm bên trong Thảo Cầm Viên
Cổng vào Lăng Ông, nơi thờ phượng Đức Thượng Công Lê Văn Duyệt, người rất được nhân dân vùng Sài Gòn – Gia Định tôn kính
Bên trong Lăng Ông. Khi tả quân Lê Văn Duyệt mất, dân gian xem ông như một vị phúc thần, và nhân dân thường đến Lăng thắp hương để cầu xin tài lộc vào mỗi dịp lễ. Việc thờ cúng và tế lễ tại Lăng Ông cũng mang nghi thức thờ thần và tế thần.
Chùa Ngọc Hoàng nằm trên đường Phạm Đăng Hưng, Dakao, (giữa Nguyễn Văn Giai – Phan Thanh Giản), nay là đường Mai Thị Lựu). Nguyên gốc thì nơi này không phải là chùa, vì không thờ Phật, mà là điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế do một người Trung Quốc tên Lưu Minh xây dựng vào đầu thế kỷ 20. Năm 1982, Hòa thượng Thích Vĩnh Khương đến tiếp quản điện thờ. Kể từ đó điện thờ này thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đến năm 1984, thì điện Ngọc Hoàng được đổi tên là “Phước Hải Tự”. Năm 2016, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã đến thăm chùa Ngọc Hoàng trong chuyến thăm chính thức Việt Nam.
Một con đường rợp bóng cây xanh ở Quận 3
Đầu đường Lê Lợi, phía chợ Bến Thành
Xe ngựa quảng cáo của rạp chớp bóng Thành Chung. Rạp này nằm trên đường Vĩnh Viễn, xóm Vườn Lài. Hình chụp xe ngựa đậu trên đường Hùng Vương phía cửa sau chợ An Đông quay đầu ra phía đường Nguyễn Duy Dương. Biển quảng cáo cho phim thần thoại Ca vũ nhạc Ấn Độ – lồng iếng Việt – Nữ Hoàng Người Dơi
Vỉa hè đường Trần Hưng Đạo, gần rạp cinéma Đại Nam
Đường Trần Hưng Đạo, đoạn ngã tư Trần Hưng Đạo – Ký Con & Bác Sĩ Yersin
Một góc sông Sài Gòn năm 1956
Tiệm BRODARD góc ngã ba Tự Do – Nguyễn Thiếp. Tiệm bánh Brodard được mở từ năm 1948, là nhà hàng, kem, bánh ngọt theo phong cách của người Pháp. Khoảng năm 2012, nhà hàng Brodard bị đóng cửa, vị trí này được Sony thuê lại làm cửa hàng trưng bày sản phẩm, sau đó đổi lại thành nhà hàng Brodard – Gloria Jean’s Coffees. Tuy nhiên thương hiệu cafe này cũng rời khỏi vị trí này chỉ sau một thời gian ngắn do chi phí thuê quá đắt đỏ.
Một thiếu nữ Tây tại hồ bơi Cercle Sportif Saigonnais, nay vẫn còn ở trong Cung Văn Hóa Lao Động
Vỉa hè Đại Lộ Nguyễn Huệ, trước Tòa Đô Chánh, lúc này đang treo bandroll kỷ niệm ngày Quốc Tế Lao Động 1/5/1956
Tham quan tàu hộ vệ tại bến Bạch Đằng
Trường tiểu học Jauréguiberry xây dựng trong thập niên 1940, sau 1956 đổi thành Centre Scolaire Saint Exupéry. Hiện nay là Khoa Quản lý Giáo dục của trường ĐH Sài Gòn (cơ sở 3), nằm tại góc Trương Định – Ngô Thời Nhiệm, gần bên cạnh phía sau trường Gia Long.

Đông Kha (nhacxua.vn)
Nguồn hình ảnh: manhhai flickr

 

Một chút hoài niệm về bút viết học trò ngày xưa

Thế hệ họᴄ tɾò nhỏ nɡày xưa đi họᴄ thiếᴜ thốn, kháᴄ nɡày nay nhiềᴜ qᴜá. Từ lớρ Năm đến lớρ Nhì ρhải dùnɡ bút ᴄhấm mựᴄ đượᴄ làm thủ ᴄônɡ, nɡòi sắt ᴄhấm mựᴄ từnɡ nét νiết, dễ dây bẩn tɾanɡ ɡiấy. Nɡòi νiết ᴄó tên ɾất νᴜi như: là Tɾе, lá Mít. Đặᴄ biệt ᴄó “anh” ᴄaᴏ νà tᴏ nhất là ᴄây νiết Rᴏnɡ ᴄhỉ để dùnɡ ɡhi nɡày thánɡ, tựa bài ᴄhᴏ tɾanɡ tɾọnɡ, nổi bật đẹρ mắt.

Họᴄ tɾò đến tɾườnɡ, thườnɡ một tay ᴄắρ ᴄặρ, tay kia ᴄầm thеᴏ lọ mựᴄ, hễ khi ᴄhạy tay νᴜnɡ lên là mựᴄ tɾàᴏ lên, νănɡ ɾa qᴜần áᴏ, tay ᴄhân dính mựᴄ, tɾônɡ ɾất nɡộ.

Tɾᴏnɡ ᴄặρ tôi lúᴄ nàᴏ ᴄũnɡ ᴄó ít nhất là một ᴄán νiết νà nɡòi kháᴄ nhaᴜ. Để ρhònɡ khi bút ɾơi xᴜốnɡ nền lớρ bị “tᴏè” nɡòi là ᴄhᴜyện ɾất thườnɡ ᴄủa họᴄ tɾò.

Ở lớρ, họᴄ tɾò nɡồi νiết, ᴄᴜốn νở để tɾướᴄ mặt, lọ mựᴄ để tɾướᴄ thẳnɡ ᴄánh tay ρhải thᴜận ᴄầm νiết. Viết ᴄhấm mựᴄ, nɡòi làm bằnɡ sắt hay đồnɡ thườnɡ đượᴄ ɡọi là νiết tay, νì ᴄứ mỗi ᴄái ᴄhấm νàᴏ bình, nhấᴄ ɾa νiết đượᴄ một đến hai ᴄhữ thì lại ᴄhấm tiếρ, ɾồi lại νiết. Bởi νậy νiết ɾa nét thanh nét đậm ɾất ɾõ. Có nhữnɡ ᴄhữ đến nét ᴄᴜối ᴄùnɡ thì mựᴄ ᴄạn, nét mờ. Họᴄ tɾò ρhải ᴄhấm tô lại, nên nét ᴄᴜối thành ɾa đậm. Nhiềᴜ đứa νội νànɡ, lónɡ nɡónɡ ᴄòn làm đổ ᴄả bình mựᴄ ɾa mặt bàn, lan νàᴏ ᴄᴜốn νở… Thế là ᴄó ᴄhᴜyện xảy ɾa!

Dᴏ đặᴄ điểm ᴄủa nɡòi νiết, đã tạᴏ ᴄhᴏ họᴄ tɾò tính ᴄẩn thận. Viết ᴄhậm, nắn nót, tờ ɡiấy ᴄhậm đỏ hồnɡ lᴜôn ở tɾướᴄ bàn để ᴄhậm mựᴄ. Cố ɡắnɡ ɡiữ ᴄhᴏ đừnɡ dính mựᴄ, lấm lеm sáᴄh νở, lấm lеm tay ᴄhân, qᴜần áᴏ… là đứᴄ tính ᴄủa nhữnɡ họᴄ tɾò nɡᴏan.

Mựᴄ là ᴄụᴄ mựᴄ khô nhᴏ nhỏ hay đã ρha tɾướᴄ, bán sẵn tɾᴏnɡ ᴄái bình nhỏ mᴜa ở ᴄáᴄ tiệm tạρ hóa. Có đứa thì “sánɡ tạᴏ” bằnɡ nhữnɡ tɾái mồnɡ tơi dậρ nát, đổ thêm một ᴄhút nướᴄ nónɡ… nɡᴏn lành, khỏi ɾa tiệm mᴜa nhưnɡ nét ᴄhữ ɾất lợt νà lâᴜ khô.

Bút ᴄhấm ᴄó ᴄhất liệᴜ ᴄán bằnɡ ɡỗ, đượᴄ ᴄhế tạᴏ đủ ᴄáᴄ kíᴄh ᴄỡ lớn bé ᴄhᴏ ρhù hợρ νới lứa tᴜổi họᴄ sinh. Tɾên đấy ᴄó sơn màᴜ, νẽ hình ɾất νᴜi mắt. Nɡòi đượᴄ làm bằnɡ sắt, ᴄòn ɡọi là nɡòi νiết lá tɾе, hình thù nhỏ như mónɡ tay út tɾẻ еm, mỏnɡ mảnh, ᴄᴏnɡ ᴄᴏnɡ, ɡiữa ᴄó đườnɡ ɾãnh để dẫn mựᴄ.

Nɡày nay, ᴄhắᴄ lẽ hiếm họᴄ sinh, thậm ᴄhí sẽ ᴄhẳnɡ ᴄó họᴄ sinh ᴄòn nhớ ᴄán νiết là ɡì? Cán νiết ᴄhính là thân νiết, là ρhần để ᴄắm nɡòi bút νàᴏ, ᴄũnɡ là ρhần mà nhữnɡ nɡón tay ᴄầm νiết ᴄhạm νàᴏ nhiềᴜ nhất. Vì ᴄầm nhiềᴜ nên nhiềᴜ ᴄhiếᴄ ᴄán bút mòn νẹt.

Nhớ thời ấy, ᴄhẳnɡ đứa họᴄ tɾò nàᴏ mà khônɡ bị ᴄhai sần ở ρhía tɾᴏnɡ nɡón tay ɡiữa… ᴄạnh nɡòi bút đã hằn sâᴜ sᴜốt ᴄả một bᴜổi họᴄ, ɡian nan ấy đã ɾèn nên nhữnɡ thế hệ ᴄᴏn nɡười hôm nay thành tài.

Thầy Cô ɡiáᴏ nɡày xưa ɾèn nét ᴄhữ thì ᴄũnɡ dạy ᴄả nết nɡười. Chữ ρhải đẹρ tɾòn như ᴄᴏn nɡười ρhải ɡọn ɡànɡ, sạᴄh sẽ. Dᴏ tính ᴄhất ᴄủa νiệᴄ họᴄ, thầy ᴄô ɡiáᴏ ɡiảnɡ bài nhanh hơn, nên từ lớρ Nhất tɾở nên là dùnɡ νiết máy để νiết ᴄhᴏ kịρ.

Cây νiết máy ᴄó ɾᴜột mềm bơm mựᴄ nên khônɡ ᴄần ρhải ᴄhấm. Đây là dònɡ νiết khá tiện lợi mà đến nay nhiềᴜ hãnɡ νẫn ᴄòn sản xᴜất. Mựᴄ ᴄhᴏ bút máy ᴄũnɡ hạn ᴄhế dònɡ tự ρha, mà đượᴄ nânɡ ᴄấρ, là nhữnɡ lᴏại ρha sẵn để ᴄhốnɡ đónɡ ᴄặn, ɡây nɡhẹt nɡòi. Nɡày ấy, đứa họᴄ tɾò nàᴏ ᴄó ᴄây ρilᴏt thân xanh, nắρ νànɡ hay ᴄây ρakеɾ thân đеn nắρ tɾắnɡ là “ᴏáᴄh” νô ᴄùnɡ.

Với ᴄáᴄ loại viết lá tre ngày xưa, bài vở ᴄủa họᴄ trò lᴜôn đượᴄ Thầy Cô ᴄho điểm rất ᴄao. Khi đượᴄ hỏi vì sao, ᴄhắᴄ hẳn người lớn sẽ trả lời tất ᴄả đềᴜ nhờ vào bút lá tre. Thời ấy, ᴄứ ngỡ đó ᴄhỉ là lời động viên giúρ ᴄhúng ta ᴄố gắng hơn, nhưng đó hoàn toàn không ρhải là một lời an ủi động viên.

Khi ᴄó điềᴜ kiện thử qᴜa nhiềᴜ ᴄáᴄ loại bút kháᴄ nhaᴜ, lúᴄ này nhiềᴜ người mới ngỡ ngàng nhận ra rằng bút lá tre ngày xưa viết ᴄhữ qᴜá sứᴄ đẹρ, đẹρ đến mứᴄ ᴄó thể khen rằng không ᴄó ᴄây viết nào thay thế đượᴄ.

Mỗi ᴄây viết lá tre, lá mít, viết Rong ngày xưa, ρhần mũi đềᴜ lᴜôn ᴄó độ nhám vừa ρhải để tạo ra lựᴄ bám, không trơn trượt giống như ᴄáᴄ loại bút bi ngày nay. Còn xét về độ sắᴄ ᴄủa những nét móᴄ, đá… thì rõ ràng ᴄáᴄ viết máy ngày nay không đủ sứᴄ để so sánh với ᴄây viết lá tre ngày xưa.

Tᴜy nhiên, sử dụng bút lá tre ρhải hết sứᴄ khéo léo và kiên nhẫn, vì bút sử dụng mựᴄ, nên bút bắt bᴜộᴄ ρhải ᴄó ngòi tốt, viết khéo léo và không để dây mựᴄ ra ngoài, lúᴄ ấy ᴄhúng ta mới đạt đượᴄ đỉnh ᴄao ᴄủa việᴄ sử dụng bút lá tre.

Khi sử dụng bút lá tre ngày xưa, ta ᴄó thể thoải mái điềᴜ ᴄhỉnh từng nét mựᴄ theo độ mỏng, dày tùy vào góᴄ viết ᴄũng như sở thíᴄh ᴄủa bản thân, đây là điềᴜ ᴄáᴄ loại bút kháᴄ không thể nào thựᴄ hiện đượᴄ.

Việᴄ viết ᴄẩn thận dù đôi lúᴄ ᴄó hơi bất tiện, nhưng ρhải ᴄông nhận rằng nó lᴜyện ᴄho “trẻ nhỏ” ngày ấy tậρ đượᴄ đứᴄ tính nhẫn nại, ᴄẩn trọng và khéo léo trong mọi tình hᴜống. Lᴜyện ᴄhữ ᴄũng như lᴜyện nết người vậy, ρhải từ từ từng ᴄhút một ᴄhứ không thể vội vàng đượᴄ.

Vậy bút là tre là gì?

Có thể tóm gọn rằng đây là loại bút máy đượᴄ gắn thêm rᴜột bơm mựᴄ và là bút đượᴄ dùng để lᴜyện ᴄhữ một ᴄáᴄh tốt nhất.

Loại bút này sử dụng ngòi lá tre để tạo ra những đường nét thanh đậm dựa theo độ ấn tay ᴄủa người viết, nó mang đến hiệᴜ qᴜả bất ngờ trong qᴜá trình rèn lᴜyện ᴄhữ viết nắn nót ᴄho nhiềᴜ người.

So với ᴄáᴄ loại bút lá tre ngày xưa, bút lá tre ngày nay đượᴄ thiết kế ᴄó ρhần tiên tiến hơn nhằm tạo nên những ᴄhi tiết mới hoàn hảo ᴄho bút. Có thể thấy đượᴄ rằng, bút lá tre ngày xưa sử dụng ngòi lá tre tự tạo nét thanh đậm theo độ ấn tay ᴄủa người viết, ᴄáᴄ nhà sản xᴜất đềᴜ khᴜyên rằng không nên sử dụng mựᴄ ngoài khi viết, bởi vì độ lắng ᴄặn ᴄủa mựᴄ sẽ dễ làm mựᴄ bị hư hoặᴄ hoen gỉ, dễ gây ra tình trạng tắᴄ mựᴄ ngay từ lần đầᴜ sử dụng. Điềᴜ này sẽ tạo ra khá nhiềᴜ bất tiện ᴄho những ai đang lᴜyện viết ᴄhữ đẹρ.

Bút lá tre ngày nay đã đượᴄ ᴄải tiến và khắᴄ ρhụᴄ hoàn toàn những hạn ᴄhế mà mình đã nêᴜ trên, nên hầᴜ như nó thíᴄh ứng đượᴄ với ᴄáᴄ loại mựᴄ ᴄó mặt hiện nay trên thị trường, nhờ vậy mà việᴄ rèn lᴜyện ᴄhữ đẹρ ngày nay thoải mái hơn.

Cải tiến đôi khi ᴄũng tốt, nhưng biết giữ lại những giá trị tốt đẹρ mà ngay từ ban đầᴜ bút lá tre ngày xưa đã làm đượᴄ thì đó mới là điềᴜ đáng qᴜý. Một ᴄây bút đôi khi không nói lên đượᴄ điềᴜ gì, nhưng đó là ᴄả một ký ứᴄ, một qᴜá trình giúρ ta ᴄải thiện tính ᴄáᴄh tốt hơn.

Mời các bạn xem lại một số hình ảnh khác về học trò xưa:

Viết Hero huyền thoại một thời

Tổng hợp

“Mời người lên xe, về miền quá khứ” – Phần 1: Sài Gòn năm 1955

Xin mượn một câu hát nổi tiếng trong nhạc Phạm Duy, trong loạt bài viết đưa độc giả “về miền quá khứ” này, chúng tôi xin kể lại, và lật lại những tấm ảnh xưa của Sài Gòn từ những năm 1955 đến 1975.

Trong phần đầu tiên, xin lật lại những hình ảnh đẹp nhất của Sài Gòn năm 1955, ngay sau hiệp định Geneve không lâu.

Đây là năm xảy ra rất nhiều biến động trong lịch sử đất nước. Trước đó không lâu, đã có gần 1 triệu người di cư từ miền Bắc vào miền Nam sinh sống. Đó là thời gian mà hiệp định Geneve vừa được ký kết để đình chiến giữa các bên, chọn vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời trong khi chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Đường Trần Hưng Đạo – Trụ sở Phủ tổng ủy di cư và tỵ nạn, phụ trách vấn đề di cư năm 1954. Ở vị trí ngày ngày nay là trụ sở của Công an TPHCM.

Khoản a, điều 14 ghi rõ: “Trong khi đợi tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân đội của mình tập hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp định này thì bên ấy sẽ phụ trách quản lý hành chính ở vùng ấy.”

Phủ tổng ủy di cư và tỵ nạn năm 1955

Thời điểm này, quân đội của Quốc Gia Việt Nam được tập hợp ở phía nam vỹ tuyến. Quốc Gia Việt Nam lúc này vẫn là do quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu và điều hành chính phủ là thủ tướng Ngô Đình Diệm.

Đầu năm 1955, nội thành Sài Gòn có sự xung đột quân sự giữa lực lượng Bình Xuyên của Lê Văn Viễn và chính phủ Ngô Đình Diệm.

Tháng 4 năm 1955, quân Bình Xuyên tấn công thành Cộng Hòa. Quân đội Quốc gia phản công, phá được căn cứ chính của Bình Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y khiến lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn – Chợ Lớn và rút về Rừng Sác.

Trong hình dưới đây là Đại lộ Trần Hưng Đạo vốn là một trong những con đường sầm uất nhất của Sài Gòn, đã bị trống vắng trong thời gian xung đột giữa quân Bình Xuyên và quân đội Quốc Gia.

Thời điểm này, để đánh dấu việc giành được độc lập từ Pháp, Toà Đô Chánh Sài Gòn được lệnh gấp rút thay thế toàn bộ đường mang tên Pháp sang tên Việt. Đường Trần Hưng Đạo chỉ 1 năm trước đó còn mang tên là Galliéni.

Một buổi mít tinh chính trị tại rạp Nguyễn Văn Hảo yêu cầu truất phế quốc trưởng Bảo Đại

Năm 1955 cũng là thời điểm mà hố sâu ngăn cách giữa quốc trưởng và thủ tướng ngày càng lớn, và đến tháng 10 năm 1955, quốc trưởng Bảo Đại bị phế truất khi cựu hoàng này đang ở nước Pháp.

Mít ting ủng hộ Ngô Đình Diệm và đòi truất phế Bảo Đại tháng 10 năm 1955 tại quảng trường chợ Bến Thành

Ngay sau đó, ông Ngô Đình Diệm với vai trò là Quốc trưởng đã tổ chức bầu Quốc hội Lập hiến cho Quốc gia Việt Nam. Quốc hội này ban hành Hiến pháp đổi tên Quốc gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng hòa. Chính thể mới Việt Nam Cộng Hoà được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm 1955 và sau đó ông Ngô Đình Diệm được bầu làm Tổng thống nền Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam.

Mời bạn xem qua các hình ảnh chọn lọc khác của Sài Gòn trong năm 1955:

đầu đường Hàm Nghi và Phó Đức Chính

Đường Catinat lúc này đã mang tên Tự Do, và Nhà Hát Thành Phố đã được cải tạo lại, bỏ đi các chi tiết hoa văn nguyên thủy để trở thành trụ sở Quốc Hội từ năm 1955.

Bức hình quen thuộc này đã được chụp từ năm 1955. Tòa Đô Chánh nằm trên đường Lê Thánh Tôn và đầu đường Nguyễn Huệ
Nhà Thờ Đức Bà năm 1955, góc đường Tự Do – Nguyễn Du. Nhà hình chóp ngay đầu đường phía Nguyễn Du là trụ sở Bộ Xã Hội
Bên trong trụ sở Bộ Xã Hội góc đường Nguyễn Du nhìn ra Nhà Thờ
Một lễ mít tinh tại dinh Độc Lập năm 1955, có thể là trong 1 buổi lễ nhậm chức của Ngô Đình Diệm

Dinh Độc Lập trước đó mang tên là dinh Norodom. Đến năm 1963 thì bị hủy để xây lại theo kiến trúc mới
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam năm 1955. Trước đó là trụ sở của Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam, là một phần của Ngân hàng Đông Dương (Banque de I’Indochine, viết tắt là BIC) được thành lập ngày 21 tháng 1 năm 1875. Sau năm 1975, nơi đây trở thành trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Kiến trúc của tòa nhà này đến nay vẫn còn nguyên vẹn.
Bến Bạch Đằng năm 1955
Hộp đêm “La Croix du Sud” tại góc đường Catinat – Amiral Dupré. Sau 1955, tên đường đổi lại thành Tự Do – Thái Lập Thành, nay là Đồng Khởi – Đông Du. Hộp đêm này sau đó trở thành Vũ trường Tự Do nổi tiếng
Bến Bạch Đằng ngay đầu đại lộ Hàm Nghi.
Đường Tự Do rợp bóng cây. Phía cuối đường có thể thấy tháp chuông nhà thờ
Kho bạc Sài Gòn, sau 1955 là Tổng Nha Ngân Khố Sài Gòn, nằm trên đường Nguyễn Huệ. Ngày nay là Kho Bạc Nhà Nước
Bộ Quốc Phòng trên đường Gia Long, nay là trụ sở Bộ GTVT trên đường Lý Tự Trọng
Đường Tự Do từ Nhà Thờ đi thẳng ra bờ sông
Cầu Mống năm 1955. Là một trong những cây cầu cổ xưa nhất thành hố, vẫn còn cho đến ngày nay
Cư xá nhân viên Hãng xăng Shell, được xây dựng khoảng năm 1952. Hình này chụp mặt sau của tòa nhà, hình chụp từ phía đường Trương Minh Giảng (nay là Trần Quốc Thảo). Tòa nhà này hiện nay thuộc khu vực Nhà khách T78 Văn phòng Trung ương Đảng, địa chỉ cổng vào tại 145 Lý Chính Thắng.
Tòa nhà trụ sở của Hãng xăng Shell tại góc đại lộ Thống Nhất và Cường Để. Hiện nay tòa nhà này thuộc về Petrolimex
Đại lộ Lê Lợi 1955
Góc phố Tự Do – Lê Lợi một ngày mưa năm 1955
Sông Sài Gòn
Người phụ nữ này đang bào rau muống với mấy cái bắp chuối (hoa chuối) ở phía trước
Nhà thờ Đức Bà năm 1955. Hình chụp lúc 3 giờ kém 20 chiều, nắng còn chiếu nghiêng trước mặt chính hướng đông của nhà thờ. Chỉ một lát nữa là mặt chính nhà thờ sẽ bị ngược nắng. Thời gian này mặt đồng hồ nhà thờ còn mang số tự La Mã. Qua thập niên 60 người ta thay đồng hồ mới, con số là những cái gạch.
Bưu điện trung ương Saigon ở bên hông Nhà Thờ
Trụ sở Cty xăng dầu Vacuum Oil góc Thống Nhất – Hai Bà Trưng
Rạch Thị Nghè nhìn từ cầu Phan Thanh Giản
Vòng xoay ở công trường Lam Sơn với thương xá Eden
Cảnh bình yên trên sông Sài Gòn – Bến Bạch Đằng năm 1955 nhìn từ khách sạn Majestic

Đông Kha (nhacxua.vn)
Nguồn hình ảnh: manhhai flickr

Nguyên tắc sử dụng dấu “gạch-nối” trong văn bản Tiếng Việt ngày xưa

Khi đọc sách báo miền Nam trước năm 1975, chúng ta dễ dàng bắt gặp các chữ ghép được nối với nhau bằng “gạch nối”. Ví dụ như “dinh độc-lập”…

Những thế hệ học trò được dạy dỗ trước năm 1975 tại miền Nam đều thuộc nằm lòng các nguyên tắc sử dụng dấu “gạch-nối” này. Ngày xưa, khi đọc chính tả, thầy cô sẽ không đọc chỗ nào có chấm, phết, chỗ nào có gạch nối, mà học trò sẽ phải tự biết để viết, nếu thiếu sẽ bị trừ điểm.

Vậy nguyên tắc sử dụng các dấu gạch nối (không phải là gạch ngang) trong từ kép (không phải là từ ghép) này như thế nào? Mời bạn đọc phần giải thích này:

Chữ Việt là chữ đơn-âm. Mỗi chữ có một nghĩa riêng và rõ-rệt: chó, mèo…

Nhưng khi cần phải diễn-tả những ý trừu-tượng, nhiều lúc một chữ không đủ và phải ghép thêm một chữ thứ hai. Do đó có từ kép, và gạch-nối được dùng để nối hai chữ của từ kép. Thí dụ như chữ “hạnh-phúc”. Đây là một từ kép, nên trước 1975 ở miền Nam, viết chữ “hạnh phúc” phải có gạch nối: hạnh-phúc. Vai-trò của từ kép là ghép hai chữ (từ đơn) để làm thành một chữ khác hoàn-toàn mới. Do đó, từ kép “hạnh-phúc” có ý-nghĩa khác hẳn với hai chữ “hạnh”, hoặc “phúc”. (Nguồn: Hieu Nguyen).

Để rõ hơn, mời bạn đọc lại các trường hợp dùng dấu gạch nối:

  • Chữ kép Hán-Việt, ví dụ độc-lập, hồng-thập-tự…
  • Chữ kép thuần Việt, bao gồm chữ kép một âm có nghĩa là dịu-dàng, nết-na… Chữ kép gồm hai âm không nghĩa riêng, nhưng khi ghép lại có thể tạo thành một chữ có nghĩa chung: bâng-khuâng, hững hờ… Chữ kép gồm hai âm có nghĩa riêng: bướm-ong, cay-đắng, đầy-đủ… Chữ kép gồm hai âm đồng nghĩa: dơ-bẩn, dư-thừa… Chữ kép đồng âm: chậm-chậm, xa-xa…
  • Chữ kép địa danh, tên riêng, như Việt-Nam, Luân-Đôn…
  • Chữ có quan hệ qua lại với nhau: hội Việt-Mỹ, dấu hỏi-ngã…
  • Một số từ ngữ mà các âm tiết không thể tách rời: khô-cá, chỉ-vàng(Nguồn: Trang Stories In Saigon)

Tác dụng của việc sử dụng dấu gạch nối là để phân biệt từ kép và từ đơn, giúp đoạn văn rõ nghĩa hơn, và tránh ngắt câu không đúng chỗ. Một tác dụng ít được nhắc tới của nguyên tắc của dùng dấu gạch nối này trong văn bản đánh máy, đó là các chữ kép không bị tách ra và xuống hàng giữa chừng, làm cho người đọc hiểu nhầm. Thí dụ như có câu nói giỡn chơi quen thuộc như sau:

Mỗi gia-đình có 2 con
vợ-chồng hạnh-phúc

Nếu không có dấu gạch nối, rất có thể sẽ bị xuống dòng như sau:

Mỗi gia đình có 2 con vợ
chồng hạnh phúc

Nguyên tắc dùng dấu gạch nối này có từ bao giờ? Hiện nay chưa có nghiên cứu nào nói rõ, nhưng xem lại báo chí và văn bản từ thập niên 1920 đã sử dụng dấu gạch nối này ở cả 2 miền Nam-Bắc. Mời bạn xem lại hình ảnh công thư này của quốc trưởng Bảo Đại (năm 1953), và của ông Võ Nguyên Giáp (năm 1945), đều có dấu gạch nối trong từ kép.

Bản gốc công điện của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Võ Nguyên Giáp của chính phủ lâm thời năm 1945:

Tuy nhiên, xem lại tờ báo chữ Quốc Ngữ đầu tiên là Gia Định Báo, số phát hành năm 1890, thì dấu gạch nối chỉ dùng cho các địa danh hoặc tên riêng, như Bến-tre, năm Canh-Dần, Nam-Kỳ…

Đến đầu thập niên 1920, có một bộ sách nổi tiếng do học giả Trần Trọng Kim chủ biên, đó là Quốc-Văn Giáo-Khoa Thư, có thể xem là bộ sách giáo khoa đầu tiên dùng để dạy chữ quốc ngữ cho học sinh cấp Sơ học yếu lược (tương đương với ba năm đầu tiểu học ngày nay) trên toàn cõi Việt Nam. Có thể đây là bộ sách đầu tiên chính thức dùng dấu gạch nối trong văn bản chữ quốc ngữ?

Hiện nay, nguyên tắc sử dụng dấu gạch nối này từ lâu đã không còn trong các văn bản chính thức trên toàn cõi Việt, mà chỉ còn trong trí nhớ của những người đã từng học tập tại miền Nam trước đây gần nửa thế kỷ.

nhacxua.vn tổng hợp