Xem lại phim “Nàng” năm 1970 với diễn xuất của Thẩm Thúy Hằng, Trần Quang, La Thoại Tân

Một trong những cuốn phim nhựa đã góp phần làm nên tên tuổi của nữ minh tinh Thẩm Thúy Hằng trong làng điện ảnh Sài Gòn, đó là phim Nàng.

Hình ảnh Thẩm Thúy Hằng trong phim Nàng

Phim Nàng khai thác khía cạnh hồng nhan đa truân, nhân vật chính tên là Cẩm Vân, xinh đep, hiền lành, lương thiện nhưng luôn bị đẩy vào những hoàn cảnh trớ trêu, với tình tiết diễn biến liên tục và bất ngờ. Với sự diễn xuất đỉnh cao của dàn diễn viên thực lực của làng điện ảnh Sài Gòn, phim Nàng đã xuất sắc dành được giải Tượng Vàng tại Đại Hội Điện Ảnh Á Châu lần thứ 17 diễn ra ở Đài Loan năm 1971.


Click để xem Phim Nàng (1970)

Tác phẩm điện ảnh này của đạo diễn Lê Mộng Hoàng và hãng Việt Nam Phim thực hiện năm 1970, với sự góp mặt của các tài tử Thẩm Thúy Hằng trong vai Vân (ca sĩ Phương Hồng Ngọc vai Văn lúc còn đi học), La Thoại Tân trong vai Châu, Trần Quang trong vai Minh, Việt Hùng trong vai Trần Ái Sơn, Cao Huynh trong vai Vĩnh, Phương Hoài Tâm trong vai Thúy, Xuân Dung trong vai Miên.

Phim có sự xuất hiện thoáng qua của nữ ca sĩ Phương Hồng Ngọc, người có nét mặt khá giống với Thẩm Thúy Hằng, họ cùng được sinh ra ở Hải Phòng. Phương Hồng Ngọc kể lại rằng chính Thẩm Thuý Hằng lựa chọn Phương Hồng Ngọc đóng vai Vân thuở nhỏ sau khi tình cờ nhìn thấy nữ ca sĩ này trên truyền hình.

Một dấu ấn đặc biệt khác trong phim Nàng là nhạc phim, ca khúc Tình Lỡ của nhạc sĩ Thanh Bình được nữ chính (Vân) hát trong một phân cảnh, ghép tiếng của giọng hát Khánh Ly.


Bài Tình Lỡ trong phim Nàng với minh tinh Thẩm Thúy Hằng diễn xuất, giọng ca của Khánh Ly

Sau đó, tờ nhạc của ca khúc này được tái bản với hình bìa là Thẩm Thúy Hằng trong phim Nàng, cùng dòng giới thiệu:

“Nhạc phẩm chính trong phim Nàng của Việt-Nam Phim qua giọng ca Khánh Ly”.

Chuyện phim kể về cô gái Vân, đã mồ côi cha mẹ từ lúc mới lên 5 tuổi, sống 14 năm tại một cô nhi viện ở ngoại ô Sài Gòn trong tình thương yêu, bao bọc của các dì phước, và của cô bạn thân tên Thúy. Năm 19 tuổi, nàng trở thành một cô gái xinh đẹp và hay buồn.

Vân không biết gì về hoàn cảnh của mình, cho đến một ngày cô được soeur giám đốc cô nhi viện cho biết sự thật về cuộc đời. Cô được giải cứu trong một cuộc pháo kích, bị mất cả cha lẫn mẹ trong cơn lửa bình kinh hoàng đó, và được người cha nuôi gửi vào trong viện trẻ mồ côi. Sau 6 năm lui tới để thăm con nuôi, người cha này bỗng nhiên biệt tích, Vân rất buồn và được soeur giám đốc an ủi, giới thiệu làm cô giáo dạy kèm cho bé gái 5 tuổi, con của một gia đình giàu có làm nghề xuất nhập cảng, đó là ông bà Trần Ái Sơn, tư gia ở Thủ Đức.

Tại đây, Vân gặp Châu (La Thoại Tân đóng), một doanh nhân trẻ thành đạt và độc thân làm ở hải cảng chung với ông Sơn. Một hôm, trước khi Châu đi công tác ở Đà Lạt 3 tháng, Châu đã ngỏ lời với Vân. Dù không chính thức đồng ý, nhưng Vân không từ chối vì cô cũng có cảm tình với Châu.

Tuy nhiên thời gian sau đó đã xảy ra nhiều biến cố, ông Sơn dùng vũ lực để cưỡng ép tình cảm của Vân một cách thô bạo, còn bà Sơn thì lại đánh Vân vì đổ cho tội là quyến rũ chồng của bà. Thất vọng vì gia đình ông bà chủ, Vân rời khỏi đó để ra ở trọ, sau đó được nhận vào làm nhân vên tại công ty của Minh (Trần Quang đóng) qua sự giới thiệu của Miên (thư ký của ông Sơn).

Thẩm Thúy Hằng và Trần Quang

Thời gian này, Vân cố gắng tìm cách liên lạc với Châu nhưng không được. Tuy nhiên số phận lại cho họ gặp lại nhau, vì Châu chính là bạn thân của giám đốc Minh, được Minh nhờ đến quản lý giúp công ty lúc Minh đi công tác dài ngày.

Hai người tái hợp không lâu thì Châu không may bị tai nan lìa đời. Từ sau đó Vân buồn bã khép lòng mình lại, mặc cho giám đốc Minh theo đuổi nhưng cô không đồng ý.

Sau 3 năm được Minh kiên trì theo đuổi thì cuối cùng Vân cũng chấp nhận về làm vợ Minh, nhưng lúc đó một sự thật phũ phàng đã được phơi bày: Minh đã cưới vợ được 8 năm và có 2 người con.

Thẩm Thúy Hằng và Trần Quang

Thất vọng với Minh, Vân lại rời bỏ ra đi, vì đau khổ nên muốn tự kết lιễᴜ đời mình, nhưng ý định đó không thành khi một người đàn ông tên Vĩnh xuất hiện đúng lúc và cứu Vân.

Thời gian sau đó Vân trở thành một ca sĩ phòng trà, và bài hát Tình Lỡ chính là một trong những bài hát được khán giả yêu thích nhất của sĩ Cẩm Vân. Trong khi đó người đàn ông tên Vĩnh dành cho Vân nhiều tình cảm, nhưng vì qua nhiều lần đau thương tan vỡ, cô không tin tưởng một người đàn ông nào nữa, dù vẫn có tình cảm với Vĩnh.

Trước sự ngỏ lời chân thành của Vĩnh, Vân đã thử thách tình cảm bằng cách đưa ra 3 yêu cầu: Muốn có một số tiền lớn để phòng thân sau này, muốn được chính thức có một đám cưới đàng hoàng, và muốn có sẵn nhà và xe.

Vĩnh vốn là một thuyền trưởng, dù tài chính dư dả, nhưng yêu cầu đó vẫn là một thử thách lớn. Ông đành bán hết tất cả những gì mình có để đáp ứng yêu cầu của người mình yêu. Vân thấy như vậy nên tin tưởng vào tình cảm của Vĩnh, chấp nhận về sống chung vô điều kiện, hủy bỏ 3 yêu cầu đã đưa ra.

Tưởng rằng hạnh phúc cuối cùng sẽ mở cửa với Vân, nhưng số phận trớ trêu, những người đàn ông mà cô yêu đều đoản mệnh. Trong một lần ra khơi, thuyền trưởng Vĩnh bị taι nan ở vùng biển Vũng Tàu và không bao giờ trở về nữa.

Vân nhận được tin đó cảm thấy bàng hoàng, lấy xe đi một mạch từ Sài Gòn ra biển Vũng Tàu. Kết thúc phim là hình ảnh Vân đứng trên bãi biển nhìn xa xăm chốn xa khơi, để tìm trong vô vọng người chồng yêu thương đã vĩnh viễn không bao giờ về lại được nữa.

Đông Kha – chuyenxua.vn

Ca sĩ Phi Nhung – Từ cô bé mồ côi lạc lõng nơi quê nhà trở thành ca sĩ nổi tiếng dòng nhạc quê hương

Phi Nhung là một trong những nữ ca sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc vàng và nhạc quê hương ở hải ngoại từ thập niên 1990, có lẽ là người yêu nhạc nào cũng đều biết đến tên tuổi của nữ ca sĩ hải ngoại có giọng ca trữ tình, nhẹ nhàng và dễ đi vào lòng người.


Click để nghe nhạc Phi Nhung

Ca sĩ Phi Nhung tên thật là Lê Thị Tuyết Lan, sinh ngày 10/4/1970 tại Pleiku, cô là kết quả của mối tình giữa một thiếu nữ Pleiku và người lính Mỹ đồn trú tại đây. Từ khi được sinh ra, Phi Nhung không lần nào được nhìn thấy cha ruột và lớn lên trong sự dè bỉu, coi thường của người khác. Khi mẹ đi lấy chồng khác, Phi Nhung ở với ông bà ngoại một thời gian rồi được mẹ đón về ở chung với người cha dượng cùng 5 người em cùng mẹ khác cha.

Sống với mẹ không được bao lâu thì một tai nạn đã cướp đi mất người mẹ, khi đó Phi Nhung mới hơn 10 tuổi đã trở thành mồ côi cả cha lẫn mẹ.

Khi người cha dượng lấy vợ mới, Phi Nhung cùng 5 người em chuyển về ở cùng ông bà ngoại trong hoàn cảnh chật vật. Cô bé 10 tuổi Phi Nhung phải bỏ học để làm thêm để phụ giúp ông bà nuôi các em nhỏ.

Thời gian đó, Phi Nhung chỉ có một nguồn vui duy nhất là được nghe những bài cải lương dân ca mộc mạc, đó cũng là những giai điệu đã gắn liền với sự nghiệp ca hát của cô sau này.

Năm 1989, Phi Nhung chuyển tới Tampa, Florida, Mỹ định cư theo diện con lai, sống cùng với người dì ruột. Từ lúc đó, Phi Nhung bắt đầu từ những công việc chân tay: lau sàn nhà, quét dọn, bồi bàn, may vá thuê… để mưu sinh.

Năm 1992, Phi Nhung làm mẹ đơn thân và sinh người con gái đặt tên là Wendy. Lúc này Phi Nhung làm nghề thợ may để kiếm tiền nuôi con.

Phi Nhung và con gái Wendy thời gian còn ở Florida

Mặc dù cuộc sống vất vả từ nhỏ nhưng Phi Nhung luôn có ước mơ trở thành ca sĩ. Cơ hội đến khi tình cờ cô gặp được Trizzie Phương Trinh (một nữ ca sĩ nổi tiếng hải ngoại thời đó), khi Trizzie đang lưu diễn ở bang Florida và hát từ thiện ở một ngôi chùa tại đây.

Wendy khi còn nhỏ

Nhận thấy khả năng đặc biệt với giọng hát ngọt ngào của Phi Nhung, Trizzie đã khuyên Phi Nhung tới California – là nơi có đông đúc người Việt – để thực hiện ước mơ ca hát. Đến California, mẹ con Phi Nhung đến ở nhờ trong nhà của Trizzie. Lúc này Phi Nhung chưa được đi hát ngay, mà phải vừa đi làm nhà hàng ban đêm, vừa làm nhân viên bán CD nhạc cho trung tâm Thúy Anh và gửi con mới được hơn 1 tuổi để nhờ mẹ của Trizzie chăm sóc.

Phi Nhung và Trizzie Phương Trinh

Là ca sĩ mới, phải tự bươn chải, Phi Nhung không đủ tiền để sắm áo dài mà phải mượn áo của mẹ của Trizzie để đi diễn. Vàod Mỗi cuối tuần cô đến phòng thu của Trizzie luyện giọng, hát thử. Phải đến 2 năm sau nữa, Phi Nhung mới ra được CD đầu tiên có 2 bài hát Nỗi Buồn Hoa PhượngNối Lại Tình Xưa trong 1 CD được ghép chung cùng 2 ca sĩ nổi tiếng Hương Lan, Thanh Tuyền.

Khán giả yêu dòng nhạc quê hương bắt đầu biết đến và yêu mến Phi Nhung sau khi cô song ca cùng Thái Châu trong ca khúc Sông Quê (sáng tác của Đynh Trầm Ca) cùng với nam ca sĩ nổi tiếng Thái Châu tại Hollywood Night 15. Từ đó về sau, Phi Nhung đã có những bước tiến dài trong sự nghiệp âm nhạc.


Click để nghe song ca Thái Châu – Phi Nhung hát Sông Quê

Năm 1998, Phi Nhung được ghi nhận là nữ ca sĩ ra nhiều album nhất, doanh số bán chạy cũng thuộc hàng kỷ lục nên cô được người trong giới và khán giả đặt cho nghệ danh ”Nữ hoàng băng đĩa”.

Những trung tâm băng nhạc mà Phi Nhung đã cộng tác là Tình, Mây, Thúy Anh, Làng Văn, Vân Sơn, Asia, và đặc biệt cô được biết đến là một trong những nữ ca sĩ chủ chốt của trung tâm Thúy Nga từ thập niên 2000.


Click để nghe ca khúc đầu tiên Phi Nhung xuất hiện trên Paris By Night năm 1999

Trong cuộc đời mình, Phi Nhung đã thu âm tổng cộng khoảng 60 ca khúc cho Thúy Nga – Paris By Night. Cô cũng có một thời gian ngắn tham gia chương trình Asia vào năm 1999-2000, thu âm 6 ca khúc cho trung tâm này, để lại dấu ấn với các ca khúc Ba Tháng Tạ Từ, Mưa Rừng, Một Chuyến Xe Hoa.


Click để nghe Phi Nhung hát Ba Tháng Tạ Từ trên Asia năm 1999

Tại trung tâm Thúy Nga, Phi Nhung có sự kết hợp ăn ý với nam ca sĩ Mạnh Quỳnh, trở thành đôi song ca nhạc vàng được yêu thích nhất tại hải ngoại từ những năm đầu thập niên 2000.


Cick để nghe Phi Nhung – Mạnh Quỳnh hát song ca tân cổ giao duyên

Ngoài 1 người con gái Wendy, Phi Nhung nổi tiếng là ca sĩ nhận nhiều con nuôi nhất. Cô từng có tuổi thơ nhọc nhằn, vất vả, từng cảm nhận được nỗi đau và tủi hổ của một đứa trẻ chịu phận mồ côi, nên khi trở thành ca sĩ nổi tiếng, Phi Nhung dành phần lớn thu nhập của mình để làm từ thiện, giúp đỡ những hoàn cảnh không may trong cuộc sống.

Phi Nhung và những người con nuôi trong chùa ở Bình Phước

Cách đây nhiều năm, Phi Nhung nhận làm mẹ của 18 đứa trẻ. Các con của cô được nuôi dưỡng tại một ngôi chùa ở Bình Phước, nơi đây đã được Phi Nhung cùng bạn bè thân hữu góp sức để tu sửa khang trang.

Ngoài ra, Phi Nhung còn nhận nhiều con nuôi trong nghề ca hát, đó là Quỳnh Trang, Hồ Văn Cường, Thiên Ngân, Tuyết Nhung…

Phi Nhung bên những người con nuôi

Từ năm 2005, Phi Nhung chính thức được phép trở về biểu diễn tại Việt Nam và trở thành ca sĩ độc quyền của trung tâm băng nhạc Rạng Đông. Ngoài ca hát, Phi Nhung còn tham gia nhiều lĩnh vực khác như diễn viên truyền hình, diễn viên điện ảnh, nghệ sĩ cải lương, nghệ sĩ kịch nói, nghệ sĩ hài, MC, đặc biệt là cô còn thường xuyên ngồi ghế giám khảo trong các cuộc thi thố âm nhạc trên truyền hình suốt từ năm 2014 về sau. Các gameshow mà Phi Nhung làm giám khảo: Solo Cùng Bolero (trọn 6 mùa), Ngôi Sao Phương Nam, Cặp Đôi Hoàn Hảo, Ban Nhạc Quyền Năng, Hãy Nghe Tôi Hát, Bạn Có Thực Tài, Kịch Cùng Bolero, Tài Tử Tranh Tài, Gia Đình Nghệ Thuật, Duyên Dáng Bolero.

Ngày 19/8/2021, Phi Nhung bị nhiễm nCov2, là F0 và được điều trị ở Bệnh viện Gia An 115, đến ngày 26/8 thì được đưa vào phòng Hồi sức đặc biệt (ICU) của bệnh Chợ Rẫy, là nơi điều trị các ca nặng. Hơn 1 tháng sau đó, vào ngày 28/9/2021, dù được sự nỗ lực điều trị của y bác sĩ Bệnh viện Chợ Rẫy nhưng ca sĩ Phi Nhung đã không qua khỏi, cô trút hơi thở cuối cùng vào lúc 11h57, trong sự tiếc thương của hàng triệu người yêu nhạc.

Sau đây mời các bạn nghe lại những ca khúc được yêu thích nhất của Phi Nhung:

Những ca khúc được sáng tác trước 1975:

Chiều Lên Bản Thượng

Ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Lê Dinh được Phi Nhung trình bày trong chương trình Paris By Night 70 năm 2003, trở thành ca khúc gắn liền với tên tuổi của cô:


Click để nghe Phi Nhung hát Chiều Lên Bản Thượng

Chiều Thương Đô Thị

Mặc dù bài hát này đã được đóng dấu với tên tuổi của các ca sĩ thế hệ trước 1975, đặc biệt là Duy Khánh, nhưng khi Phi Nhung hát lại ca khúc này trên Paris By Night 74 vào năm 2004, cô vẫn tạo được dấu ấn riêng:


Click để nghe Phi Nhung hát Chiều Thương Đô Thị

Mặc dù Phi Nhung chỉ tham gia Asia chỉ trong 2 năm 1999- 2000, nhưng dấu ấn của cô khi xuất hiện tại chương trình này rất đậm nét, đặc biệt là với 3 ca khúc được sáng tác trước năm 1975 là Ba Tháng Tạ Từ, Một Chuyến Xe Hoa và Mưa Rừng. Phần hòa âm đỉnh cao của trung tâm Asia đã góp phần chắp cánh cho giọng hát Phi Nhung vang xa hơn nữa:

Ba Tháng Tạ Từ


Click để nghe Phi Nhung hát Ba Tháng Tạ Từ

Mưa Rừng


Click để nghe Phi Nhung hát Mưa Rừng

Một Chuyến Xe Hoa


Click để nghe Phi Nhung hát Một Chuyến Xe Hoa

Những ca khúc sáng tác sau năm 1975

Có một điều đặc biệt, đó là đa số những bài hát mà Phi Nhung tạo được dấu ấn riêng biệt đều là sáng tác sau năm 1975, đó là Chiều Qua Phà Hậu Giang, Bông Điên Điển, Em Về Miệt Thứ, Lý Con Sáo Bạc Liêu, Sông Quê, Phải Lòng Con Gái Bến Tre, Ru Lại Câu Hò, Trách Ai Vô Tình, Ngựa Ô Thương Nhớ, Hoàng Hôn Màu Tím…

Một số ca khúc tiêu biểu nhất:

Lý Con Sáo Bạc Liêu

Ca sĩ Phi Nhung đã gắn bó với trung tâm Thúy Nga suốt hơn 20 năm qua, và ca khúc đầu tiên mà cô hát tại Paris By Night là Lý Con Sáo Bạc Liêu, một ca khúc của nhạc sĩ Phan Ni Tấn.

Là một người được sinh ra ở Cần Giuộc, nhạc của Phan Ni Tấn đậm chất trữ tình quê hương với giai điệu âm hưởng dân ca Nam Bộ, với ảnh hưởng từ người cha của ông vốn là một nhạc công cổ nhạc.

MV bài hát này được thực hiện tại Việt Nam, đạo diễn là Huỳnh Phúc Điền, xuất hiện trong Paris By Night 49 chủ đề Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương.


Click để nghe Phi Nhung hát Lý Con Sáo Bạc Liêu

Phải Lòng Con Gái Bến Tre

Một ca khúc nổi tiếng khác của Phi Nhung cũng của nhạc sĩ Phan Ni Tấn, phổ thơ Luân Hoán.

MV ca khúc này cũng được đạo diễn Huỳnh Phúc Điền thực hiện tại Việt Nam với kinh phí rất lớn là $15.000 vào năm 2000. Trong chương trình Music Box đầu năm 2021, ca sĩ Phi Nhung kể lại rằng đây là MV thực hiện mất thời gian nhất. Thời đó cô đã bỏ rất nhiều show để về Việt Nam một tuần, quay phim hết 3 ngày ở Bến Tre. Sau khi thực hiện xong, đạo diễn Huỳnh Phúc Điền đưa video cho Phi Nhung quay về Mỹ. Sau khi giám đốc trung tâm Thúy Nga là cô Thủy xem xong và không thấy có phà Rạch Miễu trong MV, cô không hài lòng và yêu cầu Phi Nhung quay về Việt Nam một lần nữa để quay cho được hình ảnh “Bậu sang phà Rạch Miễu”.

Việc quay về lại Việt Nam và bao nguyên trọn chuyến phà Rạch Miễu để quay phim tốn rất nhiều chi phí, nhưng trung tâm Thúy Nga vẫn chấp nhận đầu tư để có được những thước phim hoàn hảo nhất.


Click để nghe Phi Nhung hát Phải Lòng Con Gái Bến Tre

Chiều Qua Phà Hậu Giang

Ca sĩ Phi Nhung rất có duyên với những chuyến phà, ngoài phà Rạch Miễu thì còn có phà Hậu Giang, với ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Nhật Ngân được Phi Nhung trình bày đầu tiên là Chiều Qua Phà Hậu Giang:

Chiều qua phà Hậu Giang tiếng ai hát dạo buồn thay
Tiếng ca sầu mênh mang như khơi niềm đau năm tháng xưa
Chân nạng gỗ thấp cao kéo lê đời theo dòng nhạc đưa
Mảnh chiến y phai màu khúc ca nào gợi sầu khôn nguôi

Chiều qua phà Hậu Giang tiếng ai nhắc kỷ niệm xưa
Tiếng ca gợi trong tim bao nhiêu niềm đau chưa lãng quên
Nhưng người qua vẫn qua bước vô tình không hề dừng chân
Ôi xót xa trong lòng tiếng ca buồn chìm vào trong mưa…


Click để nghe Phi Nhung hát Chiều Qua Phà Hậu Giang

Hoàn cảnh sáng tác bài hát này được nhạc sĩ Nhật Ngân kể lại trên Paris By Night 66 năm 2002, đó là trong một lần ông về Việt Nam và đi miền tây quê của vợ, qua phà Hậu Giang thì gặp một người bạn cũ là thương phế binh đi đàn dạo kiếm sống.

“Buổi chiều đó mưa bay bay, tôi ngồi trong quán, bỗng nhiên nghe được giọng hát rất xúc động của một người thương phế binh mặc áo treillis bạc màu, ngồi ở ngoài hàng hiên ôm đàn hát. Nhìn cách đệm đàn của anh, tôi nghĩ không phải là một người hát dạo bình thường. Điều làm cho tôi thật xúc động, đó là anh hát bài “Xuân Này Con Không Về”.

Tôi ra nói chuyện với anh, khi vừa ra tới nơi thì nhận ra đó chính là một người bạn học cũ của tôi, học chung từ thời trung học, rồi sau đó anh đi Võ Bị Đà Lạt. Thời gian sau đó anh bị thương ngoài ᴄhιến trường, gãy một chân và được giải ngũ từ đó. Sau khi tôi nói chuyện với anh, tôi suy nghĩ nhiều và thấy ngậm ngùi” (lời kể của nhạc sĩ Nhật Ngân).

Sau khi về lại Hoa Kỳ, nhạc sĩ Nhật Ngân đã bàn với nhạc sĩ Trần Trịnh và cùng sáng tác Chiều Qua Phà Hậu Giang.

Bông Điên Điển – Ai Về Miệt Thứ

Có 2 ca khúc của nhạc sĩ Hà Phương sáng tác sau năm 1975 đã góp phần tạo dựng tên tuổi ca sĩ Phi Nhung, đó là Bông Điên ĐiểnAi Về Miệt Thứ. Nhạc sĩ kể lại hoàn cảnh sáng tác những ca khúc này như sau:

“Kể từ đó chúng tôi chuyển sang viết ca khúc mang đậm phong cách dân ca Nam bộ và cho ra đời những ca khúc Bông Điên Điển, Em Về Miệt Thứ, Nhớ Đất Quê, Chiều Mưa Qua Sông, Đồng Sâu Xứ Lạ, Bông Lục Bình, Chuyện Tình Hoa Cát Đằng… Điều đó cũng phù hợp với tâm tư, tình cảm dành cho quê hương miền Tây, nơi mà chúng tôi lớn lên bên dòng sông, bến nước thấm đẫm những câu hò điệu lý, những làn điệu dân ca đã nuôi nấng tâm hồn chúng tôi. Mỗi ca khúc ra đời là sự thật phát xuất từ tâm hồn do thường xuyên lang bạt, gắn bó với miền đất phương Nam: Láng Linh, An Giang bạt ngàn bông điên điển với bóng hình những cô gái chèo xuồng hái bông đẹp làm sao. Có những đêm nơi Miệt Thứ, Cạnh Đền mà những sinh hoạt về đêm đều diễn ra trong mùng bò (mùng lớn) mới tránh khỏi muỗi đốt…”

Từ những cảm xúc đó, nhạc sĩ Hà Phương đã viết thành 2 ca khúc Bông Điên ĐiểnEm Về Miệt Thứ nổi tiếng qua tiếng hát Phi Nhung. Sau này ca sĩ Phi Nhung đã luôn biết ơn nhạc sĩ Hà Phương vì 2 ca khúc này đã góp phần lớn làm nên tên tuổi của cô ở hải ngoại.


Click để nghe Phi Nhung hát Em Về Miệt Thứ


Click để nghe Phi Nhung hát Bông Điên Điển

Sông Quê

Đây là sáng tác của nhạc sĩ Đynh Trầm Ca, đã có rất nhiều ca sĩ hát bài này, nhưng khi nhắc đến Sông Quê, hầu như người yêu nhạc chỉ nhớ đến phiên bản đỉnh cao của Phi Nhung song ca cùng Thái Châu trong chương trình Hollywood Night 15 năm 1997: Có một dòng sông chảy tràn trong trí nhớ…


Click để nghe Phi Nhung – Thái Châu hát Sông Quê

Thị Trấn Mù Sương

Bài hát của nhạc sĩ Thanh Sơn viết riêng tặng cho ca sĩ Phi Nhung. Trong chương trình Music Box, ca sĩ Phi Nhung kể lại rằng vào những năm cuối đời, nhạc sĩ Thanh Sơn mắc nhiều chứng bệnh, trong đó có một lần phải mổ tim, chi phí khá lớn. Phi Nhung khi đó ở Việt Nam đã đưa hết số tiền mình có lúc đó để giúp nhạc sĩ Thanh Sơn chữa bệnh, đồng thời gọi cho trung tâm Thúy Nga để xin giúp đỡ thêm, nhờ vậy nên nhạc sĩ đủ trang trải cho bệnh tình của mình. Sau khi khỏe lại, nhạc sĩ Thanh Sơn có nhã ý muốn sáng tác một bài hát để riêng tặng Phi Nhung. Cô nói rằng rất nhớ quê Pleiku và muốn được sáng tác một bài về quê mẹ, từ đó bài Thị Trấn Mù Sương ra đời:

Em sinh ra trên vùng đất đỏ sương mù tên gọi là Pleiku
Bình minh lên như bức tranh tuyệt vời
Rừng cao nguyên với rẫy nương sườn đồi
Những buôn làng ấm no, vui nụ cười trên môi…


Click để nghe Phi Nhung hát Thị Trấn Mù Sương

Trách Ai Vô Tình

Một trong những sáng tác cuối đời của nhạc sĩ Nhật Ngân, ca khúc mang âm hưởng dân ca Nam Bộ. Nhật Ngân cũng là một trong những người đầu tiên hướng dẫn Phi Nhung khi bắt đầu đi hát.

Bạn tình ơi dẫu gì cũng xa nhau rồi,
dòng sông lững lờ trôi con thuyền sóng đưa xa bờ…


Click để nghe Phi Nhung hát Trách Ai Vô Tình

Hoàng Hôn Màu Tím

Bài hát của nhạc sĩ Thế Hiện từng được Phi Nhung hát trên Hollywood Night từ thập niên 1990:


Click để nghe Phi Nhung hát Hoàng Hôn Màu Tím

Vọng Kim Lang – Bậu Đi Theo Người

Liên khúc này được Phi Nhung hát trên Paris By Night 75 năm 2004:


Click để nghe

Đông Kha – chuyenxua.vn

Những tấm ảnh đen trắng đẹp nhất chụp cảnh đường phố Sài Gòn hơn 60 năm trước

Những tấm ảnh màu chụp cảnh Sài Gòn đã có từ những năm thập niên 1950. Tuy nhiên trong các năm sau đó, hình ảnh trắng đen vẫn tiếp tục phổ biến, lý do đơn giản là ảnh màu thời điểm đó rất đắt đỏ. Một lý do khác, ảnh đen trắng thuộc về một trường phái nhiếp ảnh riêng vẫn được nhiều nhiếp ảnh gia ưa chuộng.

Nếu nói về ảnh đen trắng, người ta thường nghĩ đơn thuần đó chỉ là một bức tranh không màu, một không gian lắng đọng. Tuy nhiên, nếu đi sâu vào thế giới ảnh đen trắng, thì mỗi tấm hình là cả một câu chuyện còn mãi với thời gian.

Thương xá TAX thập niên 1950

Khi không còn màu sắc, thì những yếu tố khác được chú trọng hơn, như là ánh sáng, bố cục, hay là cái hồn của chủ thể trong tấm ảnh. Nói cách khác, khi màu sắc mất đi thì cảm xúc trong ảnh và tính liên kết giữa các đối tượng sẽ được tôn lên mạnh mẽ hơn.

Góc đường Hàm Nghi – Phó Đức Chính, thập niên 1950

Sau đây, mời các bạn xem lại những tấm ảnh đen trắng đẹp nhất chụp Sài Gòn trong những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, khởi đầu là loạt ảnh của tập chí LIFE.

Hỉnh ảnh ở khu vực phía trước Chợ Bến Thành:

Khu vực bùng binh trước chợ Sài Gòn (nay là chợ Bến Thành), lúc này mang tên là quảng trường Diên Hồng, sau này đổi thành quảng trường Quách Thị Trang

Nữ sinh giờ tan học, đi ngang qua bùng binh chợ Sài Gòn

Bên trái hình là 1 phần của Bịnh viện Đô Thành (nay là Bệnh viện đa khoa Sài Gòn) trên đại lộ Lệ Lợi, cạnh đó là Trụ sở Hỏa Xa ở đầu đại lộ Hàm Nghi

Khu vực này ở phía trước ngôi chợ trung tâm của Sài Gòn (nay là chợ Bến Thành) nên lúc nào cũng đông đúc. Người đi bộ, người đi xe đạp, xe máy, xe hơi, xe bus, xích lô, xe ngựa, phương tiện nào cũng có

Khu nhà trong hình là Bịnh viện Đô Thành, tiền thân là bịnh viện Dejean de la Bâtie thời Pháp, còn được gọi là Nhà thương Chú Hỏa, vì gia tộc Hui Bon Hoa đã góp một số tiền lớn để tu sửa bịnh viện

Từ năm 1955, bệnh viện đổi tên chính thức thành Bịnh viện Sài Gòn, nhưng người dân vẫn quen gọi tên là Nhà Thương thí (vì nơi đây khám chữa bệnh hoàn toàn miễn phí). Ngoài ra Bịnh viện Sài Gòn còn thường được gọi bằng những cái tên khác là Y viện Sài Gòn hoặc Bịnh vện Đô Thành

Trong các ảnh này, chúng ta có thể thấy khu vực này lúc nào cũng đông đúc các dòng người qua lại. Khu nhà trong ảnh là Bịnh viện Đô Thành và Tòa Hỏa Xa

Người Sài Gòn băng qua đường ở khu vực đầu đại lộ Hàm Nghi, nơi có Tòa nhà Hỏa Xa

Một đôi vợ chồng đi xe Goebel (nhập khẩu Đức), phía sau là đường Lê Lai, bên trái hình là ga xe lửa Sài Gòn (nay là công viên 23/9)

Một số hình ảnh khác, cũng chụp năm 1961 ở phía trước chợ Sài Gòn:

Dãy nhà trong hình xưa kia thuộc về gia tộc của Hua Bon Hoa (chú Hỏa), được xây dựng cùng lúc với chợ Sài Gòn (nay là chợ Bến Thành), có từ năm 1911. Ngày nay dãy nhà thương mại này vẫn còn, nằm trên đường Phan Chu Trinh.

Khu vực này có bến xe bus, là trung tâm trung chuyển của các phương tiện công cộng, có thể thấy trong hình có nhiều xe bus đang đậu.

Một thiếu nữ đang đi chợ Sài Gòn

Hai người phụ nữ Sài Gòn đang đi dạo trước khu vực Chợ Sài Gòn. Người bên trái là cựu nữ sinh Đông Khánh Huế tên là Trần Thị Như Ngoạn, người còn lại là cô em chồng tên là Tôn Nữ Như Ngân. Họ cũng là bạn học ở Huế, rồi cũng gia đình vào Sài Gòn

Một số hình ảnh đen trắng năm 1961 ở khu vực đại lộ Lê Lợi:

Bên trái hình là Thương xá TAX

Một thiếu nữ băng qua đường trên đại lộ Lê Lợi

Quán cafe vỉa hè ở nhà hàng Kim Sơn trên đại lộ Lê Lợi, nơi gặp gỡ của rất nhiều người trong giới văn nghệ sĩ Sài Gòn trước 1975. Xung quanh khu vực này có nhiều phòng trà, như phòng trà Bồng Lai (sân thượng bên trên nhà hàng Kim Sơn), phòng trà Quốc Tế (băng qua bên kia đường Nguyễn Trung Trực), ở xung quanh cách đó không xa còn có phòng trà Olympia, Queen Bee, Tự Do…

Quán cafe ở vỉa hè nhà hàng Kim Sơn góc Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực

Góc nhìn khác ở nhà hàng Kim Sơn
Chợ trời vỉa hè đại lộ Lê Lợi
Công trường Lam Sơn ở đầu đại lộ Lê Lợi, phía sau là thương xá Eden

Một số hình ảnh đen trắng chụp đường Tư Do năm 1961:

Công trình tiêu biểu trên đường Tự Do là Opera House – nhà hát lớn nhất Sài Gòn, được khánh thành năm 1900. Đến năm 1955, nơi này thành trụ sở Quốc Hội, đến năm 1967 đổi thành Hạ Nghị Viện

Hai thiếu nữ áo dài đi bộ trước Trụ sở Quốc Hội (Opera Houe). Sau lưng là khách sạn Continental Palace

Đường Tự Do ở khu vực trước Opera House. Bên phải hình là Caravelle Hotel được khánh thành cuối năm 1959

Bên trái là thương xá Eden, ở giữa hình là Continental Palace, bên phải là Opera House, những công trình nổi tiếng góp phần tạo nên bộ mặt của khu trung tâm Sài Gòn

Một vài hnh ảnh đường Tự Do, đoạn từ Nguyễn Thiếp nhìn về phía Continental Palace:

Hình ảnh tiệm Imperial, nằm ở góc đường Tự Do – Nguyễn Văn Thinh (nay là Đồng Khởi – Mạc Thị Bưởi). Căn nhà của tiệm này ngày nay vẫn còn giữ nguyên kiến trúc, chưa bị thay đổi:

Hình ảnh quán Imperial nhìn ra đường Tự Do:

Nếu nhắc tới ảnh đen trắng, không thể không nhắc đến Nguyễn Bá Mậu, người được xem là một trong những nhiếp ảnh gia xuất sắc nhất của Việt Nam thế kỷ 20. Hầu hết tác phẩm của ông đều là hình ảnh đen trắng, và Nguyễn Bá Mậu được xem là vua của những tấm ảnh phân sắc độ.

Mời các bạn xem lại một số hình ảnh đen trắng của Nguyễn Bá Mậu chụp Sài Gòn cuối thập niên 1950:

Phía trước chợ Sài Gòn (nay là chợ Bến Thành)

Tòa nhà Tháp Ngà (Tour d’Ivoire) năm 1957 tại góc đường Tràn Hưng Đạo – Bùi Viện, đến nay tòa nhà vẫn còn. Nơi đây từng là một phòng trà, vũ trường nổi tiếng

Chợ Bình Tây năm 1957. Ngôi chợ lớn nhất ở Chợ Lớn này được thương gia Quách Đàm xây dựng từ năm 1928

Sài Gòn năm 1959, bên trái là Opera House, lúc này là trụ sở của Quốc Hội, đằng trước Quốc Hội là công trường Lam Sơn, đầu đại lộ Lê Lợi

Đại lộ Lê Lợi năm 1959. Người chụp hình đứng ở ngã tư với đường Pasteur nhìn về trụ sở Quốc Hội. Bên trái hình là thương xá Eden và REX Hotel, ở giữa 2 tòa nhà này là đại lộ Nguyễn Huệ về phía Tòa Đô Chánh

Người Sài Gòn tản bộ trên vỉa hè đường Tự Do năm 1959, đoạn công viên Chi Lăng. Đường này ngày nay là Đồng Khởi. Sau này, nhà thơ Du Tử Lê có câu thơ nhắc lại vỉa hè Tự Do nổi tiếng là: Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè, Nắng Trương Minh Giảng lá hè Tự Do

Đại lộ Đồng Khánh năm 1959. Sau 1975, con đường này nối tiếp vào đường Trần Hưng Đạo, được gọi là đường Trần Hưng Đạo B

Continental Palace trên đường Catinat (đường Tự Do), được hoàn thành vào giữa năm 1880, gần như cùng lúc với nhà thờ Đức Bà. Có thể nói đây là khách sạn có lịch sử lâu đời và nổi tiếng nhất Sài Gòn, vẫn còn lại đến ngày nay sau hơn 140 năm

Đường Tự Do đằng trước Quốc Hội năm 1962. Bên phải hình là Continental Palace, bên trái là thương xá Eden

chuyenxua.vn biên soạn

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên và những ca khúc bất hủ: Mắt Biếc, Niệm Khúc Cuối, Bản Tình Cuối, Mùa Thu Cho Em…

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên là một trong những tân tuổi tiêu biểu nhất của thể loại nhạc trữ tình miền Nam vào khoảng đầu thập niên 1970. Ông là tác giả của nhiều ca khúc bất hủ được hàng triệu người yêu thích suốt hơn nửa thế kỷ qua, đó là Niệm Khúc Cuối, Bản Tình Cuối, Chiều Nay Không Có Em, Áo Lụa Hà Đông, Giọt Nước Mắt Ngà, Từ Giọng Hát Em, Mắt Biếc, Giáng Ngọc, Tuổi 13, Mùa Thu Cho Em… Đó cũng là những ca khúc được xem là những bài nhạc trữ tình hay nhất của âm nhạc Việt Nam.

Trong suốt sự nghiệp của mình, hầu hết các sáng tác của Ngô Thụy Miên là tình ca, và ông là một trong số ít nhạc sĩ đã dành trọn cuộc đời để sáng tác tình ca. Ông từng lý giải về điều đó như sau:

“Từ bao nhiêu năm nay tôi chỉ viết tình ca vì thấy thích hợp với con người, với cá tính của mình, và cũng vì tình yêu mãi mãi vẫn là một đề tài muôn thuở cho người nghệ sĩ sáng tác. Các chủ đề Tình Yêu, Thân Phận, và Quê Hương đã được khai triển rộng rãi trong nhiều thập niên vừa qua với bao nhiêu tác giả và tác phẩm. Được biết đến như một người viết tình ca (đôi lứa) cũng đã là quá đủ cho tôi rồi”.

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên tên thật là Ngô Quang Bình, sinh ngày 26/9/1948 tại Hải Phòng, là người con thứ hai trong một gia đình có 7 anh chị em. Ông lớn lên trong môi trường sách vở và thơ văn, do gia đình ông có mở một nhà sách tên Thanh Bình ở thành phố Hải Phòng, và sau này ở trên đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) khi di vào đến Sài Gòn. Tại đây, ông theo học trường Trung học Nguyễn Trãi, sau đó là Trường Đại học Khoa học Sài Gòn (nay là trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên).

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã từng nói về những nơi mà ông đã từng gắn bó một thời như sau: “Tôi sinh ra ở Hải Phòng miền Bắc Việt Nam, nhưng đã lớn lên tại Sài Gòn, đã được nuôi dưỡng bởi cái tánh khí bình dị, cái tinh thần mộc mạc của miền Nam, đã có cả một thời mơ mộng, cả một tuổi trẻ với bao mộng ước đầu đời, khát khao…”

Trong thập niên 1960, Ngô Thụy Miên có theo học vĩ cầm với Giáo sư Đỗ Thế Phiệt, học nhạc lý với Giáo sư Hùng Lân tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Trong thời gian học tại đây, ông được quen biết với Đoàn Thanh Vân (con gái của tài tử nổi tiếng Sài Gòn là Đoàn Châu Mậu), và hai người đã có một mối tình sâu đậm. Những tình khúc bất hủ của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phần nhiều là được viết cho cuộc tình này.

Ngô Thụy Miên đã bắt đầu sáng tác từ năm 1963 khi mới 15 tuổi với bút danh là Đông Quân, nhưng đến 2 năm sau đó thì tên tuổi của ông mới được công chúng biết đến qua tình khúc Chiều Nay Không Có Em.

Năm 1969, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên cho xuất bản tập nhạc “Tình khúc Đông Quân” gồm một số ca khúc tiêu biểu như: Giáng Ngọc, Gọi Nắng (sau đổi tên thành Giọt Nắng Hồng), Mùa Thu Này Cho Em (sau đổi tên thành Mùa thu cho em), Dấu Vết Tình Yêu (sau đổi tên thành Dấu Tình Sầu)… “Tình khúc Đông Quân” được in ronéo và phát hành tại Sài Gòn.

Năm 1974, Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên bắt tay vào thực hiện băng nhạc đầu tay mang tên “Tình Ca Ngô Thụy Miên” với 17 ca khúc được sáng tác từ năm 1965 – 1972. Bài hát đầu tiên được hoàn tất trong năm 1965 là Chiều Nay Không Có Em và bài cuối cùng được viết trong năm 1972 là Mắt Biếc. Đây được xem là băng nhạc tình ca hay nhất từng được thực hiện trước năm 1975, với sự góp mặt của những ca sĩ thượng thặng như Khánh Ly, Duy Trác, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan, Duy Quang,…Tất cả những ca khúc được giới thiệu trong băng nhạc này, sau đó đều trở thành bất tử.

Mời bạn nghe lại băng nhạc này sau đây:


Click để nghe

Nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên cho biết khi thực hiện băng nhạc đầu tiên này, ông đã làm việc trực tiếp với từng ca sĩ trong lúc thu âm để đảm bảo rằng ca sĩ sẽ hát đúng theo ý tác giả, diễn tả chính xác được từng lời ca, ý nhạc, chuyên chở được những tình cảm tâm tư mà nhạc sĩ muốn gửi đến người nghe.

Ngoài sáng tác âm nhạc, nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên còn là một công chức. Từ năm 1970 đến 1975, ông làm kiểm soát viên không lưu tại phi trường Tân Sơn Nhất. Cũng khoảng thời gian đó, ông là Trưởng ban nhạc Luân Phiên tại Đài phát thanh Quân đội.

Sau đây là hoàn cảnh sáng tác một số ca khúc tiêu biểu nhất trong sự nghiệp của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên:

Chiều Nay Không Có Em

Nhạc phẩm Chiều Nay Không Có Em là tình khúc đầu tiên của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, viết năm 1963 và ra mắt công chúng năm 1965. Đây là ca khúc ông viết cho người yêu thuở ban đầu của mình là cô Đoàn Thanh Vân.

Chiều nay mình lang thang trên phố dài
Không có em ai chung bước dỗi nhau giận hờn
Không có em đường xưa giăng mắc mây trôi
Chiều nào hai đứa chung đôi.
Lặng nhìn mùa thu lá rơi.


CLick để nghe Sĩ Phú hát Chiều Nay Không Có Em

Bài hát này có ca từ đằm thắm thiết tha như là lời tình của sứ giả tình yêu. Nhạc sĩ đã nhắc đến “giăng mắc mây trôi” như là nhắc đến tên của người tình (Mây – Vân), là hình bóng cứ mãi hoài giăng mắc trong tâm trí của cậu học trò 17 tuổi.

Chuyện tình của Ngô Thụy Miên và Đoàn Thanh Vân trải qua muôn vàn sóng gió, khởi đầu từ tuổi 16-17, và phải đến hơn 10 năm sau đó, họ mới nên duyên vợ chồng khi cả 2 đã rời Việt Nam sau 1975. Tình yêu được thử thách qua nhiều gian nan như vậy, nên họ biết quý trọng hơn những ngày tháng được ở bên nhau, và vẫn chung sống hạnh phúc cho đến nay.

Mùa Thu Cho Em

Sau Chiều Nay Không Có Em, ca khúc nổi tiếng thứ 2 của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên được công chúng biết tới, đó là Mùa Thu Cho Em, và cũng là một ca khúc khác viết cho Đoàn Thanh Vân.

Trong bài hát này, chàng nhạc sĩ tài hoa đã khéo léo lồng tên người yêu vào lời nhạc, “mây xanh” cũng có nghĩa là Thanh Vân:

“Nắng úa dệt mi em
Và MÂY XANH thay tóc rối
Nhạt môi môi em thơm nồng
Tình yêu vương vương má hồng

Sẽ hát bài cho em, và ru em yên giấc tối
Ngày mai khi mưa ngang lưng đồi
Chờ em, anh nghe mùa thu tới”.


Click để nghe Ngọc Lan hát Mùa Thu Cho Em

Niệm Khúc Cuối

Có thể xem Niệm Khúc Cuối là bài hát nổi tiếng và được yêu thích nhất của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên. Ca khúc này được nhạc sĩ sáng tác từ năm 1971 và đã trở thành bản nhạc được trình diễn nhiều nhất trong số các tác phẩm của ông từ đó đến nay. Đây là một bản nhạc tình đẹp, cao thượng, có giai điệu và ca từ lay động lòng người nhất trong âm nhạc Việt.


Click để nghe Khánh Ly hát Niệm Khúc Cuối trước 1975

Dù cho mưa tôi xin đưa em đến cuối cuộc đời
Dù cho mây hay cho bão tố có kéo qua đây
Dù có gió, có gió lạnh đầy, có tuyết bùn lầy
Có lá buồn gầy, dù sao, dù sao đi nữa tôi vẫn yêu em 

Tình yêu được nhạc sĩ thể hiện trong Niệm Khúc Cuối chắc chắn không phải lá thứ cảm xúc xốc nổi, bồng bột thoáng qua, chóng đến chóng đi của những cuộc tình non tơ, trẻ dại. Đó là thứ cảm xúc bật thoát từ sâu thẳm trái tim của một người đàn ông đã đi qua nhiều giông bão, từng trải, rắn rỏi và chắc chắn. Dù cho tình yêu có mang đến cho cuộc đời tôi bao gió giông, bão tố, bao tuyết lạnh, bùn lầy, bao sầu thảm, đớn đau, thì tôi vẫn sẽ yêu em như ngày hôm nay, như bây giờ, như ngày hôm qua, không hề đổi dời. Trong tình yêu, người phụ nữ có lẽ chẳng cần gì hơn một câu hát: Dù sao đi nữa tôi vẫn yêu em. Như thế có lẽ là quá đủ cho một mối chân tình.


Click để nghe Tuấn Ngọc hát Niệm Khúc Cuối

Bản Tình Cuối

Bản Tình Cuối là một trong số 17 Miên Tình Khúc được nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên sáng tác và nổi tiếng từ trước năm 1975. Đó là những tình khúc chủ yếu được sáng tác dựa trên cảm hứng từ mối tình sinh viên ngọt ngào nhưng bị ngắt quãng nhiều lần của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên với Đoàn Thanh Vân, cũng là người vợ gắn bó cùng ông cả cuộc đời sau này.


Click để nghe Lệ Thu hát Bản Tình Cuối trước 1975

Nhạc của Ngô Thuỵ Miên dù giản dị, mộc mạc nhưng bao giờ cũng da diết, mềm lơi, đầy những rung cảm riêng tư:

Mưa có rơi và nắng có phai
trên cuộc tình yêu em ngày nào
Ta đã yêu và ta đã mơ
mơ trăng sao đưa đến bên người

Ngay đầu bài hát, người du ca Ngô Thuỵ Miên đã thả vào thinh không một câu hỏi xa xôi mà day dứt, ám ảnh khôn cùng: Mưa có rơi và nắng có phai trên cuộc tình yêu em ngày nào? 

Cuộc tình xưa đã trôi vào dĩ vãng tự bao giờ nhưng những dư âm, cảm xúc mà nó để lại dường như vẫn còn nguyên vẹn. Trong niềm khắc khoải, thương nhớ khôn nguôi về những tháng ngày cũ, chàng tự vấn, tự dằn vặt, tự day dứt với chỉ một câu hỏi rằng tại sao bao nhiêu ngày tháng đã trôi qua mà sao vẫn không thể quên. Nhưng có lẽ hỏi chỉ để hỏi, chỉ để thừa nhận rằng lý trí cũng đành bất lực trước lý lẽ của trái tim, bởi khi đã trót yêu, đã trót mơ, đã trót vương mang cuộc tình như định mệnh ấy:

Một lần gặp gỡ đã như quen thuở nào
một lần gặp gỡ nhưng tình ngỡ xa xưa


Click để nghe Duy Quang và Ngọc Lan hát Bản Tình Cuối

Một điều đặc biệt nhất ở Ngô Thuỵ Miên, khác biệt so với nhiều vị nhạc sĩ khác có lẽ là đức tính chung thuỷ của ông, cả ở trong đời sống riêng và trong âm nhạc. Những bản tình ca của ông dù đẹp, buồn hay bị luỵ đều mang theo một tình yêu chung thuỷ, vĩnh cửu đến tận cùng, như lời tâm sự của ông: “Tình yêu đối với tôi dù sung sướng hay khổ đau cũng là một điều rất thiêng liêng. Yêu không có nghĩa là chiếm hữu cho riêng mình, yêu là cho tận cùng, là chấp nhận hết buồn vui khổ hận để mang lại hạnh phúc cho người yêu”.

Vậy nên, dù Bản Tình Cuối có được nhạc sĩ kết lại bằng một câu hỏi mở:

Một ngày nào đó tóc xanh xưa bạc màu
Một ngày nào đó ta có thôi hết yêu người?

Mắt Biếc

Nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên từng tâm sự, Mắt Biếc là một trong những bản tình ca mà ông tâm đắc nhất. Có lẽ bởi, khác với nhiều nhạc phẩm trước đó, khi viết Mắct Biếc, Ngô Thuỵ Miên đã có sự “cứng cáp” và từng trải nhất định cả trong đời sống và trong âm nhạc.

Từng lời hát sâu lắng, điệu nhạc lả lướt, hoà quyện cuốn người nghe chìm trôi vào vùng ký ức xa xưa êm ả, như thơ như mơ:

Nhớ tới năm xưa bên nhau
Bước trong chiều mưa
Phím ru nhẹ đưa

Bến cũ đam mê say sưa
Lá thu còn rơi
Người xa vắng rồi

Mắt biếc năm xưa nay đâu
Cánh sao còn đây
Tóc mây nào bay
Phố vắng mênh mang mưa rơi
Ước mơ nào nguôi tình đã phai rồi 


Click để nghe Thanh Lan hát Mắt Biếc trước 1975

Nghe Mắt Biếc của Ngô Thuỵ Miên, người nghe ngỡ như đi lạc vào những giai âm của dòng nhạc tiền chiến, ngỡ như Ngô Thuỵ Miên đã ngả theo đường nhạc của Đặng Thế Phong, Đoàn Chuẩn, Văn Cao, Cung Tiến,… Bên cạnh chất nhạc du dương, trầm bổng và những lời ca dịu dàng, đắm say là những hình ảnh ẩn dụ lả lướt đầy chất thơ, chất mơ của thập niên 40-50 của thế kỷ trước như: lá thu, bến cũ, cung đàn, phím ru, bến ga tịch liêu, lá úa, cung tơ, chiều mơ,… Tất cả tạo nên một không khí hoài niệm đầy chất thơ, chất nhạc, nồng nàn và đắm say mà ắt hẳn nhiều người trong chúng ta thấy mình trong đó.


Click để nghe danh ca Duy Trác hát Mắt Biếc năm 1974


Click để nghe Sĩ Phú hát Mắt Biếc

Giáng Ngọc

Trong làng nhạc trữ tình thời kỳ 1954-1975, hiếm có ca khúc nào đẹp và lãng mạn, từ giai điệu cho đến lời ca, nét đẹp kiều diễm, thoát tục ngay từ tựa đề bài hát: Giáng Ngọc – một ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên.

Bài hát này được nhạc sĩ viết cho một người con gái có thực, mang một vẻ kiêu sa, đặc biệt là có đôi bàn tay rất đẹp: bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa…


Click để nghe Ngọc Lan hát Giáng Ngọc

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên kể lại:

“Ngày đó cô là một nữ sinh của trường trung học nổi tiếng ở Sài Gòn là Trưng Vương, còn tôi là một anh sinh viên lang thang ở trường đại học. Cô là nguồn cảm hứng cho tôi viết bài Dấu Tình Sầu và dĩ nhiên là cả bài Giáng Ngọc. Đã nhiều năm trôi qua, tất cả đã đi vào quên lãng, nhưng bàn tay, mái tóc và dáng người đó đã cho tôi niềm cảm hứng để viết bài hát với những câu “bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa, vẫn tóc mây bay má môi hồng thắm…”

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã tình cờ thấy cô gái tên là Minh Ngọc đó tại thư viện của Trung Tâm Văn Hóa, dáng vóc ngọc ngà của cô làm say mê chàng nhạc sĩ hay mơ mộng, nên ông đã ca ngợi thành “giáng ngọc” (hay là Dáng Ngọc?). Cách dùng từ “giáng” của ông cũng gợi đến hình tượng một người tiên giáng trần, là nét đẹp ngọc ngà thanh khiết được ban xuống trần.

Ca khúc này lần đầu tiên được giới thiệu trong băng nhạc Tình Khúc Ngô Thụy Miên năm 1974 qua tiếng hát Lệ Thu. Mời các bạn nghe lại:


Click để nghe Lệ Thu hát

Giáng Ngọc là một trong những ca khúc hay nhất của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, và hầu như ca sĩ nào hát cũng hay, cũng để lại nét riêng. Nguyên thủy bài hát là điệu slow rock, như phiên bản của Lệ Thu, Ngọc Lan hát, sau này một số phiên bản khác được phối lại thành tango và cũng rất được yêu thích, mời các bạn nghe lại:


Click để nghe Khánh Ly hát Giáng Ngọc


Click để nghe Lưu Hồng hát Giáng Ngọc

Riêng Một Góc Trời

Riêng Một Góc Trời là một trong những bản tình ca muộn màng của Ngô Thụy Miên, được sáng tác khi tác giả đã tròn 50 tuổi. Khi đó, ông đang có cuộc hôn nhân viên vãn với người bạn gái thuở hàn vi sau những năm tháng thăng trầm của cuộc đời. Tuy nhiên như thường lệ, tình ca của Ngô Thụy Miên thường buồn, cái buồn man mác không vương sầu lụy. Tình yêu trong tuyệt phẩm Riêng Một Góc Trời mỏng manh như sương khói, nhưng mãi vấn vương nuối tiếc, nặng tình về những ngày tháng cũ.

Tình yêu như nắng, nắng đưa em về, bên dòng suối mơ
Nhẹ vương theo gió, gió mang câu thề, xa rời chốn xưa
Tình như lá úa, rơi buồn, trong nỗi nhớ
Mưa vẫn mưa rơi, mây vẫn mây trôi, hắt hiu tình tôi…


Click để nghe Tuấn Ngọc hát Riêng Một Góc Trời

 Những ca khúc Ngô Thụy Miên phổ thơ Nguyên Sa:

Một mảng sáng tác nổi tiếng và được công chúng đón nhận trong số các tình khúc Ngô Thuỵ Miên, đó là nhạc phổ thơ của thi sĩ Nguyên Sa. Nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên cho biết: “Tôi đến với thơ Nguyên Sa, không từ một chọn lựa, mà vì tôi đã nhìn thấy mình trong thơ của ông, đã nghe những rung động thầm kín nhất của tuổi trẻ mình được ông tạo lên bằng những lời thơ ngọt ngào tình tứ, tươi mát. Cũng như bao nhiêu anh em thanh niên sinh viên học sinh của thập niên 60, tôi yêu và thuộc không ít thơ của ông”.

Từ yêu thích và thuộc thơ, nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên bắt đầu phổ nhạc cho thơ Nguyên Sa và cho ra đời những ca khúc bất hủ như là Áo Lụa Hà Đông, Paris Có Gì Lạ Không Em, và Tuổi 13.

Áo Lụa Hà Đông

Hầu hết những người yêu thơ và nhạc đều biết đến nhạc phẩm Áo Lụa Hà Đông của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ thơ Nguyên Sa vào năm 1971. Ca khúc này nhanh chóng được khán giả đón nhận vì giai điệu mượt mà trữ tình, và vì được phổ từ một bài thơ nên ca từ của bài hát rất đẹp.

Thi sĩ Nguyên Sa đã viết bài thơ Áo Lụa Hà Đông khi chợt nhìn thấy trên phố thấp thoáng những tà áo lụa của Hà Đông, là một địa danh cách Hà Nội 10km, có một làng chuyên nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng có từ ngàn năm trước. Thuở nhỏ có thời gian gia đình của Nguyên Sa tản cư đến vùng Hà Đông, rồi sau thời gian dài du học ở Pháp, ông trở về sinh sống ở Sài Gòn, một lần trông thấy bóng dáng những tà áo dài thướt tha trên phố lại nhớ về làng lụa quê xưa:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng


Click để nghe Duy Trác hát Áo Lụa Hà Đông trong băng nhạc Tình Khúc Ngô Thụy Miên năm 1974

Tuổi Mười Ba

Tuổi Mười Ba vốn một thi phẩm của thi sĩ Nguyên Sa được sáng tác vào năm 1971, sau đó nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên phổ nhạc và ra mắt công chúng vào năm 1974 trong băng nhạc Tình Khúc Ngô Thụy Miên như đã nhắc tới ở trên.


Click để nghe Thái Thanh hát Tuổi 13 năm 1974

Nguyên gốc bài thơ Tuổi 13 của thi sĩ Nguyên Sa khá dài, có đến 11 khổ thơ. Tuy nhiên, khi chọn thơ để phổ nhạc, nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên đã tóm gọn lại, chỉ lấy 4 khổ gồm: hai khổ đầu tiên, khổ thứ 8 và khổ cuối cùng:

Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng
Mưa tôi chả về bong bóng vỡ đầy tay
Trời nắng ngạt ngào… tôi ở lại đây
Như một buổi hiên nhà nàng dịu mát

Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám
Tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba
Tôi phải van lơn ngoan nhé! đừng ngờ
Tôi phải van lơn ngoan nhé! đừng ngờ

Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Anh thay mực cho vừa mầu áo tím

Rồi trách móc trời không gần cho tay với
Và cả nàng hư quá sao mà kiêu…
Nên đến trăm lần nhất định mình chưa yêu
Nên đến trăm lần nhất định mình chưa yêu 


Click để nghe Tuấn Ngọc hát Tuổi Mười Ba

Bài: Đông Kha – Niệm Quân (chuyenxua.vn)

Tâm sự của “nữ hoàng sân khấu” Thanh Nga thời thiếu nữ qua những bài báo hơn 60 năm trước

Nữ hoàng sân khấu Thanh Nga là một trong 4 mỹ nhân nổi tiếng nhất trước năm 1975 trong làng sân khấu nghệ thuật Sài Gòn, cùng với Kiều Chinh, Thẩm Thúy Hằng và Kim Cương. Sở hữu nhan sắc “nghiêng nước nghiêng thành” và tài năng hơn người, nhiều người còn đánh giá Thanh Nga nổi bậc nhất trong số “tứ đại mỹ nhân” đã kể trên.

Nếu chỉ nhìn hình ảnh Thanh Nga, ấn tượng đầu tiên mà người ta thấy đó là một người rất đẹp, một nét đẹp dịu hiền đầy nữ tính. Nhưng không chỉ vậy, Thanh Nga không đẹp theo kiểu “bình hoa di động” vô năng như nhiều mỹ nhân khác muốn chen chân vào con đường nghệ thuật, mà Thanh Nga là một nghệ sĩ có thực tài, nếu không muốn nói là một trong những nữ nghệ sĩ tài năng nhất của sân khấu cải lương Việt Nam từ trước đến nay.

Nghệ sĩ Thanh Nga tên thật là Nguyễn Thị Nga, sinh ngày 31/7/1942 tại Tây Ninh, là con gái của bà Bầu Thơ nổi tiếng.

Cha dượng của Thanh Nga là nghệ sĩ Năm Nghĩa, người sáng lập ra gánh hát cải lương Thanh Minh, và người có công lớn nhất trong việc gầy dựng và phát triển gánh hát này trở thành một đoàn cải lương nổi tiếng bậc nhất Sài Gòn chính là bà Bầu Thơ. Đoàn Thanh Minh (sau này là Thanh Minh – Thanh Nga) đã đưa rất nhiều nghệ sĩ cải lương bước lên đài danh vọng từ những năm thập niên 1950 trở về sau, trong đó có Thanh Nga – Con gái cưng của ông bà chủ của đoàn hát.

Thanh Nga và mẹ – bà Bầu Thơ

Nếu nói về cuộc đời và sự nghiệp của nghệ sĩ Thanh Nga, đã có vô số bài báo viết rất đầy đủ về sự nghiệp phi thường của bà. Ở trong bài này, chúng ta cùng tìm hiểu một khía cạnh khác về Thanh Nga mà không nhiều nơi nói tới, đó là những bước đi đầu tiên của Thanh Nga trong làng nghệ thuật, khi vẫn còn là một “mầm non sân khấu”, thông qua những bài báo được ra đời cách đây hơn 60 năm.

Đọc những bài báo này, chúng ta có thể hình dung được một cách chân thực và sống động về làng sân khấu kịch nghệ cách đây 60-70 năm, những tâm sự và trăn trở về nghiệp diễn của cố nghệ sĩ Thanh Nga trong những năm đầu tham gia nghệ thuật.

Thanh Nga – Một mầm non sân khấu cải lương

Tác giả: Giang Tan
Báo Kịch Ảnh năm 1956

Một trang báo năm 1956. Tư liệu của Leminh Saigon

Trong bài viết này có nhắc đến ông Lư Hoài Nghĩa, đó là tên thật của nghệ sĩ Năm Nghĩa, là cha dượng của nghệ sĩ Thanh Nga. Mẹ của Thanh Nga là bà Nguyễn Thị Thơ (Bầu Thơ), là vợ của ông hội đồng ở Tây Ninh và sinh ra 4 người con, trong đó có nghệ sĩ Hữu Thình (cha của nghệ sĩ Hữu Châu) và Thanh Nga.

Năm 1949, bà Thơ đi thêm bước nữa với ông Năm Nghĩa, rồi sau đó 2 người lập ra gánh hát cải lương Thanh Minh (sau này là đoàn hát Thanh Minh – Thanh Nga). Năm 1959, ông Năm Nghĩa đột ngột qua đời ở tuổi 49, để lại đoàn hát 100 người cho bà Bầu Thơ quản lý.

Thanh Nga năm 16 tuổi được bài báo này giới thiệu như sau: Thành thật, ngây thơ, thông minh, dịu hiền… Thanh Nga gây được cảm mến với mọi người ngay phút đầu tiên gặp em; múa giỏi, hát hay, nét mặt ăn ảnh, ăn ánh đèn nên Thanh Nga cũng thu phục được lòng ngưỡng mộ của khán giả lúc em bước chân lên sàn gỗ.

Nghệ sĩ Năm Nghĩa và nghệ sĩ Thanh Nga cùng diễn trong một vở cải lương

Nguyễn Thị Thanh Nga, con gái thứ ba của bầu Nghĩa đã được hầu hết khán giả mộ điệu sân khấu cải lương biết đến tên mỗi khi xem đoàn Thanh Minh trình diễn. Cái tên bầu Nghĩa đã xây dựng cho tên Thanh Nga thì cũng có thể nói tên Thanh Nga cũng đã xây dựng cho tên Lư Hoài Nghĩa.

Vì cả hai cha con đều lên sân khấu.

Vì cả hai cha con đều có một lối diễn xuất đặc biệt.

Thanh Nga mới 16 tuổi. Tuổi học và chơi. Thanh Nga cũng vừa học vừa chơi vì múa hát đối với Thanh Nga cũng như là một “trò chơi” mà cô bé ưa thích nhất. Đây chương trình mỗi ngày của cô bé:

Sáng 8 giờ đến 9 giờ học vũ với Vũ Lợi, người điều khiển ban vũ của Thanh Minh. Ngày ngày Thanh nga gặp các bạn trong ban. Nào Hoa, A, Búp, Thuận và Hoàng, người chị dâu của em trong những vũ khúc Mai Quế, Cô Gái Xuân, Khúc Ca Ngày Mùa… Học buổi sáng để tối đêm “hành” trên sân khấu. Có khi Thanh Nga vũ chung với chị em trong ban, có lúc vũ cặp với Vũ Lợi hoặc Vũ Thìn, anh ruột của em, hoặc có lúc vũ một mình như trong vũ trống, lối vũ của Trung Hoa do một Huê kiều dạy em. Bàn tay dẻo, bước chân đều, giọng trong và cao, và nhất là khuôn mặt rất ăn ánh đèn nên trong mọi vũ khúc, Thanh Nga đã trở thành một bông hoa duyên dáng làm cho mọi cặp mắt đều hướng về em.

Học vũ cũng để phục vụ cho đoàn.

Học ca vọng cổ cũng để phục vụ cho đoàn.

Buổi chiều từ 3 giờ đến 4 giờ học Anh ngữ, nhưng từ 5 giờ đến 6 giờ, Thanh Nga lại học ca vọng cổ với Út Trọng, tay đờn kìm điêu luyện của Thanh Minh. Hát cho đúng nhịp, cho giọng ăn với tiếng đàn là việc khó, Thanh Nga đang cố gắng làm tròn công việc ấy và Thanh Nga đã theo đuổi 9 năm nay, nghĩa là em đã lên sân khấu từ lúc 7 tuổi với vai Nghi Xuân trong “Phạm Công – Cúc Hoa”, vai Lệ Sương trong “Đàn Ó Biển” với 3 câu vọng cổ rất mùi mà Thanh Nga vẫn còn nhớ mãi. Hỏi em, em đọc lại không sót một tiếng như cô nữ sinh trả bài học thuộc lòng. Bảo em ca, nét mặt em trở nên buồn đột ngột, rồi em lên giọng, đúng giọng buồn của nhân vật trong truyện:

“Mẹ ôi! Con xin thưa mẹ nên dẹp bỏ những nỗi buồn đau để cho con trong tuổi ngây thơ mà phải vương lấy những nỗi đau buồn. mẹ ráng nuôi con cho đến tuổi trưởng thành, chớ mẹ nghĩ con mới 7 tuổi đầu…”

7 tuổi đã lên sân khấu và để thủ vai nhân vật đúng tuổi mình và để ca 3 câu vọng cổ dài dằng dặc, điều ấy cũng chứng tỏ được óc thông minh của Thanh Nga, và việc làm ấy cũng nói lên được lòng yêu tha thiết sân khấu cải lương của em. Cũng từ ngày ấy cho đến nay, không đêm nào trên sàn gỗ Thanh Minh lại thấy vắng bóng cô con gái cưng của ông bà Lư Hoài Nghĩa. Nào Lệ Hồng trong Con Vật Giữa Chợ Người, nào Công Chúa trong Con Yêu Trong Nhà Cổ, Thiên Thần Trên Thiết Mã với vai bé Khôi (cải dạng con trai), Sóng Gió Đồ Bàn với vai Công ChúaLệ Nga, bạn nữ thần trong Yêu Nữ Thần… Trong Đứa Con Hai Giòng Máu thì Thanh Nga thủ vai chính.

Thanh Nga năm 16 tuổi, được nhận giải Thanh Tâm triển vọng

Ham vũ cũng như thích ca cải lương nên thì giờ học vũ cũng bằng thì giờ học ca và mỗi tối Thanh Nga đều có vũ và có ca… đem những gì đã thu lượm được ban ngày hiến trọn vẹn cho khán giả lúc ánh sân khấu bật sáng.

Thành thật, ngây thơ, thông minh, dịu hiền… Thanh Nga gây được cảm mến với mọi người ngay phút đầu tiên gặp em; múa giỏi, hát hay, nét mặt ăn ảnh, ăn ánh đèn nên Thanh Nga cũng thu phục được lòng ngưỡng mộ của khán giả lúc em bước chân lên sàn gỗ.

Em thích xi nê, ham những phim mạo hiểm khoa học, ca vũ nhạc, yêu tiếng đàn, mê tiếng trống, ghét những tuồng cao bồi phi ngựa rần rộ… Thanh Nga chẳng mến màu hồng, màu tím, chẳng chuộng màu đỏ, màu xanh, mà chỉ thích một mình màu trắng. Em có thú vui của người nhiều tuổi là mê chơi hoa nhưng chỉ mến hoa huệ hoa lài mà thôi. Hoa huệ, hoa lài thơm mà cũng một màu hoa trắng.

Hỏi em khi nào vui, thành thật em trả lời là khi ca đúng nhịp và được nghe tiếng vỗ tay của khán giả.

Sau những giờ ấy thì cô bé cười nói huyên thuyên với bạn bè, hết chọc cô này, lại tìm đến đùa dai với cô bạn nọ. Nhưng sau hậu trường mà bắt gặp cái nét mặt ấy tiu nghỉu như mèo bị cắt đuôi thì người ta cũng dễ biết cái buồn của Thanh Nga vừa rồi trên sàn gỗ, Thanh Nga đã không làm tròn nhiệm vụ của mình. Thanh Nga buồn hơn cả lúc bị má em rầy oan, đổ tội cho em đã làm rách cuốn sách hay đã chọc ghẹo đàn em khóc.

Phụng sự nghệ thuật, em không bị dắt dẫn vượt mức “nghệ sĩ tính” của những thiếu nữ bị buông lỏng. Trong gia đình em giữ trọn bổn phận người con gái ngoan, dễ dạy, lại được sự dìu dắt sáng suốt của song thân, những người có ít nhiều kinh nghiệm với sân khấu, với cuộc sống, và trường đời, nên Thanh Nga có nhiều hy vọng đạt được kết quả tốt đẹp về sau: ngoài xã hội, người đàn bà hiền lương, trong phạm vi sân khấu, nghệ sĩ sẽ có cái vốn dồi dào để phụng sự cho nghệ thuật.

Màn bạc cũng còn chờ Thanh Nga, ước vọng trở thành cô đào điện ảnh cũng còn là ước vọng của cô gái 16 tuổi ấy, nhưng hiện nay em chưa được một hãng phim nào chú ý đến vì miếng đất cải lương và màn bạc tuy gần đó nhưng cũng còn cách nhau nhiều đường đi nước bước.

Đôi chân mềm yếu ấy đã đặt lên nhiều miền đất nước thân yêu nhưng Thanh Nga chỉ tha thiết Bến Tre với bờ hồ có bóng liễu rũ, Dalat có ngàn thông reo và hồ Than Thở thơ mộng…

Uyển chuyển, nhịp nhàng, dịu hiền, mơ mộng… những đặc tính của những tâm hồn đồng tuổi nhưng ở Thanh Nga chúng ta thấy rõ rệt hơn ở việc em đang làm và đang theo đuổi…

Nhưng ái ngại làm sao khi chúng ta nhìn đến sức khỏe của thiếu nữ 16 tuổi ấy với chương trình nặng nề hàng ngày phải lo tròn: phần lớn thì giờ phải phục vụ cho sân khấu, đêm nào cũng phải có mặt dưới ánh đèn… Con chim hót hay, nhảy giỏi nhưng cứ bị nhốt mãi trong lồng không được bay nhảy rong chơi ngoài trời, liệu rồi đây, một ngày gần thôi, đôi chân chim có được nhẹ nhàng thoăn thoắt nữa không, giọng hát chim có được trong trẻo và cao nữa không. Cũng vì vậy, ông bà bầu Nghĩa cũng nên lãng quên mọi quyền lợi khác nghĩ đến sức khỏe của con như vậy cũng là đang lo xây dựng tương lại cho con gái mình vậy.

Sau đây là bài báo thứ 2, viết năm 1962, ngay sau khi Thanh Nga hoàn thành xong vai diễn điện ảnh đầu tiên trong sự nghiệp là Đôi Mắt Người Xưa. Lúc này “nữ hoàng sân khấu” đã vào nghề được 7,8 năm, trở thành ngôi sao sáng nhất của sân khấu cải lương:

Tư liệu của Thùy Trang

Mười phút nói chuyện với Thanh Nga
Tác giả: Sĩ Trung, Lê Hoài Hà

Suốt 8 năm trời ròng rã, người ta đã nói nhiều viết nhiều về Thanh Nga rồi. Kẻ gọi Thanh Nga là “bà hoàng sân khấu”, người gọi Thanh Nga là “người đép sầu mộng của cải lương miền Nam”, nhưng cũng có người nhìn theo bước chân Thanh Nga mà thầm gọi tên nàng cùng mỹ danh của nàng với bao nhiêu mơ ước rào rạt, sôi bỏng trong lòng.

Tên tuổi nàng lóe sáng lên từ Giải Thanh Tâm 58 rồi như một vừng thái dương càng lên cao, càng chói lọi huy hoàng. Mỹ danh Thanh Nga không chịu cúi đầu trước thời gian, mỗi đêm qua, tài nghệ thêm sắc xảo, già dặn, mỗi tháng qua sắc đẹp thêm mặn mòi quyến rũ và mỗi năm qua tên tuổi càng trở nên vững vàng không đối thủ.

Tôi đã gặp nàng, quen với nàng ngay trong đêm đẹp nhứt đời nàng: đêm liên hoan phát Giải Thanh Tâm lần đầu tiên. Đêm ấy chỉ một mình nàng, một mình nàng thôi, đứng giữa khung cảnh vàng son của thời kỳ cực thịnh của nền ca kịch miền Nam. Không ai có thể ngờ cô bé Juliette thơ ngây, xinh xắn như con búp bê ngày nào, đêm nào đó còn làm con chim xanh nhỏ bé bay lượn trong vườn thượng uyển của nhà vua hoặc làm cô đào con duyên dáng, dễ yêu, lại chiếm được một giải thưởng đầu tiên dành riêng cho sân khấu của cải lương miền Nam.

Nhưng tất cả mọi người – từ thương đến ghét, đều phải công nhận rằng thuở ấy, không còn ai xứng đáng hơn Thanh Nga nữa. Đêm hôm ấy, tôi đã chứng kiến một sắc vóc lý tưởng tung hoành ngang dọc trên sân khấu dạ hội rồi mãi mãi trong suốt 7,8 năm dài đăng đẳng tôi vẫn còn thấy người nữ nghệ sĩ khả ái ấy đem sắc đẹp, dùng tài nghệ già dặn quyến rũ, mê hoặc người mộ điệu.

Thanh Nga có được phép mầu nhiệm gì mà trẻ lâu, đẹp lâu như thế đó? Thanh Nga học hỏi ở sách vở nào mà phát triển tài nghệ ngày thêm lão luyện như thế đó? Có ai hỏi thử nàng chưa? Tôi tin rằng chưa ai nghĩ tới điều đó để hỏi thử nàng!

Đoàn Thanh Minh – Thanh Nga đã 16 tuổi. Một nửa cuộc đời nó đã sống khiêm nhượng với sự hiện diện của mồ ma Năm Nghĩa. Còn lại một nửa cuộc đời đó đã và đang nứt danh trong làng hia mão xứ nầy với sự có mặt của Thanh Nga. Suốt tỏng 8 năm trời, bảng hiệu Thanh Minh – Thanh Nga đứng vững trước bao nhiêu thăng trầm của thời cuộc, của kịch nghệ, một phần lớn đã dựa vào tên tuổi Thanh Nga.

Hôm nay, tôi gặp Thanh Nga không phải do một sự tình cờ mà do nơi một chủ định đã có sẵn từ nhiều tuần lễ trước. Bây giờ tuy có gầy ốm hơn xưa nhưng Thanh Nga vẫn còn nét trẻ đẹp, quyến rũ như thuở nào. Câu hỏi đầu tiên của tôi nhắm thẳng vào sự thay đổi đó:

– Sức khỏe Thanh Nga thế nào mà trông Thanh Nga gầy hơn trước nhiều vậy?

Nàng đáp bằng một giọng buồn hiu:

– Nga mất ngủ mấy lúc gần đây. Có lẽ vì vậy mà Nga gầy đi.

– Xin Thanh Nga cho biết lý do làm Thanh Nga mất ngủ.

Với nụ cười gượng nở trên môi, nàng cho biết:

– Nga chưa hẳn là tin là vì Nga đã ở tuổi trưởng thành nên Nga bắt đầu thấy lo nghĩ đến tương lai sự nghiệp, nhưng mỗi khi ngã lưng nằm xuống là tâm trí Nga bám chặt vào công việc làm ăn của má, của gia đình và sự tiến lùi của gánh nhà. Hễ nghĩ đến đó Nga lại trằn trọc khó dỗ giấc ngủ quá!

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– Nếu tôi không lầm thì dạo nầy gánh nhà phát đạt lắm kia. Đáng lẽ Nga phải vui và than thản tâm hồn lắm chớ?

Với ánh mắt buồn muôn thuở mỗi khi cần suy nghĩ đáp câu hỏi của ai, nàng trầm giọng tâm sự:

– Gánh nhà càng phát đạt, Nga càng lo nghĩ nhiều hơn. Cũng như má, Nga phải dè dặt ở tương lai, nghĩa là phải làm sao giữ vững thành quả đã và đang cầm nắm trong tay. Để có một bước giật lùi, gánh nhà sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Trước kia Nga còn thơ dại thì không nói gì, chớ còn bây giờ đã lớn khôn, Nga phải chia sẻ bổn phận và trách nghiệm với mẹ già. Để một mình má Nga lo từ trong ra ngoài, Nga thấy thiếu trách nhiệm nhiều lắm!

Nàng soi mặt vào gương tủ, nói tiếp:

– Một phần vì lẽ ấy, một phần vì cố sức hát Tết, mỗi ngày đôi ba xuất, Nga không lấy làm lạ về sự sút kém da thịt.

Người giúp việc bưng ly trà đá đặt xuống trước mặt tôi, trong khi đó chị ta trao ly nhân sâm qua tay nàng. Nàng cười bảo:

– Nga tẩm bổ mỗi ngày. Chắc không lâu lắm, Nga sẽ… mập trở lại.

Tôi khôi hài:

– Có mập thì mập vừa thôi, đừng cho mập lắm đó. Đào hát mà mập quá coi không được đâu!

Nàng cất tiếng cười ngất, đưa ly nhân sâm lên môi uống một ngụm nhỏ. Tôi thấy con sâm hôn nhẹ lên đôi môi mọng đỏ của nàng.

Đợi nàng đặt ly sâm xuống bàn, tôi hỏi tiếp:

– Trong năm nay, Thanh Nga có chương trình hoạt động gì không? Đối với gánh nhà, Thanh Nga có kế hoạch như thế nào?

Trầm ngâm suy nghĩ một chặp, nàng đáp:

– Hiện giờ thì Nga chưa có chương trình, kế hoạch gì rõ rệt hết. Chỉ mới là… ý nghĩ mơ hồ vậy thôi. Nga dự định sẽ làm cho ban thoại kịch Thanh Nga hoạt động tích cực với một chương trình hoàn toàn đổi mới, vừa thu hút mạnh khán giả vừa thành công trên phương diện nghệ thuật. ở năm rồi vì Nga bận hát cho gánh nhà quá nên ban thoại kịch của Nga hoạt động hơi yếu. Còn về hoạt động của gánh nhà thì Nga đồng ý với má là sẽ phát triển cải tiến toàn diện từ mặt hình thức đến nội dung tuồng tích. Sẽ chựa lựa tuồng hay, tuồng có giá trị, cổ xúy anh chị em nghệ sĩ thi đua ca diễn và tìm một hướng đi mới lạ về hình thức dàn cảnh.

– Trong năm nay, Thanh Nga có thu dĩa hay đóng phim gì không?

– Hiện nay đã có các hãng phim, hãng dĩa đến thương lượng ký hợp đồng với tiền thù lao trọng hậu nhưng Nga chưa trả lời dứt khoát với đâu hết. Nga còn chờ xem má Nga có quyết định thực hiện những điều nằm trong chương trình kế hoạch kia không. Nếu có thì Nga phải dành mọi ưu tiên cho chuyện nhà. Còn bằng không thì Nga sẽ nhận lời mời của các hãng phim và các hãng dĩa.

Tôi thăm dò:

– Thanh Nga không nghĩ đến một thời gian tạm ngưng hoạt động để nghỉ xả hơi sau 7,8 năm trời khổ nhọc hay sao?

Nàng nhìn tôi, mỉm cười đáp:

– Có phải anh định hỏi đố tôi đó không? Nghe anh nói tới việc nghỉ xả hơi Nga buồn cười quá. Như anh đã biết Nga còn bầy em phải nuôi nữa. Chúng nó đứa nào cũng còn nhỏ dại cả. Chi phí của gia đình Nga nặng nề ghê lắm. Để má Nga lo một mình, Nga không đành lòng đâu. Tên tuổi Nga đã gắn liền với sự sống còn của gánh nhà rồi nên Nga không thể nào vắng mặt đêm đêm trên sân khấu được. Nghỉ xả hơi làm gì hở anh khi mà gánh nặng gia đình đang làm oằn vai má Nga. Dù có mỏi sức ngã quỵ trên sân khấu Nga cũng thấy vui sướng, mãn nguyện.

Tôi không giấu được sự xúc động khi nghe những lời tâm huyết của Thanh Nga. Tôi tin nàng nói sự thật; tôi quả quyết rằng nàng là đứa con có hiếu, nặng tình thương mẹ, nặng tình yêu đối với gia đình, đối với anh em ruột thịt. Không ai có thể phủ nhận được vai trò quan trọng của nàng đối với gia đình bà Nguyễn Thị Thơ.

Tôi hỏi nàng về một vài sở thích ở lĩnh vực khác:

– Cuốn phim Đôi Mắt Người Xưa đã chiếu, Thanh Nga có cảm nghĩ gì về vai trò của mình?

Nàng tươi cười, đáp:

– Lúc chưa đi xem, Nga lo sợ lắm, không biết trong cuốn phim này, vai trò của mình có bị “méo mó” như trong cuốn phim trước đây không. Nhưng khi đã xem qua rồi, Nga thấy bớt lo hơn. Sự thật thì Nga vẫn chưa biết mình đã thành công hay thất bại, nhưng khi đọc báo thì nghe các chú các anh ký giả khen vai Lệ của mình, Nga tin là Nga đã đóng tròn vai trò ấy. Phim Đôi Mắt Người Xưa gây cho Nga niềm tin vào lĩnh vực nghệ thuật điện ảnh của Nga.

– Thanh Nga sẽ tiếp tục đóng phim nữa chớ?

– Dĩ nhiên! Nhưng còn tùy ở lĩnh vực hoạt động ca kịch của Nga nữa. Như Nga đã nói hồi nãy, nếu rỗi rảnh thì Nga sẽ tiếp tục đóng phim với điều kiện hợp tác tương xứng.

Tôi hỏi một câu sau cùng:

– Sở thích thường ngày của Thanh Nga là gì? Đọc sách báo, thể thao, điện ảnh hay âm nhạc?

Bằng một giọng tự nhiên, nàng đáp gọn:

– Nga có nhiều sở thích lắm; sách báo – nhứt là tiểu thuyết tình cảm – xi nê, thể thao và tân nhạc, Nga đều thích nhưng vì công việc hát xướng bề bộn quá, Nga phải hạn chế bớt, đôi khi phải lánh xa lâu ngày. Làm thân nghệ sĩ, ai cũng tưởng sung sướng lắm nhưng riêng Nga, Nga cảm thấy mình bận rộn và mệt nhọc ghê lắm. Không biết các bạn đồng nghiệp khác nghĩ như thế nào.

Tôi nghĩ lời Thanh Nga nói là sự thật và chân thành nhứt đối với nếp sống về đêm. Nàng tiễn tôi ra về với nụ cười đầy tin tưởng.

chuyenxua.vn biên soạn

Xem lại phim “Như Hạt Mưa Sa” năm 1971 với diễn xuất của Thẩm Thúy Hằng, Trần Quang

Phim nhựa Như Hạt Mưa Sa của đạo diễn Bùi Sơn Duân thực hiện từ năm 1969, ra mắt khán giả Sài Gòn năm 1971, với sự góp mặt của những nghệ sĩ tài danh được yêu thích bậc nhất thời bấy giờ là Thẩm Thúy Hằng, Trần Quang, Bạch Tuyết, tài tử gạo cội Doàn Châu Mậu và các nghẹ sĩ hề hước lừng danh là Tùng Lâm, Thanh Việt, Thanh Hoài… Thời điểm này cũng được xem là thời đỉnh cao nhan sắc của minh tinh Thẩm Thúy Hằng.

Thẩm Thúy Hằng và Trần Quang trong phim Như Hạt Mưa Sa

Trong phim Như Hạt Mưa Sa, minh tinh Thẩm Thúy Hằng đảm nhận cùng lúc hai vai diễn, đóng vai hai chị em sinh đôi với hai tính cách hoàn toàn trái ngược, cô chị (Ngọc Yến) thì dịu dàng và nữ tính , còn cô em (Thùy Hương) thì trẻ trung, hiện đại.


Click để xem phim Như Hạt Mưa Sa hơn 50 năm trước (1971). Các diễn viên: Thẩm Thúy Hằng, Trần Quang, Bạch Tuyết, Đoàn Châu Mậu, Tùng Lâm…

Cuốn phim này do đạo do đạo diễn Bùi Sơn Duân đạo diễn, bỏ vốn để làm. Đó là thời điểm hàng loạt hãng phim được thành lập ở Sài Gòn vì chính sách khuyến khích phát triển điện ảnh của chính phủ, trong đó Bùi Sơn Duân đã thành lập hãng phim Việt Ảnh, và phim đầu tiên của hãng này chính là Như Hạt Mưa Sa.

Theo nhà báo Lê Quang Thanh Tâm, để thực hiện bộ phim này, gia đình của đạo diễn Bùi Sơn Duân đã kêu gọi bạn bè hùn vốn, cầm cố nhà cửa, đất đai cho ngân hàng để lấy tiền làm phim.Riêng nữ nghệ sỹ Thẩm Thúy Hằng lúc đó giá thù lao rất cao – hơn 1 triệu đồng/phim, đã quyết định ủng hộ đoàn phim bằng cách “đóng trước – trả sau”, có nghĩa là nếu phim đạt doanh thu cao thì Thẩm Thúy Hằng mới lấy thù lao là 1 triệu đồng. Phim rất được khán giả ủng hộ và giúp cho nhà sản xuất có thêm nhiều tiền hơn để hãng Việt Ảnh làm thêm các phim khác, trong đó có phim này Như Giọt Sương Khuya năm 1972 (chuyển thể từ tác phẩm Đừng Gọi Anh Bằng Chú của nhà văn Nguyễn Đình Thiều)

Theo tác giả Lê Hồng Lâm, vào năm 1969, Trần Quang được Lê Hoàng Hoa mời đóng vai tay du đãng James Dean Hùng (Hùng đầu bò) trong cuốn phim về đề tài giang hồ Điệu Ru Nước Mắt. Cùng lúc đó, đạo diễn Bùi Sơn Duân mời Trần Quang đóng Như Hạt Mưa Sa cùng với hai nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng và Bạch Tuyết. Do thời gian rất cận nhau nên ban ngày Trần Quang đóng vai họa sĩ Thuyên trong phim Như Hạt Mưa Sa, ban đêm đóng vai James Dean Hùng trong Điệu Ru Nước Mắt.

Như Hạt Mưa Sa là cuốn phim tâm lý lãng mạn được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Ngọc Linh. Lúc đầu, Ngọc Linh muốn La Thoại Tân đóng vai họa sĩ Thuyên vì hợp với nhân dáng nhưng Bùi Sơn Duân một mực thuyết phục Ngọc Linh để Trần Quang đóng vì cho rằng nam tài tử mới này có tố chất của một diễn viên điện ảnh. Khi phim ra mắt và gây được tiếng vang, chính Ngọc Linh khen ngợi Bùi Sơn Duân có con mắt tinh đời. Đó là lý do đạo diễn Bùi Sơn Duân quyết định mời Trần Quang đóng tiếp phim Như Giọt Sương Khuya với Bạch Tuyết.

Về nội dung phim Như Hạt Mưa Sa, nhân vật nữ chính tên Yến (Thẩm Thúy Hằng đóng) có mối quan hệ phức tạp với một tay trùm buôn lậu tên Hạnh (Đoàn Châu Mậu đóng), cô cùng với người yêu tên Tín (thuộc hạ của Hạnh) đều từng ở trong nhóm tội phạm của Hạnh. Vì muốn chiếm đoạn Yến, ông Hạnh tìm cách thủ tiêu Tín. Vô tình biết được điều đó, Yến trốn thoát.

Thẩm Thúy Hằng (vai Yến) và Đoàn Châu Mâu (vai Hạnh)

Trên đường bị lùng bắt, Yến tình cờ lạc vào xóm nhà của Thuyên (Trần Quang đóng) trong một đêm tối trời mưa tầm tã, và được chàng họa sĩ này thương tình cho tá túc một đêm để trú mưa. Ban đầu Yến còn ngại ngùng, nhưng sau đó quyết định vô nhà vì người đã ướt hết, cùng với việc sợ bị người của ông Hạnh tìm ra.

Ngay sáng sớm hôm sau Yến rời khỏi nhà, nhưng việc ở qua đêm này không qua khỏi sự tinh mắt của Dã Lan (Bạch Tuyết đóng), là người yêu của Thuyên. Dã Lan là cô đào sân khấu nổi tiếng, giàu có, được phong danh hiệu là “cải lương chi bảo” (giống Bạch Tuyết ngoài đời).

Trần Quang và Bạch Tuyết trong phim

Có một sự trùng hợp: Dã Lan lại là bạn thân của Hương (cũng do Thẩm Thúy Hằng đóng), là em gái sinh đôi của Yến. Vì vậy sau khi gặp Yến, rồi lại gặp Hương, Thuyên đã nhầm lẫn giữa hai người.

Thẩm Thúy Hằng vai Thùy Hương

Chuyện phim quay quanh mối quan hệ xung quanh giữa 3 cô gái trẻ Yến, Hương, Dã Lan, với chàng hòa sĩ nghèo tên Thuyên, trong đó Dã Lan rất hay ghen, nhiều lần chất vấn người yêu khi biết rằng sau đó Yến còn nhiều lần đến nhà Thuyên để tá túc (vì Yến không còn nơi để về). Quá mệt mỏi với những cơn ghen của Lan, Thuyên bắt đầu cảm thấy mối quan hệ này bắt đầu không thể hòa hợp được, cùng lúc với việc anh bắt đầu có cảm tình với Yến.

Trần Quang (vai Thuyên) và Bạch Tuyết (vai Dã Lan)

Trong một lần truy tìm theo dấu vết của Yến, ông Hạnh đến được nhà của Thuyên, tức giận với người đã chứa chấp Yến, Hạnh quyết định xuống tay với Thuyên, nhưng kịp dừng lại khi phát hiện ra Thuyên chính là người con trai đã thất lạc hơn 15 năm qua vì nhận ra cái bớt đen đặc biệt ở dưới cổ.

Sau khi bắt được Yến, ông Hạnh lại thả ra và đề nghị cô đi thăm dò thông tin của Thuyên để xác nhận chắc chắn đó là con trai của ông. Khi thấy Yến trở lại tìm, Thuyên đã bày tỏ tình cảm của mình và được nàng chấp nhận.

Sau đó, vì Dã Lan báo cảnh sảt về việc ông Hạnh, nên cô đào sân khấu này đã bị chúng bắt cóc. Lần theo dấu vết, cảnh sát đến tận hang ổ của Hạnh, lúc đó bọn tay chân bỏ chạy hết, chỉ còn lại một thủ hạ tân tín lái xe chở Hạnh chạy trốn, trong đó Dã Lan cũng bị bắt theo. Trong trốn chạy cảnh sát, tài xế bị bắn trúng, xe bị tông vào bên đường, ông Hạnh không qua khỏi, còn Dã Lan bị thương nặng.

Khi Thuyên được chị em Yến, Hương cho biết ông Hạnh chính là cha mình, anh liền đến nhà thương để gặp và vuốt mắt lần cuối cho ông. Cùng lúc đó, Dã Lan qua cơn nguy kịch và trong cơn mê sảng gọi tên Thuyên, nên anh vào chăm sóc Lan.

Cuối phim, Yến quyết định rời bỏ Thuyên và ra đi, vì nghĩ rằng nếu không có Thuyên thì Dã Lan sẽ không sống được. Cô cảm thấy có lỗi vì cho rằng Dã Lan bị trọng thương vì sự xuất hiện của cô. Ngoài ra, Yến cũng nghĩ rằng nếu còn nhìn thấy mình, Thuyên sẽ không khỏi đau buồn vì chuyện của người cha. Tuy nhiên sau đó, Thuyên lúc nào cũng trầm tư vì không thể quên được Yến dù tái hợp với Dã Lan. Anh đã vẽ một bức chân dung Yến và đưa cho Hương để nhờ chuyển. Kết thúc phim là hình ảnh Dã Lan thấy đau khổ khi biết rằng Thuyên chỉ thật sự yêu Yến mà thôi.

Những bài nhạc phim trong Như Hạt Mưa Sa do nhạc sĩ Y Vân sáng tác, đó là Như Hạt Mưa Sa và Ngày Mưa.


Click để nghe Hoàng Oanh hát Như Hạt Mưa Sa

Đạo diễn phim là Bùi Sơn Duân sinh năm 1932 tại Phú Yên, trước 1975 ông ộng tác với Trung tâm Quốc Gia điện ảnh (trực thuộc bộ Thông Tin) thực hiện phim tài liệu sau đạo diễn phim truyện, và 1969 ông ra lập hãng phim riêng lấy Việt Ảnh đặt văn phòng góc Pasteur – Hiền Vương, Quận Ba. Sau 1975, Bùi Sơn Duân lấy tên mới là Lam Sơn, vẫn ở trong nước và thực hiện các phim iữa Hai Làn Nước, Bản Nhạc Người Tù, Đám Cưới Chạy Tang, Đường Dây Côn Đảo, Tiếng Đàn, Chiếc Vòng Bạc, Ông Hai Cũ, Con Gái Ông Thứ Trưởng, Biển Bờ, Chiều Sâu Tội Ác, Ba Biên Giới.

Năm 1977, ông và nhà quay phim Nguyễn Đông Hồng cùng với đoàn làm phim của Xưởng phim Tổng hợp Thành phố thực hiện phim Giữa Hai Làn Nước chỉ trong vòng vài tháng, phim được đánh giá cao.

Năm 1990, đạo diễn Bùi Sơn Duân xuất cảnh đi Mỹ. Năm 1993, ông nhận lời đạo diễn phim Gia Đình Cô Tư, một bộ phim hài với nghệ sĩ sân khấu điện ảnh Túy Hồng, và đây cũng là cuốn phim cuối cùng của ông.

Tại hải ngoại, Bùi Sơn Duân thành lập Hội Ðiện ảnh Việt Nam hải ngoại, tổ chức hằng năm các Ngày Điện Ảnh Việt Nam, ông từng tổ chức cuộc thi viết truyện phim với hy vọng khôi phục nền điện ảnh Việt Nam tại hải ngoại, nhưng chưa làm được gì đáng kể thì ông đã vĩnh viễn ra đi vào năm 2001 tại Pomona.

Cuốn phim Như Hạt Mưa Sa được đạo diễn Bùi Sơn Duân lưu trữ và mang theo đến xứ người, sai đó vẫn được gia đình lưu giữ và từng được trung tâm băng nhạc Phương Dung tại Úc châu phát hành băng video.

chuyenxua.vn biên soạn
Nguồn: Tư liệu của Thúy Trang, Lê Quang Thanh Tâm, Nguyễn Việt, Lê Hồng Lâm,

Chuyện tình của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và nữ danh ca Tân Nhân – Mối tình đầu bị vĩ tuyến cách ngăn

Trước khi trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng ở miền Nam, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ từng trải qua một thời tuổi trẻ nhiều biến động. Ông tham gia trong đội tuyên truyền của Việt Minh từ khi còn rất trẻ và trải qua một mối tình sâu sắc nhưng cũng không kém phần bi thương với cô gái 16 tuổi tên là Trương Tân Nhân – người sau này trở thành ca sĩ huyền thoại của dòng nhạc đỏ ở miền Bắc.

Năm 1945, khi đang theo học ở trường Khải Định (nay là trường Quốc Học Huế), nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ bỏ học để tham gia đoàn văn nghệ Quảng Trị do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba làm trưởng đoàn. Năm 1946, ông tham gia Việt Minh, công tác ở đoàn tuyên truyền, sau đó làm phóng viên và biên tập viên báo Cứu Quốc ở liên khu 4. Đến năm 1948 ông quay lại nhà trường để hoàn tất chương trình học phổ thông tại trường Huỳnh Thúc Kháng ở Hà Tĩnh. Tại đây ông gặp và yêu một nữ sinh tên là Tân Nhân – cũng là một ca sĩ đang tham gia đoàn văn công mặt trận Bình Trị Thiên.

Tân Nhân cùng được sinh ra ở Quảng Trị và cùng đến Huế học trung học giống Hoàng Thi Thơ, sau đó cùng bỏ học để ra vùng kháng chiến, và lại cùng học trường Huỳnh Thúc Kháng ở Khu 4 giống như Hoàng Thi Thơ. Có thể thấy hành trình những năm đầu đời của 2 người khá giống nhau. Lúc còn ở Huế, nếu như Hoàng Thi Thơ học trường Khải Định nổi tiếng dành cho nam sinh thì Tân Nhân học trường nữ sinh Đồng Khánh.

Năm 1949, trận càn Phong Lai của Pháp vào liên khu đã làm dấy lên tin đồn rằng tất cả thành viên đoàn văn công đều đã thành tử sĩ, dấy lên lòng thương tiếc về những con người trẻ tuổi đã dấn thân nơi rừng sâu và hy sinh anh dũng.

Tin đồn nhanh chóng được cải chính nhưng vẫn lan truyền về đất Thanh Nghệ Tĩnh. Trường Huỳnh Thúc Kháng đã làm lễ tưởng niệm cô học trò Tân Nhân. Hoàng Thi Thơ – lúc đó đang công tác ở Nghệ An – nghe được tin như tan nát cả cõi lòng. Ông đã thể hiện nỗi nhớ thương Tân Nhân bằng bài hát Xuân Chết Trong Lòng Tôi:

Xuân ơi Xuân
Chim xa đàn
Xuân ơi Xuân
Ngờ đâu Xuân chết trong lòng tôi

Trong tiếng đàn…
Ôi chim xa cành
Bướm lìa hoa
Trùng phùng xa lắm…

Rồi một ngày, Tân Nhân trở về lại và nghe được bài hát này, bà đã rất xúc động.

Bài hát thể hiện lòng thương nhớ dành cho người (ngỡ) đã ra đi làm động lòng cô nữ sinh. Tân Nhân lại lên đường ra Nghệ An và gặp lại Hoàng Thi Thơ lúc đó cũng đang tìm bà, khởi đầu một mối tình lãng mạn và trắc trở.

Năm 1951, Hoàng Thi Thơ về Huế thăm gia đình người anh ruột, với mục đích là muốn xin gia đình người anh một số tiền để trở lại Khu 4 để sau đó đưa người yêu ra Hà Nội để theo học trường Văn Khoa ở đây.

Nhưng khi trở về thì cả gia đình giữ Hoàng Thi Thơ lại và khuyên là không nên trở ra Liên Khu 4, mặc dù ông rất nôn nóng muốn trở ra với người yêu. Cuối cùng ông cũng xiêu lòng trước những lời khuyên nhủ của những người thân nên quyết định vào Sài Gòn để được an toàn, còn người yêu của ông vẫn ở lại Khu 4. Dứt áo ra đi dù lòng vẫn còn vương vấn, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ không hề biết rằng lúc đó người yêu đã mang trong bụng giọt máu của mình…

Ca sĩ Tân Nhân

Tại Sài Gòn, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ trở thành một trong những nhạc sĩ nổi tiếng, còn Tân Nhân thì ở bên kia vĩ tuyến sau khi đất nước chia đôi năm 1954, rồi trở thành một ca sĩ huyền thoại của dòng nhạc đỏ, nối tiếng với bài hát Xa Khơi (Nguyễn Tài Tuệ), viết về chuyện tình của kẻ Nam người Bắc.


Click để nghe Tân Nhân hát Xa Khơi

Năm 1955, khi soạn cuốn hướng dẫn sáng tác tân nhạc đầu tiên của Việt Nam mang tên Để Sáng Tác Một Bài Nhạc Phổ Thông, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ thể hiện niềm thương nhớ đến người xưa bằng việc ghi lời đề tặng ở cuốn sách nổi tiếng này như sau: “Thân yêu gửi Tân Nhân”. Dòng chữ được đặt ngay bên dưới lời kính dâng đến Phụ – Mẫu – Anh, đã thể hiện tấm lòng của người nhạc sĩ.

Rồi ai cũng phải có cuộc sống gia đình riêng, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cưới vợ là nữ ca sĩ Thúy Nga năm 1957, nhưng không vì vậy mà ông thôi day dứt về mối tình đã bỏ lại bên kia vĩ tuyến. Một trong những ca khúc đầu tiên trong sự nghiệp của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là Ai Nhớ Chăng Ai – sáng tác vào khoảng giữa thập niên 1950, để nhắc về những kỷ niệm mà ông đã có cùng mối tình đầu trong ᴄhιến khu, nơi hai người đã từng một thời gian dài bên nhau:

Ai nhớ chăng ai
Ai nhớ chăng những chiều có người em gái qua bên thềm
Tiếng hò xao xuyến trăng đầu ghềnh
Nhạc rừng nghe buồn mông mênh
Và ngàn tia lửa ấm chơi vơi dưới trăng êm đềm

Ai nhớ chăng ai
Ai nhớ chăng những ngày, những ngày rau cháo với dưa cà
Quê nghèo vui sống trong mặn mà
Đời vàng lên ngàn câu ca, mà tình thấy càng bao la
Ngàn lòng như chan hòa…

Ai nhớ chăng ai
Ai nhớ chăng những chiều, những chiều gặp gỡ nhau trên cầu
Nước trời xanh ngắt in một màu
Lặng nhìn nhau hồi lâu lâu, rồi tình ta càng ăn sâu
Sâu mối duyên ban đầu…


Click để nghe Duy Khánh hát Ai Nhớ Chăng Ai trước 1975

Trong bài hát này có những hình ảnh gợi nhớ lại những tháng năm nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ từng theo kháng ᴄhιến, đó là “trăng đầu ghềnh” “nhạc rừng nghe buồn mông mênh”, nhắc về một thời khó khăn nhưng êm đềm hạnh phúc, nơi quê nghèo vẫn vang lên ngàn câu ca yêu đời và tràn đầy niềm hy vọng, đặc biệt là nhắc về “mối duyên ban đầu” cùng người con gái vừa là bạn học, vừa là đồng đội:

Ai nhớ chăng những chiều, những chiều gặp gỡ nhau trên cầu
Nước trời xanh ngắt in một màu
Lặng nhìn nhau hồi lâu lâu, rồi tình ta càng ăn sâu
Sâu mối duyên ban đầu…

Bài hát cũng nhắc lại buổi chia tay định mệnh, khi nàng tiễn chàng trở về đô thị, không ai biết rằng đó cũng là lần cuối:

Ai nhớ chăng ai
Ai nhớ chăng hôm nào, hôm nào mưa rớt trên sông dài
Trên dòng em tiễn anh một chiều
Chiều chia ly còn chưa phai, trời buồn khóc giùm duyên ai
Giọt lệ tuôn ngắn dài…

Trong khi đó, ở miền Bắc, Tân Nhân quyết định giữ lại đứa con trong bụng, mặc cho bạn bè giễu cợt khinh khi. Một người bạn học thương cảm đã đưa bà về nhà mình ở Hà Tĩnh cưu mang, nhưng vì tập tục vùng làng quê nên gia đình này dù có thương bạn của con thì cũng chỉ dám cho phép Tân Nhân dựng một cái lều ngoài vườn để sinh nở.

Người con này đặt đặt tên theo họ của mẹ là Trương Khánh Hoài, ông kể lại trong hồi ký:

“Từ lúc tôi sinh ra, nhiều đêm cạn sữa nằm nghe con khóc đòi bú ngặt nghẽo, bụng thì đói cồn cào, lại nghe gió rừng âm u bốn bề thổi quanh, cùng cực quá mẹ tôi đã định bế con ra dòng sông La để trầm mình. Và đã có một đêm khi tôi đã ngủ, mẹ tôi đã quyết bế con đi. Nhưng không hiểu sao, ra đến bờ sông, có lẽ gió thổi lạnh quá hay có một tiếng gọi định mệnh nào đó làm tôi tỉnh thức, khóc ré lên thảm thiết, như nức nở, như ai oán, khiến mẹ tôi sững lại. Thế là mẹ tôi đứng bên bờ sông cũng khóc. Như nổi giông nổi bão trong lòng. Và thế là mẹ lại quay mặt bế con về mái lều, cho con nhằn da ngực đã khô kiệt mà cắn…

Giữa lúc ấy, may thay, cố tôi và bà tôi xuất hiện, đúng như một bà Tiên, như một ông Bụt: “Con ơi, răng mà con khổ như ri”.

Cố tôi đã thốt lên khi nhìn thấy tình cảnh mẹ con tôi trong túp lều hoang dại, còn bà tôi thì hối hả đổ gạo ra từ cái đẫy xách bên mình, rồi lại hối hả chạy ra giếng múc nước về nhen lửa nấu cơm nấu cháo cho mẹ con tôi ăn. Có lẽ đó là bữa đầu tiên mẹ tôi được no bụng sau khi sinh nở…”

Vượt qua thời kỳ gian khó, sau khi con đã chập chững, Tân Nhân trở lại công tác và hoạt động ca hát. Năm 1954, bà là diễn viên đơn ca tại Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương. Năm 1963, bà theo học khoa Thanh nhạc Trường Âm nhạc Việt Nam và tốt nghiệp năm 1968. Từ năm 1969 đến năm 1972, bà tu nghiệp tại Nhạc viện Sofia, Bulgaria. Về nước năm 1973, bà làm việc tại Đài Phát thanh Giải phóng, rồi Đài Tiếng nói Việt Nam.

Tại đất Bắc, bà được gặp lại một người bạn học cũ từ thuở ấu thơ là Lê Khánh Căn, họ nên vợ chồng và sống với nhau hạnh phúc đến cuối đời. Người con được lấy theo họ cha dượng là Lê Khánh Hoài.

Năm 1963, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có cơ hội gặp lại được Tân Nhân, khi ông dẫn một đoàn văn nghệ của miền Nam sang trình diễn tại hội chợ quốc tế That Luang, cùng lúc đó cũng có một phái đoàn văn nghệ của miền Bắc (VNDCCH) tham gia, trong đó có Tân Nhân. Tuy nhiên, trong khi Hoàng Thi Thơ tìm mọi cách để gặp thì Tân Nhân lại lánh mặt.

Lần thứ 2 họ ở rất gần nhau, đó là năm 1968, hai đoàn văn nghệ của 2 miền lại có mặt cùng lúc tại Paris. Lần này nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ quyết tâm muốn gặp lại, hoặc ít nhất là muốn được thấy mặt cho thỏa lòng, nên đã mua vé hàng ghế đầu trong tất cả các buổi diễn của đoàn miền Bắc, nhưng có lẽ là Tân Nhân đã biết điều đó nên không xuất hiện để trình diễn.

Tuy không gặp mặt, nhưng thời gian sau này, ca sĩ Tân Nhân có nhiều dịp được nghe nhạc của Hoàng Thi Thơ, và đâu đó trong những bài ca của ông, bà thấy lại được chính mình, thấy những kỷ niệm mà cả 2 đã từng có, đặc biệt là qua bài Ai Nhớ Chăng Ai, với những lời nhớ thương muôn đời được tỏ bày:

Nhớ vô vàn, nhớ muôn ngàn
Ngàn đời tôi còn nhớ
Ngàn đời tôi nào quên
Quên quên sao bao nhiêu phút xa xưa êm đềm

Nhớ vô vàn, nhớ muôn ngàn
Ngàn đời tôi còn nhớ
Ngàn đời tôi nào quên
Bao nhiêu con người dừng chân trên bến tâm hồn

Ai nhớ chăng ai
Ai nhớ chăng khói chiều, khói chiều vương vấn mái tranh nghèo
Có bầy em bé reo ngoài vườn
Mẹ già tóc bạc như sương,
nợ đời uốn còng đôi vai xương đớn đau trăm đường

Ai nhớ chăng ai
Ai nhớ chăng những gì, những gì tha thiết nhất trong đời
Những gì không nói nên bằng lời
Mà tim ta thì chơi vơi, mà hồn ta tìm nơi nơi
Mà lòng ta nhớ đời…


Click để nghe Thanh Tuyền hát Ai Nhớ Chăng Ai trước 1975

Rất có thể bà Tân Nhân rất xúc động khi được nghe những lời hát này, nên đã viết 4 câu thơ họa lại, như là lời hồi đáp muộn màng:

Ai có buồn chăng, có nhớ chăng
Những bản tình ca quyện gió ngàn
Khu rừng mặt trận ngày xuân ấy
Ngân mãi theo ta dòng thời gian…

Người con chung của họ – Lê Khánh Hoài (lấy theo họ cha kế) sau này trở thành nhà báo và dùng nhiều bút danh khác nhau: Châu La Việt, Trương Nguyên Việt, với Trương là họ của mẹ, Việt là thị trấn Cửa Việt thuộc huyện Gio Linh, quê của mẹ. Ông cũng lấy bút danh là Triệu Phong, là quê của cha. Năm 1994, khi lần đầu được gặp cha ruột, ông được đặt tên theo họ cha là Hoàng Hữu Hoài.

Ông Hoài nói về mẹ mình như sau: “Cũng có thể có lúc mẹ trách móc cha, nhưng suốt cuộc đời này, với cha tôi, không bao giờ mẹ căm giận như thường tình, mà chỉ nhớ thương trông đợi, để rồi gửi vào câu hát và tạo nên một tiếng hát Xa Khơi bất hủ: ”Nhớ thương cách vời ơi biển chiều nay, nhớ thương cách vời ơi biển chiều nay…”.

Năm 1976, Lê Khánh Hoài lần đầu vào được Sài Gòn, nhưng lúc đó Hoàng Thi Thơ đã trôi dạt ly hương nơi đất khách. Mãi đến năm 1987 cha con mới liên lạc được với nhau qua những lá thư đầy xúc động, rồi đến năm 1994 thì mới lần đầu được gặp nhau. Cũng trong dịp đó nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ được hội ngộ với Tân Nhân trong một buổi gặp gỡ đầy ân tình và tự trọng của những nghệ sĩ nổi tiếng. Họ chỉ gặp nhau 1 lần nữa thì nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ qua đời năm 2001.

Sau đây là lá thư năm 1987, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ từ Mỹ gửi về cho Lê Khánh Hoài:

“Năm 1956, Ba đã từ Sài gòn ra Đà Nẵng thăm ngoại con khi ba nghe tin mẹ con “đi thêm bước nữa” .Thăm ngoại thì ít, nhưng cốt để hỏi thăm con thì nhiều.

Năm 1958, ba đẻ em Thi Thi. Chính lúc đó, Ba nghĩ tới con nhiều nhất. Ba đã dùng cái tên “Thi” để đặt tên cho em con, cái tên đầy kỷ niệm mà ngày xưa ba và mẹ con đã rất yêu và đã hứa với nhau sẽ dùng để đặt cho đứa con đầu lòng của ba và mẹ con, là con. Và từ ngày đó, mỗi lần gọi tên em Thi của con là riêng ba, ba nhớ tới con. Nhớ cho tới khi nào ba không còn trên trần gian này nữa để gọi tên Thi.

Năm 1964, trong một hoàn cảnh vô cùng éo le, ba đã bỏ nước trốn sang Nam Vang. Những ngày lén lút đó, biết rằng mẹ con đến đó trình diễn, ba đã bất chấp hiểm nguy để liên lạc với mục đích duy nhất là là biết được chút tin tức về con và mẹ con. Và ba còn nhớ rõ, nếu lúc ấy mẹ con không quá dè dặt và không quá cứng rắn, ba đã trở lại nơi ba phải giã từ mẹ con… Và có cơ hội sống bên con từ 1964!

Năm 1970, khi ba soạn phim “Người cô đơn”, ba đã hoàn toàn nghĩ tới con, dựng lên một nhân vật bé bỏng , nhân vật mang tên bé Tâm, một nhân vật suốt đời cô đơn rất tội nghiệp, một nhân vật mà vào đó, ba đã gửi hết nỗi niềm tâm sự của ba. Nhân vật đó, người cô đơn đó, đứa bé cô đơn đó, chính là con, chính là Hoài, chính là cái kỷ niệm quý đẹp nhất của một người nghệ sỹ họ Hoàng và một người nghệ sỹ họ Trương… Con chớ giật mình, con nhé, con chớ ngạc nhiên, con nhé! Ba xác nhận một lần nữa, “người cô đơn” chính là con, chính là Hoài, chính là người con đã tưởng rằng cha mình đã chối bỏ mình.

“Suốt 35 năm trời, ba hằng tự hào về một điểm: Đời ba, trong đó có con và mẹ con, sao giống như một pho tiểu thuyết. Mà tiểu thuyết nào mà lại không có nhiều tình tiết éo le, phải không con? Thôi chúng ta, ba +mẹ+ con, dù gặp những éo le, gập ghềnh, buồn sầu thì cũng cho đó là số phận của những người có cuộc đời giống như tiểu thuyết…

Hoài con, nếu theo con, “con đã mất ba nửa cuộc đời rồi” thì chắc chắn nửa cuộc đời còn lại, con sẽ có ba hàng ngày, hàng tháng, hàng năm… Còn đối với ba đã 35 năm nay, dù chưa một lần được gặp, ba chưa bao giờ mất con và mẹ con một ngày một tháng một năm nào. Vì không một ngày một tháng một năm nào, ba không có con và mẹ con trong lòng ba, trong tâm hồn ba…

Nhắc đến mối tình đầu của Mẹ con mà con viết: “Tưởng hết sức đẹp đẽ” ba hãnh diện xác nhận với con một lần là, cho đến bây giờ mối tình đó, đối với ba cũng như một số người đã biết mối tình đó, là mối tình đẹp nhất trần gian. Ba không đại ngôn, không phóng đại khi ba nói như vậy. Ba và mẹ con sẽ tìm thấy dần để hiểu thấu dần. Đối với ba, suốt đời, mẹ con là tuyệt vời, Tân Nhân là tuyệt vời. Lại một dẫn chứng nữa, một chứng dẫn nữa. Năm 1956, thời gian ba soạn sách, ba soạn cuốn “Để sáng tác một bài nhạc phổ thông”, trang đầu của cuốn sách, ba in dòng chữ: “Thân yêu gửi Tân Nhân”. Mặc dù ba biết mẹ con “đã đi thêm bước nữa”. Ba yêu mẹ con là thế, từ những năm 49-50-51 đến 56, đến cả bây giờ 87, thì không có lý nào ba lại không yêu con và yêu ít hơn? Điều này chắc con không biết, nhưng điều này ba tin mẹ con biết. Có lẽ vì một hoàn cảnh bắt buộc nào đó, mẹ con biết nhưng chẳng hề nói ra cho con hay…

Thôi, dù biết hay chưa biết, với thời gian, với những tác phẩm của ba mà rồi đây con và mẹ con sẽ dần dà tìm thấy, mẹ con và con có ngày sẽ hiểu được lòng ba và tình ba. Sự muộn màng nào, hiểu nhau muộn cũng đau thương, nhưng sự muộn mằn nào cũng đẹp. Đó là sự muộn màng trong tiểu thuyết, sự muộn màng trong cuộc đời tiểu thuyết của chúng ta…

Năm 1994, lần đầu tiên Hoàng Thi Thơ được trở về quê hương sau gần tròn 20 năm xa cách, đó cũng là lần đầu tiên nhạc sĩ có cơ hội được gặp người con trưởng của ông. Buổi đoàn tụ đầy cảm xúc đó được Lê Khánh Hoài kể lại:

[…]

Khi người xướng ngôn viên trên sân bay Tân Sơn Nhất thông báo máy bay đã hạ cánh, trái tim tôi như sững lại. Một tay tôi phải vịn vào lan can để có thể đứng vững…

40 năm chờ đợi. Từ cái thuở tôi còn là một bào thai nằm trong bụng mẹ nơi cánh rừng kháng ᴄhιến, mà lúc ấy cả mẹ và ba tôi đều là những nghệ sĩ kháng ᴄhιến. Rồi ba tôi bỗng nhiên đột ngột ra đi, bỏ lại sau lưng tất cả. Từ cái thuở dòng sông Hiền Lương cắt chia đôi miền, ngay giữa quê ba và mẹ tôi Quảng Trị, và bàn chân mồ côi của tôi chập chững những bước đi đầu tiên ngay nơi vết thương chia cắt. Cũng đôi chân ấy một ngày băng trên những triền núi Trường Sơn khi tôi là một ᴄhιến sỹ, và ba tôi lại thuộc về ᴄhιến tuyến bên kia.

40 năm, bao “can qua gió thổi”, nhưng rồi cũng có lúc này đây hệt như lời bài hát ru con mẹ tôi thường hát:

“Đến mùa xuân, trong cơn nắng ấm
Cha con về, cha con về…
Con nắm tay cha
Hỡi chàng là chàng ơi, hỡi người là người ơi…”

Dòng hành khách đã bắt đầu bước ra. Mắt tôi dán vào cửa ra vào. Rồi ba tôi xuất hiện. Chưa một lần gặp ông nhưng tôi biết ngay đấy chính là ba tôi, cái người đàn ông đang sững sờ nhìn bốn phía chung quanh, và lao đến bên tôi, ôm choàng lấy tôi. Tôi cũng ôm choàng lấy ba, nghe trên tóc mình, vai mình những dòng nươc mắt nóng bỏng. Nước mắt của ba hay của tôi thế nhỉ? Hay nước mắt của bà con họ Hoàng đang bao kín xung quanh và ai cũng khóc khi chứng kiến cuộc gặp gỡ cha con này.

Không một lời nói. Không một âm thanh, kể cả nhịp tim đập. Chỉ nóng hổi những dòng nước mắt…

“40 năm, ba ơi, đây là lần đầu tiên trong đời con có một người đàn ông để con gục đầu vào ngực. Đây là lúc dòng sông Hiền Lương không còn chảy qua giấc ngủ mồ côi của con nữa. Đây cũng là lúc không còn ᴄhιến tuyến bên này hay ᴄhιến tuyến bên kia của một thời dĩ vãng. Chỉ còn là cha con mình, cha con mình. Ba nhỉ..”

Và đêm ấy, lần đầu tiên trong đời, hai cha con tôi được ở bên nhau.

[…]

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ qua đời năm 2001 ở Hoa Kỳ, khi nghe tin, ca sĩ Tân Nhân viết những dòng thơ tưởng nhớ, bài thơ mang tên “Vĩnh biệt nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ”:

Ơi Thạch Hãn, ơi Bích Khê
Thôi từ nay không còn đợi ông về
Người nhạc sĩ với cây đàn ấy
Hồn tươi vui thắm đượm tình quê…

Từ xứ nghèo Quảng Trị ra đi
Đôi bờ vĩ tuyến buồn vui gì
Trải bao trăn trở tìm lẽ sống
Vì đâu đau khổ và chia ly…

Một tấm gương kiên trì lao động
Những thăng hoa bước tiến tài năng
Mỗi cung đàn dựng bằng tâm huyết
Tác phẩm còn đọng lại với thời gian.

Ông – người yêu nồng nàn cuộc sống
Từ con người hoa lá chim muông
Yêu sông núi xóm làng thơ mộng
Và dệt nên những bản nhạc quê hương 

(Nghệ sĩ Tân Nhân)

Lê Khánh Hoài kể rằng năm 2007, khi ông vào Sài Gòn thăm mẹ đang sống ở đây, bà nói: “Con gắng đi Mỹ, sang đó tìm nơi ba Thơ yên nghỉ, thắp cho mẹ một nén nhang”.

Chỉ ít ngày sau thì Lê Khánh Hoài sang Mỹ, tìm đến công viên vĩnh hằng để thăm cha. Khi về lại và cho mẹ xem hình chụp lúc dâng hương, bà xem rất chăm chú từng hình một. Chỉ 4 ngày sau đó, Tân Nhân bất ngờ ngã xuống sau một cơn đột quỵ khi quét sân và ra đi sau đó ít lâu.

Thời gian sau đó, Lê Khánh Hoài lục tìm những kỷ vật của mẹ thì bất ngờ tìm thấy dưới gối của bà một lá thư đề nghị, với bản chính đã được gửi bưu điện đến nơi cần nhận, trước khi bà bị đột quỵ chỉ mấy ngày. Nguyên văn lá thư đó được Lê Khánh Hoài đăng như sau:

“Kính gửi Bộ Văn hóa!

Tên tôi là: Trương Thị Tân Nhân – Nghệ sĩ ưu tú, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tôi làm đơn này xin đề đạt một nguyện vọng như sau, kính mong các đồng chí xem xét.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ từng là một đồng chí, đồng đội của tôi trong kháng chiến chống Pháp. Sau đó, vì hoàn cảnh riêng, nhạc sĩ về quê hương, sau đó vào Sài Gòn làm một nhạc sĩ tự do (như trường hợp của nhạc sĩ Phạm Duy). Mặc dù không cùng trong hàng ngũ của chúng ta, nhưng nhạc sĩ không có bất cứ một hành động nào chống phá (…) Kể cả sau năm 1975, nhạc sĩ có trở về thăm đất nước, gặp lại nhiều bạn bè cũ như nhạc sĩ Trần Hoàn, nhạc sĩ Trọng Bằng… rất thân thiết. Trong sáng tác âm nhạc của mình, dù trong bất cứ môi trường nào, những tác phẩm của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cũng đều mang âm hưởng dân ca, đậm đà màu sắc dân gian dân tộc, nội dung ngợi ca tình yêu đất nước quê hương. Chính vì những điều này, nhiều bài hát của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ được đông đảo công chúng yêu mến, truyền tụng.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã mất tại Hoa Kỳ. Điều mong ước lớn nhất của nhạc sĩ là những tác phẩm của mình luôn được phục vụ quê hương đất nước, luôn được phục vụ công chúng là bà con lao động của xứ sở mình. Điều đáng tiếc vì những lý do lịch sử, các tác phẩm của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ chưa được phép sử dụng trong nền nghệ thuật của chúng ta, mặc dù nó vẫn được lan truyền trong dân gian.
Với tôi, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là mối tình đầu. Dù trong hoàn cảnh nào, tôi cũng thấy mình phải có trách nhiệm với tình cảm này. Đặc biệt trên cương vị là một ca sĩ, luôn trân trọng các tác phẩm âm nhạc hay đẹp ngợi ca quê hương đất nước, trong đó có một số tác phẩm của anh Hoàng Thi Thơ.

Năm nay tôi đã 75 tuổi, suốt một cuộc đời là phục vụ Đảng, đất nước và nghệ thuật. Với tôi, giờ đây đã gần đất xa trời. Còn điều gì chưa yên thì đấy là những tác phẩm của tình yêu đầu của mình chưa được phép sử dụng rộng rãi. Với tình cảm và trách nhiệm của một người nghệ sĩ, một Đảng viên cộng sản, tôi kính mong các đồng chí xem xét lại các tác phẩm của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, cho phép các tác phẩm tốt, các tác phẩm ngợi ca đất nước quê hương của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ được phổ biến rộng rãi trong công chúng như trường hợp với các tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy”.

Người con của Hoàng Thi Thơ và Tân Nhân đã viết như sau khi đọc được lá thư này:

“Những dòng nước mắt chảy dài trên má tôi. Tôi hiểu đây là những lời nói cuối, là khúc hát cuối của Mẹ cho mối tình đầu đầy khổ đau của mình… Yêu mẹ nhiều hơn, và càng thương mẹ nhiều hơn”.

Đông Kha – chuyenxua.vn

Cuộc đời và sự nghiệp Hoàng Thi Thơ – Nhạc sĩ tiên phong của dòng nhạc vàng

Trong sự nghiệp âm nhạc đồ sộ và đa dạng của của mình, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã để lại cho đời hàng trăm ca khúc nổi tiếng, tiêu biểu nhất là Đường Xưa Lối Cũ, Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi, Tình Sầu Biên Giới, Túp Lều Lý Tưởng, Tình Đêm Liên Hoan… và đặc biệt là các ca khúc viết về quê hương như Tình Ca Trên Lúa, Gạo Trắng Trăng Thanh, Trăng Rụng Xuống Cầu, Rước Tình Về Với Quê Hương, Đưa Em Qua Cánh Đồng Vàng… 

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã tham gia vào nền âm nhạc miền Nam ngay từ đầu thập niên 1950, được coi là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho dòng nhạc vàng mà chúng ta vẫn còn yêu thích cho đến ngày nay.

Ông sinh ngày 1 tháng 7 năm 1929 tại làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thuộc dòng họ Hoàng Hữu, là dòng họ khoa bảng lừng lẫy ở đất Quảng Trị vùng Trung Bộ.

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã tự học nhạc từ lúc còn trẻ, sau này ghi danh học hàm thụ (học từ xa) với một trường nhạc và bước vào sự nghiệp sáng tác nhạc năm 20 tuổi.

Năm 1945, khi đang theo học ở trường Khải Định (nay là trường Quốc Học Huế), ông bỏ học để tham gia đoàn văn nghệ Quảng Trị do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba làm trưởng đoàn.

Năm 1946, ông cùng với nhạc sĩ Trần Hoàn gia nhập đoàn tuyên truyền kháng chiến trung bộ do nhà văn Hải Triều phụ trách.

Năm 1947, ông là phóng viên và biên tập viên báo Cứu Quốc ở liên khu 4 do Lưu Quý Kỳ làm chủ nhiệm kiêm chủ bút và nhà thơ Chế Lan Viên làm trưởng ban biên tập.

Năm 1948 ông quay lại nhà trường để hoàn tất chương trình học phổ thông tại trường Huỳnh Thúc Kháng ở Hà Tĩnh. Tại đây ông gặp và yêu một nữ sinh tên là Tân Nhân – cũng là một ca sĩ đang tham gia đoàn văn công mặt trận Bình Trị Thiên (sau này Tân Nhân trở thành một ca sĩ huyền thoại của dòng nhạc đỏ).

Sau khi học xong ở trường Huỳnh Thúc Kháng, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ theo học trường lục quân Trần Quốc Tuấn.

Năm 1951, Hoàng Thi Thơ về Huế thăm gia đình người anh ruột (là cha của Hoàng Thi Thao), với mục đích là muốn xin gia đình người anh một số tiền để trở lại vùng kháng chiến (tức Liên Khu Tư ở Thanh Hóa) để sau đó đưa người yêu ra Hà Nội để theo học trường Văn Khoa ở đây.

Nhưng khi trở về thì cả gia đình giữ Hoàng Thi Thơ lại và khuyên là không nên trở ra Liên Khu Tư, mặc dù ông rất nôn nóng muốn trở ra với người yêu. Cuối cùng ông cũng xiêu lòng trước những lời khuyên nhủ của những người thân nên quyết định vào Sài Gòn để được an toàn, còn người yêu của ông vẫn ở lại vùng kháng chiến. Kể từ đó coi như hai người chia tay nhau và không còn sự liên hệ chính thức nào nữa.

Ca sĩ Tân Nhân

Người yêu của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là ca sĩ tên là Trương Tân Nhân, cùng hoạt động với ông trong Đoàn Tuyên Truyền Kháng Chiến Trung Bộ. Sau khi Hoàng Thi Thơ trở về Huế, bà Tân Nhân mới biết là đã mang thai. Người con của hai người tên Lê Khánh Hoài (lấy theo họ của người cha kế), hiện nay là nhà báo có bút danh Châu La Việt. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và người con này đã không thể gặp được nhau cho đến tận năm 1993, tức là sau 40 năm, khi Hoàng Thi Thơ trở về được Việt Nam và cha con trùng phùng. Lê Khánh Hoài cũng được nhạc sĩ đặt tên theo họ cha là Hoàng Hữu Hoài.

Trở lại thời kỳ năm 1952, khi nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ dẫn 2 người cháu ruột là Hoàng Thi Thao (sau này là “thần đồng violin”) và Hoàng Kiều (tỷ phú Hoàng Kiều hiện nay) vào Sài Gòn. Thời gian đầu, cuộc sống của họ rất chật vật, thiếu thốn. 3 chú cháu chỉ biết trông cậy vào số tiền của thân phụ Hoàng Thi Thao từ Huế gửi vào hàng tháng.

Thoạt đầu họ ở trọ tại căn nhà số 47 trên đường Catinat (tức đường Tự Do sau đó và là đường Đồng Khởi hiện nay) của một người quản gia cho một gia đình người Pháp.

Sau hơn một năm ở trọ căn nhà trên đường Catinat, ba chú cháu lại tiếp tục cùng nhau ở trọ tại một số nơi khác… Thời kỳ ở trọ trên đường Ký Con vào năm 1953, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã cho ra đời một tác phẩm rất hữu dụng là cuốn sách “Để Sáng Tác Một Bài Nhạc Phổ Thông”, rất nổi tiếng với những phần hướng dẫn về hòa âm, luật sáng tác…

Quyển sách dày 500 trang này xuất bản vào năm 1955 và sau đó được tái bản nhiều lần đã trở thành kim chỉ nam cho những người viết nhạc thời bấy giờ, được xem là sách gối đầu giường của các nhạc sĩ nổi tiếng Thanh Sơn, Ngọc Sơn, Thăng Long…

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ thông thạo cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp, đã bắt đầu đi dạy học ngay sau khi mới bước chân đến Sài Gòn cho đến tận năm 1965, song song với những họat động văn nghệ.

Ngoài ra vào mỗi sáng Chúa Nhật, kể từ khoảng giữa thập niên 1950, “thần đồng vĩ cầm Hoàng Thi Thao” cũng tham gia vào những tiết mục phụ diễn cho chương trình Tuyển Lựa Ca Sĩ do đài phát thanh Sài Gòn tổ chức tại rạp Norodom, tức rạp Thống Nhất sau đó.

Trong một cuộc thi Tuyển Lựa Ca Sĩ do đài phát thanh Sài Gòn tổ chức tại rạp Norodom vào năm 1954, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ quen biết với một nữ thí sinh tên Thúy Nga, quê quán ở Sơn Tây, mới từ Bắc di cư vào Nam. Năm ấy Thúy Nga mới 18 tuổi, xinh xắn với mái tóc thề, vừa đệm phong cầm vừa hát. Hình ảnh đẹp đó đã gây ấn tượng mạnh mẽ với tấtf cả khán giả có mặt, trong đó có nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ

Hoàng Thi Thơ và ca sĩ Thúy Nga

Chàng nhạc sĩ đa tình tìm cách làm quen với cô ca sĩ trẻ, còn Thúy Nga thì ban đầu chỉ coi ông như một người anh, và cũng là một người thầy để có thể học hỏi thêm về âm nhạc. Nhưng rồi cuối cùng bà đã xiêu lòng trước những tình cảm Hoàng Thi Thơ dành cho mình và nhận lời cầu hôn.

Tiệc thành hôn của cặp nghệ sĩ Hoàng Thi Thơ và Thúy Nga đã diễn ra tại nhà hàng Văn Cảnh vào ngày 10 tháng 10 năm 1957, họ chung sống hạnh phúc cho đến khi nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ qua đời năm 2001.

Gia đình nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ – ca sĩ Thúy Nga và các con (từ trái qua) Hoàng Thi Thương, Hoàng Thi Thư, Hoàng Thi Thanh, Hoàng Thi Thi

Sau này, người cháu là nghệ sĩ Hoàng Thi Thao đã nói về cuộc sống về gia đình chú ruột của mình như sau: “Khó có ai chiều chồng như bà Thúy Nga. Biết chồng như vậy cho nên chiều ghê lắm! Rất là quý! Lại còn nhịn nhục ghê lắm. Biết ông Thơ có cái tánh nghệ sĩ, cho nên bà Thúy Nga, cũng là ca sĩ, cho nên hiểu và thông cảm được”.

Cố nghệ sĩ Hoàng Thi Thao nói rằng chú của mình là một người có tính rất “bay bướm” và ông cũng nhiều lần phải chứng kiến những trận ghen tuông giữa hai vợ chồng. Tuy nhiên một phần do tính của bà Thúy Nga rất hiền và một phần vì con cái nên kết cuộc mọi việc cũng được giải quyết êm xuôi.

Hoàng Thi Thơ và Thúy Nga trên hình bìa dĩa nhựa

Sau khi lập gia đình, Hoàng Thi Thơ bước vào một thời kỳ hoạt động văn nghệ hăng hái và có nhiều thành tựu. Trong lĩnh vực sáng tác, ông có nhiều nhạc phẩm đặc sắc được công chúng đón nhận qua giọng hát của nhiều ca sĩ ở Sài Gòn từ thập niên 1950, hát nhiều nhất là chính người vợ Thúy Nga cùng với đôi song ca Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết (nổi tiếng với 2 ca khúc Gạo Trắng Trăng Thanh, Trăng Rụng Xuống Cầu).

Hoàng Thi Thơ là một nhạc sĩ sáng tác rất đa dạng, ông sáng tác nhiều thể loại, từ tình ca, trường ca, nhạc cảnh, mà nổi tiếng nhất là các bài nhạc quê hương, tình tự dân tộc, sau này nữa là nhạc lính.

Ngoài sở trường là các bài nhạc tình tự quê hương đã nhắc đến, Hoàng Thi Thơ còn có 2 bài hát theo lối kể chuyện độc đáo là Cô Lái Đò Bến HạChuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi. Nhạc trữ tình thì ông có Đường Xưa Lối Cũ, Tà Áo Cưới, nhạc kích động có Túp Lều Lý Tưởng, Xây Nhà Bên Suối, và một loạt bài ca buồn rất được yêu thích là Xe Hoa Một Chiếc, Tango Nhớ, Rong Chơi Cuối Trời Quên Lãng, Mùa Thu Đông Kinh, Nhớ Thành Đô, Mùa Xuân Hoa Đào, nhạc lính có Tôi Nhớ Tên Anh, Tình Đêm Liên Hoan, Cái Trâm Em Cài…

Qua những ca khúc quen thuộc đã kể trên, có thể thấy khả năng sáng tác đa dạng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, thành công với tất cả những thể loại nhạc mang sắc thái hoàn toàn khác biệt.

Ngoài việc sáng tác nhạc, nhạc sĩ Hoàng thi Thơ còn là người chuyên tổ chức và dàn dựng sân khấu. Năm 1961, ông thành lập Đoàn Văn nghệ Việt Nam gồm hơn 100 nghệ sĩ tên tuổi và lưu diễn qua nhiều nước Á Châu cũng như nhiều thành phố trên thế giới: Viêng Chăn, Hồng Kông, Ðài Bắc, Tokyo, Bangkok, Singapore, Sénégal, Paris, London… và nhiều nơi ở Hoa Kỳ.

Năm 1967, Hoàng Thi Thơ thành lập tiếp Đoàn Văn Nghệ Maxim’s, gồm 70 diễn viên ca-vũ-nhạc-kịch, tổ chức những chương trình ca vũ nhạc kịch đặc biệt tại vũ trường – phòng trà Maxim’s do ông quản lý. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cũng là người duy nhất được chính quyền nhiều lần cử thành lập và dẫn các đoàn văn nghệ Việt Nam sang Châu Âu trình diễn…

Chuyến lưu diễn đầu tiên của đoàn văn nghệ Việt Nam với Hoàng Thi Thơ là trưởng đoàn và Lê Thương là phó đoàn đã diễn ra ở Nhật, Đài Loan và Hồng Kông vào năm 1961 với một thành phần nghệ sĩ lên đến cả trăm người thuộc đủ mọi bộ môn như ca, vũ, nhạc, kịch với sự chú trọng đặc biệt vào những tiết mục vũ và hợp xướng. Ông từng nói rằng mục đích của Đoàn Văn Nghệ Việt Nam là “giới thiệu ít nhiều khía cạnh văn nghệ của dân tộc có màu sắc Việt Nam”.

Hoạt động của đoàn văn nghệ này đã phải chấm dứt vào cuối năm 1963, sau cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11. Theo bài viết của Trường Kỳ và lời kể của Hoàng Thi Thao, sau thời điểm này thì có thời gian nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ bị Hội Đồng QNCM truy tố về tội chuyển tiền ra ngoại quốc cho tổng thống Ngô Đình Diệm và ông bà Ngô Đình Nhu qua những chuyến lưu diễn của Đoàn Văn Nghệ Việt Nam. Ông phải vào tù Chí Hòa hơn một năm, thông tin này có khá ít người biết.

Nguyên nhân là Tổng Nha Ngân Khố tìm ra được những giấy tờ, theo đó ông Diệm và ông Nhu đã cấp phép cho Hoàng Thi Thơ đổi tiền Việt ra Mỹ Kim để dùng vào việc chi tiêu cho đoàn văn nghệ. Sự thật chỉ có vậy, sau đó xét thấy vô tội nên ông được trả tự do. Sau khi nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ ra tù vào năm 1965, hai chú cháu Hoàng Thi Thơ – Hoàng Thi Thao và một số nhạc sĩ khác kết hợp thành một ban nhạc đi làm cho một vũ trường do gia đình khai thác tên Bồng Lai ở tận Qui Nhơn.

Đến cuối năm 1965, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ được chính phủ mời trở lại làm trưởng đoàn văn nghệ và đi trình diễn tại nhiều quốc gia ở Âu Châu và cả Châu Phi.

Vào khoảng những năm 1967-1968, sau khi vũ trường Maxim’s ở đầu đường Tự Do được bán cho giám đốc công ty kem đánh răng Hynos là Huỳnh Đạo Nghĩa, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ vẫn tiếp tục cộng tác với phòng trà này và đảm trách khâu tổ chức sân khấu, với chương trình được làm giống như các nhà hàng ca vũ nhạc nổi tiếng ở Paris như Moulin Rouge hoặc Lido.

Dưới tài tổ chức và khả năng nghệ thuật của Hòang Thi Thơ, đoàn văn nghệ Maxim’s đã trở thành một nơi quy tụ rất nhiều tài năng thuộc nhiều bộ môn nghệ thuật, nhất là vũ và nhạc kịch.

Theo một giao kèo ký với chính phủ Nhật vào năm 1974, đoàn văn nghệ Maxim’s với thành phần nghệ sĩ trên 20 người đã lên đường sang quốc gia này trình diễn vào ngày 10 tháng 3 năm 1975 trong khi miền Nam vẫn đang ở trong cơn biến loạn ngày càng tăng cao. Đó cũng là lần xa rời quê hương của những nghệ sĩ đoàn Maxim’s, vì khi Sài Gòn sụp đổ, họ vẫn đang ở Nhật và sau đó phải lưu lạc trên đất khách quê người.

Trước năm 1975, Hoàng Thi Thơ sáng tác trên 500 ca khúc, từ tình ca đến nhạc quê hương, dân ca đến nhạc thời trang, đoản khúc đến trường ca, nhạc cảnh đến nhạc kịch.

Khoảng năm 1972-1973, ông sử dụng thêm bút danh mới là Tôn Nữ Trà Mi và sáng tác một loạt ca khúc mà báo chí thời đó gọi là “đem lại cho làng tân nhạc Việt Nam luồng sinh khí mới và cảm hứng tân kỳ” như Rước Tình Về Với Quê Hương, Việt Nam Ơi Ngày Vui Đã Tới, Ô Kìa Đời Bỗng Dưng Vui, Xây Nhà Bên Suối, Ngày Vui Lý Tưởng…

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và ca sĩ Họa Mi

Hoàng Thi Thơ  cũng là người đã nâng đỡ hai ca sĩ Sơn Ca và Họa Mi, đào tạo hai người này trở thành những nữ ca sĩ nổi tiếng. Ngoài ra, trước năm 1975 tại Sài Gòn, ông có thực hiện ba băng nhạc mang tên ông với những giọng ca nổi tiếng:

  • Hoàng Thi Thơ 1: Rước tình về với quê hương
  • Hoàng Thi Thơ 2: Việt Nam như đóa hoa xinh
  • Hoàng Thi Thơ 3: Đưa em qua cánh đồng vàng


Click để nghe băng nhạc Hoàng Thi Thơ 1

Sau năm 1975, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ tiếp tục công việc tổ chức các đại nhạc hội tại nhiều nơi trên đất Mỹ cũng như trong việc thu băng hay video.

Những năm cuối đời, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ bị bệnh tim và qua đời trong vòng tay gia đình vào ngày 23 tháng 9 năm 2001, được an táng tại Vườn Vĩnh Cửu trong khuôn viên nghĩa trang Peek Family ở Orange County.

 


Click để nghe băng nhạc Hoàng Thi Thơ 2

Đã nhiều năm đã qua đi, nhưng những người yêu mến dòng nhạc của ông vẫn thấy hình ảnh người nhạc sĩ đa tài này hiện diện trong những sáng tác đã trở thành bất tử của ông…


Click để nghe băng nhạc Hoàng Thi Thơ 3

Sau đây mời các bạn nghe lại những ca khúc này thu âm trước 1975.

Đường Xưa Lối Cũ

Một trong những bản nhạc mà khi nhắc đến nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, người ta không thể không nhớ đến, đó là Đường Xưa Lối Cũ. Trong tờ nhạc xuất bản trước 1975, đề bút dưới tựa đề của bài hát này, nhạc sĩ đã ghi: “Kính tặng Mẹ và tặng Em”. Từ khi ra đời cho đến nay, bài hát đã được nhiều người yêu thích, dễ đi vào lòng thính giả nhờ những giai điệu và ca từ buồn thương tiếc nhớ về hình bóng của những người thân yêu đã không còn nữa trên lối cũ về làng xưa. Bài hát này được nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sáng tác khi ông trở về làng Bích Khê ở Quảng Trị sau nhiều năm xa cách vì đất nước loạn lạc.


Click để nghe Mỹ Thể hát Đường Xưa Lối Cũ trước 1975

Lúc sinh thời, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ từng nói rằng hầu hết những ca khúc mà ông sáng tác đều dựa trên những câu chuyện có thực, và Đường Xưa Lối Cũ là một bài hát như vậy. Những hình ảnh, khung cảnh, con người, cảm xúc trong đó hoàn toàn chân thực, tái hiện được một phần đời của tác giả bài hát.

Năm 1999, trên Paris By Night 47, nhạc sĩ đã kể về xuất xứ bài hát như sau:

“Tôi được sinh trưởng trong một ngôi làng rất nhỏ bé, nhưng rất thơ mộng, đó là làng Bích Khê. Ngôi làng đã cho tôi những hình ảnh không bao giờ xóa nhòa trong lòng tôi, trong tâm khảm tôi, và trong cả cuộc đời tôi.

Đó là những hình ảnh về hàng tre xanh ngát, có con sông Thạch Hãn rất thơ mộng, và trong làng có một cánh rừng, có những lúc trăng treo trên đồi rất đẹp. Đặc biệt là ở đó còn có hình ảnh mẹ và em gái của tôi.

Nhưng trong cuộc đời, chúng ta không bao giờ cứ bám chặt lấy làng quê hoài được, nhất là vào hoàn cảnh thời cuộc lúc đó, cho dù nó có thơ mộng biết bao nhiêu.

Rồi tôi bỏ nhà đi kháng ᴄhιến 10 năm, vẫn cứ ôm theo hình ảnh đó mãi trong lòng trên suốt  những nẻo đường xa nhà. Một lần có cơ hội được trở về, trong lòng tôi cứ tưởng là khi trở lại thì hàng tre vẫn xanh, con sông thạch Hãn vẫn đẹp, cái đồi đó vẫn nên thơ, và nhất là mẹ tôi vẫn còn đó đón tôi về, em tôi đợi chờ tôi về rồi mới sang ngang.

Nhưng khi tôi về thì mẹ tôi không còn nữa, đã qua bên kia thế giới, còn em tôi thì đã sang ngang. Đó chính là những giọt nước mắt chảy dài trong cuộc đời tôi…”

Đường xưa lối cũ, có bóng tre, bóng tre che thôn nghèo
Đường xưa lối cũ, có ánh trăng, ánh trăng soi đường đi
Đường xưa lối cũ, có tiếng ca, tiếng ca trên sông dài
Đường xưa lối cũ, có tiếng tiêu, tiếng tiêu ru lòng ai

Trong bài hát có câu: Nào ngờ người em sang ngang khi xuân chưa tàn… lâu nay đã có nhiều người tưởng rằng nhạc sĩ nói về nỗi buồn người yêu sang ngang, tuy nhiên theo chính lời kể của nhạc sĩ bên trên, thì đó là người em gái yêu dấu của ông, đã lấy chồng biệt xứ trong hoàn cảnh đất nước đã chia đôi.

Ai Nhớ Chăng Ai

Đây là một trong những ca khúc đầu tiên trong sự nghiệp của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, sáng tác vào khoảng giữa thập niên 1950, để nhắc về những kỷ niệm mà ông đã có cùng mối tình đầu trong ᴄhιến khu, nơi hai người đã từng một thời gian dài bên nhau:


Click để nghe Duy Khánh hát Ai Nhớ Chăng Ai trước 1975

Ai nhớ chăng ai
Ai nhớ chăng những chiều có người em gái qua bên thềm
Tiếng hò xao xuyến trăng đầu ghềnh
Nhạc rừng nghe buồn mông mênh
Và ngàn tia lửa ấm chơi vơi dưới trăng êm đềm

Trong bài hát này có những hình ảnh gợi nhớ lại những tháng năm nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ từng theo kháng ᴄhιến, đó là “trăng đầu ghềnh” “nhạc rừng nghe buồn mông mênh”, nhắc về một thời khó khăn nhưng êm đềm hạnh phúc, nơi quê nghèo vẫn vang lên ngàn câu ca yêu đời và tràn đầy niềm hy vọng, đặc biệt là nhắc về “mối duyên ban đầu” cùng người con gái vừa là bạn học, vừa là đồng đội:

Ai nhớ chăng những chiều, những chiều gặp gỡ nhau trên cầu
Nước trời xanh ngắt in một màu
Lặng nhìn nhau hồi lâu lâu, rồi tình ta càng ăn sâu
Sâu mối duyên ban đầu…

Bài hát cũng nhắc lại buổi chia tay định mệnh, khi nàng tiễn chàng trở về đô thị, không ai biết rằng đó cũng là lần cuối:

Ai nhớ chăng ai
Ai nhớ chăng hôm nào, hôm nào mưa rớt trên sông dài
Trên dòng em tiễn anh một chiều
Chiều chia ly còn chưa phai, trời buồn khóc giùm duyên ai
Giọt lệ tuôn ngắn dài…

Xe Hoa Một Chiếc

Lúc sinh thời, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ từng nói rằng hầu như tất cả bài hát mà ông sáng tác đều không phải là hư cấu, mà đều dựa vào hoàn cảnh thực, đó có thể là câu chuyện của chính ông, hoặc ông đã chứng kiến để trở thành cảm hứng viết nhạc.

Đối với bài Xe Hoa Một Chiếc, thì đó là câu chuyện lòng của chính nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Đó là năm 1955, lúc 26 tuổi và còn độc thân, ông đã đưa tiễn một người yêu đi lấy chồng, để rồi vài năm sau đó, vào một lần lời lòng bỗng khơi lên niềm nhớ về chuyện cũ, nhạc sĩ đã sáng tác Xe Hoa Một Chiếc (tên khác là Đàn Lòng Trăm Cung) và ký bút hiệu là Tôn Nữ Trà Mi.


Click để nghe Mỹ Thể hát Xe Hoa Một Chiếc trước 1975

Trong nắng thu xưa hơi buồn.
Tôi với một người phân ly
Tôi tiễn em tôi ra đi
Trên đường pháo tươi nhuộm hồng.

Tà Áo Cưới

Bài hát Tà Áo Cưới cũng viết cho mối tình trong bài hát Xe Hoa Một Chiếc, là tâm trạng của một người tiễn người yêu đi lấy chồng:

Những tà áo cưới thướt tha bay bay trong nắng chiều
Đưa người em gái bước chân đi đi về bến nao?


Click để nghe Giao Linh hát Tà Áo Cưới trước 1975

Chuyện Tình Cô Lái Đò Bến Hạ

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có những ca khúc được viết theo lối kể chuyện rất độc đáo, nhắc về cuộc đời, cuộc tình buồn của những người con gái, đó là Rong Chơi Cuối Trời Quên Lãng, Chuyện Người Trinh Nữ Tên Thi, và Chuyện Tình Cô Lái Đò Bến Hạ.

Nhiều năm qua, có nhiều khán giả yêu mến ca khúc này đã thắc mắc “Bến Hạ” là bến nào và ở đâu? Thực ra đây có lẽ là một cái tên tưởng tượng, và Bến Hạ cũng có thể là bất kỳ một bến sông nào đó ở miền sông nước đã từng chứng kiến bao nhiêu chuyện tình buồn đã đi qua.

Một xóm nghèo ven sông
Có con đò tên là đò bến Hạ
Một gái nghèo đoan trang
Nhan sắc nàng như là một đóa hoa


Click để nghe Thanh Lan hát Chuyện Tình Cô Lái Đò Bến Hạ trước 1975

Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi (Hoàng Thi Thơ)

Bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ dựa theo một câu chuyện có thật, và nhân vật trinh nữ tên Thi là một người vũ nữ Kim Lệ Thi, từng tham gia nhiều lần trong đoàn nghệ thuật do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm trưởng đoàn. Cô Thi đã một câu chuyện tình bi thương, nhạc sĩ đã chứng kiến và ghi lại, không chỉ trong 1 bài hát mà có tới 3 bài hát nổi tiếng:

Nàng quyết ra đi xa làng mình, người tình yêu dấu
Đời ngỡ chắc rằng nàng đã bước đã bước qua cầu
Mà nào ngờ đâu ôm tình ấy đi tìm dẫy núi cao
Đi sâu vô rừng quên tình
Hay đi vô rừng trốn mình, tình vẫn u sầu…


Click để nghe Thanh Lan hát Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi trước 1975

Trong đầu đề bài hát, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cũng đã kể lại như sau:

“Người con gái lạ lùng đó tên Thi. Thi trẻ đẹp như nhiều thiếu nữ thời nay. Thi yêu sớm. Tình Thi ngang trái. Người đời thị phi. Thi buồn và bỏ đi. Thi lên rừng. Có lẽ để khóc một mình dưới gốc cây già vô tri. Rồi cuối cùng Thi chếƭ, một sáng mùa đông, trên nệm lá vàng…

Tôi biết người con gái đó. Tôi ngạc nhiên về lòng chung thủy của nàng. Chuyện tình đẹp, như một phép lạ đã mê hoặc tôi. Tôi mượn âm thanh để kể lại, để bất diệt hóa tình yêu của người…”

Rong Chơi Cuối Trời Quên Lãng

Bài hát này cũng nói về chuyện tình của nàng trinh nữ tên Thi. Nếu như bài hát Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi là lời của một người kể chuyện, thì bài hát Rong Chơi Cuối Trời Quên Lãng là lời tâm sự của chính cô gái tội nghiệp – Đó là nhân vật “Ta” trong bài hát, kể về hành trình lang thang quên ngày tháng của cô gái sau khi nhận ra mình đã trót trao nhầm trọn vẹn trái tim yêu vào một cuộc tình không lối thoát.


Click để nghe Khánh Ly hát Rong Chơi Cuối Trời Quên Lãng trước 1975

Mối Tình Bất Diệt

Bài hát thứ 3 nói về nàng trinh nữ tên Thi:

Người đời thường hỏi tôi
chuyện tình tình lâm ly
Người đời thường hỏi tôi
chuyện tình nàng tên Thi

Vì sao nàng đau buồn
Vì sao nàng vô rừng
Rồi chết một sáng mùa Đông
Trên nệm lá hồng…


Click để nghe Thanh Lan hát Mối Tình Bất Diệt trước 1975

Tình Sầu Biên Giới

Đây là một trong những bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ thuộc thể loại nhạc vàng. Tình Sầu Biên Giới được sáng tác từ năm 1956, nên có thể xem đây là một trong những bài đầu tiên của thể loại nhạc vàng. Ca khúc với những lời hát giản dị thể hiện được tình vợ chồng tha thiết đẹp đẽ trong thời ly loạn:

Đêm hôm qua lòng biết lòng
Nghe tin chồng về bên sông
Lòng biết lòng
Nhưng mong gì thấy đôi mắt chồng


Click để nghe Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết hát Tình Sầu Biên Giới trước 1975

Bài hát được đôi vợ chồng Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết hát đầu tiên, sau đó các danh ca Hoàng Oanh, Thanh Tuyền cũng thể hiện rất thành công.


Click để nghe Hoàng Oanh hát Tình Sầu Biên Giới trước 1975

Hỏi Người Còn Nhớ Đến Ta

Đây là bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sáng tác vào đầu thập niên 1970 với bút danh Tôn Nữ Trà Mi:


Click để nghe Lệ Thu hát Hỏi Người Còn Nhớ Đến Ta trước 1975

Hỏi vì sao đông buồn mưa tuôn lạnh giá
Hỏi vì sao mây ngàn bỏ núi bay xa
Hỏi vì sao thu vàng đổ lá
Và hỏi tại sao thế giới đông người nhưng chỉ thấy riêng ta…

Mùa Thu Đông Kinh

Ca khúc Mùa Thu Đông Kinh được sáng tác sau thời gian nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có nhiều lần đến biểu diễn nghệ thuật ở thủ đô Đông Kinh (Tokyo) xứ Phù Tang.

Năm 1961, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã thành lập Đoàn Văn nghệ Việt Nam với hơn 100 nghệ sĩ tên tuổi và lưu diễn qua nhiều nước Á Châu cũng như nhiều thành phố trên thế giới: Viêng Chăn, Hồng Kông, Ðài Bắc, Bangkok, Singapore, Sénégal, Paris, London, nhiều nơi ở Hoa Kỳ, và nhiều nhất có lẽ là Đông Kinh ở Nhật Bản. Thời đó thủ đô Tokyo được người miền Nam gọi bằng cái tên rất Việt là Đông Kinh.

Trong những lần sang Nhật đó, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ bị ấn tượng sâu sắc với mùa thu đẹp tuyệt vời ở xứ sở này khi đi qua những con đường có hàng cây lá đỏ, bước chân trên lá khô và nghe gió thu mang hơi lạnh thoảng qua làm những chiếc lá phong vàng rơi trên vai người mà lòng nghe xao xuyến.

Lạc trong Đông Kinh
vừa khi mùa thu gieo thương nhớ
làm tôi ngẩn ngơ nhìn

Qua hồn thơ chiếc áo buồn kimono
Đôi thiên nga trong hồ cô Geisha trên bờ
thiết tha trong mong chờ…


Click để nghe Thái Thanh hát trước 1975

Hình ảnh người geisha trong chiếc áo kimono ngồi buồn nhìn phía xa xăm để trông đợi khách cũng đã gợi cho người nhạc sĩ bao nhiêu hồn thơ, thoáng buồn về thân phận người ca kỹ:

Chờ ai xa xăm từ muôn nẻo đến
Mà chẳng thấy người đâu với cung đàn đang dở dang.
Nhớ thương hoài theo thời gian.

Tiếng koto khơi buồn.
Shamisen não nề.
Khi gió thu về.

Nhớ Thành Đô

Bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ viết về đô thành Sài Gòn, đã gắn liền với giọng hát Thái Thanh, Duy Khánh:


Click để nghe Duy Khánh hát Nhớ Thành Đô trước 1975

Tôi xa đô thành một đêm trăng mông mênh.
Tuy ra đi rồi mà vẫn nhớ vẫn thương hình bóng ấy,
người em thơ đang từng giờ đợi chờ…

Nhạc quê hương, đồng quê

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ được mệnh danh là nhạc sĩ của đồng quê, ông đã sáng tác rất nhiều ca khúc quê hương nổi tiếng ngay từ thời kỳ đầu tiên của sự nghiệp. Nhạc quê hương của Hoàng Thi Thơ đã ảnh hưởng lớn đến một nhạc sĩ thế hệ sau cũng nổi tiếng với nhiều bài nhạc quê hương là Thanh Sơn.

Sau đây mời các bạn nghe lại video tuyển chọn những bài nhạc quê hương, đồng quê nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, điều đặc biệt là hầu hết những bài hát này đều được song ca. Video dưới đây gồm các bài hát:

  • Rước Tình Về Với Quê Hương (Bùi Thiện & Thanh Tuyền)
  • Tình Ca Trên Lúa (Duy Khánh & Thanh Tuyền)
  • Duyên Quê (Ngọc Cẩm & Nguyễn Hữu Thiết)
  • Đám Cưới Trên Đường Quê (Sơn Ca)
  • Đưa Em Qua Cánh Đồng Vàng (Nhật Trường & Họa Mi)
  • Đưa Em Xuống Thuyền (Bùi Thiện & Sơn Ca)
  • Múc Ánh Trăng Vàng (Ngọc Cẩm & Nguyễn Hữu Thiết)
  • Một Miếng Trầu Duyên (Ngọc Cẩm & Nguyễn Hữu Thiết)
  • Việt Nam Ơi Ngày Vui Đã Tới (Bùi Thiện & Sơn Ca)


Click để nghe video tuyển chọn các bài nhạc quê hương của Hoàng Thi Thơ

Gạo Trắng Trăng Thanh – Trăng Rụng Xuống Cầu

Trong gia tài ca khúc đa dạng vể thể loại và đồ sộ về số lượng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, có 2 ca khúc đặc biệt, khác biệt và không thể không nhắc đến khi nói về nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, đó là 2 ca khúc Gạo Trắng Trăng Thanh – Trăng Rụng Xuống Cầu, đã gắn liền với tên tuổi của đôi song ca miền Thùy Dương là vợ chồng Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết từ thập niên 1950.


Click để nghe Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết hát Gạo Trắng Trăng Thanh trước 1975


Click để nghe Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết hát Trăng Rụng Xuống Cầu trước 1975

Những bài nhạc buồn

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sáng tác nhạc rất đa dạng chủ đề, giai điệu và cảm xúc, trong số đó có khá nhiều bài hát buồn, rất buồn. Sau đây là những bài hát buồn nhất của ông:


Click để nghe Mỹ Thể hát Ai Buồn Hơn Ai trước 1975


Click để nghe Khánh Ly hát Những Ngày Thơ Mộng trước 1975


Click để nghe Thúy Nga hát Điệu Buồn Dang Dở trước 1975


Click để nghe Thanh Lan hát Tạ Tình trước 1975

Trong số những ca khúc buồn của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, có bài ông sáng tác sau năm 1975, nội dung rất buồn, có thể nói là buồn nhất của nhạc Việt, đó là Rồi Có Một Ngày. Mời các bạn nghe sau đây:


Click để nghe Don Hồ hát Rồi Có Một Ngày

Những bài nhạc vui

Có nhạc buồn và cũng có nhạc vui, và nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã có khá nhiều ca khúc vui tươi, vui nhộn, và cả 1 số bài hát thể loại kích động nhạc. Mời các bạn nghe sau đây:


Click để nghe Thanh Lan hát Ô Kìa Đời Bỗng Dưng Vui trước 1975


Click để nghe Mai Lệ Huyền hát Xây Nhà Bên Suối trước 1975


Click để nghe Connie Kim hát Túp Lều Lý Tưởng trước 1975


Click để nghe Carol Kim hát Cái Trâm Em Cài trước 1975


Click để nghe Thanh Lan hát Tình Đêm Liên Hoan trước 1975


Click để nghe Thúy Nga hát Tôi Nhớ Tên Anh trước 1975


Click để nghe Thanh Lan hát Hình Ảnh Người Em Không Đợi trước 1975


Click để nghe Sơn Ca – Bùi Thiện hát Tình Ta Với Mình trước 1975

Đông Kha – chuyenxua.vn

Cuộc đời và sự nghiệp của nghệ sĩ Ngọc Giàu qua bài báo xưa 60 năm trước

Nghệ sĩ Ngọc Giàu tên thật là Công Tôn Nữ Thị Giàu, sinh năm 1945, xuất thân trong gia đình Huế di cư vào Nam sinh sống ở vùng An Khánh – Thủ Đức, thuộc dòng dõi quý phi Lê Ngọc Bình (công chúa nhà Hậu Lê, sau trở thành hậu cung của Cảnh Thịnh Đế Nguyễn Quang Toản nhà Tây Sơn, và cuối cùng là phi tần của hoàng đế Gia Long).

Nghệ sĩ Ngọc Giàu đã bước chân vào sân khấu từ năm 1953 khi ở tuổi lên 9, được xem là một trong những nghệ sĩ cải lương, cổ nhạc được yêu thích nhất và có giọng hát bền bỉ nhất, tham gia nghệ thuật liên tục suốt gần 70 năm qua.

Nghệ sĩ Ngọc Giàu tuổi 16

Để tìm hiểu về cuộc đời của Ngọc Giàu, cũng như sự nghiệp sân khấu của bà trong những năm đầu tiên, mời các bạn đọc lại các bài báo được xuất bản từ đầu thập niên 1960 (60 năm trước) sau đây:

Bài báo trên báo Phụ Nữ Diễn Đàn:

Tư liệu của Thùy Trang

Một sắc đẹp khiêm nhường, một thiên tài sớm xuất hiện nhưng vẫn từ tốn, lễ độ, không kiêu căng, không tự mãn. Ngọc Giàu chẳng khác nào đóa hoa đồng nội, tuy thơm ngát một phương trời những vẫn khép nép trên mảnh đất quê hương để giữ vẹn đặc tính thuần khiết, chứ không chịu phô trương kênh kiệu như những loài hoa vương giả để một sớm rồi tàn.

Sanh ra trong một gia đình không được sung túc, Ngọc Giàu lại thiếu cả sự may mắn về đường học vấn. Vậy mà nàng đã tỏ ra một người rất đáng khen ngợi về lễ nghĩa. Không vì danh tiếng mà kiêu căng, trái lại Ngọc Giàu còn tìm đủ cách lấy lòng người chung quanh, nghệ sĩ cũng như khán giả, để đổi lấy những cảm tình triều mến và những điều học hỏi giá trị. Nàng là con út trong gia đình, kiếm được tiền rất sớm, nhưng không vì vậy mà nàng dám tỏ ý tự hào. Một lòng kính mến mẹ cha, trọng anh chị, thương yêu họ hàng, bởi vậy nàng đã được dư luận cũng như báo chí mệnh danh “hiếu nữ”.

Ngọc Giàu bước chân vào nghề là cả một thời gian dài cực khổ, sự thành công của nàng rất xứng đáng với công phu tập luyện thuở ấu thơ. Nhờ anh nàng là nghệ sĩ Thành Tâm nên nàng học ca vọng cổ từ lúc nhỏ. Nàng tâm sự với chúng tôi:

“Em học ca cực lắm anh ơi. Hồi đó còn nhỏ, ở nhà nhờ anh Tâm đờn và tập cho em ca, mỗi lần ca rớt là ảnh đánh liền. Em vừa khóc thút thít là ảnh đã hô “vô”, em vội quệt nước mắt vô liền cho đúng nhịp”.

Ngọc Giàu mỉm cười nói tiếp:

“Mà cũng nhờ cực vậy nên ngày nay mới khá được anh ạ”

Như chợt nhớ điều gì, nàng cười khúc khích một lát sau mới nói:

“Vậy chứ hồi nhỏ em gan lắm nghe anh! Có lần em trốn anh Tâm, em trải chiếu ra ngoài bờ sậy rậm rì thật xa nhà. Ảnh đi kiếm cả ngày mới thấy”.

Ngọc Giàu lúc nào cũng cười vui nhưng nàng lại chứa cả một tâm sự buồn khó tả. Nàng bảo:

“Em buồn nhiều lắm anh ạ, những nỗi buồn không thể nói ra”.

Từ ngày Ngọc Giàu ca vững được ít lâu thì đoàn Kim Phụng mời nàng gia nhập lần đầu tiên. Kế đó đến đoàn Thanh Thanh Văn Khá, rồi Tỷ Phượng, Thanh Tâm, Cửu Long, Ngọc Kiều, Minh Hùng, Mai Lan Phương, Kim Chưởng.

Vừa nghỉ đoàn Kim Chưởng là nàng đoạt giải Thanh Tâm năm 1960, vinh dự huy chương vàng về tài nghệ lẫn đức hạnh.

2 nghệ sĩ Bích Sơn và Ngọc Giàu cùng đoạt giải thưởng Thanh Tâm cao quý năm 1960

Liền đó, nàng được mời gia nhập đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Đứng trên sân khấu đại bang, tài nghệ Ngọc Giàu càng xuất sắc vượt bực. Ở bên cạnh Thanh Nga, Ngọc Giàu được sự giúp đỡ tận tình của người bạn gái đáng quý nên nàng lại càng có cơ hội phát triển tài năng và thiên khiếu. Hỏi về hy vọng tương lai, nàng đáp:

“Em chỉ mong sao diễn xuất và giọng ca của em giữ được cảm tình khán giả mãi mãi để tạo cho em một chỗ đứng vững vàng trong kịch giới. Nhờ đó em sẽ kiếm được nhiều tiền phụng dưỡng cha mẹ và tự kiến tạo một tương lai cho bản thân.”

Chúng tôi hỏi: “Còn về NGƯỜI CHỒNG LÝ TƯỞNG của Ngọc Giàu phải như thế nào?”

Nàng đỏ hồng đôi má, hơi suy nghĩ rồi mới đáp:

“Em thì chưa tính tới chuyện đó. Hiện nay em còn nghĩ nhiều đến mẹ cha, đến nghệ thuật. Nhưng nếu có nghĩ đến chuyện đó thì em cũng mong như phần đông các bạn gái khác là lấy được người chồng hiểu biết, lo cho gia đình, thành thật thương mến vợ con. Nghĩa là em mong có một gia đình hoàn toàn hạnh phúc vậy thôi”.

Trước khi tiễn chúng tôi ra về, nàng còn tâm sự: “Anh ạ, một đêm buồn quá, em nằm khóc và tình cờ đặt được 3 câu vọng cổ. Chừng nào em đặt xong hết 3 câu sẽ hát cho anh nghe”.

Chúng tôi mỉm cười:

“Hân hạnh quá, nhưng Ngọc Giàu nhớ viết ra để tặng toàn thể độc giả Phụ Nữ Diễn Đàn nữa chứ?”

Nàng đáp: “Lẽ dĩ nhiên, em đâu dám quên điều đó”.

Chúng tôi ra về, lòng không khỏi vui khi nghĩ tới Ngọc Giàu: Đóa Hoa Đồng Nội ấy tuy khép nép khiêm tốn nhưng hương thơm vẫn tỏa ngát khắp ngàn phương.

Nàng có thể lừng danh bất cứ trong hoàn cảnh nào, vì nàng là loại vàng thật không bao giờ sợ thử lửa. (Bài báo của Trọng Minh – Bạch Tuyết, báo Phụ Nữ Diễn Đàn)

Sau đây, mời các bạn đọc thêm bài viết của Sĩ Trung về Ngọc Giàu đăng trên Kỷ yếu giải Thanh Tâm hơn 60 năm trước:

Tư liệu của Thùy Trang

Trong số nghệ sĩ trẻ của sân khấu cải lương ngày nay, người ta chú ý đến tài nghệ và triển vọng của một vài cô đào tài hoa có thể tạo cho người yêu kịch nghệ một niềm hy vọng ở tương lai ngành ca kịch.

Con số nhỏ nhoi này, tuy chưa đủ sức kéo lôi ngành nghệ thuật cổ điển ra khỏi tình trạng thấp kém như hiện nay, nhưng cũng đã và đang làm cho giới thanh niên trí thức chú ý đến họ một cách đặc biệt, nghĩa là nhờ có họ mà người ta còn lưu luyến đến sân khấu ca kịch. Chúng tôi không bi quan trước thực trạng của cải lương, nhưng chúng tôi cảm thấy không vui khi hoài công đi tìm những con chim lạ, khám phá những mầm non đầy triển vọng để tìm nhân tố trẻ trung cho nàng nghệ thuật cổ điển nầy.

Tron thời gian theo dõi hoạt động sân khấu ca kịch, chúng tôi chỉ tìm thấy được một vài nữ diễn viên hoặc có thực tài, hoặc có rất nhiều triển vọng ở tương lai, và họ có thể đại diện tương đối cho lớp người trẻ đang phục vụ cho ngành sân khấu ca kịch.

Các cô Thanh Nga, Bích Sơn, Ngọc Giàu, Thanh Thanh Hoa là bộ mặt của ngành sân khấu trẻ trung mà nếu chúng ta khéo khai thác, họ sẽ đủ khả năng làm thỏa mãn cảm quan phức tạp của chúng ta.

Đi lên từ hố thẳm

Ngọc Giàu, hiện là diễn viên khá quan trọng của đoàn hát Thanh Minh bên cạnh Thanh Nga. Trong số các huy chương vàng giải Thanh Tâm, Ngọc Giàu làm chúng tôi chú ý nhiều hơn hết. Không phải vì cô đẹp như Thanh Nga, dễ yêu như kiều nữ Bích Sơn, hay “ngoạn mục” như Thanh Thanh Hoa, cô bình thường lắm, nhưng chỉ vì cô đã tạo được vinh quang ở buổi đầu bằng tất cả cố gắng, tận tụy và hy sinh cho nghề nghiệp ở cái tuổi 16, tuổi ngây thơ chưa vào đời.

4 nữ nghệ sĩ tài danh đã đoạt giải Thanh Tâm: Thanh Nga (1958), Ngọc Giàu (1960), Lan Chi (1959), Bích Sơn (1960)

Năm 1961, ở dêm lãnh huy chương vào giải Thanh Tâm 60, Ngọc Giàu đứng cạnh bên các vì sao sáng: Bích Sơn, Thanh Nga, Lan Chi, giống như người em bé nhỏ nông dân lạc lỏng nơi chốn thị thành đầy ánh sáng. Trông sắc vóc của cô, không ai nghĩ rằng đó là một trong hai cô đào triển vọng của nền ca kịch năm 1960 ấy. Ngọc Giàu, một nữ diễn viên 16 tuổi, quá trẻ mà đã sớm đạt danh vọng.

Trước đó một năm, Ngọc Giàu đã gây cho chúng tôi sự thích thú khi cô thủ một vai đào thương trong vở hát rất kém “Tim Vàng Ai Xẻ làm Đôi” trình diễn trên sân khấu Kim Chưởng. Cô đã vận dụng tài nghệ cá nhân để ngoi lên khỏi cái dở của soạn phẩm; nét diễn linh động, hơi ca phong phú, ngọt ngào của cô đã làm cho người ta quên bẵng đi cái tuôi 16 thơ dại.

Chính ngay sau vở hát ấy, chúng tôi đã đặt nhiều tin tưởng ở Ngọc Giàu và một năm qua nữa, cô đã chiếm Huy chương vàng giải Thanh Tâm 1960 thật vẻ vang bên cạnh kiều nữ Bích Sơn. Mọi người hoan hỉ đón nhận tin ấy và cho rằng đó là một phần thưởng tinh thần xứng đáng ban tặng cho người nữ nghệ sĩ bé nhỏ của làng ca kịch. Nếu người ta biết rõ quá khứ hoặc gia cảnh của cô, sẽ càng ngạc nhiên thích thú hơn khi được biết cô thành công trên đường sự nghiệp.

Là một cô gái của miền sông Hương núi Ngự, Ngọc Giàu đi về Nam, trống rỗng với sự nghiệp cơ hàn của song thân. Thuở ấy không ai ngờ được cô bé gái đen đúa xấu xí ấy sẽ trở thành một nghệ sĩ hữu danh sau nầy, cho đến bây giờ nhìn Ngọc Giàu đêm đê rực rỡ trên sân khấu, dưới ánh đèn mầu, không ai còn nhận ra cô bé Công Tôn Nữ Ngọc Giàu đã mở mắt chào đời giữa mùa binh lửa tại làng An Khánh xa xôi.

Cô thôn nữ Ngọc Giàu đã trải qua những ngày tháng buồn tẻ của một cô sen, nữ tỳ, vai phụ từ đoàn Kim Phụng, Thanh Thanh (Văn Khá), Mai Lan Phương, rồi đến Tỷ Phượng, Cửu Long, Minh Hùng, Ngọc Kiều, Kim Chưởng. Lăn lóc trong 8 năm trời, từ 8 tuổi đến vừa đúng tuổi dậy thì, cô đào trẻ Ngọc Giàu mới đạt được vinh quang, tuy quá sớm nhưng khổ nhọc không phải ít.

Ngay sau khi đạt giải thưởng, Ngọc Giàu được mời về gánh lớn, đoàn Thanh Minh Thanh Nga với một số tiền công tra hằng mấy trăm ngàn đồng với và với số tiền thù lao mỗi đêm những năm trăm đồng. Cái tuổi 17 hãy còn bé bỏng lắm, nhưng Ngọc Giàu đã kiếm ra được số tiền lớn gây hạnh phúc cho cha mẹ, anh em, như vậy hẳn Ngọc Giàu đã được sanh nhầm số đỏ. Cuộc sống ở quá khứ cũng như sắc diện bên ngoài của Ngọc Giàu khiến ai nấy ngạc nhiên thích thú trước cái hiện tại vàng son của cô.

Yếu tố quyết định sự thành công của cô chính là khả năng ca diễn thiên phú, một hiện tượng mâu thuẫn với thực chất người con gái chỉ được có mỗi cái duyên như cô. Trong sắc diện của một thôn nữ chất phác, mộc mạc, tạo hóa đã gửi gắm một hơi ca trầm ấm, ngọt ngào và truyền cảm, một tính tình thùy mị dễ thương. Tinh thần chịu đựng và sự khôn ngoan hiểu rõ vị trí, sở trường sở đoản của mình, đã giúp Ngọc Giàu càng ngày càng tiến dần đến mức trưởng thành của nghệ thuật ca diễn trên sân khấu.

Thật thế, từ ngày về hát cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga, Ngọc Giàu đã chứng minh được tài nghệ của mình. Đứng bên cạnh Thanh Nga, Ngọc Giàu biết rõ mình thua sút về sắc diện hay địa vị, nên cô đã vận dụng khả năng ca, diễn độc đáo để lấy đầy khuyết điểm của mình.

Ngọc Giàu không từ chối một vai gì dù đẹp hay xấu, dù đau khổ, bi thương hay đanh đá, độc ác, và đặc biệt nhất là trong vai nào cô cũng gặt hái được thành công tốt đẹp. Đó là một ưu điểm mà chúng tôi ít thấy ở các cô đào son trẻ, danh vọng khác. Chúng tôi đã phải ngạc nhiên khi xem cô diễn tả tâm trạng đau khổ, tuyệt vọng của các vai trò trong những vở Hoa Rụng Đêm Khuya, Tàu Ra Xứ Huế, hay Phấn Bụi Phù Dung, hoặc chua ngoa trong vở Vườn Hạnh Sau Chùa. Người ta đã thương tặng Ngọc Giàu danh hiệu là nữ nghệ sĩ của 4 mùa, hay diễn viên của thời tiết; dù ở mùa nào thời tiết Ngọc Giàu cũng chịu đựng và sáng chói như ánh thái dương.

Trong năm qua, Ngọc Giàu đã cố đuổi theo Thanh Nga để củng cố thành tích huy chương vàng của mình. Nhờ kiên nhẫn và cô gắng, nàng đã được Ban tuyển chọn Giải Thanh Tâm 61 trao Bằng danh dự khi Huy chương vàng 61 lọt vào tay Thanh Thanh Hoa.

Chỉ vì thiếu yếu tố quan trọng nhất của người con gái là Sắc Đẹp, Ngọc Giàu chưa vượt qua khỏi các huy chương vàng khác như Thanh Nga hay Bích Sơn, nhưng nghệ thuật ca và diễn Ngọc Giàu vẫn là đối thủ đáng ngại nhất của các nghệ sĩ đồng trang lứa và đồng danh vọng. Chúng tôi nghĩ rằng Tạo hóa đã ban cho cô có hơi ca phong phú, một giọng ca ngọt ngào truyền cảm, sao không tạc nắn cho cô một khuôn mặt của thần vệ nữ; cái duyên thầm kín của cô chưa đủ làm chết lòng những kẻ… si tình.

Tư liệu xưa của Thùy Trang sưu tầm
chuyenxua.vn biên soạn

Cuộc sống hiện tại của danh ca Chế Linh ở tuổi ngoài 80 – Một trong những ca sĩ lớn tuổi nhất thế giới vẫn còn đi hát

Nam danh ca Chế Linh được xem là một huyền thoại của dòng nhạc vàng, là một trong những ca sĩ đầu tiên hát nhạc vàng phổ thông thịnh hành và được yêu thích cho đến ngày nay. Ông bắt đầu nổi tiếng từ thập niên 1960, sau đó cùng với các ca sĩ – nhạc sĩ Duy Khánh, Hùng Cường và Nhật Trường được xưng tụng là “tứ trụ nhạc vàng”, và trong bộ tứ này hiện nay chỉ còn lại duy nhất ca sĩ Chế Linh, 3 người còn lại đã tạ thế được nhiều năm.


Click để nghe tuyển tập nhạc Chế Linh thu âm trước 1975

Danh ca Chế Linh tên thật là Jamlen (Trà – len), là người gốc Chăm và có tên tiếng Việt Là Lưu Văn Liên, sinh năm 1942 tại làng Hữu Đức, một làng Chăm ở tỉnh Ninh Thuận, trong gia đình có 3 anh em. Cha của Chế Linh mất sớm, khi đó ông mới được 4 tuổi, sau đó ông có thêm cha kế và 3 người em cùng mẹ khác cha.

Dù gia cảnh khó khăn, cnhưng Chế Linh may mắn được học hành đầy đủ. Lúc nhỏ, khi theo học tại trường làng Hữu Đức, ông được các linh mục người Pháp dạy về nhạc lý căn bản. Lớn lên, ông theo học trung học tại trường Bồ Đề ở Phan Rang.

Năm 1957, khi mới 15 tuổi, Chế Linh trốn gia đình để bỏ làng, rời mảnh đất quê hương quanh năm khô cằn nắng cháy để một mình vào vùng đất hứa Sài Gòn để tự đi tìm tương lai tốt đẹp hơn. Ông kể lại:

“Tôi leo lên xe lửa chỉ với một chồng bánh tráng, một bộ đồ, phía đó không có một người quen biết nào cả, nhưng tôi đã nghĩ chỗ nào cũng là con người, rồi sẽ có tình thương, bao cậu bé đánh giày cũng sống được cơ mà. Khi ấy tôi thậm chí chưa nói thông thạo được tiếng Kinh, chưa biết chữ nên việc đầu tiên là tôi lo kiếm việc để sống chứ chưa có ý thức sẽ học nhạc.

Đến Sài Gòn, ba ngày đầu tôi chẳng có nơi ngủ, chẳng có gì ăn ngoài bánh tráng. Đến ngày thứ tư một ông xích lô đã chở tôi đến gặp gia đình người Tàu để nhận trông con giúp. Ban ngày trông trẻ, buổi tối tôi tự học nhưng không dám thắp đèn của chủ, mà tự mua đèn dầu để học. Thấy tôi như vậy, họ sợ cháy nhà và thương tôi nên đã mua bàn, mua đèn neon cho tôi học. Từ đó gia đình coi tôi như con, ông bà cho tôi đi học.”

Tuy được gia đình người Hoa đối xử rất tốt, được cho ăn học đàng hoàng, nhưng việc làm thuê như vậy không thể giúp tiến thân, không phải là mục đích khi quyết định rời xa quê, nên Chế Linh muốn tìm hướng đi khác cho cuộc đời.

Bằng một nghị lực phi thường, Chế Linh tìm mọi cách để len lỏi được vào trong làng nhạc Sài Gòn, dù lúc đó ông vẫn chưa nói rành tiếng Việt, thường hát nhạc Pháp và nghe cổ nhạc chứ không nghe tân nhạc Việt. Tuy nhiên từ năm 1960, ông quyết tâm bước chân vào làng nhạc với suy nghĩ rằng chỉ có âm nhạc mới có thể giúp hoà đồng được với cuộc sống ở vùng đất mới. Năm 1962, khi tròn 20 tuổi, Chế Linh có may mắn tình cờ gặp lại vị linh mục người Pháp lúc nhỏ đã dạy nhạc cho mình. Vị linh mục tốt bụng đã nhận nuôi và động viên ông tiếp tục đi học.

Trên bước đường đến với âm nhạc, Chế Linh rất may mắn khi gặp được những nhạc sĩ đàn anh hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ trong những năm đầu tiên của sự nghiệp, đó là các nhạc sĩ Châu Kỳ, Trúc Phương, Mạnh Phát, và đặc biệt là Duy Khánh.

Cũng trong năm 1962, đoàn văn nghệ Biệt Chính ở Biên Hòa tổ chức cuộc thi tuyển lựa ca sĩ để bổ sung cho đoàn, Chế Linh đăng ký tham gia, xuất sắc giành được giải nhất và trở thành ca sĩ của Biệt Chính Đoàn, được làm việc chung với nhiều nhạc sĩ nổi tiếng là Trúc Phương, Bằng Giang, Châu Kỳ,…

Đoàn biệt chính tan rã, Chế Linh cùng người bạn thân là nhạc sĩ Bằng Giang iwr lại Biên Hòa, vừa làm thuê vừa luyện giọng, tìm cho mình hướng đi khác biệt so với các nghệ sĩ đàn anh, trước khi trở lại Sài Gòn để chính thức gia nhập làng nhạc Sài Gòn.

Từ lúc này trở đi, với giọng hát gần gũi, tràn đầy tình cảm trong các bài hát được sáng tác riêng cho giọng hát của mình, cùng với sự giúp đỡ tận tình của các nhạc sĩ thế hệ đi trước, Chế Linh nhanh chóng trở thành một hiện tượng. Cuối năm 1964, hãng đĩa Việt Nam ký hợp đồng với tiếng hát Chế Linh trong nhiều năm.

Những năm cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970 đã đánh dấu thời kỳ hoàng kim của tên tuổi Chế Linh. Đặc biệt là năm 1972, ông được nhật báo Trắng Đen trao giải Kim Khánh cho nam ca sĩ được yêu thích nhất. Tuy nhiên, cũng trong năm này, các hoạt động âm nhạc của Chế Linh bị chính quyền bắt đầu kiểm soát, bị cấm hát ở nhiều nơi đặc biệt trên đài phát thanh và truyền hình, với lý do giọng hát của ông gây ảnh hưởng xấu cho tâm lý người lính.

Sau 1975, Chế Linh bị chính quyền mới cấm hát hoàn toàn. Năm 1978, ông bị khép tội phản động, bị bắt và biệt giam 18 tháng.

Năm 1980, Chế Linh vượt biên đến Canada và định cư ở đó đến nay. Tại Canada, ngoài việc ca hát, thu âm, đi lưu diễn ở nhiều nước có người Việt Chế Linh còn kinh doanh và mở phòng thu.

Lần đầu tiên Chế Linh trở về Việt Nam là năm 2007 sau gần 30 năm xa quê hương. Đó là lần ông theo đoàn văn hoá của UNESCO với mục đích bảo tồn văn hóa Chăm, và lần thứ 2 trở về là năm 2008. Tuy nhiên, những lần đó ông không được cấp phép biểu diễn mà chỉ tham gia biểu diễn giao lưu ở các chương trình riêng dành cho cộng đồng người Chăm. Nhân dịp này, ông về quê hương Ninh Thuận để tham dự lễ hội Kate, vì sự có mặt của Chế Linh nên lễ hội năm đó đã thu hút đến 50.000 người, một kỷ lục trong lịch sử lễ hội Kate.

Năm 2011, Chế Linh chính thức được cấp phép biểu diễn ở trong nước, từ đó đến nay ông thường xuyên về Việt Nam trình diễn, dù vẫn định cư ở Canada.

Hiện nay ở tuổi tròn 80, Chế Linh vẫn chưa giải nghệ và còn đi hát. Có thể xem ông là một trong những ca sĩ lớn tuổi nhất thế giới vẫn còn hoạt động văn nghệ ở thời điểm hiện tại. Để giữ được giọng hát trong thời gian suốt 60 năm qua như vậy, Chế Linh đã tự đặt ra những nguyên tắc khắt khe cho chính mình, đó là không bao giờ nói chuyện với ai trước mỗi đêm diễn, thậm chí không nói chuyện cả với vợ. ông chia sẻ: “Ông trời phú cho mình giọng hát thì mình phải luôn giữ giọng và tập luyện thường xuyên. Việc một ngày tôi luyện thanh hát từ 10 tới 20 bài là bình thường.

Cơm có thể ăn bớt một chút nhưng việc tập thể thao và luyện giọng thì ngày nào tôi cũng phải làm. Mệt tôi cũng tập, có khi vài chục phút, có khi vài tiếng. Sau khi ngủ dậy uống cà phê thì phải tập rồi muốn đi đâu thì đi, đó là nếp rồi”.

Ngoài ra, danh ca Chế Linh cũng là người rất nghiêm túc và có bản lĩnh trong nghệ thuật. Ông là ca sĩ hiếm hoi nói không với hát nhép trong suốt sự nghiệp của mình, ngoại trừ một số chương trình buộc phải diễn để thu DVD và công khai cho khán giả biết ca sĩ hát nhép (Như trên Paris By Night hay Asia..). Ông chia sẻ: “Tôi không thích hát nhép, chương trình nào có Chế Linh tham gia, tôi cũng bảo ban tổ chức là: Cho Chế Linh hát live, bởi nhiều khán giả chờ đợi mình cả năm trời để nghe nghệ sĩ hát mà nhép thì tội lắm”.

Trong 2 năm đại dịch hoành hành, từ 2020-2021, Chế Linh không lên sân khấu được, nhưng vẫn bận rộn, thường xuyên làm việc trong phòng thu. Ngoài ra, ông còn đang tiến hành viết hồi ký, ghi lại những hành trình từ vực sâu đến đỉnh cao trong cuộc đời và sự nghiệp của ông. Chế Linh chia sẻ về thời gian dịch bệnh như sau:

“Gia đình tôi không có gì lao đao, vấn đề tài chính không có gì mệt nhoài. Ở đây có Chính phủ hỗ trợ. Đồng thời Chế Linh vẫn làm việc bình thường, làm trong phòng thu cho các trung tâm. Họ đặt mình cái gì thì mình làm cái ấy. Họ trả tiền cho mình”. Bao năm chạy “sô” khắp nơi trên thế giới, dịch bệnh làm thay đổi nhịp sống bình thường, giúp ông có thời gian nghỉ ngơi, viết sách, viết nhạc.


Nghe Chế Linh tuổi 80 hát Bông Hồng Cài Áo, nhân dịp Vu Lan năm 2022

Năm 2022, ngay sau khi tình hình dịch lắng xuống, Chế Linh tiếp nối việc ca hát, thường xuyên nhận show ở Mỹ cũng như Việt Nam. Gần nhất là tháng 9 năm 2022, Chế Linh trở về Việt Nam tham gia các liveshow trên khắp Việt Nam. Có thể nói, ở tuổi 80, trên thế giới hiếm có danh ca nào có giọng hát bền bỉ và nhận được nhiều mến mộ như Chế Linh.

Một số hình ảnh Chế Linh năm 2022, ở tuổi tròn 80:

Đông Kha – chuyenxua.vn