Câu chuyện tình của vợ chồng ca sĩ – diễn viên Nguyễn Chánh Tín – Bích Trâm

Công chúng thường biết đến nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín với hình ảnh của một nam tài tử đào hoa trên màn bạc một thời, nhưng ít ai biết rằng cái nghề đầu tiên đưa ông đến với con đường nghệ thuật chính là ca hát.

Xuất thân từ gia đình khá giả có mẹ là hoa khôi vùng Bạc Liêu. Cha của ông của “hào kiệt” xứ Bạc Liêu – Nguyễn Chánh Minh. Dù người cha thành kiến với đàn ca hát xướng, Nguyễn Chánh Tín đã sớm bộc lộ năng khiếu và đam mê với nghệ thuật. Ông Nguyễn Chánh Minh qua đời khi Chánh Tín mới 15 tuổi.

Sau khi cha mất, ông theo học trường Mạc Đĩnh Chi (Sài Gòn), bắt đầu thực hiện đam mê ca hát. Trong một lần hát thế vào chỗ trống của một chương trình văn nghệ của trường, chàng trai Nguyễn Chánh Tín đã mạnh dạn lên cầm mic hát bài “Nghìn trùng xa cách” khiến bao con tim nữ sinh phải rung động và bắt đầu bén duyên với ca hát cũng từ đây.

Sau khi tốt nghiệp trường Mạc Đĩnh Chi năm 1972, Nguyễn Chánh Tín tiếp tục theo học trường Luật. Lúc này, nhờ sự giúp đỡ của nhạc sĩ Phạm Duy và Dương Thiệu Tước, ông đã hát tại các phòng trà ca nhạc nổi tiếng Sài Gòn lúc bấy giờ.

Nguyễn Chánh Tín gặp vợ là ca sĩ Bích Trâm khi ông đã là một gương mặt rất nổi tiếng của các phòng trà, và tất nhiên cô không phải là người con gái đầu tiên của ông. Giọng nam trầm, đẹp trai, phong độ, Nguyễn Chánh Tín ở tuổi 20 là một thỏi nam châm thu hút rất nhiều cô gái.

Lúc ấy Nguyễn Chánh Tín cũng đã nổi tiếng với những mối tình. Nhưng mối tình ông công khai đầu tiên trên tờ báo Hồng (năm 1972) là với một cô gái hơn tuổi và ông khẳng định cho dù gia đình ngăn cản nhưng “sẽ không thể ngăn cản suốt đời, không bằng lòng tôi cũng lấy”. Và cuối cùng thì ông… không lấy. Bởi sau đó, người thay thế chính là Ngọc Bích (sau này đổi tên là Bích Trâm).

Ngọc Bích là cô sinh viên trường luật, vốn là con gái rượu của một quan chức cao cấp thời bấy giờ và là em gái của Jimmy Tòng, ca sĩ và tay trống của ban nhạc Les Cavaliers. Xung quanh cô có rất nhiều người nổi tiếng mến mộ như nhà báo Trường Kỳ, ca sĩ Tùng Giang, tay bass Tiến Chỉnh… Ngọc Bích từng là thành viên của nhóm nhạc trẻ Spotlight với Khánh Hà, Đức Huy, Billy Shane, Hồng Hải… và được khán giả bình chọn là Ca sĩ dễ thương nhất năm 1967. Sau này cô đổi tên thành Bích Trâm là theo gợi ý của nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng vì ông cho rằng tên gọi Ngọc Bích trùng với nhiều ca sĩ hát tân nhạc, cải lương thời đó. Bích Trâm dáng nhỏ nhắn, xinh xắn, hát nhạc Pháp rất hay, cô được xem là France Gall Việt Nam.

Ca sĩ Bích Trâm

Thời điểm này, Nguyễn Chánh Tín và Bích Trâm đang cùng sinh hoạt trong Ban văn nghệ của trường Đại học Luật Sài Gòn nên bắt đầu quen nhau và cùng đi biểu diễn. Dù nhan sắc không thực sự nổi bật như những “bóng hồng” vẫn cặp kè với Nguyễn Chánh Tín trên màn ảnh nhưng Bích Trâm vốn xuất thân từ gia đình trí thức, từ nhỏ tới lớn, cô theo học trường dòng, từng nhận được học bổng du học của Pháp.

Ông Nguyễn Chánh Tín lúc bấy giờ sở hữu 1 chiều cao vượt trội cùng với vẻ ngoài lãng tử, lại cảm thấy ghét cô nàng Bích Trâm vì cho rằng những cô học trường Tây chẳng xem ai ra gì, mà đi học lại có người đưa rước. Không ngờ trong một lần đi hát chung, Nguyễn Chánh Tín mời cô nàng đi ăn bò bía ven đường và mới hiểu rằng cô gái xinh đẹp này không như ông nghĩ, lại còn dịu dàng thông minh.

Chánh Tín và Bích Trâm song ca trong một tiết mục

Nhưng lúc ấy họ vẫn còn lần lữa. Nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín nhớ lại: “Cô ấy học trường Tây nên tôi đã thấy mặc cảm và không ưa nhưng càng ghét nhau thì tôi lại càng để ý và duyên cớ thật sự để chúng tôi đến với nhau một cách chính thức lại là nhờ… đám tang của một người bạn chung, đó là tổng thư ký ban chấp hành luật của trường. Hôm đó khuya quá, khi đám tang vừa xong tôi thấy Bích Trâm không đón được xe về nên tôi hỏi cô ấy có muốn quá giang không. Sau một hồi suy nghĩ Bích Trâm đồng ý leo lên chiếc xe máy cà tàng của tôi vì nếu về trễ cô sẽ bị cha mẹ rầy. Thật sự lúc ấy chiếc xe của tôi không xứng với vẻ đài các của Bích Trâm bởi cô sinh ra trong một gia đình quyền quý. Tối hôm đó, trên đường bờ đê đầy ổ gà nên cô ấy buộc phải ôm sát lấy tôi để khỏi bị té, trời thì mưa, hai đứa ướt như chuột lột. Từ đó, chúng tôi bắt đầu cảm mến nhau và sau đó thì nảy sinh tình cảm”.

Thời điểm bấy giờ, Bích Trâm giao tiếp chủ yếu bằng tiếng Pháp. Khi tỏ tình, Nguyễn Chánh Tín vừa nói tiếng Việt vừa ra hiệu để bạn gái hiểu. Khi được người yêu đồng ý, nam nghệ sĩ ôm chầm lấy cô và trao nhau nụ hôn ngọt ngào.

Yêu nhau và muốn đến với nhau nhưng bị gia đình ngăn cấm. Thời điểm đó, sự khác biệt về 2 gia đình quá lớn, gia đình bà Bích Trâm không muốn con gái qua lại với Nguyễn Chánh Tín. Quyết chứng minh cho gia đình 2 bên biết được tình yêu chân thành, Bích Trâm hàng ngày luôn tác động tới cha mẹ. Còn phía Nguyễn Chánh Tín, ngày nào ông cũng đến nhà Bích Trâm ngồi từ 5h chiều tới tận gần 12h đêm. Vì những hành động ấy, cả 2 đã được chấp thuận để trở thành bạn đời của nhau.

Đám cưới Nguyễn Chánh Tín – Bích Trâm

Cuối năm 1973, cặp đôi làm lễ cưới trong nỗi lo toan của gia đình nhà gái vì Chánh Tín đẹp trai lại có vẻ phong trần, lãng tử. Hồi đó Nguyễn Chánh Tín có tiếng là tự cao. Ông từng tuyên bố bỏ hát phòng trà để đi đóng phim vì tiền thù lao phòng trà quá thấp. Tiền đóng một bộ phim có thể đủ sống một năm và danh tiếng của ông cũng lên nhiều từ khi đóng phim.

Năm 1974, Chánh Tín đóng cặp với diễn viên, ca sĩ Băng Châu trong phim “Vĩnh biệt tình hè” của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Trước đó, ông đã xuất hiện trên màn ảnh rộng trong phim “Đời chưa trang điểm” của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc.

Nguyễn Chánh Tín và ca sĩ Băng Châu trong phim Vĩnh Biệt Tình Hè

Từ khi cưới vợ, Nguyễn Chánh Tín lại quay về phòng trà để hát cùng Bích Trâm và họ tạo thành một trong những cặp song ca được yêu thích nhất thời bấy giờ. Nguyễn Chánh Tín mua biệt thự, xe hơi, tổ chức đám cưới bằng tiền của mình “và khi cả hai kết hợp đi hát cùng nhau thì càng lại hái ra tiền” – ông nhớ lại.

Vợ chồng Nguyễn Chánh Tín trên sân khấu

Sau năm 1975, vợ chồng Nguyễn Chánh Tín – Bích Trâm bỗng dưng trở thành những người thất nghiệp, vì hoạt động văn nghệ như thời Sài Gòn cũ đã bị cấm cửa hoàn toàn. Họ đã phải làm nhiều nghề chân tay để kiếm sống.

Giai đoạn khủng hoảng nhất trong cuộc sống vợ chồng của đôi uyên ương là giai đoạn 1977, khi cả hai đều không có nghề nghiệp. Ngày ấy, dù Bích Trâm đang mang bầu đứa con đầu lòng nhưng vẫn phải cùng chồng ra chợ bán rau, bỏ mối nước ngọt ở chợ Bình Tây dù trước đó họ từng là “hoàng tử, công chúa” có một cuộc sống sung túc.

Sau đó một thời gian, khi các đoàn văn nghệ được hoạt động trở lại, vợ chồng ông đi hát ở Đoàn Bông Hồng. Lúc ấy ông mượn xe đạp chở vợ đi hát hàng đêm, vậy mà chiếc xe đạp cũng bị mất trộm. Người bạn cho ông mượn xe nghi ngờ rằng vợ chồng ông bán xe đạp để sống qua ngày. “Thật sự lúc ấy tôi nghĩ khổ thế này là tận cùng rồi”.

Nhưng trời chẳng bắt ai khổ đến tận cùng. Sau đó, cả hai vợ chồng ông dần khởi nghiệp lại được. Ngoài biểu diễn ở Đoàn Bông Hồng, cả hai còn đi hát ở nhiều tụ điểm và cuộc sống cũng bắt đầu dễ thở hơn. Đến khi bộ phim Ván bài lật ngửa được phát hành thì tên tuổi của Nguyễn Chánh Tín nổi như cồn, trở thành đỉnh cao trong sự nghiệp của ông.

Năm 1982, Chánh Tín được chọn đóng vai đại tá Nguyễn Thành Luân trong phim “Ván bài lật ngửa” của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Vai diễn đánh dấu sự tỏa sáng trong sự nghiệp diễn xuất của ông.

“Đến lúc ấy tôi mới bắt đầu có tiền và tích cóp mua được căn nhà và cuộc sống bắt đầu đi vào ổn định” – Nguyễn Chánh Tín tâm sự.

Nguyễn Chánh Tín là mối tình đầu tiên của nữ danh ca Bích Trâm. Nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín thừa nhận: “Vợ tôi là một người rất dễ tha thứ, bà ấy là một người yêu thương tôi thật sự và chính vì thế bà ấy mới chịu đựng được tôi bởi tôi vốn là một người rất đào hoa”.

Chia sẻ về đời sống hôn nhân với một nghệ sĩ nổi tiếng, bà Bích Trâm ngậm ngùi: “Kết hôn với một nghệ sĩ nổi tiếng như Chánh Tín có nhiều áp lực lắm. Ngay cả khi đã vợ con rồi vẫn có người đến tận nhà chơi sau đó 2 người hẹn hò đi đâu, tôi cũng chẳng nói. Ông Tín thích thì cứ đi, khi nào mệt mỏi thì về. Tôi cũng tin ông ấy biết đâu là giới hạn và tình yêu thì chỉ dành cho tôi nên khi ông ấy thất thế, tôi phải trở thành điểm tựa của cả gia đình chứ nếu tôi quỵ thì xem như tan nát hết”.

Bích Trâm thừa nhận bà chưa bao giờ bắt ghen chồng. Tuy nhiên, một lần, xưởng phim chồng tham gia gửi công văn đến bà và tiết lộ sự thật. “Hãng phim gọi tôi lên và bắt cô thư ký đọc cho tôi viết một đơn thưa cô người yêu của chồng ở ngoài Bắc vào. Họ sợ cô ấy gặp anh rồi tôi khổ. Đó là lần đầu tiên và duy nhất trong cuộc đời của tôi chứ tôi không bao giờ bắt ghen”.

Bà Bích Trâm nói thêm: “Mỗi đêm anh chở tôi đi hát, đi hát về rồi anh bỏ tôi ở nhà rồi anh lại đi. Qua ngày hôm sau, có một cô từ Nha Trang vào kiếm anh ấy. Tôi cũng mời cô đó vào nhà, mời uống nước và ăn sáng. Khoảng 9h anh ấy về tới, vừa vào cửa tôi nói: “Anh ơi có cô gì ấy từ Nha Trang vào kiếm anh. Anh ấy bảo ủa vậy hả rồi quay xe đi luôn…

Một lần khác, đêm đó có một cô ngoài Bắc vào, thời gian ấy đi hát về tôi ghé vào nhà mấy anh trưởng đoàn ăn uống, chơi đến khoảng 11 giờ thì về, anh ấy lại đi. Anh ấy đi được một lúc, tôi thấy công an khu vực gọi báo anh ấy bị bắt với một cô gái”.

Trước chia sẻ của vợ, Nguyễn Chánh Tín trải lòng về việc này: “Đó là đêm Noel, cô ấy đi vào thăm tôi bất ngờ. Tôi đưa cô ấy về phòng ngủ, vừa về tới nơi hai đứa bị té. Bị ngã, công an dựng xe giúp tôi. Tôi cãi lộn với họ nên hai đứa bị bắt nhốt, vì thế mới bị lộ với vợ. Tôi thấy không ai bằng vợ mình. Nhiều khi tôi cũng ngán đủ kiểu, phải bỏ nhà đi một đến hai bữa cho đỡ rồi về. Sau này nhiều và nhiều lần nữa, có những lúc tôi lầm lỗi, vợ tôi một mình nuôi con”.

Biết chồng ngoại tình với người phụ nữ khác, thay vì làm lớn chuyện, bà Bích Trâm lại cư xử nhẹ nhàng, đúng mực. Bà thừa nhận, bản thân chưa từng nghĩ đến chuyện ly hôn. Nhờ đức tính chịu thương, chịu khó của vợ, nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín đã nhận ra lỗi lầm và dần thay đổi bản thân theo hướng tích cực.

Bích Trâm là người quan trọng nhất trong cuộc đời Nguyễn Chánh Tín. Bà đã cùng ông trải qua mọi khó khăn của cuộc sống, sẵn sàng lui về phía sau từ những năm 1990 để một mình chồng hoạt động văn nghệ còn bản thân chăm chút từng tí cho gia đình. Hồi 5 năm trước, khi cuộc sống của vợ chồng Nguyễn Chánh Tín gặp hoạn nạn vì bị xiết nợ, mất nhà, một lần nữa bà Bích Trâm sẵn sàng cùng chồng làm lại từ đầu. Họ đi hát lại cùng nhau và họ vẫn nhìn nhau mỉm cười.

Rạng sáng ngày 4/1/2020, Nguyễn Chánh Tín đột ngột qua đời trong một giấc ngủ ở nhà riêng, hưởng thọ 68 tuổi.

Nghệ sĩ Chánh Tín đóng cặp cùng diễn viên Diễm My trong một bộ phim phát hành năm 1986

Chánh Tín (phải) cùng diễn viên Lê Khanh trong phim “Chiếc mặt nạ da người” do chính ông sản xuất những năm cuối thập niên 1990

Nguyễn Chánh Chánh Tín cùng cháu ruột là Johnny Trí Nguyễn (Nguyễn Chánh minh Trí) trong phim “Dòng máu anh hùng” năm 2007

Tổng hợp

Khái quát về những con đường đầu tiên của Sài Gòn

Nói đến lịch sử hình thành của một thành phố, bao giờ cũng phải nhắc đến sự hình thành của những đại lộ và con đường đầu tiên. Đối với Sài Gòn, những con đường đầu tiên và nổi tiếng nhất có thể kể đến là đường Hai Bà Trưng, Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai), Lê Lợi, Nguyễn Huệ, và đặc biệt là đường Catinat – Tự Do.

Trong bài viết này, cùng nhìn lại khái quát những năm đầu tiên hình thành những con đường nổi tiếng đó.

Đường Catinat – Tự Do (Đồng Khởi)

Catinat là một trong những con đường cổ xưa nhất của Sài Gòn, có từ trước khi Pháp đến chiếm thành phố này. Nhìn trên bản đồ, chúng ta có thể thấy đây là con đường đi từ sông Sài Gòn dẫn thẳng vô thành Gia Định cũ (thành Quy do vua Gia Long cho xây dựng từ cuối thế kỷ 18). Lúc đầu Pháp gọi đường này là đường số 16 (rue No.16), đến tháng 2 năm 1865 đổi thành đường Catinat. Con đường được đặt theo tên của một thống chế Pháp dưới thời vua Louis XIV, về sau được đặt tên cho một tàu chiến Pháp đã tham gia đánh vào cảng Đà Nẵng năm 1856 và chiếm Sài Gòn năm 1859.

Vào năm 1920, một số thành viên của Hội đồng thành phố Sài Gòn nêu ý kiến đề nghị đổi tên đường Catinat và một số đường khác vì cho rằng “những cách gọi tên đường ấy mà bây giờ không còn đáng quan tâm gì nữa có lẽ nên được thay thế bằng những cái tên lấy từ những sự kiện của WWI (1914-1918)”. Nhưng sau đó, một ủy ban chuyên trách về vấn đề này cho rằng không nên đổi tên vì làm như vậy “sẽ gây lúng túng vì người ta đã quen rồi, không những đối với người dân Nam kỳ mà kể cả những người ngoại quốc có dịp ghé thăm Sài Gòn”. (trích biên bản họp của Hội đồng thành phố Sài Gòn ngày 26/4/1920).

Vào lúc trước và sau khi xây nhà thờ Đức Bà (năm 1877), đường Catinat còn kéo dài cho tới đường rue des deux Cimetières (nay là đường Võ Thị Sáu), nhưng kể từ năm 1897 thì tên đường Catinat chỉ còn tính từ bờ sông Sài Gòn lên tới nhà thờ Đức Bà (dài khoảng 900m), đoạn còn lại được đặt tên là Bancsubé (sau là đường Duy Tân, nay là Phạm Ngọc Thạch). Sau năm 1955, đường Catinat được đổi tên thành đường Tự Do, từ năm 1975 đến nay mang tên đường Đồng Khởi.

Sau năm 1859, bề ngang con đường Catinat rất không đồng đều, chỗ rộng chỗ hẹp, rải đá dăm đỏ (latérite) và hai bên đường ở phía gần bờ sông thì hai bên đường vẫn còn nhiều mương ứ đọng nước. Một viên đại úy Pháp là Léopold Pallu mô tả đường Catinat năm 1861 như sau:

“Kẻ lữ khách mới tới Sài Gòn sẽ thấy bên phía hữu ngạn của con sông một kiểu đường mà hai bên thường bị ngắt quãng bởi những khoảng không gian trống. Các căn nhà, đa số bằng gỗ, lợp lá dừa nước; một số ít ngôi nhà khác được xây bằng đá. Mái ngói đỏ của những ngôi nhà này cũng làm vui mắt kẻ đi đường”.

Hình vẽ một ngôi nhà trên đường Catinat năm 1864

Catinat là con đường đầu tiên của Sài Gòn mà Pháp cho chỉnh trang để làm thành một đường phố của đô thị, và lúc đó, những trục đường chính khác đều được làm song song với con đường này theo hướng từ tây-bắc xuống đông-nam, đi về phía bờ sông Sài Gòn, như đường Nationale (nay là đường Hai Bà Trưng), đường Hôpital (nay là Thái Văn Lung), đường Citadelle (nay là 2 đường Đinh Tiên Hoàng và Tôn Đức Thắng).

Do đó, Catinat cũng là dãy phố có nhiều cửa hàng và quán xá đầu tiên của Sài Gòn. Khoảng năm 1869-1870, đây là con đường đầy tiệm làm giày, tiệm may, tiệm bán thực phẩm khô… Đường Catinat là một trong những con đường đầu tiên của Sài Gòn được tráng nhựa vào khoảng năm 1906 – 1907, và khi mới được tráng nhựa, người dân thường gọi đây là đường “Keo Su”.

Đường Catinat 100 năm trước

Kể từ đầu thời Pháp thuộc cho đến tận ngày nay, con đường này luôn luôn là một con đường trung tâm mang tính chất phố thương mại và có những tiệm thuộc hạng sang nhất của cả thành phố Sài Gòn mà hầu như bất cứ người khách vãng lai nào ghé qua Sài Gòn cũng đều đã có lần đặt chân đến. Tại đây có những địa điểm nổi tiếng trong lịch sử Sài Gòn như khách sạn Continental, khách sạn Majectic, tiệm Givral, tiệm Brodard, nhà sách Albert Portail rất rộng mà một phần trở thành nhà sách Xuân Thu vào khoảng giữa thập niên 1950 (từ năm 2011, nhà sách này không còn ở đây nữa), hay khu thương mại Passage Eden…

Đường Catinat thập niên 1920, phía trước (ngay chỗ xe ngựa) là ngã tư Catinat – Vannier (nay là Đồng Khởi – Ngô Đức Kế)

Đại lộ Nguyễn Huệ: từ kinh Chợ Vải đến đại lộ

Con đường Nguyễn Huệ hiện nay chỉ dài khoảng 0,7km, đi từ Dinh Xã Tây (Tòa thị chính Sài Gòn, thường được gọi bằng cái tên Tòa Đô Chánh, nay là UBND thành phố) cho tới bờ sông Sài Gòn.

Lúc Pháp đánh vào Sài Gòn năm 1859, đây vẫn còn là một con kinh mà hồi ấy người Việt thường gọi là kinh Chợ Vải, người Pháp gọi là Grand Canal (kinh Lớn) hay Kinh Charner. Hai bên kinh có hai con đường, lúc đầu được Pháp đặt tên là đường số 18, nhưng kể từ tháng 12-1865, con đường bên bờ hữu ngạn (phía tây nam) chính thức trở thành đường Charner, còn bờ tả ngạn (phía đông bắc) là đường Rigualt de Genouilly.

Lúc đó, do chợ Bến Thành mà người Pháp gọi là Marché de Saigon còn nằm bên bờ kinh này, tàu bè và hàng hoá lên xuống tấp nập hàng ngày nên vào năm 1867, một số cư dân xung quanh đòi lấp con kinh lại do bị mùi xú uế xông lên nồng nặc. Chuyện này đã được đưa ra bàn luận tại Hội đồng thành phố Sài Gòn trong nhiều phiên họp.

Trong khoảng thời gian 1865- 1870, người ta bắt đầu lấp đoạn phía trên của con kinh này (tức khoảng từ đường Tôn Thất Thiệp lên tới đường Lê Thánh Tôn ngày nay) và Hội đồng thành phố Sài Gòn quyết định cho trồng cây đa (banian) tại đây.

Sau rất nhiều lần tranh cãi không kém phần kịch liệt trong hội đồng thành phố hết năm này sang năm khác, người thì cho là con kinh đã không còn có ích nữa và đòi phải lấp đi, người thì nói là con kinh còn rất cần thiết vì khu chợ trung tâm toạ lạc tại đây và chỉ cần nạo vét cho thông thoáng, sạch sẽ là được…, cuối cùng phải đợi đến 20 năm sau, tức vào năm 1887, họ mới đi đến quyết định là lấp hoàn toàn con kinh.

Chợ Cũ trên đường Charner năm 1895

Và con đường rộng lớn kể từ đó mang tên là đại lộ Charner, nhưng người dân mãi đến thập niên 1930 vẫn còn thường gọi đây là đường Kinh Lấp. Năm 1926, ở giữa đại lộ này bắt đầu có một đường phân cách trồng cỏ, phân đại lộ ra làm hai, do thị trưởng Rouelle cho làm. Kể từ năm 1955 đến nay, con đường này mang tên là đại lộ Nguyễn Huệ.

Phu đang làm đường trên đại lộ Charner

Đại lộ Lê Lợi: từng là kinh đào vào năm 1861 – 1862

Lúc đầu, con đường này cũng là một con kinh dài khoảng 0,8km do đại uý công binh Gallimard đào “giữa vùng đầm lầy sau khi chiếm xong Sài Gòn”, tức là vào khoảng năm 1861 hay 1862 (sau đó gọi là kinh Gallimard), một đầu đổ ra sông Sài Gòn chỗ gần doanh trại Hải Quân, còn đầu kia nối với con kinh Olivier để đổ ra rạch Bến Nghé, nhằm tiêu nước và làm khô khu vực ẩm thấp lầy lội này của Sài Gòn. Con kinh này giao thẳng góc với kinh Lớn (Grand Canal, sau này thành đại lộ Nguyễn Huệ). Sau khi kinh Gallimard được đào xong, con đường dọc bờ kinh mang tên là đường số 13, đến năm 1865 được đổi thành đường Bonard. (Trong một số tài liệu, kinh này được ghi theo tên đại tá công binh Coffyn, dựa theo ghi chép của Trương Vĩnh Ký).

Người ta không biết đích xác kinh Gallimard được lấp để làm đường vào năm nào, André Baudrit đoán chừng có lẽ trong thời kỳ từ năm 1870 tới 1880. Sau khi lấp xong con kinh thì con đường lớn này trở thành đại lộ Bonard, nhưng lúc đó chỉ dừng lại ở đường Mac Mahon (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa).

Vào đầu năm 1914, con đường này được làm tiếp để nối dài từ đường Mac Mahon tới khu Halles Centrales (nay là chợ Bến Thành).

Kể từ sau năm 1955 đến nay, đường này mang tên là đại lộ Lê Lợi, dài khoảng 0,6km, đi từ đường Đồng Khởi đến công trường Quách Thị Trang, ngay trước chợ Bến Thành.

Đại lộ Hàm Nghi: Trước năm 1870 vẫn còn là rạch Cầu Sấu

Vào năm 1859 chưa có con đường này vì lúc ấy nơi đây vẫn còn là rạch Cầu Sấu. Theo Trương Vĩnh Ký, sở dĩ gọi tên như vậy là vì ngày xưa ở đây có một hầm nuôi cá sấu để xẻ thịt bán.

Đám rước rồng của Bang Quảng Đông năm 1865 tại bờ sông Sài Gòn, nay là đoạn bến Bạch Đằng, đầu đường Hàm Nghi

Lúc đầu, Pháp làm hai con đường ở hai bên bờ con rạch, mang tên là đường số 3. Đến năm 1865, đường ở một bên được đổi thành đường Dayot, còn đường ở bờ bên kia là đường Canton.

Con rạch này có lẽ được lấp lại trong khoảng đầu thập niên 1870 nhưng hai con đường vẫn mang tên riêng rẽ như trên. Bằng một nghị định do đô đốc Duperré ký ngày 14-05-1877, hai con đường này được nhập lại thành đại lộ Canton. Đến ngày 24-02-1897, hội đồng thành phố Sài Gòn trở lại với ý định ngày trước là tách ra thành hai con đường riêng, đặt tên con đường ở phía bắc là đường Krantz và con đường ở phía nam là đường Duperré.

Ga tramway ngay cột cờ Thủ ngữ, đầu đường Hàm Nghi ngày nay

Mãi đến năm 1920, hội đồng thành phố Sài Gòn mới quyết định sát nhập hai con đường lại thành một đại lộ, mang tên là đại lộ La Somme (Boulevard de la Somme). Kể từ sau năm 1955 tới nay, con đường này mang tên là đại lộ Hàm Nghi, dài khoảng 0,99km.

Đường Hồng Thập Tự (Nguyễn Thị Minh Khai): con đường thiên lý

Từ xưa đây đã là một con đường dài nối liền từ làng Phú Mỹ (nằm ở bên kia cầu Thị Nghè, thuộc khu vực Thị Nghè và rạch Văn Thánh ngày nay) cho tới Chợ Lớn, băng qua vùng đất cao nhất của thành phố. Đây là con đường đi xuyên qua thành Quy (xây năm 1790) lẫn thành Phụng (xây năm 1836, bị Pháp triệt hạ năm 1859).

Con đường này từ giữa thế kỷ XVIII đã được nối với con đường thiên lý. Theo Trịnh Hoài Đức, vào năm 1748, quan Điều khiển Nguyễn Hữu Doãn đã cho mở con đường thiên lý đi ra phía Bắc, bắt đầu từ cửa Cấn Chỉ ở phía đông thành Bát Quái (tương ứng với ngã tư đường Nguyễn Thị Minh Khai và đường Đinh Tiên Hoàng bây giờ) đến bến đò Bình Đông để sang bờ bên kia sông Sài Gòn là địa giới của Biên Hoà bằng cách “đo đạc giăng dây làm đường thẳng, gặp chỗ có kinh ngòi thì bắc cầu, chỗ bùn lầy thì đắp đất và cây gỗ.

Đến năm 1815, quan Tổng trấn thành Gia Định là Lê Văn Duyệt lại tiếp tục nối con đường thiên lý về phía tây bằng cách cho mở đường từ cửa Đoài Duyệt ở phía tây thành Bát Quái (tương ứng với ngã tư đường Nguyễn Thị Minh Khai và đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa bây giờ) để đi về hướng “qua cầu Tham Lương (đường Cách Mạng Tháng Tám hiện nay), qua bến đò Thị Sưu, qua chằm Lão Phong, giáp ngã ba đường đi Khê Lăng, đến đất Cà Rá nước Cao Miên, đến sông lớn (Mekong) dài 439 dặm. Trịnh Hoài Đức mô tả cách thức làm đoạn đường này như sau: “… gặp chỗ có sông, khe thì bắc cầu cống, chỗ đầm lầy thì đắp đất, rừng thì đốn cây, mở làm đường thiên lý, bề ngang 6 tầm, làm thành con đồng rộng thông suốt cho người ngựa qua lại được bình yên”.

Như vậy, con đường Nguyễn Thị Minh Khau bây giờ từ ngày xưa đã nối với con đường thiên lý đi ra miền Trung và miền Bắc, đồng thời cũng nối với con đường thiên lý đi về hướng sang Campuchia (theo ngả đường Cách Mạng Tháng Tám ngày nay).

Tháp nhà thờ Đức Bà nhìn từ góc Hai Bà Trưng – Hồng Thập Tự. Hình chụp năm 1947

Lúc đầu, do tầm quan trọng của con đường này nên người Pháp gọi đây là Route Stratégique (nghĩa là “đường chiến lược), về sau gọi là đại lộ số 25 (Boulevard No.25), đến tháng 2 – 1865 thì được De La Grandière quyết định cho mang tên là đại lộ Chasseloup – Laubat (tính tới Ngã Sáu mà thôi, còn đường Hùng Vương bây giờ thì hồi đó vẫn mang tên là Route Stratégique de SaiGon à Cholon). Dần dà về sau, người ta không còn gọi đây là “đại lộ” nữa mà chỉ gọi là “đường”.

Sau năm 1955, con đường Chasseloup – Laubat được đổi tên là đường Hồng Thập Tự. Vào năm 1975, đường này được nhập lại cùng với đường Hùng Vương ở Thị Nghè và Quốc Lộ 13 ở Hàng Xanh để mang tên là đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, rồi từ năm 1991 đến nay mang tên là đường Nguyễn Thị Minh Khai, chỉ tính từ cầu Thị Nghè trở lại mà thôi (tức tương ứng với đường Hồng Thập Tự cũ), dài khoảng 1,96km.

Góc Công Lý – Hồng Thập Tự. Tòa nhà trong hình là trường Lê Quý Đôn

Đây cũng là một trong những con đường mang nhiều dấu ấn trong suốt lịch sử thăng trầm của thành phố Sài Gòn.

Đường Hai Bà Trưng: một trong hai con đường huyết mạch của Sài Gòn

Dài khoảng 2,97km, đi từ đường Tôn Đức Thắng (bờ sông Sài Gòn) tới cầu Kiệu. Lúc đầu (sau năm 1859), đường này mang tên là đường số 14, năm 1865 đổi thành đường Impériable, năm 1870 là đường Nationale, năm 1902 là đường Paul Blanchy, năm 1952 là đường Trưng Nữ Vương (đoạn từ đường Lê Duẩn ngày nay tới cầu Kiệu) và từ năm 1955 đến nay là đường Hai Bà Trưng.

Đường Hai Bà Trưng hơn 100 năm trước

Trong suốt thời Pháp thuộc, theo André Baurit, đường Paul Blanchy và đường cắt thẳng góc với nó là đường ChesseLoup – Laubat (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) là hai “con đường huyết mạch duy nhất nối liền trung tâm đô thị Sài Gòn với bên ngoài (đường Paul Blanchy) là một trong những con đường dài nhất và đông xe cộ qua lại nhất”. André Baudrit viết rằng chính vì vậy mà lúc đầu nó được đặt tên là đường Impériale (nghĩa là đường Đế Chế), về sau do muốn xoá bỏ những dấu vết của quá khứ đế chế Napóléon nên lúc đầu chính quyền Pháp ở Sài Gòn định đổi tên là đường République (đường Cộng Hoà), nhưng sau đó lại chọn tên là đường Nationale (nghĩa là đường Quốc Gia). Năm 1902, ngay sau khi thị trưởng Sài Gòn Paul Blanchy qua đời thì con đường này được đặt theo tên ông.

Ở cuối đường Hai Bà Trưng là cậu kiệu mà nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư đã mô tả cảnh quan vào năm 1945 như sau: “Cầu Kiệu năm 1945 đã đúc bằng xi măng, rộng đủ cho hai làn xe chạy. Hai bên có lề hẹp dành cho khách đi bộ, lát gạch, thành cầu có lan can thấp bằng sắt. Từ đầu cầu bên phía Sài Gòn là đường tráng nhựa. Phía đầu cầu bên Phú Nhuận là đường đất đỏ đá ong. Hai bên đường trũng sâu, có mương thoát nước và hai hàng cây bàng râm mát. Phía bên phải đầu cầu là một trạm biến thể điện, đồng bào quen gọi là nhà hơi…”

Xe lửa đang chạy trên đường ray dọc theo đường Paul Blanchy

Đường Paul Blanchy xưa. Lúc này có đường ray xe lửa tuyến Sài Gòn đi Gò Vấp – Hóc Môn

Đường Lý Tự Trọng: nằm trên đường hào của thành cổ

Dài khoảng 1,83km, đi từ Ngã Sáu Phù Đổng cho tới đường Đinh Tiên Hoàng. Con đường này được làm trên đường hào của thành Bát Quái (tức thành Quy) mà vua Minh Mạng đã cho lệnh triệt hạ năm 1835 (để sau đó xây thành Phụng).

Vào đầu năm 1926, khi người ta tiến hành đào móng để xây một toà nhà lớn tại ngã tư đường La Grandière (nay là Lý Tự Trọng) với đường Catinat (nay là Đồng Khởi), Jean Bouchot đã khai quật và tìm thấy vết tích của một phần bức tường thành cổ ấy.

Lúc đầu, con đường này mang tên là đường số 17, từ ngày 1-2-1865 mang tên là đường Gouverneur (đường Thống Đốc) theo một nghị định của chuẩn đô đốc kiêm thống đốc De La Grandière (bởi lẽ lúc đó dinh thống đốc nằm trên con đường này, nay là khuôn viên trường trung học phổ thông chuyên Trần Đại Nghĩa). Đến ngày 1-7-1870, mang tên là đường De La Grandière theo nghị định đô đốc thống đốc De Cornulier – Lucinière ký (trong nhiều văn bản thường ghi là đường Lagrandière). Vào năm 1950, dưới thời Quốc Gia Việt Nam của quốc trưởng Bảo Đại, đoạn từ Ngã Sáu Phù Đổng tới đường Đồng Khởi bây giờ mang tên là đường Gia Long, còn đoạn từ đường Đồng Khởi tới đường Đinh Tiên Hoàng bây giờ vẫn mang tên là đường La Grandière. Sau năm 1955, hai con đường ấy được nhập lại và mang tên là đường Gia Long, và từ sau năm 1975 đến nay là đường Lý Tự Trọng.

Đường Pasteur: một phần cũng là kinh đào xưa

Con đường này dài khoảng 1,43km, đi từ đường Bến Chương Dương tới đường Trần Quốc Toản bây giờ.

Ngày xưa, đoạn đường từ Bến Chương Dương cho tới đại lộ Lê Lợi bây giờ là một con kinh mà lúc đầu người Pháp cho đào để tiêu nước úng và lấy đất đắp nền, gọi là kinh Olivier, nối kinh Gallimard (nay là đại lộ Lê Lợi) với rạch Bến Nghé. Hai con đường dọc theo hai bên bờ con kinh này mang tên là đường số 24. Đến năm 1865, con đường bên bờ phải được đổi tên là đường Olivier, con đường bên bờ trái là đường Pellerin.

Khi người ta lấp con kinh này vào năm 1870 để làm thành một con đường mới thì chỉ giữ lại tên đường Pellerin, lúc ấy chỉ kéo dài từ rạch Bến Nghé tới đường Bonard (nay là đại lộ Lê Lợi), về sau mới được kéo dài như chúng ta thấy ngày nay.

Từ năm 1955, đường này mang tên là đường Pasteur, năm 1975 đổi thành đường Nguyễn Thị Minh Khai, nhưng từ năm 1991 đổi lại thành đường Pasteur cho đến nay.

Đường Công Lý: mang số cuối cùng trong 26 con đường đầu tiên thời Pháp thuộc.

Hồi đầu thời Pháp thuộc, con đường này mang tên là đường số 26, năm 1865 được đổi thành đường Impératrice (nghĩa là đường Nữ Hoàng), năm 1870 lúc đầu định đặt tên là Rue de France, nhưng cuối cùng quyết định đặt tên là Mac – Mahon.

Năm 1945, đoạn từ đường Lý Tự Trọng đến cầu Công Lý được gọi là đường Général de Gaulle; năm 1952, đoạn từ đường Lý Tự Trọng đến Bến Chương Dương được đặt là đường Maréchal De Lattre de Tassigny. Đến tháng 3 – 1955, nhập hai đoạn lại thành đường Công Lý (còn đoạn từ Công Lý tới sân bay Tân Sơn Nhứt gọi là Công Lý nối dài); đến tháng 5 – 1955, đoạn từ cầu Công Lý tới sân bay Tân Sơn Nhứt được đặt là đường Ngô Đình Khôi và sau năm 1963 đổi thành đường Cách Mạng 1 – 11.

Năm 1975, hai đường Cách Mạng 1 – 11 và đường Công Lý được nhập lại và trở thành đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Đến năm 1985, đoạn từ cầu Công Lý tới đường Hoàng Văn Thụ được đặt tên là đường Nguyễn Văn Trỗi, đoạn còn lại vẫn giữ tên là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Đường Nguyễn Trãi: con đường cái quan

Hiện nay, đường Nguyễn Trãi nối từ Ngã Sáu Phù Đổng Thiên Vương đến đường Nguyễn Thị Nhỏ ở quận 5.

Đường Nguyễn Trãi nối liền với đường Lý Tự Trọng ngày nay có thể coi là vết tích của con đường cái quan (còn gọi là quan lộ hay đường thiên lý) ngày xưa đi xuyên qua thành Bát Quái, ở phía đông nối với con đường cái quan đi ra miền Trung và miền Bắc, ở phía tây nối với đường cái quan đi về hướng miền tây Nam Bộ (có thể thấy rõ con đường cái quan này trên bản đồ mà Trần Văn Học vẽ năm 1815).

Trịnh Hoài Đức viết về đường cái quan đi ra miền Trung và miền bắc như sau: “Bên trái là đường cái quan từ cửa Chấn Hanh (cửa thành Bát Quái – nằm ở khoảng ngã ba đường Lý Tự Trọng và đường Đinh Tiên Hoàng bây giờ) qua cầu Hoà Mỹ đến sông Bình Đồng tới trấn Biên Hoà”. Còn đường cái quan ở đầu kia đi về hướng miền tây Nam Bộ thì được Nguyễn Đình Đầu diễn đạt lại lời mô tả của Trịnh Hoài Đức bằng cách đối chiếu với những địa điểm ngày nay như sau: “Đầu trung hưng năm Canh Tuất (1790) đã đắp sửa quan lộ phía hữu, khởi từ cửa Tốn Thuận rẽ qua chùa Kim Chương (đường Nguyễn Trãi), phố Sài Gòn (Chợ Lớn hiện nay) đến cầu Bình An, qua gò chùa Đồng Tuyên đến bến đò Thủ Đoàn sông Cửa An ( Vàm Cỏ Đông) qua sông Hưng Hoà (Vàm Cỏ Tây), trải gò Trấn Định qua gò Triệu Phụ (quốc lộ 4 cũ). Chỗ cong queo thì làm thẳng lại, tu chỉnh cả cầu cổng ghe đò cho đường đi thuận tiện.” Cửa Tốn Thuận của thành Bát Quái nằm ở khoảng ngã tư đường Lý Tự Trọng và đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa bây giờ.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng ngày xưa đường Nguyễn Trãi liền mạch với đường Lý Tự Trọng để nối với con đường cái quan ở cả hai phía đông (đi ra miền Trung và miền Bắc) và phía tây (đi xuống miền Tây Nam Bộ). Cho đến năm 1868, người Pháp chưa đặt tên con đường này mà chỉ gọi đây là “la route de Cho – Lon”, tức là đường vào Chợ Lớn. Có lẽ đến khoảng thập niên 1870 họ mới gọi đây là route haute (đường Trên), đối ứng với route basse (đường Dưới, nay là Bến Chương Dương) cũng là đường đi vào Chợ Lớn.

Ngày xưa, trước khi Pháp vào, một đoạn đường này (quãng gần ngã tư với đường Cống Quỳnh) được người dân quen gọi là “đường Nước Nhi”, như đã nhắc đến trong bài “Cổ Gia Định phong cảnh vịnh” vào đầu thế kỷ XIX:

“Đường nước Nhỉ chảy tiu tiu
Người thương khách lại qua hóng mát”

Trương Vĩnh Ký kể lại rằng đi từ đường Thuận Kiều (nay là Cách Mạng Tháng Tám) xuôi xuống, “trước khi tới sở nuôi ngựa (harras), Đồng Mả Nguỵ đổ nước về con rạch chảy qua đằng sau toà nhà Blancsubé, đến nỗi mà đoạn đường này luôn luôn bị ẩm ướt, và vì thế mà “người ta gọi đây là Nước Nhĩ. Trương Vĩnh Ký không ghi rõ đây là đường nào, Vương Hồng Sến cũng thắc mắc và tự hỏi phải chăng “đường Nước Nhỉ” là đường Cống Quỳnh.

Có thể đó không phải là đường Cống Quỳnh, mà chính là con đường Trên đi từ Sài Gòn vào Chợ Lớn, tức là đường Nguyễn Trãi bây giờ. Bởi lẽ ngay trước đoạn vừa trích dẫn trên, Trương Vĩnh Ký có nói rằng “đi từ đầu đường Thuận Kiều cho tới sở nuôi ngựa, người thấy có chợ Điều Khiển”, tức là đi từ đường Cách Mạng Tháng Tám chỗ ngã sáu Phù Đổng ngày nay, dọc theo đường Nguyễn Trãi, người ta sẽ thấy có chợ Điều Khiển (nằm gần đường Nguyễn Trãi, cụ thể là nằm trên đường Nam Quốc Cang). Sau đó, ông đề cập tới đoạn “đường Nước Nhi” và nói tiếp rằng “[đứng] ở sở nuôi ngựa, người ta nhìn thấy chùa Kim Chương” – mà chùa Kim Chương thì cũng nằm gần ngã tư đường Nguyễn Trãi và Cống Quỳnh, theo Nguyễn Đình Đầu. Vả lại, trong bản ghi chép bài “Cổ Gia Định phong cảnh vịnh” nói trên, chính Trương Vĩnh Ký cũng ghi trong chú thích rằng “đường Nước Nhi là khúc đường Chợ Lớn ra Bến Thành”.

Trong bài “Souvernirs historiques sur Saigon et ses environs” (1885), Trương Vĩnh Ký kể lại rằng khi chỉnh trang đường sá, chính quyền Pháp đã cho giữ nguyên hướng đi của “con đường nổi danh” này mà họ gọi là route houte, nhưng cho mở rộng ra và lát đá mặt đường. Đường này được đánh giá là “một con lộ thương mại có tầm quan trọng hàng đầu” ( une voie commerciale de premier importance) nối Sài Gòn với Chợ Lớn.

Con đường Nguyễn Trãi ngày xưa chia làm hai đoạn. Đoạn đầu: đoạn từ Ngã Sáu Phù Đổng đến đường Nancy (đường Cộng Hòa nay là Nguyễn Văn Cừ) gọi là route haute (đường Trên) vào thời Pháp thuộc, đến năm 1922 đổi tên thành đường Frere Louis, rồi năm 1955 trở thành đường Võ Tánh.

Đoạn cuối: đoạn từ đường Ngô Quyền tới đường Nguyễn Thị Nhỏ (ở Quận 5 bây giờ) ngay từ thời xưa (trong nửa cuối thế kỷ XIX) đã gọi là đường Cây Mai, mãi đến năm 1952 mới đổi thành đường Hartmann. Đoạn từ đường Nguyễn Văn Cừ đến đường Ngô Quyền được làm vào thập niên 1910 và vào năm 1922 được đặt tên là Marechal Joffre, đến năm 1950 được gọi là đường Quang Trung. Sau đó, hai đường Hartmann và Quang Trung được sáp nhập lại thành một đường gọi là đường Quang Trung. Năm 1955, đường Quang Trung này trở thành đường Nguyễn Trãi.

Kể từ cuối năm 1975, hai đoạn đường trên đây (tức đường Võ Tánh và đường Nguyễn Trãi) được nhập lại làm một và mang tên là đường Nguyễn Trãi.

Đại lộ Trần Hưng Đạo: nối Sài Gòn với Chợ Lớn từ năm 1916

Vào ngày 19-10-1904, viên đốc lý (Maire, tức thị trưởng) của Chợ Lớn nhờ thống đốc Nam Kỳ hỏi đốc lý Sài Gòn xem Hội đồng thành phố Sài Gòn có đồng ý cho kéo dài đại lộ Bonard (nay là Lê Lợi) để nối liền với đường Thuỷ binh (rue dé Marins) hay không, bởi lẽ lúc đó những bãi đầm lầy lớn còn án ngữ ở khu vực ngăn cách giữa Sài Gòn với Chợ Lớn (Vương Hồng Sến gọi khu đầm lầy này “bưng nước đọng”). Lời đề nghị này lúc thì được Hội đồng thành phố Sài Gòn chấp thuận, lúc thì bị bác bỏ (leterite) gồ ghề nối hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn, mang tên là đường Gallieni (tên của một viên tướng Pháp). Đến năm 1928, con đường này mới được chỉnh trang, rộng từ 15 tới 20 mét, rải đá granit và trải nhựa. Kể từ năm 1955 đến nay mang tên là đại lộ Trần Hưng Đạo.

Đại lộ Galliéni năm 1931

Vương Hồng Sến, một học giả sống ở Sài Gòn từ năm 1919, đã mô tả con đường này vào thời ấy như sau: “Hai bên đường còn nhiều thửa ruộng hoang vu, chiều chiều trời gần mưa, tiếng dễ, tiếng ảnh ương (tức ễnh ương) ri rít huềnh hoang, khó biết đấy là trung tâm đô thành hoa lệ, Nhà lụp xụp không hàng lối, mái lá mái tôn, dân lao động chen chúc, gái ăn sương đủ hạng. […] Đầu năm 1929 có đèn điện giăng giữa chia con đường làm hai chiều lên xuống. Đường xe điện đặt trung tâm đại lộ, đến giữa năm 1953 mãn hạn giao kèo khai thác mới chịu dẹp”.

Biên soạn theo sách Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu (Trần Hữu Quang)

Hình ảnh đẹp về Sài Gòn thập niên 1950 qua những tấm ảnh phục chế màu

Cùng ngắm nhìn trung tâm Sài Gòn khoảng 70 năm trước qua những tấm ảnh được phục chế màu từ ảnh trắng đen của thập niên 1950.

Bưu điện trung tâm là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu của Sài Gòn, nằm ngay bên cạnh Nhà Thờ Đức Bà, là địa điểm tham quan quen thuộc của du khách. Đây cũng là một trong những công trình có tuổi đời trăm năm vẫn còn lại của Sài Gòn và giữ được kiến trúc nguyên thủy.

Tòa nhà này được người Pháp xây dựng trong khoảng năm 1886–1891 với phong cách châu Âu theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Villedieu cùng phụ tá Foulhoux. Công trình này có sự kết hợp hài hòa của kiến trúc phong cách phương Tây và nét trang trí phương Đông.

Bên dưới là hình gốc trắng đen:

Hình đại lộ Nguyễn Huệ đầu thập niên 1950, khi nó vẫn còn mang tên là Charner (đặt theo tên của đô đốc hải quân Pháp – Leonard Charner). Đây có thể xem là một trong những đại lộ đầu tiên của thành phố Sài Gòn, luôn là khu vực sầm uất nhất kể từ khi nó được xây dựng từ một kênh nước vào năm 1887.

Trong nhìn bên trên là hướng nhìn ra sông Sài Gòn, nơi có cột cờ thủ ngữ. Phía bên phải là những kiosk bán hàng đã hiện diện trên đại lộ này suốt mấy mươi năm. Trong rất nhiều hình Sài Gòn xưa, không hiếm hình ảnh có tà áo dài của các bà, các cô tản bộ trên phố, trông rất thanh lịch và thướt tha, tô điểm cho thành phố sầm uất.

___

Một hình ảnh khác của đại lộ Nguyễn Huệ thập niên 1950, góc nhìn hướng về Tòa Đô Chánh, với góc ngã 4 Nguyễn Huệ – Ngô Đức Kế.

___

Toàn cảnh đại lộ Nguyễn Huệ nhìn từ trên cao. Hình ảnh này được chụp từ trực thăng nhưng hình vẫn rất sắc nét. Chúng ta có thể thấy rõ Tòa Đô Chánh, phía bên phải là thương xá Eden, phía sau Eden là Nhà Thờ. Góc bên trái hình có thể thấy được mặt sau của dinh Gia Long trên đường Gia Long (nay là đường Lý Tự Trọng), xa hơn 1 chút là Tòa Pháp Đình nằm trên đường Công Lý.

___

Góc ảnh nhìn toàn cảnh đường Tự Do, bắt đầu từ Nhà Thờ, phía trên cùng là Bến Bạch Đằng – Sông Sài Gòn. Phía trước Nhà Thờ, góc đường Tự Do – Nguyễn Du là bót Catinat nổi tiếng, từ năm 1955 là trụ sở Bộ Nội Vụ, sau năm 1975 là Sở VHTT.

___

Một ảnh khác của đường Tự Do, nhìn ngược lại về phía Nhà Thờ. Trong ảnh này có Continental Palace và thương xá Eden.

___

Toàn cảnh đường Tự Do, bắt đầu là Majectic Hotel (nhà màu trắng bên trái), phía cuối là Nhà Thờ. Tòanhà ngay góc bên phải là Grand Hôtel de la Rotonde ở số 2 đường Tự Do, đã được xây từ đầu thế kỷ 20.

Tòa nhà hình chóp nhọn ở giữa hình nằm ở ngã tư Tự Do – Ngô Đức Kế là Saigon Palace Hotel, ngày nay tòa nhà này là Grand Hotel, vẫn còn giữ được đường nét nguyên thủy.

___

Toàn cảnh công trường Mê Linh thập niên 1950. Đường dọc sông là Bến Bạch Đằng, phía trên là 2 đường Hai Bà Trưng – Thi Sách, những nhân vật lịch sử gắn liền với địa danh Mê Linh từ thế kỷ 1 trong công nguyên.

Ở chính giữa công trường Mê Linh mà chúng ta thấy trong hình là phần đế của một tượng đài. Từ năm 1877 cho đến năm 1954, vị trí này là tượng đài Rigault de Genouilly, và công trường này cũng mang tên là công trường Rigault de Genouilly. Tên này được đặt theo tên của một viên thủy sư đề đốc Pháp mang tên Charles Rigault de Genouilly.

Năm 1955, chính quyền đệ nhất cộng hòa dỡ bỏ tượng Genouilly, chỉ còn lại phần đế, đồng thời đổi tên công trường Rigault de Genouilly thành Công trường Mê Linh.

Năm 1962, tại phần đế tượng cũ này, chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng tượng đài Hai Bà Trưng, tuy nhiên bức tượng chỉ tồn tại được hơn 1 năm thì bị dỡ bỏ, thay vào đó là tượng đài Trần Hưng Đạo từ năm 1967 cho đến tận ngày nay.

Original pictures: manhhai flickr
Colorized by chuyenxua.vn

Ban hợp ca Thăng Long – Huyền thoại một thời của tân nhạc Việt

Nếu nói về một ban nhạc danh tiếng nhất trong làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, hầu hết giới chuyên môn, giới ca sĩ, nhạc sĩ và khán giả đều công nhận đó là ban hợp ca Thăng Long, với nòng cốt là 3 tên tuổi đã trở thành bất tử: Ca sĩ Hoài Bắc (tức nhạc sĩ Phạm Đình Chương), danh ca Thái Thanh và ca sĩ Hoài Trung (tức Phạm Đình Viêm).

Từ trái qua: Hoài Bắc (Phạm Đình Chương) – Thái Thanh – Hoài Trung (Phạm Đình Viêm)

Trong 3 người thì Hoài Trung có vẻ kém danh tiếng hơn, nhưng khán giả vẫn chưa thể nào quên một giọng tenor với phong cách trình diễn đặc biệt, tiếng hát ngân dài và có khả năng giả tiếng ngựa hí hoặc các âm thanh khác khi hát bè trong hợp ca. Ông cũng có tài chọc cười nên cứ thấy ông xuất hiện trên sân khấu là khán giả đã cười ồ. Hoài Trung cũng là một diễn viên tham gia trong nhiều phim điện ảnh và thoại kịch.

Ngoài 3 cái tên chủ chốt này, thỉnh thoảng ban Thăng Long cũng có sự góp mặt của danh ca Thái Hằng, ca sĩ Khánh Ngọc (vợ Hoài Bắc) và cả nhạc sĩ Phạm Duy – là một trong những ca sĩ đầu tiên hát tân nhạc.

Đại gia đình Thăng Long: hàng trên: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Hoài Trung, hàng dưới: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh

Điều đặc biệt của ban Thăng Long là các thành viên đều là những anh chị em họ Phạm (hoặc dâu rể). Thân phụ của họ là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm (tức Hoài Trung của ban Thăng Long) và 1 người con gái đã không may qua đời sớm khi đi tản cư ở Sơn Tây.

Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.

Từ trái qua: Thái Thanh – Phạm Đình Chương – Thái Hằng

Khi đặt chân vào đến phương Nam, những anh chị em nhà họ Phạm muốn lập một ban nhạc gia đình để đi hát, họ đã chọn cái tên Thăng Long, gợi nhớ về vùng đất Hà Nội, là cố hương gốc gác của họ. Cái tên Thăng Long cũng gắn liền với thời thanh xuân của các anh chị em họ Phạm ở vùng tản cư.

Để nói rõ hơn về nguồn gốc của cái tên Thăng Long, hãy cùng đi ngược về quá khứ vào những năm đầu thập niên 1940, khi ông Phạm Đình Phụng còn ở Hà Nội và mở một cửa hàng bán mứt và ô mai ở phố Bạch Mai tên là Mai Lộc. Thuở đó có một câu bé mới 13 tuổi tên là Nguyễn Cao Kỳ thường đến Mai Lộc để ăn ô mai và đánh đàn mandoline với Phạm Đình Chương 14 tuổi, và Thái Thanh lúc đó mới 9 tuổi thường ngồi một bên để nghe mấy ông anh dạo đàn, thỉnh thoảng còn bị Phạm Đình Chương bắt hát để họ luyện đàn. Nguyễn Cao Kỳ sau đó thành tướng không quân, rồi phó tổng thống, nhưng luôn giữ một tình bạn thâm giao thuở thiếu thời với nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

Đến năm 1946, bắt đầu thời kỳ loạn lạc, nhiều gia đình Hà Nội phải dắt díu nhau đi tản cư, ông bà Phạm Đình Phụng cùng 2 người con trai, 3 người con gái ra vùng Sơn Tây, sau đó dừng chân ở một vùng xuôi gọi là Chợ Đại. (Lúc này người con trai đầu là Phạm Đình Sỹ, cùng vợ là Kiều Hạnh, các con là Mai Hương, Bạch Tuyết cũng đã từ Huế ra miền thượng du phía Bắc). Tại Chợ Đại, ông Phụng mua lại một cái quán và đặt tên là Quán Thăng Long, bán các món phở và cà phê. Trong những người con của ông bà Phụng có cô gái tên là Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy sau này. (Sau này có người nói rằng Thái Hằng cùng với quán cà phê Thăng Long trở thành nhân vật chính trong ca khúc nổi tiếng Cô Hàng Cà Phê của nhạc sĩ Canh Thân).

Phạm Duy và Thái Hằng khi còn trong chιến khu

Trong hồi ký Phạm Duy, ông kể lại:

“Tại Quán Thăng Long, ông bà có ba người con để giúp đỡ trong việc nấu phở, pha cà phê và tiếp khách. Người con gái lớn tên là Phạm Thị Quang Thái, vào trạc 20 tuổi, biết hát và biết chơi cả đàn guitare hawaienne nữa. Nàng có một vẻ đẹp rất buồn, lại là người ít nói, lúc nào cũng như đang mơ màng nghĩ tới một chuyện gì xa xưa. Văn nghệ sĩ nào khi tới gần nàng thì cũng đều bị ngay một cú sét đánh. Thi sĩ Huyền Kiêu luôn luôn thích làm người tao nhã (galant) và có nhiều lúc, trịnh trọng cầm hoa tới tặng Nàng. Thi sĩ Đinh Hùng, rụt rè hơn, nhờ người chị ruột của tôi – đang tản cư ở Chợ Đại – làm mối. Còn anh họa sĩ hiền lành như bụt và có đôi mắt rất xanh là Bùi Xuân Phái thì ngày ngày tới Quán Thăng Long, ngồi đó rất lâu, im lặng… Ngồi, nhìn, chứ không vẽ. Ngọc Bích cũng soạn một bài hát tỏ tình…”

Chỉ một vài năm sau đó, tất cả các anh chị em họ Phạm là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Thái Thanh (lúc này đi hát với tên là Băng Thanh) đều gia nhập các ban văn nghệ quân đội Việt Minh của Liên Khu IV, hai ông bà chủ quán Thăng Long quyết định rời Chợ Đại di cư vào Thanh Hóa để được sống gần gũi các con. Hai ông bà tới một nơi gọi là Chợ Neo, thuê lại căn nhà lá và mở một quán phở, vẫn lấy tên là Quán Thăng Long.

Những anh chị em và dâu rể nhà Thăng Long. Hàng đứng, từ trái sang: Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Phạm Đình Sỹ. Hàng ngồi: Phạm Duy, Thái Hằng, Kiều Hạnh, Thái Thanh

Tháng 5 năm 1951, đại gia đình họ Phạm quyết định “dinh tê” về Hà Nội. Lúc này Phạm Duy đã cưới Thái Hằng, và cùng đi chung còn có gia đình anh cả Phạm Đình Sỹ – Kiều Hạnh từ miền thượng du đi xuống. Chỉ 1 tháng sau, đại gia đình Thăng Long quyết định vào vùng đất hứa Sài Gòn để định cư. Tại đây những anh em nhà họ Phạm là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Thanh thành lập ban nhạc lấy tên là Thăng Long, đặt theo tên quán phở gia đình ở vùng Chợ Đại, Chợ Neo trước đây.

Rồi cũng trong một tâm trạng lưu luyến về dĩ vãng chưa xa lắm, Phạm Đình Viêm lấy nghệ danh là Hoài Trung để nhớ về Khu 4, Phạm Đình Chương lấy nghệ danh là Hoài Bắc để nhớ về cố xứ. Còn cô út Băng Thanh chính thức lấy nghệ danh là Thái Thanh cho giống với người chị Thái Hằng.

Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh

Lúc này Thái Hằng đã lập gia đình, bận bịu con nhỏ nên không thể theo hát cùng ban Thăng Long thường xuyên, mà chỉ thỉnh thoảng góp mặt. Tương tự là Khánh Ngọc – vợ của Hoài Bắc. Vì vậy nòng cốt của ban Thăng Long thành lập từ những năm 1950 cho đến năm 1975 là 3 người: Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh. Thời gian đầu họ đến cộng tác với đài phát thanh Pháp Á ở đại lộ de La Somme (sau này là đại lộ Hàm Nghi) ở gần góc đường với đường Công Lý. Ban Thăng Long nhanh chóng đạt được thành công với lối hát khác biệt, có phần bè mới lạ và hấp dẫn. Họ lại có nguồn nhạc phong phú được sáng tác “cây nhà lá vườn” bởi 2 tên tuổi lừng danh là Phạm Duy và Phạm Đình Chương, mang được tính thời đại một cách sắc nét.

Thái Thanh – Hoài Bắc – Hoài Trung trong ban Thăng Long

Ngoài thù lao hát ở đài phát thanh và phòng trà vốn còn rất hạn chế ở Sài Gòn vào đầu thập niên 1950, thì ban Thăng Long kiếm sống chủ yếu là tiền thu thanh trong đĩa nhạc, lúc này vẫn còn là đĩa đá, chứ chưa có dĩa nhựa (vinyl) như sau này.

Ban Thăng Long cũng là một trong những ban nhạc/ca sĩ đầu tiên trình diễn theo hình thức phụ diễn ở rạp chiếu bóng. Nghĩa là các ca sĩ lên hát tân nhạc (gọi là phụ diễn) cho khán giả nghe trước khi phim bắt đầu được chiếu. Đầu tiên là rạp Nam Việt ở chợ cũ góc đường de la Somme và Chaigneau (sau này là Hàm Nghi – Tôn Thất Đạm), lối phụ diễn này của ban Thăng Long thành công ngay lập tức. Ngay sau đó là rạp Văn Cầm ở Chợ Quán, rạp Khải Hoàn và Thanh Bình ở khu chợ Thái Bình – Quận Nhứt liên tục mời ban hợp ca Thăng Long đến phụ diễn.

Ban Thăng Long và vợ chồng nhạc sĩ Văn Phụng – danh ca Châu Hà thập niên 1960

Thời điểm đó người Sài Gòn vẫn rất mê cải lương, nhưng tân nhạc bắt đầu được ưa chuộng, mà sân khấu đầu tiên chính là ở các rạp chiếu bóng, vì những người đi xem phim chiếu rạp như vậy đa số là dân Tây học rất thích tân nhạc, nên ban Thăng Long có dịp giới thiệu hàng loạt những sáng tác của Phạm Đình Chương, Phạm Duy và nhiều nhạc sĩ thời tiền chiến khác.

Ban Thăng Long lúc này có thêm Khánh Ngọc (áo đậm) và Thái Hằng (áo trắng)

Từ lối hát phụ diễn này, thừa thắng xông lên, ban Thăng Long tổ chức những Đại Nhạc Hội hát tân nhạc ở các rạp vốn được xem là “lãnh địa” của cải lương như rạp Nguyễn Văn Hảo hay Aristo. Lúc này không chỉ là hát phụ diễn nữa mà chương trình ca diễn của ban Thăng Long phong phú hơn nhiều. Các màn đơn ca, hợp ca, hay nhạc cảnh của ban Thăng Long cùng các nghệ sĩ khác được mời tới diễn chung, như Trần Văn Trạch, Phi Thoàn, Xuân Phát, và cả ban vũ Lưu Bình – Lưu Hồng (sau này gắn bó với Maxim’s của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ).

Từ trái qua: Khánh Ngọc, Hoài Bắc Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Thái Thanh, Hoài Trung Phạm Đình Viêm


Click để nghe Ban Hợp Ca Thăng Long hát trong băng Sơn Ca 10 năm 1974

Với những hoạt động tân nhạc sôi nổi ngay từ khi mới chân ướt chân ráo đến Sài Gòn từ xứ Bắc, có thể nói ban hợp ca Thăng Long đã có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển tân nhạc ở Sài Gòn thập niên 1950.

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch – người có thời gian cộng tác cùng ban Thăng Long kể lại: “Mỗi xuất hiện của Ban Hợp Ca Thăng Long là một cơn nóng sốt đối với bà con khán giả miền Nam. Cách trình diễn, bài vở họ chọn, ngôn ngữ họ dùng… như một điều gì vừa gợi óc một tò mò, vừa mới mẻ, quyến rũ, lại cũng vừa thân thiết như một vật quý đã mất từ lâu, nay tìm lại được…”

Đạt được thành công to lớn ở phía Nam, những anh chị em nhà họ Phạm bắt đầu “Bắc tiến”, mà thực ra là sự trở về Thăng Long của ban nhạc mang tên Thăng Long, lúc này cùng theo đoàn hát mang tên là Gió Nam, với ý nghĩa là một làn gió mới đến từ phương Nam để đi trình diễn ở Hà Nội. Vì Nhà Hát Lớn giới hạn về không gian, nên rất nhiều thanh niên không mua được vé, phải trèo qua cửa sổ để nghe Gió Nam hát. Trong những người thanh niên đó có Lê Quỳnh, lúc đó hãy còn rất trẻ và hâm mộ tiếng hát Thái Thanh cuồng nhiệt. Đến sau này, khi di cư vào Sài Gòn năm 1954 và trở thành nam tài tử nổi tiếng bậc nhất Miền Nam, ông đến hỏi cưới Thái Thanh và được gia đình ông Phạm Đình Phụng đồng ý.

Ban Hợp Ca Thăng Long đứng trên đỉnh cao cho đến đầu thập niên 1960 thì có một sự cố đau lòng diễn ra trong nội bộ gia đình họ Phạm đã làm rúng động báo giới Sài Gòn. Vụ việc này có thể ai cũng đã rõ nên xin không tiện nói, chỉ biết rằng sau tai tiếng này, cuộc đời Phạm Đình Chương bước sang một giai đoạn khác. Chia tay vợ với vết thương lòng to lớn, ông sống những ngày gần như cắt đứt mọi sự liên lạc, chỉ tiếp xúc giới hạn với 1 vài bằng hữu thân thiết. Gia đình Phạm Duy cũng rời đại gia đình Thăng Long ở đường Bà Huyện Thanh Quan để về cư xá Chu Mạnh Trinh.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương và Khánh Ngọc

Từ thập niên 1960 trở về sau, Hoài Bắc – Phạm Đình Chương sáng tác rất ít, nếu có thì cũng là những ca khúc u sầu như Người Đi Qua Đời Tôi, Khi Cuộc Tình Đã Chêt, hay Nửa Hồn Thương Đau. Nhiều người nói rằng ca khúc Nửa Hồn Thương Đau được ông viết ngay sau khi chia tay Khánh Ngọc, nhưng sự thật không phải vậy. Dư chấn của thảm kịch đã giảm thiểu mọi hoạt động của nhạc sĩ Phạm Đình Chương một thời gian khá dài, và ông chỉ sáng tác Nửa Hồn Thương Đau sau đó đúng 10 năm (1970) và được giới thiệu trong cuốn phim điện ảnh Chân Trời Tím qua tiếng hát Thái Thanh, được lồng vào phần trình diễn của minh tinh Kim Vui trong phim.

Cũng từ thập niên 1960, dù không hoạt động sôi nổi như trước, nhưng Ban Hợp Ca Thăng Long vẫn thu băng dĩa và trình diễn ở phòng trà Đêm Màu Hồng do Hoài Bắc Phạm Đình Chương mở ở Hotel Catinat có 2 mặt tiền đường, số 69 Tự Do và số 36 Nguyễn Huệ.

Hotel Catinat

Cuối năm 1974, ban Thăng Long cùng giọng ca Thái Thanh được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thực hiện riêng một băng nhạc duy nhất, đó là Sơn Ca 10.

Sau năm 1975, thời cuộc đổi thay, mỗi người mỗi ngả. Thái Thanh kẹt lại ở Việt Nam trong 10 năm, từ 1975 đến năm 1985. Hoài Bắc – Phạm Đình Chương cũng đến năm 1979 mới sang đến Hoa Kỳ. Năm 1976, Hoài Trung cùng với nghệ sĩ Vũ Huyến (tức nhạc sĩ Vũ Minh, tác giả ca khúc Cô Hàng Nước, và cũng là thành viên AVT hải ngoại) và cô cháu ruột Mai Hương thành lập ban Thăng Long hải ngoại. Từ 3 người Thăng Long năm cũ, giờ chỉ còn một Hoài Trung, cùng cới 2 thành viên mới họ đã tái hiện lại ban hợp ca Thăng Long với những ca khúc đã gắn liền với tuổi, đặc biệt là bài Ngựa Phi Đường Xa ở dưới đây:


Click để xem Ban Thăng Long hải ngoại trình diễn

Trong bài Ngựa Phi Đường Xa bên trên, chúng ta có thể thấy ông Hoài Trung trình diễn tuyệt kỹ tiếng ngựa hí rất hay đã từng được khán giả tán thưởng nhiệt liệt.

Khi Hoài Bắc sang Mỹ năm 1979, nghệ sĩ Vũ Huyến trở lại AVT, nhường lại vị trí thành viên ban Thăng Long cho Hoài Bắc – Phạm Đình Chương.

Ban Thăng Long ở hải ngoại, với Mai Hương thay thế cô ruột là Thái Thanh

Năm 1991, Hoài Bắc Phạm Đình Chương qua đời ở tuổi 62

Năm 2002, Hoài Trung Phạm Đình Viêm qua đời ở tuổi 83

Đến năm 2020, cô em út Thái Thanh – linh hồn của ban hợp ca Thăng Long qua đời ở tuổi 86.

Tháng 11 cùng năm 2020, cô cháu gái của họ là Mai Hương – cũng là thành viên ban Thăng Long hải ngoại – đã về cõi vĩnh hằng. Tất cả những người đã tạo lập thành ban nhạc huyền thoại năm xưa nay đều đã thành người thiên cổ, nhưng tên tuổi và những đóng góp của họ dành cho tân nhạc vẫn trường tồn với thời gian.

Bài: Đông Kha
chuyenxua.vn

Nhạc sĩ Lê Dinh và những ca khúc bất tử

Nhạc sĩ Lê Dinh là một trong những tên tuổi nổi tiếng nhất của dòng nhạc vàng trước 1975, với sức sáng tác bền bỉ và đa dạng. Những ca khúc nổi tiếng nhất của ông chủ yếu là thuộc dòng nhạc vàng, như Biển Dâu, Ga Chiều, Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao… Một dấu ấn đặc biệt trong sự nghiệp của nhạc sĩ Lê Dinh là những tác phẩm viết chung với Minh Kỳ, Anh Bằng, hoặc viết chung 3 người trong nhóm Lê Minh Bằng.

Bộ ba Lê Minh Bằng: Anh Bằng – Minh Kỳ – Lê Dinh

Nhạc sĩ Lê Dinh tên thật là Lê Văn Dinh, sinh năm ngày 8/9/1934 tại làng Vĩnh Hựu, Gò Công. Thuở nhỏ ông học trường Gò Công; sau đó lên Mỹ Tho học trường Collège Le Myre de Vilers rồi học trường Cao Đẳng Vô Tuyến Điện (Ecole Supérieure de Radio Electricité) tại Saigon.

Trong thời gian theo học trường Cao Đẳng Vô Tuyến Điện, ông được học hàm thụ âm nhạc tại trường École Universelle de Paris, Pháp.

Năm 1954, Lê Dinh tốt nghiệp trường Cao Đẳng Vô Tuyến Điện, vì chưa tìm được việc làm ngay nên ông đi dạy Pháp văn và âm nhạc tại các trường tư thục ở Gò Công và Chợ Lớn.

Cũng nhờ dạy học ở Gò Công, ông gặp một cô giáo tên là Kim Quyên đang dạy ở đây. Sau một năm quen nhau thì họ nên duyên vợ chồng và sống hạnh phúc cho đến nay.

Năm 1956, Lê Dinh vào làm việc tại Đài Phát Thanh Saigon cho đến tháng tư năm 1975, với chức vụ Chủ Sự Phòng Sản Xuất (Production Section), sau đó Phòng Điều Hợp (On Air Section) của Đài. Ông chủ yếu phụ trách về mặt kỹ thuật tại đài, đúng với chuyên môn đã được đào tạo ở trường.

Nhạc sĩ Lê Dinh bắt đầu sáng tác nhạc từ lúc còn đi học, với ca khúc đầu tiên được thu thanh trên đài phát thanh đài Pháp Á là bài Quê Mẹ với tiếng hát Linh Sơn.

Khoảng năm 1956, ông có ca khúc đầu tiên được xuất bản là Làng Anh Làng Em, tiếp sau đó là những bài hát nổi tiếng là Ngày Ấy Quen Nhau, Ngang Trái, Xác Pháo Nhà Ai, Cánh Thiệp Hồng, Tấm Ảnh Ngày Xưa, Thương Đời Hoa, Ga Chiều, Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao, Nỗi Buồn Châu Pha…

Vợ của nhạc sĩ Lê Dinh đã từng nói rằng ông có thói quen sáng tác lúc đêm khuya, khi mọi người trong nhà đều yên giấc ngủ, và lúc sáng sớm vừa thức dậy. Khi sáng tác, bên cạnh thường có tách cà phê sữa nóng.

Thời gian làm việc ở Đài Phát Thanh Saigon, nhạc sĩ Lê Dinh có quen biết với nhạc sĩ Minh Kỳ, sau này chơi thân và cùng nhau sáng tác những ca khúc nổi tiếng được ký tên Lê Dinh – Minh Kỳ là Tiếng Hát Mường Luông, Đường Chiều Sơn Cước, Đường Về Khuya, Cánh Thiệp Đầu Xuân, Hạnh Phúc Đầu Xuân…

Sau đó không lâu, nhạc sĩ Lê Dinh lại quen thân với nhạc sĩ Anh Bằng và cùng nhau sáng tác những ca khúc ký tên Lê Dinh – Anh Bằng: Nếu Ai Có Hỏi, Giấc Ngủ Cô Đơn, Chỉ Hai Đứa Mình Thôi Nhé, Nếu Hai Đứa Mình, Đôi Bóng, Bóng Đêm…

Sau khi đã hợp tác thành công với nhạc sĩ Minh Kỳ và Anh Bằng, nhạc sĩ Lê Dinh có ý định kết hợp 3 nhạc sĩ lại để trở thành nhóm sáng tác Lê Minh Bằng, trở thành nhóm sáng tác nổi tiếng đã trở thành một huyền thoại. Sự hợp tác này đã mang đến sản phẩm đầu tiên là ca khúc Đêm Nguyện Cầu được ký tên Lê Minh Bằng và ra mắt công chúng năm 1966.

Ngoài bút danh Lê Minh Bằng, 3 nhạc sĩ còn sử dụng rất nhiều bút danh khác nhau là Mạc Phong Linh, Mai Thiết Lĩnh, Mai Bích Dung, Dạ Cầm, Trúc Ly, Dạ Ly Vũ, Vũ Chương, Tôn Nữ Thụy Khương, Phương Trà, Giang Minh Sơn, Nhật Nguyệt Hồ,… để sáng tác nhiều ca khúc nổi tiếng: Chuyện Tình Lan Và Điệp, Mưa Trên Phố Huế, Đà Lạt Hoàng Hôn, Cô Hàng Xóm, Linh Hồn Tượng Đá, Tình Đời, Người Thợ Săn Và Đàn Chim Nhỏ…

Nhạc sĩ Lê Dinh nói rằng trong suốt 9 năm hợp tác của nhóm Lê Minh Bằng (1966-1975), cả 3 nhạc sĩ đều rất vui vẻ hoà thuận, không xảy ra tranh cãi nào lớn. Nhạc sĩ Lê Dinh người Nam, nhạc sĩ Minh Kỳ người hoàng tộc ở miền Trung, còn nhạc sĩ Anh Bằng thì quê ở ngoài Bắc sát biên giới Việt Trung. Bắc Trung Nam hợp thành một nhóm rất ăn ý.

Sau năm 1975, nhạc sĩ Lê Dinh kẹt lại trong nước, ngưng viết nhạc, nhưng vẫn nghĩ ra nhiều ý tưởng sáng tác ở trong đầu mà không ghi ra giấy. Đến năm 1978, cả gia đình Lê Dinh sang đến một đảo thuộc Đài Loan bằng con tàu nhỏ đánh cá. Hai tháng sau họ đến Hongkong, và sau đó chọn định cư ở Canada.

Sau khi định cư tại Montreal, Canada, nhạc sĩ Lê Dinh sáng tác những ca khúc chủ yếu là có nội dung nhớ về quê hương như là Thương Về Gò Công, Sao Anh Không Nhớ Gò Công, Chữ Tình, Huế Buồn,…

Cũng trong thời gian đó, ông bắt đầu làm việc cho hãng tàu chở hàng hóa đi khắp thế giới có tên là Federal Navigation (viết tắt là FEDNAV) của Canada ở thành phố Montréal trong 20 năm. Cũng chính con tàu hàng của hãng này đã cứu giúp con thuyền đánh cá 40 người mà gia đình ông lênh đênh trên biển 1 năm trước đó.

Sau khi nghỉ việc ở hãng tàu, nhạc sĩ Lê Dinh thành lập Đài Phát Tiếng Nói Việt Nam tại Montreal và trở thành chủ nhiệm kiêm chủ bút Nguyệt San Nghệ Thuật. Sau đó ông về hưu vì đã lớn tuổi.

Nhạc sĩ Lê Dinh đã qua đời vào ngày 9/11 năm 2020, hưởng thọ 86 tuổi.

Đối với một người nhạc sĩ, nếu sáng tác được vài bài hát (hoặc thậm chí là chỉ có 1 bài duy nhất) và được khán giả yêu thích, được sống cùng với năm tháng thì đã là một niềm vinh hạnh, tên tuổi người nhạc sĩ sẽ được nhắc đến mãi về sau này. Nhưng nhạc sĩ Lê Dinh làm được những điều vượt xa như vậy. Chỉ tính riêng những bài ông sáng tác một mình thì đã có hàng chục ca khúc được bất tử. Từ giữa thập niên 1960, ông còn hợp tác trong nhóm Lê Minh Bằng để sáng tác thêm hàng trăm ca khúc khác, và hầu hết đều nổi tiếng.

Sau đây, mời các bạn nghe lại những bài hát được yêu thích nhất của nhạc sĩ Lê Dinh. Nếu không tính những bài hát được sáng tác từ giữa thập niên 1960 trở về trước (khi chưa có nhóm Lê Minh Bằng), thì ông nổi tiếng nhất với những ca khúc:

Thương Đời Hoa

Bài nhạc tango buồn được nhạc sĩ Lê Dinh sáng tác dành cho một nữ sinh Gia Long bị “đánh ghen”. Cô gái này tên là Lan, chứ không phải là vũ nữ Cẩm Nhung như nhiều người lầm tưởng.


Click để nghe Thanh Thúy hát Thương Đời Hoa

Tấm Ảnh Ngày Xưa

Một ca khúc có giai điệu uyển chuyển, lời ca đong đầy kỷ niệm về một tình yêu đầu đã từng được gởi trao qua tấm ảnh chân dung người thiếu nữ. Dù có nhiều ca sĩ hát ca khúc này, nhưng có lẽ giọng hát liêu trai và thoang thoảng khói sương của Thanh Thúy là thích hợp nhất:


Click để nghe Thanh Thúy hát Tấm Ảnh Ngày Xưa

Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao

Trong phần đề tựa khi phát hành bài hát, nhạc sĩ ghi: “Cho L.T.P, cảm thông nỗi đau buồn qua thi phẩm Tin Vui Đám Cưới nhà Ai”.

Thôi hết rồi người đã xa tôi
Quên hết lời thề ngày xa xôi…

Ngàn đời qua trăng sao luôn hiện diện và chiếu rọi trên cao, nên những lời hứa trên đời luôn lấy trăng sao ra làm chứng nhân, đặc biệt là với các đôi lứa yêu nhau. Nhưng khi người đã rời xa, dấu yêu xưa chuyện tình cũ xin trả lại hết đến trăng sao.


Click để nghe Hoàng Oanh hát Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao

Ga Chiều

Bài hát được nhạc sĩ sáng tác năm 1962, với lời đề tựa: “Mến trao các bạn học sinh trên đường về hè…”

Trong nhạc vàng, các chủ đề quen thuộc nhất là tình yêu đôi lứa, sân ga, con tàu, học sinh và mùa phượng. Tất cả những điều này đều có trong ca khúc Ga Chiều, nổi tiếng với giọng hát Thanh Thúy trước 1975:


Click để nghe Thanh Thúy hát Ga Chiều

Xác Pháo Nhà Ai

Trong lời đề tựa của bài hát, nhạc sĩ Lê Dinh trích 4 câu thơ của LTP:

Em chúc cho anh tròn hạnh phúc
Bên người vợ trẻ cưới hôm nay.
Còn em, một cánh chim cô độc
Xin trọn đời theo dõi bóng mây


Click để nghe Thanh Thúy hát Xác Pháo Nhà Ai

Chiều Lên Bản Thượng – Thương Về Xứ Thượng

Nhạc sĩ Lê Dinh có đến 5 bài hát nổi tiếng nhắc về vùng đất và con người xứ Thượng, đó là Nỗi Buồn Châu Pha (viết chung trong nhóm Lê Minh Bằng), Tiếng Hát Mường Luông (viết chung với Minh Kỳ), Người Em Xứ Thượng, Thương Về Xứ Thượng và Chiều Lên Bản Thượng:


Click để nghe Thanh Thúy hát Tiếng hát Mường Luông


Click để nghe Nhật Trường – Thanh Tuyền hát Chiều Lên Bản Thượng


Click để nghe Băng Châu hát Thương Về Xứ Thượng

Ngang Trái

Một bài hát tình buồn ngang trái được nữ ca sĩ Dạ Hương hát trước năm 1975.


Click để nghe Dạ Dương hát Ngang Trái

Những bài hát viết chung với nhạc sĩ Minh Kỳ

Khoảng đầu thập niên 1960, nhạc sĩ Lê Dinh làm việc ở đài phát thanh Sài Gòn. Tại đây ông đã gặp gỡ và thân thiết với nhạc sĩ Minh Kỳ, một cảnh sát kiêm nhạc sĩ, nổi tiếng nhất với ca khúc Xuân Đã Về được sáng tác từ thập niên 1950. Họ đã cùng nhau sáng tác nhiều ca khúc nhạc Xuân, trong đó nổi tiếng nhất là 3 bài Cánh Thiệp Đầu Xuân – Gác Nhỏ Đêm Xuân – Hạnh Phúc Đầu Xuân. Mời các bạn nghe lại:


Click để nghe Thanh Thúy hát Cánh Thiệp Đầu Xuân


Click để nghe Thanh Thúy hát Hạnh Phúc Đầu Xuân


Click để nghe Giao Linh hát Gác Nhỏ Đêm Xuân

Ngoài ra, Lê Dinh và Minh Kỳ còn hợp soạn ca khúc Đường Về Khuya:


Click để nghe Phương Dung hát Đường Về Khuya

Những bài hát viết chung với nhạc sĩ Anh Bằng

Một ngày đầu thập niên 1960, khi nhạc sĩ Lê Dinh ở công sở là đài phát thanh, có một nhạc sĩ dáng vẻ hiền lành, nói giọng Bắc đến găp ông và đưa một số bài hát nhờ lăng xê trên đài phát thanh. Người nhạc sĩ đó chính là Anh Bằng. Sau đó 2 người trở nên thân thiết và cùng hợp soạn ra nhiều bài hát, mà nổi tiếng nhất là chùm ca khúc về tình yêu, nhưng mang tính “chiêu hồi”, đó là Giấc Ngủ Cô Đơn, Đôi BóngBóng Đêm:


Click để nghe Thanh Thúy hát Giấc Ngủ Cô Đơn


Click để nghe Hoàng Oanh hát Đôi Bóng


Click để nghe Thanh Lan hát Bóng Đêm

Ngoài ra Lê Dinh và Anh Bằng còn sáng tác 3 bài hát về tình yêu đôi lứa rất tình cảm là Nếu Ai Có Hỏi, Nếu Hai Đứa Mình Chỉ Hai Đứa Mình Thôi Nhé:


Click để nghe Hoàng Oanh hát Nếu Ai Có Hỏi


Click để nghe Hoàng Oanh hát Nếu Hai Đứa Mình


Click để nghe Hoàng Oanh hát Chỉ Hai Đứa Mình Thôi Nhé

Đông Kha – chuyenxua.net

Khủng hoảng năng lượng toàn cầu qua bài viết trên báo chí Việt Nam năm 1940

Từ nhiều năm qua, “khủng hoảng năng lượng” là một khái niệm quen thuộc với hầu hết mọi người, đặc biệt là trong tình trạng hiện nay, xăng dầu đang là thứ mà mọi người quan tâm hàng ngày, tầm ảnh hưởng của nó mang tính chất toàn cầu.

Ngoài ra, một khái niệm khác là “năng lượng hạt nhân” đang được nhắc tới hàng ngày và cũng đang có những cuộc khủng hoảng hạt nhân xảy ra trên thế giới.

Từ hơn 80 năm trước (năm 1940), báo chí ở Việt Nam đã nhắc tới những khái niệm bên trên, về mối lo ngại về những cuộc khủng hoảng năng lượng sẽ diễn ra và ảnh hưởng tới cuộc sống của mỗi người, và sự ráo riết tìm cách khai thác nguồn năng lượng thay thế: Năng lượng nguyên tử. Xin nói thêm rằng thời điểm năm 1940, trên thế giới chưa chính thức tạo ra được điện từ năng lượng nguyên tử, và các nhà khoa học đang tập trung nghiên cứu về nó như là một loại năng lượng tiềm năng, là thứ vô tận nếu khai thác được, có thể thay thế cho xăng dầu, than đá, than trắng… nếu những thứ này bị cạn kiệt.

(Than trắng, hoặc “than đá trắng”, tiếng Pháp là houille blanche, là cách gọi của thủy điện thời đó, là năng lượng từ thác nước).

Vậy hơn 80 năm trước, báo Việt Nam đã nói gì về điện nguyên tử? Xin mời các bạn đọc một bài báo rất thú vị sau đây, đăng trên thời báo Trung Bắc Tân Văn.

Bài viết này giữ nguyên gốc văn phong báo chí quốc ngữ của đầu thế kỷ 20.

Thế giới đến ngày cạn hết cả than lẫn dầu thì sao?

Nhờ có văn minh khoa học đời nay, hầu hết mỗi nhà được hưởng những sự lợi-tiện của máy đèn, máy nước, máy hát điện, cho đến lò sưởi và bấp nấu ăn cũng là điện-khí. Ngoài đường thì xe hơi, tàu hỏa, máy bay, rầm rầm suốt ngày thâu đêm, rút ngắn đường sá và ngày giờ lại gang tấc. Còn biết bao nhiêu vật-dụng chế-tạo bởi cơ-khí. Đời con người ta sung sướng đủ thứ!

Xong chẳng biết có ai chịu khó nghĩ đến một ngày kia, cái ngày tất nhiên phải đến, nhà máy điện-khí phải ngừng, các mỏ dầu cạn hết, một cục than đá than củi gì cũng không còn thì sao? Cuộc đời văn minh lúc ấy sẽ tiêu-tàn ảm-đạm biết sao mà nói.

Tất có người bảo không sợ. Trong ruột trái đất còn chứa vô số mạch dầu và mỏ than, người ta đào lấy đến muôn ngàn đời chưa hết. Ví chăng có cạn dầu hết than, thì cũng còn than đá trắng là những thác nước chảy hùng dũng kia bao giờ hết được, vì còn có mặt trời hút lấy hơi nước biển làm ra mưa xuống núi nón thì còn có thác nước thao-thao bất tuyệt cho người ta tha-hồ lợi-dụng.

Ai tưởng như thế là lầm. Người ta đã bới đào khắp trong gan ruột quả-đất, tính ra than-đá còn được chừng 3.700 năm nữa, nhưng dầu-tây thì chỉ 20 năm nữa là cạn ráo. Ngay đến than trắng cũng chẳng phải là vật muôn năm bất tuyệt đâu, vì lần-hồi đây rồi có các cuộc hỏa-sơn, địa-chấn làm bằng-phẳng mất các núi non và thung lũng cao, tự nhiên sẽ không còn thác ghềnh gì nữa. Thác ghềnh không còn thì làm gì có than trắng?

Có người lại nói:

– Thế bây giờ người ta chẳng chế-tạo ra dầu xăng nhân-tạo được rồi và chẳng dùng hơi than củi để chạy máy được là gì!

Thưa quả có như thế! Nhưng các ngài nên biết cho rằng muốn chế ra dầu xăng nhơn-tạo, tất phải cần than đá làm gốc; muốn dùng hơi than củi thì tất phải có rừng cây cho nhiều. Hai món than đá và rừng cây, lâu nay người ra xài dữ quá, thế tất đến ngày cạn hết thì làm sao?

Bởi vậy, từ lâu, các nhà bác-học đã tiên-liệu cái nguy đến một ngày kia, các nguồn làm nên than trắng – Những thác nước ở trên núi non chảy xuống có sức rất mạnh. Lâu nay các xứ văn-minh đã tìm được cách thâu dụng cái sức mạnh thiên-nhiên ấy để chạy máy này máy kia, gọi là than-đá-trắng.

Sức mạnh đều khô hết cả, thì máy gì cũng hết chạy, xe tàu gì cũng phải nằm ụ, các cuộc thông tin và đàn hát bằng vô tuyến điện cũng phải câm.

Nhưng mà đứng trước cái nguy ấy, chỉ có phàm-nhân chúng ta la xo, chứ khoa-học không chịu khoanh tay bất lực. Khoa học cố tìm ra một nguồn sức mạnh khác để thay thế cho than, dầu và điện khí.

Sức mạnh ấy ở đâu cũng có, ở ngay trong một đồng xu con mà đi.

Một đồng xu có sức mạnh kéo nổi 40 toa xe lửa chạy vòng quanh trái đất 6 lần.

Các nhà vật-lý học, từ cuối thế-kỷ trước (thế-kỷ 19) đã tìm ra một nguồn sức mạnh không ngờ.

Té ra mỗi vật-chất gì, cũng bởi không biết bao nhiêu ức ức triệu triệu những cái hết sức bé nhỏ kết-hợp lại với nhau mà tạo nên. Những cái hết sức tinh-vi bé nhỏ ấy, khoa-học đặt tên nó là a-tôm (atomes) hay là nguyên-tử. Nó bé nhỏ đến đỗi trong một nét mực in để in một dấu đánh chấm câu trong bài chư vị độc giả đang đọc đây, cũng chứa không biết mấy ngàn triệu số ngàn triệu nguyên-tử mà nói.

Lạ nhứt là mỗi một nguyên-tử như thế, chính giữa có một cái hột tâm trụ cột, chung quanh cái hột ấy có hằng-hà sa-số điện-tử bao vây luân chuyển, y như mặt trời đứng giữa mà chung quanh có những tinh-tú bao bọc vậy.

Sau khi tìm kiếm cái nguồn sức mạnh thiên-nhiên quái dị ấy, các nhà bác-học mừng quá, gần muốn phát điên:

– “Ủa! té ra mỗi một nguyên-tử chính là một bố máy tự có sức mạnh và chạy mau ghê hồn! Ta có cách gì bắt lấy sức mạnh ấy mà dùng thì lợi biết mấy, chẳng tốn kém mảy may nào, vì bất cứ một vật-chất gì cũng có nó đầy rẫy kia mà”.

Quả thật, sức mạnh ấy nếu ta có cách bắt lấy mà dùng, khi ta hết sạch chẳng còn một cục than, một giọt dầu nào cũng chẳng lo. Đã nói trong vật-chất nào cũng chứa hằng-hà sa-số nguyên tử, tức là hằng-hà sa-số sức mạng. Ví dụ một đồng xu con, sức mạnh chứa trong mình nó bằng đốt 5.000 tấn than-đá, kéo nổi một chuyến xe lửa 40 toa, chạy vòng quay địa-cầu 6 lần. Ai bảo đồng xu là một vật bé-nhỏ, như cái dấu đánh chấm câu mới nói trên kia cũng chứa đủ sức mạnh để kéo nổi hai chiếc chiến-hạm khổng-lồ của nước Pháp, là Richelieu và Clémenceau, đặt lên trên chót núi Himalaya (núi ở Ấn-độ, cao nhứt thiên hạ), còn kéo thêm một chiếc tàu tuần dương 20.000 tấn nữa là khác.

Khoa-học đã lần mò ra cái sức mạnh thiên nhiên lạ thường ấy rồi, nhưng đến sự bắt lấy nó mà dùng không phải là dễ.

Ba nhà vật-lý học đại-danh của nước Pháp là ông Becquerel, cùng hai ông bà Pierre và Marie Curie, mấy chục năm trước, đã phát-minh ra phép làm cho nguyên-tử phải nổ bùng ra (radioactivité), hế nó có nổ thì mới bật sức mạnh ra cho người ta dùng.

Nhưng phải làm sao cho bao nhiêu nguyên-từ chứa trong một vật gì bất cứ, đồng thời phát nổ một lượt, mới có sức mạnh để mà dùng; trái lại, nếu cái nổ trước, cái nổ sau thì không có sức mạnh gì đáng kể.

Các bậc tiên-hiền Pierre và Marie Curie đành phải khoanh tay ở chỗ đó.

Vợ chồng Pierre và Marie Curie

Hai ngài qua đời, đã có con gái và chàng rể nối chí, thành-công.

Ấy là bà Irène-Curie và giáo sư Frédéric Joliot, hai nhà bác-học đã được phần thưởng Nobel về khoa vật-lý và nổi tiếng trong khoa-học fiowsi nước Pháp hiện giờ.

Coi chừng sức nóng có thể “rô-ti” cả nhân loại chín như lợn quay

Khoa-học đã tìm ra nguyên-tử và biết rằng hễ nguyên tử nổ bùng ra thì có muôn vàn sức nóng cho người ta dùng để chạy máy này máy kia, vừa nhiều vừa rẻ, chẳng cần gì đến than và dầu nữa. Nhưng chờ cho nguyên-tử tự nó phát nổ ra sức nóng mà dùng thì biết đến bao giờ?

Người ta không có cách gì bắn phá nguyên-tử phải nổ bùng lên ư?

Vợ chồng giáo-sư Joliot nói:

– Có!

Vợ chồng Irène Joliot-Curie và Frédéric Joliot

Từ năm 1934, cặp vợ chồng khoa-học đại danh này đã tìm ra cách dùng nhân-lực bắn nổ nguyên-tử (radioactivité artificielle). Chính hai nhà bác-học ấy chế-tạo ra thứ đạn riêng, bắn vào nguyên-tử, làm cho nguyên-tử nổ bật ra sức nóng.

Sau mấy năm cặm cụi nghiên-cứu, đến ngày 30 tháng 1 năm nay (1939), giáo-sư Joliot đem việc mình bắn phá nguyên-tử của chất ᴜɾaniᴜm trình bày trước viện Khoa-học nghiên cứu (Academic des Sciences) đại khái như sau này:

“Tôi đã thử bắn phá nguyên tử của chất ᴜɾaniᴜm, với những viên đạn gọi là neutrons (mảnh-mún của một chất kim-khí hết sức bé nhỏ, khoa-học có thể chế-tạo ra). Tôi nhìn thấy một hiện tượng rất lạ: Mỗi lần một viên đạn neutron bắn trúng vào một nguyên-tử thì nguyên-tử này nổ tung ra từng mảnh; ngay trong những mảnh ấy, có lẽ cũng chứa những đạn neutrons khác. Thành ra các nguyên-tử khác có thể đồng thời bị bắn trúng mà phát nổ, rồi chính nó đem đạn neutrons chứa sẵn trong mình nó mà bắn phá những nguyên-tử khác nữa cũng phải nổ. Nó bắn lẫn nhau như thế mãi. Thì ra viên đạn mình bắn đầu tiên, giống như một cây diêm, chỉ châm lửa vào một tí, đủ làm cháy bùng cả kho thuốc súng vậy”.

Nhưng, mặc dầu sự phát-minh quan hệ ấy, giáo-sư Joliot không khỏi có chỗ giật mình lo ngại xa xôi.

Lo ngại tất cả các nguyên-tử đồng thời phát nổ, thì thế-giới có thể phát sinh một cái tai hoa hết sức nguy hiểm.

Thật vậy, mình cốt bắn phá nguyên-tử của chất này, nhưng rồi nguyên-tử này lại tự bắn phá các nguyên-tử kia, cứ bắn phá truyền nhau như thế mãi; nó có thể bắn sang nguyên-tử bao nhiêu chất khác trong hoàn cầu, chừng đó sức nóng đồng-thời phát ra, e cả thế-giới nhân loại đều bị đốt tiêu nướng chín thì nguy.

Nhà khoa-học lo xa như thế, không phải là vô-lý.

Độc-giả đã nghe chuyện vua nước Ba-tư (roi des Perses) với hột lúa chưa? Chuyện lý thú lắm.

Anh Sessa sáng tạo ra bàn đánh cờ người (đây nói về jeu d’échces của Tây) [ngày nay gọi là cờ vua] rất hay, vua xứ Ba-tư thích lắm, ngài phán hỏi anh ta muốn được ban thưởng cách gì, tùy ý chọn lựa, để ngài ban thưởng cho.

Sassa nói:

– Tâu bệ-hạ, tiểu nhân chỉ xin bệ-hạ cho để vào ngăn thứ nhất của bàn ờ 1 hột lúa mì, ngăn thứ hai 2 hột, ngăn thứ ba 4 hột, ngăn thứ tư 8 hột v.v… cứ mỗi ngăn gấp đôi số lúa, cho hết 64 ngăn trong bàn cờ thì thôi.

Vua Ba-tư mừng rỡ, chịu liền, tưởng là sự ban thưởng ấy dễ dàng và không tốn kéo cho ngài bao nhiêu.

Một lát, các quan coi kho hốt hoảng chạy vào quỳ tâu:

– Bẩm Ngài-ngự, không thể nào ban thưởng Sassa bằng cách đó được, vì đến những ngăn sau cùng, tất cả lúa gặt trong địa-cầu cũng không đủ.

Thật vậy, nếu cứ nhân đôi số lúa ở mỗi ngăn của bàn cờ, thì đến ngăn thứ 64, phải để bấy nhiêu hạt lúa, biết là mấy ngàn ngàn triệu triệu:

18.446.744.073.709.551.615

Giả-tỉ một thước khối (métre-cube) có 20 triệu hột lúa mì, thì vua Ba-tư phải cho Sessa tới 922.337.203.685 thước khối, nghĩa là 8 lần nhiều hơn số lúa mì sản xuất trong Địa-cầu 1 năm, ấy là nói tất cả mặt đất đều trồng lúa mì thì mới được thế.

Ấy, việc bắn phá nguyên-tử mà giáo-sư Joliot phải xo la, cũng như vậy đó. Đầu tiên, mình bắn phá hột nguyên tử thứ 1, nó nổ tung ra nhiều mảnh mín, chính những mảnh mín ấy tự bắn phá bao nhiêu hột nguyên-tử khác nó cứ bắn truyền và nổ bùng liên tiếp như thế, chỉ trong khoảnh khắc của một cái tích-tắc đồng hồ, sức nóng phát lên gớm ghê, khí-hậu bỗng chóc tăng cao nhiệt-độ thế-gian dẽ bị nung nấu và cháy tàn hết còn gì!

Người ta đã nói một viên đạn nguyên tử của giáo-sư Joliot bắn ra có thể phá tan đốt cháy cả nước Đức, không phải là nói quá đáng. Có điều làm sao ngăn rào chung quanh nước Đức để nguyên-tử đừng bắn chuyền nhau mà cháy cả thiên-hạ.

Nay mai xe tàu máy móc đều chạy bằng nguyên tử.

Bởi vậy, muốn lợi-dụng được sức nóng của nguyên-tử và tránh cái tai-họa ghê gớm như đã nói trên, hiện nay Khoa-học đang tìm cách nào chứa giữ lấy sức nóng ấy mà dùng vào cơ-khí.

Việc này, tất nhiên khoa-học sẽ thành công kết quả.

Một ngày kia, chắc hẳn không lâu, sẽ thấy người ta trữ được sức nóng nguyên-tử để dùng nấu nồi sốt-de, quay các guồng máy và làm ra điện khí, khỏi cần đến than đá và dầu xăng như ngày nay nữa.

Người ta sẽ cất lên nhiều kho chứa nguyên-tử dể chuyển hơi nóng cho nhà máy này, nhà máy kia.

Lúc ấy, những tàu bể khổng lồ, những máy bay chở khách, những đầu máy xe lửa, các xưởng chế-tạo xong rồi giao trả những người đặt mua, đồng thời lại giao luôn mấy tấn ᴜɾaniᴜm để người ta đem về bắn phá nguyên-tử trong chất ấy ra lấy sức nóng mà chạy máy, có lẽ dùng đến mấy chục thế-kỷ cũng chưa hết. Chắc hẳn xe tàu máy móc hư hỏng trước, mà nguyên-tử chứa trong mấy tấn ᴜɾaniᴜm chưa hao hớt bao nhiêu!

Đã nói sức nóng thiên nhiên này ở đâu cũng có, vừa nhiều vừa rẻ hết sức. Chừng đó, chiếc tàu khổng lồ như Normandie chạy qua biển Đại-tây chỉ tốn kém một chút xíu nguyên-tử như ta bây giờ đổ mấy giọt dầu xăng vào trong một cái máy vậy thôi.

Những công trình kiến trúc trăm năm còn lại ở Sài Gòn – Kỳ 5: Những công trình của Foulhoux: Bưu Điện Sài Gòn, Tòa Án, Dinh Gia Long…

Những công trình/tòa nhà được xây từ hơn 100 năm trước ở Sài Gòn, hầu hết đã bị thay thế tháo dỡ. Những công trình nào còn lại cho đến nay thì đều rất quen thuộc với những người từng sống ở Sài Gòn, có thể kể đến Bưu Điện Sài Gòn, Dinh Gia Long, Tòa Pháp Đình (nay là Tòa Án trên đường NKKN), Tòa nhà Quan Thuế (được sửa lại từ nhà ông Wang Tai, đầu đường Hàm Nghi ngày nay), và một trong những tòa nhà xưa nhất vẫn còn lại cho đến nay của Sài Gòn là Dinh Thượng Thơ – nay là trụ sở của Sở Thông tin truyền thông trên đường Lý Tự Trọng, được xây dựng năm 1875.

Điểm chung của những tòa nhà/công trình kiến trúc được kể bên trên, đó là chúng đều là tác phẩm của một người, là tổng kiến trúc sư đầu tiên của thành phố Sài Gòn, ông Marie-Alfred Foulhoux (1840-1892). Có thể nói rằng ít có quan chức thuộc địa nào đã ghi dấu ấn đậm nét đối với kiến trúc đô thị Sài Gòn nhiều như Foulhoux.

Trong loạt bài viết về những công trình có tuổi đời trêm 100 năm ở Sài Gòn, ở bài này sẽ nhắc về những tòa nhà là tác phẩm của Foulhoux.

Marie-Alfred Foulhoux được sinh vào ngày 23 tháng 9 năm 1840, tại Mauzun thuộc tỉnh Puy-de-Dôme – vùng Auvergne-Rhône-Alpes miền trung nước Pháp. Ông học kiến ​​trúc tại École des Beaux-Arts ở Paris từ 1862 đến 1870, sau đó trở thành Kiến trúc sư tại Compagnie des Chemins de fer de Paris à Lyon et à la Méditerranée (PLM), một trong những công ty đường sắt tư nhân lớn nhất ở Pháp thời bấy giờ.

Năm 1874, ông đến Saigon làm việc, một năm sau đó được bổ nhiệm làm Giám đốc phụ trách xây dựng công trình công cộng. Năm 1879, sau khi chế độ dân sự đầu tiên ở Nam Kỳ được thành lập dưới thời Thống đốc Charles Le Myre de Vilers, Foulhoux được bổ nhiệm làm Tổng kiến ​​trúc sư, từ lúc này ông có thể chuyên tâm hoàn toàn vào những gì mà ông làm tốt nhất – đó là thiết kế các tòa nhà dân sự.

Với vai trò này, ông là tác giả của những công trình lớn của Sài Gòn, đã tồn tại bền bỉ với thời gian sau đây:

Hôtel de L’Interieur – Dinh Thượng Thơ

Công trình lớn đầu tiên ở Sài Gòn mà Foulhoux phụ trách là Dinh Thượng Thơ (Hôtel de L’Interieur).

Tòa nhà nằm ở góc đường Catinat – Grandière thời Pháp, thời VNCH đổi tên thành đường Tự Do – Gia Long, nay là Đồng Khởi – Lý Tự Trọng, lâu nay thường được gọi là Dinh Thượng Thơ, nay là trụ sở của Sở Thông tin – truyền thông.

Tòa nhà này từng là trung tâm quyền lực của toàn cõi Nam kỳ, chỉ xếp sau Dinh Thống Đốc. Vào năm 1864, chỉ 2 năm sau khi chiếm được Gia Định, người Pháp bắt tay vào quy hoạch, xây dựng thành phố Sài Gòn và xây dựng một trong những cơ quan hành chính đầu tiên của chính quyền ở thuộc địa, đó là Hôtel de la direction de l’intérieur (Nha giám đốc Nội vụ). Lúc này con đường trước trụ sở này chưa mang tên Grandière, mà còn tên là Gouveneur.

Nha giám đốc Nội vụ có vai trò điều hành trực tiếp của các thanh tra sự vụ bản xứ về toàn bộ vấn đề dân sự, tư pháp và tài chính của thuộc địa. Một thời gian sau, khi Sài Gòn bắt đầu đông đúc, tòa nhà trụ sở cũ của Nha Nội vụ trở nên nhỏ bé, vì vậy vào năm 1875, Giám đốc xây dựng công trình công cộng vừa mới được bổ nhiệm là Foulhoux đã được giao cho việc thiết kế, xây dựng một trụ sở mới, với tổng chi phí là 108.000 francs,

Công trình chính thức được hoàn thành năm 1881, với kiến trúc hình chữ U vẫn còn lại đến tận ngày nay, sau hơn 130 năm.

Đến năm 1888, chức năng của Nha giám đốc Nội vụ được nhập vào Thơ Ký Thống đốc Nam kỳ ở góc đường Catinat – d’Espagne (nay là Lê Thánh Tôn) sát bên Dinh xã Tây (Tòa Đô Chánh). Vào đầu thế kỷ 20, cơ quan này còn có tên là Văn phòng Chính phủ.

Bên trái là cổng của Dinh Thượng Thơ

Năm 1946, Dinh Thượng Thơ trở thành đinh Thủ hiến Nam Việt, rồi Tòa Đại biểu Nam phần.

Từ sau năm 1955, trụ sở cơ quan của bộ Nội vụ VNCH được chuyển sang đường Tự Do, ở bót Catinat cũ, còn tòa nhà Dinh Thượng Thơ trở thành trụ sở Bộ Kinh tế.

Trụ sở Bộ Kinh Tế của VNCH nhìn từ dường Tự Do – công viên Chi Lăng

Ngày nay, tòa nhà này nằm ở địa chỉ số 59-61 Lý Tự Trọng, trụ sở của Sở Thông Tin – Truyền Thông., và một phần của Sở Công Thương.

Dinh Thượng Thơ xưa và nay

Palais de Justice – Tòa Công Lý

Đây là công trình lớn thứ 2 mà Foulhoux phụ trách, khi ông đã nhậm chức Tổng Kiến trúc sư ở Nam kỳ. Với công trình này, Foulhoux chỉ phụ trách phần trang trí mỹ thuật, còn thiết kế phần công trình là kiến trúc sư Bourard.

Palais de Justice (Tòa Pháp Đình/Tòa Công Lý) mang phong cách tân cổ điển được xây dựng từ năm 1881 đến 1885, có 2 tầng với hành lang 2 bên và một tầng hầm, nằm ở góc đường Mac Mahon và la Grandiere (nay là NKKN và Lý Tự Trọng).

Cũng vì Tòa Công Lý nằm ở đường này nên sau năm 1955, con đường đi ngang qua được đặt tên là Công Lý, trước khi đổi lại thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa từ năm 1975. Điểm nổi bật của công trình này là các bức phù điều được kiến trúc sư Jules Bourard thực hiện (Jules Bourard cũng là người xây Nhà Thờ Đức Bà). Sau năm 1954, Tòa Công Lý trở thành Tòa Án Quốc Gia, sau năm 1975 là Tòa Án Thành Phố.

Tòa nhà này là trụ sở thứ 2 của Palais de Justice ở Sài Gòn, được xây dựng để thay thế cho một tòa nhà khác có quy mô nhỏ hơn đã được xây từ gần 20 năm trước đó, nhưng bị đập bỏ để nhường lại vị trí cho tòa nhà Dinh Thống Đốc (sau này là Dinh Gia Long) ở bên đường Grandière (sau này là đường Gia Long, nay là đường Lý Tự Trọng). Dinh Gia Long được xây năm 1885 trên phần nền cũ của trụ sở đầu tiên của Palais de Justice, và cũng là một tác phẩm khác của Foulhoux sẽ được nhắc đến cụ thể hơn ở bên dưới.

Vị trí của tòa nhà Palais de Justice mới nằm ngay bên cạnh trụ sở cũ, cùng ở góc ngã tư đường Grandiere và Mac Mahon (nay là Lý Tự Trọng – NKKN). Đối diện bên kia đường là Khám Lớn Sài Gòn (Maison Centrale de Saigon), là nhà giam lớn nhất Sài Gòn thời điểm đó, thuận tiện trong việc xét xử phạm nhân.

Mặt sau của tòa nhà

Sau này khi xây dựng Khám Chí Hòa thì Khám Lớn được đập bỏ, sau đó trở thành phần đất xây dựng trường đại học Văn Khoa, rồi sau đó nữa là tòa nhà Thư viện Khoa học tổng hợp.

Palais de Justice nhìn từ trên cao. bên trái là Maison Centrale (Khám Lớn)

Tòa nhà Palais de Justice có bố cục hình chữ U với 1 trệt và 1 lầu, mỗi tầng cao 6,2m. Mái lợp ngói với độ dốc lớn, kết cấu đỡ mái gồm khung thép và gỗ. Ngoài ra tòa nhà còn có tầng bán hầm để làm kho lưu trữ và phòng lưu phạm nhân trong quá trình xét xử.

Mặt bằng tòa nhà với 4 mặt đều có dãy hành lang chạy xung quanh để cách ly, che mưa che nắng, tạo không gian thoáng mát cho các phòng làm việc, đồng thời tạo không gian đi lại giữa nội bộ Tòa án và người ngoài liên hệ công việc. Các chi tiết hành lang, lan can, con triện, cầu thang gỗ, cột tròn Ionic vẫn thường thấy ở các công trình của Pháp xây dựng ở Sài Gòn.

Bố cục hình chữ U với khoảng sân phía trước làm cho công trình này không mang tính phô trương nhưng có sự uy nghiêm, tạo các không gian tiếp cận giữa các bộ phận được thuận lợi.

Kiến trúc bên trong của Palais de Justice không phải ai cũng được nhìn thấy, vì vậy diện mạo quen thuộc nhất của tòa nhà này đối với công chúng là vẻ bên ngoài, đặc biệt là phần cổng được thiết kế ấn tượng.

Cổng vào là một cổng sắt 4 cánh được nhập từ Pháp bằng thép đúc rất nặng, có thể mở vào trong hay ra ngoài linh hoạt bởi một trụ thép nằm giữa. Trên đầu trụ thép có đèn chiếu sáng cho lối vào ban đêm.

Hai bên cổng là hai trụ cột vuông mỗi cạnh 1m. Đập vào mắt là một đầu tượng nữ giới, tượng này thể hiện biểu tượng cuộc cách mạng 1789 của Pháp, đó là nàng Marianne.

Chúng ta vẫn thường thấy hình ảnh nàng Marianne xuất hiện trên mọi tài liệu, văn bản chính thức của Chính phủ Pháp, trên tem thư và các đồng tiền xu. Trên đầu tượng là hình một con nhân sư ngự trị có đôi cánh thể hiện sức mạnh của pháp luật có thể vươn tới bất cứ nơi đâu.

Đầu tượng được đặt trên một cuốn sách thể hiện một văn bản luật, một bộ luật, một kế ước xã hội đặt ra để quản lý con người và mọi hoạt động chi phối trong xã hội. Phía dười cuốn sách là các bông hoa, chi tiết hoa văn thể hiện những bàn tay nâng đỡ cuốn sách (bộ luật) ý nói con người viết nên những bộ luật để quản lý xã hội chứ không phải thần thánh.

Bên dưới nữa là tượng đầu con sư tử, chúng ta bắt gặp hầu hết trong các cơ quan công quyền của Pháp và châu Âu. Tượng đầu con sư tử với miệng sư tử bị xích lại ý nói quyền lực phải cần được kiểm soát. Dưới cùng là hệ thống họa tiết hoa văn trang trí trong đó có nổi bật hai chi tiết.

Bên ngoài trái là một thanh kiếm thể hiện công lý phải được thực thi. Đối xứng thanh kiếm là một cành cây thể hiện sự mềm dẻo trong việc ứng xử của pháp luật (pháp luật có tính khoan hồng).

Chi tiết còn lại là hàng chữ RF (Republic France – Cộng hòa Pháp). Tất cả các chi tiết đều đăng đối qua một trục thể hiện tính chính nghĩa, nghiêm minh.

Nổi bật nhất là hệ thống tượng phù điêu trên đỉnh mái đón lối vào tòa nhà hình tam giác với hệ thống các hoa văn, họa tiết, phù điêu.

Tiêu biểu là tượng thần công lý tay phải cầm kiếm, tay trái để lên cuốn sách luật (CODE – bộ luật). Tượng hai người ngồi hai bên trong đó người phụ nữ búi tóc cao, tay cầm nón thể hiện người phụ nữ Việt Nam với phong thái nhẹ nhàng, nữ tính. Tượng người đàn ông đầu đội khăn đóng với nét mặt nghiêm trang chăm chú thể hiện tính chính trực, thẳng thắn, nghiêm trang là những đức tính của người đàn ông.

Qua tác phẩm cụm tượng này tác giả muốn nói lên pháp luật ngoài tính nghiêm minh, cần có tính khoan hồng, ngoài việc vận dụng các quy định của pháp luật, trong xét xử cần phải có người dân tham gia.

Mặt sau của tòa nhà

Năm 1961, một phần mở rộng phía sau của Tòa Án được kiến ​​trúc sư Đỗ Bá Vinh thực hiện theo một thiết kế hài hòa hoàn hảo với công trình nguyên bản.

Công trình tiêu biểu thứ 3 mà ông Foulhoux phụ trách nằm ở góc đường Catinat và Amiral Dupré (nay là Đồng Khởi – Đông Du), như trong hình bên dưới, tiếc là nay đã không còn. Vị trí đó ngày nay là khách sạn 5 sao Sheraton.

Trong hình bên trên, có thể thấy rõ dòng chữ: Maison Fondee en 1885, dịch nghĩa là tòa nhà được xây dựng năm 1885. Đó chính là năm mà Foulhoux được giao xây dựng một tòa nhà dành cho Bureau des Traductions à la Direction de l’Intérieur de Saigon (sau đổi tên là Direction du Service local: Phòng Phiên Dịch Dinh Thượng Thơ Sài Gòn), cơ quan mà Paulus Huình Tịnh Của từng làm việc.

Từ đầu thế kỷ 20, tòa nhà này được tư nhân mua lại, trở thành một cửa hàng bách hóa chuyên bán hàng nhập dành cho nhà giàu. Từ thập niên 1960, tòa nhà này trở thành Trung tâm bách hóa tổng hợp nổi tiếng mang tên Saigon Departo.

Tòa Nhà Thuế Quan

Ở đầu đường Hàm Nghi ngày nay, án ngữ ngay bờ sông là một tòa nhà có tuổi đời hơn 100 năm, thường được gọi là Tòa nhà Thuế Quan, là cơ quan quản lý thuế suốt từ cuối thế kỷ 19 cho đến nay.

Tòa nhà này cũng có thể là một công trình của kiến trúc sư Foulhoux, vì ông là người đã thiết kế để nó có diện mạo giống như ngày nay, bằng việc sửa chữa nó vào năm 1887 từ một tòa nhà đã có sẵn. Vì vậy, lịch sử hình thành tòa nhà này có nhiều thông tin thú vị, nếu quay ngược thời gian về trước thời của Foulhoux khoảng vài chục năm.

Tòa nhà Wang Tai lúc đang được xây dựng ở bên cạnh cột cờ thủ ngữ bên bờ sông Sài Gòn (1867)

Tòa nhà này đã được xây dựng năm 1867, ban đầu mang tên Maison Wang-Tai, là tư dinh của Wang Tai, lớn hơn cả dinh Thống đốc thời đó. Ban đầu một phần của tòa nhà được cho người Pháp thuê làm văn phòng, sau đó thì bán lại cho chính quyền với giá 254,000 francs để làm tòa thị chính.

Tòa nhà của Wang Tai lúc xây dựng xong. Đây là trung tâm hành chính đầu tiên của Sài Gòn

Tòa nhà Wang Tai này có thể xem là trung tâm hành chính đầu tiên của Sài Gòn, vừa là cơ quan hành chính, có phòng Thương mãi, phòng Chứng khoán để cấp môn bài, chứng nhận giấy tờ mua bán bất động sản…

Có thể thấy diện mạo nguyên thủy của tòa nhà này khác với kiểu dáng mà chúng ta thấy hiện nay, vì gần như là đã bị đập hoàn toàn để xây lại ngay từ năm 1887 theo thiết kế của Foulhoux.

Đây là hình dáng ban đầu của tòa nhà Wang Tai

Ban đầu, ông Wang Tai và gia đình ở tại đây, nhưng phần lớn của tòa nhà là khách sạn mang tên là Cosmopolitan, là một trong những khách sạn đầu tiên của Sài Gòn. Bên trong khách sạn được ông Wang Tai cho thuê một phần làm văn phòng. Theo tư liệu ngân sách do chính phủ Pháp ở Sài Gòn in năm 1876, thời đó ông Wang Tai có 3 căn nhà cho chính quyền thuê lại, ngoài tòa nhà Maison Wang-Tai này còn có một căn ở đường rue de Canton (nay là đường Triệu Quang Phục) cho thuê làm văn phòng điện tín, và một căn khác ở Bình Tây làm bốt cảnh sát.

Tòa nhà Wang Tai năm 1870

Năm 1874, gia đình ông Wang Tai dọn ra khỏi Maison Wang-Tai, đến năm 1880 ông đề nghị bán lại tòa nhà này cho chính quyền với giá 225.000 francs. Theo bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp, chính quyền lúc đó đã xem xét kinh phí đang mướn và tiền quản lý bảo trì tòa nhà cùng số tiền đang còn nợ chưa trả, Hội đồng quản hạt đã đồng ý bỏ ra 254.000 francs để mua lại tòa nhà vào năm 1882.

Trong một cuốn sách xuất bản năm 1883, tác giả Antole Petiton đã có nhắc đến tòa nhà Wang Tai, lúc này là Tòa thị chính, như sau:

“Khi tàu đến cảng Sài Gòn, du khách có thể thấy 2 nhà nổi bậc là Cảng Nhà Rồng và nhà của ông Wang Tai ở khu vực rạch Bến Nghé và sông Sài Gòn.

Cả Sài Gòn ai cũng biết đến ông Wang Tai, nhà của ông có 3 tầng rất lớn với cột cửa vòng cong và mái hiên nằm ngay giữa trung tâm Sài Gòn. Đây cũng là Tòa thị chính thành phố Sài Gòn và là nơi ở của ông thị trưởng. Ông thị trưởng quả là người công chức được chu cấp chỗ ở tốt nhất”.

Sau khi mua lại tòa nhà này, chính quyền đã phải bỏ ra rất nhiều tiền để tu bổ lại. Cuối năm 1884, bản tường trình của kiến trúc sư A. Foulhoux cho biết tòa nhà được xây dựng không đủ chất lượng để có thể nâng cấp, sửa chữa. Vì vậy vị kiến trúc sư này đề nghị có phương án sửa chữa lại với chi phí dự trù là 30.000 piastres (tiền Đông Dương, 1 piastre tương đương khoảng 10 francs), hoặc phá bỏ hoàn toàn và xây lại với chi phí 75.000 piastres.

Tòa nhà Wang Tai sau khi đã sửa chữa lại năm 1887

Cuối cùng, hội đồng quản hạt biểu quyết thông qua ngân sách 37.000 piastres để sửa chữa. Chính ông Foulhoux là kiến trúc sư trưởng sửa chữa lại maison Wang Tai vào năm 1887 để trở thành tòa nhà Hôtel des douanes có kiểu dáng còn lại đến ngày nay sau hơn 130 năm.

Trụ sở Quan Thuế ở đầu đại lộ Hàm Nghi năm 1930, lúc này tòa nhà mang tên Hôtel des Douanes,

Tòa nhà Quan Thuế bên phải, vào thập niên 1960. Chính giữa là đại lộ Hàm Nghi

Palais du Lieutenant Gouverneur (Dinh Thống Đốc) – Dinh Gia Long

Công trình lớn tiếp theo, và là là công trình lớn nhất của Foulhoux tại Sài Gòn chính là Dinh Thống Đốc Nam Kỳ, khỏi công xây dựng năm 1885, hoàn thành năm 1890, thường được gọi bằng cái tên Dinh Phó Soái (vì nó dành cho phó Toàn quyền Đông Dương), sau này được chính quyền Quốc trưởng Bảo Đại đổi tên thành Dinh Gia Long.

Trong lịch sử hơn 130 năm tồn tại, Dinh Gia Long đã rất nhiều lần đổi chủ, được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Ban đầu nó được xây dựng với mục đích để làm Bảo Tàng Thương Mại, trưng bày sản phẩm của người bản xứ, nhưng khi chưa được sử dụng đúng công năng được một ngày nào thì đã được các Thống đốc Nam kỳ, sau đó là Phó toàn quyền Đông Dương sử dụng.

Từ sau đó cho đến gần 100 năm sau, Dinh Gia Long chủ yếu là một cơ sở chính quyền phục vụ chính trị, cho đến tận năm 1978 thì mới được trở lại với công năng của ban đầu xây dựng, đó là một bảo tàng triển lãm (museum).

Vì có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng cái tên quen thuộc nhất của dinh này vẫn là Dinh Gia Long, được cựu hoàng Bảo Đại đặt tên từ năm 1952, khi đó Bảo Đại đang là quốc trưởng của quốc gia Việt Nam. Vì vậy, trong bài viết này xin gọi chung tòa nhà này là Dinh Gia Long, trong mọi thời kỳ.

Tòa nhà có diện tích mặt bằng rộng hơn 1.700 m², gồm hai tầng với một tòa nhà chính và hai dãy nhà ngang, thiết kế theo phong cách cổ điển – phục hưng, kết hợp Âu – Á.

Mặt tiền tòa nhà được trang trí bằng rất nhiều tác phẩm điêu khắc tinh xảo. Ngay phần chóp trên mái tam giác ở mặt phía trước được trang trí bằng một tượng đầu người nghiêm trang. Hai bên trang trí bằng các họa tiết đắp nổi như cành dương liễu, tràng hoa lá bao xung quanh, rắn khoanh tròn…

Nhiều họa tiết đắp nổi khác là sự kết hợp giữa các biểu tượng thần thoại Hy Lạp và hình tượng cây cỏ và thú vật vùng nhiệt đới.

Nội thất của dinh thự rất tráng lệ với những chùm đèn pha lê, hốc tranh tường, các trụ cột, gờ trần phong cách cổ điển sang trọng.

Giữa sảnh chính của tòa nhà là một cầu thang gỗ uốn cong về hai bên để dẫn lên tầng hai.

Năm 1887, khi tòa nhà đang xây dựng dang dở thì Liên bang Đông Dương được thành lập, lấy Hà Nội làm thủ đô. Lúc này vì Hà Nội vẫn chưa xây Dinh toàn quyền Đông Dương (đến tận năm 1906 mới xây dựng xong, nay là Phủ chủ tịch nước), nên ông toàn quyền Đông Dương nhiệm kỳ đầu tiên là Ernest Constans đã sử dụng Dinh thống đốc Nam kỳ ở Sài Gòn (tức dinh Norodom, nay là dinh Độc Lập) để làm trụ sở làm việc. Vì vậy ông Thống đốc Nam kỳ (là chức vụ đã có từ năm 1879) lúc đó là Henri Éloi Danel phải nhường lại dinh Norodom để chuyển sang sử dụng Dinh Gia Long khi nó được xây dựng xong năm 1890.

Kể từ năm 1888, chức vụ Thống đốc Nam Kỳ bị bãi bỏ, thay bằng chức Phó toàn quyền Đông Dương, nên kể từ sau đó Dinh Gia Long được sử dụng hẳn làm dinh Phó Toàn quyền, thường được dân chúng gọi là dinh Phó soái.

(Thực ra chức vụ Phó toàn quyền Đông Dương này quyền hạn cũng không khác gì chức vụ Thống đốc Nam kỳ cũ, nên trong nhiều văn bản, người ta thường ghi lẫn lộn 2 chức vụ này với nhau).

Đến năm 1906, phủ toàn quyền được xây xong ở Hà Nội, toàn quyền Đông Dương rời dinh Norodom để di chuyển ra Bắc làm việc, nhưng các Phó toàn quyền vẫn tiếp tục sử dụng Dinh Gia Long, còn Dinh Norodom trở thành nơi làm việc của ᴄáᴄ ᴄơ qᴜan thᴜộᴄ Phủ Tᴏàn qᴜyền (ᴄơ qᴜan liên banɡ) đặᴄ tɾáᴄh ở Nam Kỳ.

Sau ông Henri Éloi Danel, các Phó toàn quyền người Pháp thay nhau tiếp tục làm chủ Dinh Gia Long. Từ năm 1892 đến năm 1911, đã có thêm tất cả 14 vị Phó toàn quyền khác (trong số 14 vị này có một số vị đảm nhiệm chức vụ này 2 hay 3 lần) cư ngụ trong Dinh.

Năm 1912, chính quyền thuộc địa lại bãi bỏ chức vụ Phó toàn quyền, quay trở lại sử dụng chức danh Thống đốc Nam kỳ.

Từ 1912 cho đến ngày 9/3/1945 đã có thêm tất cả 16 vị Thống đốc Nam kỳ sống và làm việc trong Dinh Gia Long.

Do được xây làm Bảo tàng Thương mại nên ban đầu ở hai bên cửa chính tòa nhà có hai cột trụ trang trí bằng hai tượng nữ thần Thương nghiệp và Công nghiệp. Năm 1943, Thống đốc Nam Kỳ Ernest Thimothée Hoeffel cho phá bỏ hai tượng này để xây dựng một mái hiên.

Trước đó, từ năm 1905, cựu Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã viết trong hồi ký:

Dinh Thống đốc Nam Kỳ được xây dựng với mục đích làm bảo tàng. Như thường thấy, Dinh này hẳn là đáp ứng khá kém với mục đích ban đầu; trái lại, nó đáp ứng mục đích làm dinh thự cho một quan chức cấp cao và văn phòng của ông ta đẹp hơn bất kỳ một nơi nào khác. Đó sẽ là một tòa dinh thự đẹp với những nét độc đáo nếu ai đó không nảy ra cái ý tưởng kỳ lạ tô điểm mặt tiền bằng những pho tượng giả đá to lớn và dị dạng.

Năm 1945, dinh Thống đốc nhiều lần đổi chủ. Sau khi quân Nhật nắm quyền tại Đông Dương, vị thống đốc người Nhật là Yoshio Minoda sử dụng tòa nhà làm dinh thự.

Vua Khải Định ghé Sài Gòn thăm Thống đốc Sài Gòn tại dinh Phó soái trong lần đi dự Hội chợ thuộc địa Marseille

Ngày 14 tháng 8 năm 1946, người Nhật giao lại dinh thự cho chính quyền Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam để làm dinh Khâm sai Đại thần Nam Bộ Nguyễn Văn Sâm.

Đến ngày 25/8/1946, Việt Minh giành được chính quyền, dinh lại trở thành trụ sở Ủy ban Hành chánh Lâm thời Nam bộ, gọi tắt là Lâm ủy Nam Bộ, rồi của Ủy ban Nhân dân Nam Bộ.

Ngày 10/9/1946, Trung tá B. W Roe (phái bộ quân sự Anh) chiếm dinh làm trụ sở Phái bộ Đồng minh, buộc Ủy ban Nhân dân Nam Bộ phải dời về dinh Đốc lý.

Mặt sau dinh phó soái

Đến ngày 5/10/1946, dinh được tướng Leclerc dùng làm Phủ Cao ủy Cộng hòa Pháp tạm thời. Sau khi Cao ủy Cộng hòa Pháp tại Đông Dương là Đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu chọn dinh Norodom làm Phủ Cao ủy, thì dinh lại trở thành nơi làm việc của tướng Leclerc, nhưng lần này với danh nghĩa chính thức là trụ sở của Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Việt Nam.

Toàn cảnh khu vực Dinh Gia Long. Ngay chính giữa hình là Tòa Pháp Đình (nay là Tòa Án trên đường NKKN). Góc trên bên phải là Dinh Norodom (dinh Độc Lập). Dinh Gia Long nằm gần bên dưới Tòa Pháp Đình

Sau khi tái chiếm Đông Dương, ngày 23 tháng 5 năm 1947, chính quyền Pháp đã bàn giao dinh cho Thủ tướng Lê Văn Hoạch để làm trụ sở chính phủ Nam kỳ quốc. Ngày 2 tháng 6 năm 1948, chính phủ lâm thời Quốc gia Việt Nam của quốc trưởng Bảo Đại được thành lập và dinh được sau đó chuyển thành dinh Tổng trấn, (sau đổi thành Thủ hiến) Nam phần dưới quyền sử dụng của Thủ hiến Trần Văn Hữu.

Dinh Gia Long thời Quốc trưởng Bảo Đại (quốc gia Việt Nam) năm 1950

Thời thủ tướng Nguyễn Văn Tâm của chính phủ Quốc Gia Việt Nam (nhiệm kỳ 1952-1953), ông từng sử dụng Dinh thự này.

Gia đình thủ tướng Nguyễn Văn Tâm và dinh Gia Long

Đây cũng là thời điểm quốc trưởng Bảo Đại đặt tên cho dinh này là dinh Gia Long, và con đường đi ngang qua dinh thự này mang tên Lagrandiere cũng được Bảo Đại đặt tên là Gia Long (là niên hiệu của vị vua khai sinh ra triều Nguyễn). Điều này khác với lầm tưởng của nhiều người, cho rằng tên đường Gia Long chỉ được đặt sau năm 1955, thời VNCH. Tuy nhiên, thực ra là từ đầu thập niên 1952, chính quyền Quốc Gia Việt Nam của quốc trưởng Bảo Đại đã bắt đầu “Việt hóa” nhiều tên đường Sài Gòn. Ngoài đường Gia Long còn có đường Trưng Nữ Vương (là một đoạn của đường Hai Bà Trưng hiện nay), Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Lê Lợi…

Bản đồ Sài Gòn 1952 có tên đường Gia Long, xuất hiện bên cạnh tên đường cũ là Lagrandiere

Sau Hiệp định Genève năm 1954, tổng thống Ngô Đình Diệm về Sài Gòn nhận chức thủ tướng. Vì dinh Norodom còn do Cao ủy Pháp là tướng Paul Ely đang sử dụng, nên dinh trở thành dinh Thủ tướng tạm thời từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 7 tháng 9 năm 1954.

Từ năm 1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm trở thành tổng thống, ông dùng tòa nhà này làm dinh Quốc khách. Ngày 27 tháng 2 năm 1962, dinh Độc Lập bị hư hại, Ngô Đình Diệm dời phủ tổng thống sang đây làm nơi ở và làm việc đến ngày bị lật đổ vào tháng 11 năm 1963.

Thời gian ở đây, ông Ngô Đình Diệm đã giao cho KTS Ngô Viết Thụ thiết kế một căn hầm đặc biệt để trú ẩn. Hầm được đào sâu xuống đất 4m, đúc bằng ximăng cốt thép (170 kg sắt trên một m3 bêtông), có tường dày đến một mét.

Bà Trần Lệ Xuân bên trong dinh Gia Long

Biến cố ngày 1/11/1963, Dinh Gia Long cũng là một mục tiêu bị tấn công và hư hại nghiêm trọng:

Dinh Gia Long sau khi vừa được sửa lại sau biến cố 1963

Trong thời gian 1964–1965, dinh được dùng làm dinh Quốc trưởng. Ngày 31 tháng 10 năm 1966, khi dinh Độc Lập mới (theo đồ án của Ngô Viết Thụ) được xây lại xong, Dinh Gia Long có lúc được sử dụng là nơi làm việc của thủ tướng hoặc phó tổng thống, trước khi được là trụ sở chính thức của Tối cao Pháp viện cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Sau 1975, tòa nhà tạm thời không dùng cho mục đích cụ thể nào. Ngày 12 tháng 8 năm 1978, Ủy ban Nhân dân TpHCM đã quyết định sử dụng tòa nhà này làm Bảo tàng Cách mạng, đến ngày 13 tháng 12 năm 1999 thì đổi tên thành Bảo tàng TpHCM như hiện nay.

Như vậy, sau gần 100 năm xây dựng, Dinh Gia Long mới trở lại được (gần) đúng với công năng ban đầu của nó. Dự định là trở thành một bảo tàng, đúng hơn là nơi để triển lãm sản phẩm, qua thời gian dài trở thành trụ sở chính quyền, cuối cùng đã trở thành một viện bảo tàng lịch sử.

Một số hình ảnh khác của Dinh Gia Long theo từng thời kỳ:

Trước thập niên 1950:

Thời VNCH:

Từ công viên Bách Tùng Diệp nhìn sang Dinh Gia Long

Hôtel des postes – Bưu Điện Trung Tâm Sài Gòn

Công trình tiêu biểu sau cùng của Foulhoux chính là Bưu Điện trung Tâm Sài Gòn, được xây dựng từ năm 1886 đến 1891, nằm ở ngay đối diện Nhà Thờ Đức Bà, là địa điểm mà không du khách nào không ghé thăm khi tới Sài Gòn. Tuy nhiên, một điều đáng tiếc là nhiều hướng dẫn viên du lịch, vì học kiến thức trên mạng nên đã thuyết minh nhầm lẫn rằng tòa nhà này là tác phẩm của Gustave Eiffel, xuất phát từ thông tin sai đăng trên wikipedia. Một số bài viết trên các trang mạng cũng trích dẫn từ đó mà không tìm hiểu kỹ nên đã đăng thông tin sai.

Có thể nói tòa nhà Bưu Điện Sài Gòn là một trong số ít những công trình có tuổi hơn 100 năm vẫn còn tồn tại gần như nguyên vẹn đến ngày nay, nếu xét về mặt kiến trúc tổng thể.

Chỉ một năm sau khi Bưu Điện Sài Gòn được hoàn thành (1891) thì kiến trúc sư Foulhoux qua đời (1892), ông được an táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Vì vậy đây là công trình cuối cùng của kiến trúc sư tài ba này.

Phần mộ của kiến trúc sư Foulhoux ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi (khu vực này ngày nay là công viên Lê Văn Tám)

Đây là công trình kiến trúc kết hợp giữa 2 nền văn hóa Đông – Tây, được trang trí đường nét đặc trưng của tân baroque xen kẽ họa tiết truyền thống của phương Đông.

Đặc biệt là phần mặt tiền của Bưu điện được trang trí những bảng tên những danh nhân, những nhà khoa học thế giới, trong đó đa số là có công trong lĩnh vực điện tín, viễn thông và năng lượng. Một trong số đó vẫn còn sống  thời điểm bưu điện được xây dựng.

Nội thất bên trong bưu điện được thiết kế nhiều vật liệu bằng sắt, vì vậy trong nhiều tấm bưu thiếp xưa đã ghi nhầm đây là một nhà ga xe lửa:

Đến nay, tòa nhà này đã hơn 130 năm tuổi, nằm bên cạnh Nhà Thờ được xây dựng trước đó 10 năm (1880). Vì vậy vẻ đẹp cổ điển của bưu điện Sài Gòn càng được tôn lên vì trước mặt nó là một công trình lộng lẫy, bề thế, với tháp chuông cao vút.

Màu sắc nguyên thủy của tòa nhà là màu vàng đất nhạt, kết hợp với những đường gờ và phù điêu màu trắng cùng các ô cửa lá sách màu xanh lá. Màu sắc và kiến trúc của công trình hòa hợp với cảnh quan xung quanh, tạo thành một điểm nhấn trong không gian đô thị.

Nội thất không gian giao dịch tòa Bưu điện Trung tâm gây ấn tượng với những hàng cột thép trang trí chi tiết tinh xảo cùng hệ vòm mái khung thép. Hệ vòm mái này tạo nên những ô cửa sổ lấy sáng ở đỉnh tường trên cao và từ mái. Đặc biệt, ở đây còn lưu giữ hai tấm bản đồ lịch sử là Saigon et ses environs, 1892 (Sài Gòn và vùng phụ cận, 1892) và Lignes télégraphiques du Sud Vietnam et du Cambodge, 1936 (Bản đồ đường dây điện tín của miền Nam Việt Nam và Campuchia, 1936).

Những hình ảnh khác của Bưu Điện Sài Gòn xưa:

Bưu điện Sài Gòn mùa dịch 2021

Đông Kha – chuyenxua.net

Những công trình kiến trúc trăm năm còn lại ở Sài Gòn – Kỳ 4: Continental Palace và Majestic Hotel – Những khách sạn trăm năm

Continental Palace là khách sạn lâu đời nhất vẫn còn lại đến ngày nay ở Sài Gòn. Thời điểm được xây dựng cách đây 140 năm, Continental Palace là khách sạn sang trọng và mang vẻ đẹp kỳ vĩ nhất từng có ở xứ Đông Dương. Không những vậy, kiến trúc của nó còn mang vẻ đẹp vượt thời gian, đến nay vẫn là một trong những khách sạn hạng sang của Sài Gòn.

Bên cạnh Continental Palace, còn có một khách sạn sang trọng khác có tuổi đời 100 năm, đó là Majectic Hotel, nằm ở bến Bạch Đằng, ngay đầu của con đường đắt đỏ nhất Sài Gòn xưa và nay.

Trong loạt bài viết về những công trình trên 100 năm của Sài Gòn, mời các bạn xem lại hình ảnh xưa, tìm hiểu lịch sử hình thành của 2 khách sạn Continental Palace và Majestic Hotel.

Một điều đặc biệt, là cả 2 khách sạn sang trọng này đều từng dưới quyền điều hành của một người Pháp tên là Mathieu Franchini.

Continental Palace

Từ những năm cuối thế kỷ 19, Sài Gòn như là một đại công trường với hàng loạt công trình quy mô lớn được xây dựng, hoặc sắp sửa được xây dựng, trong đó có khách sạn hạng sang mang tên Continental Palace.

Trong loạt công trình kiến trúc nổi tiếng được xây dựng vào thời kỳ này và vẫn còn lại cho đến nay ở Sài Gòn, Continental Palace là công trình được xây dựng rất sớm (năm 1878), cùng thời điểm với Nhà Thờ Đức Bà (1877), và sớm hơn nhiều nếu so với Tòa Án Sài Gòn (1881), Dinh Gia Long (1885), Bưu Điện Trung Tâm (1886), Saigon Opera House (1897), Dinh Xã Tây (1898)…

Năm 1878, một khách sạn quy mô và hoành tráng mang tên Continental Palace được mọc lên tại một vị trí đắt giá: Nằm giữa bến cảng và Nhà Thờ, thông qua con đường Catinat vốn là trục đường trung tâm huyết mạch bấy giờ, bắt đầu từ ngọn đồi cao nhất đi xuống phía bờ sông.

Đường Catinat và khách sạn Continental. Trong ảnh này có trụ cấp điện cho tàu điện chạy tuyến Sài Gòn đi Gò Vấp

Đây là công trình thuộc sở hữu của Pierre Cazeau, một nhà sản xuất vật liệu xây dựng, nhằm đón những khách hàng nhà giàu bên Pháp và phương Tây, là những người cần có nơi dừng chân sau cuộc hành trình dài cả tháng bằng đường biển từ Âu châu, trước khi tiếp tục du ngoạn hay thám hiểm phương Đông.

Continental Palace được hoàn thành vào giữa năm 1880, gần như cùng lúc với nhà thờ Đức Bà. Cả hai công trình này trở thành huyền thoại ngự trị trên rất nhiều bưu thiếp xưa về Sài Gòn, vì vậy đã trở thành những biểu tượng phi chính thức của thành phố này.

Sau đó gần 20 năm, tại vị trí đối diện với khách sạn nếu nhìn về hướng bờ sông, một công trình quy mô khác được mọc lên, đó là Opera House – nhà hát lớn, càng làm cho khách sạn gia tăng giá trị một cách đáng kể, vì hiếm có địa điểm nào ở Sài Gòn lúc đó có góc nhìn đẹp được như vậy.

Cũng trong thời gian này, có nhiều công trình nổi tiếng khác đã được xây dựng, ngoài Nhà Thờ Đức Bà (xây từ năm 1877) và Opera House (xây từ năm 1898) còn có Bưu điện thành phố (xây từ năm 1886) và Tòa thị chính (xây từ năm 1898), đều là những công trình đã trở thành biểu tượng và còn tồn tại đến tận ngày nay, tất cả cùng tạo nên một diện mạo đẹp và sang trọng cho thành phố được mệnh danh Hòn ngọc viễn đông.

Kiến trúc và nội thất của Continental Palace được xây dựng và bài trí theo tiêu chuẩn của một khách sạn hạng sang tại Paris, tạo cảm giác quen thuộc cho du khách Âu châu khi đến Đông Dương.

Sau hơn 140 năm, diện mạo kiến trúc của khách sạn Continental Palace đến nay vẫn được giữ gần như nguyên vẹn. Dù có độ cao khiêm tốn chỉ với một tầng trệt và ba tầng lầu, khách sạn này vẫn nổi bật giữa trung tâm thành phố với mái lợp ngói, tường gạch dày cùng những ô cửa sổ duyên dáng.

Khuôn viên khách sạn được thiết kế dạng hình chữ nhật. Ở trung tâm là một khu vườn rộng lớn, những dãy phòng bên trong đều quay mặt về khoảng sân này. Ở giữa sân, những cây hoa sứ cổ thụ được trồng từ năm 1880 vẫn xanh tốt và khoe sắc đến tận ngày nay. Những đặc điểm này tạo ra một cảm giác yên bình và tĩnh lặng hiếm có giữa trung tâm Sài Gòn.

Nhà hàng bên trong khách sạn năm 1912

Continental Palace không chỉ là khách sạn, bên trong nó còn có nhà hàng hạng sang do đầu bếp đến từ Pháp đảm nhiệm.

Trong các hình ảnh xưa, dễ bắt gặp hình ảnh cafe vỉa hè ngay dưới mái hiên của Continental Palace. Quán cafe này nằm ngay đối diện với cafe Givral ở bên kia đường (tầng trệt Eden), nằm bên hông của Opera House.

Từ giữa thập niên 1950 đến năm 1975, Opera House là trụ sở của Quốc Hội, nên các quán cafe này luôn là nơi gặp gỡ của truyền thông báo chí, và cả những điệp viên của nhiều bên đến thăm dò tin tức.

Năm 1911, công tước Ferdinand de Montpensier (cháu nội của vua Louis-Philippe I của Pháp) quyết định mua lại khách sạn này 3 năm sau khi ông lần đầu trú ngụ tại đây trong một chuyến đi vượt rừng đường xa từ Sài Gòn đến Angkor. Cũng vào dịp này, Montpensier đã mang xe hơi vào Sài Gòn, và đây chính là một trong những chiếc đầu tiên ở Việt Nam.

Năm 1908, xuất phát từ Continental, xe hơi của Montpensier lên đường đi Angkor, một chuyến đi đầy gian nan vì đường sá lúc đó chưa được làm cho xe hơi chạy. Ông ở lại Việt Nam một thời gian và đi du lịch khắp nơi. Tại Phan Thiết, ông đã xây một biệt thự trên ngọn đồi, nơi có thể vừa nhìn ra phía biển, vừa nhìn về lại Phan Thiết. Căn biệt thự này được người địa phương gọi là “lầu ông hoàng”, là nơi hẹn hò của Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm sau này. Thuở đó vùng này chưa có điện, nhưng căn biệt thự của Montpensier lúc nào cũng sáng trưng nhờ máy phát điện chạy diesel.

Hình ảnh được cho là lầu Ông Hoàng ở Phan Thiết

Năm 1930, công tước Montpensier bán Continental Palace lại cho ông Mathieu Franchini – một thương gia người Pháp gốc đảo Corse có giao thiệp rộng. Ông là con rể của Đốc phủ Lê Văn Mầu, là người đứng đầu quận Chợ Gạo của Mỹ Tho, đồng thời cũng là chủ của cù lao Năm Thôn (sau này gọi là cù lao Ngũ Hiệp). Ông Lê Văn Mầu gả con gái là Lê Thị Trọng cho Francini, một số thông tin cho rằng chính ông Lê Văn Mầu mới là người mua lại Continental Palace để làm “của hồi môn”. Ngoài ra, còn có nơi nói rằng Mathieu Franchini xuất thân từ một tầng lớp bị khinh rẻ, rồi sau đó dính dáng nhiều đến giới giang hồ, tuy nhiên đó là những thông tin không được xác thực nhằm miệt thị nhà tư sản Pháp này.

Nhà nghiên cứu Phạm Công Luận đã cất công đi tìm hiểu về những thông tin trên, và đã liên lạc được với con của 2 ông bà Mathieu Franchini và Lê Thị Trọng, tên là Philippe Franchini, và nhận được phản hồi về khoản tiền mua khách sạn như sau:

“Cha tôi mua Continental với số tiền 155.000 đồng Đông Dương (piastres) thông qua một cuộc đấu giá, lúc đó ông đang là đại lý của hãng CIE General Motors (chuyên sản xuất xe Chevrolet, Pontiac, Cadillac…). Đây là một khoản tiền trả góp khá lớn, trong đó bao gồm chi phí cho những hãng mục cần sửa chữa. Ông ngoại tôi – Đốc phủ Lê Văn Mầu, đã giúp đỡ cha tôi một khoản vay mà sau đó cha tôi đã trả hết khi khách sạn hoạt động trở lại”.

Sau này, trong cuốn sách mang tên Continental Saigon phát hành năm 1976 ở Paris, Philippe kể rằng khi cha của ông mới mua Coninental, một người bạn đã thốt lên rằng: “Mathieu, anh vừa mới tậu được lịch sử của Sài Gòn đấy”. Thời điểm đó, Continental Palace đã tồn tại được hơn nửa thế kỷ, xứng đáng là một phần lịch sử Sài Gòn.

Philippe còn kể về việc sửa chữa và trang trí lại khách sạn sau khi cha của ông mua lại nó:

“Chính Albertini, một tay trang hoàng người Corse, đảm trách công việc này. Gian phòng thông hàng hiên được chuyển đổi thành một nhà hàng cà phê lớn tiện nghi và thanh lịch.

Những chiếc cột hình trụ và những bức tường phủ lưới gỗ đan chéo nhau được sơn xanh lá cây, trần nhà được thắp sáng bằng một loại chiếu sáng muôn màu được rọi từ những chiếc đèn áp tường miệng loe; bao dọc theo gian phòng, một hàng rào thấp bằng cây xanh – những ổ muỗi thực sự – mang đến cho không gian chung một góc cạnh thôn dã.

Người ta đã có thể nghĩ rằng mình đang ở bên bờ sông Marne hoặc trong những nhà hàng vùng gần Paris, nếu như những chiếc quạt điện với những cánh lớn treo trên trần, với bao ghế trắng phủ lên những chiếc ghế bành hoặc thậm chí cả những con bọ chét tấn công bạn đã không đặt một nốt nhấn ngoại lai của chúng ở đây.

Hàng hiên nơi cha tôi ăn tối – một chiếc bàn dành cho ông ở gần lối vào, ở đó ông có thể giám sát thế giới của mình, nhân viên và khách hàng – là một góc thanh lịch và độc đáo. Góc này mở rộng ra quang cảnh đường Catinat, nhộn nhịp cho đến giờ tàn của đêm”.

Năm 1951, Mathieu cũng mua lại quyền kinh doanh của một khách sạn hạng sang khác là Majestic từ chủ sở hữu lúc đó là Sở du lịch và triển lãm Đông Dương. Việc này sẽ nhắc đến với phần sau.

Ông Mathieu Franchini quản lý 2 khách sạn đến năm 1964 thì quyết định rời Việt Nam, dẫn con về lại Pháp. Lúc đó vợ ông đã không còn vì bạo bệnh. Lý do chính của sự ra đi này là vì sức khỏe, ông ủy quyền việc quản lý Continental lại cho một công ty quản lý Pháp.

Sau đó, vì một số khó khăn trong việc kinh doanh, người quản lý đề nghị bán khách sạn, như Mathieu từ chối. Philippe nói rằng cha của ông không thể bán, vì điều đó giống như mang đi đấu giá cả một phần cuộc đời. Thay vào đó Mathieu vẫn điều hành qua thư từ.

Khi nhận được thư của những nhân viên người Việt tại khách sạn than phiền về người quản lý, Mathieu lo lắng và đề nghị con trai mình về lại Sài Gòn để trực tiếp quản lý. Khi đó, Philippe Franchini – một chàng thanh niên trẻ tuổi, đã về lại quê mẹ của mình, nắm quyền quản lý khách sạn sang trọng đó trong một thời kỳ mới rất khó khăn. Đó là năm 1965, lính Mỹ tràn ngập Sài Gòn, thành đô này ngày càng xảy ra nhiều biến cố hính trị, và Philippe phải chèo lái Continental tiếp tục tồn tại trước sự canh tranh của nhiều khách sạn hạng sang khác, trong đó có tên tuổi mới nổi là Caravelle Hotel nằm ngay đối diện.

Đến năm 1975, Continental Palace bị “quốc hữu hóa”, Philippe Franchini trở về Pháp, trở thành sử gia và viết hơn 10 cuốn sách về Việt Nam, trong đó cuốn sách Continental Saigon được in năm 1976 tại Paris.

Continental về đêm – thập niên 60

Những vị khách nổi tiếng từng ở tại Continental Palace:

Khách sạn hạng sang này từng đón tiếp nhiều chính khách, văn nghệ sĩ, người nổi tiếng của thế giới đến thăm và lưu trú. Nổi tiếng nhất trong số đó là nhà thơ Ấn Độ Rabindranath Tagore – giải Nobel Văn chương năm 1913. Nhà văn người Anh Graham Greene cũng đã đến đây năm 1951 trong thời gian ông viết cuốn tiểu thuyết nổi tiếng The Quiet American – “Người Mỹ trầm lặng”.

Khi “Người Mỹ trầm lặng” được chuyển thể thành phim năm 1956, Continental Palace trở thành một trong những bối cảnh chính của phim. Đến năm 1992, khách sạn này càng thêm nổi tiếng thế giới khi xuất hiện trong một số cảnh quay chính trong phim Indochine, là phim điện ảnh được trao giải Quả Cầu Vàng và Phim tiếng nước ngoài xuất sắc nhất Oscar năm 1993. Năm 2002, khi phim Người Mỹ Trầm Lặng được Hollywood làm lại, Continental Palace tiếp tục được lên màn ảnh rộng khắp nơi trên thế giới.

Ông Jacques Chirac – tổng thống Pháp thứ 22 của Pháp, khi còn là thị trưởng Paris cũng từng đến Sài Gòn và ở tại Continental Palace.

Sau đây là những hình ảnh Continental Palace qua thời gian:

Hình trước thập niên 1950:

Continental năm 1900, lúc chưa có Opera House

Khách sạn Continental thời Pháp thuộc. Trong hình này có cổng chào đón Thống chế Joffre (Tổng tham mưu trưởng Quân đội Pháp từ 1914 đến 1916) đến Saigon, do KS Continental Palace thực hiện trên đường Catinat

Bên trái của hình này là khu vực Eden lúc chưa xây

Hình thập niên 1940, lúc đang xây dãy nhà Eden nổi tiếng

Hình sau thập niên 1950 theo thời gian:

Continental năm 1965

Có thời gian chính quyền bắt buộc các cơ sở kinh donh đặt tên tiếng Việt, vì vậy bên cạnh tên Continencal Pa;ace, khách sạn còn mang tên Đại Lục Lữ Quán như trong hình này

Continental lúc mang tên Đại Lục Lữ Quán

Hàng hiên của Continental Palace

Một số hình ảnh Continental Palace, mặt phía bên đường Catinat – Tự Do:

Hình sau năm 1975:

Continental Palace hiện nay

Majestic Hotel

Khách sạn Majestic ở đầu đường Đồng Khởi ngày nay (xưa là đường Catinat và Tự Do) có tuổi đời gần 100 năm, là một trong 2 khách sạn hạng sang đầu tiên của Sài Gòn, chỉ đứng sau Continental Palace.

Đến nay, hầu hết các báo chí đều nói rằng chủ sở hữu đầu tiên của khách sạn Majestic là Chú Hỏa, tức ông Hứa Bổn Hòa/Huỳnh Văn Hoa (Hui Bon Hoa). Điều này thiếu chính xác, vì chú Hỏa đã qua đời từ năm 1901, rồi hơn 20 năm sau đó thì mới có Majestic. Chính xác hơn, chủ đầu tư của khách sạn này là những người con của chú Hỏa, những người lãnh đạo của công ty anh em Hui Bon Hoa sau khi chú Hỏa qua đời, đó là Huỳnh Trọng Huấn (Tang Huon Hui Bon Hoa), Huỳnh Trọng Tán (Thang Chanh Hui Bon Hoa), Huỳnh Trọng Bình (Thang Phien Hui Ban Hoa). Sau này, khi nhắc đến Chú Hỏa hoặc những người con của ông, báo chí Pháp ngữ chỉ nhắc đến họ của gia tộc là Hui Bon Hoa, vì vậy nhiều người nhầm tưởng đó là chú Hỏa – ông Huỳnh Văn Hoa.

Ở vị trí đầu đường Catinat, khi chưa có Majestic thì đây là khách sạn Hôtel d’Annam (Nam Việt Khách Lầu) của ông Huỳnh Huệ Ký. Khách sạn này tồn tại đến năm 1925 thì công ty Hui Bon Hoa mua lại mảnh đất này để xây dựng khách sạn cao cấp có 44 phòng dựa theo thiết kế art-nouveau thường thấy ở vùng biển Riviera miền Nam nước Pháp.

Ban đầu, khách sạn chỉ có 5 tầng và một quầy bar trên sân thượng, do công ty bất động sản Hui Bon Hoa làm chủ đầu tư.

Majestic được xây trước “nhà chú Hỏa” (trên đường rue d’Alsace-Lorraine, nay là Phó Đức Chính) chỉ vài năm.  Ít người biết rằng “nhà chú Hỏa” và khách sạn Majestic do cùng một người thiết kế là kiến trúc sư người Tây Ban Nha tên Rivera.

Nhà Chú Hỏa là căn biệt thự hoành tráng nay là bảo tàng Mỹ Thuật, có thể thấy rằng nó có kiến trúc tương đồng với khách sạn Majestic phiên bản nguyên thủy khi chưa được sửa chữa.

“nhà chú Hỏa” được xây cuối thập niên 1920

Thời đế quốc Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương năm 1945, khách sạn Majestic được trưng dụng thành một trại lính Nhật. Sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương 1946 thì vài năm sau đó Sở du lịch và triển lãm Đông Dương (The Indochina Tourism & Exhibition Department) đã mua lại toàn bộ tầng trệt và lầu 1 khách sạn và thuê 44 phòng để cho thuê lại.

Năm 1951, chủ sở hữu Continental Palace là Mathieu Franchini mua lại quyền kinh doanh của Majestic và mở lại nó như là một khách sạn, chứ không phải là cho thuê văn phòng như trước đó.

Từ năm 1952 đến 1955, tiểu thuyết gia nổi tiếng người Mỹ Graham Greene đã thường xuyên lui tới quầy Bar trên tầng thượng của Majestic, là nơi ông rất yêu thích, trong thời gian sáng tác tiểu thuyết Quiet American (Người Mỹ Trầm Lặng), sau đó 2 lần được Hollywood dựng thành phim.

Năm 1965, khi Majestic hết hạn nhượng quyền thương mại ký với ông Franchini Mathieu, khách sạn này được văn phòng du lịch VNCH tiếp quản. Cũng vào thời gian này, Majestic có đợt trùng tu lớn, với 2 tầng lầu được xây thêm theo thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, mặt tiền của khách sạn được thay đổi theo hướng kiến trúc hiện đại, có thêm một nhà hàng lớn và trung tâm hội nghị quốc tế.

Majestic năm 1965

Một số hình ảnh khách sạn Majestic thời kỳ 1965-1975:

Đằng sau, bên hông của khách sạn Majestic có rạp chiếu phim, là một trong những rạp nổi tiếng của Sài Gòn đã có từ thập niên 1930:

Quán cafe tầng trệt của Majestic nhin ra đường Bến Bạch Đằng

Toàn cảnh khách sạn Majestic và Bến Bạch Đằng – sông Sài Gòn

Những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975, tầng trên cùng của Majestic bị hư hại nặng vì rocket. Sau thời điểm đó, Majestic thuộc quyền sở hữu của công ty du lịch nhà nước là Saigontourist, bị đổi tên thành khách sạn Cửu Long, tên quốc tế là Mekong Hotel).

Năm 1995, khách sạn được trùng tu một lần nữa với mặt tiền được thiết kế tương tự như kiểu thiết kế art-nouveau, được lấy lại tên nguyên thủy là Majestic Hotel.

Năm 2011, khách sạn được mở rộng, xây thêm 2 khối tháp cao 24 tầng và 27 tầng cùng 4 tầng hầm với 353 phòng, nâng tổng số phòng của khách sạn lên 538 phòng. CŨng trong năm này, trụ sở chính của Saigontourist được dời về đây.

Khách sạn Majestic năm 2015

Ngoài sở hữu Majestic Hotel, công ty Saigontourist còn sở hữu chuỗi khách sạn nổi tiếng nằm ở trung tâm Sài Gòn là Grand, Continental Palace (cùng nằm trên đường Tự Do – Đồng Khởi) và REX, Kim Đô.

Đông Kha – chuyenxua.net

Những công trình kiến trúc trăm năm còn lại ở Sài Gòn – Kỳ 3: Hội Trường Diên Hồng

Hội Trường Diên Hồng là tên gọi của tòa nhà từng là Trụ sở Thượng Nghị Viện của Đệ nhị Cộng Hòa. Thời Pháp, đây là toà nhà mang tên Chambre de Commerce được xây năm 1927 trên đường Quai de Belgique, góc ngã 3 với đường Mac Mahon. Góc đường này sau năm 1955 đổi tên thành Bến Chương Dương – Công Lý. Hiện nay đổi thành Võ Văn Kiệt – Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Chambre de Commerce nghĩa là Phòng Thương Mại. Đây là toà nhà thương mại thứ 2 của Pháp xây ở Sài Gòn, vẫn còn cho đến ngày nay và đã tồn tại gần 100 năm. Phòng Thương Mại trụ sở đầu tiên đã được xây dựng từ năm 1867 tại số 11 Rigault de Genouilly, nay là Công Trường Mê Linh.

Trụ sở Chambre de Commerce đầu tiên ở công trường Mê Linh được xem là một trong những tòa nhà lâu đời nhất ở Sài Gòn, được xây dựng năm 1867, chỉ vài năm sau khi Pháp chiếm Gia Định (1862). Tòa nhà này tồn tại gần 150 năm trước khi bị phá bỏ năm 2015 để nhường chỗ cho cao ốc Hilton Saigon 33 tầng.

Hilton Saigon được xây năm 2016 trên vị trí cũ của tòa nhà 150 tuổi Chambre de Commerce

Trong suốt hơn nửa thế kỷ tồn tại, Trụ sở ban đầu của Chambre de commerce không chỉ là nơi giải quyết những thủ tục hành chính liên quan đến giao dịch thương mại, mà còn trở thành biểu tượng giao thương của nền kinh tế sôi động phía Nam, góp phần gây dựng nên hình ảnh một “Sài Gòn – Hòn ngọc Viễn Đông”.

Trước khi Chambre de commerce Mê Linh bị phá bỏ, hầu hết người Sài Gòn đều quen thuộc với căn villa màu trắng có kiến trúc tuyệt đẹp nằm trên khu đất hơn 2000m2 ở công trình Mê Linh, chính giữa 2 đường Phan Văn Đạt và Hồ Huấn Nghiệp.

Chambre de commerce năm 2014, trước khi bị đập bỏ năm 2015

Chambre de commerce vào cuối thế kỷ 19

Ngoài tòa nhà Chambre de Commerce này, cũng có nhiều tòa nhà công sở khác với kiến trúc thời Pháp mọc lên từ những năm cuối thế kỷ 19, nhưng hiện nay toàn bộ đã không còn, thay thế vào đó là các cao ốc nhấp nhô tạo một diện mạo mới cho khu vực này.

Đến năm 1927, trước nhu cầu mở rộng thương mại, nhà cầm quyền quyết định tìm một cơ ngơi bề thế và thuận tiện hơn cho cơ quan quản lý thương mại, nằm ở ngay bên rạch Bến Nghé, khánh thành năm 1928 với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ.

Toà nhà Chambre de commerce mới được xây dựng theo trường phái chiết trung (đại diện cho sự bình đẳng), pha trộn giữa phong cách tân cổ điển với các trang trí nghệ thuật, các yếu tố trang trí đó mang ảnh hưởng từ kiến trúc Chăm – Khmer. Cùng thời điểm với tòa nhà này, tòa nhà trụ sở của Ngân hàng Đông Dương cũng được xây dựng ngay bên cạnh, và cũng có nét ảnh hưởng từ kiến trúc Khmer.

Năm 1945, khi quân Nhật nắm quyền ở Đông Dương, quân đội đã sử dụng toà nhà này như là một trung tâm thẩm vấn. Sau đó Pháp tái chiếm Đông Dương rồi dùng toà nhà này để làm trụ sở quân đội.

Năm 1955, khi quân đội Pháp đã rời Đông Dương, toà nhà này trở thành một trung tâm Hội Nghị và được đặt tên là Hội Trường Diên Hồng, gợi nhớ đến hội nghị nổi tiếng nhất trong lịch sử là Hội nghị Diên Hồng thời nhà Trần chống quân Nguyên Mông. Có lẽ vì vậy mà con đường phía trước Hội nghị Diên Hồng cũng được đặt tên lại là đường Bến Chương Dương, nhắc lại trận đánh thắng quân Mông năm xưa.

Hội trường Diên Hồng đã trở thành nơi tổ chức những phiên họp quan trọng thời đệ nhất cộng hoà.

Thời đệ nhị cộng hoà, sau sự thay đổi hiến pháp năm 1967, Quốc Hội chia làm 2 viện, khi Hạ Nghị Viện được đặt ở trụ sở Quốc Hội cũ (tức Opera House bên đường Tự Do) thì Hội trường Diên Hồng đã trở thành trụ sở Thượng Nghị Viện cho đến năm 1975.

Trong khoảng thời gian này, một bức tượng An Dương Vương cũng được đặt tại vườn hoa phía trước.

Sau 1975, có một thời gian nơi này trở thành trụ sở của công ty thương mại Imexco. Đến năm 1996, toà nhà được Ủy ban chứng khoán nhà nước tiếp quản.


Năm 2000, toà nhà được tân trang lại để trở thành Trung tâm giao dịch chứng khoán TpHCM (HoSTC), là nơi đầu tiên có các hoạt động giao dịch chứng khoán một cách đầy đủ tại Việt Nam. Năm 2007 cho đến nay, nơi này được đổi tên thành Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.

Đông Kha – chuyenxua.net

Những công trình kiến trúc trăm năm còn lại ở Sài Gòn – Kỳ 2: Ngân hàng Đông Dương – Banque de I’Indochine

Ở phần đầu tiên của loạt bài viết về những công trình – tòa nhà có tuổi đời trên 100 năm mà ngày nay vẫn còn lại ở Sài Gòn, chúng tôi đã giới thiệu những công trình mang tính biểu tượng mà hầu như ai cũng biết tới, như là Nhà Thờ Đức Bà, Opera House, Bưu Điện Sài Gòn, Chợ Bến Thành, Tòa Đô Chánh…

Ở các phần tiếp theo, xin giới thiệu những tòa nhà có quy mô nhỏ hơn, nhưng vẫn là công trình kiến trúc độc đáo tuổi đời khoảng trên dưới 100 năm và đã trở thành di sản của Sài Gòn.

Bài viết này xin nhắc về tòa nhà từng là Ngân hàng Đông Dương (thời Pháp thuộc), sau đó là Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (thời VNCH), và nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Ngày nay, những ai đi ngang qua khu vực cầu Mống ở Quận 1 (đường Bến Chương Dương cũ) đều có ít nhiều cảm giác choáng ngợp trước một tòa nhà vuông vức, theo kiến trúc tân cổ điển rất ấn tượng.

Thời Pháp, đây là là trụ sở của Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam, là một phần của Ngân hàng Đông Dương (Banque de I’Indochine, viết tắt là BIC) được thành lập ngày 21 tháng 1 năm 1875 ở Paris để phát hành tiền mặt cho các xứ thuộc địa của Pháp ở Châu Á, cũng như điều hành quyền lợi kinh tế của Pháp ở Viễn Đông.

Ngân hàng Đông Dương có rất nhiều chi nhánh trải rộng khắp thế giới, trong đó ngay trong năm 1875, Sài Gòn là một trong những nơi đầu tiên mà BIC có chi nhánh. Trụ sở của BIC ở Sài Gòn nằm trên đường dọc theo rạch Bến Nghé được đặt tên là Arroyo Chinois (sau này đổi tên thành Quai de Belgique, rồi Bến Chương Dương, nay là đại lộ Võ Văn Kiệt), chính là vị trí mà sau này tòa nhà hoành tráng hơn được xây dựng cùng một chỗ và còn lại cho đến ngày nay.

Trụ sở đầu tiên của Ngân hàng Đông Dương ở Sài Gòn thành lập năm 1875

Sau đó, trụ sở ban đầu này được sửa chữa và nâng cấp để lớn hơn, như hình sau đây:

Trong tấm bản đồ Sài Gòn năm 1900 ở dưới đây, vị trí số 39 được chú thích rõ là trụ sở ngân hàng Đông Dương (Banque de l’Indo-Chine). Số 39 đó chính là vị trí ở ngay chân cầu Mống.

Do quy mô ngày càng lớn của Ngân hàng Đông Dương, nhu cầu cần xây dựng trụ sở lớn hơn, nên sang thập niên 1920, tòa nhà có quy mô nhỏ ban đầu được đập bỏ hoàn toàn để xây mới. Trong chờ tòa nhà mới được hoàn thành, Ngân hàng Đông Dương chuyển sang tòa nhà ở góc đường Hàm Nghi – Công Lý (Somme – Macmahon cũ), như trong hình sau đây:

Sau khi trụ sở mới được hoàn thành thì tòa nhà bên trên từng là trụ sở của đài phát thanh Pháp Á lừng danh một thuở.

Tòa nhà Ngân hàng Đông Dương mới được xây dựng năm 1928 ở bên cầu Mống và hoàn thành năm 1930, đưa vào sử dụng năm 1931. Đến nay, tòa nhà này đã có tuổi đời hơn 90 năm.

Sau đây là hình ảnh được chụp vào cuối thập niên 1920, khi tòa nhà này vẫn chưa chính thức khánh thành:

Tòa nhà này do kiến ​​trúc sư Félix Dumail thực hiện, được làm từ các khối đá granit khai thác từ Biên Hòa, tạo tác thành các cột vuông uy nghiêm bao quanh, lấy cảm hứng từ kiến trúc Khmer.

Điểm nổi bật của tòa nhà này là phần mép mái được trang trí đường viền được cho là lấy cảm hứng từ rắn thần Naga canh giữ các lối vào Angkor Thom của người Khmer. Bên trong tòa nhà được xây dựng theo phong các Art Deco tráng lệ, tuy nhiên đa số mọi người chỉ được phép chiêm ngưỡng nó từ bên ngoài, ít người có cơ hội đi vào bên trong để xem.

Hình ảnh hiếm hoi chụp bên trong ngân hàng. Thập niên 1940

Sau năm 1953, các chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam đều bị giải thể. Nhiệm vụ phát hành giấy bạc được chuyển cho Viện Phát hành Quốc gia Việt, Miên, Lào (Institut d’Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Viet-Nam) kể từ năm 1951. Riêng các chi nhánh khác ở ngoài Việt Nam thì vẫn hoạt động bình thường.

Từ năm 1955, tòa nhà trở thành trụ sở của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, tức ngân hàng trung ương của VNCH, nhận bàn giao lại các nhiệm vụ cũ của Ngân Hàng Đông Dương.

Hình ảnh mặt sau của ngân hàng (bên đường Võ Di Nguy, nay là Hồ Tùng Mậu):

Sau năm 1975, nơi đây trở thành trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Kiến trúc của tòa nhà này đến nay vẫn còn nguyên vẹn.

Năm 2016, các cơ quan chức năng đã đưa tòa nhà này vào danh sách các di tích quốc gia cần được bảo vệ.

Hiện nay, phía trước Tòa nhà tuyệt đẹp này bị chắn ngang bởi 1 khối nhà có hình thù kỳ quái

Thông tin thêm về Ngân Hàng Đông Dương, ngân hàng này có trụ sở chính không phải ở Đông Dương như cái tên của nó, mà đặt ở chính quốc. Ngân hàng ra đời năm 1875 trong hoàn cảnh Pháp vừa mới chiếm trọn 6 tỉnh Nam kỳ được chỉ vài năm, nền kinh tế đang trì trệ và Chính phủ Pháp đang gặp những khó khăn về tài chính.

Ngay từ đầu, Ngân hàng Đông Dương đã được trao đặc quyền như các ngân hàng thuộc địa lâu đời. Tuy nhiên, nó có một đặc quyền đặc biệt lớn là độc quyền phát hành tiền Đông Dương, được dùng trong toàn cõi Đông Dương.

Được sự tán thành của Quốc hội Pháp, ngày 21-01-1875, Tổng thống Pháp Patrice Macmahon ra sắc lệnh về việc “thiết lập Đông Dương ngân hàng và cho cơ quan này được hưởng độc quyền phát hành tiền tại các xứ Đông Dương, các thuộc địa Pháp miền Thái Bình Dương và các tỉnh Ấn Độ thuộc Pháp”.

Theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp về việc ký ban hành thành lập Ngân hàng Đông Dương thì phạm vi hoạt động của Ngân hàng Đông Dương rất rộng lớn, trải dài từ Thái Bình Dương đến tận Ấn Độ Dương. Ngân hàng được Chính phủ Pháp cho hưởng một số đặc quyền sau:

– “Ngân hàng Đông Dương có quyền nhận tiền kí thác của các khách hàng tư nhân cho nên nó trở thành Ngân hàng Ủy thác của khách hàng;

– Một ngân hàng nông tín, vì Ngân hàng Đông Dương có quyền cho các nông gia vay;

– Một ngân hàng thương mại, vì Ngân hàng Đông Dương có quyền cho tư nhân vay và chiết khấu các thương phiếu;

– Một ngân hàng doanh nghiệp, vì ngân hàng Đông Dương có quyền tham dự vào việc thiết lập những công ti kĩ – nghệ, thương mại hay nông nghiệp”.

Cũng theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp, Ngân hàng Đông Dương có trụ sở chính tại số 96, đại lộ Haussmann, thủ đô Paris của nước Pháp với vốn điều lệ ban đầu là 8.000.000 francs vàng, mỗi francs vàng nặng 322 mgr vàng nguyên chất và được chia ra làm 16.000 cổ phiếu. Mỗi cổ phiếu có giá khởi điểm 500 francs. Tất cả các cổ phiếu này được nêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Paris.

Ra đời không bao lâu, Ngân hàng Đông Dương đã liên tục tăng vốn điều lệ: Từ 8.000.000 francs ban đầu lên 24.000.000 francs (năm 1900), 72.000.000 francs (năm 1920), 120.000.000 francs (năm 1931), 150.000.000 francs (năm 1940). Đến năm 1945, vốn của Ngân hàng Đông Dương là 157.500.000 francs. Điều đó chứng tỏ ngân hàng hoạt động rất mạnh và làm ăn đạt hiệu quả, đúng như mong đợi.

Về mạng lưới chi nhánh của Ngân hàng Đông Dương, lúc đầu ngân hàng dự kiến mở bốn chi nhánh: hai ở Pháp (Marseille và Bordeaux), một ở Sài Gòn và một ở Pondichéry (Ấn Độ thuộc Pháp). Còn theo Phạm Quang Trung, bên cạnh những chi nhánh trên, tính đến trước năm 1945, Ngân hàng Đông Dương còn có thêm các chi nhánh sau: Hải Phòng 1885, Hà Nội 1886, Nouméa 1888, Phnompenh 1890, Đà Nẵng 1891, Hong Kong 1894, Thượng Hải 1898, Quảng Đông 1902, Hán Khẩu 1902, Singapore 1905, Papeete Nam Mỹ 1905, Bắc Kinh 1907, Thiên Tân 1907, Vân Nam 1920, Nam Định 1926, Cần Thơ 1926, Vinh 1927, Quy Nhơn 1928, Huế 1929, London 1940, Tokyo 1942, Đà Lạt 1943.

chuyenxua.net biên soạn