Đêm giao thừa 1993

Tôi có bao nhiêu tuổi thì tôi cũng có bấy nhiêu đêm giao thừa. Có Tết tây và Tết ta. Tờ lịch cuối cùng bóc ra và tự dưng thấy trơ trọi một nỗi buồn vu vơ. Nỗi buồn đó thuộc về lịch tây. Chờ thêm mấy mươi ngày nữa thì lại thêm một nỗi buồn ta. Nỗi buồn của một người thấy mùa xuân thuộc về kẻ khác. Nỗi buồn của kẻ không dám thốt lên hai tiếng tương lai.

Có những đêm nằm không ngủ được. Nghĩ đến tương lai thuộc về người khác mà lòng cứ rầu rầu. Vì sao phải vậy. Quy luật tự nhiên là cái quái gì vậy mà làm não nề những cõi lòng ham sống, thèm yêu cuộc đời. Yêu đời và cứ muốn tồn tại mãi đâu phải là một cái tội. Nếu là tội lỗi thì xưng tội, sám hối với ai.

Cuộc đời sắm ra cái sự yêu thương nhức nhối này làm tình làm tội biết bao nhiêu thân phận con người. Yêu cuộc đời và muốn ở lại mãi mãi. Vì sao không cho ở lại. Trái đất quá chật và vì vậy phải có kẻ ở người đi. Buồn lắm mà không thể than phiền với ai cả.

Ðêm giao thừa dù tây dù ta tôi vẫn luôn luôn một mình một cõi. Số phận vẫn thường hay hậu hĩ với kẻ này mà lại bạc đãi kẻ kia. Có rất nhiều bạn bè thân hữu chứng nhân cứ thấy mỗi lần vào dịp lễ là tôi lại một mình một cõi. Ðành vậy biết làm sao – Người ta có thể vui chơi, đàn đúm, quây quần một đời nhưng vẫn cứ lạc loài lẻ loi một chốc. Một chốc mà là tất cả. Cái sát na nhỏ bé của thời gian đôi khi cũng quy định cả đời người. Một người mẹ bỏ đi. Một người tình bỏ đi cũng nằm trong cái sát na đó.

Ðừng than thân trách phận. Ðời không có lỗi với ai, chỉ có ta có lỗi với đời. Ðêm giao thừa không có người yêu thì buồn lắm nhưng cũng không vì thế mà chết được. Những lễ lạc đi qua đời người mà thiếu vắng hồng nhan thì vẫn có thể vui nhưng là một niềm vui không trọn. Như một khúc hát dở dang. Symphonie inachevée. Một mùa thu không có lá vàng. Một mùa hè không có nắng. Một đêm đông không giá rét.

Ðêm giao thừa ngồi một mình và hát:

“Ðừng tuyệt vọng tôi ơi đừng tuyệt vọng

Lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông…”

Ðừng tuyệt vọng vì cuộc đời hồn nhiên đôn hậu vẫn luôn luôn cho ta những ngày vui khác. Những ngày vui của đời thì thênh thang vô tận. Hết cuộc tuyệt vọng này đến một cuộc tuyệt vọng khác biết đâu cũng là một niềm vui. Một niềm vui dù không có thật thì cũng đủ an ủi trong phút chốc.

Cuộc sống là một niềm an ủi vô bờ. Cuộc sống chỉ cho ta mà không cần lấy bớt đi. Cuộc sống cho ta tất cả và mỉm cười khi thấy ta dại dột. Con người sinh ra vốn bất toàn và để làm những điều lầm lỗi. Nó đẹp vì bất toàn. Nó đáng yêu vì nó luôn luôn lầm lỗi. Vậy thì cứ yêu mà đừng tuyệt vọng. Hết cuộc tình này sẽ có một cuộc tình khác. Không có ai lang chạ. Không có ai phản bội ai. Có thứ tình này có thứ tình nọ. Có tội lỗi và có thiên thần. Ðừng khen chê, bôi bác, thẩm định. Ðược yêu hay bị từ chối cũng là số phận của đời. Mà đời thì rộng quá không yêu được chốn này thì yêu nơi khác. Còn yêu thì còn sống. Còn được yêu thì còn sống dài lâu.

Không bao giờ có điều gì tuyệt đối. Và như thế phải có một đêm giao thừa nào đó phải có người yêu. Có những đêm không phải giao thừa mà vẫn có người yêu. Những đêm như thế ta cứ xem như là đêm giao thừa vậy.

Trịnh Công Sơn
01.01.1993

Nhớ lại

Mười tám năm. Thời gian đủ để một người con gái sinh ra, lớn lên và trở thành hoa hậu trong một cuộc thi nhan sắc vóc dáng hình hài của thành phố. Tôi ngồi ở bàn giám khảo trong vài cuộc thi hoa hậu và nhìn ngắm nghĩ ngợi. Tôi chiêm ngưỡng và không thể nào không nghĩ về thời gian. Mười tám năm, đời làm nên một nhan sắc. Một nhan sắc là một tác phẩm không phải bất cứ nghệ sĩ tạo hình nào cũng có thể làm nên dù trong phút giây đột hứng.

Ði ngược dòng thời gian, tôi thấy em trong bào thai của mẹ. Và tôi, tôi ở trong bào thai của một xã hội, một chế độ hoàn toàn lạ lẫm với tôi. Em thì được sinh ra nhưng tôi thì lại được tái sinh trong một cuộc đời khác. Trong hội họa cũng đã từng có thời kỳ phục hưng. Renaissance. Ðược sinh lại một lần nữa cũng có nghĩa là được sống lại một lần nữa và cũng có nghĩa là được đầu thai vào một kiếp khác. Em bỡ ngỡ khóc tiếng đầu đời và tôi cũng bỡ ngỡ cười khóc tiếng đầu đời. Em là đứa bé và tôi cũng là đứa bé. Chỉ khác một điều là em thì hồn nhiên thơ mộng còn tôi thì thấp thoáng lo âu.

Em thả đời em lớn lên như cây cỏ xanh tươi đôn hậu mỹ miều còn tôi thì cũng cứ thả đời tôi như con thuyền không lèo lái.

Ngày ấy, cách đây mười tám năm, tôi đứng ở một bờ bến khác. Tôi gọi con đò, con đò dừng lại và chở tôi đi. Sau giờ phút ấy, điểm khởi đầu của mười tám năm sau, tôi ngần ngại không dám gọi đò. Em tập tễnh bước đi. Tôi ngần ngại bước đi. Em không sợ ngã nhưng tôi thì lại sợ vấp ngã. Em không né tránh. Em thơ thới hân hoan còn tôi thì dè dặt. Mỗi bước chân tôi là vụng về e ngại. Là tự nhủ, băn khoăn.

Ngày ấy xa rồi. Em lớn lên và tôi cũng đã lớn lên. Em yêu đời và tôi cũng yêu đời. Chỉ khác một điều là tôi già dặn mà em thì non nớt. Cái non nớt đáng yêu và cái già dặn đáng ghét.
Ðôi khi tôi tự hỏi: Có phải tôi là kẻ hạnh phúc hơn nhiều người ? Không phải bất kỳ ai cũng có thể sống trong một đời dưới nhiều hình thái xã hội khác nhau. Tôi là ai vậy ? – Tôi, hình như, đã có lúc mang thân phận chiến tranh, rồi hòa bình, rồi tư sản và rồi cộng sản. Cái lý lịch đa mang này cũng đủ để tôi tự thấy mình là một loại công dân ngoại hạng.

Ngoái nhìn lại, mười tám năm, hun hút sâu như một lối đi biền biệt, một con đường xa ngái, tôi bần thần nhận ra mình là một kẻ khác. Một kẻ khác mà vẫn là mình, không xa lạ, không oán hờn, không hề có một chút trách móc tự thân. Mà lạ thay, giờ phút này tôi lại hân hoan cười đùa về một thứ số phận gần như muốn đùa cợt tôi trên những dặm đường tưởng như không có thật. Tôi đi trồng và gặt lúa. Tôi đi trồng khoai, sắn, ở Cồn Tiên, trên bãi đất chằng chịt mìn có thể nổ bất cứ lúc nào ở cửa ngõ Trường Sơn. Tôi đi chợ nấu ăn. Tôi chở bột mì rải trắng cả một con đường như ngày xưa Mỵ Châu làm dấu cho Trọng Thủy. Tôi xếp hàng mua từng điếu thuốc hạng tồi. Tôi lãnh hàng tháng một lóng tay thịt mỡ không đủ cho một con mèo ăn. Và cứ thế nhiều năm, mù mịt. Nhưng có hề gì đâu, vì trên tất cả những vụn vặt, nhiễu nhương đó là Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Là tình yêu chan chứa, là những mặn nồng mà cả một cuộc đời ngày trước chưa bao giờ được đời trao tặng một cách rộn rã, đậm đà và lộng lẫy đến như vậy.

Tôi đã yêu cuộc đời hơn bao giờ cả. Tôi yêu cuộc sống và cuộc sống cũng mở hết vòng tay cho tôi.

Mười tám năm, em đã là xứ sở, em cũng là quê hương. Tôi cũng đã là một thành phần nhỏ bé của xứ sở, của quê hương. Những gì đẹp nhất thuộc về em và cũng thuộc về tôi. Em và tôi là những phân tử không thể tách rời của đất nước này. Ðừng mơ ước gì xa xôi bởi vì giấc mộng của chúng ta là có thật hoặc sẽ có thật trong bờ cõi nhỏ nhắn nhưng đôn hậu và tình tứ này.

Tôi mở lòng tin vào tương lai. Tôi tự nhủ mình không bao giờ lập lại những điều đã cũ. Ðừng để hồn mình mòn đi vì những tổn thương tưởng có thật mà không thật. Tôi đã từng bị chẻ ra làm nhiều mảnh trên quê nhà nơi tôi sinh ra nhưng tôi loại bỏ hình ảnh đó bởi vì với tôi, cái xấu, cái ác không bao giờ có thật. Vì thế cái tình yêu đất nước quê hương trong tôi không có gì làm suy suyển được. Tôi đã trầm tư trong nhiều ngày tháng để tập cho mình giữ được lòng vô ngại, tính vô ưu trước mọi đắng cay. Không thể có một thứ bạo lực nào khiến em có thể xa lìa đất nước. Sự phản bội còn mạnh hơn bạo lực. Và chỉ có sự phản bội mới làm ta xa lìa nhau. Còn bạo lực thường không có một đời sống lâu dài.

Cái dòng sông mười tám năm ấy đã làm nên em mỹ miều xinh đẹp và đồng thời cũng đã cuốn đi hết trong tôi những vướng mắc cuối cùng. Sống mà không còn biết đến oán hờn thì đương nhiên là hạnh phúc quá. Tôi biết tôi hạnh phúc mà có lúc không biết chia sẻ với ai. Tôi tin rằng sẽ có lúc tất cả mọi người đều cảm thấy mình thật sự hạnh phúc khi biết xóa đi cái biên giới thù nghịch trong lòng mình. Hai con người cùng màu da cùng xứ sở gặp nhau nơi này hoặc nơi kia, mà không vồ vập yêu thương nhau là điều vô nghĩa. Mười tám năm có người ở lại có kẻ ra đi nhưng cái biên giới địa lý ấy làm sao có thể gây chia lìa những tình cảm trong sáng trong mỗi con người được. Cứ mỗi ngày tôi càng thấy yêu cuộc đời hơn. Yêu cuộc đời cũng có nghĩa là yêu cái tuổi mười tám trên cơ thể của một đất nước nguyên vẹn. Từ Bắc vô Nam đi nơi nào cũng có thể tìm được tình yêu. Chỉ có thần thoại mới làm được công việc đó. Ðã hết rồi cái ngàn năm, trăm năm, ba mươi năm chia lìa loạn lạc. Em còn mơ ước gì nữa. Em mười tám tuổi, em là hạnh phúc. Tôi chia buồn với tôi vì tôi có một hạnh phúc ngắn ngủi hơn em. Nhưng có hề gì, cuộc đời còn dài lắm cho em, và tôi thì không cần thắc mắc. Tôi đã sống đủ và làm đủ những gì cần thiết. Chỉ tiếc là không còn nhiều thời gian để làm những gì lợi ích cho đời. Ðời sống thì đẹp và rộng dài quá, còn đời người thì hạn hữu. Biết làm sao bây giờ.

Viết bài này như một tấm thiệp mừng mười tám năm nhan sắc lừng lẫy. Cám ơn tuổi mười tám của Việt Nam.

Trịnh Công Sơn
SGGP số 30/04/1993

Thư viết từ Montréal không gửi

Mỗi ngày ở Montreal của mình là một ngày phố xá. Sáng thức dậy muộn vì đêm nào cũng bè bạn anh em ngồi đến ba bốn giờ sáng. Thức dậy chưa kịp tắm rửa đã nghe phone reo. Không phải phone của cô nào cả mà của người bạn giáo sư dạy toán ở Đại học Montreal. Từ ngày mình qua anh Q. gần như bỏ lớp, vả lại cũng sắp hè. Cái cung cách thầy trò ở bên này cũng hay hay. Có quán cà phê Campus ở gần đại học, ở đó gần như là quán ăn uống của sinh viên. Bọn mình hay ngồi ở quán này để sinh viên cần thắc mắc gì về cái thèse sắp ra trường thì sang hỏi anh ấy: Thầy trò mày tau chi tớ với nhau như bạn về cái thèse doctorat. Anh Q là directeur de thèse. Họ chơi với nhau thân tình và mình nhìn thấy trong mối giao lưu giữa người với người có rất rõ ràng cái khía cạnh của lòng nhân ái.

Có một lần, một người bạn khác cũng là giáo sư toán kinh tế ở Đại học Laval Québec về Montreal thăm. Mấy anh em ngồi lại với nhau ở quán Faubourg đường St Denis. Nhìn ngắm dân québécois đi lại trên phố mặt mày ai cũng hồn nhiên như trẻ thơ. Mình hỏi người bạn: ông ở đây đã mấy chục năm, ông có thấy dân ở đây hồn nhiên vô tư lự và dễ thương không? Anh bạn dạy học, đồng thời cũng là người làm thơ, cười cười: Cái thành phố không có anh hùng nó sản sinh ra loại người như vậy đó toa ạ! Thế là tất cả chúng mình luận quanh cái đề tài ấy. Đi trong một thành phố như Montréal rõ ràng là mình cảm thấy nó không nợ nần gì với quá khứ. Mình sang đây gặp đúng mùa kỷ niệm Montreal được 350 tuổi. Họ còn trẻ quá nên họ sung sướng là phải. Thời gian này Canada, cũng như mọi nơi, đang rơi vào thời kỳ kinh tế suy thoái. Mọi người dân lại phải đóng thêm hai thứ thuế trên mỗi món hàng mua sắm. Nặng nề là thế mà mặt ai cũng phơi phới hân hoan.

Gần như quán hàng ở trên những phố chính như St Denis, St Laurent, Duluth v.v… mình đều có đến ngồi cả. Không có gì vui bằng ngồi một chỗ mà ngắm người qua lại. Dân du lịch đến đây cũng khá đông. Phần đông là dân Anh và Pháp. Dân châu Á thì hình như chỉ có người Nhật. Có lẽ người Nhật học lóm được câu nói khôn ngoan ngày xưa của dân mình nên đi đến bất cứ xứ sở nào cũng gặp người Nhật cả: Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Tuổi trẻ đi cho biết không nói gì mà ngay cả người già cũng đi. Một hôm ở Vieux Montreal mình cùng người bạn đang đi lang thang ngắm trời ngắm cảnh gặp hai cô bé Nhật. Họ đưa máy ảnh nhờ chụp giùm hai người đứng trước một nhà thờ cổ. Sau khi chụp hình xong mình hỏi: Xin phép đi du lịch có khó không? Cả hai ngơ ngẩn không hiểu: khó là gì ? Cắt nghĩa mãi họ mới hiểu ra: “Ai muốn đi thì cứ đi bất cứ lúc nào”. À, thế là mình chợt nhớ lại một điều rất cũ kỹ là con người có đôi chân thì cứ lúc nào muốn đi thì đi. Mạnh khỏe thì đi xa. Ốm yếu thì đi gần. Đi là cái quyền tối thiểu của mỗi con người tự do. Ở Montreal, nhà nước được sắm ra là để cho phép chứ không phải để cấm.

Có nhiều đêm trời mưa, xe chạy qua nhiều khu phố trông giống như một vài nơi ở Sài Gòn. Thấy nhớ kỳ lạ. Thường những lúc ấy trong đầu lại nảy sinh những phác họa tương lai lộng lẫy cho thành phố mình. Không hiểu sao dạo này mình hay lẩm cẩm như thế. Đi qua Amsterdam, Singapore, dù không muốn, cái đầu vẫn cứ gán ghép một Sài Gòn vào những hình ảnh đẹp đẽ nhất của những xứ sở đó. Giá như Sài Gòn có thêm cái này, có thêm cái kia v.v… Nếu mọi người có ý thức, xem thành phố mình ở như căn nhà riêng của mình thì có lẽ thành phố sẽ đẹp lên một cách dễ dàng. Có người bạn là một nhà khoa học nghiên cứu về bụi, làm việc ở Pyrénées, đã có lần than thở: Chưa có thành phố nào trên thế giới này mà lại không thấy chim như ở Sài Gòn. Nghe đau khổ thật. Mình nghĩ rằng không phải chỉ vì ô nhiễm mà vì mấy thằng vô ý thức cứ ngày ngày mang súng Tiệp đi bắn chim trong thành phố. Những thứ tự do vô lại như thế thì không ai ngăn cấm cả. Làm một điều tốt thì phải xin phép nhưng làm điều bậy thì tha hồ. Đi xe đạp nghênh ngang lấn đường sá cũng là một thứ tự do đương nhiên. Cái gì rồi cũng thành thói quen cả. Chúng mình thật bất hạnh là đã nhiễm dần những thói quen xấu mà không còn phản ứng nữa. Ở đây người đi xe đạp cũng khá nhiều. Vào mùa xuân là thành phố bắt đầu chặn riêng những lối đi cho xe đạp. Họ đi như một môn thể thao. Có những chiếc xe lên đến trên hai nghìn đôla. Xe hơi thì hằng hà sa số.

Mình gặp tuyết rồi. Thích lắm. Mặc lạnh cóng, mình cứ ngang tàng đi trong bão tuyết. Hôm ấy có cả Đinh Cường (họa sĩ) từ Washington D.C. sang. Những lọn tuyết tròn lớn hơn nắm tay chỉ vài phút sau là đã phủ trắng xóa cả cây cối, xe cộ, và đường phố. Tối hôm ấy mình về vẽ ngay một bức tranh Thiếu nữ tuyết. Lần đầu tiên cầm trong tay một nắm tuyết trắng tinh như vậy mình mới hiểu thế nào là màu trắng. Không vẽ ra được cái màu trắng ấy. Không hiểu một tâm hồn trong trắng thì cái trắng ấy như thế nào. Lúc mình cầm nắm tuyết vào quán cà phê ở góc phố thì cô bạn Anna cười bảo: Các anh lãng mạn quá. Mình hơi ngượng nhưng cũng nói lại: Không có sự lãng mạn có lẽ chúng tôi không tồn tại nổi đến hôm nay đâu. Có quá nhiều điều để nói về thành phố này. Một thành phố dễ ở và dễ thương. Những con người hiếu khách và độ lượng. Không ai nổi giận với ai. Chỉ có nụ cười và một cách sống dễ dàng ngoạn mục hơi thoáng vẻ bohémien. Một điều rất hay là khi hòa nhập với cuộc sống nơi này rồi thì mọi nỗi buồn tan biến. Sự tử tế giữa con người với con người làm mình tin rằng điều tốt là một cái gì có thể thực hiện được giữa cuộc đời này. Không có gì quan trọng cả và vì thế cũng không có gì đáng phải nản lòng. Thành phố đang chuẩn bị cho Festival de Jazz vào mùa hè. Đã có những tiếng kèn saxo vang lên từ những hè phố. Đời sống sao mà vui vậy. Chỉ có lễ lạc và những trái tim không bóng tối.

Trịnh Công Sơn
Nguồn : “Tuổi trẻ chủ nhật”, số 31 (09/08/1992), tr. 16.

Thơ Montréal

Thơ Montréal – “Những bài thơ không tựa” Trịnh Công Sơn viết ở Canada vào năm 1992.

21.04.1992

Đường xa mỏng mộng vô thường
Trái tim chợt tỉnh tôi nhường nhịn tôị

Đưa em một nửa lên đường
Nửa kia còn lại nỗi buồn quẩn quanh
Mùa Xuân phố bội bạc tình
Bước chân phiền não một mình ta hay

22.04.1992

Ở đây nếu ở trăm năm
Xa em tôi có hàng trăm nỗi buồn
Ở đây nếu ở đây luôn
Xa em tôi sẽ hồn nhiên ngậm ngùị

11.04.1992

Chỗ em ngồi ngày xưa còn ấm lắm
Anh gối lên và ngủ một giấc dài
Em có hiểu đời cho em là mộng
Để anh về cứ tưởng một là hai

Mặc đời ô trược vừa qua
Tấm thân nhỏ nhặt người la mắng người 
Buồn phiền vỡ mộng đường dài
Ta xin một góc ta ngồi với ta

— 

Em đi tuyết đổ 
Bàng hoàng tuyết rơi
Mùa xuân tuyết khổ
Lá cỏ ngậm ngùi

Em đi nho nhỏ
Giữa mùa tuyết bay
Ta đi vô độ 
Giữa mùa tuyết say 

Tim ta vò võ
Tuyết trở mặt rồi 
Mùa xuân năm ấy
Mùa xuân năm này 

Hồn ta bỏ ngỏ
Ai nào ai hay

— 

Nắng trở, mưa trở, trời trở tuyết 
Ngày ấy xa rồi em đi đâu
Đi đâu về đâu em hời hỡi 
Ơi hởi em là giọt tuyết đau 

Giọt tuyết đau ơi hỡi em là mộng 
Là mộng bây giờ cho mãi sau 
Giọt tuyết mai sau em là khói
Là khói nhưng là là mãi mãi 

Em là khói ấy mà chưa phải
Một đốm nhang đèn thức đêm sâu 

Mẹ

Khi một người mất mẹ ở tuổi năm mươi, điều ấy có nghĩa là không còn gì có thể dàn xếp được. Cái sa mạc để lại trong lòng bạn cứ thế mỗi ngày lan rộng ra và cõi lòng bạn thì tan nát như một cánh đồng xanh tươi vừa trải qua một cơn bão lớn. Bạn tự nhủ lòng rồi ngày mai sẽ khá hơn nhưng điều ấy sẽ không bao giờ có được.

Khi một người mồ côi mẹ ở tuổi năm mươi thì điều ấy có nghĩa là cái chỗ trống trên giường mẹ nằm sẽ mãi mãi là một khoảng không hiu quạnh những sáng, trưa, chiều, tối. Bạn sẽ đứng nhìn cái gối mẹ thường nằm mỗi ngày và bật khóc. Bạn ngồi lại bên mép giường của mẹ và hiểu rằng từ đây bạn sẽ không còn được mẹ trách móc một điều gì nữa.

Khi một người đã năm mươi tuổi mà vẫn sống một mình và mẹ cũng một mình (vì ba mất sớm) thì mẹ và người ấy là hai người bạn. Hai người bạn ấy đã cùng nhau chia xẻ những buồn vui trong cuộc đời nhưng mẹ bao giờ cũng là người thiệt thòi nhất vì mẹ bao giờ cũng thấy con mình là một đứa trẻ và do đó mẹ đã chăm sóc con trên từng giấc ngủ, trong từng bữa ăn. Và cũng chính mẹ sẽ rời bỏ mọi cuộc vui để không rời bạn khi bạn đau ốm.

Không có một bài hát nào có thể nói đủ về mẹ. Mất mẹ là mất đi một tài sản lớn nhất trong toàn bộ sự giàu có của một đời người. Khi cúi xuống hôn lần cuối trên vầng trán lạnh lẽo của mẹ, tôi biết rằng từ nay sự lạnh lẽo ấy sẽ dần dần tràn ngập trái tim tôi. Sự lạnh lẽo này là một nhắc nhở cần thiết như một dòng kinh sám hối đòi hỏi mỗi người phải gieo cấy lại những hạt mầm đức hạnh trong tâm hồn mình trước cuộc đời.

Một người tình có thể ác độc với bạn nhưng trong lòng người mẹ thì chỉ có từ tâm. Sự ác độc mang đến giá băng trong lòng bạn và chỉ có hủy diệt chứ không thể làm sinh nở một điều gì tốt lành.

Chỉ có ở người mẹ bạn mới tìm được lòng chung thủy tuyệt đối. Khi mất mẹ rồi thì bạn hãy tin chắc rằng không thể ở nơi nào có một lòng chung thủy tương tự như vậy nữa, bởi vì, đối với mẹ, bạn là mục đích đầu tiên và sau cùng. Khi một người tình cho bạn một tình yêu thì trong trái ngọt đã có thêm mùi vị của cay đắng. Tình yêu của mẹ là không vị lợi. Ở trái tim người mẹ chỉ có sự tràn đầy, không có bớt đi hoặc thêm vào gì nữa.

Nếu thân xác mất đi mà linh hồn vẫn còn lại thì bạn hãy tin rằng mẹ sẽ là người đau khổ nhất, chứ không phải là bạn. Ở nơi linh hồn đó mẹ biết rằng từ nay không còn ai đủ tình yêu để chăm sóc và an ủi bạn trong những phiền muộn chập chùng của cuộc đời.

Một người năm mươi tuổi mất mẹ thì đau khổ hơn trẻ lên năm bởi vì người ấy không còn kỳ vọng gì ở tương lai nữa. Mất mẹ là mất một phần lớn của cuộc vui muốn được đền đáp, chia xẻ.

Trịnh Công Sơn, tháng 11. 1991

Chuyển hoán

Ở vào thời điểm này, chuyện đi, ở, nghe ra đã nhuốm màu cũ kỹ. Kẻ ở người đi dường như chỉ còn là chuyện riêng tư của mỗi người, của câu chuyện đời riêng. Cái hăm hở của người này không còn làm xao động sự trầm tĩnh của kẻ khác.

Trong số bạn bè thân thiết của tôi, qua nhiều thời kỳ, số người ra đi nhiều hơn người ở lại. Những năm gần đây có người ra đi tuồng như muốn dấu kín một nỗi ân hận trong lòng. Đi mà cứ như muốn nhắn gởi lại một lời minh oan: đừng phiền trách mình nghe bạn. Tôi chẳng bao giờ có một lời trách cứ nào đối với bạn bè tôi. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng những người ra đi ấy muốn thể nghiệm mình trong một đời sống khác. Bên cạnh đó, có những con người, chỉ vì giao tế trong đời, tôi đã gặp. Họ là những người có học và thậm chí đã có những vị trí tương đối trong xã hội. Thế rồi, bỗng trong những bữa tiệc chia tay, họ ăn nói huyên hoang, họ mặc trước cho mình những phong cách thiếu khiêm tốn và họ cùng vẽ ra cho nhau những dự án huy hoàng, những buổi gặp gỡ thần tiên trên xứ sở xa xôi mà họ sẽ đến. Có điều lạ là thường những loại người này đều tập trung vào một nơi sẽ gánh vác họ là đất Mỹ.

Trước năm 1975, tôi có vài người bạn Mỹ. Họ đều thuộc thành phần trung lưu của xã hội đó. Họ yêu mến Việt Nam, và qua đó họ đã dành những tình cảm đặc biệt đối với tôi. Ở họ, tôi chưa hề một lần bắt gặp cái kiểu cách hợm hĩnh, phô trương như những người tương lai sẽ là Mỹ da vàng kiểu nói trên. Trong xã hội, cái thành phần bị xem thường nhất là lớp người bị liệt vào loại du đãng, du thủ, du thực. Thời còn trẻ, không hiểu cơ duyên nào đã đưa tôi đến chỗ quen biết khá nhiều những kẻ được sắp xếp vào thứ thành phần không được coi trọng đó. Tôi có một số kinh nghiệm về họ bởi vì chính bản thân tôi và cả những bạn bè tôi đã một vài lần được họ bênh vực và thậm chí che chở trước những hăm dọa vô lý của những bạo lực không đâu. Đó là những con người vì một oán giận hay một bức bách nào đó từ cuộc sống mà đã tự biến mình thành kẻ vô lại. Tôi gọi họ là những tên du đãng có tâm hồn. Và một ngày đẹp trời, bỗng những tên du đãng ấy khoác áo thiện tính bước vào cõi đời chung.

Cuộc sống càng dài thì mắt ta càng được nhìn thấy nhiều chuyện đời lạ lắm. Tâm hồn đẹp là tài sản chung của con người. Nhưng rõ ràng đã có những sự chuyển hoán của tâm hồn từ vị trí này sang vị trí khác, từ người này sang người khác. Đã có biết bao con người tưởng chừng tử tế đã biến thành kẻ vô lại và cũng không thiếu những kẻ vô lại chuyển mình thành con người hào sảng. Tôi thường có cảm giác mình là một kẻ thiếu may mắn. Sống qua nhiều thời kỳ, ngoài cái vốn bạn bè ít ỏi, tôi thấy không ít những người vẫn dường như thiếu lòng tín cậy ở tôi. Và nếu như trong một ý nghĩa phù phiếm nào đó, tôi đã quan niệm cuộc sống như một trò chơi lớn nhỏ, thì người đời thường ép tôi vào một cuộc chơi không sòng phẳng.

Vào những ngày cuối năm 90 này, tôi bỗng muốn nhớ lại một chặng đường dài mình đã đi qua. Nhớ những khuôn mặt đã gặp, những tấm lòng đã thấy. Nhớ mà không vui. Bởi những lời đàm tiếu độc địa vẫn như những viên sỏi bắn vào thân tôi không chống đỡ. Từ một lời nguyền rủa nào đó, những lời vu khống đầy ác ý vẫn còn bay quanh đời tôi như những đàn ong độc. Ở thời điểm này tôi không còn thấy có trong có ngoài vì mọi cánh cửa đời đã mở. Chuyện đi về giữa những sở địa xa xôi không còn là vấn đề thời thượng nữa. Ai rồi cũng sẽ gặp nhau. Duy chỉ có điều là làm thế nào để gặp lại nhau trong một niềm vui chất ngất mà không ngượng ngùng, ngượng mặt. Chúng ta hãy xếp lại những lời nói dối và tẩy sạch một thứ lòng oán hận không có niềm tin. Tôi có đọc được một bài viết của anh Thế Uyên nói về chuyện anh đi và tôi ở lại. Tôi cám ơn cách suy nghĩ sòng phẳng và rất dễ hiểu đó. Quả đúng là dù ở đâu chúng ta cũng chỉ có mỗi một công việc là làm nghệ thuật. Cái nghiệp này xét cho cùng cũng không tồi mà cũng chẳng sang. Không thiên đường không địa ngục. Chỉ có điều như người làm vườn tôi gắng thu xếp để chọn được cho hạt giống của mình một thứ đất phù hợp, một bầu khí hậu thuận lợi nhất cho hạt giống thở được bằng chính lá phổi của nó, không vay mượn, không van xin. Với tôi, sự tự do sau cùng của mỗi số phận là sự tự do chấp nhận.

Trịnh Công Sơn, tháng 12/1990 
Nguồn: Báo Phụ Nữ, số Xuân 1991 (Tân Mùi)

Tìm và gặp…

“Tôi đã đi tìm tôi trong âm nhạc thi ca. Chưa thấy đủ khuôn mặt của mình. Và tôi đã cố gắng rẽ về phía hội họa, tiếp tục lên đường, để tìm lại tôi. Tôi đã dùng đủ mọi phương cách để tìm một chữ “mình” đã bị thất lạc, đã biến hình đổi dạng, trong muôn hình vạn trạng của cuộc đời.”

Những tháng cuối năm 90 có nhiều phòng tranh trong thành phố. Tôi có hai người bạn thầy thuốc triển lãm tranh của họ cùng với một bệnh nhân là họa sĩ. Một trong hai người thầy thuốc nọ viết trong phần catalogue của mình: Tôi đi tìm thuốc trong hội họa. Tại sao không? Tìm gì mà chả được. Người muốn đi tìm thì bất cứ ở đâu cũng tìm, bất kỳ từ một sự vật gì, dù nhỏ nhoi đến mấy, cũng tìm. Kẻ vô tâm thì đang ở trước mặt cái muốn tìm cũng không thấy. Chưa tìm được thuốc trong lúc này thì ắt phải bắt gặp được lòng trắc ẩn. Không thấy lòng trắc ẩn biết đâu lại không tình cờ nắm được ngọn nguồn của một thứ tình yêu. Những người bạn tôi đã may mắn tìm được thuốc. Bệnh nhân họa sĩ kia đã được vực dậy từ một cơn đau trầm kha không tìm ra manh mối, mặt mũi. Thế rồi người thầy thuốc nọ mang giá vẽ đến, lấy màu sắc phủ đầy lên toile. Thầy thuốc và con bệnh trao đổi với nhau về những thứ lẽ đời, lẽ đạo, lẽ người. Rồi cuối cùng là lẽ sống để vẽ và là vẽ để sống. Và cứ thế, cọ, dao, màu cứ chập chùng không ngơi nghỉ cho đến lúc người bệnh đã từ thế giới màu sắc bước ra như một con người khác. Đã có biết bao nhiêu câu chuyện quanh cái sự vẽ vời để cứu người.

“Tôi đã đi tìm tôi trong âm nhạc thi ca. Chưa thấy đủ khuôn mặt của mình. Và tôi đã cố gắng rẽ về phía hội họa, tiếp tục lên đường, để tìm lại tôi. Tôi đã dùng đủ mọi phương cách để tìm một chữ “mình” đã bị thất lạc, đã biến hình đổi dạng, trong muôn hình vạn trạng của cuộc đời.”  

Như chuyện “Chiếc lá cuối cùng” của O’Henry. Chuyện kể có một nữ bệnh nhân đã kéo dài cái sống của mình bằng những chiếc lá rụng dần ở một cành cây ngoài khung cửa sổ. Khi trên cành chỉ còn một chiếc lá duy nhất, thì người bệnh nói với người thân của mình: “Nếu đêm nay, chiếc lá cuối cùng ấy không còn nữa thì em sẽ chết”. Ở phòng trọ bên dưới có một họa sĩ tình cờ nghe được. Nửa đêm, giữa trời tuyết lạnh, người họa sĩ bắc thang leo lên vẽ một chiếc lá vàng ở bức tường sát cành cây khô, khi chiếc lá thật đã rụng xuống. Sáng hôm sau, người bệnh thức dậy, nhìn ra cành cây và vẫn thấy còn chiếc lá vàng. Cô đã yên tâm và bảo rằng: “Như thế, là em vẫn còn có thể sống hôm nữa được”. Dĩ nhiên câu chuyện đã kết thúc bằng cái chết âm thầm của người họa sĩ nghèo bị cóng lạnh…

“Tôi đi tìm thuốc trong hội họa” là điều không thể trách móc được. Và cũng chẳng có gì quá đáng khi nói lên điều này. Và cuộc hành trình đi tìm thuốc trong văn học nghệ thuật không chỉ vì một độ hứng nhất thời mà là cả một quá trình suy nghiệm. Phải đớn đau dang dở mình trong thành tựu này để hoàn tất mình trong một thành tựu khác, lớn hơn và cũng không ít phần khổ ải hơn. Hãy biết đi tìm, nhẫn nhục tìm kiếm sẽ có ngày thấy được. Dù ở đâu. Từ trong một hạt bụi đến cõi trời bao la. Từ cái sờ mó được đến cõi vô hình.

Diễm của Trịnh Công Sơn Sáng tác năm 1963

Tháng Mười Hai năm một ngàn chín trăm chín mươi, tôi cùng hai họa sĩ bạn rủ nhau tổ chức một phòng tranh. Nhiều người đến phòng tranh và nói với tôi: ông vẽ như viết nhạc vậy. Đúng. Tôi muốn đi tìm cái phần-nhạc-không-nói-được trong hội họa của tôi. Nếu tôi có thể nói được tất cả mọi điều của đời sống, của con người, của thiên nhiên bằng âm nhạc thì tội gì tôi phải vơ vào cho mình thêm một tội lỗi nữa. Tôi đã đi tìm tôi trong âm nhạc thi ca. Chưa thấy đủ khuôn mặt của mình. Và tôi đã cố gắng rẽ về phía hội họa, tiếp tục lên đường, để tìm lại tôi. Tôi đã dùng đủ mọi phương cách để tìm một chữ “mình” đã bị thất lạc, đã biến hình đổi dạng, trong muôn hình vạn trạng của cuộc đời. Có những ngày tháng tôi đã bỏ mình vào một cõi tịch lặng vô ngôn để thử nhìn lại rõ mình hơn, nhưng vô vọng. Và tôi đã tìm đến với thế giới của im lặng và hội họa. Ở đây tôi đã bắt gặp một mảng đời của mình bấy lâu nay vẫn còn bị che dấu. Chính ở trong cõi màu sắc này, tôi đã chạm vào được cái chìa khóa Libido để mở dần những cánh cửa vô thức của bản thân mình.

“Tôi đi tìm thuốc trong hội họa”. Câu nói của người bạn bác sĩ làm hội họa chưa phải là điều đáng vội bình phẩm, phê phán. Nghĩ cho cùng, rõ ràng cũng không phải là lộng ngôn. Chúng ta có khi mất nhau và đã gắng tìm nhau trong cuộc đời. Chúng ta tìm tuổi thơ trong con gà đất tu huýt, trong cái lục lạc lùng tung. Chúng ta tìm quên lãng trong tách cà phê, trong ly rượu. Tìm nỗi nhớ trong dòng nước, trên vài cầu, ở hè phố, trong màu nắng giọt mưa.

“Tôi đi tìm thuốc trong hội họa” cũng chẳng khác gì tôi đã thấy no trong đói, thấy ánh sáng trong đêm tối, thấy hạnh phúc trong khổ đau, thấy niềm an ủi trong hận thù, thấy cái thật trong sự dối trá. Giờ đây, tôi bỗng thèm đi tìm cái vô thanh trong sự khoác lác.

Trịnh Công Sơn, 31 tháng 12.1990 
Báo Tuổi Trẻ Xuân 1991

Viết bên bờ Loiret

Tôi đã nhớ Paris dù chưa bao giờ gặp. Tôi nghĩ về Paris đã từ lâu lắm. Những dòng suy nghĩ đã trôi đi không có ngày hẹn. Trôi đi. Đời sống đã trôi đi, đã trôi qua như bây giờ trước mắt là dòng suối Loiret, nhìn từ căn nhà của Đặng Tiến, cũng trôi đi lặng lẽ. Những con thiên nga cũng trôi đi trên dòng suối này. Lười biếng trôi đi mà vẫn giữ cho riêng mình một vẻ đẹp không thể nào trách móc được. Lac des cygnes. Ballet về cái chết của Thiên Nga.

Tháng 5 trời đất đề huề một bầu không khí ấm áp rất thuận lợi cho một cơ thể ốm yếu như tôi. Paris ồn quá. Ồn ào một cách hơi hỗn đối với những tâm hồn tĩnh lặng Đông phương. Tôi thích phố xá nhưng không phải là một loại phố xá làm đau đớn đời sống riêng tư của mình. Về Orléans nghe chim chóc ca hát quanh đời. Những cây platane già, những cây platane trẻ phủ xuống một nỗi nhớ nhung riêng. Tháng 5, những lớp da bệnh hoạn được sưởi ấm. Những giọt máu dưới làn da kia đã trỗi dậy ca hát một mùa không tuyết phủ.

Thanh Hải, Như An, Michiko, Trịnh Công Sơn, Phạm Văn Đỉnh – Paris 1989

Tôi không có ai để nhớ và cũng không có ai để quên. Tôi đã nhớ một đời và đã quên hết nửa đời. Những con thiên nga làm tôi nhớ những đôi chân đẹp. Đẹp một cách lạnh lùng tự nhiên vì màn đã khép, đôi chân đã về và tôi cũng trở về với chốn riêng tôi. Người ta chia sẻ vẻ đẹp và người ta cũng chia sẻ nỗi khổ đau. Nhưng sự bất khả tư nghi (l’impensable), không ai chia sẻ được.

Paris là ước mơ của một thời tuổi trẻ, nhưng giờ đây ước mơ ấy không còn ở lại đây với tôi. Hoá ra giấc mơ và sự thật không phải là một.

Người ta có thể yêu nhau và ghét nhau, nhưng xin đừng hãm hại nhau. Tôi sợ lắm những gì mang đến bất hạnh cho con người. Hãy cố gắng mang đến cho nhau những giấc mơ, những giấc mơ làm nên hạnh phúc. Đi đâu đến đâu hãy chỉ thấy những nụ cười, những nụ cười như đoá hồng đứa bé cầm trên tay đi qua đường phố, rực rỡ một lòng yêu thương vô tận. Chúng ta hình như thừa bạo lực nhưng lại thiếu lòng nhân ái.

Buổi chiều tháng 5, dòng suối Loiret chảy nhẹ nhàng. Đi bộ từ bờ này sang bờ kia còn dễ dàng gấp nghìn lần những mùa lụt ở Huế. Buổi chiều ở Orléans bỗng nhiên tôi nhớ quê nhà quá. Có những cái đầu không bình tĩnh lắm sẽ trách móc tôi vì sao ở một nơi sung sướng như vầy mà vẫn nhớ nhà nhớ quê. Than ôi! Quê nhà chính là tôi rồi tôi biết làm sao được.

Paris ơi! Đã một thời yêu Paris lắm dù chưa gặp. Nhưng bây giờ Paris sẽ là một trong muôn vàn kỷ niệm của tôi. Đừng buồn, vì Paris vẫn là Paris và tôi có thể chỉ là một người quan sát nghèo nàn chưa hiểu được những gì trong lòng Paris muốn giấu kín.

Tôi không còn trẻ và Paris cũng chưa già. Paris hãy mãi mãi giữ gìn một Paris như thế và tôi, tôi cũng sẽ mãi mãi giữ gìn một sự mất đi không cần thiết cho cuộc đời.

Trịnh Công Sơn
Orléans, 22 tháng 5 1989

 

Về một thành phố tôi đã xa

Gần ba mươi năm tôi chưa trở lại với Quy Nhơn. Cái ý niệm về thời gian bao giờ cũng gây cho tôi một nỗi buồn. Dạo ở đó tôi còn trẻ và tôi yêu biển vô cùng. Biển nhớ là bài hát tôi viết cho những đường phố Quy Nhơn. Những đường phố và biển và một người bạn gái hằng đêm cùng tôi ngồi nhìn biển. Điều ấy bây giờ đã trở thành quá khứ nhưng trong tôi Quy Nhơn vẫn còn rõ như một tấm gương. Một tấm gương mà tôi có thể nhìn thấy tôi trong ấy.
Tôi soi vào quá khứ và tôi nhìn thấy tôi ở biển trong những ngày biển động và biển lặng. Tôi nhìn thấy tôi lang thang trên đường phố Quy Nhơn một mình. Một mình đánh billard ở đường Võ Tánh. Một mình nằm ngủ trong căn nhà trọ vào giờ giấc mà mọi người sum họp vui vầy với nhau.

Dạo ấy còn trẻ mà sao cô đơn quá sức. Thỉnh thoảng người bạn gái đến gọi cửa trong giấc ngủ lưng chừng và bảo tôi đêm nay trăng đẹp quá hãy ra ngoài biển ngồi chơi. Biển Quy Nhơn đẹp nhưng hơi bẩn. Người bạn ấy bây giờ chồng con bề bộn hay nhàn nhã, không hiểu khuôn mặt ấy giờ đây như thế nào. Đừng nhắc lại quá khứ vì mỗi lần nhắc lại thì lòng trống trải buồn thiu.

Có những căn nhà trống gió thổi lùa qua mọi ngõ ngách. Tâm hồn con người cũng có lúc gió lạnh cũng lùa quanh. Đừng nhắc lại dĩ vãng. Nó đẹp nhưng không ích lợi gì cả. Chúng ta sống cho mỗi ngày hôm nay. Hôm nay cũng là quá khứ và chúng ta cố giành giựt với thời gian để biến ngày hôm nay thành một hiện tại vô tận.

Quy Nhơn có những tháp Chàm đứng một mình lặng lẽ nghìn năm “mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ”. Cái giấc mộng dài nó buộc con người không được quên và phải nhớ về những dấu tích đã in thành vết không tàn phai trên tâm hồn mỗi con người. Tôi luôn luôn là người đãng trí. Tôi đã quên nhưng vẫn có kẻ tỉnh táo không bao giờ quên bất cứ một điều gì cứ mãi quanh quẩn cuộc đời tôi để nói khẽ vào tai tôi điều tôi không muốn nhớ nữa.
Quy Nhơn không hiểu còn thơ mộng như thời tôi những năm hai mươi tuổi? Cái tuổi ấy nhìn gì mà chẳng đẹp. Tôi vốn yêu người và yêu thiên nhiên. Có thể rất gần đây tôi sẽ chuẩn bị một chuyến trở về Quy Nhơn để tần ngần ngồi nhìn một bờ biển của những ngày xưa, lúc một hạt cát cũng đủ làm tôi cảm động.

Trịnh Công Sơn, 1988

Thư gửi Ngô Kha

Kha,

Trong những ngày tháng 10, với khí thế đấu tranh của nhân dân miền Nam chống lại mọi âm mưu tiêu diệt tự do tư tưởng, tự do báo chí v.v… anh em bỗng nhớ Kha vô cùng (…)

Lá thư nhận được sau cùng của Kha gửi từ Huế vào, mình còn nhớ một điều: Kha không chịu lánh mặt một thời gian dù đã bị hăm dọa. Mình đã suy nghĩ không ngừng về thái độ đó (…)

Cuối năm 1972 thì Kha bị bắt. Anh em loan tin rất nhanh và mình đã vội vã thảo bản tin nhờ một vài tờ báo anh em báo động giùm. Nhưng thật quá thất vọng vì bản tin đó bị xếp vào loại “tự ý đục bỏ” và dù anh em có thương Kha cũng đành xin được “thông cảm” mà thôi. Mình về nhà quá nản lòng nhưng cũng cố gắng tìm phương cách khác. Cuối cùng đành liên lạc với một anh làm cho hãng truyền hình NBC nhờ loan tin kêu cứu giùm với bên ngoài. Tin loan đi vào ngày hôm sau với đầy đủ tiểu sử, thân thế và quá trình tranh đấu của nhà thơ Ngô Kha. Từ đó về sau đã hỏi thăm bằng mọi cách nhưng tuyệt nhiên không thể nào biết chỗ giam giữ đích xác của Kha. (…)

Sau đó là giai đoạn mà anh em bi quan đến độ muốn ngã bệnh vì mỗi người tự thấy chỉ là một thùng hàng loại “nhẹ tay dễ vỡ” mà thôi. Kha đã từng biết anh em luôn luôn tâm niệm một điều : “Hãy biết chờ đợi và nuôi hy vọng không ngừng”, nhưng mỗi ngày qua đi, trong khi guồng máy cầm quyền càng lúc càng tinh xảo thì tập thể nhân dân mỗi giờ phút mỗi hao mòn sinh lực bởi đói kém, sưu cao thuế nặng, đàn áp tinh thần, tù tội hay thủ tiêu v.v… Mình phải thú nhận về sự yếu kém của mình và sau đó đã rơi vào cơn khủng hoảng quá trầm trọng về tinh thần. Trong thời gian này có mấy nhà báo Nhật đưa mình đi khám bệnh ở bác sĩ quen với họ từ Nhật mới qua. Lời khuyên là nên tĩnh dưỡng ở chỗ ít tiếng động.

Mình quyết định về ngay thành phố của bọn mình. Những sinh hoạt trong thành phố giờ đây đã chìm xuống vắng lặng. Muốn gây dựng lại một vài sinh hoạt văn hoá nghệ thuật nhưng dự định bất thành. Anh em đã gặp nhau bàn tính để chuyện cho ra một giai phẩm để làm chỗ cắm dùi cho những cây bút lang thang nhưng đơn gửi đi và giấy mực buồn bã trở về với cái slogan dị hỡm cũ kỹ này: “vì tình thế, vì tình hình”. Bài vở đã viết xong đành được xếp lại một đống.

Rõ ràng là chúng ta chỉ còn lại một thứ tự do duy nhất: tự do câm miệng trong nhà tù trá hình.

Anh em lại gặp nhau và loay hoay bắt tay vào một vài công việc khác. Mục đích của anh em là cố gắng tạo lại sinh khí cho thành phố bằng mọi cách. Vả lại mỗi người đều tự nhận thấy mình đã quá vô ích trong thời gian khá dài. Điều đó làm cho anh em hoảng hốt nhiều hơn cả.

Quyết định xong là làm việc ngay. Công việc chỉ mới bắt đầu thì cái bọn “công an mật vụ trí thức” lên tiếng xầm xì bàn tán rồi. Bọn nó chụp một vài cái mũ loại chính quyền hay dùng cho những người đối lập để thân ái gửi tặng anh em. Thế là những khó khăn chuẩn bị áo mũ lên đường. Không cần nói ra Kha cũng đoán biết đủ mọi thành phần nhưng thường là những kẻ chiếm ưu thế trong xã hội. Những tên “trí thức mật vụ” đó, đau đớn thay, một phần lớn đang nắm vận mệnh giáo dục trong tay. Nguy hiểm hơn nữa là giọng lưỡi đần độn của bọn nó ve vuốt được một số đông học sinh ngây thơ trong thành phố. Kha có còn nhớ trước đây có lần mình đã là nạn nhân của một tên điểm chỉ trong bọn nó không. Thành phố vốn buồn thiu, qua sự hiện diện của bọn chúng lại còn xấu xí hơn nữa. Và có sự thật này vừa được phát giác là số công an chìm trong thành phố trước đây đã quá đông đảo nay được sự tiếp sức không công của bọn chúng bỗng trở thành một lực lượng hùng hậu đến độ hãi hùng. Cái màng lưới dày đặc đó muốn kiểm soát toàn bộ tư tưởng và hành vi của từng cá nhân thị xã, nhất là những cá nhân, mà theo luận cứ ngây ngô và buồn cười của bọn chúng thường gọi là bất hảo và không xứng đáng. Chúng nó đâu ngờ rằng từ lâu chúng ta đã bầu chúng làm những công dân xứng đáng nhất của quốc gia rồi mà!

Trở lại cái vụ “rắp tâm bắn sẻ” bên trên sau khi tung ra những món ám khí tối độc thì hậu quả là công an đến từng nhà của anh em để điều tra và cho đến nay tình trạng đó vẫn chưa chấm dứt. Dù vậy, công việc không vì thế mà khựng lại vì anh em đều nghĩ rằng thiện chí của anh em đang được duy trì và công tác văn hoá là một công tác tốt đẹp. Đã thấy là tốt đẹp thì tiếp tục. Từ thái độ chung này mình bỗng nhớ lại thái độ của Kha trước ngày bị bắt và dù ít dù nhiều chúng ta đã có những điểm tương đồng.

Khi cầm bút viết bức thư này cho Kha mình hoàn toàn không có dụng ý nói dài dòng về tình trạng trên đây, nhưng cái tâm sự u uất trong mỗi người chúng ta nhiều khi kềm hẳn không nổi…

Chân dung Ngô Kha do hoạ sĩ Đinh Cường vẽ

Hôm nay những thành thị miền Nam đang vươn vai đứng dậy. Trời đất được cơ hội thoát ra không khí ô nhiễm để thở bằng sinh lực mới cùng tập thể nhân dân yêu nước, yêu hoà bình và tự do. Phải chăng hồi chuông báo tử đã được gióng lên để những gì cần phải tàn tạ hãy tàn tạ nhanh chóng. Khi con người nhận thấy mình không còn gì để bị bóc lột và tước đoạt thêm thì đứng dậy và lên đường. Đó là điều dĩ nhiên. Chỉ có kẻ mù mới không nhìn ra sự thật đó. Nếu cần phải ngạc nhiên tự hỏi sao vận hội mới của nhân dân trễ nải quá vậy. Trễ đến như vậy có nghĩa là sự chuẩn bị đã chu đáo lắm rồi. – Không hiểu sau những bức tường tối tăm của một nhà giam nào đó Kha có nghe ra những tiếng thét bi hùng của nhân dân? Có lẽ Kha không ngờ nổi là không riêng gì những đoàn thể tôn giáo, những tập thể nhân dân trên mọi lãnh vực văn hoá, báo chí, tư pháp, tiểu thương, lao động v.v… và ngay cả trong hàng ngũ quân nhân, công an và cảnh sát cũng từng giờ từng phút nóng lòng chờ đợi. Đây đúng là lúc chúng ta có thể dùng được cái từ ngữ này mà không bị cho là xuyên tạc chút nào: “Triệu người như một”. Đúng là triệu người như một không thêm bớt gì nữa. Mình biết được những nao nức như bờm ngựa bất kham trong Kha. Nếu tin tức bên ngoài đến kịp, có lẽ giờ đây trong lòng Kha đang mở hội không chừng. Hãy cố gắng trấn tĩnh, đừng quá nôn nóng như ngày xưa, nhưng nếu trái tim Kha đã muốn nhảy những nhịp điệu bất thường thì hẵng để cho nó reo ca đôi chút. Nếu có vài trái tim bên cạnh Kha còn tăm tối quá thì thử chuyển cái nhịp điệu vui tươi kia sang giùm. Hãy nhóm lửa cho nhau và đợi chờ. Ở bên ngoài những vòng xích anh em đang cố gắng nối lại với nhau. Cuộc tranh đấu hôm nay của nhân dân trên mọi thành thị miền Nam không giống như những cuộc tranh đấu đã qua. Chắc chắn không phải là ngọn lửa bộc phát để mau tàn tạ. Cái nhịp độ đầy đắn đo, trầm tĩnh trong từng bước một làm mình an tâm lắm. Vả chăng lúc này không tin tưởng vào thế lực và sức mạnh của nhân dân thì có lẽ chúng ta không còn cơ hội tốt đẹp nào hơn để tin tưởng nữa. Này nhé, chỉ trong vòng hai năm, thời gian Kha nằm tù, tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và giáo dục đã rơi xuống một tình trạng quá thảm thương. Mọi sự gắng gượng đều vô ích. Hoàn toàn là không cứu vãn được gì nữa. Trên chiếc máy thời tiết, tất cả mọi phương diện từ tinh thần đến vật chất như tự do, cơm áo, dân chủ đều được trả về với “số o”. Riêng những vùng ngoại ô thì tệ hại hơn nữa vì đa số dân chúng đều coi như con “số o” trên kia là một tình trạng khả quan đối với họ. Họ là những kẻ chỉ còn chờ sự huỷ diệt sau cùng vì chiếc kim đời sống họ đang muốn chạy nước rút về phía cực âm; (-), cơm áo, (-) trú ẩn (-) công ăn việc làm. Có lẽ, không nên nhắc thêm những chữ tự do, dân chủ đối với họ vì đó là những món xa xỉ suốt đời không có cơ hội dùng đến nhất là trong giai đọn mà bao tử đang làm một cuộc thi đua không hào hứng về giai “Oscar de la faim” – Họ không phải là những triết gia nhưng cả cuộc đời là một chủ thuyết hư vô từ trong ra ngoài.

Từ những năm trước chúng ta chờ đợi những gì ? Chắc Kha còn nhớ rõ là chúng ta thường nói với nhau phải chờ một ngày mà mỗi sự kiện tình thế phải có một trái chín muồi. Hôm nay phải chăng những trái cây chờ mong đã chín tới. Những trái cây đói khổ, chết chóc, thất nghiệp, ruộng vườn v.v… hỗ trợ bởi một hoàn cảnh xã hội rách nát, bè phái, tham nhũng, chia rẽ, tù tội, tra tấn… Như thế thì Kha này, có phải là một vận hội mới đã đến lúc phải thành hình hay không ?

Mặc dù không ai nói với ai nhưng mình tin rằng mọi người đang nghĩ như thế. Đây là lần đầu tiên mình thấy được những tôn giáo đã bỏ qua những di biệt để đứng cùng nhau trong một hàng ngũ, những thành phần khác biệt, cũng phát thanh cùng một nguyện vọng. Chưa biết sẽ đi đến đâu nhưng nhìn qua cái khối vững vàng đầy tình nghĩa anh em như thế cũng đủ cảm động rồi. Và cái điều mình mơ ước bấy lâu, cái nền tảng của mọi sự xây dựng lâu dài cho hòa bình, tự do, giờ đây đang thành tựu, từng phần trên đất nước. Đó là cái đang “lương tâm tập thể”, một viên ngọc quý giá được làm bằng xương máu và sự tranh đấu liên tục của nhân dân.

Kha này.

Nếu không cho là uỷ mị quá thì có lẽ phải khóc được trước hình ảnh đẹp đẽ kia và trước viễn ảnh mà lương tâm tập thể “sẽ mang đến”.

Từ 1963 đến giờ đã phải trải qua bao nhiêu cuộc đấu tranh, lớn có nhỏ có, nhưng chỉ có lúc này mình mới thấy được sự nhất trí từ mọi phía của quần chúng (Dĩ nhiên là trong sự nhất trí đó hoàn toàn không có sự đóng góp của chính quyền). Và cũng vì một tập thể đồng nhất quá to lớn như thế nên vấn đề tổ chức cơ cấu càng phải cẩn mật và chặt chẽ hơn thêm. Từ đó, như mình đã nói với Kha ở trên, đừng nên nôn nóng quá vì tập thể sẽ rất chậm nhưng là sự chậm rãi dũng mãnh của ngọn sóng thần đang góp thêm những con sóng nhỏ để đầy đủ uy quyền quét sạch sẽ mặt đất ô uế của chúng ta đang sống hôm nay. Không nhắc đến thì thôi, mỗi lần nhắc lại thì trái tim như bốc lửa. Phải tự trấn an lắm mới khỏi có những cử chỉ hoặc hành động thái quá. Trong lúc này không ai có quyền bốc đồng tự tạo lấy sự dấn thân có tính cách cá nhân nữa. Mội ước muốn hợp tác phải có nghĩa là hợp tác trên cơ sở tinh thần mà nhân dân đã và đang tiếp tục hình thành một cách quy mô trên khắp các đô thị miền Nam. Mỗi một vụ xé rào phải được xem như có ý phá hoại tập thể. Chính vì tính chất trầm trọng đó mà cái lưới công an đang được sử dụng tinh vi hơn để kịp thời cắt lìa những đầu mối có thể nối liền với tập thể. Đây là một cuộc đấu tranh có tính cách dứt điểm buộc mọi người phải cẩn trọng và ý thức sáng suốt về chỗ đứng của mình.

Chính quyền một mặt đang chơi trò “thả nổi tình thế” để tạo sự hoang mang trong quần chúng, mặt khác dùng mục tiêu đấu tranh của nhân dân làm mục tiêu của mình để vô hiệu hóa ý nghĩa của sự chống đối. Nhưng Kha này, sự quỷ quyệt đó không che dấu được ai đâu.

Chống tham nhũng, đòi hỏi sự hoà giải dân tộc v.v… chỉ là những cái cớ tiền khởi để từ đó nhân dân tự do cứu mình ra khỏi manh vuốt độc tài của một chính sách hiếu chiến và phi dân tộc mà thôi. Nhân dân đã ý thức từ lâu về thân phận của mình, ngày qua tháng lại cũng chỉ là nạn nhân của bóc lột và phỉnh phờ. Ngày nào họ chưa lên tiếng chống đối, ngày đó họ vẫn còn là cơ hội tốt, để đóng góp thêm xương máu của chính họ và của con cái họ, vẫn còn là cái bình phong tốt để tập đoàn cai trị kia nhận tiền viện trợ Mỹ để chia nhau. Trên bao nhiêu thông báo, tuyên cáo, phản kháng thư của tháng 10 này, tiếc rằng Kha không đọc được, bao nhiêu tội ác của nhà cầm quyền đã được bày biện đầy đủ cho nhân dân xem cả rồi. Nên, điều chắc chắn là đồng bào ta không dễ gì bị gạt. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian.

Có lẽ Kha sẽ có buồn đôi chút vì không thể góp tiếng cùng anh em trong giai đoạn này nhưng Kha nên nghĩ lại, mỗi chỗ đứng đều có ý nghĩa của nó trong cuộc đấu tranh chung để giành lại hoà bình và tự do cho dân tộc.

Trong thời gian không thể trực tiếp góp mặt cuộc đấu tranh mới mẻ này, Kha thử phác họa lại những nền tảng đẹp đẽ cho một cuộc sống mới trong đó, đời sống con người sẽ xanh tươi như cây cỏ của quê hương, sẽ đi đứng cười nói thong dong không còn sợ hãi, tóm lại sẽ được phục hồi xứng đáng trong thiên chức làm người.

Lòng đang quá xôn xao bởi tiếng nói đấu tranh đang vang lên trên khắp mọi đô thị miền Nam, mình không đủ trầm tĩnh để viết cho Kha dài hơn nữa. Mong Kha hiểu cho và xin hẹn gặp nhau như những tiếng pháo mừng rỡ trong những ngày linh thiêng sắp đến.

Thân ái và hy vọng.

Trịnh Công Sơn, 1974