Trịnh Công Sơn, người tình của cuộc sống

I.

Trong một lần trả lời phỏng vấn về những bản tình ca, có người so sánh nội dung ca từ Trịnh Công Sơn với thơ ca Rabindranath Tagore nhà thơ của “Tâm tình hiến dâng”, “Người làm vườn”, “Mùa hái quả”… Trịnh Công Sơn trả lời, chỉ xin được làm “người tình của cuộc sống”. Thật vậy, những ca từ của Trịnh Công Sơn là những khát khao của một người khát sống. Bời vì khát sống, nên ông luôn ám ảnh về cái chết.

Trịnh Công Sơn từng nói: “Nỗi ám ảnh lớn nhất, đeo đẳng tôi từ thuở còn nhỏ cho đến sau này vẫn luôn luôn bị ám ảnh là cái chết. Sự sống và cái chết trở thành một vấn đề lớn trong đời sống tinh thần của tôi. Có lẽ suy cho cùng từ đâu mà ra cái suy nghĩ đó là do tôi quá yêu cuộc sống, sợ mất nó. Mất mát một cái gì đó mà mình từng có trong cuộc đời, đã từng đi qua và đã từng tìm thấy như tình yêu, như cái gì đẹp nhất của cuộc sống sợ ngày nào sẽ mất đi. Sự mất mát và cái chết là nỗi ám ảnh lớn nhất đời tôi” (1)

Trong ca từ Trịnh Công Sơn chúng ta dễ dàng bắt gặp những “ám ảnh” ấy:

Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi
Lá úa trên cao rụng đầy
Cho trăm năm vào chết một ngày
(Cát bụi)

Đường nào dìu tôi đi đến cơn say
Một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời
(Bên đời hiu quạnh)

Sống có bao năm vui vui buồn buồn người người ngợm ngợm
Sống chết mong manh như thân cỏ hèn mọc đầy núi non
(Giọt lệ thiên thu)

Sự nhạy cảm thường trực về tính hữu hạn của cuộc đời đã thúc đẩy tâm hồn ông luôn tiếp cận với cõi vô thường:

Chìm dưới cơn mưa một ngưởi chết đêm qua
Chìm dưới đất kia một người sống thiên thu…
Hạt cát ngu ngơ nằm chìm dưới chân đi
Bờ bến thiên thu nằm chìm dưới hư vô
(Chìm duới cơn mưa)

Sống từng ngày
Chết từng ngày
Còn sống một ngày là hẹn chết mai đây
(Buồn từng phút giây)

Người nằm co như loài thú trong rừng sương mù
Người nằm yên không kêu than chết trên căn phần…
Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây
Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này
(Phúc âm buồn)

Nhưng có lẽ ca khúc Một cõi đi về với những ca từ mang nặng chất Thiền là ca khúc có cái nhìn lạ về số kiếp con người, ông xem cuộc đời như một cõi rong chơi, nếu nhìn từ phương diện triết học. Sinh thời, Trịnh Công Sơn cũng từng công nhận Một cõi đi về là một bài hát rất lạ, thực sự không dễ hiểu vì có những câu trong bài hát này bản thân ông cũng thấy khó giải thích. Nhưng tuy vậy, dù chưa hiểu hết lời nhưng chúng ta khi nghe, khi hát lên thì có điều gì đó chạm đến trái tim mình. (2)

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về

Mỗi con người đều có một cõi đi về riêng của mình, đó là ý chính của bài hát. Từ hư vô người ta đến với cuộc sống và từ cuộc đời rong chơi người ta lại trở về với hư vô. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng nói rằng khi nghe bài hát này ông không cảm thấy sợ chết nữa. (3) Ấy là một cảm nhận chung của chúng ta, vì ai cũng có cõi đi cõi về giống nhau nên việc đến và đi tới cuộc đời rồi trở lại hư vô không còn quá đè nặng con người, không xa lạ với họ. Hiểu được như thế, con người chợt thanh thản hơn trước cái chết.

Qua ca từ Một cõi đi về của Trịnh Công Sơn chúng ta bắt gặp tính chất vô thường của thơ Thiền đời Lý-Trần trong bài Chợt tỉnh của Tuệ Trung:

Đoán biết rằng “không” và “có” không cách nhau lắm
Sống và chết vốn từ một đợt sóng
Trăng sáng đêm qua vẫn là trăng đêm nay
Hoa nở năm mới cũng là hoa năm cũ

Ba sinh thấm thoắt thực như ngọn đuốc trong gió
Chín cõi tuần hoàn giống như con kiến bò trên miệng cối xay bột
Có người hỏi thế nào là cứu cánh
Ma-ha-bát-nhã tát-bà-ha

Trong các bài thơ Thiền đời Lý-Trần, các nhà thơ cũng phản ánh thân phận con người ngắn ngủi và chóng vánh. Đời người chỉ “như một ánh chớp, mới có đã thành không” (Thị đệ tứ – Vạn Hạnh). Tính chất vô thường này được biểu hiện sinh động qua hình ảnh “ba sinh thấm thoắt như ngọn đuốc trước gió” (Đốn tỉnh – Tuệ Trung). Tất cả, cuộc sống, công danh phú quý, hạnh phúc tuổi xuân, đều chỉ là một giấc mộng ngắn ngủi, một áng mây nổi tụ tán không định trước, một mũi tên bay mất hút không trở lại. Các nhà thơ Thiền luôn kêu gọi mọi người nhận thức rõ điều này ”mặt trời lên rồi sẽ lặn, đời người nổi rồi sẽ chìm” (Thư thời vô thường kệ – Khóa hư lục, Trần Thái Tông); “tháng ngày không ở lâu; cái già, cái bệnh rất dễ xâm nhập” (Hoàng hôn khuyến chứng kệ – Khóa Hư Lục, Trần Thái Tông), kêu gọi con người nhìn thẳng vào thực tế. Tính chất ngắn ngủi vô thường của thời gian trần thế cần được ý thức không phải để bi quan yếm thế mà để vượt lên khỏi nỗi sầu cố hữu này, đạt đến tâm thái:

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận / đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết / Đêm qua sân trước nở một nhành mai) (Cáo Tật Thị Chúng, Mãn Giác thiền sư). (4)

Ngay trong cái giây phút “ngộ đạo” thì thời gian hữu hạn đã trở thành thời gian vô thủy vô chung, mùa xuân có đi có đến đã trở thành mùa xuân hằng thường, vĩnh cửu, hay nói khác, thời gian đo đếm được đã trở thành một thứ siêu thời gian. Trong các ca khúc của Trịnh Công Sơn luôn có sự vận động biện chứng giữa cái vô thường và cái hằng thường, giữa khoảnh khắc và trường cửu. Thấm nhuần tính chất Thiền – Phật, Trịnh Công Sơn cũng đã “ngộ” ra cõi đời này chỉ là cõi tạm và ông kêu gọi mọi người hãy sống vui vẻ nơi quán Trọ này:

Con chim ở đậu cành tre
Con cá ở trọ trong khe nước nguồn
Cành tre… (í… a)
Dòng sông… (í… a)

Tôi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời
(Í…a …í… à… í… à… a…)
(Ở trọ)

Bi kịch phận người không chỉ mâu thuẫn giữa cái hữu hạn và vô hạn mà còn là bi kịch của sự phi lý. Trong Trường ca Tiếng hát dã tràng, Trịnh Công Sơn đã nói rõ điều ấy. Theo tài liệu Nguyễn Đắc Xuân, Trịnh Công Sơn viết trường ca này lấy ý tưởng từ tác phẩm Le Mythe de Sisyphe (Huyền thoại Sisyphe) của Albert Camus – tác gia hiện sinh người Pháp đoạt giải Nobel 1957. Tác phẩm Huyền thoại Sisyphe nói về sự phi lý của cuộc đời. Tất cả những gì con người nỗ lực xây dựng nên rồi cũng chẳng đi đến đâu, giống như anh chàng Sisyphe bị khổ sai hằng ngày phải đẩy một tảng đá lên núi cao và thả tay cho tảng đá lăn xuống vực rồi sau đó lại cố sức đẩy lên rồi lại thả tay. Tất cả sự nỗ lực ấy không có nghĩa gì hết, giống như truyền thuyết Dã tràng xe cát biển Đông của người phương Đông vậy.

Trường ca Tiếng hát Dã Tràng nhuốm màu triết lý về thân phận làm người. Kiếp người là vô nghĩa, con người là khổ đau, chỉ có tình yêu mới làm vơi bớt khổ đau. Trường ca là tiếng kêu thống thiết của “dã tràng khóc cho thân mình” trước cảnh “trùng dương đưa sóng vào bờ, đùa lên biển cát hoang vu, xóa từng mảnh công dã tràng… nói lên niềm đau vô vàn của thân phận. Những gì con người làm ra rồi cũng là công dã tràng. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà ông tuyệt vọng, buông xuôi.(5) Trịnh Công Sơn chỉ ra rằng chỉ có tình yêu mới làm vơi bớt khổ đau và đó là chốn trú ẩn cuối cùng:

Tên tháng ngày viết trên môi cười
Đốt đêm dài nghe ngóng tình yêu,
Nghe dã tràng xuống hai vai gầy,
Đốt cơn buồn đi đến tình yêu,

Gọi vào tình yêu, gọi vào tình yêu
Ta ra ngàn lối bắc loa gọi vào tình yêu

Nhạc sĩ Văn Bình cho rằng: “Trường ca này là kho lưu trữ những ưu tư mà ta thường bắt gặp lại trong nhiều ca khúc của Trịnh Công Sơn sau này như Lời buồn thánh, Đóa hoa vô thường”. (6)

Một lát cắt quan trọng nữa để tìm hiểu về phận người mong manh, chóng tàn là tìm hiểu nỗi ám ảnh thời gian tàn phai trong thế giới Trịnh Công Sơn.

Trong tác phẩm “Trịnh Công Sơn / Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật”, Bùi Vĩnh Phúc đã phân tích khá kỹ nỗi ám ảnh thời gian tàn phai này. Nhận xét rằng người ta dễ dàng bắt gặp những hình ảnh tàn phai trong thế giới của Trịnh Công Sơn, như nắng vàng phai, lá vàng phai, ôm lòng phai tàn, thu phai, mộng nhạt phai, v.v…, ông viết: “Đối với ông, thời gian thường đi quá nhanh, để tất cả những gì là tươi đẹp trong cuộc sống này cứ thế mà phai úa, tàn héo dần. (…) Trong bài Nhìn những mùa thu đi, Trịnh Công Sơn viết: Nhìn những mùa thu đi, em nghe sầu lên trong nắng/ Và lá rụng ngoài song, nghe tên mình vào quên lãng/ Nghe tháng ngày chết trong thu vàng (…) Đã mấy lần thu sang / Công viên chiều qua rất ngắn / Chuyện chúng mình ngày xưa, anh ghi bằng nhiều thu vắng, đến thu này thì mộng nhạt phai. Quên lãng, chết, rất ngắn, nhạt phai. Đó là những nhận thức của Trịnh Công Sơn về bước đi hững hờ mà gây nhiều xót xa, đau đớn của thời gian, đối với kiếp người.” (7)

Không phải chỉ trong ca từ Trịnh Công Sơn mới tiếc xuân thì, mới ám ảnh nỗi tàn phai. Thơ xưa đã đầy những lời cảnh báo về nỗi ngắn ngủi của tuổi trẻ: Chơi xuân kẻo hết xuân thì/Cái già sồng sộc nó thì theo sau. Và đặc biệt đến Thơ Mới, tiếng thơ của quyền sống cá nhân – nó trở thành một tiếng nói đầy ý thức về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của cuộc đời.

Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
(Xuân Diệu)

Chế Lan Viên thì chối từ dứt khoát khi mùa Xuân đến, ông muốn ở lì với mùa Thu, có nghĩa là ông muốn ở lì với quá khứ, níu giữ thời gian đã mất. Ông ước muốn:

Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!
(Xuân – Chế Lan Viên)

Tương tự như vậy, Xuân Diệu lại mong ước táo bạo hơn: Tôi muốn tắt nắng đi/Cho màu đừng nhạt mất/ Tôi muốn buộc gió lại? Cho hương đừng bay đi… (Vội vàng). Khó mà bảo rằng ước muốn ấy không “ngông cuồng”, “ngộ nghĩnh”, không chứng tỏ “một sức mạnh phi thường” bởi con người ta ai mà tắt được mặt trời, mà buộc nổi gió, ai mà quay ngược lại bánh xe tạo hoá của thời gian. (8)

Và Trịnh Công Sơn cũng có một mơ ước rất đẹp, rất “dị thường” như Xuân Diệu và Chế Lan Viên. Nhưng mơ ước của ông lại chỉ là “chăn gió mưa sang”.

Ngày mai em đi, biển nhớ em quay về nguồn
Gọi trùng dương gió ngập hồn, bàn tay chăn gió mưa sang…
(Biển nhớ)

Tuy nhiên, ở đây ta thấy các nhà Thơ Mới luôn níu kéo thời gian, luôn muốn quay về quá khứ nên “chắn nẻo xuân sang”. Còn Trịnh Công Sơn cũng buồn, cũng tiếc nuối thời gian. Nhưng ông hiểu đó là quy luật muôn đời của tạo hoá nên chấp nhận chứ không níu kéo, mà cùng hoà vào thiên nhiên để “chăn gió mưa sang”.

Những ca khúc viết về thân phận con người của Trịnh Công Sơn trước sự sống cái chết và nỗi tàn phai cũng chỉ là đi tìm cái hữu hạn của kiếp sống. Sự hiện diện của mỗi số phận bắt buộc phải đi qua một khoảng thời gian nào đó, do định mệnh an bài và cái không gian vô định phải nhận diện. Theo nhà Phật đó là nhân quả, là luân hồi, là sự sinh trưởng không ngơi nghỉ và biến hóa vô cùng để phát triển, tạo nên cái “nghiệp” cho số phận. Nên cái thân phận khốn khó mà mỗi kiếp người phải mang nặng, không nằm trong phạm trù riêng, nó trải rộng ra cả thế gian này với những sai biệt xuyên qua cung số. Cát bụi lại trở về cát bụi.

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai vươn hình hài lớn dậy
…Ôi cát bụi phận này
Vết mực nào xóa bỏ không hay
(Cát bụi)

* * * * *

Thân phận con người mong manh trước sự sống và cái chết, trước nỗi buồn và sự cô đơn không phải là tâm trạng của riêng ai. Có lẽ là định mệnh tiền kiếp của con người. Văn chương lãng mạn từ xưa đến nay đều buồn, đặc biệt trong thơ trữ tình, nỗi buồn của thi nhân càng được bộc lộ một cách thấm thía hơn.

Riêng với Trịnh Công Sơn – người nhạc sĩ thấm nhuần nền văn hóa lãng mạn Pháp từ thuở nhỏ thì cái tôi, cái bản ngã của ông càng được bộc lộ, khẳng định rõ nét. Nó như một ám ảnh của đời mình. Trịnh Công Sơn là một khối cô đơn. “Làm sao thấu từng nỗi đời riêng…” (Như một lời chia tay). “Người về soi bóng mình, giữa tường trắng lặng câm…” (Ru ta ngậm ngùi). Hãy nghe ông nói về thế giới của ông.“Tự mình biết riêng mình và ta biết riêng ta” (Ngẫu nhiên). Một trong những thú tiêu khiển của ông là mỗi ngày “ngồi trong phòng uống rượu và nhìn nắng từ sáng đến chiều tối”. Ông tận hưởng cái thú “ngồi yên lặng nhìn trời đất và suy tưởng về những điều mình chưa tự giải đáp được cho chính bản thân mình…” Ông cũng cho biết “khoảng thời gian thích nhất là được ngồi yên tĩnh một mình trước khi có một người bạn đầu tiên xuất hiện để phá tan sự yên tĩnh đó”. Vì thế, những nỗi niềm thầm kín của ông trước sau vẫn là “một điều giấu kín trong tim con người là điều giấu kín thôi” (Một lần thoáng có).(9)

Bùi Vĩnh Phúc nhận định rằng “tâm hồn là kẻ săn đuổi cô đơn”, nói theo Carson McCullers. Ông viết: “Chính trong sự cô đơn, con người nghe ngóng được cuộc đời, cảm nhận được những hiện tượng thiên nhiên một cách rõ ràng hơn. Trịnh Công Sơn cũng vậy. Trong tịch lặng của niềm cô đơn, thính giác của ông trở nên mẫn cảm hơn bao giờ. Sự nghe ngóng cuộc đời, cảm nhận thiên nhiên của ông, ở một góc cạnh nào đó, cũng là một nỗi ám ảnh muốn ôm lấy đời sống này: Đêm nghe gió tự tình/Đêm nghe đất trở mình vì mưa/Đêm nghe gió thở dài/ Đêm nghe tiếng khóc cười của bào thai… (Nghe tiếng muôn trùng). Nghe ngóng thiên nhiên, ông có dịp sống trở lại những cảm giác, những hạnh phúc và đau đớn cũ. Đời sống ông trở nên đậm nét và sâu lắng:

Đôi khi thấy trên lá khô một dòng suối
Đôi khi nhớ trong mắt em một bóng tối nhỏ nhoi…
Đôi khi bước qua phố xưa lòng tôi nhớ
Đôi khi thấy trăm vết thương rồi như đá ngây ngô
(Rồi như đá ngây ngô)”. (10)

Cảm giác cô đơn có lẽ là định mệnh của con người, cho dù ở bất cứ nơi đâu. Trên chính quê hương mình hay ở xa quê hương. Vào thời bình hay thời chiến. Giữa đám đông hay trong khoảng vắng… Chỉ còn có thể về với mình, về với tôi:

Trời cao đất rộng
Một mình tôi đi
Một mình tôi đi
Đời như vô tận
Một mình tôi về
Một mình tôi về… với tôi!
(Lặng lẽ nơi này).

Tương tự như vậy, đối với các nhà Thơ Mới, cô đơn là nỗi buồn truyền kiếp. Họ ý thức quá đầy đủ về chính mình nên càng cảm nhận rõ rệt cảm giác cô đơn.

Có những nỗi buồn vô cớ xâm chiếm tâm hồn một cách nhẹ nhàng, êm ái:

Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
…Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều
Lòng không sao cả, hiu hiu, khẽ buồn…
(Chiều – Xuân Diệu)

Nhưng thấm thía hơn là nỗi buồn mang theo cảm giác cô đơn:

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề
(Nguyệt Cầm – Xuân Diệu )

Huy Cận cũng từng ví tâm hồn cô đơn, sầu não giữa cõi đời của mình như hòn đảo:

Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển
Suốt một đời như núi đứng riêng tây
(Mai sau).

Trần Tử Ngang của Trung Hoa hơn ngàn năm trước, cũng đã từng có một nỗi buồn tương tự như thế:

Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thương nhiên nhi lệ hạ.

Tạm dịch:
Ai người trước đã qua?
Ai người sau chưa đẻ?
Nghĩ trời đất vô cùng
Một mình tuôn giọt lệ. (11)

Tuy nhiên, cái buồn và cô đơn của các nhà Thơ Mới khác với cái buồn của Trịnh Công Sơn. Các nhà Thơ Mới chỉ biết tỏ thái độ bất hòa với đời sống xã hội bằng cách lẩn trốn vào cái tôi cô đơn, buồn bã: “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ. Ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư. Ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên. Ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi cũng tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ, ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận” . (12)

Theo tôi, với Trịnh Công Sơn, ông chấp nhận cô đơn. Trong cô đơn ông nghe ngóng cuộc đời, cảm nhận những vi diệu tinh tế của thiên nhiên. Quan điểm tích cực về cái tôi cô đơn của Trịnh Công Sơn đã quyết định chỗ đứng và điểm nhìn của ông trước cuộc đời. Trịnh Công Sơn cô đơn nhưng không trốn vào nỗi đau của riêng mình mà trải lòng ra với đời, đón nhận, và chấp nhận:

Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người
tạ ơn đời, tạ ơn ai đã cho tôi
còn những ngày quên kiếp sống lẻ loi

Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người
tạ ơn đời, tạ ơn ai đã cho tôi
tình sáng ngời như sao xuống từ trời
(Tạ ơn – Trịnh Công Sơn).

 

II.

Tạ ơn đời, tạ ơn tình yêu là một trong những đặc điểm nổi bật trong ca từ Trịnh Công Sơn. Tình yêu ở Trịnh Công Sơn là tình yêu không hạnh phúc. Hầu hết trong những tình ca của ông là những bức tranh mang tên: tình phụ, tình sầu, tình xa, tình xót xa vừa, tình nhớ, tình vơi… Hạnh phúc có chăng, chỉ đong bằng những mảnh vụn và những mảnh vụn… cũng sẽ chìm trôi. (1)

Trong đời người ai chẳng từng yêu và được yêu… và tránh sao khỏi những cuộc tình tan vỡ. Thế giới tình yêu của Trịnh Công Sơn là một đóng góp thành công trong việc phát hiện và biểu hiện những ngôn ngữ tình yêu sâu kín, thể hiện mọi cung bậc tình cảm, nhớ thương, tương tư, mong chờ, giận hờn, trách móc, xót xa, biệt ly, thất tình, tình phụ… Điều đó làm nên tính chân thật, đa dạng trong các ca từ của ông. Lạc vào thế giới tình ca của ông, mỗi người đều bắt gặp thân phận tình yêu của mình.

Trong bài Biển nhớ, viết về mối tình với cô Tôn Nữ Bích Khê, người Nha Trang, một bạn học cùng lớp thời Sư Phạm Quy Nhơn, Trịnh Công Sơn nói lên nỗi chờ mong, da diết:

Ngày mai em đi
Biển nhớ tên em gọi về
Gọi hồn liễu rũ lê thê
Gọi bờ cát trắng đêm khuya

Ngày mai em đi
Đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ
Sỏi đá trông em từng giờ
Nghe buồn nhịp chân bơ vơ…

Chỉ trong một bài Biển nhớ, mà chúng ta bắt gặp đến 2 từ chờ, 3 từ nhớ, 6 từ buồn, 6 từ gọi. Có lẽ chưa có một bản tình ca nào mà nỗi nhớ cồn cào, mãnh liệt đến thế.

Nguyễn Bính cũng từng thương nhớ người yêu khắc khoải qua bài Tương tư nổi tiếng:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Xuân Diệu cũng không kém phần mãnh liệt trong bài Tương tư, chiều:

Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!

Yêu là bắt đầu chuốc lấy tương tư, nhớ mong, khắc khoải đợi chờ. Trong tình ca của Trịnh Công Sơn chúng ta hay bắt gặp những mối tình dang dở, tan vỡ:

Ngày tháng nào đã ra đi
Khi ta còn ngồi lại
Cuộc tình nào đã ra khơi
Ta còn mãi nơi đây.
(Tình xa)

Xin vỗ tay cho đều
Khi đêm đổ xuống đời ta
Xin vỗ tay cho đều
Khi tình trôi đã trôi xa.
(Tình xót xa vừa)

Tình ngỡ đã quên đi
Như lòng cố lạnh lùng
Người ngỡ đã xa xăm
Bỗng về quá thênh thang.
(Tình nhớ)

Trong thơ Nguyễn Bính cũng hay nói đến mối tình đơn phương, một phía, yêu nhưng lại bị hững hờ:

Tâm hồn tôi là một bình rượu nhỏ
Rót lần lần giọt mãi xuống nàng Oanh
Không xua tay nàng vẫn cứ vô tình
Hắt ly rượu hồn tôi qua cửa sổ.
(Tựa đề một thiên tình sử)

Với Hàn Mặc Tử lại là tiếng kêu thống khổ của tình yêu tan vỡ:

Họ đã xa rồi khôn níu lại
Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa
Người đi: một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ?
(Những giọt lệ)

Tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn buồn, đau một cách lặng lẽ. Ông kể lể, thì thầm như tự an ủi chính mình. Không quằn quại, tuyệt vọng như Hàn Mặc Tử, không mặc cảm như Nguyễn Bính, không vội vã cuống quýt như Xuân Diệu. “Vì tình yêu của Trịnh Công Sơn là chiếc bóng lung linh, thấp thoáng, chập chờn: “tình không xa nhưng không thật gần…” (Như một lời chia tay), thoắt ẩn thoắt hiện: “rộn ràng nhưng biến nhanh…” (Tình sầu). Những mối tình “không hẹn mà đến, không chờ mà đi” (Bốn mùa thay lá), nghĩa là chẳng có hẹn hò, thề thốt, ràng buộc gì nhau. Tất cả chỉ là tình cờ: “Ta gặp tình cờ như là cơn gió (Hoa vàng mấy độ), “coi như phút ấy tình cờ” (Nguyệt ca).(2)

Trong “Thủ bút Trịnh Công Sơn” có viết: “Khi bạn hát một bản tình ca là bạn đang muốn hát về cuộc tình của mình. Hãy hát đi đừng e ngại. Dù hạnh phúc hay dở dang thì cuộc tình ấy cũng là một phần máu thịt của bạn rồi”. (3) Điều ông nói quả thật đúng; hơn thế nữa, khi lắng nghe một bản tình ca cũng là khi “lắng nghe im lặng cuộc tình” (Tôi đang lắng nghe).

Theo Lê Hữu, thực ra, Trịnh Công Sơn thích nói về tình phụ hơn là tình yêu, vì ông nghĩ hầu như ai đến với ông cũng chỉ chực chờ phụ rẫy ông vậy. “Cái may ở đời là được yêu và đôi khi cái may ở đời là bị phụ tình”, ông nói thế. Và những tình phụ, phụ tình vẫn trải đầy trong những ca từ của ông. (4)

Ru em phụ rẫy trong ta…
Yêu em, yêu thêm tình phụ…(Ru em)

Em phụ tôi một thời bé dại…
Trả nợ một đời em đã phụ tôi… (Xin trả nợ người)

Trịnh Công Sơn cũng viết về duyên và nợ, những món nợ tình chẳng bao giờ thanh toán nổi:

Trả nợ một đời không hết tình đâu… (Xin trả nợ người)

Trong những tình khúc Trịnh Công Sơn, tình yêu vừa là mật ngọt, vừa là mật đắng:

Tình yêu mật ngọt, mật ngọt trên môi.
Tình yêu mật đắng, mật đắng trong đời… (Lặng lẽ nơi này)

Tại sao lại như vậy? Trịnh Công Sơn không có lời giải thích, chỉ nghe ông nói: “Con người không thể sống mà không yêu. Có người yêu thì hạnh phúc, có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc, con người vẫn muốn yêu. Tình yêu vì thế mà tồn tại”. (5)

Những chuyện tình ông viết thường là những chuyện tình lặng lẽ, không sóng gió, không sôi nổi, nhưng không phải là không đắm say, nồng nàn:

Tôi xin làm cây xa, đứng nhìn em rực rỡ
Tôi xin làm nụ cười, chờ em giữa đôi môi
Tôi xin làm mộng nhỏ, em vừa giấc ngủ say…
(Vì tôi cần thấy em yêu đời)

Trịnh Công Sơn mơ ước làm giấc mộng để ru em vào giấc ngủ say. Còn Huy Cận lại mơ ước hầu quạt cho em ngủ:

Nắng chia nửa bãi: chiều rồi…
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi buồn con nhện giăng mau
Em ơi! Hãy ngủ… anh hầu quạt đây.
(Ngậm ngùi – Huy Cận)

Ru người yêu ngủ ai mà chẳng trìu mến, nhưng đến mức nhẹ nhàng, trân trọng như Huy Cận thì có lẽ không nhiều. “Mở lòng cùng quạt, và thả trăm con chim mộng quấn quýt quanh giường em nằm là một hình ảnh đẹp nên thơ và lãng mạn ít thấy trong thơ ca Việt Nam”. (6)

Nhưng phải đến Trịnh Công Sơn, hình ảnh trong thơ tình Việt Nam mới diễm ảo và bước sang một bước ngoặt mới – bắt đầu từ tình khúc Diễm xưa – mối tình đầu của Trịnh Công Sơn với âm nhạc Việt Nam. Trịnh Công Sơn nói: “Tôi chỉ có những mối tình lãng đãng, khói sương, hoàn toàn không có gì cụ thể. Diễm xưa cũng là một loại tình yêu như vậy”. (7)

Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao
Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ
Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu…
(Diễm xưa)

Kể từ Diễm xưa, “kể từ Trịnh Công Sơn trở đi, các tình khúc đã đổi khác rất nhiều, và nền tân nhạc phải cảm tạ ông về sự khai phá đó”. Nữ ca sĩ Quỳnh Giao đã có lời nhận định như vậy. (8) Trước Diễm xưa làm gì có những “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”, “làm sao em biết bia đá không đau?” Tình yêu phả hơi thở, truyền cảm xúc đến cả những vật thể vô tri, vô giác. Bằng những ca từ như vậy, Trịnh Công Sơn đã vẽ ra những khuôn mặt tình yêu hoàn toàn khác lạ, không hình dung nổi khuôn mặt ấy ra sao, có hay không, thực hay ảo?

Đọc ca khúc Diễm xưa của Trịnh Công Sơn, tôi chợt liên tưởng đến một nhạc phẩm cũng rất nổi tiếng của Phạm Duy Ngày xưa Hoàng Thị phổ thơ của Phạm Thiên Thư. Bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư kể về mối tình của nhà thơ với cô Hoàng Thị Ngọ, một bạn học cùng lớp, ở gần nhà ông. Bài thơ cũng có hình ảnh thiếu nữ vai gầy, tóc dài bay, áo trắng tinh khiết ôm cặp đến trường, đi dưới hàng mưa. Nhưng ở đây là Sài Gòn không phải Huế, nên nàng không đi dưới hàng cây long não lá li ti, mà đi dưới cội hoa vàng.

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng

Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài

Anh đi theo hoài
Gót giày thầm lặng
Đường chiều úa nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng…

Phố ơi? Muôn thuở
Giữ vết chân tình
Tìm xưa quấn quanh
Ai mang bụi đỏ

Dáng ai nho nhỏ
Trong cõi xa vời
Tình ơi?
… Tình ơi?…
(Ngày xưa Hoàng Thị – thơ Phạm Thiên Thư – Phạm Duy phổ nhạc) (9)

Có lẽ tình yêu ở Trịnh Công Sơn và Phạm Thiên Thư thời ấy là một thứ tình yêu hương hoa, lãng đãng, xa cách. Hằng ngày các chàng trai chỉ có thể dõi mắt ngóng em đi học về dưới hàng mưa, hay dạn dĩ hơn lặng lẽ đi sau em để ngắm nhìn là lòng đã thấy hạnh phúc. Trịnh Công Sơn trả lời phỏng vấn: “Ngày xưa, dường như cả thế hệ tôi là như vậy, yêu một mái tóc, một dáng hình, mỗi ngày chỉ cần nhìn thấy mặt nhau, thấy em qua khung cửa sổ là cả ngày thấy vui”. (10)

Nói như Bửu Ý: “Tình yêu thời ấy, chỉ rộn ràng bề mặt, như viên đá trong cốc, như hòn đá ném xuống ao. Lanh canh một lát, gợn sóng một hồi, rồi đâu lại vào đó, lấy lặng lẽ làm vốn liếng, uống tình lắng xuống, trả em vào đời và “tôi thu bóng tôi”. Loại tình yêu này không còn tồn tại, chỉ còn lẩn lút trên những trang giấy đã ngả vàng. Ngày nay tình yêu đã thay đổi chủ trương rồi thì phải: chớp nhoáng, trao đổi, chiếm đoạt…, cho nên tình yêu theo lối Trịnh Công Sơn đem lại một hương vị xa xôi làm mềm cả trái tim sắt đá nhất, và ai nấy ngưỡng vọng như một bái vật đặt trên đài cao để cho tưởng tượng vươn tới”. (11)

Thời đại ngày nay, những cuộc tình đầy nhục cảm, thoáng qua có lẽ đang “lên ngôi”, vì vậy tình yêu trong sáng, chung thủy, nghĩa vợ chồng trở nên quý hiếm. Trong văn chương xưa đã hiếm, nay càng hiếm hơn. Làm sao tìm được những vần thơ như:

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi
(Bài thơ Vua Tự Đức khóc nàng Bằng Phi.) (12)

Thế nhưng, trong muôn vàn tình yêu lãng đãng, khói sương của Trịnh Công Sơn, thật thú vị khi chúng ta bất ngờ bắt gặp một tình yêu thiêng liêng ở Hạ trắng:

Đời xin có nhau
Dài cho mãi sau
Nắng không gọi sầu

Áo xưa dù nhàu
Cũng xin bạc đầu
Gọi mãi tên nhau

Tự Đức muốn đập cổ kính ra tìm lấy bóng nàng Bằng Phi, xếp manh áo cũ để lưu giữ chút hương thừa của người vợ xưa, còn Trịnh Công Sơn lại mong ước có một tình yêu bền lâu cho đến bạc đầu, để ca ngợi nghĩa vợ chồng keo sơn, gắn bó. (13)

* * * * *

Đối tượng chính trong tình yêu – người nữ, xuất hiện khá nhiều trong ca từ Trịnh Công Sơn. Em thường là những thiếu nữ buồn, yếu ớt, xanh xao, có vóc dáng mảnh mai, mong manh, vai gầy guộc, tóc xõa bay ngang trời… mờ mờ, ảo ảo như một bức tranh phi thực (irréel).

Em có vẻ tiểu thư khuê các:

Tìm em tôi tìm
Mình hạc xương mai…
Nụ cười mong manh
Một hồn yếu đuối…
(Đóa hoa vô thường)

Gọi nắng, trên vai em gầy đường xa áo bay…
Cho tay em dài gầy thêm nắng mai…
(Hạ trắng)

Nắng có hồng bằng đôi môi em,
mưa có buồn bằng đôi mắt em…
Vai em gầy guộc nhỏ,
như cánh vạc về chốn xa xôi
(Như cánh vạc bay)

Với ông cái đẹp của người con gái là cái đẹp mong manh, thanh thoát: với gót sen hồng, miệng ngọt hạt từ tâm, ngón xuân nồng, đôi môi lửa cháy, mi cong cỏ mượt, tay xanh ngà ngọc, da thơm quả ngọt, môi hồng đào…

Có lẽ các nhạc sĩ nổi tiếng như Phạm Duy, Văn Cao đôi khi có chung một “goût” về kiểu người đẹp như Trịnh Công Sơn.

Hãy nghe Văn Cao viết về người tình tưởng tượng của ông: gót hài khai hoa; mắt huyền lưu xuân, dáng hồng thơm hương… (Cung đàn xưa) Và Phạm Duy tả người tình thực của mình với gót hoa, em thướt tha, mây tóc ngà, đường thơm bóng gầy… (Đường em đi)

“Trước hết, với Trịnh Công Sơn, Em là người mà “một ngày tình cờ biết em, là ngày lạ lùng nhất trần gian”. Em là “hoa lá giữa thiên nhiên hiền hòa”. Em là người mà ông muốn “yêu em thật thà”. Ông “xin năm ngón tay em thiên thần” và “ru em ngồi yên nhé” để ông “tìm cuộc tình cho”. Chính vì thế mà “Tôi đã yêu em bao ngày nắng, tôi đã yêu em bao ngày mưa”. Nhưng bất hạnh thay, trong tình yêu “đã có nghìn trùng trên môi người tình, đã giấu nụ tàn bên trong nụ hồng, có chớm lạnh lùng trên môi nồng nàn”. (14)

Như có lần Đặng Tiến đã để ý, người phụ nữ Việt Nam trong ca khúc Việt Nam, thơ ca Việt Nam thường là những phụ nữ ẩn nhẫn, thụ động: biến thành tượng đá, ngồi đan áo, ôm đàn, hay đi hái hoa, hái mơ, gánh thóc, dệt lụa:

Từ những phụ nữ trong ca khúc tiền chiến:

Người biến thành tượng đá ôm con…
(Hòn vọng phu I, Lê Thương)

Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ…
(Dư âm, Nguyễn Văn Tý)

Cô hái hoa tươi, hãy dừng bước chân…
(Mơ hoa, Hoàng Giác)

Đến những phụ nữ trong Thơ Mới:

Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già…
(Mưa xuân, Nguyễn Bính)

Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?…
(Mùa xuân chín, Hàn Mặc Tử)

Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn…
(Huyền diệu, Xuân Diệu)

Trong khi đó, người phụ nữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn không thấy gảy đàn, đan áo, gánh thóc hay dệt lụa gì cả. Mà chỉ… khi nghiêng vai, khi nghiêng sầu (Mưa hồng), khi tung tăng dưới hàng me (Tuổi đời mênh mông), lúc đứng lên gọi mưa vào hạ (Gọi tên bốn mùa), khi lại cười khúc khích trên lưng (Quỳnh hương)…

Và nhà phê bình Đặng Tiến còn nhận xét: “Người phụ nữ trong Trịnh Công Sơn đẹp dung dị và tự do bình thường. Tự do với cuộc đời, với tình yêu. Trong xã hội Việt Nam, cho đến hôm nay, chưa chắc gì người phụ nữ đã được giải phóng và được tôn trọng đúng mức.” (15) Trong ca khúc Trịnh Công Sơn, họ được giải phóng và tôn trọng. Tôn trọng người phụ nữ, trân trọng và nâng niu họ rất hồn nhiên và chân thành: ông sẵn sàng làm viên đá cuội để lăn theo gót hài của nàng. Và vì nâng niu và trân trọng phụ nữ như vậy, nên Trịnh Công Sơn là một trong những nhạc sĩ viết lời ru nhiều nhất về tình ca trong đó không ít dành cho phụ nữ: Ru tình, Rơi lệ ru người, Ru đời đã mất, Ru đời đi nhé, Ru em, Ru em từng ngón xuân nồng, Ru ta ngậm ngùi… Những lời ru ông viết, ảnh hưởng rất nhiều nơi người mẹ của ông. Chính những bài ru của mẹ mà ông được nghe, tiếp tục theo ông mãi trên những đoạn đường dài nhất. Trong bài Tình yêu tìm thấy, chúng ta nghe được bài hát ru ấy:

Tiếng ru mẹ hát những năm xưa
Mãi là lời ca dao bốn mùa
Tìm thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá
Góc phố nào cũng thấy quê nhà…

Bùi Bảo Trúc cho rằng, những bài hát ru của người mẹ là những vỗ về, là những dỗ dành, là những an ủi, là những vuốt ve đầu tiên của đứa bé. Vòng tay thơm, giọng hát ấm áp của mẹ sẽ đem lại cảm giác an toàn cho con người trước khi bị đẩy ra thế giới hung bạo bên ngoài. Trịnh Công Sơn đã tìm thấy trong những bài hát ru ấy chốn trú ẩn bình yên. (16) Đó là lý do ông viết rất nhiều ru khúc trong quá trình sáng tác của ông.

Ông Ru tình: Ru em đầu cơn gió, em hong tóc bên hồ / Khi sen hồng mới nở, nụ đời ôi thơm quá / Ru em ngồi yên đấy, ru tình à…ơi. Ông Ru đời đã mất: Ta biết em đêm đêm chờ đợi tiếng hát / Ta biết em đêm đêm ru đời đã mất. Ông Ru em từng ngón xuân nồng: Ru mãi ngàn năm / Vừa má em hồng / Bàn tay đưa anh đến quê hương vàng son...Ông ru người yêu ngủ trong những sớm mùa đông, những sớm mùa xuân, ông ru mãi, ru hoài. Ru những tháng âm u, ru những chia xa, những phụ rẫy, ngọt bùi. Những ru khúc của ông đã đem lại những an ủi, vỗ về cho nhiều thế hệ. Nhưng trên hết là ông tự ru chính mình. Những lời ru an ủi, vỗ về kiếp sống của mình, cuộc tình của mình.

Có lần nhà báo Diễm Chi phỏng vấn: “Ông có rất nhiều những bài hát ru… Trong thực tế, có phải ông đã từng ru rất nhiều phụ nữ ngủ?”. Trịnh Công Sơn trả lời: “Ru như thế không phải là ru em mà thực chất là tôi tự ru tôi, tự ru để thanh lọc tâm hồn không vương một chút oán hờn nào, cho dù bị phụ rẫy.” (17)

* * * * *

Vượt qua tự tình dân tộc, vượt qua tình yêu riêng tư để đến với tình người là đỉnh cao nhất của âm nhạc Trịnh Công Sơn.

Anh Ngọc từng nhận định: “Định mệnh đã bắt anh phải yêu thương. Định mênh lại trao vào tay anh cây đàn và chiếc bút. Và thế là chúng ta có Trịnh Công Sơn, chúng ta có nhạc Trịnh. Con người ấy sinh ra để mà yêu và từ yêu thương lại sinh ra tất cả…. Trước những xấu xa, tăm tối của đồng loại, con người này không tự đứng ngoài hay đứng cao hơn tất cả – có phải vì trong bản chất của nghệ thuật chân chính vốn đã mang thiên lương của con người, thứ thiên lương cao quý của phẩm chất Chúa Trời. Xin hãy nghe:

Chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em.

Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh
Chị vỗ tay hoan hô hòa bình
Người vỗ tay cho thêm thù hận
Người vỗ tay xa dần ăn năn
(Hát trên những xác người)

Anh đã đi qua chiến tranh với cái thiên lương như thế. Tôi không biết như vậy là đúng hay sai, chỉ thấy hễ nghe là muốn khóc. Và dù có ai đó nói là đúng hay sai thì tôi cũng chưa thấy một người nào ghét bỏ hay chí ít là lườm nguýt gì anh. Ai có thể ghét bỏ một trái tim đang rỏ máu – nó đang rỏ máu vì chính các người đấy, hỡi con người”.(18) Nhà thơ Anh Ngọc, một đại tá trong quân đội miền Bắc, chỉ biết Trịnh Công Sơn sau năm 1975 mà đã cảm nhận được tình yêu người ấy. Thật đáng trân trọng. Quả chỉ có nhạc Trịnh Công Sơn mới giúp con người đến gần với nhau, vượt qua những hệ lụy đời thường, vượt qua những tư tưởng trái ngược trên hai chiến tuyến, nhập vào một dòng chảy nhân ái như vậy.

Tình người của Trịnh Công Sơn thể hiện bàng bạc trong những tình khúc viết về quê hương, đất nước với hình ảnh người mẹ, người em. Cái gốc yêu thương của ông là yêu từng con người cụ thể: bé nhỏ, mong manh, nhọc nhằn… trên cơ sở đó mới yêu thương mọi người.

Từ ca khúc đầu tiên Ướt mi viết về giọt nước mắt của một nữ sinh phải đi hát phòng trà để đem tiền về nuôi mẹ bị bệnh lao nặng. Giọt nước mắt thuần khiết ấy đã làm bật lên trong ông niềm cảm thông, đau xót. Là nguồn cảm hứng để ông viết những sáng tác đầu đời. Lòng yêu người ở ông đã bắt đầu xuất hiện từ những ca khúc đầu tiên ấy. Và tình người ấy, nó sẽ trải dài, trải dài theo ông suốt cuộc đời.

Ngoài hiên mưa rơi rơi
Buồn dâng lên đôi môi
Buồn đau hoen ướt mi ai rồi
(Ướt mi)

Cũng như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy cũng có một ca khúc viết về giọt nước mắt rơi, nhưng là giọt nước mắt rơi cho cuộc tình đôi lứa:

Nước mắt rơi cho tình ra đời
Nước mắt theo duyên về xa vời
(Nước mắt rơi – Phạm Duy)

Cùng là giọt nước mắt, nhưng có lẽ chúng ta sẽ dễ cảm thấu giọt nước mắt thương mẹ của cô gái hơn là giọt nước mắt khóc thương cho cuộc tình.

Phạm Duy cũng là một nhạc sĩ nổi tiếng với những ca từ đẹp viết về quê hương, đất nước. Ca khúc Bà mẹ quê là ca khúc tiêu biểu cho dòng nhạc quê hương ấy. Bà mẹ quê ca ngợi lòng hy sinh, chí kiên nhẫn của người mẹ Việt Nam trong lao động:

…Trời mưa, trời mưa ướt áo mẹ già
Mưa nhiều, mưa nhiều cày tươi bông lúa
Trời soi, trời soi bốc khói sân nhà
Nắng nhiều, nắng nhiều thì phơi lúa ra

Bà bà mẹ quê! Đêm sớm không nề hà chi
Bà bà mẹ quê! Ngày tháng không ao ước gì
Nhỏ giọt mồ hôi, vì đời trẻ vui… (Bà mẹ quê- Phạm Duy)

Và người Mẹ của Trịnh Công Sơn cũng kiên cường, hy sinh như người Mẹ của Phạm Duy nhưng là kiên cường, hy sinh che chở con trong chiến tranh:

Mẹ lội qua con suối
Dưới mưa bom không ngại
Mẹ nhẹ nhàng đưa lối
Tiễn con qua núi đồi

Mẹ chìm trong đêm tối
Gió mưa tóc che lối con đi
(Huyền thoại mẹ) (19)

Với tôi, Huyền thoại mẹ là một trong những ca khúc có giai điệu đẹp và sâu lắng, nói lên lòng mẹ cao cả của người mẹ Việt Nam.

Yêu thương các bà mẹ, Trịnh Công Sơn còn yêu thương các cô gái thanh niên xung phong, lao động trên nông trường rồi hy sinh ở biên giới Tây Nam:

Trên nông trường không xa lắm
Có đôi chân đi không ngại ngần
Em bây giờ quen mưa nắng
Gánh trên vai vấn vương bụi hồng…
(Em ở nông trường em ra biên giới) (20)

Có lúc ông lại vui đùa cùng các em thơ:

Em sẽ là mùa xuân của mẹ
Em sẽ là màu nắng của cha
Em đến trường học bao điều lạ
Môi mím cười là những nụ hoa
(Em là hoa hồng nhỏ)

Tính nhân bản của Trịnh Công Sơn chính là ở đây, ông ca ngợi, yêu thương từng con người bình thường, nhỏ bé. Và từ đó yêu thương mọi người, yêu thương nhân loại. Ông yêu người, yêu đời vì biết kiếp người là bể khổ, cuộc đời thì ngắn ngủi. Ông kêu gọi con người hãy ngồi lại gần nhau: “Lại gần, gần lại với nhau. Ngồi gần nhau hơn. Ngồi kề bên nhau”. Để làm gì? Để “Mơ một ngày Hồng Hà góp Hội Trùng Dương”, để “Mong tìm lại một giấc ngủ bình yên”. (Lại gần với nhau).

Ông mời gọi mọi người Hãy yêu nhau đi:

Hãy yêu nhau đi khi rừng thay lá
Hãy yêu nhau đi dòng nước đã trôi xa…
Hãy trao cho nhau muôn ngày yêu dấu
Hãy trao cho nhau hạnh phúc lẫn thương đau…
Hãy kêu tên nhau trên ghềnh dưới bãi

Dù mai nơi này người có xa người…

Đây là lời thần chú mở cửa địa đàng. Đây mới thật là tình yêu cứu rỗi. Yêu trong một tình yêu rộng lớn, chung cùng. (21) Trịnh Công Sơn, với quan niệm sống: Sống trong đời sống cần có một tấm lòng (Để gió cuốn đi)

Chính đó là cái tâm, cái tâm thì không tìm kiếm cái gì cho mình. “Cái tâm” chỉ giống như tấm chiếu, để trải ra cho thiên hạ ngồi lên. Trong đạo làm người, đức hy sinh là đức tính cao quý vô cùng, hiến dâng mà không cần đền đáp, đó là sự cao thượng nhất của đức hy sinh.(22)

Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng: Lòng nhân ái nhu mì và sự bao dung không mặc cả là cốt cách nghệ sĩ hằng có ở Trịnh Công Sơn. Ông cũng viết: Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người, có nghĩa ông biết chấp nhận sự đau khổ của đời sống.

Tôi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời (Ở trọ)

Và dù cuộc đời chỉ là cõi tạm, ông vẫn phải sống, phải yêu thương, phải hy vọng ước ao: Cuộc đời có bao lâu mà hững hờ. Quả thật cuộc đời chẳng được bao lâu, trái tim ông đã không bao giờ hờ hững với cuộc đời, ông đã vắt kiệt tình yêu trong trái tim cho cuộc sống, cho những thân phận khổ đau. Chính vì hiểu rõ đất nước cần một trái tim nên ông đã dâng hiến trọn trái tim mình cho đất nước, ông viết:

Và như thế tôi sống vui từng ngày
Và như thế tôi đến trong cuộc đời
Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi…
(Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui)

Như thế thì chúng ta còn muốn điều gì hơn nữa. Người nghệ sĩ đã rút hết tâm trí mình để nhắn gửi những lời “nhỏ máu” đó. Một trái tim tràn ngập tình yêu người. Và có lẽ không ai hiểu rõ ông bằng Khánh Ly – người bạn tri kỷ đời ông: “Từ ông tôi thành danh và quan trọng hơn cả là tôi được thành nhân. Tôi đã sống cùng tên tuổi của ông gần 40 năm, với những lời ông dặn bảo: Phải luôn luôn sống giữa đời với một tấm lòng và sống với người bằng sự tử tế.”(23)

Nói như đại thi hào Nguyễn Du: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, và cụ Đào Duy Anh khái quát tư tưởng của Trịnh Công Sơn đã hạ một câu chí tình “Cái anh Trịnh Công Sơn này lạ thật, anh ta muốn ôm hết những mâu thuẫn và khát vọng của đất nước vào mình”. (24)

Thật vậy, với thân thể hao gầy và trái tim ốm yếu Trịnh Công Sơn đã phải đương đầu với bao dằn xé của lịch sử. Mặc người đời phán xét, với tôi những ca khúc thấm đẫm tình người, ca ngợi cuộc sống của Trịnh Công Sơn vẫn luôn có giá trị trong dòng văn hóa Việt Nam.

Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim
(Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui)

Ban Mai
Việt Nam, 12/2005
*Bài viết này được in trên tạp chí Văn Học số 232, tháng 7&8/2006, California, Hoa Kỳ, tác giả trích đăng một phần, có sửa chữa và bổ sung tháng 2/2008).

Trịnh Công Sơn với sự hồi sinh của một cố đô rêu phong

TUỔI TRẺ HUẾ THUỞ ẤY: NỖI LÒNG, KHÍ PHÁCH VÀ KHÁT VỌNG.

Thế hệ của chúng tôi, hiểu theo nghĩa rộng: thế hệ cùng tuổi của một thời đại, đều nặng lòng với thân phận của quê hương chiến tranh đói nghèo. Cũng nặng lòng với giấc mơ hợp nhất tổ quốc, giấc mơ của sự độc lập thoát khỏi thân phận của người nô lệ da vàng.

Những con người trẻ tuổi thời xưa ấy, thời đất nước còn cách chia và chiến tranh ấy, do định mệnh ở hai miền Bắc, , nên có thái độ hành sử khác nhau. Tuổi trẻ miền Bắc đi vào cuộc dấn thân lịch sử dễ dàng như hít thở khí trời, như trở một bàn tay.

Còn thế hệ trẻ tuổi miền thuở ấy phải dò dẫm trong lo âu, tìm đường, định hướng với những bóng tối trong mạch máu nghi hoặc, phải với một hành trình dằng dặc để nhận diện lại quê hương, nhân dân, và phận mình. Từ nhận diện đến tỉnh thức, từ tỉnh thức đến hành động cho một quê hương hòa bình thống nhất, cho một vận hội mới trùng tu lại cái xứ sở mà cuộc chiến tranh dài dằng dặc những bóng chinh phu, các chinh phụ, những người tình, người vợ chờ đến hóa đá bên chân trời đăm đăm, những bà mẹ già lòng quặn thắt đớn đau bị rứt khỏi những vòng tay tình yêu, những đứa con ruột rà quẳng vào lò lửa cuộc chiến…

Trong cái tuổi trẻ chung của các đô thị miền Nam ấy, tuổi trẻ của cái xứ Huế tĩnh lặng trầm mặc ấy của lăng miếu trùng vây và của tiếng thở dài, của thành quách rêu phong lở lói vết tích thời gian ấy, đột khởi một cơn bão lớn của phản chiến, đòi Hòa Bình và cũng của những ánh thép, của những ngọn lửa cất cao ngùn ngụt của tình thương và cũng là ngọn lửa cháy bùng của lòng yêu nước. Ngọn lửa của một ước mơ mai này hòa bình, mai này thống nhất Huế- Sài Gòn-Hà Nội, mai này trùng tu lại một quê hương tan hoang đổ nát, những ruộng đồng làng mạc bỏ hoang, những ngôi nhà sụp nát như những con mắt linh hồn hoang vu, những cây cầu gẫy đổ nhịp giữa những giòng sông chới với nỗi sầu muộn. Cũng là ngọn lửa của khát khao xây dựng lại một quê hương bình an, xanh thắm hiện hữu thực bên ngoài. Và cũng là ngọn lửa mơ trùng tu lại quê hương bên trong tâm hồn còn đầy những hiềm thù nghi ngại, đầy những biên giới cách chia cảnh giác giữa những người cùng màu da, cùng tiếng nói, cùng cội nguồn.

Ngô Kha – Nguyễn Châu – Trịnh Công Sơn – Đinh Cường –
Trịnh Vĩnh Thúy –
Dao Ánh – Ngô Hồng Quỳ tại Huế năm 1964

Tuổi trẻ Huế thuở xa xưa ấy đã trở thành ngòi nổ và ngọn lửa của bão táp thổi dọc miền Trung vô Nam làm bùng cháy một cơn bão lửa lớn hơn rồi quay trở ra lại Huế tiếp sức một đợt sóng cháy bùng mới. Ngọn lửa ấy diễn tiến trong cái chu trình đi, về, đấu tranh sục sôi của phong trào đô thị yêu nước miền Nam, chảy suốt một dọc thời gian khởi nguồn từ biến động năm một chín sáu ba trãi dài cho đến tháng ba một chín bảy lăm.

Có hiểu nỗi lòng, khí phách, khát vọng của Tuổi trẻ Huế, mới hiểu được thái độ dấn thân của trí thức văn nghệ sĩ. Những Ngô Kha, Trần Quang Long, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Trần Vàng Sao, Cao Huy Thuần, Thái Kim Lan, Nguyễn Đắc Xuân, Thái Ngọc San, Trần Phá Nhạc, Võ Quê, Trần Hoài, Nguyễn Xuân Hoa… và đặc biệt Trịnh Công Sơn. Tuổi trẻ đó lại in đậm một tâm thức Huế thẳm sâu.

TÂM THỨC HUẾ VÀ NGƯỜI NGHỆ SĨ

Dữ dội, bạo liệt trong cái chốn tịch lặng, thâm u ấy. Khí phách hiên ngang của thanh kiếm trắng trên giòng trường giang giữa cái cõi dịu dàng thơ mộng ngát thơm hương của giòng sông Hương u hoài ấy.

Tính cách Huế, cõi nội tâm sâu thẳm Huế là một sự tổng hợp hài hòa của một phép biện chứng kỳ lạ của những sự trái ngược, tương phản cực đoan, khủng khiếp trên.

Giữa cõi thực và cõi mơ, giữa bạo liệt và tĩnh lặng, giữa hào hùng và dịu dàng, giữa chiêm nghiệm của triết gia, thi sĩ, nhà tu hành với hành động dấn thân của nhà hoạt động xã hội, của chiến sĩ, lặn sâu vào vòng xoáy của phận người, phận quê hương, phận dân tộc.

Phạm Duy, có lần có nhận xét về tính cách Huế ấy khi đối chiếu so sánh tình yêu của một người con gái ở ba miền Trung Nam Bắc khi bị thất tình. Người con gái xứ Bắc khi thất tình thì điên giả như Xúy Vân giả dại, xứ Huế thì đâm đầu xuống sông tự tử, xứ sẽ đốt chồng như cô Quờn…

Mưa Huế

Theo tôi, đó là nhận xét và một phép so sánh lý thú, từ đó nảy bật một cách hiểu về cái nét cực đoan của tính cách Huế: Tình yêu quá mức hay nói rộng ra yêu cuộc sống quá mức đã bao hàm yêu cả cái chết và sự vô vọng, tuyệt vọng.

Và cũng có thể nói từ trong sự vô vọng, tuyệt vọng kia, từ trong cõi âm u của sự chết kia, đã bao hàm sự sống, sự phục sinh, giữa tro tàn và khát vọng của huyền thoại xa xưa về ngọn lửa, cái chết và chim Phượng hoàng.

Cõi cỏ hoa, cảnh sắc kiều diễm này, một thung lũng được đắp bồi do phù sa của những nhánh sông, nhưng được chở che bởi dãy Trường Sơn và Biển Đông này là sự hội tụ của “văn hóa biển” và “văn hóa rừng” của những gì mênh mông, bát ngát, thẳm sâu và huyền bí. Từ đó, kết tinh trong Huế một chất tâm linh sâu thẳm, chất lãng mạn mơ màng và chất đời thường tinh tế, nhưng cũng mãnh liệt sục sôi những giòng ngầm.

Cái quê quán tôi xưa của uyên nguyên vĩnh hằng cũng kết hợp với quê quán cỏ hoa, cây lá có thực. Đó là cõi đi về của tâm hồn Huế và cũng là bản chất nghệ sĩ của Huế và người Huế hiểu theo nghĩa rộng. Chất cổ truyền xa xưa nhất và chất hiện đại nhất cũng được kết hợp ở đây.

Huế cũng là một trong những trung tâm của tôn giáo. Từ Tiên thánh giáo “dân dã bí ẩn”, đến cái chất “thiền và tịnh độ” siêu thoát, tự tại ung dung của Phật giáo, đến cái chất nhân vị huyền hoặc của một “Phúc âm buồn”: tuẫn nạn trên cây Thập Tự Đời để rồi cũng “Phục Sinh” chính ở giữa cõi trần này trong Thiên chúa giáo. Đụng đầu, đấu tranh, hay tách riêng ai sống phận nấy, hoặc kết tủa thành các lớp địa tầng tâm hồn, các tôn giáo này cũng tạo nên tâm thức Huế.

TÂM THỨC HUẾ QUA CÁC VĂN NGHỆ SĨ TIÊU BIỂU: NGÔ KHA, HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG, BỬU CHỈ…

Tâm thức Huế ấy được kết tinh trong cõi lòng của các văn nghệ sĩ tiêu biểu của Huế, ở những mức độ đậm nhạt khác nhau.

Trong cái thế hệ cùng tuổi thời đại của đất nước bị chiến tranh và chia cắt ở Huế, theo tôi, bốn nghệ sĩ đặc trưng nhất cho tâm thức Huế đó là: Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trịnh Công Sơn, và Bửu Chỉ.

Bốn nghệ sĩ này vốn có một tình bạn gắn bó với nhau qua những ngôn ngữ nghệ thuật khác nhau, tuy thể hiện cùng một tâm thức Huế theo cách riêng của mình và có ảnh hưởng lẫn nhau và lên nhau trong cuộc sống lẫn các tác phẩm.

Tranh sơn dầu Bửu Chi

Ngô Kha chủ yếu thể hiện trong ngôn ngữ thơ từ “Hoa cô độc”, “Ngụ ngôn người đãng trí” đến “Trường ca Hòa Bình” và “Mai có Hòa bình” là một sự vận động từ cái riêng của thân phận mình đến cái chung của thân phận dân tộc quê hương.

Từ cái tôi cô đơn, “tân lãng mạn” với cõi tình của tập thơ “Hoa cô độc” đến cái hư hư thực thực đi về giữa hai cõi mê và tỉnh siêu thực ở “Ngụ ngôn người đãng trí“ ở cõi phận mình với cõi tình và cõi người, đến sắc độ “thực” về thân phận quê hương trong “Trường ca hòa bình”, “Mai có hòa bình”, ở đó là sự thâm nhập một hồn thơ vào cõi thực hiện hữu lịch sử: một sự chọn lựa dứt khoát của dấn thân.

Hoàng Phủ Ngọc Tường chọn cái thể tản văn phóng túng kết hợp và hòa tan cái chất thơ, chất triết lý và chất uyên bác của mình.

Anh đi từ cái cõi khói sương lãng đãng của cái chết đến thân phận lịch sử mang tính dấn thân cao (trong Tập ký “Rất nhiều ánh lửa”) đến trở về bốn mùa thiên nhiên (“Ai đã đặt tên cho một giòng sông”, “Hoa trái quanh tôi”) rồi trở lại cái cõi uyên nguyên của vô thường trong “ngọn núi ảo ảnh”.

Bửu Chỉ trong các tranh bút mực phản chiến trước 1975, đã thể hiện trong trong ngôn ngữ hội họa điều mà Trịnh Công Sơn thể hiện trong ngôn ngữ ca khúc ở các tập “Ca khúc da vàng”, phụ “Ca khúc da vàng”, “Kinh Việt Nam”, “Ta phải thấy mặt trời”. Họ là hai anh em song sinh cùng tâm thức và thái độ dấn thân với hai hình thể ngôn ngữ nghề nghiệp khác nhau.

Từ sau giải phóng 1975 đến 1990, tranh Bửu Chỉ đi vào con đường hiện thực và đã có một số họa phẩm thành công, nhưng chính từ 1991 đến nay, anh đã tìm được một ngôn ngữ hội họa triết lý và biểu tượng với những gam màu rực rỡ mà lại phảng phất u buồn để diễn tả tâm linh mình trước vũ trụ, cuộc đời và cõi thế nhân.

Trịnh Công Sơn thì đi về giữa cõi tình đến cõi phản chiến dấn thân, rồi trở về với cõi phận mình. Sau 1975 với thử nghiệm đi vào cõi thực ít thành công, anh trở lại với cái chất tình ca và chất triết lý vô thường và cũng kết hợp với chất cõi thực nhưng mang màu sắc tâm linh hơn (Huyền thoại mẹ, Sóng về đâu, Tôi ơi đừng tuyệt vọng…).

ĐẶC TRƯNG NHẤT CỦA TÂM THỨC HUẾ: TRỊNH CÔNG SƠN

1. Dưới đây chúng tôi chỉ muốn đề cập đến một trường hợp đặc trưng nhất của tâm thức Huế: Trịnh Công Sơn và thế giới ca khúc của anh, nhân năm giỗ đầu của anh, đặc biệt là đề cập đến cái chất “tâm linh Huế” trong thế giới đó.

Tuy nhiên, lễ kỷ niệm một năm ngày mất của anh, lại trùng với sự kiện quan trọng đang được chuẩn bị trong đời sống thành phố Huế: Festival 2002.

Từ Festival 2000 đến Festival 2002, cố đô rêu phong này đã hồi sinh mạnh mẽ về văn hóa – du lịch và ngay cả trong đời sống của người dân. Tôi thử đặt ra một vấn nạn trong cuộc hồi sinh của cố đô đó, di sản nghệ thuật của Trịnh Công Sơn còn đóng góp được gì cho sự phát triển chung của thành phố Huế- Festival?

Trịnh Công Sơn thời trẻ

2. “Về Huế tháng ba. Trời đẹp, ở Morin, nơi này xưa kia Charlie đã từng ở. Thấy vui vì Huế như được phục sinh…”

(…) “Đây là thời kỳ phục sinh, Huế được “sống lại”, sống bền bỉ thì tốt biết bao nhiêu! Bởi vì một thành phố “sống lại” thì “tất cả những gì, ai ở trong thành phố đó hoặc những ngành nghệ thuật có cơ hội sống lại”.

Đó là những lời người nhạc sĩ tài hoa, đứa con dấu yêu của đất Thần kinh đã viết, đã nói trong cuộc phỏng vấn của Văn Cầm Hải vào ngày 27/3/1978 tại Huế. (Văn Cầm Hải là một người làm phỏng vấn rất hay. Tôi cũng từng làm cùng công việc ấy và rất khâm phục, bởi anh biết nắm bắt được tư tưởng và cảm quan nổi bật, nỗi lòng và cả mơ ước khát vọng của người nghệ sĩ. Vừa rồi trên Sông Hương, số Tết Xuân Nhâm Ngọ, anh đã thực hiện một phỏng vấn hay về Nghệ sĩ đạo diễn phim “Đặng Nhật Minh”, người mà tôi đã từng thực hiện “hụt”.)

Cảm nhận của Trịnh Công Sơn về sự phục sinh của thành phố Huế, mong ước của anh về sự “sống lại” bền bỉ của Huế, lập luận bởi vì… của anh đã cho thấy tấm lòng của đứa con của Huế dù có “ở trọ” tít xa ở thành phố phương Nam, vẫn trĩu nặng đau đáu đối với một chốn quê hương, một “cõi đi về”, một “quê quán tôi xưa”.

Anh là một đứa con xuất sắc của Huế trong lĩnh vực ca khúc âm nhạc. Chính anh cũng tự nhận mình là người được sinh ra, nuôi dưỡng bởi khí chất của Huế, tâm linh của Huế.

“… Địa lý theo tôi rất quan trọng. Tâm hồn của mình ít nhiều nhờ một vùng đất đặc biệt nào đó nuôi dưỡng, nó phả vào tâm hồn một điều rất lạ và độc đáo. Ấy nên, có những giọng nói khác nhau ở mỗi vùng, thực sự trong âm nhạc và nghệ thuật cũng vậy. Có nhiều người than phiền và trách tôi tại sao tôi ở Huế mà không viết về Huế. Tôi nói tất cả các bài hát của tôi đều viết về Huế. Thường khi như bài hát Nhớ mùa thu Hà Nội, mình không phải là người Hà Nội nên phải dùng từ “Hà Nội” để người ta biết mình viết về vùng đất đó như những người không phải đứa con của Huế thì hay dùng từ Huế.

Tôi không nói về Huế, nhưng tất cả các bài hát của mình đều là của “Huế” cả.

(…) Thậm chí “Một cõi đi về” cũng là Huế chứ không thể ở chỗ khác mà viết được (Bài phỏng vấn trên, I, trang 206, 207).

Những hình ảnh của Huế dày đặc trong ca khúc của anh. Anh đã từng chỉ ra vài ví dụ mưa Huế, lăng miếu, tiếng thở dài rất buông trùm xa xôi, tiếng khóc của bào thai (ở đường Âm hồn mới có những hồn thai với những ngọn đèn leo lét trong am miếu”…) trong những lời ca từ của anh.

3. Khánh Ly, một ca sĩ nhờ hát nhạc Trịnh Công Sơn mà nổi tiếng, và chính Trịnh Công Sơn cũng ngược lại nhờ tiếng hát Khánh Ly mà làm xao động tâm hồn hàng triệu con tim, người mà anh từng phát biểu “Còn Khánh Ly là một sự may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà cả Khánh Ly”. Chính người ca sĩ này cũng đã từng nhận xét: “Trịnh Công Sơn là một người Huế chay”.

Chính qua cái con người thân thương nhất đối với đời mình, với “những kỷ niệm, ấn tượng với con người đó ở một vùng đất đặc biệt, người ta có thể yêu tha thiết đắm say một vùng đất. Khánh Ly viết: “Một thứ tình lạ thường đã trói buộc Huế trong trái tim tôi. Một trói buộc mơ hồ nhưng mạnh mẽ, đằm thắm. Tôi lớn trong hơi thở có Huế. Chính Huế cho tôi hơi thở.”

Khánh Ly & Trịnh Công Sơn

(Bài “Trịnh Công Sơn và thời tôi còn trẻ”,IV, TCS, Rơi lệ ru người, NXB Phụ nữ, trang 165)
Không chỉ Khánh Ly mà hầu như tất cả bạn bè của Trịnh Công Sơn đã từng nói tới cái chất Huế sâu nặng trong thế giới ca khúc của anh. Những người bạn thân nhất của anh như Đinh Cường, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Bửu ý, Trịnh Cung, Cao Huy Thuần, Thái Kim Lan… đều nói những ấn tượng Huế, kỷ niệm Huế với Trịnh Công Sơn và âm nhạc của anh.

4. Không chỉ là lời của ca từ và hình ảnh của nó trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn mới là Huế mà ngay cả cái nhịp Récitativo, tâm tình nói kể than vãn như một tiếng thở dài, cái điệu blues của cung la thứ sầu thảm u hoài có nguồn gốc trong âm nhạc da đen kia, những bản spirituals (tâm ca, kinh ca), có cội nguồn Thánh ca Thiên chúa giáo và thiền ca của Phật giáo kia cũng mang cái chất tâm linh của Huế.

Ngay cả cái chất lãng đãng khói sương, hát về giấc mơ đời hư ảo kia cũng là linh hồn Huế được phả vào tâm linh người nhạc sĩ, dĩ nhiên theo cách riêng của anh, chất Huế riêng của phong cách của anh.

Ngay cả đối tượng, để giải bày nỗi lòng chủ yếu của anh về mọi cung bậc cuộc sống, người Tình, một hình bóng “em” mơ hồ nào đó cũng là cái chất lãng mạn mơ mộng của Huế.

5. Cả cái cảm quan nghệ thuật biện chứng siêu thoát tâm linh của thế giới ca khúc âm nhạc Trịnh Công Sơn, sự biện chứng giữa vĩnh cửu và khoảnh khắc, thực và mơ, hiện tại sầu muộn và mơ ước tương lai, giữa đi và ở, đi và về, trộn lẫn các không gian biển, rừng, phố, lẫn thời gian, thiên thu vĩnh hằng và cái biến dịch, cái nỗi nhớ khôn nguôi ngoai chốn quê xưa của uyên nguyên tâm linh, cỏ hoa, thời tiết bốn mùa, mây, gió, núi, sông, sương cũng là của trời đất Huế được các sắc điệu của ý tình, cảm xúc Trịnh Công Sơn nhào nặn để trở một linh hồn Huế dưới cái nhìn nghệ thuật riêng của Trịnh Công Sơn. Cả cái không khí thời đại của phong trào đấu tranh đòi hòa bình, phản chiến, mơ về thống nhất của phong trào đô thị tuổi trẻ Huế từ những năm 63 đến 75 cũng âm vang trong chất nhạc của anh và ngược lại nó tác động lại sâu đậm phong trào này.

6. Có thể cái chất Huế của TCS có cội nguồn từ kinh nghiệm sống, sự nghiệm sinh của anh mà những lớp phù sa Huế đắp bồi dần dần trong bãi bờ của tâm hồn anh.

Các ấn tượng, cảm giác, tri giác về Huế được thu nhận vô hình, có tính chất tiềm thức và vô thức, dần dần được kết tinh nhờ liên tưởng và tưởng tượng, nhờ cái tình, cái cảm xúc của anh trong mọi khoảnh khắc cuộc sống tạo tác nên.

Cội nguồn đó là chất thiền của các ngôi chùa Huế, chất thế giới thiên đường – trần gian lưỡng diện của Thiên chúa giáo mà những ngày anh học ở trường Pellerin, Providence xưa kia.

Rồi cái ngày phát hiện ra năng khiếu âm nhạc và sáng tác, những mối tình đầu đưa mộng, chất suy ngẫm triết lý từ những trang sách triết, đặc biệt là triết Hiện sinh, cái thế giới lãng đãng của “Tuyệt tình cốc” và căn hộ ở đường Nguyễn Trường Tộ, cái thế giới bạn bè nghệ sĩ đã tác động đến anh và ngược lại anh cũng tác động lại đến họ cũng là chất Huế tạo dựng nên anh.

Rồi sự ám ảnh về cái chết đột ngột của người cha, cũng là ám ảnh về “sự vắng mặt”, nó tạo ra sự thức ngộ biện chứng giữa sống/chết, vắng mặt/ hiện diện, một thứ biện chứng của các nghịch lý thấm đượm trong thế giới ca từ và giai điệu của anh mà Cao Huy Thuần đã phân tích rất hay ở bài “Buồn bã với những môi hôn”. Chính ám ảnh vắng mặt này đã tạo nên hình tượng “Nhớ” xuyên thấm trong các ca khúc của anh.

7. Chất tâm linh Huế này không chỉ bó hẹp trong tính địa phương của nó. Mà nó mở rộng tiếp thu, cảnh sắc khí chất của nhiều miền đất nước, mà người nhạc sĩ đã trải nghiệm trong thế giới thực và mơ: đó là biển Quy Nhơn, núi, đồi, thung lũng, sương mù, thác, đèo của Blao và Đà Lạt, rồi thế giới huyên náo và tĩnh lặng của Sài Gòn, thế giới của giấc mơ về Hà Nội…

Chất tâm linh Huế này hòa quyện với chất quê hương dân tộc. Cái nhìn của anh còn mở rộng ra ở bình diện nhân loại: do vậy, dù viết về thân phận con người, tình yêu, hay thân phận quê hương, chúng cũng trở thành những huyền thoại lung linh. Cái nhìn về sự hiện hữu của các thân phận hữu hạn ấy được đặt chồng trên bình diện vũ trụ vô hạn, do vậy luôn luôn có hai thời gian sóng đôi, phản chiếu, như “vang và bóng” đó là thời gian vô thủy vô chung, vĩnh cửu của vũ trụ và thời gian hữu hạn của con người. Từ đó nổi bật cái tính vô thường, cái ở trọ của cõi đi về này. Cái thế giới trần gian cũng chỉ là những bước loanh quanh mỏi mệt trong cái vô cùng trời đất kia. Chất ngậm ngùi của nỗi đau toát ra từ triết lý nghiệm sinh đó.

8. Chất hiện sinh trong thế giới ca anh không chỉ đến từ triết lý hiện sinh phương Tây, giữa lưu đày và quê nhà, giữa cái phi lý phải chọn lựa để “gió hàm oan” còn thổi mãi mà còn chất hiện sinh “sống hết, sống tận cùng với mỗi sát na” của Thiền gia. Sống một cách ung dung tự tại với mọi thứ. Dù từng bị chẻ ra từng trăm mảnh nhỏ, dù từng bị nghi ngại cả hai phía, bên này quê hương và phía bên kia, anh đã vượt qua để sống với chính mình, tự phục sinh lấy mình, để tồn tại giữa lòng của mọi người và quê hương và được yêu mến.

9. Cái ngôn ngữ tân kỳ mà đôi khi rất giản dị của thế giới ca từ của anh nhờ mơ mà đi tới thực và từ thực mà đi tới mơ, từ riêng đi đến chung, từ chung đi tới với chính mình. Các hình ảnh của vũ trụ và thiên nhiên được phóng chiếu bởi cảm thức của tâm linh người nhạc sĩ với những cung bậc và trạng thái cảm xúc khác nhau, để nó mang linh hồn của người nhạc sĩ hòa quyện trong một thể đồng nhất con người – vũ trụ, vũ trụ – con người. (Chẳng hạn, Ngày mai em đi, Biển nhớ tên em… Cánh diều rơi cho vực thẳm buồn theo…)

Sự tương hợp giữa các giác quan (nghe tiếng hát xanh xao của một buổi chiều), sự tương hợp của tâm hồn cá nhân và tâm hồn vũ trụ vốn là đặc trưng của chủ nghĩa tượng trưng đã phủ thêm sắc màu của chủ nghĩa siêu thực để dẫn dắt ngôn từ đi theo một trục liên tưởng của tiềm thức, vô thức gắn kết kiến trúc âm vang và sự dẫn dắt tự động của ngôn từ, ca khúc tạo nên sự tân kỳ trong ngôn ngữ ca từ rất thơ của anh.

10. Chất mặc khải, tiên tri cũng là chất đặc biệt trong thế giới ca từ của anh. Sự tiên tri về thống nhất, hòa bình, về dựng xây và cả những giả sử chiêm nghiệm ngắm nhìn cái chết, sự vô vọng, nỗi buồn của “một cái tôi” để rồi từ đó, “một cái tôi khác” thoát ra khỏi nó một cách ung dung thanh thoát.

11. Trịnh Công Sơn đã mất gần tròn một năm. Đám tang của anh, đông đảo chưa bao giờ từng có đối với một nghệ sĩ. Cái đám tang đông đảo hâm mộ và tiếc thương của mọi thành phần kia phải chăng là một sự đánh dấu cho sự thành công của thế giới ca khúc của anh trong lòng mọi người. Sự vinh quang sau cùng của nghệ sĩ là ở chỗ đó.

Năm tập sách viết về người nhạc sĩ ra đời trong vòng mấy tháng với các nhà xuất bản khác nhau quy tụ các bài viết của nhiều khuôn mặt trí thức văn nghệ sĩ, nhà báo có tiếng tăm là một biểu hiện khác về sự kỳ diệu, kỳ vĩ của một thế giới nghệ thuật, một sự nghiệp, một con người.

Là một đứa con của Huế, anh đã trở lại làm rạng rỡ Huế, và tôi nghĩ rằng mơ ước của linh hồn anh là trở về lại với Huế, bởi anh xem quê hương này là “một cõi đi về” của tâm thức mình.

Đặc biệt tôi có cảm tưởng rằng linh hồn ấy chắc sẽ rất mừng vui với sự phục sinh của Huế, của cố đô rêu phong, khi nó thay da đổi thịt để trở thành một thành phố Festival – một biểu hiện cụ thể hóa trung tâm du lịch – văn hóa của cả nước, vì đó theo tôi nghĩ đó cũng là giấc mơ của anh, cũng như giấc mơ của mỗi người con xứ Huế, dù chỉ là giấc mơ đời hư ảo.

BỬU NAM
Tạp chí Sông Hương, số 158 – 04/2002

Bửu Chỉ, tự bản chất là một con người phản kháng

Trong những năm chiến tranh ác liệt nhất ở miền Nam, nếu ở địa hạt âm nhạc tôi viết những ca khúc phản chiến và khát vọng hoà bình thì ở phía hội hoạ, hoạ sĩ Bửu Chỉ gần như là người duy nhất vẽ rất nhiều về đề tài chiến tranh và hoà bình. Anh nổi tiếng vào thời ấy với những tranh nhỏ trên giấy vẽ bằng bút sắt mực đen. Tranh anh được in trên các tạp chí nước ngoài và gây được một dư luận rộng rãi.

Trong phong trào sinh viên học sinh ở Huế gần như Bửu Chỉ và tôi luôn luôn có mặt bên nhau. Chúng tôi cùng hát với nhau trong những đêm không ngủ, những ngày xuống đường và nhiều nhất là những buổi hát nuôi dưỡng hào khí ở quán cà phê Tổng Hội.

Tranh sơn dầu của Bửu chỉ

Bửu Chỉ, tự bản chất là một con người phản kháng. Anh không chỉ nổi loạn vời chính bản thân mình mà còn muốn phá phách những trật tự xung quanh. Đó cũng chính là tiền đề cho những cuộc dấn thân không ngừng nghỉ trong cuộc đấu tranh thời chiến và bây giờ muốn tiếp nối con người ấy trong hội họa. Hội họa đối với Bửu Chỉ chính là đời sống và đời sống với anh cũng chính là hội họa. Ngày xưa đã thế, ngày nay còn hơn thế nữa. Nhất là trong thời gian này. Cuộc sống đã đi qua. Thời gian đã đi qua. Đi qua nhưng không đánh mất mà ngược lại đã thai nghén một cái nhìn khác sâu thẳm hơn trong tâm tưởng về một số phận không thể nào cứu rỗi đuợc trong định mệnh mỗi một con người. Tôi có cảm giác càng ngày anh càng đi sâu hơn vào sự nghiệt ngã của một sự chọn lựa bất khả kháng của chính bản thân mình, một sự lựa chọn hình như đã được định hình từ ngày còn trẻ, những ngày mà đấu tranh và nhà tù chỉ được xem nhẹ như một sư đam mê phiêu bồng phiêu nhiên của cuộc sống.

Đừng đòi hỏi ở Bửu Chỉ những gì không thuộc về anh. Cái gì chúng ta đòi hỏi hoặc tìm kiếm ở một con người chính là cái điều mà người ấy có chứ không phải cái của ta và càng không phải cái của tất cả mọi người. Lại càng không phải cái mà người ấy sẽ có.

Hãy trả lại tự do cho mọi cuộc dấn thân hoặc không dấn thân. Cho mọi cái nhìn phóng khoáng hoặc trì trệ. Cho mọi trí tuệ hoặc u uất lặng thinh. Cho cuộc đời rộng mở hoặc khép lại.

Không có cuộc đấu tranh nào chấm dứt. Ở bề mặt của một số ao hồ, bể sông có thể yên tĩnh nhưng những cơn cuồng nộ ở đáy sâu vẫn sục sôi một đời sống riêng. Đó là nỗi đam mế sâu thẳm nhất của những tâm hồn muốn mãi mãi đánh thức mình, muốn mình mãi mãi là kẻ tỉnh thức để cuộc sống không còn giấc ngủ nào khác hơn là giấc ngủ của sấm sét.
Những điều tôi viết loanh quanh trên đây hình như là nói về Bửu Chỉ. Nói về một người không thể nào nói hết dù cho kẻ ấy có như là hòn sỏi, cục sạn bên đường.

Bửu Chỉ đã đi qua con đường đấu tranh hiện thực trong cuộc sống cũ và bây giờ rỗi rảnh thiền toạ đi đứng ngủ ngáy trong cuộc đời riêng để dấn thân vào một cuộc đấu tranh mới. Cuộc đấu tranh siêu thực không bờ bến, chẳng cần lập ngôn gì cả, nhưng rõ ràng biên giới cuối cùng chính là tự tại bản thân.

Nói đúng về một người là điều rất tốt. Nhưng nói sai về một người lại có thể là một điều tốt hơn. Bởi vì cuộc đời chuyển động và cái sai hôm nay có thể là cái đúng của ngày mai hoặc là ngược lại.

Bửu Chỉ nằng nặng. Hình như là rất nặng nữa. Sự nặng nhẹ trong cuộc đời này biết lấy trong tình huống nào để đo lường đây.

Đo lường chỉ là cái cớ để những bức tranh mới của Bửu Chỉ nhảy cỡn trong một cuộc truy hoan mới, một cuộc truy hoan vô tận về cõi chết hoặc nhẹ hơn, vào một cõi vô thường.

Trịnh Công Sơn
Nguồn: Sách “Tranh Bửu Chỉ”, Nxb Trẻ, 2003

Giây phút sáng tạo: trước tiên là sự ám ảnh…

Với một nhạc sĩ đã sáng tác hơn 600 ca khúc – mà phần lớn được yêu thích ngay từ khi ra mắt lần đầu – lắm lúc người ta phải tự hỏi sức mạnh nào đã đưa ông đi đến những bờ cõi tuyệt vời của sáng tạo không ngừng ấy ?

TCS: Trong triết học Mật tông có nói đến khái niệm về sự bùng nổ ý thức; tương tự, sáng tạo của con người cũng có những giây phút bùng nổ như vậy. Tất nhiên trước đó ta phải mang nặng trong tâm trí những ý tưởng, hình ảnh, triết lý… liên quan đến đề tài cần sáng tạo.

Trong sáng tác ca khúc chẳng hạn, trước khi viết ra một bài hát, tôi cũng phải suy nghĩ về nó rất dài lâu. Khoảng thời gian đó là vô hạn định, có thể là một ngày, một năm hay lâu hơn nữa. Đến khi tác phẩm hoàn toàn rõ ràng trong đầu thì việc chép ra có thể chỉ trong phút giây. Đó chính là giây phút bùng nổ quan trọng nhất của sáng tạo, nó vỡ ra tất cả những gì chưa giải quyết được còn dồn lại trong đầu bấy lâu. Nếu chỉ nhìn vào thời gian tác phẩm được ghi lại – có thể là một giờ, một ngày – người ta có thể cho rằng việc sáng tạo thật ngắn ngủi và dễ dàng, nhưng có ai tưởng được rằng tất cả những điều đó đã được tích lũy qua năm tháng. Bất cứ tác phẩm nào cũng phải như thế cả. Sáng tác nào không được phát thảo trước trong ý thức như vậy, thì khi nó ra đời cũng chẳng có giá trị gì.

Đôi khi ai đó thấy tôi lang thang trên phố, đứng ngắm một bức tranh hay che tay đứng nhìn một ngọn nắng; cứ tưởng là chơi, nhưng đó là những lúc trí óc tôi đang loay hoay với đề tài mà mình đang suy tưởng. Trên 600 ca khúc tôi viết – ví dụ như bài Hoa Xuân Ca hay Quỳnh Hương – đều ra đời như vậy, từ một hội ngộ kín đáo giữa tôi và cuộc đời trong một dịp ngẫu nhiên nào đó. Nhìn thấy một ánh nắng, một giọt mưa hay một người con gái trên đường, trong tôi có thể bỗng vỡ vạc những cảm giác cuối cùng ập đến, khơi mở, hoàn thiện cho một cái mới. Muốn được như vậy tôi phải làm một chứng nhân của nắng mưa, của sáng chiều, sớm tối. Những cái tưởng chừng lặng lẽ đó đầy sức sống và ban tặng cho mình vô vàn những điều sâu sắc. Tôi cũng làm chứng nhân về những người già, em bé, những người thiếu nữ, sự hạnh phúc, cái chết, sự sống. Mỗi khi ghi nhận những hình ảnh đó vào trí nhớ, tôi bao giờ cũng bị giam, bị vây nhiều giờ phút nghĩ về con người và soi rọi lại mình để hình thành một ca khúc.

Cũng có những tác động tưởng chừng là bất ngờ ập đến, tạo ra một niềm cảm hứng. Nhưng hãy ngẫm nghĩ mà xem, nếu như không có sự tư duy, nuôi dưỡng từ trước thì cảm hứng chẳng thể nào trào dâng lên được. Ngược lại, sự ngỡ ngàng do cái mới bất ngờ ập đến chỉ có thể tạo nên sự trống rỗng, vô hồn, hoặc chỉ đơn thuần ghi chép lại chứ không là sáng tạo.

“Một hôm thấy ta là lá cỏ, ngồi hát ca rất tự do…”, tôi còn nhớ ca khúc này và sự chiêm nghiệm của mình như là một tổng kết những gì mà tôi cảm nhận được từ cuộc đời của tôi, của mọi người. Thực lòng mà nói, tôi chịu ảnh hưởng của Albert Camus trong bài hát này. Trong tác phẩm « Ghi chép ở Angiêri » (« Notes d’Algérie »), ông ghi lại những tiếng chó sủa ban đêm, những bước chân đi mà ai cũng có thể một lần nghe thấy trong đời mình nhưng không mấy người nhìn ra được điều đó từ chúng. Ngẫm lại đời mình, tôi thấy tôi nhiều muộn phiền. Không hiểu vì sao tôi đã ray rứt về sự ra đi, ở lại của cuộc đời từ rất sớm. Tôi đã chọn hình tượng lá cỏ để ví với mình. Vì sao lại là lá cỏ? Có thể cuộc đời rộn ràng có quá nhiều điều để ta phải lưu ý, nhưng trong đó không thể không có sự góp mặt của những điều nhỏ nhoi. Ngọn cỏ, lá cây hay cây đa đều có bổn phận của nó với cuộc đời. Cỏ có bổn phận cỏ, lá có bổn phận lá. Tôi không mơ ước gì to lớn, mà nghĩ mình như một phận cỏ hèn. Vì hèn mọn nên nó không phải to lớn và có bổn phận nặng nề như cây đa, vì vậy nó tự do lắm. Và vì sao lá cỏ lại hát? Bài hát là phương tiện để bày tỏ lòng mình với cuộc đời, có gì đẹp hơn chiếc lá cỏ nhỏ nhoi nhưng tự do ca hát với đời mình? Rũ bỏ những muộn phiền và thảnh thơi đời mình , điều này đã ám ảnh tôi từ lâu, lâu lắm rồi, nhưng chỉ đến khi viết được những câu hát như vậy tôi mới thấy nhẹ lòng. Ý tưởng này quanh quẩn trong tôi nhiều năm và chỉ được giải tỏa khi sáng tạo vụt đến và bật được thành những giai điệu như vậy.

Tôi cũng muốn nói với các bạn trẻ sáng tác sau này, ngoài sự tư duy về tác phẩm, về đề tài, còn phải tạo cho mình một nền tảng về triết học. Chính từ đây mà trong tác phẩm của mình mới có được sự sâu sắc. Nếu như ít đọc sách thì mình chẳng thể nhận thêm những chiêm nghiệm sâu sắc của người khác. Một mình mình suy nghĩ thôi thì không đủ vốn liếng với cuộc đời. Chính tôi cũng không thể đứng ngoài con đường ấy được…

Bài Phỏng vấn Trịnh Công Sơn,
 Tuấn Anh ghi.
Tuổi Trẻ Chủ Nhật
 số đề ngày 10/11/1996

Đêm giao thừa 1993

Tôi có bao nhiêu tuổi thì tôi cũng có bấy nhiêu đêm giao thừa. Có Tết tây và Tết ta. Tờ lịch cuối cùng bóc ra và tự dưng thấy trơ trọi một nỗi buồn vu vơ. Nỗi buồn đó thuộc về lịch tây. Chờ thêm mấy mươi ngày nữa thì lại thêm một nỗi buồn ta. Nỗi buồn của một người thấy mùa xuân thuộc về kẻ khác. Nỗi buồn của kẻ không dám thốt lên hai tiếng tương lai.

Có những đêm nằm không ngủ được. Nghĩ đến tương lai thuộc về người khác mà lòng cứ rầu rầu. Vì sao phải vậy. Quy luật tự nhiên là cái quái gì vậy mà làm não nề những cõi lòng ham sống, thèm yêu cuộc đời. Yêu đời và cứ muốn tồn tại mãi đâu phải là một cái tội. Nếu là tội lỗi thì xưng tội, sám hối với ai.

Cuộc đời sắm ra cái sự yêu thương nhức nhối này làm tình làm tội biết bao nhiêu thân phận con người. Yêu cuộc đời và muốn ở lại mãi mãi. Vì sao không cho ở lại. Trái đất quá chật và vì vậy phải có kẻ ở người đi. Buồn lắm mà không thể than phiền với ai cả.

Ðêm giao thừa dù tây dù ta tôi vẫn luôn luôn một mình một cõi. Số phận vẫn thường hay hậu hĩ với kẻ này mà lại bạc đãi kẻ kia. Có rất nhiều bạn bè thân hữu chứng nhân cứ thấy mỗi lần vào dịp lễ là tôi lại một mình một cõi. Ðành vậy biết làm sao – Người ta có thể vui chơi, đàn đúm, quây quần một đời nhưng vẫn cứ lạc loài lẻ loi một chốc. Một chốc mà là tất cả. Cái sát na nhỏ bé của thời gian đôi khi cũng quy định cả đời người. Một người mẹ bỏ đi. Một người tình bỏ đi cũng nằm trong cái sát na đó.

Ðừng than thân trách phận. Ðời không có lỗi với ai, chỉ có ta có lỗi với đời. Ðêm giao thừa không có người yêu thì buồn lắm nhưng cũng không vì thế mà chết được. Những lễ lạc đi qua đời người mà thiếu vắng hồng nhan thì vẫn có thể vui nhưng là một niềm vui không trọn. Như một khúc hát dở dang. Symphonie inachevée. Một mùa thu không có lá vàng. Một mùa hè không có nắng. Một đêm đông không giá rét.

Ðêm giao thừa ngồi một mình và hát:

“Ðừng tuyệt vọng tôi ơi đừng tuyệt vọng

Lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông…”

Ðừng tuyệt vọng vì cuộc đời hồn nhiên đôn hậu vẫn luôn luôn cho ta những ngày vui khác. Những ngày vui của đời thì thênh thang vô tận. Hết cuộc tuyệt vọng này đến một cuộc tuyệt vọng khác biết đâu cũng là một niềm vui. Một niềm vui dù không có thật thì cũng đủ an ủi trong phút chốc.

Cuộc sống là một niềm an ủi vô bờ. Cuộc sống chỉ cho ta mà không cần lấy bớt đi. Cuộc sống cho ta tất cả và mỉm cười khi thấy ta dại dột. Con người sinh ra vốn bất toàn và để làm những điều lầm lỗi. Nó đẹp vì bất toàn. Nó đáng yêu vì nó luôn luôn lầm lỗi. Vậy thì cứ yêu mà đừng tuyệt vọng. Hết cuộc tình này sẽ có một cuộc tình khác. Không có ai lang chạ. Không có ai phản bội ai. Có thứ tình này có thứ tình nọ. Có tội lỗi và có thiên thần. Ðừng khen chê, bôi bác, thẩm định. Ðược yêu hay bị từ chối cũng là số phận của đời. Mà đời thì rộng quá không yêu được chốn này thì yêu nơi khác. Còn yêu thì còn sống. Còn được yêu thì còn sống dài lâu.

Không bao giờ có điều gì tuyệt đối. Và như thế phải có một đêm giao thừa nào đó phải có người yêu. Có những đêm không phải giao thừa mà vẫn có người yêu. Những đêm như thế ta cứ xem như là đêm giao thừa vậy.

Trịnh Công Sơn
01.01.1993

Nhớ lại

Mười tám năm. Thời gian đủ để một người con gái sinh ra, lớn lên và trở thành hoa hậu trong một cuộc thi nhan sắc vóc dáng hình hài của thành phố. Tôi ngồi ở bàn giám khảo trong vài cuộc thi hoa hậu và nhìn ngắm nghĩ ngợi. Tôi chiêm ngưỡng và không thể nào không nghĩ về thời gian. Mười tám năm, đời làm nên một nhan sắc. Một nhan sắc là một tác phẩm không phải bất cứ nghệ sĩ tạo hình nào cũng có thể làm nên dù trong phút giây đột hứng.

Ði ngược dòng thời gian, tôi thấy em trong bào thai của mẹ. Và tôi, tôi ở trong bào thai của một xã hội, một chế độ hoàn toàn lạ lẫm với tôi. Em thì được sinh ra nhưng tôi thì lại được tái sinh trong một cuộc đời khác. Trong hội họa cũng đã từng có thời kỳ phục hưng. Renaissance. Ðược sinh lại một lần nữa cũng có nghĩa là được sống lại một lần nữa và cũng có nghĩa là được đầu thai vào một kiếp khác. Em bỡ ngỡ khóc tiếng đầu đời và tôi cũng bỡ ngỡ cười khóc tiếng đầu đời. Em là đứa bé và tôi cũng là đứa bé. Chỉ khác một điều là em thì hồn nhiên thơ mộng còn tôi thì thấp thoáng lo âu.

Em thả đời em lớn lên như cây cỏ xanh tươi đôn hậu mỹ miều còn tôi thì cũng cứ thả đời tôi như con thuyền không lèo lái.

Ngày ấy, cách đây mười tám năm, tôi đứng ở một bờ bến khác. Tôi gọi con đò, con đò dừng lại và chở tôi đi. Sau giờ phút ấy, điểm khởi đầu của mười tám năm sau, tôi ngần ngại không dám gọi đò. Em tập tễnh bước đi. Tôi ngần ngại bước đi. Em không sợ ngã nhưng tôi thì lại sợ vấp ngã. Em không né tránh. Em thơ thới hân hoan còn tôi thì dè dặt. Mỗi bước chân tôi là vụng về e ngại. Là tự nhủ, băn khoăn.

Ngày ấy xa rồi. Em lớn lên và tôi cũng đã lớn lên. Em yêu đời và tôi cũng yêu đời. Chỉ khác một điều là tôi già dặn mà em thì non nớt. Cái non nớt đáng yêu và cái già dặn đáng ghét.
Ðôi khi tôi tự hỏi: Có phải tôi là kẻ hạnh phúc hơn nhiều người ? Không phải bất kỳ ai cũng có thể sống trong một đời dưới nhiều hình thái xã hội khác nhau. Tôi là ai vậy ? – Tôi, hình như, đã có lúc mang thân phận chiến tranh, rồi hòa bình, rồi tư sản và rồi cộng sản. Cái lý lịch đa mang này cũng đủ để tôi tự thấy mình là một loại công dân ngoại hạng.

Ngoái nhìn lại, mười tám năm, hun hút sâu như một lối đi biền biệt, một con đường xa ngái, tôi bần thần nhận ra mình là một kẻ khác. Một kẻ khác mà vẫn là mình, không xa lạ, không oán hờn, không hề có một chút trách móc tự thân. Mà lạ thay, giờ phút này tôi lại hân hoan cười đùa về một thứ số phận gần như muốn đùa cợt tôi trên những dặm đường tưởng như không có thật. Tôi đi trồng và gặt lúa. Tôi đi trồng khoai, sắn, ở Cồn Tiên, trên bãi đất chằng chịt mìn có thể nổ bất cứ lúc nào ở cửa ngõ Trường Sơn. Tôi đi chợ nấu ăn. Tôi chở bột mì rải trắng cả một con đường như ngày xưa Mỵ Châu làm dấu cho Trọng Thủy. Tôi xếp hàng mua từng điếu thuốc hạng tồi. Tôi lãnh hàng tháng một lóng tay thịt mỡ không đủ cho một con mèo ăn. Và cứ thế nhiều năm, mù mịt. Nhưng có hề gì đâu, vì trên tất cả những vụn vặt, nhiễu nhương đó là Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Là tình yêu chan chứa, là những mặn nồng mà cả một cuộc đời ngày trước chưa bao giờ được đời trao tặng một cách rộn rã, đậm đà và lộng lẫy đến như vậy.

Tôi đã yêu cuộc đời hơn bao giờ cả. Tôi yêu cuộc sống và cuộc sống cũng mở hết vòng tay cho tôi.

Mười tám năm, em đã là xứ sở, em cũng là quê hương. Tôi cũng đã là một thành phần nhỏ bé của xứ sở, của quê hương. Những gì đẹp nhất thuộc về em và cũng thuộc về tôi. Em và tôi là những phân tử không thể tách rời của đất nước này. Ðừng mơ ước gì xa xôi bởi vì giấc mộng của chúng ta là có thật hoặc sẽ có thật trong bờ cõi nhỏ nhắn nhưng đôn hậu và tình tứ này.

Tôi mở lòng tin vào tương lai. Tôi tự nhủ mình không bao giờ lập lại những điều đã cũ. Ðừng để hồn mình mòn đi vì những tổn thương tưởng có thật mà không thật. Tôi đã từng bị chẻ ra làm nhiều mảnh trên quê nhà nơi tôi sinh ra nhưng tôi loại bỏ hình ảnh đó bởi vì với tôi, cái xấu, cái ác không bao giờ có thật. Vì thế cái tình yêu đất nước quê hương trong tôi không có gì làm suy suyển được. Tôi đã trầm tư trong nhiều ngày tháng để tập cho mình giữ được lòng vô ngại, tính vô ưu trước mọi đắng cay. Không thể có một thứ bạo lực nào khiến em có thể xa lìa đất nước. Sự phản bội còn mạnh hơn bạo lực. Và chỉ có sự phản bội mới làm ta xa lìa nhau. Còn bạo lực thường không có một đời sống lâu dài.

Cái dòng sông mười tám năm ấy đã làm nên em mỹ miều xinh đẹp và đồng thời cũng đã cuốn đi hết trong tôi những vướng mắc cuối cùng. Sống mà không còn biết đến oán hờn thì đương nhiên là hạnh phúc quá. Tôi biết tôi hạnh phúc mà có lúc không biết chia sẻ với ai. Tôi tin rằng sẽ có lúc tất cả mọi người đều cảm thấy mình thật sự hạnh phúc khi biết xóa đi cái biên giới thù nghịch trong lòng mình. Hai con người cùng màu da cùng xứ sở gặp nhau nơi này hoặc nơi kia, mà không vồ vập yêu thương nhau là điều vô nghĩa. Mười tám năm có người ở lại có kẻ ra đi nhưng cái biên giới địa lý ấy làm sao có thể gây chia lìa những tình cảm trong sáng trong mỗi con người được. Cứ mỗi ngày tôi càng thấy yêu cuộc đời hơn. Yêu cuộc đời cũng có nghĩa là yêu cái tuổi mười tám trên cơ thể của một đất nước nguyên vẹn. Từ Bắc vô Nam đi nơi nào cũng có thể tìm được tình yêu. Chỉ có thần thoại mới làm được công việc đó. Ðã hết rồi cái ngàn năm, trăm năm, ba mươi năm chia lìa loạn lạc. Em còn mơ ước gì nữa. Em mười tám tuổi, em là hạnh phúc. Tôi chia buồn với tôi vì tôi có một hạnh phúc ngắn ngủi hơn em. Nhưng có hề gì, cuộc đời còn dài lắm cho em, và tôi thì không cần thắc mắc. Tôi đã sống đủ và làm đủ những gì cần thiết. Chỉ tiếc là không còn nhiều thời gian để làm những gì lợi ích cho đời. Ðời sống thì đẹp và rộng dài quá, còn đời người thì hạn hữu. Biết làm sao bây giờ.

Viết bài này như một tấm thiệp mừng mười tám năm nhan sắc lừng lẫy. Cám ơn tuổi mười tám của Việt Nam.

Trịnh Công Sơn
SGGP số 30/04/1993