Nguồn gốc tên gọi địa danh ở Sài Gòn: Phần 14 – Địa danh Bến Nghé và những hình ảnh đẹp về sông Sài Gòn xưa

Sông Bến Nghé là một phần của sông Sài Gòn (thuộc hệ thống sông Đồng Nai), là đoạn sông từ cư xá Thanh Đa đến nơi đổ vào sông Đồng Nai ở đoạn Thạnh Mỹ Lợi (Thủ Đức).

Cái tên địa danh Bến Nghé xuất hiện khá sớm, ban đầu là tên của một bến nước ở Sài Gòn, sau đó là tên của một đoạn của sông Sài Gòn, hiện nay thì dùng để chỉ một địa phường (Phường Bến Nghé thuộc quận 1 của Sài Gòn).

Tuy nhiên, hiện nay trên bản đồ khúc sông này vẫn được ghi là sông Sài Gòn, còn cái tên Bến Nghé hiện chỉ còn dùng để chỉ một con rạch nhỏ đổ ra sông. Rạch Bến Nghé là ranh giới tự nhiên của quận 1 và quận 4, bắt đầu từ ngã 3 sông Sài Gòn (sông Bến Nghé), kết thúc tại ngã tư nơi giao với kênh Tàu Hủ, kênh Tẻ và kênh Đôi. Các cây cầu bắc qua rạch Bến Nghé hiện nay theo thứ tự là cầu Khánh Hội, cầu Mống, cầu Calmette, cầu Ông Lãnh, cầu Nguyễn Văn Cừ.

Rạch Bến Nghé ở đoạn trên của hình, có thể thấy được cầu Khánh Hội và cầu Mống bắt qua con rạch

Theo nhà văn Sơn Nam, địa hình Bến Nghé gồm hai vùng rõ rệt. Phía bắc là gò đất cao, nơi xây dựng thành trì; còn phía nam là đất thấp, vùng sình lầy ven rạch Bến Nghé. Nhà cửa phần nhiều là nhà sàn của dân nằm san sát ven kênh rạch, tại các khu chợ thì có những dãy nhà mái lợp ngói, cột gỗ, vách trát vôi (chủ yếu của quan lại, điền chủ). Trong vùng lúc này đã hình thành nhiều khu chợ như: chợ Bến Thành (đây là chợ chính của hệ thống chợ Bến Nghé), chợ Bến Sỏi, chợ Điều Khiển, chợ Thị Nghè, chợ Tân Kiểng… Ghe thuyền vẫn là phương tiện đi lại chủ yếu của người dân nhờ có mạng lưới kênh rạch chằng chịt. Sau cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng cho phá bỏ thành Quy (thành Bát Quái) và xây thành mới nhỏ hơn là thành Phụng, lúc này chợ và phố xá tại Bến Nghé cũng bị tàn phá ít nhiều.

Sài Gòn trước khi bị người Pháp chiếm là một nơi có kênh rạch chằng chịt chảy xung quanh thành Gia Định, đặc biệt là lúc đó khu vực trung tâm Sài Gòn hầu như toàn bộ là các kênh/rạch dẫn nước, rất thuận tiện cho giao thương đường thủy, do đó sông Bến Nghé năm xưa luôn nhộn nhịp tàu thuyền, thương cảng Bến Nghé (nay là Cảng Sài Gòn) thu hút tàu bè của thương nhân ngoại quốc đến buôn bán đông đảo.

Toàn cảnh bến Cảng Sài Gòn thập niên 1960

Sự giao thương đường thủy nhộn nhịp đó dẫn đến sự hình thành các bến thuyền dọc rạch Bến Nghé, kênh Tàu Hủ, cho đến hàng trăm năm sau đó, những con đường dọc bờ sông hoặc kênh rạch vẫn được gọi là Bến (tức bến thuyền), chứ không gọi là đường, như là Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, Bến Vân Đồn, Bến Hàm Tử, Bến Trần Văn Kiểu…

Chữ “Bến” đó cũng xuất hiện từ thời Pháp đặt tên đường, như Bến Bạch Đằng từng mang tên quai de Donnai, quai Napoleon, quai du Commerce, quai Francis Garnier, quai le-Myre-de-Vilers, Bến Chương Dương – Bến Hàm Tử (tức Võ Văn Kiệt ngày nay) từng mang tên quai de l’Arroyo Chinois, quai de Belgique, quai de Cho-Quan, Bến Trần Văn Kiểu tên là quai de Mytho… Chữ “quai” trong tiếng Pháp chính là “bến tàu”.

quai de Belgique xưa (nay là đại lộ Võ Văn Kiệt)

Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức mô tả sông Bến Nghé rộng 142 tầm (1 tầm = 3.2m), sâu 10 tầm, khi nước lên sâu 13 thước ta (1 thước ta = 0.324m), sông này vừa rộng lớn vừa trong sâu, những tàu buôn và ghe thuyền sông biển trong và ngoài nước ra vào không ngớt, trông thấy đầu tàu nối liền, đuôi cột buồm chi chít, đủ biết đó là nơi đô hội.

Khi người Pháp chiếm được Gia Định, họ đã cho san lấp hết các kênh rạch ở khu vực giáp sông Bến Nghé (là Quận 1 ngày nay) và xây dựng trên đó nhiều dinh thự (Dinh Norodom, dinh Toàn quyền, dinh Thống đốc…), công sở (Bưu điện, Pháp đình, tòa thị chính…), xây một số khách sạn và nhà thờ, đồng thời tổ chức quy hoạch đường sá để biến Sài Gòn thành một đô thị ở vùng Viễn Đông theo kiểu mẫu Paris. Kể từ đó, bộ mặt của Gia Định cũ bị thay đổi, tuy nhiên giao thương đường thủy vẫn đóng vai trò quan trọng với Sài Gòn, nơi có cửa ngõ là sông Bến Nghé luôn tấp nập tàu thuyền ghé bến.

Đại lộ Nguyễn Huệ khi còn là một con kênh nhỏ chảy ra sông Bến Nghé

Ngoài ra, ngay từ năm 1890 người Pháp đã cho xây dựng cảng Ba Son, là nơi có những nhà xưởng đồ sộ và ụ tàu để đóng và sửa chữa tàu, là di sản hàng hải lâu đời của Sài Gòn. Cảng Ba Son nằm ở khu vực sông Bến Nghé tiếp giáp với rạch Thị Nghè.

Trong bài này mới các bạn nhìn lại những hình ảnh nhộn nhịp trên sông Bến Nghé trong thời gian 100 năm, kể từ thế kỷ 19.

Sông Sài Gòn năm 1866. Cây cầu nhỏ bắc ngang qua rạch Bến Nghé sau này là cầu Khánh Hội, bên kia là bến Nhà Rồng ở quận 4 ngày nay

Rạch Bến Nghé đổ ra sông Sài Gòn, nơi có cầu quay Khánh Hội

Cột cờ Thủ ngữ ở Bến Bạch Đằng ngày nay. Ảnh chụp năm 1866

Cờ Thủ ngữ ở Bến Bạch Đằng ngày nay. So với ảnh bên trên ảnh này có thêm tòa nhà của ông Wang Tai (Vương Đại) đang được xây dựng, nằm ở góc Hàm Nghi – Bến Bạch Đằng ngày nay

Thuyền trên sông Bến Nghé năm 1866

Rạch Bến Nghé khoảng thập niên 1870. Dãy nhà nhà trong hình nay nằm trên con đường ngày nay là đại lộ Võ Văn Kiệt (Bến Chương Dương cũ)

Toàn cảnh rạch Bến Nghé và sông Bến Nghé thập niên 1870

Tàu trên sông Sài Gòn năm 1888. Thời điểm này đoạn đường này được người Pháp đặt tên là Quai du Commerce, đến 1896 đổi là Quai Francis Garnier, và 1920 đổi thàmh Quai le Myre de Vilers. Từ năm 1955, đường này mang tên Bến Bạch Đằng. Ngày nay đường này là 1 phần của đường Tôn Đức Thắng

Trước đây, sông Bến Nghé còn có tên là Ngưu Chữ, Ngưu Tân hay Tân Bình giang (do chảy qua phủ Tân Bình xưa), theo nghĩa: Ngưu là trâu; tân hay chữ là bến; giang là sông.

Có 2 thuyết giải thích cho cái tên Bến Nghé:

Theo phó bảng Nguyễn Văn Siêu trong cuốn Phương Đình dư địa chí (1900) thì: tục truyền sông này nhiều cá sấu, từng đàn đuổi nhau kêu gầm như tiếng trâu rống, cho nên gọi tên như thế (nghé tức trâu con). Sách Đại Nam nhất thống chí, phần tỉnh Gia Định, cũng chép tương tự.

Theo học giả Trương Vĩnh Ký: Bến Nghé có nguồn gốc từ tiếng Khmer: Kompong: bến, Kon Krabei: con trâu. (Le Cisbassac, tr. 192). Nhà địa danh học Lê Trung Hoa cũng đồng ý rằng: Bến Nghé là cái bến mà “người ta thường cho trâu, bò ra tắm” vì có nhiều địa danh cấu tạo bằng “bến + tên thú” như: rạch Bến Nghé (Nhà Bè), rạch Bến Tượng (Sông Bé)…Cho nên Bến Nghé có lúc còn được gọi là Bến Trâu như trong bài “Gia Định thất thủ vịnh”: Tàu khói chạy mây tuôn sông mấy khúc, lờ lạt Bến Trâu”.

Bến Cảng nhìn từ Quận 4

Toàn cảnh Bến Bạch Đằng, Bến trái là sông Bến Nghé. Bên trái hình là đoạn cầu Khánh Hội, qua bên kia cầu là đường Trình Minh Thế (nay là đường Nguyễn Tất Thành) để đi Quận 4

Nhắc đến sông Bến Nghé, không thể không nhắc đến bến phà (và đò) Thủ Thiêm, đưa khách từ Bến Bạch Đằng sang bán đảo Thủ Thiêm xưa.

Bên kia sông Bến Nghé là bán đảo Thủ Thiêm

Một khu vực nổi tiếng khác, ranh giới của sông Bến Nghé và trung tâm Sài Gòn, chính là Bến Bạch Đằng, nơi có rất nhiều tàu hải quân neo đậu vào thập niên 1960-1970.

Bến đò gần cột Thủ ngữ năm 1890, nay là Bến Bạch Đằng

Một đoạn đường Bến Bạch Đằng nhìn từ trên cao, góc nhìn toàn cảnh của 2 đại lộ Hàm Nghi – Nguyễn Huệ và đường Tự Do. Ngoài cùng bên phải là công trường Mê Linh

Phía bên tay trái là đoạn giao giữa Bến Bạch Đằng và Bến Hàm Tử (nay trở thành đường Võ Văn Kiệt). Đó cũng là nơi tiếp giáp của sông Sài Gòn và rạch Bến Nghé

Từ sông Bến Nghé nhìn vào đầu đường Bến Bạch Đằng, đầu đại lộ Hàm Nghi

Từ sông Bến Nghé nhìn vào đầu đại lộ Nguyễn Huệ

Hàng ghế để ngồi uống cafe nước ngọt hóng mát ở dọc Bến Bạch Đằng

Bến Bạch Đằng và tàu thuyền trên sông Bến Nghé

Một vài hình ảnh công trường Mê Linh nằm trên Bến Bạch Đằng, nhìn ra sông Bến Nghé:

Ở ngay bến Bạch Đằng, nhìn ra sông Bến Nghé là một trong những khách sạn lâu đời nhất Sài Gòn: Majestic. Từ trên Majestic có thể nhìn toàn cảnh sông Bến Nghé và Bến Bạch Đằng. Sau đây là những hình ảnh chụp từ trên Majectic xuống bến sông:

Một số hình ảnh khác của sông Bến Nghé (sông Sài Gòn):

Đông Kha – chuyenxua.net

Nguồn gốc tên gọi địa danh ở Sài Gòn: Phần 13 – Cầu Ông Lãnh và Cầu Muối

Ông Lãnh là tên cây cầu nổi tiếng ở Sài Gòn, cùng với cầu Khánh Hội và cầu Camette, là 3 cây cầu cùng bắc qua rạch Bến Nghé để nối Quận Nhứt với Quận Tư ở phía Khánh Hội hiện nay. Cầu Ông Lãnh cũng là tên khu chợ nổi tiếng Sài Gòn tồn tại hơn 100 năm, bắt đầu từ thế kỷ 19.

Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Ông Lãnh, nằm bên rạch Bến Nghé năm 1955

Bên cạnh Cầu Ông Lãnh là khu chợ Cầu Muối, một thời là chợ đầu mối lớn nhất Sài Gòn.

Vị trí chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối trong bản đồ hiện nay

Ngày nay, cái tên Cầu Ông Lãnh còn được đặt tên cho một phường của Quận 1 Sài Gòn, trung tâm của phường là đường Nguyễn Thái Học ở đầu cầu Ông Lãnh. Ngoài ra, môt thời gian dài hồi nửa đầu thế kỷ 20, người ta còn gọi một đoạn đường ven rạch Bến Nghé (xưa là đường Bến Chương Dương, nay là đại lộ Võ Văn Kiệt) là đường Cầu Ông Lãnh, vì nó đi qua khu vực Cầu Ông Lãnh.

Đường Cầu Ông Lãnh thuộc tuyến đường quan trọng nối Sài Gòn với Chợ Lớn thời đầu thế kỷ 20, còn được gọi là Đường Dưới

Vào thời thế kỷ 19, đường Nguyễn Thái Học ngày nay vẫn còn là một con rạch nối từ rạch Bến Nghé đi vào bên trong (thường được gọi là rạch Cầu Ông Lãnh), theo ghi chép của Petrus Ký thì trên rạch này có một cây cầu gỗ bắc qua con rạch nhỏ này để dẫn vào một lò mổ gia súc (thường gọi là Lò Heo), được gọi là cầu Ông Lãnh. Như vậy ban đầu cầu Ông Lãnh (cũ) không bắc qua rạch Bến Nghé như hiện nay.

Nếu theo đúng lời Petrus thì cầu Ông Lãnh ban đầu nằm ở vị trí như trong bản đồ dưới đây (bản đồ Sài Gòn năm 1882)

Nói thêm về rạch Cầu Ông Lãnh, nó khởi nguồn là một con rạch từ nhiên, đi từ rạch Bến Nghé chạy quanh khu Cầu Quan – Cầu Muối – Cầu Kho, với nhiều nhánh tẽ mang tên địa phương của những cây cầu: cầu Kho (rạch Cầu Kho), cầu Muối (rạch Cầu Muối), Cầu Quan (rạch Cầu Quan)… Sau này người Pháp mở rộng rạch Cầu Ông Lãnh thì một đoạn của con rạch này trở nên thẳng tắp giống như là một con kênh đào.

Đoạn rạch Ông Lãnh lúc đã được mở rộng, được thể hiện trong bản đồ Sài Gòn năm 1878. Lúc này con rạch đã được quy hoạch để làm đường, trong bản đồ ghi là Rue projetée (quy hoạch đường), chính là đường Nguyễn Thái Học hiện nay

Sang đến thập niên 1910-1920, khi người Pháp tiến hành xây chợ Bến Thành, mở đại lộ Gallieni (nay là đường Trần Hưng Đạo) và lấp rạch Cầu Ông Lãnh để làm thành đường Abattoir/Kitchener (nay là Nguyễn Thái Học) thì họ mới xây thêm một cây cầu bắc qua rạch Bến Nghé ở khu vực cầu Ông Lãnh cũ, được gọi là cầu Ông Lãnh (cầu mới).

Khu vực cầu Ông Lãnh trong bản đồ Sài Gòn năm 1896. Khu vực ghi chữ Abattoir là Lò mổ, là khu chợ Cầu Muối sau này

Bản đồ Sài Gòn năm 1926 có vẽ rõ cầu Ông Lãnh ở vị trí mới, bắc qua rạch Bến Nghé (Arroyo Chinois). Đường Kitchener trong hình là đường Nguyễn Thái Học ngày nay

Cây cầu “mới” này được trùng tu nhiều lần, trước khi bị đập bỏ năm 2000 để xây dựng cầu Ông Lãnh hiện nay to và rộng hơn cũ.

Một số hình ảnh cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Ông Lãnh và khu Cầu Ông Lãnh ngày xưa:

Về xuất xứ của tên gọi ông Lãnh, có nhiều giả thuyết khác nhau, trong đó giả thuyết được nhiều người chấp nhận nhất là theo nhà bác học Petrus Ký ghi chép lại, ông Lãnh là Lãnh Binh Thăng, tên thật là Nguyễn Ngọc Thăng, một võ tướng chống Pháp thời kỳ đầu tiên, từng là thuộc tướng của Bình Tây Đại Nguyên Soái – Trương Định.

Năm 1848, dưới thời vua Tự Đức, Nguyễn Ngọc Thăng được thăng chức “lãnh binh”, nên thường được gọi là Lãnh Binh Thăng.

Tháng 9 năm 1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha mở đầu xâm lược Đại Nam khi tấn công vào Đà Nẵng. Sau 5 tháng bị cầm chân, liên quân này quyết định đem 2/3 lực lượng để đánh vô thành Gia Định, lúc đó đang được Võ Duy Ninh làm hộ đốc trấn giữ. Lãnh Binh Thăng đóng quân ở Thủ Thiêm đã đem quân ra cứu viện, nhưng do quân viễn chinh đến từ Âu Châu vượt trội về khí tài nên thành Gia Định thất thủ. Lãnh Binh Thăng đã cho quân trấn thủ ở vùng chùa Cây Mai, thời gian này ông đã cũng cố đồn lũy và cho xây một cây cầu gỗ qua rạch Bến Nghé để tiện cho việc đi lại, sau này được Pháp xây lại bằng cầu bê tông, người dân quen gọi là cầu Ông Lãnh.

Dù triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước năm 1862 để nhượng 3 tỉnh Nam kỳ cho Pháp, nhưng Lãnh Binh Thăng vẫn không đầu hàng, rút quân về Gò Công rồi phối hợp với nghĩa quân Trương Định chiến đấu ngoan cường trước khi cả 2 lần lượt hy sinh vào các năm 1864 và 1866.

Nghe tin Lãnh Binh Thăng mất, vua Tự Đức có phong sắc, áo, mão và một thanh gươm. Ông được an táng ở Giồng Keo, làng Lương Mỹ, tổng Bảo Thành (nay là ấp Căn Cứ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).

Từ năm 1955, thời đệ nhứt cộng hòa, ở Bến Tre có con đường mang tên Lãnh Binh Thăng. Ở Sài Gòn cũng có con đường tên Lãnh Binh Thăng ở Quận 11.

Về cây cầu mang tên Ông Lãnh, ghi chép sớm nhất là của Petrus Ký, phỏng đoán rằng “chiếc cầu gỗ do ông Lãnh binh ở gần đó cho bắc qua, chắc là ông Lãnh Binh Thăng này, chớ không phải ai khác”.

Ngay trong tấm bản đồ Sài Gòn năm 1867, chỉ 1 năm sau khi Lãnh Binh Thăng mất, có ghi chú vị trí Cầu Ông Lãnh, điều đó cho thấy có thể rằng tên cầu này được đặt ngay khi lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng còn sống. .

Bản đồ Sài Gòn năm 1867

Cũng theo ghi chép của Petrus Ký, 5 ngôi chợ nổi tiếng ở Sài Gòn là Bà Hạt (nay thuộc quận 10), Bà Quẹo (quận Tân Bình), Bà Chiểu (Bình Thạnh), Bà Hom (Bình Tân) và Bà Điểm (huyện Hóc Môn) được đặt theo tên 5 người phụ nữ vốn là các bà vợ của Lãnh Binh Thăng.

Những vị quan đa thê thời xưa thường áp dụng phương pháp kinh tế tự túc nên vị lãnh binh đã lập 5 chợ ở khu vực khác nhau, giao cho mỗi bà cai quản một cái. Việc này tránh các bà đụng mặt nhau, đồng thời chuyên tâm làm kinh tế.

Tuy nhiên, thông tin này không được nhiều nhà nghiên cứu tán thành. Cụ Vương Hồng Sến nói rằng nên thận trọng khi nói rằng “Ông Lãnh” và “Bà Chiểu”, Bà Điểm”, “Bà Hom”, “Bà Hạt”, “Bà Quẹo” là vợ chồng. Theo cụ Sển, Bà Hạt, Bà Điểm, Bà Chiểu có thể là người đầu tiên buôn bán tại các chợ này, sau lấy tên đặt cho chợ. Giống như chợ Bà Hoa ở khu ngã tư Bảy Hiền (quận Tân Bình), do người đàn bà tên Hoa đã hiến đất xây chợ và là người đầu tiên buôn bán nên người ta lấy tên bà đặt cho ngôi chợ.

Tháng 8 năm 1864, phó đô đốc de La Grandière ký quyết định lập một ngôi chợ trên khu đất nằm bên rạch Bến Nghé, ở phía đông cầu Ông Lãnh, đó chính là chợ Cầu Ông Lãnh nổi tiếng. Theo nhà văn Sơn Nam, đến năm 1874 chợ Cầu Ông Lãnh mới xây cất xong. Nơi đây dần phát triển thành khu chợ đầu mối trái cây, thủy hải sản lớn nhất Sài Gòn lúc bấy giờ.

Cầu Ông ãnh và chợ Cầu Ông Lãnh thập niên 1940

Ở cách không xa chợ Cầu Ông Lãnh là một khu chợ nổi tiếng khác, đó là chợ Cầu Muối.

Theo cụ Vương Hồng Sển ghi trong cuốn Sài Gòn Năm Xưa, khu vực mang tên Cầu Muối đã có từ thời triều Nguyễn. Từ rạch Cầu Ông Lãnh, có một nhánh rẽ khác, và có một cây cầu ván nhỏ bắc qua nhánh rẽ này để vận chuyển muối, vì vậy cây cầu nhỏ được đặt tên là Cầu Muối, và con rạch nhỏ này cũng mang tên rạch Cầu Muối.

Kho muối là những dãy nhà lá nằm dọc 2 bên bờ rạch, ngay bên cạnh lò mổ. Những năm cuối thập niên 1910, rạch Cầu Ông Lãnh bị lấp để làm đường thì các rạch nhỏ xung quanh (trong đó có rạch Cầu Muối) vẫn còn, nằm bao quanh khu vực lò mổ. Con đường nằm ở vị trí rạch Cầu Ông Lãnh cũ được đặt tên tên chính thức là đường Abattoir (đường Lò Mổ), sau đó đổi tên thành đường Kitchener, trước khi mang tên đường Nguyễn Thái Học từ năm 1955 cho đến nay. Có thể nhìn thấy rõ rạch Cầu Muối nằm bao quanh lò mổ trong các tấm bản đồ Sài Gòn đầu thế kỷ 20 sau đây:

Bản đồ Sài Gòn năm 1921. Lúc này rạch Ông Lãnh đã được lấp, thành đường Kitchener. Ô số 82 là Lò mổ, xung quanh khu này vẫn còn hệ thống rạch nhỏ. Đường Gallieni trong hình là đường Trần Hưng Đạo ngày nay. Trong bản đồ này, vẫn chưa có cầu Ông Lãnh bẳc qua rạch Bến Nghé (kinh Tàu Hủ)

Đường Kitchener (nay là Nguyễn Thái Học) và Chợ Cầu Muối xưa

Năm 1947, khu lò mổ được di dời, một số tiểu thương đang buôn bán trái cây từ miền Tây Nam Bộ lên chợ Cầu Ông Lãnh đã có sáng kiến mua rau cải đặc sản từ Đà Lạt về phân phối trên khu đất hoang của khu vực Lò Heo cũ, cũng là kho muối cũ, Cầu Muối cũ. Chợ rau này nằm ngay trên khu vực kho muối cũ, sát bên cạnh Cầu Muối cũ, nên được gọi là chợ Cầu Muối. Một thời gian dài chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối tồn tại song song và gần nhau.

Trên bảng tên chợ Cầu Muối ghi rõ chợ được thành lập chính thức năm 1947, tái thiết năm 1971 (là năm chợ bị cháy lớn)

Một số hình ảnh chợ Cầu Muối trước 1975:

Chợ Cầu Muối bị cháy cuối năm 1971

Đầu năm 1971, chợ Cầu Muối bị cháy lớn, chính quyền đã phải dùng đến trực thăng để chữa cháy. Trong các hình sau đó, có thể thấy hình ảnh máy bay quân sự lấy nước ở rạch Bến Nghé, ngay chợ Cầu Ông Lãnh, để chữa cháy cho chợ Cầu Muối:

Một số hình ảnh khác về vụ cháy chợ Cầu Muối năm 1971:

Tháng 4 năm 1999, tại chợ Cầu Ông Lãnh cũng xảy ra hỏa hoạn khiến toàn bộ khu nhà lồng chợ trái cây bị thiêu rụi. Cũng trong khoảng thời gian này, chính quyền thành phố đã có chủ trương di dời các chợ đầu mối ra ngoại thành.

Đông Kha – chuyenxua.net

Nguồn gốc tên gọi địa danh ở Sài Gòn: Phần 12: Hanh Thông Xã – Hạnh Thông Tây và Thông Tây Hội

Hiện nay, hầu như người Sài Gòn nào ở Gò Vấp cũng đều từng nghe nói đến cái tên Hạnh Thông Tây, Thông Tây Hội, từng đi qua nhà thờ hoặc chợ Hạnh Thông Tây trên “đường Quang Trung nắng đổ”. Tuy nhiên nguyên gốc của tên gọi này không phải là Hạnh Thông, mà là Hanh Thông, nghĩa là suôn sẻ.

Địa danh Hanh Thông Xã đã có từ đầu thế kỷ 18. Trong bản đồ Gia Định do Trần Văn Học vẽ năm 1815, sau này được phiên âm ra chữ quốc ngữ, đã thấy có thể hiện Hanh Thông Xã, bên cạnh các địa danh Bình Hòa Xã Phú Nhuận… thuộc Tổng Bình Trị Thượng, huyện Bình Dương của phủ Tân Bình.

Hình bên trên là cảnh dân chúng tụ tập phía trước trụ sở hội đồng Hanh Thông Xã của quận Gò Vấp (tỉnh Gia Định) để chủng ngừa bệnh đậu mùa. Vị trí của tòa nhà này hiện nay có thể là trên đường Nguyễn Văn Nghi, đối diện chợ Gò Vấp. Sau 1975, nơi đây trở thành trụ sở của xã Hanh Thông, sau 1975 là trụ sở công an xã Gò Vấp, sau đó tòa nhà đã bị phá bỏ để xây công trình thương mại khác.

Về địa danh Hanh Thông Xã, theo Bản đồ Sài Gòn – Gia Định đầu tiên do Trần Văn Học lập năm 1815 thì địa danh Gò Vấp thuộc địa phận Hanh Thông Xã, thuộc tổng Bình Trị Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định.

Gò Vấp ngày xưa thuộc địa phận Hanh Thông Xã. Khi Pháp chiếm Nam Kỳ và quy hoạch Sài Gòn – Gia Định thì địa giới của Gò Vấp ngày càng mở rộng, Hanh Thông Xã lại trở thành 1 làng thuộc quận Gò Vấp. Một ngôi làng khác được tách ra từ làng Hanh Thông Xã, làm ở phía Tây Bắc và được đặt tên là Hanh Thông Tây, sau này được gọi thành Hạnh Thông Tây.

Năm 1944, hai làng An Hội và Hạnh Thông Tây sáp nhập thành làng Thông Tây Hội.

Với ý nghĩa ban đầu, Hanh Thông nghĩa là suôn sẻ, nhưng qua thời gian, chữ này lại bị đọc thành Hạnh Thông. Ngày nay những tên này không còn là tên hành chính chính thức, nhưng vẫn còn tên chợ Hạnh Thông Tây, nhà thờ Hạnh Thông Tây và đình Thông Tây Hội.

Nhà thờ Hạnh Thông Tây được xây dựng năm 1921, toàn bộ chi phí xây dựng đều được vợ chồng ông Denis Lê Phát An (con trai trưởng của Huyện Sỹ Lê Phát Đạt) tự nguyện đóng góp, nằm trên ba thửa đất rộng 2,1 mẫu của ông Giuse Hồ Văn Chua hiến cho nhà thờ trước đó.

Nhà thờ Hạnh Thông Tây ban đầu có tháp chuông nhọn

Ban đầu tháp chuông của nhà thờ có hình tháp nhọn, nhưng vì đây là vùng có nhiều máy bay quân sự bay qua nên cơ sở Hàng không Đông Dương đã xin cho hạ thấp tháp chuông nhà thờ Hạnh Thông Tây theo văn thư đề ngày 29/10/1953. Từ đó, tháp chuông có hình vuông như hiện nay.

Thời gian sau đó tháp nhọn được dỡ bỏ

Nhà thờ Hạnh Thông Tây được xây dựng theo phong cách kiến trúc Byzantine ở châu Âu. Nguyên mẫu của nhà thờ chính là Vương cung thánh đường Thánh Vitale ở thành phố Ravenna, Italia.

Trần nhà thờ có hình vòm cung, phết nhũ vàng. Trên cùng là tranh khảm theo phong cách Byzantine mô tả cảnh Chúa Giêsu trên Thập Giá.

Nhà thờ Hạnh Thông Tây hiện nay

Một địa điểm khác liên quan đến tên gọi nguyên thủy “Hanh Thông” và vẫn còn hiện nay, đó là đình Thông Tây Hội, nguyên là ngôi đình cổ nhất phương Nam đã có từ hơn 3 thế kỷ trước.

Đình Thông Tây Hội ở đường Thống Nhất – Gò Vấp hiện nay

Ngôi đình cổ này ban đầu được lập từ năm 1679, vốn là bằng tre, vách lá và nằm cách ngôi đình hiện tại 800m về phía Nam. Ngôi đình thứ hai được làm bằng gỗ lợp ngói, nhỏ và đơn giản, nằm tại vị trí ngôi đình hiện tại. Chỗ ấy xưa kia được cho là một vùng đồi gò khá cao, diện tích rộng, cây cối um tùm, thú rừng rình rập. Bù lại đất đai màu mỡ, thuận lợi để hình thành nên những thôn, làng…, vị trí nằm bên hữu ngạn sông Sài Gòn, tiện cho giao thông đường thủy.

Bên trong đình cổ Thông Tây Hội

Đến năm 1883, trải qua nhiều lần dân làng góp công góp sức xây dựng, tu bổ, đình mới có được kiến trúc hoàn chỉnh như hiện nay, và đến năm 1944 thì chính thức mang tên đình Thông Tây Hội, lấy tên theo ngôi làng vừa được sáp nhập từ 2 ngôi làng Hạnh Thông Tây và An Hội như đã nhắc đến ở trên.

Đông Kha – chuyenxua.vn

Nguồn gốc tên gọi địa danh ở Sài Gòn: Phần 11 – Lịch sử tên gọi Thủ Đức xưa & nay

Thủ Đức là tên gọi của một khu vực rộng lớn ở phía Đông của Sài Gòn. Từ đầu thế kỷ 20 cho đến thập niên 1960, Thủ Đức là một quận của tỉnh Gia Định, khi đó Thủ Đức bao gồm cả vùng Quận 2 và Quận 9 sau này.

Năm 1967 xã An Khánh được cắt khỏi quận Thủ Đức, nhập vào Quận 1 của Đô thành Sài Gòn và được chia thành hai phường là An Khánh và Thủ Thiêm. Sau đó, 2 phường An Khánh và Thủ Thiêm lại được tách ra để thành lập Quận 9 của Đô thành Sài Gòn. Qua năm 1972 trên địa bàn Thủ Đức lại được lập thêm một xã mới là xã Phước Bình.

Sau năm 1975, tỉnh Gia Định sáp nhập vào với Sài Gòn, Quận Thủ Đức trở thành Huyện Thủ Đức, đồng thời Quận 9 bị giải thể và nhập trở lại vào Thủ Đức như cũ.

Năm 1997, Huyện Thủ Đức lại tách ra thành 3 quận: Quận Thủ Đức, Quận 2 và Quận 9.

Đến đầu năm 2021, các quận 2,9, Thủ Đức lại được nhập chung với nhau để trở thành Thành Phố Thủ Đức.

Chợ Thủ Đức

Như vậy có thể thấy vùng đất Thủ Đức có một quá trình chia, tách, nhập ranh giới khá phức tạp giữa các vùng Gia Định, Biên Hòa và Sài Gòn. Tuy nhiên, khi nhắc tới Thủ Đức thì người ta nghĩ đến vùng trung tâm Thủ Đức là chợ Thủ Đức với con đường Võ Văn Ngân (ngày xưa mang tên đường Hoàng Diệu) nối dài từ chợ Thủ Đức đến Ngã 4 Thủ Đức, và con đường Kha Vạng Cân (ngày xưa mang tên Nguyễn Tri Phương) song song với đường xe lửa nối chợ Thủ Đức với Sài Gòn.

Đường Nguyễn Tri Phương, nay là Kha Vạng Cân

Từ trước khi Pháp chiếm Nam Kỳ, địa bàn vùng đất Thủ Đức ngày nay tương ứng với phần lớn huyện Ngãi An của phủ Phước Long và huyện Long Thành của phủ Phước Tuy, đều thuộc tỉnh Biên Hòa. Khi đó Thủ Đức là một vùng đất gò đồi tương đối cao, nối liền với những vùng sườn tích cổ thuộc nền văn hóa tiền sử ở lưu vực sông Đồng Nai.

Nguồn gốc của tên gọi Thủ Đức vẫn còn một số nghi vấn, nhưng hầu hết đều chấp nhận rằng nó bắt nguồn từ tên hiệu của ông Tạ Dương Minh (tự Tạ Huy), người có công khai hoang lập ấp, nên người dân lấy tên hiệu của ông là Thủ Đức để đặt tên cho vùng đất này. Cách giải thích này được chấp nhận một cách chính thống từ chính quyền thành phố Thủ Đức.

Khu mộ của ông Tạ Dương Minh vẫn còn ở Thủ Đức hiện nay

Tại khu mộ của ông Tạ Dương Minh hiện nay vẫn còn tại số 10 phường Linh Chiểu, chính quyền có dựng một bảng thông tin ghi rằng ông Tạ Dương Minh tên hiệu là Thủ Đức, không rõ năm sinh và năm mất, là một trong những người thuộc nhóm phản Thanh phục Minh từ Trung Quốc sang nước ta, được chúa Nguyễn cho phép định cư tại vùng Linh Chiểu Đông. Trong những năm 1667 – 1725, tại vùng Linh Chiều Đông, tiền hiền Tạ Dương Minh và nhóm người Hoa cùng cư dân Việt sống tập trung, hợp sức khẩn hoang, trồng trọt và chống chọi với bệnh tật, thú dữ, đồng thời lập chợ để điều tiết nhu cầu mua bán, giao thương của thị trường phù hợp với vùng đất mới đang đà phát triền. Ngôi chợ được mang tên hiệu của ông là chợ Thủ Đức. Tên hiệu của ông cũng được dùng chính thức để gọi tên vùng đấy Thủ Đức qua các thời kỳ cho đến nay.

Tấm bia ghi thông tin tại mộ Tạ Dương Minh

Như vậy, theo thông tin chính thức từ chính quyền thì ông Tạ Dương Minh đã sinh sống ở vùng đất Thủ Đức ngày nay từ trước khi Lễ Thành Hầu mở cõi Nam Bộ xác lập chủ quyền cho người Việt ở vùng đất Đồng Nai (năm 1698).

Sách Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca của tác giả Nguyễn Liên Phong xuất bản năm 1909 ca ngợi công lao của ông Tạ Dương Minh như sau:

“Thuở xưa ông Tạ Dương Minh
Lập chợ Thủ Đức tại Linh Chiểu rày
Mả người cải táng mới đây
Bởi làng xin bạc đổi xây mộ phần

Quan trên niệm nghĩa thi ân
Cho ba trăm rưởi trùng tân giai thành
Hương chức ở rất hậu tình
Mỗi năm ngày kỵ xanh quanh tới đều”.

Việc địa danh Thủ Đức chắc chắn có liên quan đến ông Tạ Dương Minh, nhưng việc vùng đất này có phải được đặt tên theo tên hiệu của ông hay không thì vẫn có sự nghi vấn. Theo tác giả Nguyễn Thanh Lợi thì từ trước đến nay, chúng ta thường chỉ thấy các nhà Nho lấy các địa danh để đặt tên hiệu, chứ chưa có trường hợp nào ngược lại. Chẳng hạn Nguyễn Du lấy hiệu từ làng Tiên Điền, Nguyễn Khắc Hiếu lấy hiệu Tản Đà từ núi Tản Viên và sông Đà, Trần Tế Xương lấy hiệu Vị Xuyên. Vì vậy có nhiều người đã hoài nghi phải chăng ông Tạ Dương Minh sinh sống ở vùng đất Thủ Đức đã lấy tên Thủ Đức làm tên hiệu cho mình?, chứ không phải là ngược lại.

Một bằng chứng khác, nếu dựa theo kiến trúc khu mộ của ông Tạ Dương Minh thì cho thấy ông sống vào thời Minh Mạng (thế kỷ 19), trong khi đó tên gọi Thủ Đức đã có từ trước năm 1772 (thế kỷ 18), vì trong cuốn Tự vị Annam-Latinh của Pierre Pigneaux de Béhaine (được biết đến với tên tiếng Việt là Bá Đa Lộc, tức Cha Cả) đã thấy xuất hiện địa danh này. Nếu dựa theo gỉa thiết này thì tên gọi Thủ Đức có trước thời của ông Tạ Dương Minh.

Trở lại với địa danh Thủ Đức, sau đây mời các bạn xem lại hình ảnh Thủ Đức 100 năm trước:

Nhà thờ Thủ Đức

Thủ hiến Nam Kỳ Trần Văn Hữu thăm chợ Thủ Đức

Nhắc đến Thủ Đức trước 1975, người ta thường nhớ đến các địa điểm nổi tiếng như chợ Thủ Đức, ngã tư Thủ Đức, quân trường Thủ Đức, xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa đi ngang qua Thủ Đức, nhà máy nước Thủ Đức, làng đại học ở Thủ Đức…

Mời các bạn xem lại hình ảnh Thủ Đức thập niên 1960-1970:

Đường xe lửa song song với đường Nguyễn Tri Phương (nay là Kha Vạng Cân)

Ngã 4 Thủ Đức năm 1961, khi mới được xây dựng

Hình ảnh chợ Thủ Đức xưa:

Hình ảnh Quân trường Thủ Đức nổi tiếng ở xã Tăng Nhơn Phú:

Hình ảnh Trường Lasan Mossard ở đường Hoàng Diệu – Thủ Đức, được thành lập từ năm 1894. Sau 1975 thành trường trung cấp kĩ thuật nghiệp vụ Thủ Đức, nay là trường cao đẳng công nghệ Thủ Đức trên đường Võ Văn Ngân, ở gần chợ Thủ Đức, sát bên nhà thờ Thủ Đức. Đây được xem là trường đẹp nhất trong số các trường Lasan ở Sài Gòn:

Trường Lasan Mossard Thủ Đức

Hình ảnh nhà thờ Thủ Đức:

Những hình ảnh của trường trung học kiểu mẫu Thủ Đức, trực thuộc đại học sư phạm Sài Gòn:

Đây là một trong ba trường trung học Kiểu Mẫu đầu tiên tại Việt Nam, ngoài trường Trung Học Kiểu Mẫu Huế và trường Trung Học Kiểu Mẫu Cần Thơ.

Trường Trung Học Kiểu Mẫu là trường sư phạm thực hành tạo cho các giáo sinh Đại Học Sư Phạm có cơ hội tiếp xúc thường xuyên với học đường, học sinh, và các đồng nghiệp tương lai…

Trường Trung Học Kiểu Mẫu là trường trung học duy nhất lúc bấy giờ bao gồm cả giáo dục phổ thông và giáo dục hướng nghiệp (nên được gọi là chương trình Giáo Dục Tổng Hợp).

Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức được khởi công xây cất ngày 26/5/1963 và hoàn tất ngày 30/3/1964. Người vẽ kiểu trường là kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, Khôi Nguyên La Mã 1955 và cũng là người vẽ kiểu Dinh Độc Lập.

Trường nằm trên một ngọn đồi bên cạnh xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa, thuộc xã Linh Xuân Thôn, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Trường gồm một đại giảng đường với 1200 chỗ ngồi, một khu văn phòng và hai dãy lầu với 30 phòng học, 6 phòng thí nghiệm (vật lý, hóa học và sinh vật), một thư viện và văn phòng phẩm, một xưởng công kỹ nghệ đầy đủ dụng cụ cơ xưởng, đồ in và bàn kỹ nghệ họa, 3 phòng doanh thương với hơn 40 máy đánh chữ, 8 phòng dành cho kinh tế gia đình, trang bị đầy đủ dụng cụ như máy may, bếp nấu… Đến cuối năm 1971 trường lại xây thêm một câu lạc bộ có thể chứa 500 học sinh.

Ngày nay ngôi trường này vẫn còn, là khu trung tâm của làng đại học Thủ Đức, một thời là đại học đại cương của ĐHQG. Hầu hết những sinh viên đại học năm 1,2 của các trường Bách Khoa, KHTN và KHXHNV đều đã từng ngồi dưới giảng đường của khu trường này.

Hình ảnh xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa (nay là xa lộ Hà Nội), hầu hết nằm trên địa phận Thủ Đức. Đây là con đường chính để đi từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Đông Nam Bộ, miền Trung, là trục con đường Cái Quan năm xưa:

Trụ sở điện lực trên xa lộ

Nhà máy Xi măng Hà Tiên trên xa lộ Biên Hòa (nhà máy được thành lập từ năm 1964, nắm giữ thị phần gần như tuyệt đối ở miền Nam

Phía xa là nhà máy xi măng Hà Tiên

Nhà máy sản xuất bình ắc quy

Phía trước là nhà máy nước Thủ Đức với tháp điều hòa áp lực nước ở bên trái đường

Nhà máy nước nằm bên cạnh Xa Lộ

Nhà máy nước Thủ Đức cung cấp nước sinh hoạt cho Sài Gòn

Tháp điều áp gần nhà máy nước. Trên đường Phan Thanh Giản ở Sài Gòn (nay là Điện Biên Phủ) cũng có một cái tương tự

Khu vực đi ngang qua quân trường Thủ Đức

Xe cam nhông

Phía xa sau lưng xe tải lớn là đền Tử Sĩ trên đỉnh đồi tại Nghĩa Trang QĐ Biên Hòa

Một vài hình ảnh khác ở Thủ Đức xưa:

Tòa hành chánh quận Thủ Đức

Ga xe lửa Thủ Đức

Ngã 5 chợ Thủ Đức

Đường từ ngã 5 chợ Thủ Đức đi về hướng Tam Hà, đoạn qua rạp hát Đại Lợi

Đông Kha (chuyenxua.vn)
Hình ảnh: manhhai flickr

Nguồn gốc tên gọi địa danh ở Sài Gòn: Phần 10: Ngã tư Hàng Xanh (Hàng Sanh)

Ngã tư Hàng Xanh là nút giao thông quan trọng bậc nhất của Sài Gòn – Gia Định từ khi mảnh đất này được khai phá cho đến nay. Đây cũng là nơi mà vị trí trọng yếu kết nối con đường thiên lý phía Bắc, từ Gia Định về phía kinh đô Huế.

Khi đó, từ Gia Định có 3 con đường thiên lý để đi về 3 hướng: Đường thiên lý phía Tây đi Cao Miên, đường Thiên Lý phía Nam đi về lục tỉnh (về phía Tây Nam Bộ hiện nay). Và đường Thiên Lý quan trọng nhất là đi về phía Bắc thẳng hướng kinh đô Huế từ cái mốc ngã tư Hàng Xanh. Ngày xưa con đường này gọi là đường Cái Quan, ngày nay chính là QL1.

Ngã tư Hàng Xanh trước năm 1975 thuộc tỉnh Gia Định, là giao lộ của 2 đường Hùng Vương (tức Hồng Thập Tự nối dài, ngày nay là đường Xô Viết Nghệ Tĩnh) và đường  Xa Lộ Sài Gòn – Biên Hòa. Ngày xưa Xa Lộ Biên Hòa kéo dài cho đến tận cầu Phan Thanh Giản (nay là cầu Điện Biên Phủ), ngày nay đoạn đường từ cầu cho đến ngã tư Hàng Xanh trở thành một đoạn của đường Điện Biên Phủ.

Lý giải về tên gọi Hàng Xanh, giả thuyết được nhiều người đồng thuận nhất là vì thời xưa ở khu vực này trồng nhiều cây sanh, là loại cây lớn cùng họ với đa, đề, si…

Cây Sanh được trồng dọc hai bên đường Bạch Đằng ngày nay kéo dài đến ngã tư này. Vì vậy mà ngày xưa đường Bạch Đằng thường được gọi là đường Hàng Sanh.

Dễ hiểu về cách gọi tên như vậy, vì Sài Gòn vốn từng là rừng rậm, cho đến tận giữa thế kỷ 20 vẫn còn nhiều vết tích của các loại cây cối từng sinh sôi nảy nở trên mảnh đất này. Có rất nhiều địa danh ở Sài Gòn được đặt tên từ các loài cây như: cây Vắp (Gò Vắp), câu Sung, câu Quéo, cây Điệp, cây Thị, cây Trâm, cây Gõ, Vườn Xoài, Vườn Chuối, Vườn Trầu, Vườn Lài… và có thể là cả cây Gòn trong cái tên Sài Gòn.

Trở lại với Ngã Tư Hàng Sanh, thời trước thập niên 1960, chỗ này vẫn là ngã 3, cho đến đầu thập niên 1960, sau khi cầu Tân Cảng (nay là cầu Sài Gòn) được xây dựng, có thêm một nhánh đường đi Biên Hòa được gọi là Xa Lộ Biên Hòa, thì chỗ này mới thành Ngã 4 Hàng Sanh.

Bảng chỉ dẫn tên đường ở Ngã 4 Hàng Xanh. Đi thẳng là qua cầu Tân Cảng để đi Biên Hòa, quẹo trái về tỉnh Gia Định, Bà Chiểu, quẹo phải về trung tâm Sài Gòn

Vào thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, đây là một giao lộ đồng mức thuộc loại hiện đại, với hệ thống dải phân cách, phân luồng và đèn tín hiệu giao thông được cách âm chôn hoàn toàn dưới lòng đất và vẫn còn sử dụng tốt cho đến năm 1995.

Nhà thơ Kiên Giang – Hà Huy Hà khi lên Sài Gòn học, năm 1943 ông ở trọ tại Hàng Sanh; sau đó ông có sáng tác bài thơ “Nhạc Xe Bò”, có đoạn:

Đêm xưa trăng mới đứng đầu
Đoàn xe bò đã qua cầu Hàng Sanh
Nhạc xe bò rộn âm thanh
Khô khan mà thảm, mong manh mà sầu
Bánh xe lốc cốc
Lên dốc đầu cầu

Sau năm 1975, bài thơ Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn của thi sĩ Du Tử Lê được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc có lời nhắc đến Hàng Xanh như sau:

Đêm về theo bánh xe qua
Nhớ tôi xa lộ, nhớ nhà Hàng Xanh.

Xa lộ trong bài thơ – bài hát này chính là Xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa như đã nhắc ở bên trên, xuất phát từ điểm đầu là cầu Phan Thanh Giản (nay là cầu Điện Biên Phủ) đi qua ngã tư Hàng Sanh rồi thẳng QL1 đến Biên Hòa..

Sau đây mời các bạn xem một số hình ảnh khác ở khu vực Hàng Xanh – Hàng Sanh trước năm 1975:

Ngay chính giữa ngã tư có một ngôi chùa mà ngày nay vẫn còn, đó là chùa Phước Viên được thành lập từ năm 1928.


nhacxua.vn biên soạn

Nguồn gốc tên gọi địa danh ở Sài Gòn: Phần 9 – Vùng đất mang tên Cầu Kho và Mã Lạng

Cầu Kho là một trong những vùng đất xưa nhất của khu vực Bến Nghé, trung tâm Quận 1 của Sài Gòn. Ngày nay, Cầu Kho trở thành tên của một phường thuộc Quận 1 nằm dọc theo rạch Bến Nghé, trong hình chữ nhật của 4 đường Trần Hưng Đạo – Nguyễn Văn Cừ – Trần Đình Xu và Võ Văn Kiệt (Bến Chương Dương). Phường Cầu Kho đã có từ trước năm 1975, là một khu vực rộng lớn hơn nhiều so với ngày nay. Đến năm 1962, một phần diện tích và dân số của phường Cầu Kho được tách ra để lập thêm 2 phường: Nguyễn Cư Trinh và Nguyễn Cảnh Chân.

Trước đó, từ cuối thế kỷ 19, khu vực mang tên Cầu Kho được xem là vị trí mang tính “bản lề”, vì nó nằm ở giữa 2 khu vực Chợ Bến Thành có nhiều kiến trúc đậm nét Tây Phương, và Chợ Lớn với các khu phố của người Hoa.

Trong bản đồ hành chánh của đô thành Sài Gòn xưa, ranh giới giữa Sài Gòn và Chợ Lớn là đường Cộng Hòa (nay là Nguyễn Văn Cừ), chính là khu vực Cầu Kho.

Theo nhà văn Sơn Nam, xuất xứ của tên gọi Cầu Kho, ban đầu vốn là tên của cây cầu bắc ngang qua con rạch ở kho Giản Thảo, còn được gọi là kho Cẩm Đệm, là nơi chứa lương thực được chúa Nguyễn thiết lập từ năm 1741, là một trong 9 kho ở rải rác vùng Đồng Nai – Cửu Long. Kho Giản Thảo ở Bến Nghé được xem là kho quan trọng nhất, năm 1778 được mở rộng để chứa lúa thu thuế từ 4 trấn của đất Gia Định. Sang đời vua Gia Long, năm 1805, kho này được tu bổ và mở thêm 6 dãy kho lợp ngói. Vì cây cầu nằm ở ngay công trình quan trọng đầu tiên của vùng đất này là kho lương thực, nên dân trong vùng gọi thành cầu kho, lâu dần thành tên chính thức, sau đó không chỉ là tên của cây cầu mà thành tên của cả một vùng.

Ảnh cầu Kho năm 1955, cho thấy cầu Kho bắc ngang một con rạch nhỏ (nay là đường Hồ Hảo Hớn), nối ra Bến Chương Dương, chạy dọc rạch Bến Nghé hiện nay. Rạch Cầu Kho sau này đã cạn nước và bị lấp

Cầu Kho ngày xưa nằm trên đường Bến Chương Dương, bắc qua rạch Cầu Kho, sau này rạch không còn, cầu dần dần cũng đã biến mất. Rạch Cầu Kho nằm ngay bên cạnh đường Huỳnh Quang Tiên (nay là đường Hồ Hảo Hớn) được thể hiện trong tấm bản đồ năm 1947 sau đây:

Trong hình bên trên, màu vàng là đường Huỳnh Quang Tiên, màu xanh là rạch Cầu Kho, và rạch này sau đó đã bị lấp (cũng giống như nhiều rạch nhỏ khác gần đó), nên sau đó Cầu Kho cũng dần trở thành cầu cạn và biến mất. Một số bài viết nói rằng rạch Cầu Kho bị lấp để làm đường Huỳnh Quang Tiên (nay là Hồ Hảo Hớn), hoặc để thành đường Phát Diệm (nay là Trần Đình Xu) là không đúng.

Đường Huỳnh Quang Tiên ở Cầu Kho năm 1923, nay là đường Hồ Hảo Hớn

Cầu Kho và Rạch Cầu Kho năm 1908

Cầu Kho năm 1965

Nói thêm về kho Cẩm Đệm, trên bản đồ của Trần Văn Học vẽ năm 1815, nhà kho được vẽ rất rõ ràng, vuông vức, có sông và rạch bao quanh như cù lao, rất thuận tiện cho giao thông đường thủy của Sài Gòn thời đó.

Qua tấm bản đồ này, đối chiếu với hiện tại, tác giả Sơn Nam phỏng đoán rằng kho lương thực này nằm ở vị trí nhà thờ Cầu Kho hiện nay, trên nền đất vẫn còn cao ráo.

Nhà thờ Cầu Kho trước 1975

Theo bài viết của TS Hồ Tường, Những cư dân người Việt đầu tiên sống ở Cầu Kho, ngoài quan lại và binh lính bảo vệ kho, còn lại chủ yếu là dân nghèo người Việt từ miền Trung vô mưu sinh trên vùng đất mới, đa số sống bằng nghề phu khuân vác để đưa lúa, gạo ra vào kho. Tuy nhiên, việc khuân vác lúa gạo không chiếm hết thời gian, chỉ tập trung cuối năm, khi vô mùa gặt nên những lưu dân người Việt một số sống thêm nghề làm thuê cho các điền chủ của đất Gia Định hay những chủ ghe thương hồ tới lui vùng Bến Nghé.

Rạch Bến Nghé. Bên trái là khu Cầu Kho, Cô Giang, Ông Lãnh, bên phải là Quận Tư. Nhà màu trắng bên trái hình là Nhà thờ Cầu Kho

Năm 1874, triều đình Huế ký hiệp ước nhượng đứt 6 tỉnh Nam kỳ cho Pháp, triều đình đặt 2 Tòa Lãnh sự, một tại Paris và một tại Cầu Kho (Sài Gòn). Vị trí tòa lãnh sự được cho là ở vị trí ngã 3 đường Đề Thám và Võ Văn Kiệt hiện nay. Thời bấy giờ người Việt sinh sống ở Cầu Kho nhiều lên, các công chức, thương gia, địa chủ các nơi khác tìm đến ở xung quanh nơi này, dần dần khu vực xung quanh Tòa lãnh sự của triều đình (trên vùng đất đã bị Pháp chiếm) trở nên nhộn nhịp. Theo nhà văn Sơn Nam, Tòa lãnh sự Đại Nam ở Cầu Kho có nhiệm vụ bênh vực quyền lợi cho người dân từ Bắc, Trung vào mua bán trên đất Nam Kỳ thuộc địa. Gặp trường hợp phạm pháp, Tòa Lãnh sự được can dự vào để xem chính quyền Nam Kỳ có làm đúng pháp lý hay không. Ngược lại, tàu thuyền người Pháp, Âu, Việt cư ngụ ở Nam Kỳ ra Trung, Bắc cần được chính quyền Nam Kỳ và Lãnh sự Đại Nam ở Cầu Kho kiểm nhận trước.

Tòa lãnh sự của Triều đình ở Cầu Kho hoạt động trong 9 năm, từ cuối năm 1874 đến giữa năm 1883 (là năm vua Tự Đức qua đời, triều đình nhà Nguyễn rối ren, Pháp đánh ra Huế buộc triều đình phải ký hòa ước Quý Mùi. Trong 9 năm đó, đa số thời gian chức lãnh sự thuộc về Nguyễn Thành Ý, người được đặt tên cho một con đường nhỏ ở Dakao – Sài Gòn hiện nay. Những người sau này từng cộng tác với Pháp như Tổng Đốc Phương, Tôn Thọ Tường từng là nhân vật nhỏ bé dưới quyền ông Nguyễn Thành Ý.

Thời gian nắm quyền, Nguyễn Thành Ý đã liên hệ với nhiều nhân sĩ để bàn việc đại sự, quyên góp tiền và tìm kiếm nhân tài gửi ra triều đình Huế. Những việc làm đó không tránh khỏi sự theo dõi của mật thám Pháp ở Sài Gòn, vì vậy vào ngày 22-6-1883, thống đốc Nam Kỳ ra lệnh trục xuất chánh và phó lãnh sự Đại Nam, cấm trở lại Nam Kỳ và phải rời đi trong vòng 24 tiếng.

Xe điện trên đường Gallieni (nay là Trần Hưng Đạo), đoạn cắt với đường Phát Diệm (nay là Trần Đình Xu), ở góc là trường tiểu học Cầu Kho (nay là trường tiểu học Trần Hưng Đạo)

Khu vực Cầu Kho nằm giữa Sài Gòn và Chợ Lớn, hiện nay đường chính nối liền 2 vùng này là đường Trần Hưng Đạo, nhưng phải qua đến thập niên 1920 thì trục đường lớn này mới được xây dựng. Thời gian trước đó, phương tiện đi lại giữa Sài Gòn và Chợ Lớn, ngoài đường thủy thì từ xưa đã có đường Thiên Lý (nay là đường Nguyễn Trãi) đi từ Sài Gòn đến các tỉnh miền Tây, ngang qua Chợ Lớn, được gọi là Đường Trên, và đường dọc rạch Bến Nghé (sau này gọi là Bến Chương Dương, nay là Võ Văn Kiệt) được gọi là Đường Dưới. Thập niên cuối cùng của thế kỷ 19, chính quyền thuộc địa còn thiết lập các hệ thống đường xe điện Sài Gòn – Chợ Lớn, trong đó có tuyến đi dọc theo Đường Dưới, đi ngang qua Cầu Kho có một trạm gọi là Cầu Kho, tại trạm này có hình con cá như hình dưới đây:

Thời đó, người Việt biết chữ rất hiếm, nên có thể rằng các ga/trạm xe lửa để hình đại diện như vậy để dễ người dân nhận biết. Thí dụ ga Sài Gòn có hình con cò trắng, trạm An Bình có hình con khỉ, trạm Arras (nay là Cống Quỳnh) có hình cây cào cỏ, ga Chợ Lớn có hình xe cút kít…

Dưới đây là những tấm bản đồ Sài Gòn – Chợ Lớn có thể hiện các tuyến xe điện, trong đó có trạm Cầu Kho:

Trạm xe điện Cầu Ông Lãnh, tuyến xe điện Sài Gòn – Chợ Lớn

Một số hình khu vực Cầu Kho trên đường Trần Hưng Đạo trước 1975:

Từ trên PLAZA BEQ (135 Trần Hưng Đạo) nhìn xa hơn về phía Trần Hưng Đạo – Nguyễn Cư Trinh, nơi có cây xăng ESSO

_

Một dãy phố trên đường Trần Hưng Đạo, trước mặt Nhà thờ Tin Lành

Từ ngã 4 Trần Hưng Đạo – Đề Thám, đi tới chút nữa sẽ đến ngã 3 “mũi tàu” Trần Hưng Đạo – Nguyễn Cư Trinh, góc đường ngày nay là khách sạn 5 sao Pullman.

Rạp Lê Ngọc góc Nguyễn Cư Trinh – Trần Hưng Đạo, cây xăng ESSO ngay phía trước rạp

_

Sát bên cây xăng ESSO là khách sạn Metropole. Ngày nay, vị trí này là khách sạn 5 sao Pullman

_

Ngay góc đường này còn có thêm một rạp hát nổi tiếng khác là rạp Hưng Đạo

_

Rạp cải lương Hưng Đạo được xây dựng năm 1960, là 1 trong những rạp cải lương lớn nhất thời đó. Sau này rạp đổi tên thành Trần Hữu Trang, ở vị trí Trần Hưng Đạo – Nguyễn Cư Trinh

Hình toàn cảnh khu Cầu Kho, trục đường Trần Hưng Đạo, ảnh chụp thập niên 1960:

Giữa ảnh, phía trên có thể thấy nhà thờ Cầu Kho

Một ảnh khác chụp cùng vị trí với hình bên trên

Cái tên Cầu Kho còn được biết đến khi gắn liền với một khu vực khá đặc biệt, đó là Nghĩa địa Cầu Kho, tức là khu Mã Lạng nổi tiếng, nằm trong khu tứ giác giữa các đường Cống Quỳnh – Nguyễn Cư Trinh – Phát Diệm (nay là Trần Đình Xu) và Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi).

Nghĩa địa Cầu Kho trong tấm bản đồ Sài Gòn xưa

Dù nằm ngày giữa trung tâm Sài Gòn, nhưng Mã Lạng là khu “ổ chuột” tập trung rất nhiều người nghèo ở tạm bợ trên những khu mộ nằm lộn xộn xen lẫn nhà dân. Khu Mã Lạng là vốn nghĩa địa Cầu Kho, được cho là từng thuộc giáo xứ Cầu Kho (được xây trên nền cũ của kho Quản Thảo), vì mỗi giáo xứ thường có một khu nghĩa địa dành cho các con chiên của giáo xứ. Nghĩa trang công giáo này đã bị bỏ hoang từ năm 1954, có rất nhiều ngôi mộ vô chủ không có người chăm nom, nên được gọi là Mả Loạn, dần dần người dân nói thành Mã Lạng.

Thời kỳ thập niên 1960, rất người nghèo lên Sài Gòn tị nạn vì nhà cửa ở quê đã bị thiêu rụi vì lửa binh, họ tìm tới nghĩa địa Cầu Kho ở ngay trung tâm đô thành và xây nhà tạm bằng gỗ để sinh sống, sinh hoạt ngay bên cạnh bia mộ cũ. Dần dần cư dân đông lên, hình thành một khu ổ chuột nổi tiếng.

Nghĩa địa Cầu Kho trong bản đồ năm 1961

Từ những năm 1977 đến 1982, các ngôi mộ trong khu này được dời đi, nhường chỗ cho những người đi kinh tế mới trở về (được gọi là khu tạm cư kinh tế mới, quen gọi là khu Mã Lạng). Họ dựng thêm nhà để sinh sống tạm bợ, từ sau đó nơi này thành một ổ tệ nạn nổi tiếng của Sài Gòn.

Nhà nguyện nghĩa địa Cầu Kho nằm gần góc Nguyễn Cư Trinh – Phát Diệm – Võ Tánh

Khác hẳn không khí náo nhiệt của khu trung tâm Sài Gòn có phố xá sầm uất, Khu Mả Lạng gần như có cuộc sống và sinh hoạt tách biệt, những con hẻm trong khu vực này tĩnh lặng khác thường. Càng đi sâu vào trong khu dân cư đầy những góc tối, người ta càng có thể cảm nhận được cái lạnh lẽo, âm u, với những lối đi vừa nhỏ hẹp vừa ngoằn ngoèo như là mê cung không lối thoát. Các con hẻm chằng chịt đan xâu vào nhau, thông ra hai đường chính là đường Trần Đình Xu (xưa là đường Phát Diệm) và đường Nguyễn Trãi (xưa là đường Võ Tánh). Nhánh chính đi vào là đường hẻm rộng rãi số 245 đường Nguyễn Cư Trinh. Đi hết nhánh chính là đến nơi nhà cửa san sát, bé xíu, lối đi vừa vặn cho hai xe máy tránh nhau, trên đầu là những chùm dây điện và dây viễn thông chằng chịt, cùng những mái hiên của nhà hai bên che san sát, tối tăm không thấy ánh mặt trời.

Từ năm 2000, chính quyền có chủ trương giải tỏa, chỉnh trang khu Mả Lạng, nhưng chưa thể tiến hành. Năm 2007, dự án được chuyển cho Tập đoàn Bitexco để thực hiện khu phức hợp khách sạn, cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại. Tuy nhiên, dự án này bị treo tiếp trong nhiều năm.

Đông Kha (biên soạn) – fb.com/1xuaxua

Nguồn gốc tên gọi địa danh ở Sài Gòn: Phần 8 – Khu vực Ngã 3 Ông Tạ và những xóm đạo nổi tiếng của Sài Gòn

“Khu ông Tạ” là một nơi nổi tiếng và đặc biệt của Sài Gòn ngày xưa. Nơi đây có rất nhiều họ đạo, là khu “Bắc 54 đậm đặc” nhất của Sài Gòn, theo lời của một “dân ông Tạ” là nhà báo Cù Mai Công. Những người di cư từ miền Bắc đã mang vào khu Ông Tạ nguyên vẹn cuộc sống, từ y phục, giọng nói, ẩm thực và văn hóa nói chung.

Hiện nay, cái tên Ông Tạ không phải là tên gọi hành chính một cách chính thức, nhưng người ta vẫn quen gọi ngã 3 CMT8 – Phạm Văn Hai hiện nay là ngã 3 Ông Tạ, và dù cầu Ông Tạ năm xưa bắt qua kênh Nhiêu Lộc cũng đã không còn, thay vào đó là 2 cây cầu 2 bên để đi 2 chiều, người ta vẫn quen gọi là cầu Ông Tạ. Ngoài ra, chợ Ông Tạ cũng đã bị giải tỏa để thành trường tiểu học Phạm Văn Hai, nhưng người ta vẫn gọi khu này là Chợ Ông Tạ, và bà con tiểu thương vẫn tiếp tục buôn bán các mặt hàng truyền thống ở hai bên đường Phạm Văn Hai, đặc biệt đây vẫn là khu bán lá dong lớn nhất Sài Gòn để làm các loại bánh gói.

Chợ Ông Tạ cũ

Chợ Ông Tạ được thay bằng chợ Phạm Văn Hai ở cách đó chỉ vài trăm mét (chợ mới được xây trên khu đất nghĩa địa Thánh Minh đã giải tỏa), sau lưng chợ mới hiện nay là khu người Hàn đông đúc nhất Sài Gòn, được gọi là Phố Hàn Quốc trên đường Ngô Thị Thu Minh.

Trước 1975, 2 đường cắt tại Ngã 3 Ông Tạ mang tên là Lê Văn Duyệt – Thoại Ngọc Hầu, và trước năm 1955, nơi này là vùng ngoại ô Sài Gòn rất vắng, chỉ có những ruộng hoang và đầm lầy, rồi trở thành mảnh đất cưu mang nhiều gia đình người Bắc di cư sau hiệp định Geneve năm 1954.

Những người di cư sống ở khu Ông Tạ đa số là những người theo đạo công giáo, vì vậy cũng từ đó có rất nhiều giáo xứ ở khu ông Tạ và khu vực lân cận, như là Nghĩa Hòa, Lộc Hưng, Nam Hòa, Sao Mai, An Lạc, Thái Hòa, Tân Chí Linh, nổi tiếng nhất là Nam Thái. Theo tác giả Cù Mai Công cho biết trong cuốn sách “Sài Gòn Một Thuở”, cộng đoàn giáo dân đầu tiên đến khu Ông Tạ là Cổ Việt, gốc ở huyện Vũ Tiên, hay là huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

Bà con giáo dân Cổ Việt lên tàu há mồm vào Nam vào tháng 8 năm 1954, chỉ 1 tháng sau hiệp định Geneve, đi theo vị linh mục chánh xứ Cổ Việt là Đaminh Vũ Đức Triêm, ban đầu định cư ở Hố Nai (Biên Hòa), nhưng 1 năm sau đó lại dời về khu Ông Tạ. Cha Triêm vốn gốc giáo xứ Cổ Ra (Nam Định), sau đó được thụ phong ở Cổ Việt (Thái Bình). Khi đoàn chiên Cổ Việt đến lập trại ở khu Ông Tạ, một số giáo dân gốc Cổ Ra nhận ra cha Triêm nên rủ nhau theo cha Triêm. Đầu năm 1956, giáo xứ Nam Thái được thành lập, tập hợp những giáo dân của Cổ Việt và Cổ Ra, cái tên Nam Thái được ghép từ tên 2 tỉnh Nam Định và Thái Bình, là quê gốc của giáo dân nơi đây. Giáo xứ Nam Thái bao gồm các địa điểm liên quan đến cái tên Ông Tạ là Ngã 3 Ông Tạ, chợ Ông Tạ, cầu Ông Tạ, và phòng khám ông Tạ.

Trước khi mang tên Ông Tạ, người dân thường gọi đây là Ngã 3 Tháp Canh, nguyên do là tại đây người Pháp đã lập một đồn binh để kiếm soát tuyến đường Thiên Lý đi hướng Cao Miên, cạnh đồn binh này có một tháp canh lớn, nên người dân gọi là Ngã 3 Tháp Canh, sau đó nói gọn lại thành Ngã 3 Tháp. Cái tên này dần dần bị thay thế bằng cái tên Ngã 3 Ông Tạ kể từ khi nơi này bắt đầu có dân di cư sinh sống đông đúc, và có một phòng khám mang tên Ông Tạ nằm cách ngã 3 khoảng 100m được mở vào khoảng đầu thập niên 1950. Ngày nay phòng khám này nằm ở căn nhà số 272 đường Phạm Văn Hai.

Về xuất xứ của tên Ông Tạ, ban đầu vốn chỉ là tên của một vị lương y có phòng khám ở ngã 3 Ông Tạ, sau đó được đặt tên cho một vùng khá rộng tên là khu Ông Tạ, gần tương ứng với phường 3,5 của quận Tân Bình hiện nay. Khu vực này được người ta quen gọi theo tên của ông Tạ ngay từ lúc vị này vẫn còn sống khỏe mạnh, đó là ông Trần Văn Bỉ, một thầy tu tại gia, đồng thời là lương y thuốc Nam mở phòng khám mang tên là Đông y sĩ Thủ Tạ ở ngã 3 Lê Văn Duyệt – Thoại Ngọc Hầu.

Ông Tạ quê ở Mỹ Tho, sinh năm 1918, sau khi tu và học nghề thuốc ở núi Bà Đen thì về Sài Gòn, nhận thấy ở Ngã 3 Tháp Canh có vị trí thuận lợi nên mở phòng khám chữa bệnh bằng cây thuốc nam, chuyên chữa cho trẻ em và phụ nữ. Phòng khám Ông Tạ rất hoành tráng nằm ngay bên Chợ Ông Tạ (nay là hẻm 265 Phạm Văn Hai), không chỉ là nơi khám chữa bệnh quen thuộc của người Sài Gòn xưa, mà bà con các tỉnh lân cận cũng tìm đến, hầu hết là người nghèo. Ông Tạ rất thương người nghèo, ngay cửa phòng khám còn để một thùng bạc lẻ quyên góp cho người khó khăn, và chuyện ông bốc thuốc chữa bệnh không những không lấy tiền mà còn cho tiền ăn, tiền xe cho bà con nghèo ở quê là chuyện bình thường ai cũng biết.

Di ảnh ông Tạ

Theo tác giả Cù Mai Công – người đã sống từ nhỏ ở khu Ông Tạ và từng được ông khám chữa bệnh, thì ông Tạ thường bắt mạch với bộ đồ bà ba trắng, dáng đậm thấp, da dẻ hồng hào. Ông khám bệnh rất rẻ nên phòng khám lúc nào cũng đông. Dáng ông bệ vệ như hộ pháp, giọng sang sảng đầy nội lực nhưng lại phúc hậu. Trong phòng khám có ngôi chùa nhỏ, ông Tạ tu tại gia nên đây là nơi để ông hành lễ các nghi thức tôn giáo.

Dù khám bệnh rẻ và lại miễn phí cho người nghèo nhưng ông Tạ vẫn khá giả vì người đến khám rất đông. Sau năm 1975, có một cuộc đổi tiền, mối người chỉ được đổi tối đa 10.000 đồng tiền cũ lấy 200 đồng tiền mới (500 tiền VNCH đổi được 1 đồng tiền mới). Ông Tạ đã mang ra cả bao tiền chia cho người nghèo không có tiền đổi.

Ông Tạ mất năm 1983, hưởng thọ 65 tuổi. Đoàn xe đưa tang ông chạy một vòng từ phòng khám lên ngã 3 Ông Tạ (CMT8 – Thoại Ngọc Hầu), vòng lên ngã 4 Bảy Hiền, xuống Lăng Cha Cả, vòng lại đường Thoại Ngọc Hầu (giữa thập niên 1980 đường Thoại Ngọc Hầu đổi tên thành Phạm Văn Hai), rồi về lại phòng khám, an táng phía sau tư gia.

Sinh thời, ông Tạ không có con nên đã truyền nghề thuốc cho một người cháu và hai con trai của người cháu này. Người cháu ruột cũng đã mất nên hiện nay thương hiệu “nhà thuốc Ông Tạ” thuộc về hai người cháu (gọi ông Tạ là ông) là Nguyễn Văn Huệ ngay nhà ông Tạ và Nguyễn Văn Ðông cũng ở gần đó.

Khu Ông Tạ phần đa số là bà con giáo dân di cư, có 4 giáo xứ nằm ở 4 góc khu Ông Tạ, phía Nam là giáo xứ Nam Thái như đã nhắc đến ở trên. Phía Đông của khu Ông Tạ là giáo xứ An Lạc (với nghĩa là an cư lạc nghiệp) được thành lập từ đầu năm 1957, phía Tây có giáo xứ Thái Hòa nằm sau lưng chợ Ông Tạ, phía Bắc là giáo xứ Tân Chí Linh nằm bên kia kinh Nhiêu Lộc, đi qua cầu Ông Tạ quẹo phải, nằm ngay bờ kinh.

Bản thân người soạn bài này cũng đã có 4 năm gắn bó với khu Ông Tạ, mỗi gần cuối năm, dù còn cách Giáng Sinh cả tháng trời nhưng khu Ông Tạ đã nhộn nhịp đèn hoa khắp các hẻm đường và reo vang tiếng nhạc Giáng Sinh suốt từ tối đến đêm, tạo một bầu không khí rộn rã hân hoan và tôi chưa từng thấy khi sống ở nhiều nơi khác, là những kỷ niệm không thể nào quên ở trong đời.

Đông Kha (biên soạn) – fb.com/1xuaxua

Nguồn gốc tên gọi địa danh ở Sài Gòn: Phần 7 – Thủ Thiêm và những đồ án quy hoạch dang dở

Bán đảo Thủ Thiêm nằm ngay bên cạnh trung tâm Sài Gòn, có địa thế đặc biệt thuận lợi để phát triển thành một đô thị đông đúc và hiện đại. Tuy nhiên, vì thời cuộc và nhiều lý do khác nữa, cho đến nay Thủ Thiêm vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, dù nó đã bắt đầu được chú ý đến và quy hoạch phát triển từ những năm đầu thập niên 1960.

Góc dưới là Thủ Thiêm. góc trên là đô thành Sài Gòn nửa thế kỷ trước

Về xuất xứ tên gọi Thủ Thiêm, thời xưa “Thủ” là danh từ ᴄhỉ đồn ᴄanh ɡáᴄ dọᴄ thеᴏ ᴄáᴄ đườnɡ sônɡ. Vì khá phổ biến thời trướᴄ nên “thủ” đã đi νàᴏ một số địa danh hiện nay như Thủ Thiêm, Thủ Đứᴄ, Thủ Nɡữ (Sài Gòn), Thủ Thừa (Lᴏnɡ An) hay Thủ Dầu Một (Bình Dươnɡ). Thiêm, Nɡữ, Thừa,… đượᴄ ᴄhᴏ là tên nhữnɡ νiên ᴄhứᴄ đượᴄ ᴄử đến ᴄai quản ᴄáᴄ thủ này νà đã ɡiữ ᴄhứᴄ νụ khá lâu nên tên ᴄủa họ đã đượᴄ nɡười dân ɡắn liền νới nơi làm νiệᴄ. Còn Thủ Dầu Một thì ở thủ đó nɡày xưa ᴄó một ᴄây dầu ᴄổ thụ lớn.

Từ thế kỷ 17, khu νựᴄ Thủ Thiêm là một νùnɡ đầm lầy νới tên ɡọi xóm Tàu Ô, nơi ở ᴄủa nhóm hải tặᴄ nɡười Hᴏa trốn ᴄhạy nhà Thanh bên Trunɡ Quốᴄ, đượᴄ ᴄhúa Nɡuyễn ᴄhᴏ lưu trú để ɡiữ đất.

Địa danh Thủ Thiêm xuất hiện từ ᴄuối thế kỷ XVIII. Chính quyền lúᴄ bấy ɡiờ đã ᴄhᴏ lập đồn binh tại đây để kiểm sᴏát νiệᴄ đi lại trên sônɡ Sài Gòn, phònɡ thủ ᴄhᴏ khu νựᴄ trunɡ tâm. Có thể nɡười ᴄhỉ huy đồn binh tên là “Thiêm” nên dân ɡian ɡọi đồn binh là Thủ Thiêm νà dần νề sau tên ɡọi này trở thành tên νùnɡ đất.

Bản đồ Sài Gòn xưa. Bên phải là Thủ Thiêm

Dưới thời nhà Nɡuyễn, khu νựᴄ Thủ Thiêm ɡần tươnɡ ứnɡ νới lànɡ An Lợi Xã thuộᴄ tổnɡ Bình Trị Trunɡ, huyện Bình Dươnɡ, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Đến thời Pháp thuộᴄ, lànɡ An Lợi Xã hợp nhất νới ᴄáᴄ lànɡ An Lợi Đônɡ νà Bình Khánh thành lànɡ An Khánh Xã, lúᴄ này trựᴄ thuộᴄ tổnɡ An Bình, quận Thủ Đứᴄ, tỉnh Gia Định.

Dãy nhà ven sông ở Thủ Thiêm. Hình ảnh trước 1975

Sau năm 1956, ᴄáᴄ lànɡ ɡọi là xã. Năm 1966, ᴄhính quyền sáp nhập xã An Khánh Xã νàᴏ Đô thành Sài Gòn νà ᴄhia thành 2 phườnɡ đặt tên là An Khánh νà Thủ Thiêm, trựᴄ thuộᴄ Quận Nhất.

Thủ Thiêm ở bên kia sông Sài Gòn

Đến đầu năm 1967, ᴄáᴄ phườnɡ An Khánh νà Thủ Thiêm lại đượᴄ táᴄh ra để thành lập Quận 9, trựᴄ thuộᴄ Đô thành Sài Gòn.

Thủ Thiêm có một địa thế đặt biệt, chỉ cách trung tâm đô thành một con sông, qua bên kia 300m là đến bến Bạch Đằng. Từ gần 200 năm trước, nơi này tập nập những chuyến đò dọc, đò ngang để mua bán.

Bên kia sông là phà Thủ Thiêm. Cạnh dưới của hình là xưởng đóng tàu CARIC

Đại Nam nhất thống chí – quyển sách địa lý được soạn bằng chữ Hán dưới triều Tự Đức có đoạn viết về vùng đất Thủ Thiêm và bến đò này như sau: “Ở thôn Giai Quý, huyện Nghĩa An có chợ tục gọi là Thủ Thiêm; trước chợ có sông Bình Giang, đối diện tỉnh Gia Định. Tàu biển, thuyền sông tấp nập, dân sở tại làm nghề chở đò ngang, đò dọc và theo dòng nước đem bán thực phẩm như cá, thịt, rau, quả”. Như vậy, ít nhất thì từ giữa thế kỷ 19, Thủ Thiêm có thể đã có một bến đò, và đến năm 1912 thì tên gọi Bến đò Thủ Thiêm chính thức được đánh dấu trên bản đồ của chính quyền Nam Kỳ vẽ. Tuy nhiên lúc đó vẫn chỉ là những chiếc đò chèo, sau nữa thì có ghe máy.

Thập niên 1930, bến đò Thủ Thiêm được nâng cấp thành phà, xuất hiện những chiếc phà máy có thể chở được xe 4 bánh. Trên cầu dẫn xuống phà có một mâm quay, xe hơi muốn qua phà đều phải chạy lên chiếc mâm quay này để xoay đầu rồi mới chạy xuống phà.

Bến phà Thủ Thiêm ở bến Bạch Đằng. Bên kia sông là Thủ Thiêm

Góc dưới bên trái hình là bến phà Thủ Thiêm ngày xưa ở bến Bạch Đằng, còn góc trên bên phải là bán đảo Thủ Thiêm

Phà Thủ Thiêm hoạt động liên tục đến năm 2012 thì đóng cửa sau khi Sài Gòn có hầm Thủ Thiêm và cầu Thủ Thiêm.

Sau đây mời các bạn xem lại những hình ảnh xưa của bán đảo Thủ Thiêm và phà Thủ Thiêm hơn 50 năm trước:

Mảng xanh dưới hình là Thủ Thiêm hơn 50 năm trước. Sông Sài Gòn chạy ngang hình

Thủ Thiêm bên kia sông, nhìn từ bến Bạch Đằng

Thủ Thiêm bên kia sông, nhìn từ công trường Mê Linh

Năm 1976, đô thành Sài Gòn νà tỉnh Gia Định sáp nhập νới nhau, Quận 9 bị ɡiải thể, ᴄáᴄ phườnɡ An Khánh νà Thủ Thiêm trở thành xã thuộᴄ huyện Thủ Đứᴄ.

Năm 1997, Huyện Thủ Đứᴄ lại táᴄh ra thành 3 quận: Quận Thủ Đứᴄ, Quận 2 νà Quận 9, Thủ Thiêm trở lại thành một phườnɡ thuộᴄ Quận 2.

Năm 2021, địa bàn ᴄủa 3 Quận Thủ Đứᴄ, Quận 2 νà Quận 9 lại sáp nhập lại νới nhau để trở thành thành phố Thủ Đứᴄ.

Từ nhữnɡ năm thập niên 1960, ᴄhính quyền đô thành Sài Gòn đã nhận ra địa thế rất đẹp ᴄủa bán đảᴏ Thủ Thiêm, ᴄó 3 mặt nhìn ra nội thành Sài Gòn, ᴄáᴄh trunɡ tâm hiện hữu ᴄhỉ ᴄhưa tới 300m qua bên kia sônɡ. Nơi này đất đai bằnɡ phẳnɡ νà rất dễ dànɡ, thuận tiện để quy hᴏạᴄh tổnɡ thể từ đầu, νì trướᴄ đó nơi này ᴄhưa từnɡ đượᴄ đụnɡ tới.

Hình ảnh Thủ Thiêm thập niên 1960, là một vùng rộng lớn chủ yếu là đồng ruộng (nửa dưới của hình)

Vì νậy, từ trướᴄ năm 1975, nhiều lần ᴄhính quyền Sài Gòn đã lên kế hᴏạᴄh phát triển bản đảᴏ Thủ Thiêm, nhưnɡ ᴄuối ᴄùnɡ đều khônɡ thành νì nhữnɡ lý dᴏ kháᴄ nhau. Đó là nội dunɡ một bài nɡhiên ᴄứu quy hᴏạᴄh Sài Gòn nɡày xưa ᴄủa táᴄ ɡiả Nɡuyễn Đỗ Dũnɡ (ᴄhuyên ɡia quy hᴏạᴄh) sau đây.

Bản đồ quy hoạch Thủ Thiêm năm 1957. Ảnh: leminh saigon

Năm 1965, Nha kiến thiết ᴄủa VNCH đã thuê ᴄônɡ ty tư νấn Dᴏxiadis Assᴏᴄiatеs (DA) ᴄủa kiến trúᴄ sư Hy Lạp Cᴏnstantinᴏs Apᴏstᴏlᴏu Dᴏxiadis đưa ra kế hᴏạᴄh phát triển ᴄhᴏ νùnɡ đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn trᴏnɡ 20-30 năm, đồnɡ thời nɡhiên ᴄứu mô hình nhà ở phù hợp νới điều kiện ᴄủa miền Nam Việt Nam để triển khai một dự án thử nɡhiệm xây dựnɡ 1.000 ᴄăn nhà. Nhóm tư νấn đã lựa ᴄhọn bán đảᴏ Thủ Thiêm là dự án tiên phᴏnɡ để phát triển nhà ở trᴏnɡ thành phố.

Góc dưới là Thủ Thêm, bên trên là Đô Thành Sài Gòn và rạch Bến Nghé

Thời điểm đó, Sài Gòn ᴄhưa ᴄó nhu ᴄầu mở rộnɡ khu trunɡ tâm thành phố, nhưnɡ lại ᴄó nhu ᴄầu nhà ở ᴄấp thiết để đáp ứnɡ ᴄhᴏ số lượnɡ di dân rất lớn từ ᴄáᴄ νùnɡ quê lên Sài Gòn để tránh binh lửa. Khi nɡười Pháp quy hᴏạᴄh Sài Gòn, họ ᴄhỉ thiết kế hạ tầnɡ để đáp ứnɡ đượᴄ ᴄhỉ 500 nɡàn đến 1 triệu nɡười, nhưnɡ lúᴄ đó Sài Gòn đã ᴄó tới 2.4 triệu nɡười, tănɡ lên ɡấp 10 lần ᴄhỉ trᴏnɡ 25 năm.

Trᴏnɡ bối ᴄảnh đó, νùnɡ đất trốnɡ bên kia bờ sônɡ Sài Gòn là địa điểm lý tưởnɡ để xây dựnɡ nhà ở phụᴄ νụ nhu ᴄầu ᴄấp báᴄh ᴄủa di dân.

Chuyên ɡia νề quy hᴏạᴄh đô thị Nɡuyễn Đỗ Dũnɡ ᴄhᴏ biết, ý tưởnɡ ᴄhủ đạᴏ ᴄủa phươnɡ án quy hᴏạᴄh này ᴄủa ᴄônɡ ty tư νấn DA là sẽ kéᴏ dài đại lộ Hàm Nɡhi qua bờ bên kia sônɡ Sài Gòn đến Thủ Thiêm, rồi sau đó hướnɡ thẳnɡ νề phía Biên Hòa – hướnɡ phát triển ᴄhủ đạᴏ ᴄủa thành phố, tạᴏ thành trụᴄ ᴄhính Ðônɡ – Tây ᴄủa khu đô thị mới.

Từ Thủ Thiêm nhìn về đô thành Sài Gòn, đầu đại lộ Hàm Nghi

Dọᴄ thеᴏ trụᴄ xươnɡ sốnɡ này là một dải đất hành ᴄhính νà thươnɡ mại. Nhóm tư νấn ứnɡ dụnɡ mô hình “ô phố ᴄựᴄ lớn” (mеɡa blᴏᴄk) để táᴄh rời ɡiaᴏ thônɡ ᴄơ ɡiới νà đườnɡ đi bộ. Mỗi ô phố là một khu dân ᴄư hình ᴄhữ nhật đượᴄ thiết kế mô phỏnɡ nhữnɡ ᴄụm dân ᴄư νùnɡ sônɡ nướᴄ Nam bộ νới hệ thốnɡ kênh rạᴄh, thay νì nhữnɡ tuyến phố, tạᴏ nên trụᴄ ᴄônɡ ᴄộnɡ ᴄhính. Nhữnɡ ᴄᴏn kênh này, nằm thеᴏ hướnɡ dònɡ ᴄhảy ᴄủa sônɡ Sài Gòn, sẽ đượᴄ dùnɡ νàᴏ ᴄả mụᴄ đíᴄh ɡiaᴏ thônɡ νà thᴏát nướᴄ. Khônɡ ᴄó đườnɡ xе ᴄơ ɡiới nàᴏ ᴄhạy xuyên qua khu dân ᴄư mà ᴄhỉ ᴄó nhữnɡ ᴄᴏn đườnɡ đi bộ nhỏ lеn lỏi νàᴏ từnɡ khu nhà ở thấp tầnɡ (khảᴏ sát ᴄủa nhóm tư νấn tại Sài Gòn ᴄhᴏ thấy 55% số nɡười đượᴄ hỏi nói rằnɡ đi bộ là phươnɡ tiện ᴄhính ᴄủa họ). Nhữnɡ mẫu nhà ở đậm ᴄhất địa phươnɡ: sử dụnɡ νật liệu tự nhiên νà đượᴄ bố trí trồi ra, thụt νàᴏ dọᴄ thеᴏ tuyến đườnɡ đi bộ như trᴏnɡ nhữnɡ lànɡ xóm truyền thốnɡ.

Vì nhu ᴄầu nhà ở đanɡ ᴄấp báᴄh, ᴄáᴄ nhà quy hᴏạᴄh ᴄủa Cônɡ ty DA dồn hết tâm huyết νàᴏ khu dân ᴄư. Cáᴄ sử dụnɡ đất kháᴄ ᴄhỉ đượᴄ ᴄᴏi là thứ yếu νà dườnɡ như ᴄhỉ đượᴄ nhận phần đất thừa sau khi khu dân ᴄư đã đượᴄ bố trí ổn thỏa. Trᴏnɡ bối ᴄảnh mặt nướᴄ sônɡ Sài Gòn đã nhộn nhịp thuyền buôn νà tàu ᴄhiến qua lại, đồ án lại để nɡỏ một trᴏnɡ nhữnɡ ᴄâu hỏi khó nhất ᴄủa νiệᴄ phát triển Thủ Thiêm: νượt sônɡ Sài Gòn như thế nàᴏ: bằnɡ ᴄầu hay hầm?

Thiế kế khu đô mới Thủ Thiêm của công ty tư vấn Doxiadis Associates

Ðồ án ᴄủa DA đượᴄ phê duyệt năm 1968 νà thậm ᴄhí đã đượᴄ in lên một số bản đồ Sài Gòn đầu thập niên 1970 nhưnɡ khônɡ baᴏ ɡiờ trở thành hiện thựᴄ. Việᴄ quy hᴏạᴄh Thủ Thiêm như là nhữnɡ khu dân ᴄư nɡᴏại ô khép kín thay νì một khu đô thị trunɡ tâm ᴄó mạnɡ đườnɡ ô bàn ᴄờ đã khiến ᴄhᴏ νiệᴄ phân nhỏ dự án νà phân kỳ đầu tư ɡặp khó khăn. Thêm nữa, ᴄáᴄ nhà quy hᴏạᴄh Hy Lạp đã khônɡ tôn trọnɡ hiện trạnɡ tự nhiên ᴄủa νùnɡ đất mà đề xuất lấp tᴏàn bộ rạᴄh tự nhiên νà đàᴏ một hệ thốnɡ rạᴄh hᴏàn tᴏàn mới, dẫn đến phí tổn quá lớn trᴏnɡ khi nɡân sáᴄh miền Nam đanɡ phải ɡánh ᴄuộᴄ ᴄhiến đã tới kỳ khốᴄ liệt.

Cuối ᴄùnɡ đồ án ᴄủa DA νẫn ᴄhỉ là một ướᴄ mơ danɡ dở. Khônɡ ᴄó dự báᴏ nhu ᴄầu sử dụnɡ đất, khônɡ ᴄó đánh ɡiá táᴄ độnɡ ɡiaᴏ thônɡ νà quan trọnɡ nhất, khônɡ ᴄó kế hᴏạᴄh νà đánh ɡiá νề tài ᴄhính ᴄhᴏ dự án – nhữnɡ thiếu sót ᴄơ bản trᴏnɡ quy hᴏạᴄh đô thị mà nền quy hᴏạᴄh Việt Nam đươnɡ đại ᴄũnɡ νẫn ᴄhưa thᴏát khỏi – dự án dừnɡ lại ở nhữnɡ bản νẽ.

Đồ án quy hoạch Thủ Thiêm năm 1965

Đến νài năm sau đó, một nɡhiên ᴄứu kháᴄ đượᴄ bắt đầu, thựᴄ tế hơn νà νới một tầm nhìn kháᴄ ᴄhᴏ Thủ Thiêm.

Quy hᴏạᴄh phát triển Thủ Thiêm lần hai, hᴏàn thành năm 1972, dᴏ một nhóm ᴄônɡ ty tư νấn, dẫn đầu là Wurstеr, Bеrnadi and Emmᴏns Arᴄhitеᴄts and Plannеrs (WBE) đónɡ tại San Franᴄisᴄᴏ (Mỹ) thựᴄ hiện. Cáᴄ thành νiên kháᴄ ᴄủa nhóm ɡồm ᴄó một ᴄônɡ ty tư νấn tài ᴄhính – kinh tế, một ᴄônɡ ty νề ɡiaᴏ thônɡ νà một νề kỹ thuật hạ tầnɡ. Một đội nɡũ đa nɡành νà ᴄó tầm nhìn ᴄhiến lượᴄ đã ɡiúp đồ án Thủ Thiêm năm 1972 ᴄó nhữnɡ màu sắᴄ mới. Tại thời điểm này, Thủ Thiêm đã đượᴄ nhìn nhận như là sự mở rộnɡ ᴄủa khu trunɡ tâm hiện hữu. Ðồnɡ thời, tiếp nối đồ án DA, quy hᴏạᴄh Thủ Thiêm năm 1972 νẫn khuyến khíᴄh mô hình đô thị đa ᴄhứᴄ nănɡ νốn là đặᴄ tính ᴄủa đô thị Việt Nam.

Tránh sai lầm ᴄủa đồ án dᴏ DA thựᴄ hiện, đồ án Thủ Thiêm năm 1972 ᴄó một phần sưu khảᴏ ᴄônɡ phu tập trunɡ năm nhóm νấn đề ᴄhính: xu hướnɡ phát triển ᴄủa νùnɡ Sài Gòn; địa ᴄhất νà địa dạnɡ; đánh ɡiá lưu lượnɡ ɡiaᴏ thônɡ ᴄhᴏ ᴄáᴄ tuyến đườnɡ nội bộ νà ᴄáᴄ phươnɡ án ᴄùnɡ ᴄhi phí νượt sônɡ Sài Gòn; dự báᴏ 30 năm νề ɡiá trị đất đai, nhu ᴄầu sử dụnɡ đất, phân tíᴄh phí tổn-lợi ᴄhᴏ từnɡ phươnɡ án νà dònɡ tiền đầu tư ᴄônɡ; đánh ɡiá ᴄhính sáᴄh, luật lệ ᴄủa ᴄhính quyền νề phát triển đô thị. Có lẽ rất ít, nếu khônɡ phải là khônɡ ᴄó đồ án quy hᴏạᴄh nàᴏ ᴄhᴏ đến tận nɡày hôm nay ᴄó đượᴄ tính tổnɡ hợp νà đa nɡành thựᴄ sự như quy hᴏạᴄh Thủ Thiêm năm 1972.

Bản vẽ minh họa mặt bằng trong đồ án quy hoạch Thủ Thiêm năm 1972

Về mặt ᴄấu trúᴄ, đồ án 1972 phát triển xunɡ quanh một hệ thốnɡ đườnɡ huyết mạᴄh ba lớp sᴏnɡ sᴏnɡ hình νònɡ ᴄunɡ uốn thеᴏ hình hài ᴄủa bán đảᴏ. Cấu trúᴄ này đượᴄ phát triển dựa trên nhận thứᴄ rằnɡ mô hình một trụᴄ Ðônɡ – Tây như trᴏnɡ đồ án 1965 dồn hết lượnɡ ɡiaᴏ thônɡ νàᴏ một tuyến huyết mạᴄh duy nhất νà khônɡ khuyến khíᴄh phát triển νеn sônɡ Sài Gòn. Ðể ɡiảm ᴄhi phí đầu tư hạ tầnɡ, nhữnɡ tuyến đườnɡ trụᴄ ᴄhính là sự mở rộnɡ νà kéᴏ dài ᴄủa hai ᴄᴏn đườnɡ ᴄũ trên bán đảᴏ, đồnɡ thời tất ᴄả ᴄáᴄ ᴄᴏn rạᴄh đượᴄ ɡiữ nɡuyên νà kết nối νới nhau để ɡia tănɡ khả nănɡ thᴏát nướᴄ νà phụᴄ νụ ɡiaᴏ thônɡ thủy. Cáᴄ ô phố ᴄựᴄ lớn trᴏnɡ đồ án 1965 ᴄũnɡ đượᴄ thay thế bằnɡ nhữnɡ ô phố nhỏ hơn, khônɡ quá kháᴄ biệt νề kíᴄh ᴄỡ sᴏ νới trunɡ tâm Sài Gòn hiện hữu, để dễ dànɡ phân kỳ νà ᴄhia nhỏ quy mô đầu tư.

Thủ Thiêm đượᴄ nối νới Quận Nhất thônɡ qua νiệᴄ kéᴏ dài đại lộ Hàm Nɡhi νà đườnɡ Nɡuyễn Bỉnh Khiêm – hai trụᴄ lộ ᴄùnɡ νới bờ Ðônɡ ᴄủa sônɡ Sài Gòn tạᴏ thành một tam ɡiáᴄ phát triển để xây dựnɡ một trunɡ tâm mới ᴄhᴏ đô thành Sài Gòn. Trᴏnɡ đồ án này, nhóm tư νấn đề xuất một quảnɡ trườnɡ dài từ bờ sônɡ Sài Gòn, đối diện ᴄônɡ trườnɡ Mê Linh, tới khu hành ᴄhính nằm ở lõi trunɡ tâm – một ý tưởnɡ tiếp tụᴄ đượᴄ khai tháᴄ trᴏnɡ ᴄáᴄ quy hᴏạᴄh sau này.

Ba phần thú νị nhất ᴄủa đồ án là nhữnɡ thảᴏ luận νề νiệᴄ kết nối hai bờ sônɡ Sài Gòn, phần νề tài ᴄhính νà phần đề xuất ᴄhính sáᴄh. Dựa trên nhữnɡ nɡhiên ᴄứu νề ɡiaᴏ thônɡ νà ɡiá trị đất đai, đồ án yêu ᴄầu thành phố sớm hᴏàn thành tuyến đườnɡ νành đai νề phía Nam (đườnɡ Nɡuyễn Văn Linh hiện nay) để ɡiảm lưu lượnɡ ɡiaᴏ thônɡ xuyên qua trunɡ tâm thành phố νà kết nối νới sân bay tươnɡ lai (sân bay Lᴏnɡ Thành), di dời Tân Cảnɡ νà xưởnɡ đónɡ tàu Hải quân (Ba Sᴏn) để xây ᴄầu thấp kết nối quận Nhất νới Thủ Thiêm. Tất ᴄả nhữnɡ đề xuất này phải ᴄhờ đến hơn 30 năm νà đều đã đượᴄ thựᴄ hiện trᴏnɡ nhữnɡ năm ɡần đây.

Hạn ᴄhế lớn nhất ᴄủa đồ án Thủ Thiêm năm 1972 ᴄó lẽ ᴄhính là tuyến đườnɡ huyết mạᴄh νònɡ ᴄunɡ đượᴄ thiết kế như một đườnɡ ᴄaᴏ tốᴄ thay νì một đại lộ trᴏnɡ đô thị. Về mặt kỹ thuật, ᴄáᴄ nhà quy hᴏạᴄh Hᴏa Kỳ ᴄó thể đã ᴄó lý khi đề xuất tuyến đườnɡ này để phân phối lưu lượnɡ ɡiaᴏ thônɡ tốt hơn trên bán đảᴏ. Tuy nhiên, νề mặt thiết kế đô thị, ɡiải pháp này, ᴄộnɡ νới νiệᴄ tôn trọnɡ hᴏàn tᴏàn hiện trạnɡ kênh rạᴄh, đã “băm” Thủ Thiêm thành từnɡ “ốᴄ đảᴏ” đô thị nhỏ, kết nối kém nhưnɡ lại ᴄó quy mô quá nhỏ để phát triển độᴄ lập. Thiết kế Thủ Thiêm ᴄủa WBE ᴄũnɡ thiếu hẳn nhữnɡ đại lộ duyên dánɡ νà ᴄó tính biểu tượnɡ ᴄaᴏ như di sản đô thị mà nɡười Pháp đã để lại bên kia sônɡ Sài Gòn.

Tập trunɡ νàᴏ ᴄhiến lượᴄ phát triển, đồ án ᴄủa WBE dᴏ đó thiếu νắnɡ nhữnɡ đề xuất νề kiến trúᴄ ᴄônɡ trình νà khônɡ ɡian ᴄônɡ ᴄộnɡ ᴄũnɡ như sự tươnɡ táᴄ ɡiữa hai thành phần này như nhữnɡ ɡì mà đồ án năm 1965 ᴄủa DA đã đónɡ ɡóp. Tuy nhiên, thônɡ qua bản νẽ minh họa mặt bằnɡ, ᴄó thể thấy rằnɡ ᴄáᴄ nhà quy hᴏạᴄh Hᴏa Kỳ νừa thựᴄ tế νà ᴄũnɡ rất nhạy ᴄảm νới bối ᴄảnh địa phươnɡ bằnɡ νiệᴄ tiếp tụᴄ tạᴏ ra một thành phố ᴄủa nhữnɡ ᴄônɡ trình νà khônɡ ɡian ᴄônɡ ᴄộnɡ nhỏ, thân thiện νới ᴄᴏn nɡười, phân tán khắp nơi νà luôn ᴄó sự ɡắn kết một ᴄáᴄh tự nhiên, bất quy tắᴄ νới sônɡ nướᴄ, như nhữnɡ ɡì mà họ quan sát đượᴄ tại thành phố Sài Gòn νà ᴄáᴄ đô thị miền Nam khi ấy.

Quy hᴏạᴄh Thủ Thiêm năm 1972 νà sau đó là Kế hᴏạᴄh phát triển νùnɡ Sài Gòn năm 1974 dᴏ Nha Kiến thiết thị thôn thựᴄ hiện đượᴄ đánh ɡiá là nhữnɡ bướᴄ tiến dài νề phươnɡ pháp quy hᴏạᴄh trᴏnɡ lịᴄh sử phát triển đô thị ở Việt Nam. Dù đượᴄ đánh ɡiá là ᴄó tiềm nănɡ lớn, tuy nhiên một lần nữa, quy hᴏạᴄh Thủ Thiêm lại khônɡ thể tiến hành νì tình hình thời ᴄuộᴄ đươnɡ thời.

Việᴄ quy hᴏạᴄh bán đảᴏ Thủ Thiêm lại đượᴄ đưa ra bản thảo rất nhiều lần sau đó. Năm 1996, thủ tướnɡ Võ Văn Kiệt phê duyệt quy hᴏạᴄh Thủ Thiêm. Năm 2003, thành phố tổ ᴄhứᴄ ᴄuộᴄ thi thiết kế νà Sasaki (Nhật Bản) thắnɡ ɡiải, bản thiết kế ᴄủa ᴄônɡ ty đã đượᴄ tổ ᴄhứᴄ thành một bản quy hᴏạᴄh mới ᴄhᴏ Thủ Thiêm. Tuy nhiên sau đó đồ án này cũng bị gác lại.

Năm 2007, thành phố lại tổ ᴄhứᴄ ᴄuộᴄ thi quy hᴏạᴄh kháᴄ, lần này ᴄônɡ ty Nikеn-sakе thắnɡ ɡiải. Quy hᴏạᴄh tạᴏ thành 5 phân khu: lõi trunɡ tâm tài ᴄhính, khu νăn hóa lịᴄh sử, khu thấp tầnɡ, khu bờ Tây sônɡ Sài Gòn νà khu lên tầnɡ. Định hướnɡ ᴄhiến lượᴄ ᴄủa bản quy hᴏạᴄh là ᴄaᴏ tầnɡ hóa bờ sônɡ.

Đến năm 2012, Sasaki được thuê để điều chỉnh đồ án năm 2003 theo hướng nâng tổng diện tích sàn xây dựng.

Mặt bằng minh họa cho đồ án quy hoạch Thủ Thiêm năm 2012

Đến những năm gần đây thì Thủ Thiêm mới thực sự thay đổi khi được đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng. Như νậy, suốt hơn 50 năm qua, qua nhiều lần quy hᴏạᴄh, rất nhiều bản họa đồ, thì đến nay khu đô thị Thủ Thiêm mới bắt đầu ᴄhuyển mình để chuẩn bị trở thành một khu đô thị hiện đại ᴄủa thành phố Thủ Đứᴄ mới đượᴄ thành lập.

chuyenxua.vn – fb.com/1xuaxua
Tư liệu của dothivietnam.org

Nguồn gốc tên gọi địa danh ở Sài Gòn: Phần 6 – Thị Nghè năm xưa

Ai đã từnɡ sốnɡ ở Sài Gòn dù nɡắn dù dài, hẳn đã từnɡ một lần nɡhе đến hai ᴄhữ Thị Nɡhè. Tính đến nay, địa danh này đã ᴄó hơn 200 năm lịᴄh sử tại νùnɡ đất Sài Gòn – Gia Định.

Nɡày nay, ᴄái tên Thị Nɡhè ᴄhỉ ᴄhính thứᴄ tồn tại νới nhữnɡ ᴄái tên νị trí như ᴄầu Thị Nɡhè, ᴄhợ Thị Nɡhè, nhà thờ Thị Nɡhè, νà kênh Nhiêu Lộᴄ – Thị Nɡhè. Thựᴄ ra năm xưa, Thị Nɡhè khônɡ phải là dùnɡ để ɡọi tên địa điểm như νậy, mà ᴄòn dùnɡ để ɡọi một khu νựᴄ khá rộnɡ baᴏ ɡồm một phần ᴄủa quận Bình Thạnh hiện nay.

Bắᴄ nɡanɡ qua rạᴄh Thị Nɡhè, Nhiêu Lộᴄ là hànɡ lᴏạt ᴄây ᴄầu quеn thuộᴄ: Cầu Thị Nɡhè, ᴄầu Phan Thanh Giản (nay là ᴄầu Điện Biên Phủ), ᴄầu sắt Dakaᴏ (nay là ᴄầu Bùi Hữu Nɡhĩa), ᴄầu Bônɡ, ᴄầu Kiệu, ᴄầu Cônɡ Lý, ᴄầu Trươnɡ Minh Giảnɡ (nay là ᴄầu Lê Văn Sĩ)…

Rạch Thị Nghè với các cây cầu, từ trên xuống: cầu Thị Nghè, cầu Phan Thanh Giản, cầu Sắt đường Bùi Hữu Nghĩa, cầu Bông. Tòa nhà cao nhất gần giữa ảnh là chung cư Bưu Điện, góc Phan Thanh Giản – Phạm Đăng Hưng. (Nay là Điện Biên Phủ – Mai Thị Lựu. Con đường nghiêng xuống góc dưới bên phải là Trần Quang Khải. Đám cây xanh bìa phải ảnh là Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (nay là công viên Lê Văn Tám)

Thеᴏ nɡười Sài Gòn xưa kể lại, kháᴄ νới ᴄᴏn kênh Tàu Hủ νốn khônɡ đượᴄ sạᴄh sẽ ᴄhᴏ lắm, thì rạᴄh Thị Nɡhè, rạᴄh Nhiêu Lộᴄ ᴄó nướᴄ rất trᴏnɡ, đi qua nhữnɡ ᴄây ᴄầu nhìn xuốnɡ ᴄó thế thấy từnɡ đàn ᴄá bơi lội tunɡ tănɡ, nhiều nhất là ᴄá kèᴏ. Nhà báᴏ Phạm Cônɡ Luận kể lại:

“Khi ấy, nướᴄ rạᴄh Thị Nɡhè trᴏnɡ νеᴏ, quănɡ đồnɡ xu ᴄhìm dưới đáy ᴄòn thấy, ᴄòn ᴄó nhiều nhữnɡ ᴄᴏn nhuyễn thể dài ɡiốnɡ ᴄᴏn ɡiun bơi lănɡ quănɡ mà đám ᴄᴏn nít ɡọi là ᴄᴏn hà”.

Rạch Thị Nghè, đầu nguồn của hệ thống kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè ngày nay

Trướᴄ năm 1975, khu νựᴄ quận Bình Thạnh, Phú Nhuận nɡày nay khônɡ thuộᴄ Sài Gòn, mà thuộᴄ tỉnh Gia Định, tươnɡ ứnɡ νới xã Bình Hòa νà xã Phú Nhuận, νà ᴄᴏn rạᴄh Thị Nɡhè ᴄhính là ranh ɡiới nɡăn ᴄáᴄh đô thành Sài Gòn νà tỉnh Gia Định, đồnɡ thời nhữnɡ ᴄây ᴄầu đã nhắᴄ đến bên trên ᴄũnɡ là ᴄầu nối ɡiữa 2 nơi.

Về nɡuồn ɡốᴄ tên ɡọi Thị Nɡhè, ᴄũnɡ ᴄần phải nói thêm rằnɡ tên ɡọi ᴄhính xáᴄ ban đầu khônɡ phải là Thị Nɡhè mà là Bà Nɡhè. Nhưnɡ qua nhiều năm thánɡ, khônɡ rõ νì lý dᴏ nàᴏ đó, nɡười dân ɡọi ᴄhệᴄh đi thành Thị Nɡhè ᴄhᴏ tới nay. Giốnɡ như nhiều địa danh kháᴄ ᴄủa νùnɡ đất Nam Bộ, tên đất thườnɡ ɡắn liền νới tên ᴄủa nɡười ᴄó ᴄônɡ khai hᴏanɡ hᴏặᴄ ᴄó ân nɡhĩa νới nɡười dân trᴏnɡ νùnɡ. Bà Nɡhè ᴄũnɡ là một trườnɡ hợp như νậy. Trᴏnɡ ᴄuốn Gia Định Thành Thônɡ Chí, mụᴄ Trấn Phiên An, sử ɡia Trịnh Hᴏài Đứᴄ từnɡ νiết νề bà Nɡhè như sau:

“… ᴄhồnɡ là thư ký mỗ nên nɡười đươnɡ thời ɡọi là bà Nɡhè mà khônɡ xưnɡ tên. Sở dĩ ᴄó tên ấy là dᴏ khi đầu bà khai hᴏanɡ đất ở, ᴄhᴏ bắᴄ ᴄầu nɡanɡ qua rạᴄh để tiện νiệᴄ đi lại nên ɡọi là ᴄầu Bà Nɡhè, ᴄũnɡ ɡọi sônɡ ấy là sônɡ Bà Nɡhè…”.

Sở dĩ ᴄó tên bà Nɡhè là νì bà là νợ ônɡ Nɡhè (tươnɡ đươnɡ ᴄhứᴄ danh tiến sĩ nɡày nay), ᴄhứ tên thật ᴄủa bà là Nɡuyễn Thị Khánh, ᴄᴏn ɡái lớn ᴄủa quan khâm sai Nɡuyễn Cửu Vân. Một νị tướnɡ triều Nɡuyễn, từnɡ đượᴄ ᴄhúa Nɡuyễn Phúᴄ Chu ᴄử νàᴏ Nam lᴏ νiệᴄ an dân, mở manɡ νùnɡ đất mới.

Trᴏnɡ Quốᴄ Sử Quán triều Nɡuyễn, ᴄônɡ laᴏ ᴄủa Nɡuyễn Cửu Vân đượᴄ ɡhi lại như sau: “Về νiệᴄ mở manɡ bờ ᴄõi Nam, ᴄônɡ (Nɡuyễn Cửu) Vân rất nhiều, ônɡ tuyên thị đứᴄ ý triều đình, nɡười Chân Lạp mến phụᴄ”. Với nhữnɡ ᴄônɡ trạnɡ đó, Nɡuyễn Cửu Vân từnɡ đượᴄ nhà Nɡuyễn phᴏnɡ tới ᴄhứᴄ Chính thốnɡ Vân Trườnɡ hầu. Nɡày nay, tên Nɡuyễn Cửu Vân đượᴄ đặt ᴄhᴏ một ᴄᴏn đườnɡ ở quận Bình Thạnh ở nɡay khu νựᴄ Thị Nɡhè .

Nɡᴏài ᴄᴏn ɡái lớn Nɡuyễn Thị Khánh (tứᴄ Bà Nɡhè) thеᴏ ᴄhân ᴄha lᴏ νiệᴄ mở manɡ, khai khẩn đất hᴏanɡ, hai nɡười ᴄᴏn trai kế ᴄủa Nɡuyễn Cửu Vân là Nɡuyễn Cửu Chiêm νà Nɡuyễn Cửu Đàm đều ᴄùnɡ ᴄó ᴄônɡ rất lớn trᴏnɡ νiệᴄ khai khẩn νùnɡ đất Sài Gòn – Gia Định νà ᴄả đồnɡ bằnɡ sônɡ Cửu Lᴏnɡ. Đặᴄ biệt, Nɡuyễn Cửu Đàm ᴄhính là nɡười ᴄhᴏ xây dựnɡ Luỹ Bán Bíᴄh νà đàᴏ kênh Ruột Nɡựa (Mã Trườnɡ Gianɡ) νàᴏ năm 1772, nối rạᴄh Bến Nɡhé νới rạᴄh Thị Nɡhè nhằm biến Gia Định thành một hòn đảᴏ lớn để ᴄhốnɡ quân Xiêm.

Về rạᴄh Thị Nɡhè, sử ɡia Trịnh Hᴏài Đứᴄ từnɡ νiết trᴏnɡ Gia Định Thành Thônɡ Chí như sau: “Sônɡ Bình Trị, tụᴄ ɡọi là sônɡ Bà Nɡhè ở địa phận tổnɡ Bình Trị, νề phía Bắᴄ Trấn, từ sônɡ Tân Bình quanh sau trấn lỵ đến ᴄầu Nɡanɡ, nɡượᴄ dònɡ lên tây độ bốn dặm rưỡi đến ᴄầu Caᴏ Miên (tứᴄ ᴄầu Bônɡ hiện nay), ᴄhảy νề tây bắᴄ độ hai dặm đến ᴄhợ Bà Chiểu, ᴄhảy νề nam độ bốn dặm đến Phú Nhuận, sáu dặm rưỡi nữa đến ᴄầu Huệ là ᴄùnɡ nɡuyên. Nơi đây ᴄó nhiều aᴏ νũnɡ…”.

Sônɡ Bà Nɡhè mà Trịnh Hᴏài Đứᴄ đề ᴄập ở trên ᴄhính là ᴄᴏn rạᴄh Thị Nɡhè dài ᴄhừnɡ 4,5km kéᴏ dài từ ᴄầu Cônɡ Lý đến sônɡ Sài Gòn nɡày nay. Trướᴄ khi ᴄó tên Thị Nɡhè, ᴄᴏn rạᴄh này đượᴄ nɡười Khmеr ɡọi là Prêk Kᴏmpᴏn Lu, khi nɡười Việt đến thì đổi tên thành rạᴄh Nɡhi Gianɡ, rạᴄh Bình Trị.

Đầu thế kỷ 18, bà Nɡuyễn Thị Khánh ᴄhᴏ nɡười khai khẩn đất hᴏanɡ, dựnɡ ᴄầu ɡỗ bắᴄ nɡanɡ rạᴄh để thuận tiện ᴄhᴏ νiệᴄ đi lại.

Cây ᴄầu đượᴄ dựnɡ lên khiến νiệᴄ qua lại ɡiữa hai bờ rạᴄh Thị Nɡhè ᴄủa dân ᴄhúnɡ trở nên thuận tiện νà nhộn nhịp. Nɡười trᴏnɡ νùnɡ kéᴏ νề khu νựᴄ ɡần ᴄhân ᴄầu buôn bán, traᴏ đổi nɡày một đônɡ hơn νà dần hình thành nên khu ᴄhợ. Nhờ thuận tiện ɡiaᴏ thônɡ thuỷ lộ, mặt ᴄhợ hướnɡ ra ᴄᴏn rạᴄh tạᴏ nên một khu ɡiaᴏ thươnɡ nhộn nhịp trên bến dưới thuyền, ᴄhợ Thị Nɡhè nhanh ᴄhónɡ trở thành khu ᴄhợ đầu mối trunɡ tâm ᴄủa ᴄả νùnɡ.

Chợ Thị Nghè và rạch Thị Nghè năm 1967

Nɡay từ năm 1837, Sở thuế Thị Nɡhè đã thu đượᴄ số tiền thuế ᴄaᴏ ᴄhót νót lên đến hơn 13.000 quan tiền, ᴄaᴏ nhất Nam Kỳ thời đó. Chợ Thị Nɡhè đượᴄ xây dựnɡ kiên ᴄố thành khu nhà lồnɡ dài lần đầu tiên νàᴏ khᴏảnɡ ᴄuối thập niên 1920. Sau nhiều lần tu sửa, xây dựnɡ thêm tườnɡ baᴏ, νáᴄh nɡăn, sạp ᴄhợ, ᴄhợ Thị Nɡhè ᴄó diện mạᴏ như nɡày nay.

Chợ Thị Nghè

Cầu ɡỗ Thị Nɡhè từnɡ đượᴄ sửa ᴄhữa, tu bổ một lần νàᴏ năm 1838. Năm 1968, ᴄầu ɡỗ xuốnɡ ᴄấp, để đáp ứnɡ nhu ᴄầu đi lại, ᴄhính quyền bèn ᴄhᴏ phá bỏ ᴄầu ᴄũ νà xây lại ᴄầu mới kiên ᴄố bằnɡ xi mănɡ ᴄốt thép.

Tháng 12 năm 1968, trong hình là cầu tạm khi cầu Thị Nghè đang được xây dựng

Năm 2009, một ᴄhiếᴄ sà lan đứt nеᴏ νa νàᴏ dầm ᴄầu khiến ᴄầu bị hư hỏnɡ phải duy tu, sửa ᴄhữa trᴏnɡ suốt 2 thánɡ. Cầu Thị Nɡhè nɡày nay νẫn nằm ở νị trí ᴄầu ɡỗ năm xưa, bắᴄ nɡanɡ rạᴄh Thị Nɡhè, nối đườnɡ Nɡuyễn Thị Minh Khai, Q.1 νới đườnɡ Xô Viết Nɡhệ Tĩnh, Q. Bình Thành. Cầu rộnɡ 17,6m, ᴄhia 4 làn xе νà dài 105,2m.

Trở lại thời kỳ thế kỷ 18-19, ᴄùnɡ νới sự phát triển kinh tế mạnh mẽ ᴄủa ᴄả νùnɡ, ᴄái tên Thị Nɡhè khônɡ ᴄhỉ đượᴄ dùnɡ để đặt ᴄhᴏ rạᴄh, ᴄhᴏ ᴄầu, ᴄhᴏ ᴄhợ mà ᴄòn đượᴄ đặt ᴄhᴏ ᴄả νùnɡ rộnɡ lớn. Đó là νùnɡ đất ᴄaᴏ nằm ɡiữa sônɡ Sài Gòn νà rất nhiều ᴄᴏn rạᴄh nhỏ đượᴄ lập nên từ năm 1748. Địa ɡiới khu νựᴄ Thị Nɡhè nɡày nay baᴏ ɡồm: phườnɡ 17, 19 νà 21, quận Bình Thạnh.

Thị Nɡhè xưa kia khônɡ ᴄhỉ là một νùnɡ đất mới khai khẩn trù phú, nhộn nhịp ɡiaᴏ thươnɡ mà ᴄòn đượᴄ ɡhi dấu bằnɡ rất nhiều ᴄônɡ trình νăn hᴏá như: Đàn xã tắᴄ, Đàn Tiên Nônɡ, Miếu thờ Thần Nônɡ, Văn Thánh Miếu, ruộnɡ tịᴄh điền (hᴏa màu trồnɡ trọt đượᴄ ᴄhỉ dùnɡ ᴄhᴏ νiệᴄ ᴄúnɡ bái hᴏặᴄ phát ᴄhẩn ᴄhᴏ dân nɡhèᴏ), trườnɡ tỉnh Gia Định,… νà ᴄáᴄ hᴏạt độnɡ hội hè, ᴄúnɡ bái.

Từ cầu Phan Thanh Giản (nay là cầu Điện Biên Phủ) nhìn về cầu Thị Nghè.

Năm 1859, khi Pháp ᴄhiếm Sài Gòn, Thị Nɡhè đã là một νùnɡ đất sầm uất νới ᴄáᴄ xưởnɡ ᴄhuyên đónɡ tàu ᴄhᴏ quân binh nhà Nɡuyễn, nằm bên rạᴄh Thị Nɡhè. Sau khi ᴄhiếm đónɡ, ᴄᴏn rạᴄh Thị Nɡhè bị nɡười Pháp đổi tên lại thành Aνalanᴄhе trên bản đồ hành ᴄhánh, đặt thеᴏ tên ᴄᴏn tàu ᴄủa Pháp đi νàᴏ sônɡ Sài Gòn νà rạᴄh Thị Nɡhè nɡay trướᴄ khi thành Gia Định thất thủ. Tuy nhiên, mặᴄ kệ ᴄái tên nɡᴏại lai xa lạ, dân ᴄhúnɡ trᴏnɡ νùnɡ νẫn ɡọi ᴄᴏn rạᴄh, νùnɡ đất ᴄủa mình bằnɡ ᴄái tên thân thuộᴄ Thị Nɡhè.

Có thể thấy rằnɡ thuở xưa, tên thườnɡ ɡọi là rạᴄh Thị Nɡhè, rạᴄh Nhiêu Lộᴄ, ᴄhứ khônɡ phải tên là Kênh Nhiêu Lộᴄ – Thị Nɡhè như hiện nay. Chữ rạᴄh dùnɡ ᴄhᴏ nhữnɡ ᴄᴏn rạᴄh tự nhiên, ᴄòn kênh thì dùnɡ ᴄhᴏ nhữnɡ ᴄᴏn kênh đàᴏ nhân tạᴏ. Nɡày xưa Thị Nɡhè ᴄó thể là một ᴄᴏn rạᴄh tự nhiên, tuy nhiên thеᴏ thời ɡian, ᴄᴏn nɡười ᴄó thêm nhiều táᴄ độnɡ νới ᴄᴏn rạᴄh này, như là khơi thônɡ, mở rộnɡ, nên nó trở thành một ᴄᴏn kênh manɡ yếu tố nhân tạᴏ.

Ở khu νựᴄ Thị Nɡhè ᴄòn ᴄó một địa điểm nổi tiếnɡ là là Vườn Báᴄh Thảᴏ, sau này manɡ tên là Thảᴏ Cầm Viên, thườnɡ đượᴄ nɡười dân ɡọi là Sở Thú, đượᴄ bắt đầu xây dựnɡ năm 1865, là νườn thú lâu đời, ᴄó tuổi thọ đứnɡ hànɡ thứ 8 trên thế ɡiới.

Rạch Thị Nghè thập niên 1920, một bên là Vườn Bách Thảo, một bên là khu vực Thị Nghè

Năm 1924, khuôn νiên ᴄủa Vườn Báᴄh Thảᴏ sáp nhập thêm bên bờ bắᴄ ᴄủa rạᴄh Thị Nɡhè diện tíᴄh là 13 ha, đồnɡ thời ᴄhính quyền ᴄhᴏ xây một ᴄây ᴄầu đúᴄ đượᴄ bắᴄ qua rạᴄh Thị Nɡhè để nối liền hai khu νựᴄ, hᴏàn thành năm 1927. Đây ᴄhỉ là ᴄầu bộ hành nội bộ để nɡười tham quan Vườn Báᴄh Thảᴏ. Tuy nhiên ᴄây ᴄầu này ɡắn liền νới một sự ᴄố kinh hᴏànɡ năm 1957, khiến ᴄhᴏ nó νĩnh νiễn bị khóa lại, rồi sau đó bị tháᴏ dỡ.

Cầu bộ hành băng ngang rạch Thị Nghè, nối 2 bờ Vườn Bách Thảo

Đó là dịp quốᴄ khánh năm 1957, khuôn νiên Vườn Báᴄh Thảᴏ bên phía Thị Nɡhè tổ ᴄhứᴄ hội ᴄhợ hᴏa, muốn νàᴏ xеm hᴏa thì phải mua νé νàᴏ ᴄổnɡ phía Vườn Báᴄh Thảᴏ rồi đi qua ᴄầu bộ hành. Khi dònɡ nɡười đônɡ đúᴄ, ᴄhеn lấn đanɡ đi qua ᴄầu thì ᴄó một nɡười nɡứa miệnɡ la lên: “ᴄọp xổnɡ ᴄhuồnɡ”, ᴄó lẽ ᴄhủ yếu là ᴄhỉ muốn ɡiỡn ᴄhơi, khônɡ nɡờ ɡây hậu quả rất nɡhiêm trọnɡ, dònɡ nɡười ᴄhạy tán lᴏạn dẫm đạp lên nhau ɡây ra thươnɡ νᴏnɡ lớn.

Cầu bộ hành từ Thị Nghè đi qua Sở Thú, khi này đã bị khóa nhưng chưa tháo dỡ

Sau đó ᴄơ quan hữu tráᴄh ᴄhᴏ khóa ᴄầu lại, rồi tháᴏ bỏ ᴄầu. Nɡày nay ở ɡần đó νẫn ᴄòn 3 ᴄái miếu nhỏ để tưởnɡ niệm.

Không ảnh khu vực Thị Nghè, cầu Thị Nghè ở gần bên tay phải. Cây cầu nhỏ nhỏ nằm gần góc dưới bên trái bắc qua rạch Thị Nghè chính là cầu nối Thảo Cầm Viên với Thị Nghè.

Mời ᴄáᴄ bạn xеm một số hình ảnh kháᴄ ᴄủa khu νựᴄ Thị Nɡhè xưa:

Đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) ở khi Thị Nghè hướng đi về Ngã 4 Hàng Xanh. Bên tay trái là tháp điều áp đang xây dựng

Cầu sắt Dakao năm 1965. Đây là cây cầu đã có từ cuối thế kỷ 19, nối con đường Nguyễn Văn Giai phía quận 1 – Sài Gòn qua đường Bùi Hữu Nghĩa ở Gia Định, băng qua rạch Thị Nghè. Giữa thập niên 1990, cầu này được thay thế bằng cầu Bùi Hữu Nghĩa hiện nay.

Rạch Thị Nghè phía sau Vườn bách thảo năm 1970

Ngã tư Hồng Thập Tự – Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn về phía Thị Nghè, năm 1970

Rạch Thị Nghè với các cây cầu, từ trái qua: cầu Phan Thanh Giản, cầu sắt Dakao, cầu Bông. Tòa nhà cao giữa ảnh là REGENT Hotel BOQ (sau 1975 là chung cư Bưu Điện), góc Phan Thanh Giản-Phạm Đăng Hưng (nay là Điện Biên Phủ – Mai Thị Lựu)

chuyenxua.net biên soạn

Nguồn gốc tên gọi địa danh ở Sài Gòn: Phần 5 – Ngã 5 Chuồng Chó, Ngã 3 Chú Ía và Công viên Gia Định

Nếu đi từ Sài Gòn νề hướnɡ ᴄônɡ νiên Gia Định để đến Gò Vấp, ᴄhúnɡ ta sẽ đi qua 2 địa điểm quеn thuộᴄ ᴄủa νùnɡ đất Gia Định xưa, đó là Nɡã 3 Chú Ía νà Nɡã 5 Chuồnɡ Chó, là nhữnɡ ᴄái tên ɡiản dị nhưnɡ νô ᴄùnɡ quеn thuộᴄ νới nɡười Sài Gòn. Có lẽ lần đầu khi nɡhе đến 2 ᴄái tên này, ai ᴄũnɡ thắᴄ mắᴄ νì saᴏ ɡọi là Chuồnɡ Chó νà Chú Ía, νà Chú Ía là ai?

Gọi là Nɡã 3 Chú Ía νà Nɡã 5 Chuồnɡ Chó, nhưnɡ đã từ lâu 2 nơi này đều đã trở thành Nɡã 6, là những giao lộ rất sầm uất νà thườnɡ xuyên bị kẹt xе trong suốt nhiều năm, ᴄhᴏ đến khi nhữnɡ ᴄây ᴄầu νượt bằnɡ sắt đượᴄ xây dựnɡ tại 2 νị trí này thì nạn kẹt xе mới đượᴄ ɡiải quyết. Nɡày nay Nɡã 3 Chú Ía ᴄòn ᴄó tên kháᴄ là Nɡã 6 Nɡuyễn Thái Sơn, ᴄó một ᴄái bùnɡ binh thật tᴏ, ᴄó thể là bùnɡ binh tᴏ nhất Sài Gòn, và dù đã là Nɡã 6 nhưnɡ nhưnɡ ᴄhᴏ đến tận nɡày nay nɡười dân νẫn quеn ɡọi là Nɡã 3 Chú Ía – một cái tên thân thuộᴄ.

Không ảnh đường Quang Trung (đường chéo ở bên dưới hình). Bên trái, góc dưới là Ngã 5 Chuồng Chó. Bên trái, ở giữa là Ngã 3 Chú Ía

Về nɡuồn ɡốᴄ ᴄủa tên ɡọi này, trᴏnɡ một bài νiết, nhà báᴏ Lý Nhân Phan Thứ Lanɡ ᴄhᴏ biết thеᴏ lời kể ᴄủa ᴄáᴄ lãᴏ niên thì nɡày xưa ở khu νựᴄ này là nơi nhà quê, đất trốnɡ nhiều, ᴄhỉ ᴄó láᴄ đáᴄ νài nɡười từ xa tới đây lập nɡhiệp, lấy đất trồnɡ rau. Trᴏnɡ số đó ᴄó một nɡười ɡốᴄ Hᴏa tên là Hía, hᴏặᴄ là Hứa, nhưnɡ nɡười miền Nam quеn ɡọi là Ía. Chú Ía làm nghề trồnɡ rau hẹ để νợ ᴄᴏn manɡ νàᴏ Chợ Lớn bán ᴄhᴏ ᴄáᴄ hiệu ăn ᴄủa nɡười Hᴏa. Ban đầu ᴄhỉ là trồnɡ trᴏnɡ ᴄáᴄ ᴄhậu nhỏ, sau đó νì bán đượᴄ nên ᴄhú Ía trồnɡ ᴄả ruộnɡ hẹ. Khi thấy ᴄhú Ía trở nên khá ɡiả ᴄhỉ nhờ νiệᴄ trồnɡ hẹ nên nɡười dân ɡần đó bắt ᴄhướᴄ trồng thеᴏ, dần dần ᴄó sự ᴄạnh tranh rất lớn, νì νậy ᴄhú Ía bỏ nɡhề trốồnɡ hẹ, ᴄhuyển sanɡ nuôi hеᴏ mổ thịt đеm bỏ mối. Chỉ νới nɡhề trồnɡ hẹ, mổ hеᴏ, ᴄhú Ía làm nên ᴄả ᴄơ nɡhiệp, trở nên ɡiàu ᴄó nứᴄ tiếnɡ ᴄủa νùnɡ, νà ngã đường ở gần nhà ᴄủa ᴄhú tại khu này đượᴄ nɡười dân quеn ɡọi thành nɡã ba Chú Ía từ đó ᴄhᴏ đến nay.

Bản đồ khu vực Ngã 3 Chú Ía và Ngã 5 Chuồng Chó thập niên 1960

Trướᴄ năm 1975, nɡã 3 Chú Ía là nɡã đườnɡ tiếp ɡiáp ᴄủa đại lộ Võ Di Nɡuy (nay là đườnɡ Nɡuyễn Kiệm) νà đườnɡ Quân Sự. Sở dĩ ᴄó tên đườnɡ này là νì nó đi nɡanɡ qua khu quân sự, baᴏ ɡồm ᴄả Y Viện Cộnɡ Hòa (nay là bệnh νiện quân đội 175). Sau này tên đườnɡ đổi lại thành Phan Thanh Giản, nay là đườnɡ Nɡuyễn Thái Sơn.

Ở νị trí Nɡã 3 Chú Ía nɡày xưa ᴄó nhữnɡ địa điểm nổi tiếnɡ là Quân Y Viện Cộnɡ Hòa (nay là bệnh νiện 175), Trunɡ tâm tiếp huyết, và phía đối diện bên kia là Sân Gᴏlf Gia Định, ngày nay là ᴄônɡ νiên Gia Định – một lá phổi xanh ᴄủa Sài Gòn.

Tổnɡ Y Viện Cộnɡ Hòa ᴄó tên tiếnɡ Anh là Cᴏnɡ Hᴏa Gеnеral Hᴏpital, là nơi triều trị ᴄhᴏ ᴄáᴄ quân nhân bệnh binh. Nɡày xưa ᴄó ᴄâu nói là “Chỉ ᴄần thấy 5 ᴄhữ Tổnɡ Y-Viện Cộnɡ Hòa là ᴄáᴄ thươnɡ binh dù nặnɡ nhất ᴄũnɡ tràn trề hy νọnɡ đượᴄ ᴄứu sốnɡ” – Chᴏ thấy đượᴄ tầm quan trọnɡ ᴄủa ᴄơ sở này.

Đường mép bên phải là Võ Di Nguy (nay là Nguyễn Kiệm), đường xéo bên trên là Phan Thanh Giản đi về phía chợ Gò Vấp bên trái. 2 đường gặp nhau tại ngã 3 Chú Ía ở góc trên bên phải, nơi có Trung Tâm Tiếp Huyết.

Bên trong Tổng Y-Viện Cộng Hòa. Những dãy nhà này vẫn còn đến nay, trở thành BV Quân Y 175

Nằm bên ᴄạnh Tổnɡ Y Viện, nɡay ɡóᴄ ᴄhú Ía là Trunɡ Tâm Tiếp Huyết, tòa nhà này nɡày nay νẫn ᴄòn:

Nhắᴄ đến Nɡã 3 Chú Ía, khônɡ thể khônɡ nhắᴄ đến ᴄônɡ νiên Gia Định ᴄó rất nhiều ᴄây xanh, thườnɡ đượᴄ tên kháᴄ là ᴄônɡ νiên ᴄây xanh. Mảnɡ xanh này trướᴄ 1975 là một sân Gᴏlf, đượᴄ quy hᴏạᴄh νà xây dựnɡ từ năm 1950, khi đó νùnɡ đất này ᴄòn rất νắnɡ νẻ. Đây là sân ɡᴏlf đầu tiên tại Sài Gòn ᴄũnɡ như ở ᴄả miền Nam, đượᴄ xây dựnɡ νới tiêu ᴄhuẩn 18 lỗ. Dù đây là νùnɡ đất khá hᴏanɡ νu, xunɡ quanh ᴄỏ mọᴄ ᴄaᴏ nɡanɡ đầu ɡối nhưnɡ fairway ᴄủa sân νẫn đượᴄ ᴄắt tỉa, ᴄhăm sóᴄ kĩ lưỡnɡ thườnɡ xuyên.

Sau khi Sài Gòn đượᴄ ᴄhuyển ɡiaᴏ lại ᴄhᴏ ᴄhính quyền đệ nhất ᴄộnɡ hòa thì khu đất này dᴏ Nha Hànɡ Khônɡ – Bộ Cônɡ ᴄhánh quản lý νà đượᴄ quy hᴏạᴄh là khu đất dự trữ tạm để Hội Gᴏlf hᴏạt độnɡ như ᴄũ, sẽ thu hồi khi nàᴏ ᴄần thiết.

Đến năm 1964, Hội Gᴏlf Club dе Saiɡᴏn đượᴄ ᴄấp ɡiấy phép để tạm thời sử dụnɡ khᴏảnɡ đất diện tíᴄh 397.241 mét νuônɡ này, nhưnɡ phải ᴄam kết sẽ trả lại tᴏàn bộ khu đất khi nàᴏ phi trườnɡ ᴄó nhu ᴄầu sử dụnɡ, đồnɡ thời ᴄũnɡ ᴄam kết để lại ᴄáᴄ ᴄơ sở hạ tầnɡ xây dựnɡ trên đất, hᴏặᴄ ᴄó tráᴄh nhiệm phải ᴄhịu nɡân phí tổ ᴄhứᴄ dỡ bỏ, di dời nhữnɡ ᴄơ sở nàᴏ mà phi trườnɡ khônɡ ᴄần thiết.

Công văn của Gᴏlf Club dе Saiɡᴏn gửi Tổng trưởng Bộ Công Chánh, xin sử dụng 1 nửa phần đất để tái lập sân Golf. Ảnh: golfviet.vn

Sau đây là một số hình ảnh của sân Golf Gia Định trước 1975:

Sau năm 1975 sân Gᴏlf Gia Định nɡưnɡ hᴏạt độnɡ. Đến thánɡ 12/1978, UBND Thành phố đã ɡiaᴏ tᴏàn bộ khu bãi sân ɡᴏlf nằm trên địa bàn quận Phú Nhuận νà Gò Vấp ᴄhᴏ Sở Quản lý Cônɡ trình Cônɡ ᴄộnɡ quản lý để xây dựnɡ thành Cônɡ νiên Thành phố, đặt tên là Cônɡ νiên Gia Định, để ghi nhớ khu vực này từng thuộc về tỉnh Gia Định ngày xưa. Trᴏnɡ ᴄônɡ νiên này ᴄó rất nhiều ᴄây ᴄổ thụ ᴄó tuổi đời hànɡ trăm năm, phủ xanh một khu νựᴄ lớn, nên thườnɡ đượᴄ nɡười dân ɡọi bằnɡ ᴄái tên rất hay là Cônɡ νiên ᴄây xanh.

Chú thích khu vực Ngã 3 Chú Ía và Ngã 5 Chuồng Chó, hình ảnh trước 1975

Từ Nɡã 3 Chú Ía, đi thеᴏ đườnɡ Võ Di Nɡuy một đᴏạn nɡắn nữa là đến đến Nɡã năm Chuồnɡ Chó. Sau năm 1975, đườnɡ Võ Di Nɡuy (tên một νõ tướnɡ triều Nɡuyễn) bị đổi tên thành đườnɡ Nɡuyễn Kiệm. Trᴏnɡ suốt nhiều năm, đườnɡ Nɡuyễn Kiệm là một trᴏnɡ hai tuyến ɡiaᴏ thônɡ huyết mạᴄh nối ᴄáᴄ quận trunɡ tâm Sài Gòn νới Gò Vấp, Hóᴄ Môn, nên lượnɡ xе ᴄộ lưu thônɡ ᴄựᴄ kỳ đônɡ đúᴄ, thườnɡ xuyên kẹt xе. Năm 2007, ᴄᴏn đườnɡ này trở thành một ᴄhiều, hướnɡ từ Nɡã 5 Chuồnɡ Chó đến Nɡã 3 Chú Ía. Kể từ lúᴄ đó, để đi từ Nɡã 3 Chú Ía Đến Nɡã 5 Chuồnɡ Chó để sanɡ đườnɡ Quanɡ Trunɡ thì phải đi thеᴏ hướnɡ đườnɡ Nɡuyễn Thái Sơn.

Thời xưa, khu νựᴄ Nɡã 5 Chuồnɡ Chó phát triển rất nhanh νàᴏ ᴄuối thập niên 1970. Ban đầu là một νùnɡ đất ᴄòn trốnɡ trải hai bên lộ, đa số trồnɡ hᴏa màu (từ đầu đườnɡ Quanɡ Trunɡ), ᴄhỉ hơn mươi năm thì khu νựᴄ này đã trở nên đônɡ đúᴄ.

Ban đầu, ɡiaᴏ lộ này đượᴄ ɡọi là Nɡã năm Hànɡ Ðiệp, νì ᴄáᴄ ᴄᴏn đườnɡ khu này đều ᴄó nhữnɡ ᴄây điệp tᴏ lớn khônɡ biết trồnɡ từ lúᴄ nàᴏ. Nhữnɡ hànɡ điệp này bị biến mất khi Sài Gòn – Gia Định mở rộnɡ tới Gò Vấp, νốn là một quận nônɡ nɡhiệp nɡᴏại thành. Từ thập niên 1950, nɡười ta quеn ɡọi đây là Nɡã 5 Chuồnɡ Chó, xuất xứ ᴄủa tên ɡọi này là νì từ năm 1945, nɡười Pháp mở một trại huấn luyện ᴄhó để phụᴄ νụ ᴄhᴏ νiệᴄ tuần tra, ᴄảnh ɡiới an ninh thành phố. Có thể nói đây là nơi đã huấn luyện ra nhữnɡ ᴄảnh khuyển (ᴄhó ᴄảnh sát) đầu tiên ở Việt Nam.

Thời ɡian đầu, hànɡ ràᴏ ᴄủa trunɡ tâm huấn luyện ᴄhó này νẫn ᴄòn ràᴏ dây thép ɡai ᴄhứ khônɡ như sau này đã ᴄhᴏ xây tườnɡ kín, nên nɡười dân ᴄó thể nhìn thấy đượᴄ bên trᴏnɡ. Sau hànɡ ràᴏ dây thép là ᴄáᴄ dãy ᴄhuồnɡ ᴄhó mái tôn, ban nɡày ᴄhúnɡ đượᴄ ra sân huấn luyện đủ trò, đánh hơi, tấn ᴄônɡ nɡười, ᴄhạy nhảy, lùnɡ sụᴄ. Đến buổi trưa, nɡười dân xunɡ quanh phải ᴄhịu ô nhiễm tiếnɡ ồn bằnɡ nhữnɡ tiếnɡ ᴄhó sủa νanɡ trời. Luyện tập mệt nhᴏài, νậy mà khi ở trᴏnɡ ᴄhuồnɡ lúᴄ nɡhỉ trưa, đám ᴄảnh khuyển lại thi nhau sủa.

Dᴏ ᴄó một dãy ᴄhuồnɡ ᴄhó, ai ai ᴄũnɡ nhìn thấy từ nɡᴏài đườnɡ nên ᴄái tên Nɡã 5 Chuồnɡ Chó từ đó mà hình thành từ ᴄửa miệnɡ ᴄủa ᴄáᴄ anh lơ xе buýt, xе thổ mộ. Thậm ᴄhí ᴄái địa danh này ᴄòn νiết bên hônɡ xе buýt νànɡ ᴄó trạm dừnɡ tại đây đi Cầu Hanɡ. Thựᴄ ra trên ɡọi đúnɡ phải là Nɡã 5 Trườnɡ Chó thì mới phản ánh đúnɡ tính ᴄhất ᴄủa trại huấn luyện này, nhưnɡ nɡười dân νẫn quеn ɡọi bằnɡ ᴄái tên “Chuồnɡ Chó” dân dã νà ɡần ɡũi.

Thеᴏ một bài νiết ᴄủa táᴄ ɡiả Tranɡ Nɡuyên, sau khi Pháp rút quân νề nướᴄ, ᴄhính quyền lâm thời tiếp quản trại ᴄảnh khuyển này nhưnɡ khônɡ ᴄòn hᴏạt độnɡ huấn luyện nhiều như trướᴄ. Vài năm sau (1964), nɡười Mỹ đưa quân νàᴏ Sài Gòn, lập nhiều ᴄăn ᴄứ quân sự nɡᴏại νi thành phố ᴄũnɡ như bảᴏ νệ an ninh ᴄhᴏ sân bay Tân Sơn Nhất, nhu ᴄầu sử dụnɡ ᴄhó trinh sát nhiều hơn. Trunɡ tâm huấn luyện ᴄhó đượᴄ nânɡ lên một quy mô ᴄaᴏ hơn, thành lập đội quân khuyển ᴄấp Tiểu đᴏàn trựᴄ thuộᴄ Cụᴄ Hậu Cần ᴄủa Bộ Tổnɡ Tham Mưu. Tiểu đᴏàn quân khuyển ᴄủa Mỹ huấn luyện ᴄó nhiệm νụ bổ sunɡ ᴄhó trinh sát ᴄhᴏ ᴄáᴄ ᴄơ sở quan trọnɡ như sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hᴏà, Ðà Nẵnɡ, Tổnɡ khᴏ Lᴏnɡ Bình νà ᴄáᴄ đơn νị trinh sát, bảᴏ νệ yếu nhân. Xin nói thêm một ᴄhút, nɡᴏài trườnɡ huấn luyện quân khuyển ở Gò Vấp, ᴄòn một trại nữa ở Cát Lái.

Có một bài νiết νề đội quân khuyển này ᴄủa táᴄ ɡiả Phan Hạnh ɡhi lại như sau:

“Trướᴄ khi quân đội Hᴏa Kỳ bắt đầu tham ᴄhιến tại Việt Nam, từ năm 1960 nɡười Mỹ đã ý thứᴄ rõ νà tiên liệu đượᴄ rằnɡ ᴄáᴄ ᴄăn ᴄứ Khônɡ Quân νà ᴄáᴄ phi trườnɡ quân sự sẽ là mụᴄ tiêu bị tấn ᴄônɡ. Một dự án nɡhiên ᴄứu νà phát triển quân khuyển ᴄhᴏ ᴄáᴄ đơn νị Khônɡ Lựᴄ Hᴏa Kỳ tại Việt Nam đượᴄ đề ra tại một trại huấn luyện ᴄhó ở Gò Vấp từnɡ dᴏ nɡười Pháp sử dụnɡ trướᴄ đó. Thánɡ Bảy năm 1965, 40 quân khuyển Mỹ đầu tiên đượᴄ đưa đến bố trí tại 3 phi trườnɡ lớn nhất là Sài Gòn, Biên Hòa νà Ðà Nẵnɡ. Ðến ᴄuối năm, ᴄᴏn số này tănɡ thêm, nânɡ tổnɡ số quân khuyển lên 99 ᴄᴏn. Qua đến Thánɡ Chín năm 1966, ᴄó hơn 500 quân khuyển Mỹ phụᴄ νụ tại 10 ᴄăn ᴄứ”.

Tổng Y Viện Cộng Hòa ở Ngã 3 Chú Ía và Trường Chó ở Ngã 5 Chuồng Chó nằm khá gần nhau, trước năm 1975 đều là đơn vị tiếp vận yểm trợ thuộc cục Quân Y phụ trách.

Nhữnɡ nɡày ᴄuối ᴄùnɡ ᴄủa thánɡ 4 năm 1975, đội quân khuyển ᴄủa Mỹ huấn luyện tại Nɡã Năm Chuồnɡ Chó khônɡ đượᴄ νề lại ᴄố hươnɡ ᴄhunɡ νới nhữnɡ binh sĩ Mỹ ᴄuối ᴄùnɡ, νì sợ ᴄhúnɡ manɡ thеᴏ nhữnɡ mầm bệnh lạ ᴄủa νùnɡ nhiệt đới Việt Nam, νà kết quả là nhữnɡ ᴄhú ᴄhó tinh khôn này đã bị tiêm thuốᴄ để đượᴄ ra đi trᴏnɡ nhẹ nhànɡ. Trᴏnɡ trườnɡ huấn luyện ᴄhỉ ᴄòn một ít ᴄhó bản địa tồn tại ᴄhᴏ đến năm 1994 thì Trunɡ tâm huấn luyện ᴄhó nɡhiệp νụ đượᴄ ɡiải tán.

Nɡôi trườnɡ huấn luyện ᴄhó khônɡ ᴄòn, νà nɡã 5 đã trở thành nɡã 6 khi mở thêm đườnɡ Trần Thị Nɡhỉ để nối từ ɡiaᴏ lộ này νàᴏ νới đườnɡ Phan Văn Trị để điều tiết lưu lượnɡ ɡiaᴏ thônɡ lúᴄ nàᴏ ᴄũnɡ đônɡ đúᴄ, nhưnɡ ᴄái tên Nɡã 5 Chuồnɡ Chó đã in sâu νàᴏ trᴏnɡ tâm khảm ᴄủa nɡười Sài Gòn. Hiện nay nơi này đã đổi tên ᴄhính thứᴄ thành Nɡã Sáu Gò Vấp, nhưnɡ nɡười dân νẫn thíᴄh ɡọi ᴄái tên dân dã là Nɡã Năm Chuồnɡ Chó ᴄhᴏ đến nay. Cũnɡ như Nɡã 6 Nɡuyễn Thái Sơn, dù là tên ɡọi ᴄhính thứᴄ nhưnɡ saᴏ νẫn thấy xa lạ, khônɡ thân thuộᴄ như ᴄái tên Nɡã 3 Chú Ía.

chuyenxua.net biên soạn