Văn Cao: Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người thơ ca

Lời bạt cho tập nhạc “Em còn nhớ hay em đã quên”.

Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người thơ ca (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ. Và bởi Sơn đã hát về quê hương đất nước bằng cả tấm lòng của một đứa con biết vui tận cùng những niềm vui và đau tận cùng những nỗi đau của Tổ quốc mẹ hiền.

Mãi hơn một năm sau ngày 30 tháng 4, chúng tôi mới thực sự nhìn mặt tay cầm tay lần đầu, nhưng tôi có cảm giác như chúng tôi đã là bạn của nhau tự bao giờ, mặc dù giữa tôi và Sơn còn cả một thế hệ đệm. Nói cách nào đó, tôi đã gặp Sơn từ những ngày đất nước còn chia hai miền và còn chìm trong khói lửa. Tôi muốn nhắc đến ở đây một kỷ niệm không thể quên ở nhà một người bạn trẻ. Đêm ấy lần đầu tiên tôi nghe (cũng có nghĩa là gặp) Trịnh Công Sơn… Những bạn trẻ hát cho tôi nghe gần suốt đêm hàng loạt ca khúc Trịnh Công Sơn (Không biết họ học ở đâu?) hát say sưa đến nỗi đứt cả dây của cây đàn guitar duy nhất có trong nhà. Sau này, Sơn kể cho tôi nghe rằng những bài đó, Sơn đã sáng tác trong những ngày trốn lính, sống lê la với bạn giang hồ.

Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra. Nói như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, người bạn già của tôi, “Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra”. Cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ chính là ở chỗ đó, ở chỗ không định tạo ra một trường phái nào, một triết học nào, mà vẫn thấm vào lòng người như suối tưới. Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi, Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim, không chỉ ở trong nước, mà cả ở bên ngoài biên giới nữa. Và nếu không lầm thì dấu ấn của Sơn đã ít nhiều in trên tác phẩm của một số nhạc sĩ thời kỳ sau 1975.

Có lẽ cũng không cần nghe lại nữa, dù bây giờ và sau này Sơn có in thêm, một lần là đủ, từ cái đêm chiến tranh ấy, tôi biết mình đã gặp một – tâm – hồn – chị – em xẻ chia Một cõi đi về. Và tôi viết lời bạt này cho tập nhạc của Sơn như giữ một lời hẹn thầm chưa ngỏ, lời hẹn của một tri âm với tri âm…

Văn Cao

Khánh Ly: ‘Tôi ân hận vì giận Trịnh Công Sơn trước lúc ông mất’

Danh ca tâm sự nếu biết cuộc gặp nhạc sĩ vào năm 2000 là lần cuối, bà dành thời gian cho ông nhiều hơn thay vì nhõng nhẽo, giận hờn.

Ngày 1/4/2001, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời. Nhiều năm qua, những ca khúc của ông luôn là dòng suối tinh thần tắm tưới tâm hồn bao người Việt. Ca sĩ Khánh Ly – giọng ca gắn liền với nhạc Trịnh – có những chia sẻ kỷ niệm về cố nhạc sĩ.

– Điều gì khiến bà nhớ nhất về Trịnh Công Sơn trong lần cuối gặp gỡ?

– Năm 2000, trước khi về Mỹ, tôi đến thăm Trịnh Công Sơn. Bình thường, anh sẽ ngồi uống rượu hoặc đệm đàn cho tôi hát, gần như không nói chuyện gì. Lần ấy, tôi có nhõng nhẽo với Trịnh Công Sơn rằng: “Ai anh Sơn cũng vẽ, chỉ có em là không được bức nào”. Vừa nghe câu đó, ông Sơn nổi giận đùng đùng, la lớn: “Đứa mô cũng thế”. Hóa ra, mấy người em của Trịnh Công Sơn, cô nào cũng đòi anh vẽ tranh cho.

Bị anh Sơn quát, tôi tủi thân vô cùng. Trừ lúc hát không tập trung, tôi chưa bao giờ bị Trịnh Công Sơn rầy la như vậy. Tôi không biết phải làm gì, chỉ thấy hai tay run lên. Tôi bỏ về, trong lòng hỗn độn cảm xúc: vừa buồn, vừa giận, lại vừa đau. Tôi tự nhủ: “Nhất định không bao giờ gặp Trịnh Công Sơn nữa. Mai sẽ đổi vé máy bay về Mỹ ngay lập tức”. Đêm đó, tôi không sao ngủ được. Hôm sau, tôi nóng ruột không chịu nổi, phần vừa muốn tới chỗ Trịnh Công Sơn, phần vì lòng tự ái ngăn cản. Thế rồi, Trịnh Công Sơn gọi điện trước, hỏi tôi đang ở đâu, sao không tới nhà chơi. Chỉ chờ câu đó, tôi lao ngay tới nhà anh. Mọi thứ lại như chưa có chuyện gì xảy ra.

Các cụ có dạy những người sắp qua đời thì tính tình thay đổi. Lần giận dỗi bất thường của Trịnh Công Sơn đó, tôi nghĩ là điềm báo về sự ra đi của anh. Ngẫm lại, tôi ân hận và hối tiếc vô cùng. Tôi tự trách bản thân không đủ sáng suốt để nhìn ra anh sắp bỏ mình đi, để làm những điều tử tế, đẹp đẽ hơn, những điều mà anh muốn tôi làm, dẫu chỉ đơn giản là mời ăn một ly chè hay gọt một đĩa trái cây.

khanh-ly-toi-an-han-vi-gian-trinh-cong-son-truoc-luc-ong-mat

– Câu nói nào của nhạc sĩ lúc cuối đời ám ảnh bà?

– Anh từng hỏi tôi: “Bạn bè rủ anh ra nước ngoài, anh có nên ở lại không?”. Tôi đã nói rằng Trịnh Công Sơn chỉ có thể sống và chết ở Việt Nam được thôi. Từ đó, anh không bao giờ đề cập đến vấn đề đó nữa. Tôi nghĩ anh Sơn đã nghe theo tôi và chọn cho mình nơi để nằm xuống.

Tôi cũng không quên được những thói quen của Trịnh Công Sơn khi còn sống. Anh hay uống rượu tới say rồi mới đi ngủ, thường là vào lúc 5h sáng. Đến khoảng 7h, Trịnh Công Sơn đã thức dậy, tắm rửa rồi ra ngoài phố ngồi. Có lần tôi thắc mắc, anh bảo: “Nếu không được nhìn thấy mọi người, anh sẽ buồn ghê lắm”. Trịnh Công Sơn không cần biết mình được yêu, ghét ra sao, chỉ cần thấy người ta đi lại trước mặt là vui. 

– Quanh Trịnh Công Sơn có nhiều “nàng thơ”. Bà thấy sao khi mình không phải người duy nhất chia sẻ cuộc sống và âm nhạc với nhạc sĩ?

– Tôi cũng chỉ là người bình thường nên việc ghen tỵ với ai đó là không thể tránh khỏi. Đến bạn gái chơi cùng, tôi còn ghen với các mối quan hệ của họ. Hôm trước, tôi thấy chị bạn thân đăng ảnh với một phụ nữ khác. Hai người ôm ấp nhau rất vui vẻ. Nhìn thấy cảnh đó, tôi đã tự nhủ: “Vì sao người phụ nữ kia được bày tỏ tình cảm, còn mình lại không được?”.

Nhưng tôi nghĩ điều quan trọng vẫn là tình cảm của chính bản thân. Tôi luôn dành cho người thân, bạn bè những tình yêu, sự quý trọng. Đối với Trịnh Công Sơn, đó còn có cả sự tôn kính. Ông không chỉ là người thầy, tri kỷ mà còn giống người cha.

Bố tôi mất sớm nhưng từ nhỏ, tôi đã được nhận được tình yêu vô bờ từ ông. Hình ảnh người cha trong tôi rất ý nghĩa. Tôi vẫn nhớ năm ba tuổi, mình cùng bố đi trên đường làng. Khi rẽ vào quán lá, bố mua cho tôi chiếc kẹo bột. Hay những lúc được bố mua cho quả trứng gà chần, lấy đũa đục lỗ hai đầu rồi húp thẳng vào bụng, rồi những năm tháng được ông ủ ấm trong những chiếc áo trấn thủ (áo bông), hát cho nghe những ca khúc như Chiều vàng, Con thuyền không bến

Gắn bó với nhau lâu năm, bà thấy những người phụ nữ Trịnh Công Sơn yêu có điểm gì chung?

– Trịnh Công Sơn vốn rất thích phụ nữ để tóc dài, có bờ vai gầy… Nhạc sĩ từng kể với tôi rằng ca khúc Như cánh vạc bay được sáng tác khi ông đi chơi với người yêu – một cô gái để tóc dài – bên bờ suối ở Cam Ly (Đà Lạt).

Tôi thì không có đặc điểm nào giống như vậy. Có lần, tôi và một người chồng cũ cãi nhau. Tức quá, đi qua hồ Xuân Hương ở Đà Lạt, tôi cầm nhẫn cưới ném luôn xuống nước rồi đi cắt phăng mái tóc dài. Đến sáng mấy hôm sau, như thường lệ, sau khi đi chợ, tôi ghé quán cà phê Tùng gặp Trịnh Công Sơn để uống nước, học hát. Vừa thấy tôi và mái tóc ngắn, nhạc sĩ bỏ về luôn, không nói năng chào hỏi câu nào. Tôi tức quá đuổi theo, hỏi bằng được vì sao ông phản ứng như vậy. Trịnh Công Sơn chỉ đáp lại đúng một câu giận hờn: “Anh không muốn gặp người điên”.

khanh-ly-toi-an-han-vi-gian-trinh-cong-son-truoc-luc-ong-mat-1

– Chồng tôi luôn dành một tình yêu lạ lùng cho Trịnh Công Sơn. Tất cả sách của ông ấy, chồng tôi đều mua đủ. Thấy tôi thắc mắc, ông xã bảo: “Anh mua để những ai yêu thật sự quý Trịnh Công Sơn thì tặng. Anh không muốn chúng nằm dưới tiệm sách”.– Chồng quá cố của bà – ông Nguyễn Hoàng Đoan – có mối quan hệ ra sao với nhạc sĩ khi ông còn sống?

Khi tôi lấy chồng ở Mỹ, Trịnh Công Sơn có viết cho tôi một bức thư, trong đó có đoạn: “Mai, bộ hết người rồi sao lại lấy Hoàng Đoan?”. Tôi đọc xong cũng thấy tổn thương lắm nhưng không cãi. Nhưng chồng tôi cũng không vì thế mà giận nhạc sĩ.

Năm 1997, khi cùng chồng trở về Việt Nam, tôi và anh Đoan ngày nào cũng tới thăm Trịnh Công Sơn. Chúng tôi ngồi ăn cùng nhau, lúc nào cũng ở trong chiếc bàn với trên dưới 20 người. Có lần, chồng tôi đề cập bức thư Trịnh Công Sơn gửi năm xưa với nhạc sĩ. Ông Sơn lúc đó mới giải thích trước khi gặp gỡ, ông chỉ biết chồng tôi qua những tin đồn. Nhạc sĩ nói với ông xã tôi rằng: “Bây giờ tôi mới biết Đoan làm được cho Mai nhiều điều. Mai từng khổ nhiều rồi, tôi không muốn Mai phải khổ thêm”. Ông muốn tôi lấy người nào đó vững về kinh tế để tôi không phải đi làm việc vất vả kiếm tiền.

Theo VnExpress

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và Quán Văn

Thập niên 1960, trên bãi đất cỏ sau trường đại học Văn Khoa, giới nghệ sĩ hồi đó dựng lên một quán lá, đặt tên là “Quán Văn” làm nơi họp mặt đàn hát, chia sẻ với tất cả những ai đến cùng nghe, mà phần đông là thanh niên, học sinh sinh viên.

Trong nhóm bạn hữu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, có ông Hoàng Xuân Sơn hiện định cư ở Canada. Ông hồi tưởng lại: “Quán Văn được thành lập từ một nhóm nhỏ các anh em sinh viên trong phong trào phục vụ thanh niên xã hội, hồi đó. Trong thời gian anh em đi công tác xã hội như vậy thì có ý định lập ra một cái quán cà-phê văn nghệ làm nơi tụ hội và gặp gỡ những khuôn mặt văn nghệ trong thành phố, những người chuyên nghiệp hay không chuyên. Quán Văn tọa lạc trong một khu vườn cỏ khá thơ mộng bao quanh bởi 4 con đường là Nguyễn Trung Trực, Gia Long, Công Lý và Lê Thánh Tôn.”

– Như vậy ban đầu khi Quán Văn mới mở đã có các nghệ sĩ nào?

– Quán Văn lúc đầu mở ra, người trình diễn đầu tiên là một thành viên của nhóm, là anh Nguyễn Thạc chơi Tây-ban-cầm. Lúc đầu chỉ phổ biến nội bộ.

Cũng có một số thân hữu từ xa đến và thành khách quen. Từ bước thành công nhỏ đó, chúng tôi mời lần những khuôn mặt văn nghệ quen thuộc trong thành phố Saigon, lần lượt có ban trầm ca của nhạc sĩ Nguyễn đức Quang, Trần Trọng Thảo và Hoàng Kim Châu hát các bài ca khai phá khởi đầu.

Sau đó có mời được nhạc sĩ Phạm Duy và một nhạc sĩ người Mỹ cùng hát các bài Phạm Duy sáng tác như “Giọt mưa trên lá” có lời tiếng Anh do nhạc sĩ này đặt.

– Sau đó Trịnh Công Sơn và Khánh Ly xuất hiện như thế nào?

– Phải nói là Trịnh Công Sơn và Khánh Ly là cao điểm của Quán Văn. Anh Sơn đến sinh hoạt chung với nhóm chúng tôi từ cuối năm 1966. Lúc đó giữa anh em với nhau, anh Sơn hát các bài mới cho mọi người nghe, thỉnh thoảng hát những bài hát chung như “Gia tài của mẹ” hay là “Một ngày dài trên quê hương”.

Đầu năm 67, cô Mai (là ca sĩ Khánh Ly sau này) từ Đà Lạt xuống. Trong một đêm ở Quán Văn, Mai ngồi hát giữa vòng thân hữu, nghe rất hay, rất lạ và cảm động. Chúng tôi nảy ra ý định mời anh Sơn và Khánh Ly xuất hiện trước công chúng một lần.

Đêm đầu tiên tổ chức là một đêm thứ Sáu vào mùa Xuân năm 1967, rất đông sinh viên và thanh niên đến tham dự. Trịnh Công Sơn và Khánh Ly thay phiên nhau hát những bài nhạc trong tập “Ca khúc da vàng” anh Sơn vừa mới sáng tác, và những bài trong tập trước đó, là “Thần thoại quê hương và thân phận”. Đêm nhạc đó tạo sự thông cảm giữa người nghe và người trình diễn, rất cảm động.

Từ đó, dần dần Sơn và Khánh Ly đi dần vào các khuôn viên đại học, trình diễn các ca khúc của anh.

– Có phải Khánh Ly được mọi người gọi là “Nữ hoàng chân đất” cũng là từ các đêm diễn ở Quán Văn?

– Hình ảnh này cũng rất là dễ thương và rất đẹp. Trong lúc hát bài “Tình ca của người mất trí” thì Khánh Ly hát rất sâu lắng tâm hồn vào trong bài hát. Giữa đoạn điệp khúc, khi cất cao lên: “Tình ca người mất trí”… Khánh Ly bỗng nhắm mắt, bất thần tuột giày ra và vịn vai Trịnh Công Sơn, ngước mặt lên trời như là xin ơn cứu rỗi… Từ đó, trở thành huyền thoại là “Nữ hoàng chân đất”.

Sinh hoạt chính của quán bắt đầu vào tối thứ Sáu từ 8 giờ và kéo dài đến giờ giới nghiêm. Tối thứ Bảy chỉ sinh hoạt phụ, có thể là nội bộ, hoặc mời một số anh em khác tới ngồi nói chuyện hay ngâm thơ.

– Số người nghe lúc đó ở Quán Văn chắc là đông lắm?

– Rất đông, ngoài một số sinh viên ngồi bao quanh cái bục trình diễn, còn ngồi lan tràn ra cả sân cỏ. Chỗ soạn cà-phê, nước uống cũng có người ngồi, rất đông, vài trăm là ít. Khán thính giả ngồi nghe rất yên lặng, sau mỗi bài hát thì tràng vỗ tay rộ lên phá vỡ không gian tĩnh mịch.

– Trong đám đông hầu hết là thanh niên và sinh viên đó, đã có từng xảy ra chuyện lộn xộn nào không?

– Quán Văn đông đảo như vậy nhưng chưa từng có chuyện gì lộn xộn xảy ra.

– Nghe nói rằng có một vụ lộn xộn nào đó đã khiến các anh phải đi đến quyết định đóng cửa Quán Văn?

– Là từ địa điểm khác, ở Đại học Văn Khoa, cũng là đêm diễn của Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.

– Nhưng ảnh hưởng của sự lộn xộn đó làm cho Quán Văn phải đóng cửa?

– Vâng, trong đêm sinh hoạt tại Đại học Văn Khoa do Khánh Ly và Trịnh Công Sơn trình diễn đã có xảy ra cái vụ đôi co đi đến nổ súng giữa bên Quốc gia và bên Cộng sản. Chúng tôi thấy tình hình an ninh không được tốt đẹp lắm nên từ từ rút lui và dẹp quán.

– Quán Văn mở cửa tổng cộng được bao lâu

– Được khoảng hai năm rưỡi.

Trong đêm xảy ra sự cố ở Đại học Văn Khoa, người bị bắn là ông Ngô Vương Toại, thường điều khiển chương trình tại Quán Văn. Năm 1975, anh sang định cư tại Hoa Kỳ, hoạt động trong lĩnh vực báo chí và phát thanh. Anh cùng gia đình hiện cư ngụ tại tiểu bang Virginia ở ngoại vi thủ đô nước Mỹ.

Nhạc Trịnh Công Sơn, đa số viết về thân phận con người, ông nói:
“Con người đời sống rất hữu hạn, bởi mọi người chỉ sống một đời thôi nhưng mà anh chết rồi, tình yêu vẫn còn tiếp nối trên cuộc đời này. Tình yêu sẽ tiếp tục mãi mãi ở trên mặt đất này. Nhưng mà trong tình yêu, vẫn có một phần của thân phận nằm ở trong.”
Trịnh Công Sơn từng linh cảm về sự qua đời của ông. Năm 1996, trong bài “Tôi đã mơ thấy chuyến đi của mình” ông viết về cuộc sống và cái chết, có câu sau đây:
“… Có người bỏ cuộc đời mà đi như một giấc ngủ quên. Có người bỏ cuộc tình mà đi như người đãng trí. Dù sao cũng đã lãng quên một nơi này để đi về một chốn khác …”

Theo Thy Vân (RFA)

Triết học nhẹ nhàng của Trịnh Công Sơn

Đạo Phật với Trịnh Công Sơn là hơi thở là triết học làm cho con người yêu đời hơn chứ không phải là lãng quên sự sống. 

Đạo Phật đến với ông qua nếp sống gia đình, và rồi đi vào âm nhạc của ông ngày càng sâu sắc hơn qua sự trải nghiệm thăng trầm giữa cuộc đời này.

Trịnh Công Sơn có viết: “Tôi vốn thích triết học và vì thế tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình. Một thứ triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được”. Bài này sẽ trình bày rằng thứ “triết học nhẹ nhàng” này chính là triết học Phật giáo.

Trong Tứ Diệu Đế của đạo Phật, chân lý đầu tiên là khổ đế. Khổ đế là một đề tài rất phổ thông trong nhạc Trịnh Công Sơn: Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người, ông đã hát trong Gọi tên bốn mùa. Cuộc đời đầy khổ và buồn vì không có gì trường cửu cả. Theo Kinh Kim Cương, Tất cả các pháp hữu vi là “như sương mai, như ánh chớp”. Đây là một ý niệm mà Trịnh Công Sơn đã nhắc đi, nhắc lại trong nhiều lời ca của mình. Giống như con chim ở đậu cành tre và một con cá trong khe nước nguồn, không ai trong chúng ta là những người định cư vĩnh viễn, tất cả đều là những người ở trọ trần gian này. Trong khi tạm cư ở chốn trần gian này chúng ta tìm chỗ ẩn náu trong tình yêu, nhưng rồi tình yêu cũng mất đi.

Tình yêu như tất cả mọi sự khác đều vô thường như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài Đóa hoa vô thường và nhiều bài ca khác. Các bài tình khúc của Trịnh Công Sơn là những lời tuyên bố siêu hình rằng những đổ vỡ tình yêu không phải là những chông gai nho nhỏ trên con đường đời đẹp đẽ vô song. Các bài tình khúc của Trịnh Công Sơn, như Hoàng Phủ Ngọc Tường nói, là những “bài kinh cầu bên vực thẳm”. Các bài ca này là những lời nhắc nhở cho chúng ta về lẽ vô thường.

Một đề tài Phật giáo khác trong nhạc Trịnh Công Sơn là thuyết luân hồi. Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi / Để một mai tôi về làm cát bụi, ông hát trong Cát bụi. Hay Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô, trong Rừng xưa đã khép. Trong các ca khúc của mình Trịnh Công Sơn có vẻ đồng ý với đạo Phật rằng “Hiện tại là hình bóng của quá khứ và tương lai là hình bóng của hiện tại”.


Trịnh Công Sơn cũng tỏ ra chấp nhận thuyết luân hồi của nhà Phật trong những câu mà Trịnh Công Sơn đã làm nhòa nhạt biên giới giữa đi và về, như trong bài Phôi pha: Có những ai xa đời quay về lại / Về lại nơi cuối trời. Nếu chết là để đi đến tái sinh thì khi ta ra đi nghĩa là ta trở lại. Nhìn sống và chết cũng như nhìn nước chảy trên sông và tự hỏi nước đang ra đi hay nước đang trở về. Đó là ý của Trịnh Công Sơn trong Gần như niềm tuyệt vọng: Những ngàn xưa trôi đến bây giờ / Sông ra đi hay mới bước về. 


Theo đạo Phật không có cái ta trường cửu nhưng mà có một chút gì trong cái ta đã mất được tiếp nối trong cái ta tái sinh. Quá trình này thường được so sánh như khi ta thắp một cây nến từ một cây nến khác, có cái ra đi và cũng có cái trở lại, một cõi đi về như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài ca cùng nhan đề.

Một ảnh hưởng khác của Phật giáo trong ca khúc của Trịnh Công Sơn là sự mập mờ và siêu lý luận của các câu văn. Nhạc, lẽ dĩ nhiên là tiếng nói của con tim không phải là của lý trí nhưng sự xác định này cũng chưa đủ dể giải thích tại sao Trịnh Công Sơn có vẻ như không muốn làm cho lời ca rõ ràng. Tôi nghĩ rằng đây là ảnh hưởng của Phật giáo, rằng người ta không thể chỉ ngồi mà lý luận để đi đến một sự bình an cho tâm hồn, rằng ý niệm giác ngộ vượt qua biên giới của ngôn ngữ và lý luận.

Cái mập mờ danh tiếng của Trịnh Công Sơn là do sự phá bỏ biên giới giữa các điều mà chúng ta thường xem là khác biệt, một phương pháp mà Cao Huy Thuần gọi là “đối hợp”. Trịnh Công Sơn hay dùng lối văn đối nghịch, một nghệ thuật ngôn ngữ hay dùng để nhấn mạnh sự khác nhau của hai điều, nhưng ngược lại, Trịnh Công Sơn hay đem đối nghịch làm trùng hợp như trong các câu này: Tình không xa nhưng không thật gần; Không xa đời và cũng không xa một người; Một phố hồng một phố hư không. 

Trịnh Công Sơn giống như một nhà thiền sư phủ nhận rằng tuyết thì trắng, quạ thì đen, với mục đích nói lên rằng muốn giác ngộ thì phải tránh xa cái đối lập giữa “có” và “không” để thành một tổng thể hài hòa. Lời ca của Trịnh Công Sơn giống như các công án trong Phật giáo, chẳng hạn như công án nổi tiếng nói về lắng nghe tiếng vỗ của một bàn tay, và cũng giống như công án, bài hát của Trịnh Công Sơn không thể giải thích được bằng đầu óc.

Khi nói về triết lý trong nhạc Trịnh Công Sơn chúng ta cũng cần nói tới ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh nữa. Các bạn thân của Trịnh Công Sơn xác nhận rằng, ông cũng như một số đông các nhà trí thức miền Nam vào cuối thập niên năm mươi và đầu thập niên sáu mươi, rất bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa hiện sinh.

Thái Kim Lan bảo rằng: ở Huế hồi đó nhiều người nói về lo âu (angst), hư vô (nothingness), nôn mửa (nausea) và nỗi hoài công phi lý của Sisyphus. Nguyễn Văn Trung hồi đó mới từ Bỉ về, theo Bửu Ý là “nòng cốt” của các cuộc tranh luận về triết lý tại Huế. Nguyễn Văn Trung viết nhiều bài về hiện sinh và đăng trong tạp chí Đại Học, do ông làm chủ nhiệm.

Các bạn của Trịnh Công Sơn bảo rằng ông rất ham đọc sách của Camus về huyền thoại Sisyphus. Các bạn này cũng bảo Trịnh Công Sơn rất thích các phim trong đó có tài tử James Dean đóng vai của một người lưu lạc cô đơn. Chúng ta thấy hình ảnh chàng cô đơn này trong nhiều bài của Trịnh Công Sơn trong đó có bài Dã tràng ca. Trong bài này Trịnh Công Sơn muốn so sánh mình với Sisyphus, qua một hình ảnh đã được Việt Nam hóa là con dã tràng suốt ngày “xe cát biển đông” trong Nghe thân lưu đày.

Trong cuốn Huyền thoại Sisyphus, Camus nói: trong cái thế giới phi lý này, chúng ta thường hay bị quyến rũ bởi hai cách trốn thoát: một là tự vấn thân xác, hai là tự vẩn triết lý, tức là nuôi dưỡng niềm hy vọng rằng mình sau này khi chết đi sẽ được lên chốn thiên đàng vĩnh cửu. Theo Camus, chúng ta phải từ chối hai con đường giải thoát này và phải chọn một con đường khác: con đường chống đối thế giới phi lý này giống như nhân vật Sisyphus trong huyền thoại vậy.

Ông Nguyễn Văn Trung đã giải thích thuyết của Camus theo một cách khác. Ông viết về tự vẫn triết học như thế này: “Hy vọng một đời khác, hoài niệm một quê nhà sau tù đầy là một cách phủ nhận tình trạng phi lý khác, mà không chấm dứt được phi lý. Camus gọi những giải pháp thoát ly đó là một tự vẫn triết lý (Suicide philosophique)”. Nguyễn Văn Trung cho rằng, theo Camus, chúng ta phải chấp nhận rằng “Tù đày chính là quê nhà”.

Rất có thể Trịnh Công Sơn đã bị ảnh hưởng của Camus qua cách giải thích của Nguyễn Văn Trung. Giáo sư Trung đã Việt Nam hóa lý thuyết về lưu đày và thiên đàng vĩnh cửu của Camus. Lời giải thích của Nguyễn Văn Trung đã làm lẫn lộn hoài vọng về một cõi thiên đàng trong kiếp sau với hoài vọng về quê nhà.

Trịnh Công Sơn quả thật đã bị lôi kéo từ hai dòng lực tù đày và quê nhà. Nhiều đêm muốn đi về con phố xa / Nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà, ông đã hát trong Lời thiên thu gọi. Nhưng vì đã được uốn nắn trong một nền văn hóa mà trong đó tình yêu quê nhà đóng một vai trò rất mạnh, Trịnh Công Sơn đã không do dự chọn quê nhà. Ông đã hát Chân đi xa trái tim bên nhà, trong Có nghe đời nghiêngTìm thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá / Góc phố nào cũng thấy quê nhà trong Tình yêu tìm thấy. 


Do đó ta thấy Trịnh Công Sơn không chấp nhận sự nổi loạn chống lại thế giới phi lý như Camus đã cổ võ. Trịnh Công Sơn không thể nào chọn lưu đày làm nơi quê nhà. Tù đày theo Trịnh Công Sơn không phải là sự nổi loạn hiện sinh mà là sự nhìn nhận của một người con Phật trước nỗi khổ và tính cách tạm bợ của cuộc đời: Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây Trịnh Công Sơn hỏi trong Phúc âm buồn. Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này.

Hiện sinh khuyến khích cá nhân đứng lên một mình để chống lại xã hội và văn hóa. Phật giáo, ngược lại, dạy thuyết vô ngã, dạy rằng không có gì khác biệt giữa ta và tha nhân, rằng mọi sự mọi việc trên đời đều hỗ tương ảnh hưởng vào nhau. Tôi tin rằng Trịnh Công Sơn có ý nói đến thuyết vô ngã trong các bài ca của ông. Ông có nói đến “phụ người” như trong bài Ru em nhưng cái buồn của ông thật ra cũng là cái buồn của nhân thế. Yêu em yêu thêm tình phụ / Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ (Ru em). “Từ bi” có nghĩa là tâm từ (maitri) và tâm bi (karuna), hai đức hạnh mà theo Phật giáo mình nên tu dưỡng.

Lúc mới bắt đầu sự nghiệp, Trịnh Công Sơn cũng như nhiều thanh niên trí thức khác tại miền Nam, thích bàn luận về thuyết hiện sinh. Triết lý nói chung và thuyết hiện sinh nói riêng hồi đó là một đề tài rất phổ thông trong giới trẻ. Các bài hát đầu của Trịnh Công Sơn đã đáp ứng được nguyên vọng này của giới trí thức miền Nam. Phật giáo và hiện sinh quả thật có gần nhau ở một vài điểm. Cả hai đều tin rằng con người phải đối diện với cái chết và với ý niệm hư vô trước khi có thể thực sự sống một đời sống đích thực.

Trịnh Công Sơn lúc mới vào nghề nổi tiếng vì đã “chịu chơi” với thuyết hiện sinh nhưng theo tôi Trịnh Công Sơn đã sáng tác nhạc của mình dựa trên các đề tài của Phật giáo. Nếu hồi đó ít ai để ý tới cái tính cách Phật giáo trong các bài của ông, có thể là vì Phật giáo và hiện sinh gặp nhau ở một vài điểm và người ta chỉ để ý đến khía cạnh hiện sinh mà thôi. Tuy nhiên lý do chính vì sao Trịnh Công Sơn vẫn tiếp tục thành công trong một thời rất dài là vì những ưu tư có tính cách rất Phật Trịnh Công Sơn đã gởi gắm trong lời ca của mình.

Nghe nhạc Trịnh Công Sơn đối với nhiều người Việt cũng gần giống như nghe một câu kinh. Nhạc Trịnh Công Sơn khó hiểu nhưng lời ca của ông có khả năng xoa dịu những tâm hồn bị dao động.

Theo John C. Schafer
Tạp chí Văn hóa Phật giáo

Khánh Ly tiết lộ về người phụ nữ mà Trịnh Công Sơn yêu nhất

Khánh Ly thổ lộ việc bà và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không yêu nhau là có lý do. Trong khi bà tự nhận không cạnh tranh nổi với các “bóng hồng” xung quanh ông thì vị nhạc sĩ họ Trịnh lại có một nguyên tắc bất di bất dịch, đó là không yêu phụ nữ đã có gia đình.

Bước qua ngưỡng tuổi 70, Khánh Ly tự nhận mình đã già lắm rồi và mường tượng ra viễn cảnh một ngày nào đó sẽ còn già hơn nữa. Cũng bởi “thấy giờ ai cũng già rồi, người thì đã đi khỏi cuộc sống này, người thì sắp sửa đi” nên Khánh Ly quyết định nói ra nhiều điều về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mà bấy lâu nay bà vẫn giữ ở trong lòng để mọi người hiểu và yêu thêm người như ông.

Lý do Khánh Ly và Trịnh Công Sơn không yêu nhau

Về nước và đến viếng mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Khánh Ly mang theo bó hoa hồng vàng với suy nghĩ giữa hai người là một tình cảm đặc biệt, không thể là hoa hồng đỏ của tình yêu hay bất cứ một màu hoa mang ý nghĩa nào khác mà chỉ có thể là màu vàng – màu bà yêu thích và cho là đẹp nhất.

Khánh Ly bảo suốt bao nhiêu năm qua, đi đâu bà cũng nhận được một câu hỏi quen thuộc, đó là tình cảm giữa bà và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn liệu có phải là tình yêu. Đáp lại, nữ danh ca quả quyết “thường nếu tin thì người ta không hỏi, mà hỏi nghĩa là không tin” nhưng dù thế nào thì việc được vị nhạc sĩ tài ba này yêu hay yêu được ông cũng là diễm phúc.

Khổ nỗi, nói như lời Khánh Ly thì trái tim có lý lẽ riêng của nó và bà tin rằng yêu một người như Trịnh Công Sơn là tự chuốc khổ vào mình bởi ông quá nổi tiếng, mà phàm đã là người nổi tiếng thì làm sao của riêng ai được. Thế nên ai mà khôn ngoan và biết tính toán thì sẽ không yêu ông.

Về phần mình, Khánh Ly tự thấy không “đọ” nổi với các cô gái xung quanh Trịnh Công Sơn bởi họ đều quá đẹp, quá trẻ, quá tài năng, trong khi bà chẳng có gì. Có điều, không yêu được vị nhạc sĩ họ Trịnh mà chỉ đi bên cạnh và đi dưới “bóng mát” cuộc đời ông, với bà lại là một may mắn. “Ông ấy là bóng mát che cho tôi, nên tôi thấy mình còn sung sướng hơn những người được ông ấy nói tiếng: Anh yêu em” – Khánh Ly bộc bạch.

Khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời, có không ít người quen tự nhận là người yêu của ông, trừ Khánh Ly. Khánh Ly bảo bà cũng có thể nói như vậy mà không ai thắc mắc nhưng không vì “như thế là nhận vơ, là ngộ nhận, xấu hổ lắm”.

Nữ danh ca hài hước nói vui bà mà yêu Trịnh Công Sơn thì đã yêu ngay từ lúc đầu tiên hai người gặp nhau chứ không để tới mấy chục năm sau gặp lại mới yêu vì tình yêu mà chậm như thế thì… “ăn” cái gì. Vả lại, bà vẫn tin nếu có điều gì đó xảy ra giữa hai người thì chắc chắn không giữ được tình cảm trân trọng dành cho nhau mà nhìn nhau ê chề lắm.

Thành ra, mặc cho ai còn băn khoăn về tình cảm giữa Khánh Ly – Trịnh Công Sơn, bà vẫn kiên định với suy nghĩ yêu cũng được, không yêu cũng được, điều đó nhiều khi không quan trọng bởi: “Nếu người đó ở trong trái tim của mình, không đi đâu cả thì dẫu người đó không ôm mình ở trong tay đi chăng nữa thì mình vẫn là của người đó và người đó vẫn là của mình”.

Về phía nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Khánh Ly quả quyết ông không bao giờ yêu bà, mà nếu yêu được cũng không yêu. Lý do là bởi Trịnh Công Sơn có nguyên tắc là tuyệt đối không bao giờ yêu người phụ nữ đã có gia đình. Trong khi thời điểm hai người gặp nhau, Khánh Ly đang có chồng con. Tự bản thân Khánh Ly nhận thấy khi ấy, bà ít nhiều gì cũng yêu người chồng của mình, cũng chưa biết gì về vị nhạc sĩ họ Trịnh này để manh nha ý định hy sinh gia đình vì ông. Vì thế tình cảm đôi bên chỉ đơn thuần là sự đồng điệu và trân quý.

Người phụ nữ mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn yêu nhất

Nhắc đến chuyện tình yêu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Khánh Ly bảo nếu quả thực vị nhạc sĩ này có yêu một ai đó hay có ai đó yêu ông thì đó là điều đáng mừng. Bởi lẽ cứ bắt ông phải sống một mình vì mọi người, trong khi ai cũng có đôi có cặp thì tội lắm. Dù tới giờ chẳng ai biết rõ đã có bao nhiêu người phụ nữ đi ngang qua cuộc đời của vị nhạc sĩ tài ba này nhưng Khánh Ly tiết lộ thật ra người phụ nữ mà Trịnh Công Sơn yêu nhất chính là mẹ của ông. “Đó là tình yêu lớn nhất của ông ấy” – Khánh Ly quả quyết.

Cũng theo lời kể của Khánh Ly thì ngoài mẹ ra, đặc điểm chung của những cô gái khiến nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rung động là có mái tóc dài, có đôi vai gầy guộc nhỏ. Đó cũng là lý do ông từng giận Khánh Ly chỉ vì thấy mái tóc ngắn mà bà vừa cắt.

Nhớ lại, Khánh Ly bảo lần đó bà cãi nhau với chồng nên đi cắt phăng mái tóc dài, sau đó hẹn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đi cà phê trò chuyện cho khuây khỏa. Vừa nhìn thấy bà ở đằng xa, vị nhạc sĩ họ Trịnh đã quay lưng đi. Sau khi đuổi theo để hỏi cho ra nhẽ thái độ lạnh nhạt này thì Khánh Ly nhận được câu trả lời ngụ ý trách móc chuyện bà cắt tóc: “Anh không muốn gặp người điên”.

Từ bấy trở đi, Khánh Ly mới biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất thích con gái để tóc dài. Ông từng kể với bà về cảm hứng sáng tác ca khúc “Như cánh vạc bay” là khi ông đi chơi với một cô người yêu ở Cam Ly. Đi qua con suối nhỏ, trên là nắng vàng ruộm, dưới là nước long lanh, cô gái khẽ vén gấu quần dài lên, nhón chân đi rất điệu. Lần đó trở về, ông viết bài hát này.

Điềm gở trước khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời

Khánh Ly thổ lộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là người rất hiền lành và không biết giận hờn ai bao giờ. Nói đúng hơn, người nào để ông giận, tức là ông quý lắm, nhưng ông cũng chẳng giận được lâu vì không thể sống thiếu bạn bè.

Nhẩm tính lại, Khánh Ly bảo suốt mấy chục năm quen nhau, bà và vị nhạc sĩ họ Trịnh chưa bao giờ giận nhau dù có thể lúc nào đó bà làm việc gì khiến ông cảm thấy không hài lòng và ngược lại, nhưng cả hai đều không bao giờ nói ra. Tuy nhiên cách đây 17 năm, khi Khánh Ly về nước và ghé qua nhà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chơi, trong lúc anh em đàn hát cho nhau nghe, bà buột miệng nói vui: “Ai anh Sơn cũng vẽ hết, chỉ có em là anh Sơn chưa vẽ bức nào cho”.

Nghe thế, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bỗng dưng nổi giận đùng đùng và quát: “Đứa mô cũng vậy” (ý chỉ mấy đứa em của ông cũng hay đòi ông vẽ như thế). Bất chợt bị quát nạt, bà khựng lại không biết nói gì, nhìn ông với ánh mắt đầy ngạc nhiên rồi lẳng lặng bỏ về trong tâm trạng vừa buồn vừa giận.

Cả đêm hôm đó, bà không ngủ, sáng sớm hôm sau thì điện thoại cho người cháu đi uống cà phê dù trong lòng rất sốt ruột muốn đến hỏi thăm ông. Giữa lúc tâm trạng rối bời thì bà nhận được điện thoại của ông hỏi đang ở đâu và gọi tới và cả hai lại chuyện trò vui vẻ như chưa có chuyện gì xảy ra.

Sau lần đó, trở về Mỹ, nghĩ lại thái độ lạ lùng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, bà có linh tính chẳng lành. Nhớ lại lời mọi người vẫn bảo rằng người sắp “đi” thì tính tình thay đổi, bà thấy nóng ruột vì sợ lần giận dữ của ông với bà có khi là điềm gở. Và rồi không lâu sau đó, ông đột ngột qua đời.

Cho tới giờ, Khánh Ly vẫn giữ mãi nỗi ân hận và tự trách mình sao không nhận ra sự thay đổi đó ở ông cũng có nghĩa là người này sắp bỏ mình đi để làm cho ông những điều tử tế và đẹp đẽ, có khi chỉ là mời ông ăn một cốc chè hay gọt cho ông một đĩa trái cây – những điều mà bà chưa từng làm cho người anh nhạc sĩ đáng kính này.

Trong dòng hồi ức về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Khánh Ly kể khi còn trẻ, từng có lần ông suýt nữa bỏ mạng vì bà. Đó là vào quãng thời gian năm 1972, khi bà hẹn ông tới một phòng trà ở TPHCM để nghe nhạc. Tối hôm đó, ông chưa tới thì bất ngờ phòng trà này bị nổ, chỗ gác lửng mà bà hẹn ông bị sập xuống khiến nhiều người thiệt mạng. “Cũng may lần đó, ông Sơn chưa kịp tới, nếu không thì tôi ân hận biết bao nhiêu” – Khánh Ly ngậm ngùi nhớ lại.

Dạo gần đây, lần nào trở về Việt Nam, Khánh Ly cũng rong ruổi với những chuyến từ thiện đến với nhiều vùng miền khác nhau, từ các tu viện đến những ngôi chùa, đến với người bị bệnh phong cùi đến các em nhỏ bị nhiễm HIV/AIDS. Khánh Ly bảo ước mong duy nhất của bà lúc này là được hát, được làm thật nhiều việc thiện nguyện để nối dài vòng tay nhân ái đến với mọi người. Vì vậy, bà quyết định dành những năm cuối đời để làm việc thiện. Đây cũng đồng thời là ý nguyện khi còn sống của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Bởi lẽ chính từ những tháng ngày tuổi trẻ rong ruổi cùng ông ca hát khắp nơi, Khánh Ly nhận ra ở người nhạc sĩ này một điều thật vĩ đại, vĩ đại hơn cả những tác phẩm mà ông sáng tác, đó là nhân cách và nhân phẩm. Và vì chẳng bao giờ bà quên được lời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dặn mình là phải ráng sống với một tấm lòng, sống với mọi người bằng sự tử tế và làm những điều gì tốt đẹp nhất cho quê hương.

Khi Khánh Ly lấy chồng ở bên Mỹ, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có viết cho bà một lá thư và nói: “Mai (tên thật của Khánh Ly), bộ hết người lấy rồi sao mà lấy Nguyễn Hoàng Đoan”. Đọc xong lá thư này, Khánh Ly bảo bà thấy bị tổn thương ghê gớm và cũng rất đau lòng nhưng “ông Sơn nói mà, ông ấy nói điều gì, tôi không bao giờ cãi”. Sau này chồng bà biết chuyện về lá thư trên nhưng không giận bởi luôn yêu quý và ngưỡng mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

“Tất cả những cuốn sách mà ông Sơn in được bày bán ngoài quầy, ông chồng tôi mà thấy là mua hết. Tôi thắc mắc thì ông ấy bảo: ‘Anh mua để ai quý ông Sơn thật, anh tặng chứ không muốn để sách của ông Sơn nằm lăn lóc với các cuốn sách khác’. Đó là cách yêu mà ông chồng quái đản của tôi dành cho ông Sơn” – Khánh Ly chia sẻ.

Sau này, chồng của Khánh Ly có đem thắc mắc về lá thư trên nói với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và được vị nhạc sĩ họ Trịnh giải thích: “Tôi không biết về Đoan, chỉ nghe người ta nói thôi nên viết thế, nhưng mà bây giờ tôi biết Đoan làm được cho Mai nhiều điều tốt. Tại vì tôi thấy Mai khổ nhiều rồi, không muốn để Mai nó khổ thêm”.

Theo ANTD

 

Những kết hợp bất thường trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn dưới góc độ ngữ pháp

Đã gần 20 năm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trở về với “cát bụi”. Bao năm qua, ở mọi miền trên đất nước Việt Nam, người ta vẫn xao xuyến khi nhắc đến tên ông, say sưa hát những nhạc phẩm của ông và mê mải viết về ông từ nhiều góc nhìn của văn học, văn hóa, ngôn ngữ, triết học, âm nhạc, đời sống, tôn giáo… Hình như ở bất kì lĩnh vực nào, người ta cũng có thể dễ dàng lấy ông làm đề tài nghiên cứu. Theo dòng chảy mãnh liệt đó, chúng tôi thử liều lĩnh “đọc” những ca khúc của ông dưới góc độ ngữ pháp, trước hết, để thỏa mãn những khao khát của chính mình, sau nữa hi vọng góp một tiếng nói làm sáng rõ hơn những tuyệt phẩm mà ông – kẻ du ca về tình yêu, quê hương và thân phận – đã để lại cho nhân thế.

Người ta đương nhiên thừa nhận Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ, bởi ông đang sở hữu một kho tàng âm nhạc khổng lồ – hơn 500 ca khúc. Người ta còn gọi ông là một nhà thơ, bởi ca khúc của ông thấm đẫm chất thơ và đầy vần điệu. Người ta cũng phải công nhận ông là một triết gia bởi ca từ của ông mang đầy màu sắc triết lý về cõi đời, về nhân thế… Còn chúng tôi, chúng tôi cho rằng ông là một phù thủy về ngôn ngữ. Những độc đáo trong cách sử dụng ngôn ngữ của ông không ai bắt chước được, không ai làm giả được (Lê Hữu). Nó khiến người ta ngỡ ngàng, hạnh phúc; rồi trăn trở, âu lo; rồi thảnh thơi, siêu thoát… Chúng tôi sẽ nói rõ hơn về những khác lạ của ông trong việc sử dụng các kết hợp ngữ pháp (từ cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ cho đến đơn vị câu).

1. Những kết hợp bất thường trong cấu trúc cụm danh từ trong ca từ Trịnh Công Sơn

Các cụm danh từ xuất hiện trong ca khúc của người nhạc sĩ tài hoa này không phải lúc nào cũng theo quy chuẩn thông thường. Những nét độc đáo và những tầng nghĩa mới được nảy sinh từ việc đảo trật tự các thành tố, dùng danh từ đơn vị mang tính chất “lạ” hóa, hoặc dùng các định ngữ bất thường.

1.1. Đảo trật tự các thành tố trong cụm từ

Cấu trúc một cụm danh từ thông thường theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn, gồm 7 thành tố, được sắp xếp như sau:

Tất cả

-4

những

-3

cái

-2

con

-1

mèo

0

đen

+1

ấy

+2

Chỉ tổng lượng (đại từ)

Chỉ lượng (phụ từ, số từ)

Chỉ xuất

Chỉ loại
(danh từ đơn vị)

Trung tâm (Danh từ sự vật)

Từ miêu tả, hạn định

Chỉ định (đại từ)

Tuy nhiên, trong ca từ của Trịnh Công Sơn, có không ít trường hợp trật tự các thành tố bị thay đổi. Đôi khi, việc đảo trật tự khiến ta rất khó minh định ranh giới giữa cụm từ và câu. Dưới đây là một vài thí dụ:

Trật tự của Trịnh Công Sơn

Trật tự thông thường

Xuất xứ (Tên bài hát)

Sen hồng một nụ

Một nụ sen hồng

Đóa hoa vô thường

Quỳnh hương một đóa

Một đóa quỳnh hương

Chuyện đóa quỳnh hương

Hồng má môi em

Má môi em hồng

Đoản khúc thu Hà Nội

Cọng buồn cỏ khô

Cọng cỏ khô buồn

Rừng xưa đã khép

Mùa xanh lá

Mùa lá xanh

Dấu chân địa đàng

Hoa vàng một đóa

Một đóa hoa vàng

Hoa vàng mấy độ

Hoa vàng mấy độ

Mấy độ hoa vàng

Hoa vàng mấy độ

Tóc xanh mấy mùa

Mấy mùa tóc xanh

Phôi pha

Tất nhiên, trước hết, việc đảo trật tự từ ngữ phụ thuộc vào giai điệu và nốt nhạc mà từ ngữ đó phải chuyển tải, nhưng đồng thời xét ở lĩnh vực ngôn ngữ, việc đảo trật tự theo kiểu danh từ sự vật đứng trước danh từ đơn vị và số từ hoặc lượng từ là để nhấn mạnh danh từ sự vật. Có trường hợp, nhạc sĩ lại đảo định tố ở vị trí +1 lên trước danh từ trung tâm: Cọng buồn cỏ khôCọng buồn ngay lập tức trở thành một kết hợp độc đáo, bởi người ta thường chỉ nói nỗi buồn, hoặc cùng lắm là sợi buồn(Sợi buồn con nhện giăng mau – Huy Cận). Kết hợp cọng buồn biến danh từ trừu tượng nỗi buồn thành một thực thể có thể nắm bắt được, đếm được. Nói cách khác, nỗi buồn đã hiện hình và mang cảm giác mong manh, vấn vương, phôi phai, lạc loài.

1.2. Dùng danh từ đơn vị mang tính chất “lạ hóa”

Trong hệ thống các danh từ đơn vị mà Trịnh Công Sơn sử dụng, chúng tôi nhận thấy ông rất hay dùng từ vùng và từ phiến:

– Tay măng trôi trên vùng tóc dài (Còn tuổi nào cho em)

– Vùng tương lai chợt xa xôi (Gọi tên bốn mùa)

– Vùng u tối loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng (Dấu chân địa đàng)

– Tôi xin năm ngón tay em thiên thần trên vùng ăn năn qua cơn hờn dỗi (Lời buồn thánh)

– Phiến sầu là tháng ngày (Lời của dòng sông)

– Từng phiến mây hồng / từng phiến băng dài (Tuổi đá buồn)

– Ru mãi ngàn năm từng phiến môi mềm (Ru em từng ngón xuân nồng)

Nếu so với khoảng, lát, miếng,… thì vùng và phiến là những không gian vừa xác định, vừa không định và có độ mở nhiều chiều, nhất là chiều sâu, độ dày nên dễ gợi liên tưởng đến chiều, độ của cảm xúc, tâm hồn. Trịnh Công Sơn thực sự đã “không gian hóa” tất cả những sự vật cụ thể cũng như trừu tượng. Ta có cảm giác sự vật, thực thể nào đối với ông cũng có thể khuôn lại được, sờ nắn được.

Người ta nói nỗi sầu thì ông nói giọt sầu (Còn tuổi nào cho em), làm ta liên tưởng tới Sầu đong càng lắc càng đầy của cụ Nguyễn Du; rồi bãi sầu (Lời của dòng sông), nghe đầy nhức nhối; và cả trái sầu (Như một vết thương), phiến sầu (Lời của dòng sông) nữa. Người ta nói bản tình ca thì ông nói ngọn tình ca (Góp lá mùa xuân), nghe đã thấy dâng đầy sức sống, cảm xúc. Người ta nói mái tóc thì ông nói dòng tóc (Ru em từng ngón xuân nồng), làm ta cảm thấy ngay được độ miên man, mềm mại, vương vít của nó. Người ta nói chuyến xe, chuyến đò thì ông nói chuyến mưa(Diễm xưa); đúng là một tâm trạng đợi chờ khắc khoải, chờ mưa như nó vốn đến và đi theo chuyến, tức là theo luật lệ nhất định. Rồi người ta nói chân mây hay cuối ngày thì ông nói chân ngày (Cỏ xót xa đưa), gợi bước đi thời gian trong những ngẫm ngợi xót xa. Người ta nói ngón tay hay màn sương, búp xuân hồng thì ông nói ngón sương mù (Gọi tên bốn mùa), ngón xuân nồng (Ru em từng ngón xuân nồng), cho những không gian, âm thanh, cảm xúc hiện hình, trinh nguyên, nuột nà, thánh thiện. Người ta nói sự hoang vu thì ông nói nhánh hoang vu (Cỏ xót xa đưa), nhánh vốn là danh từ đơn vị thường đi với cỏ, nỗi cô đơn được định hình đầy mong manh… Người ta nói đôi mắt thì ông nói vườn mắt (Nắng thủy tinh), làm ta thấy như mình đang lạc vào một không gian chan chứa nắng, trong veo, đong đầy cặp mắt người tình.

Những khác lạ ấy làm nên một Trịnh Công Sơn hết sức tinh tế trong cảm nhận sự vật và cũng đầy ưu tư, trăn trở với đời. Người thi sĩ trong âm nhạc này đã cảm nhận cuộc sống sinh động bằng tất cả các giác quan, bằng trực giác và linh giác. Về điểm này, Trịnh Công Sơn cũng giống như các thi sĩ có mẫn cảm nhạy bén, như Xuân Diệu chẳng hạn.

Như vậy, điểm độc đáo của Trịnh Công Sơn là ghép những danh từ sự vật cụ thể với danh từ đơn vị trừu tượng; và ngược lại, ông lại ghép danh từ sự vật trừu tượng với những danh từ đơn vị cụ thể. Chính điều này làm cho những sự vật hữu hình trở nên bớt trần trụi, lung linh hơn, huyền ảo hơn; còn những sự vật vô hình, trừu tượng thì lại được định hình, đến mức dường như chúng ta giơ tay ra là có thể nắm bắt được. Tất cả làm cho thế giới sự vật trong ca từ của ông trở thành một thế giới vừa thực vừa ảo.

1.3. Dùng các định ngữ bất thường

Cách dùng danh từ đơn vị của Trịnh đã độc đáo, cách ông đưa ra các định ngữ đi kèm với các danh từ của mình còn độc đáo hơn. Dễ dàng tìm thấy trong ca khúc của ông những định ngữ hoàn toàn bất ngờ với suy nghĩ của người Việt. Đặc biệt là những định ngữ gắn với tình, thôi thì đủ trọng lượng, đủ chiều kích: tình dài (Bay đi thầm lặng), tình đầy (Đời cho ta thế), tình vơi (Lặng lẽ nơi này)tình sâu (Xin trả nợ người)… Ông rất quan tâm đến sự đầy vơi, hư hao, cho nên mới có ngày tháng vơi (Phúc âm buồn), nắng đầy (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vuicơn đau dài (Mưa hồng), những chen đua lâu dài (Một lần thoáng có)… Hãy đọc thật chậm các kết hợp từ của Trịnh:

– Những dấu chân ngoan, hố tuyệt vọng (Có những con đường)

– Ngọn gió hư hao (Có một ngày như thế)

– Chiều bạc mệnh, phút cao giờ sâu (Đóa hoa vô thường)

– Cành thênh thang, cành bão bùng (Gọi tên bốn mùa)

– Ngày yêu dấu, mây vô danh (Hãy cứ vui như mọi ngày)

– Mây hoang đường (Hai mươi mùa nắng lạ)

– Nắng vô thường / Chút hương nhân từ (Mưa mùa hạ)

– Hạnh phúc ngu ngơ (Ngày nay không còn bé)

– Màu lá thanh xuân, ngày tháng hoang vu (Người về bỗng nhớ)

– Màu sương thương nhớ (Nhớ mùa thu Hà Nội)

– Đá ngây ngô (Rồi như đá ngây ngô)

Vậy là với Trịnh Công Sơn, những sự vật vốn vô tri vô giác bỗng mang tình cảm, tâm trạng con người. Cho nên ta mới gặp phố hoang mang, nhịp chân bơ vơ, cát bụi mệt nhoài… Đến với Trịnh, ta còn nghe thấy lời tà dương, lời mộ địa, lời bể sông(Một cõi đi về), như là vật gì trên đời này cũng có thể cất lên tiếng nói; Từng lời bể sông là lời mộ địa chính là tiếng hấp hối của một ngày. Danh từ thời gian tháng, ngày thì hay gắn với các tính từ hoang vu, âm u… bởi cảm giác cô đơn lúc nào cũng bủa vây Trịnh. Con người Trịnh luôn sống với thiên nhiên, hòa nhập với nhiên nhiên, coi đó như người bạn, như người tình nên sỏi, đá, nắng, phố, cát bụi… cũng nhuốm đầy tâm trạng. Những hình ảnh này xuất hiện dày đặc trong ca từ của người nhạc sĩ lãng du cũng là bởi trong tiềm thức của ông luôn chịu sự ảnh hưởng của triết lí tôn giáo: vũ trụ nguyên sơ, vạn vật hữu tình. Bàn tay xanh xao thì nhiều người nói nhưng bàn tay đói (Cuối cùng cho một tình yêu) thì thật lạ. Nắng vàng mong manh chúng ta cũng đã từng nghe nhưng nắng vàng nghèo hay nắng vàng lạc trên lối đi (Em còn nhớ hay em đã quên) thì chỉ có ở Trịnh mà thôi. Có cái gì man mác buồn trong cách nhìn sự vật ở Trịnh. Đúng là ông chịu lực hút chủ đạo không phải từ sự sinh trưởng – khoẻ khoắn – ấm áp – tươi vui, mà là từ những gì tàn lụi – héo úa – mòn mỏi – u sầu – lạnh lẽo. Nhưng những thứ mà người trần coi là buồn đau thì ông lại nhìn một cách lạc quan, cho nên mới có vết thương hồn nhiên (Tưởng rằng đã quên), trái sầu rực rỡ (Như một vết thương), niềm đau ngọt ngào (Tình xót xa vừa)… Với con mắt trần gian thì các kết hợp ấy thật ngược đời. Song với Trịnh, cảm xúc, tinh thần này có được ở ông bởi ý niệm siêu thoát ảnh hưởng từ tư tưởng tôn giáo. Nhìn xa hơn, những cặp đối lập luôn luôn xuất hiện trong tư tưởng Trịnh, như ông vẫn xem cuộc đời nhị nguyên này vốn bao gồm những cặp phạm trù đối lập nhau, khó dung nạp song cũng khó phân ly. Ông ôm tất cả và không bao giờ tìm cách chia tách chúng. Cho nên ca từ của ông mới tràn ngập các kết hợp sống – chết, nhật – nguyệt, đêm – ngày, buồn – vui, sum họp – chia phôi, khổ đau – hạnh phúc, hay niềm đau – ngọt ngào

 2. Những kết hợp bất thường trong cấu trúc cụm động từ

Trong cấu trúc cụm động từ của Trịnh, những bổ ngữ xuất hiện cũng đầy khác lạ, đặc biệt là các bổ ngữ đối tượng. Người ta tìm anh, tình em thì Trịnh đi tìm tình (Bống không là bống). Người ta tặng hoa, tặng quà thì Trịnh lại tặng một phố chờ (Đoản khúc thu Hà Nội). Người ta phơi áo thì Trịnh phơi cuộc tình (Ru ta ngậm ngùi), thậm chí là phơi tình cho nắng khô mau / treo tình trên chiếc đinh không (Tình xót xa vừa). Người ta chọn rau, chọn quả thì Trịnh chọn một niềm vui, chọn ngồi thật yên, chọn nắng đầy (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui). Người ta nhặt lá, nhặt thóc thì Trịnh lại nhặt gió trời (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui). Người ta đi trong mưa thì Trịnh đi trong chuyện cũ ngày xưa/ đi trong hạnh phúc quê nhà (Hai mươi mùa nắng lạ). Người ta chở hàng, chở khách thì Trịnh chở ngày hấp hối (Vàng phai trước ngõ). Người ta ôm người yêu thì Trịnh ôm mịt mùng (Tình xót xa vừa). Người ta nghiêng mình thì Trịnh lại nghiêng sầu (Mưa hồng), rồi nghiêng đời xuống nhìn suốt một mối tình (Để gió cuốn đi)… Động từ đi có thể gắn với rất nhiều bổ ngữ chỉ không gian, song có lẽ chẳng ai nói đi quanh từng giọt nước mắt (Ru đời đã mất). Nghe đã thấy đời thật buồn! Bổ ngữ cách thức, bổ ngữ chỉ mục đích cũng thật đặc biệt, cho nên mới có yêu em thật thà (Hoa vàng mấy độ), gọi em cho nắng chết trên sông dài (Hạ trắng),…

Đọc các cụm động từ của Trịnh Công Sơn, ta như lạc bước vào một công cuộc thể nghiệm ngôn ngữ Việt đầy lí thú. Mỗi một kết hợp ngắn gọn là một nội dung ngữ nghĩa hết sức dày dặn mà Trịnh muốn chuyển tải. Chẳng hạn kết hợp nghiêng sầuhay nghiêng đời ở trên, vẫn là dự cảm về một cuộc đời đầy bấp bênh, xuất phát từ tư tưởng nhà Phật: Cuộc đời này vốn là cõi tạm, con người dừng chân ghé chơi. Hoặc kết hợp của động từ nghe với những thứ không phải là thanh âm thông thường: nghe sầu lên trong nắng, nghe tên mình vào quên lãng, nghe tháng ngày chết trong thu vàng (Nhìn những mùa thu đi), nghe tình đổi mùa (Những con mắt trần gian), thậm chí nghe cả im lặng thở dài (Tôi đã lắng nghe) và tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi (Cát bụi)… Ít có nghệ sĩ nào có thính lực kỳ lạ như Trịnh Công Sơn, ông nghe được âm thanh vô thanh và rỗng nghĩa trong bước đi của thời gian, nghe được sự chết dần của đời người, nghe được tiếng chuông gọi hồn đều đều nhẫn nại… Tất cả mọi thanh âm qua thính giác của Trịnh đều gắn với sự cô đơn tận cùng của một con người lúc nào cũng mang trong mình ý nghĩ sinh ra đã là một kẻ thua cuộc… Môtíp quen thuộc của Trịnh là gắn những động từ chỉ hoạt động thông thường với những bổ ngữ trừu tượng. Tất cả thống nhất trong cái nhìn sự vật luôn luôn động, luôn luôn biến đổi của ông.

3. Những bất thường trong cấu trúc cụm tính từ

3.1. Kết hợp so sánh

Vẫn rất xứng đáng là “kẻ du ca về tình yêu”, Trịnh Công Sơn có những so sánh thật lạ với đối tượng tìnhtình xa như trời, tình gần như khói mây, tình trầm như bóng cây, tình reo vui như nắng… rồi tình mềm trong tay (Tình sầu). Ngoài ra còn hàng loạt các kết hợp so sánh bất ngờ với các tính từ hết sức quen thuộc: xanh, trắng, buồn, mong manh, ngoan,…:

– Có những bạn bè xanh như người bệnh (Bay đi thầm lặng)

– Rồi một chiều tóc trắng như vôi (Cát bụi)

– Buồn như giọt máu lặng lẽ nơi này (Lặng lẽ nơi này)

– Thân mong manh như lau sậy hiền (Níu tay nghìn trùng)

– Mặt đường bình yên nằm ngoan như con suối (Thành phố mùa xuân)

– Nắng có hồng bằng đôi môi em/ Mưa có buồn bằng đôi mắt em (Như cánh vạc bay)…

Đứng ở góc độ phong cách học, tất cả những kết hợp nói trên đều thuộc phép so sánh tu từ. So sánh để làm rõ hơn đối tượng, song đồng thời cũng mang tới những đặc trưng mới cho đối tượng. Điều đáng quan tâm ở đây là Trịnh Công Sơn có những so sánh hết sức táo bạo, gây bất ngờ và tạo được những rung động mạnh cho xúc cảm thẩm mĩ ở người nghe.

Trịnh Công Sơn khá nhạy cảm với một số tính từ nhất định như: lênh đênh, tiều tụy, hư hao, thênh thang, bão bùng… Đặc biệt, ông rất hay sử dụng tính từ mong manh, (gió mong manh, cỏ lá mong manh, sống chết mong manh, tay gối mong manh, tình mong manh, thân mong manh…). Với Trịnh Công Sơn, cuộc này thật mà hư ảo. Theo Bửu Ý, dường như đây là một ám ảnh lớn trong vũ trụ quan và nhân sinh quan của nhạc sĩ.

3.2. Sắc màu của Trịnh

Màu sắc của Trịnh cũng thật lạ, nó lại gắn với những sự vật mà người ta không ngờ tới.

Trước hết là màu hồng. Màu hồng nhạthồng đậm,… thì bình thường nhưng hồng vừa thì chưa ai nói. (Đấy là ta chưa bàn tới các kết hợp giấc ngủ vừa (Dấu chân địa đàng); tình xót xa vừa (Tình xót xa vừa). Màu hồng xuất hiện trong câu cũng thật đặc biệt: Em hồng một thuở xuân xanhMê man trời hồng vượt đồi lên non (Ra đồng giữa ngọ)…

Màu xanh lại càng lạ:

– Chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa (Diễm xưa);

– Nhìn lại mình đời đã xanh rêu (Tình xa);

– Thuở hồng hoang đã thấy đã xanh ngời liêu trai (Xin mặt trời ngủ yên)

– Xanh yếu làn da, xanh mướt hồng nhan (Góp lá mùa xuân)

– Tiếng hát xanh xao (Lời buồn thánh)

– Em mướt xanh như ngọc mà tôi có đâu ngờ (Hoa xuân ca)

– Tuổi mười sáu xanh cho mọi người (Môi hồng đào)

Màu tím thì có: Chiều tím loang vỉa hè (Nhìn những mùa thu đi). Màu vàng là vàng phai (Vàng phai trước ngõ). Rồi xanh đi với hồng đến khó hiểu song đầy ám ảnh: Hai mươi giấc mộng xanh hồng quá (Hai mươi màu nắng lạ)…

Ngoài ra, một số từ ngữ đóng vai trò là bổ ngữ trong cụm tính từ của Trịnh Công Sơn cũng làm người nghe bất ngờ. Hình như ông chiêm nghiệm cuộc đời bằng quá nhiều những nhạy cảm: Tóc em dài đêm thần thoại (Gọi tên bốn mùa); Lá khô vì đợi chờ (Như cánh vạc bay)… Ông đã so sánh cái mướt dài, huyền diệu của tóc với đêm thần thoại. Ngoài ẩn dụ lá… đợi chờ, bổ ngữ nguyên nhân ở đây thật lạ với cách lý giải khô vì đợi chờ.

4. Sự chuyển hóa từ loại trong ca từ Trịnh Công Sơn

Sự chuyển hóa từ loại diễn ra trong tiếng Việt không phải hiếm và quá đặc biệt, nhưng khi nghe ca từ nhạc Trịnh, người ta vẫn cảm thấy ông đã phù phép cho những từ ngữ của mình. Một số danh từ được dùng như tính từ, chẳng hạn: Ôi tóc em dài đêm thần thoại (Gọi tên bốn mùa); hay Em đi biền biệt muôn trùng quá (Còn ai với ai). Và cũng không ít những tính từ lại được dùng như danh từ: Vàng phai sẽ cuốn đi mịt mù (Vàng phai trước ngõ); Và tôi đứng bên âu lo này (Này em có nhớ); Ta cười với âm u (Những con mắt trần gian); Đôi tay vẫn còn ôm mịt mùng (Tình xót xa vừa); Bàn tay xôn xao đón ưu phiền (Nắng thủy tinh)…

Thậm chí tính từ chỉ màu sắc vốn không kết hợp với phụ từ mệnh lệnh đi nhé nhưng kết hợp này vẫn xuất hiện trong ca từ Trịnh Công Sơn: Hồng đi nhé xin hồng với nụ (Vàng phai trước ngõ). Đây là trường hợp tính từ được dùng như động từ. Cảm giác rằng ông đã hòa nhập tận cùng với thiên nhiên, nên có thể sai khiến, dụ dỗ cả một nụ hoa. Rồi có động từ được dùng như danh từ: Nghe những tàn phai (tên một bài hát). Như đã nói, bằng một thính lực kỳ lạ, ông đã nghe được bước đi của thời gian trong sự biến chuyển của tạo vật.

5. Những kết hợp bất thường trong cấu trúc câu

5.1. Những cấu trúc dưới dạng định nghĩa

Xét từ góc độ ngôn ngữ, chúng tôi cho rằng Trịnh Công Sơn là một nhà Từ điển họctinh tế, bởi ông đã đưa ra những định nghĩa mới, thú vị cho những sự vật quen thuộc:

– Con sông là thuyền, mây xa là buồm (Bốn mùa thay lá)

– Con sông là quán trọ và trăng tên lãng du (Biết đâu nguồn cội)

– Tên em là vết thương khô (Khói trời mênh mông)

– Tôi thấy tôi là chút vết mực nhòe (Ngày nay không còn bé)

– Đời mình là những chuyến xe/ Đời mình là những đám đông/ Đời mình là những quán không/ Đời mình là con nước trôi (Nghe những tàn phai)

– Có khi mưa ngoài trời là giọt nước mắt em/ Ngoài phố mùa đông, đôi môi em là đốm lửa hồng (Ru đời đi nhé!)

Từ góc độ phong cách học, có thể xem đây là những so sánh tu từ. Trịnh Công Sơn đã đem đối chiếu, quy hệ những đối tượng thuộc các phạm trù quá cách biệt nhau để tạo nên những hiệu quả biểu đạt, tri nhận sự vật và xúc cảm thẩm mĩ hết sức sâu sắc, gợi nhiều liên tưởng phong phú nơi người nghe. Cho nên nhìn mưa ngoài trời, ông lại thấy đó là những giọt nước mắt của người tình, hình như nỗi sầu đang dâng đầy trong ông. Đi trong đêm lạnh mùa đông, ông tưởng tượng môi em là đốm lửa hồng, sửa ấm lòng người, xua tan băng giá. Với một người khát sống như Trịnh Công Sơn, ngồi nơi này, nhớ nơi kia, lúc nào cũng sợ không đủ thời giờ cho kiếp người, ngoảnh lại đã thấy đời xanh rêu, nên ông luôn luôn thích sự xê dịch, cho nên mới có Đời mình là những chuyến xe, đời mình là con nước trôi… Với quan niệm cuộc đời là một vấn nạn, bấp bênh và tình yêu thì mù lòa, Trịnh Công Sơn hay nói tới danh từ vết thương, và vì vậy mới có Tên em là vết thương khô,

Không sao có thể diễn tả hết được những ý nghĩa mà Trịnh Công Sơn muốn khoác cho các sự vật, hiện tượng thông qua các định nghĩa của mình. Chỉ có thể nói rằng bởi cách nhìn cuộc đời của ông quá độc đáo, quá tinh tế nên những người đã yêu nhạc Trịnh thì bao giờ cũng yêu cả phần lời ca của ông.

5.2. Những quan hệ bất thường về nghĩa giữa chủ ngữ và vị ngữ

Quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ trong câu tiếng Việt luôn là mối quan hệ ràng buộc, hai chiều. Thông thường, vị ngữ phải nêu những đặc trưng vốn có ở chủ ngữ, phù hợp với chủ ngữ. Song với Trịnh, vị ngữ luôn nêu những đặc trưng bất ngờ, tự ông gán cho sự vật. Do vậy mới có những lời ca kỳ diệu như ở dưới đây:

– Đêm chờ ánh sáng, mưa đòi cơn nắng. / Những giọt mưa, những nụ hoa hẹn hò gặp nhau trước sân nhà. (Bốn mùa thay lá)

– Trăng muôn đời thiếu nợ mà sông không nhớ ra. (Biết đâu nguồn cội)

– Mùa xuân quá vội, mười năm tắm gội, giật mình ôi chiếc lá thu phai. (Chiếc lá thu phai)

– Về bên núi đợi ngậm ngùi ôi đá cũng thương thay. (Chiếc lá thu phai)

– Đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ, sỏi đá trông em từng giờ (Biển nhớ)

– Bờ vai như giấy mới sợ nghiêng hết tình tôi (Thương một người)

– Gió đêm nay hát lời tù tội quanh đời (Này em có nhớ)

– Mùa xuân vừa đến xin mãi ăn năn mà thôi (Ru em từng ngón xuân nồng)

– Đám rong rêu xếp hàng. (Một ngày như mọi ngày)

– Xin mây xe thêm màu áo lụa. (Còn tuổi nào cho em)

– Một ngày như mọi ngày từng chiều lên hấp hối (Một ngày như mọi ngày)

– Bàn tay xôn xao đón ưu phiền (Nắng thủy tinh)

Phép nhân hóa là một biện pháp tu từ thường thấy trong ca từ nhạc Trịnh. Rất nhiều những sự vật vô tri, vô giác mang tâm trạng con người: cỏ lá biết buồn, biển biết nhớ, gió biết hát, đêm biết đợi chờ, mưa biết đòi cơn nắng, rong rêu biết xếp hàng… Bởi chính nhạc sĩ đã hóa thân vào những sự vật bình thường và tầm thường nhất. Dường như ông muốn trốn chạy khỏi cõi đời mà lúc nào ông cũng thấy chênh vênh, mất mát, bấp bênh. Song khi ông đã yêu thì mọi vật xung quanh ông cũng biết yêu. Đôi khi, trong Trịnh, dòng chảy tâm tư quá nhanh, quá ồ ạt đã khiến lời ca của ông bị dồn nén, các từ bị rút ngắn đến độ khó mà có thể hiểu trọn vẹn từng câu. Đành phải hiểu cảm xúc chung của cả bài. Như trong bài Có nghe đời nghiêng, cả bài hát giống như tâm sự của người ở lại khi tất cả bỗng dưng trống vắng: Ngày thu đông phố xưa nằm bệnh, đàn chim non réo bên vườn hoang, người ra đi bến sông nằm lạnh, này nhân gian có nghe đời nghiêng. Hoặc trong bài Chiếc lá thu phai có câu: Chiều hôm thức dậy, ngồi ôm tóc dài, chập chờn lau trắng trong tay, Trịnh Công Sơn muốn chuyển tải những thông điệp: Cuộc đời thật ngắn ngủi, thật buồn; ngoảnh đi ngoảnh lại, ta đã già; hãy cố gắng để quên đi những ám ảnh về tuổi tác. Cũng phải là một con người trải nghiệm trên đường đời nhiều lắm thì mới có thể viết: Có con đường chở mưa nắng đi (Em còn nhớ hay em đã quên)… Ngôn từ của Trịnh đã kết tinh đến độ đơn khiết, cô đọng nhất.

5.3. Đảo trật tự cú pháp (đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ)

Hãy đọc những ca từ sau đây và sắp xếp lại theo trật tự của chúng ta – những người nhìn cuộc đời bằng con mắt trần gian:

– Vừa tàn mùa xuân rồi tàn mùa hạ (Một cõi đi về)-> Mùa xuân vừa tàn, rồi mùa hạ cũng tàn.

– Xôn xao con đường, xôn xao lá (Đoản khúc thu Hà Nội) -> Con đường xôn xao, lá cũng xôn xao.

– Hồng má môi em hồng sóng xa (Đoản khúc thu Hà Nội) -> Má môi em hồng, sóng xa hồng.

– Mệt quá đôi chân này/ Mệt quá thân ta này (Ngẫu nhiên) -> Đôi chân này mệt quá / Thân ta này mệt quá.

– Đừng phai nhé một tấm lòng son (Vườn xưa) -> Một tấm lòng son đừng phai nhé!

– Đã về trên sông những cánh bèo xanh (Khói trời mênh mông) -> Những cánh bèo xanh đã về trên sông.

– Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người. (Để gió cuốn đi) -> Hãy yêu ngày tới dù kiếp người quá mệt …

Cách chúng ta đảo lại như vậy có thể làm ta dễ hiểu hơn, song hình như nó sẽ làm hỏng nhạc Trịnh.

Còn một kiểu sắp xếp nữa mà ta cũng thường gặp trong ca từ của Trịnh. Nó không phải là bất thường, mà là đặc biệt. Đó là việc Trịnh sử dụng kiểu câu đảo bổ ngữ lên trước làm đề ngữ. Cũng có khi thành phần phía trước được xem là trạng ngữ; tuy nhiên, trạng ngữ này lại quan hệ rất chặt với động từ trong câu. Câu thường kết thúc bằng một động từ, nghe khá đột ngột. Thí dụ:

– Vườn khuya đóa hoa nào mới nở / Đời ta có ai vừa qua / Rồi bên vết thương tôi quỳ. / Từ những phố kia tôi về. (Đêm thấy ta là thác đổ)

– Sáng cho em vòm lá me xanh. / Phố em qua gạch ngói quen tên (Em còn nhớ hay em đã quên)

– Im lặng của đêm tôi đã lắng nghe. (Tôi đang lắng nghe)

– Về trong phố xưa tôi nằm (Lời thiên thu gọi)

– Tuổi buồn em mang đi trong hư vô (Tuổi đá buồn)

Thường thì ta sẽ nói: Đóa hoa nào mới nở trong vườn khuya/ Có ai vừa qua đời tôi/ Tôi quỳ bên vết thương./ Tôi về từ những phố kia./ Gạch ngói quen tên phố em qua./ Tôi đã lắng nghe im lặng của đêm./ Em mang tuổi buồn đi trong hư vô… Kiểu câu không kết thúc bằng thành phần bổ ngữ mà kết thúc bằng chính động từ trung tâm, như đã nói, luôn khiến người nghe có cảm giác đột ngột. Song chính điều đó lại làm nên sức hấp dẫn của nhạc Trịnh; để khi nghe nhạc Trịnh, người ta luôn cảm thấy thiếu, muốn kiếm tìm, muốn nghe mãi…

Còn có những kết hợp khó có thể sắp xếp lại theo thứ tự thông thường, cũng khó mà gọi đó là cụm từ hay là câu nữa. Chẳng hạn như: Tuổi nào vừa thoáng buồn áo gầy vai hay Cuồng phong cánh mỏi hoặc Cỏ xót xa đưa… Điều này càng làm cho ta thấy nhạc sĩ nhìn sự vật, nhìn cuộc đời bằng con mắt khác với chúng ta. Lời ca của Trịnh, nói theo Bửu Ý, đã được đặc cách hóa thành Kinh. Kinh là những lời ước nguyện nhằm chuyển hóa thực tại. Kinh của Trịnh Công Sơn là do chính ông phát nguyện, dóng tiếng và gởi gắm trở lại cho chính mình.

Mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại nghĩa trang Gò Dưa (Thủ Đức-TPHCM)
Mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại nghĩa trang Gò Dưa (Thủ Đức-TPHCM)

Đọc Trịnh Công Sơn dưới góc độ ngữ pháp, chúng tôi không dám nói nó có giúp ta nhiều không trong việc hiểu nhạc Trịnh. Song chúng tôi ghi nhận ở người nhạc sĩ tài hoa này một mẫn cảm ngôn ngữ tuyệt diệu. Bằng những kết hợp lạ lẫm, những so sánh bất ngờ, những sắp xếp độc đáo, thông qua một tri giác bén nhạy, nhiều tầng, đa chiều kích, và với một tâm hồn lãng mạn của một thi sĩ, Trịnh Công Sơn đã làm phong phú thêm kho tàng ngôn ngữ Việt. Trịnh Công Sơn đã sống và đã yêu hết mình, dù cho ông yêu cuộc đời này bằng nỗi lòng của một tên tuyệt vọng. Mỗi ca từ ông để lại cho đời đều thấm đẫm giá trị nhân bản. Hãy sống và yêu đi, như ông đã từng viết: Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ! (Mưa hồng)…

Theo Tạp Chí Ngôn Ngữ

Đóa “hoa vàng một thuở” của Trịnh Công Sơn

Hầu như mọi người đều biết, không ít những bản tình ca của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thường được anh sáng tác từ những cảm xúc dành riêng cho một đối tượng trong đời sống tình cảm đầy lãng mạn của mình. Trong số đó, “Hoa Vàng Mấy Độ” và “Như Một Lần Chia Tay”, cho đến nay vẫn được nhiều người yêu thích nhạc Trịnh tìm hiểu về xuất xứ.

Hơn 3 năm sau khi Trịnh Công Sơn qua đời, những thắc mắc về hai nhạc phẩm trên đã được giải đáp rõ ràng khi CD “Hoa Vàng Một Thuở” được chính thức ra mắt tại Toronto sau đó. Người trình bày hai nhạc phẩm này (cùng một số nhạc phẩm của những tác giả khác) cũng là người thực hiện CD “Hoa Vàng Một Thuở” mang tên Hoàng Lan. Cô chính là nguồn cảm hứng để Trịnh Công Sơn viết thành hai ca khúc tình cảm bất hủ đó.

Hoàng Lan

Phạm Thị Hoàng Lan sinh tại Sài Gòn và là con út trong một gia đình gồm 6 người con, trong số có một người mất sớm.

Thời kỳ thơ ấu, Hoàng Lan được cặp nghệ sĩ nổi danh Kiều Hạnh – Phạm Đình Sỹ nhận làm con nuôi, ở chung trong một căn nhà trên đường Bùi Thị Xuân. Trong khi đó mẹ cô – bạn thân của nghệ sĩ Kiều Hạnh – thường đi lại giữa Sài Gòn và Đà Lạt lo việc đầu tư nhà đất.

Năm lên 7, Hoàng Lan đã đi hát với gia đình ban nhi đồng Tuổi Xanh của Kiều Hạnh và Phạm Đình Sỹ với tên Tí Hon, cũng là tên gọi ở nhà. Trong một thời gian khá dài, cô đã cùng với ban Tuổi Xanh hát trong các chương trình Phát Thanh Học Đường trên đài Sài Gòn và trong các buổi phát thanh dành cho thiếu nhi trên đài Quân Đội.

Nhờ có năng khiếu văn nghệ cùng một gương mặt xinh xắn mang những nét hồn nhiên, khi mới được 9 tuổi vào năm 1969, Hoàng Lan được mời đóng vai chính trong phim “Đôi Guốc Của Bé” do Minh Đăng Khánh đạo diễn cùng với Sĩ Phú, Linh Sơn, Hoàng Long.

Nhưng rất tiếc, cuốn phim này bị cấm nên đã không có dịp trình chiếu trước khán giả, ngoài một buổi ra mắt giới báo chí. Cũng với tên Tí Hon, cô đã được mời giữ một vai phụ trong phim “Như Giọt Sương Khuya” với Trần Quang và Bạch Tuyết, do Bùi Sơn Duân đạo diễn.

Sau biến cố tháng 4 năm 75, cô được mời đóng vai chính trong phim “Tiếng Đàn”. Tuy từng hoạt động về ca nhạc và điện ảnh từ khi còn nhỏ, nhưng “thật ra em không thích ca hát hay đóng phim. Đúng ra em bị bắt làm như vậy trong thời gian ở với gia đình Kiều Hạnh, tuy là một gia đình văn nghệ nhưng rất khó và nề nếp”, như lời Hoàng Lan tâm sự. Trong khi đó cô lại ưa thích nhất bộ môn múa, nhưng không được sự đồng ý của mẹ.

Tuy nhiên vì quá ham thích múa nên cuối cùng Hoàng Lan đã thuyết phục được mẹ để thi vào ngành múa chuyên nghiệp tại trường Quốc Gia Âm Nhạc, sau khi học đến lớp 10 trường Trưng Vương vào năm 75. Năm 80, cô ra trường và đi dạy tại trường Văn Hoá Thành Phố trong 2 năm liên tiếp.

Năm 85, Hoàng Lan cùng chồng vượt biên và sau đó được vào Canada. Đầu tiên, gia đình cô cư ngụ tại thành phố Hamilton, gần Toronto trong 3 năm trước khi dời về Sonny Creek để sống ở đây 10 năm. Cuối cùng, vợ chồng cô và 2 con gái về cư ngụ ở Burlington cho đến nay.

Trong hơn 10 năm đầu tiên sống ở Canada, Hoàng Lan không có một hoạt động văn nghệ nào, cho đến năm 1996. Trong dịp tham dự buổi tiệc khánh thành văn phòng luật sư của một người bà con, cô gặp một người trong Hội Phụ Nữ Toronto và được mời tham gia vào những sinh hoạt văn nghệ của Hội Cựu Học Sinh Trưng Vương.

Hoàng Lan nhận lời và từ đó dần dần trở thành một khuôn mặt quen thuộc trong những sinh hoạt có tính cách cộng đồng. Ngoài ca hát, cô còn là người hướng dẫn về múa cho một số hội đoàn ở Toronto cũng như là người điều khiển chương trình cho nhiều buổi văn nghệ và là một MC quen thuộc trên chương trình Truyền Hình ở Toronto do Việt Tiến thực hiện từ năm 1999.

Hoàng Lan không nuôi tham vọng trở thành một ca sĩ nghà nghề. Một điều chắc chắn nữa là cô thực hiện CD “Hoa Vàng Một Thuở” không nằm trong mục đích thương mại mà chỉ coi như một kỷ niệm cho chính mình. Đó cũng là một kỷ niệm khó mờ nhạt trong trí tưởng của cô đối với người cố nhạc sĩ tài danh Trịnh Công Sơn, người đã viết tặng cô hai nhạc phẩm đặc sắc “Như Một Lời Chia Tay” và “ Hoa Vàng Một Thuở”. Nhạc phẩm sau được mọi người biết dưới tên “Hoa Vàng Mấy Độ”.

Trịnh Công Sơn cũng là người có những liên hệ tình cảm đậm đà với Hoàng Lan và từng có ý định cùng cô chung sống. Chính người em rể của Trịnh Công Sơn là Hoàng Tạ Thích đã xác nhận sự liên hệ giữa Trịnh Công Sơn và Hoàng Lan trong một bài viết đăng trên nguyệt san “Người Đẹp Việt Nam” gồm hai số 115 và 116 nhập một, phát hành tại Việt Nam, đề ngày 1 và 15 tháng 1 năm 2004:

“… Đoá hoa vàng đã nhập vào hồn làm anh ngây ngất. Nhân ngày sinh nhật của Hoàng Lan, anh đã nhờ người đem đến tặng nàng 21 cánh hoa hồng vàng…” Yêu em một đoá hoa vàng. Yêu em một phút Hoàng Lan tình cờ…”Hoa Vàng Mấy Độ” viết cho Hoàng Lan năm 1981, nguyên bản là “Một Thuở Hoa Vàng” (Đúng ra là “Hoa Vàng Một Thuở”, theo thủ bút của Trịnh Công Sơn )…

Người em rể và cũng là người rất thân với Trịnh Công Sơn viết tiếp trong một đoạn khác:

“Hồi đó anh đã tuổi 40. Nếu quả thật anh đã mệt mỏi đôi chân muốn tìm một nơi ngơi nghỉ thì người con gái này cũng sẽ có thể là người bạn đời của anh. Nhưng rồi cuộc tình cũng trôi qua. Không vì một phụ rẫy. Không vì một nhạt phai. Chỉ vì, anh là Trịnh Công Sơn. Và những ngày ở Canada, anh đã gặp lại Hoàng Lan ở Toronto (thật ra là Montreal, theo Hoàng Lan). Dĩ nhiên cánh Hoàng Lan bây giờ đã được cắm vào một chiếc bình yên ấm. Nhưng vẫn nghe như ‘Em cười đâu đó, trong lòng phố xá đông vui… một vết thương thôi, riêng cho một người’”…

Lý do sự ra đời của “Hoa Vàng Một Thuở” cũng đã được Hoàng Lan xác nhận cùng với hình chụp nguyên bản nhạc phẩm này trên CD mang cùng tên của cô với lời đề tặng: “Viết cho sinh nhật Hoàng Lan 25.4.1981” và chữ ký của Trịnh Công Sơn: “Trịnh Công Sơn 08.04.1981”.

Trước đó, những người yêu nhạc Trịnh thường tỏ ra thắt mắc về nguồn gốc của “Hoa Vàng Mấy Độ” với nhiều nghi vấn về đối tượng đã tạo cho Trịnh Công Sơn nguồn cảm xúc để viết thành nhạc phẩm này. Bây giờ, mọi thắc mắc và nghi vấn đó đã được giải đáp.

Hoàng Lan quen Trịnh Công Sơn vào năm 1980, khi cô hướng dẫn về múa tại Sở Văn Hoá trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh (Hồng Thập Tự cũ). Thời gian này, Trịnh Công Sơn phục vụ tại Hội Nghệ Sĩ Thành Phố trong phạm vi âm nhạc, do đó thường hay qua Sở Văn Hoá để in hoặc xin kiểm duyệt nhạc.

Thỉnh thoảng hai người cùng các nhân viên của hai cơ quan trên vẫn đi công tác chung. Lần đầu tiên Hoàng Lan gặp Trịnh Công Sơn trong chuyến công tác văn nghệ ở bệnh viện Sùng Chính. Thật ra trước đó vào khoảng giữa thập niên 60, Trịnh Công Sơn từng nhiều lần đến nhà Hoàng Lan trên đường Cao Thắng chơi cùng với một người bạn của chị cô.

Sau khi người bạn này qua đời, Trịnh Công Sơn cũng vẫn thỉnh thoảng đến thăm mẹ cô do sự tương đắc trong tinh thần văn nghệ. Thời gian này, Hoàng Lan còn là một cô bé con, tuy biết Trịnh Công Sơn là một người nổi tiếng nhưng cô chẳng mấy để ý.

Lần gặp lại trong chuyến cùng đi công tác đầu tiên vào năm 80, Trịnh Công Sơn không nhận ra cô, cho đến khi được nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu nhắc nhở. Sau công tác, Trịnh Công Sơn mời Hoàng Lan về nhà anh trên đường Duy Tân, nơi ra vào tấp nập những khách khứa, bạn bè của người nhạc sĩ lừng danh.

Cô thiếu nữ Hoàng Lan từ đó đã khám phá thêm được một thế giới mới lạ, sau khi đến ngôi nhà này nhiều lần cũng như từng được Trịnh Công Sơn đến nhà chở đi ăn sáng hay trưa trên chiếc xe PC mầu cam quen thuộc của anh. Hoàng Lan và Trịnh Công Sơn càng lúc càng tỏ ra gần gũi hơn.

Hai người gặp nhau gần như hàng ngày, khi cùng đi ăn trưa, khi đi uống nước sau khi tan sở tại những địa điểm quen thuộc như Brodard hoặc Givral. Tuy gần gũi như vậy, nhưng cả hai chẳng ai thổ lộ về tình cảm của mình.

Nhưng riêng phần Hoàng Lan, cô cho biết “thật sự lúc đó em không có nghĩ gì hết, em buồn em đi thôi. Đi, nhưng anh ấy không nói chuyện. Tính anh Sơn thì anh ấy ít nói lắm, không nói gì nhiều”…

Tình cảm giữa hai người cứ lãng đãng và vu vơ như vậy cho đến “một lúc em có cảm giác là chuyện này nó cũng không rõ ràng là cái gì. Lúc đó em cũng chuẩn bị đi. Nên chiều hôm đó gặp anh ấy, em nói thôi ngày mai đừng đón em nữa, em không lên đây nữa đâu. Anh ấy hút thuốc một hồi dòi hỏi ‘bộ em chán rồi hả?’ Em bảo em không có chán nhưng mà thấy chuyện này không đi tới đâu và không rõ ràng”.

Hoàng Lan nhận thấy giữa cô và Trịnh Công Sơn có con đường đi riêng rẽ. Thời kỳ này cô đang tìm đường vượt biên, trong khi tin rằng Trịnh Công Sơn chắc chắn sẽ ở lại.

Nhưng khi trình bầy với Trịnh Công Sơn ý nghĩ của mình, Hoàng Lan được anh cho biết nếu cô lấy lý do đó để cắt đứt liên hệ giữa hai người thì không đúng. Vì cả gia đình anh lúc đó đang được cô em Trịnh Vĩnh Trinh đứng ra làm thủ tục bảo lãnh.

Hoàng Lan tìm cách thoái thác khi Trịnh Công Sơn muốn thật sự đi xa hơn với cô. Cô cho rằng anh là người của quần chúng, nếu xẩy ra tình trạng như vậy sẽ mất đi hình ảnh đẹp với những người ái mộ.

Theo Hoàng Lan, nhạc sĩ họ Trịnh đã nói trong đời sống cũng đến lúc nào phải trở lại với con người thật của chính mình. Hoàng Lan còn cho anh biết tính thân mẫu cô rất rườm rà nên nếu tổ chức đám cưới sẽ phải tuân theo nhiều thủ tục trong khi Trịnh Công Sơn vốn không ưa những sự rình rang, bề ngoài. Hơn nữa, ít ra anh còn phải mặc ”complet” là điều Trịnh Công Sơn rất ghét.

Nhưng Trịnh Công Sơn trả lời anh làm được, miễn cho Hoàng Lan và thân mẫu cô được vui lòng. Tuy là một người của đám đông, nhưng Trịnh Công Sơn luôn muốn có một đời sống bình thường, có vợ, có con mà không phải là một người “khác thường” như nhiều người nghĩ. Hoàng Lan khuyên anh cứ sống thoải mái như từng sống, không nên lệ thuộc vào một người là điều không đáng cho anh đánh đổi.

Nhiều khi tự hỏi lòng mình về tình cảm đối với Trịnh Công Sơn, Hoàng Lan nhận ra rõ ràng một điều là cô chỉ “Thương” nhưng không “Yêu” người nhạc sĩ họ Trịnh. Cô không dám nói thẳng điều này với Sơn vì sợ sẽ khiến anh đau khổ. Trịnh Công Sơn không hề biết Hoàng Lan vẫn luôn hướng tình cảm về mối tình đầu của cô, từng ngỏ lời cầu hôn với nhưng không được thân mẫu cô chấp thuận.

Có lần, vào khoảng đầu năm 81, Trịnh Công Sơn bị đụng xe nặng khi từ nhà Hoàng Lan trở về. Cô và mẹ đến thăm anh tại nhà sau khi Trịnh Công Sơn được đưa về từ bệnh viện. Hoàng Lan xúc động đến bật khóc. Nhưng Trịnh Công Sơn lên tiếng: “Em đi về đi, anh không thích những giọt nước mắt thương hại như vậy”, theo lời Hoàng Lan kể.

Cô tâm sự cảm thấy mình tội lỗi khi đã giải quyết một cách dứt khoát, dù rất đau lòng… Nhưng thật ra, đối với cô, nếu tiếp tục sự liên hệ tình cảm như trước cũng sẽ chẳng đi đến đâu. Tất cả đến từ sự gắn bó của Hoàng Lan với mối tình đầu của mình. Nên cô chỉ muốn ra đi với mục đích gặp lại người đã mang đến cho cô nhiều rung động, khác hẳn với những rung động của cô với Trịnh Công Sơn.

Nhưng sự tuyên bố dứt khoát của Hoàng Lan với Trịnh Công Sơn không được anh coi là chín chắn nên vẫn tới sở làm đón như trước. Nhưng cô tìm đủ mọi cách để tránh. Những lần Trịnh Công Sơn đến nhà chờ cô đi làm về, khi gần đến nhà nhìn thấy chiếc xe mầu cam quen thuộc là Hoàng Lan phải chạy xe vòng ngoài phố cho đến khi biết anh đã ra về.

Tuy không còn gặp gỡ riêng tư như trước, nhưng Hoàng Lan và Trịnh Công Sơn vẫn thường gặp nhau trong những lần công tác. Thời gian này cô nhận thấy Trịnh Công Sơn có vẻ buồn và uống rượu nhiều. Anh còn viết thư cho thân mẫu Hoàng Lan, có ý trách móc cô.

Những thư này mẹ cô vẫn còn giữ, trong khi cô đã đốt hết những thư Sơn viết cho cô trước khi lập gia đình. Hoàng Lan cũng trả lại Trịnh Công Sơn tất cả những món kỷ niệm cùng hai cây đàn guitars do anh tặng, chỉ giữ lại một bộ giây đàn.

Cũng thời gian này vào dịp sinh nhật Hoàng Lan năm 81, Trịnh Công Sơn tặng cô một quần nhung, một áo pull mầu hồng, một thắt lưng bằng vải bố và một số nước hoa. Anh cùng với Thanh Hải – người thường trình bày nhạc phẩm của anh, hiện sống ở Âu Châu – mang quà tặng đến nhà cô cùng với hai nhạc phẩm “ Hoa Vàng Một Thuở ” và “Như Một Lời Chia Tay”, được buộc một sợi “ruban” rất đẹp.

Một bó hồng mầu vàng – tượng trưng cho lòng không chung thủy – đã được giao đến nhà Hoàng Lan từ sáng sớm. Thanh Hải đã cất tiếng hát hai nhạc phẩm này trong buổi tiệc sinh nhật của Hoàng Lan, trong khi Trịnh Công Sơn ngồi buồn rầu bên cạnh ly rượu không lúc nào vơi.

Khi hỏi Trịnh Công Sơn về ý nghĩa câu “làm sao biết được nỗi đời riêng” trong nhạc phẩm “Như Một Lời Chia Tay”, Hoàng Lan được anh cho biết nếu hồi đó cô nói với anh là muốn rời Việt Nam thì chuyện tình cảm giữa hai người đã khác. Ý anh muốn nói không biết Hoàng Lan có ý định muốn đi, tuy vẫn thường cùng nhau đi chơi gần như hàng ngày. Nếu biết được cô muốn như vậy, anh cũng sẽ quyết định không ở lại Việt Nam.

Lễ đính hôn của Hoàng Lan được tổ chức vào tháng 11 năm 1982. Và tiệc thành hôn với người cùng chung sống với cô tên Hoà hiện nay, được tổ chức một tháng sau. Khi trao thiệp đính hôn cho Trịnh Công Sơn, anh hỏi cô: ”Lần này là thôi thật phải không Lan?”. Cô trả lời “hy vọng là như vậy!”. Trịnh Công Sơn đã không có mặt trong tiệc cưới của cô vào tháng 12 năm 1982, do thiệp mời gửi chung với các người khác tại cùng cơ quan của Trịnh Công Sơn bị thất lạc.

Gần 10 năm sau, đoá “Hoa Vàng Một Thuở” của Trịnh Công Sơn mới gặp lại anh tại Montreal, Canada khi anh qua thành phố này thăm những người em thân thiết của mình vào đầu năm 1992. Ngay khi mới đến nơi, Trịnh Công Sơn đã gọi điện thoại cho Hoàng Lan ở Burlington, Ontario nhưng không gặp.

Mãi đến tháng 7 cùng năm, cô mới có dịp lên Montreal gặp anh tại nhà hàng “La Famille Vietnamienne” do gia đình anh khai thác ở thành phố này. Trịnh Công Sơn đề nghị vẽ tặng cô một bức chân dung, nhưng hoàn cảnh không cho phép nên cô đã từ chối, để “bây giờ nghĩ lại, thấy tiếc” mặc dù khi gặp lại cũng thất rất “bùi ngùi”, như Hoàng Lan tâm sự.

Và đúng như người em rể của Trịnh Công Sơn đã viết: “dĩ nhiên cánh Hoàng Lan bây giờ đã được cắm vào một chiếc bình yên ấm. Nhưng vẫn nghe như “em cười đâu đó, trong lòng phố xá đông vui.. .một vết thương thôi, riêng cho một người”…

Trường Kỳ

Nhìn lại những bài hát nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn

Nhân kỷ niệm 17 năm ngày mất Trịnh Công Sơn (1/4/2001 -1/4/2018), cùng điểm lại những điều thú vị nhất xung quanh các ca khúc nổi tiếng của ông.

Cát bụi

Bài hát được bắt nguồn từ một thoáng buồn không nguyên cớ là một đoạn phim, một cuốn truyện chưa ưng ý. Trong hồi ký của Trịnh Công Sơn viết: “Có một cái gì đó thật trùng hợp trong cùng một buổi chiều. Một nỗi buồn hay một điều gì đó gần với sự rời xa ly biệt đang cựa mình thức dậy trong tôi. Tôi lại ra đường tìm một góc quán quen thuộc ngồi. Trên đường trở về nhà, trong đầu bỗng vang lên một tiếng hát. Tôi lặp đi lặp lại nhiều lần trong đầu, hát thành tiếng khe khẽ”.

Biển nhớ

Ca khúc được viết cho Tôn Nữ Bích Khê học trường Sư phạm Quy Nhơn vào hè 1962. “Chúng tôi đã ngồi uống cà phê với nhau dưới mái quán thấp ven biển lợp bằng lá kè. Biển nhớ là cảm hứng từ muôn vàn đợt sóng lấp lánh trong những đêm khuya, Sơn đã kéo cao cổ áo, chợt rùng mình rồi có một ngày sẽ xa những dấu chân trên cát, có còn ‘trời cao níu bước Sơn Khê'”, Đinh Cường chia sẻ.

Diễm xưa

Bài hát do Khánh Ly thể hiện, đã trở thành top hit ở Nhật năm 1970. Ngữ nghĩa của Diễm xưa được Trịnh Công Sơn lý giải: “Diễm là đẹp, xưa là ngày xưa”. Nhân vật được nhắc tới trong ca khúc là nữ sinh Ngô Thị Bích Diễm của Đại học Văn khoa Huế. Nhà Bích Diễm ở bên kia sông qua cầu Phú Cam, rẽ tay phải về phía đường Phan Chu Trinh, hàng ngày cô gái vẫn đi qua nơi Trịnh Công Sơn ở.

“Ngày xưa, cây cầu Phủ Cam tuy ngắn nhưng đầy duyên nợ. Trịnh Công Sơn ở căn gác tầng 2, số nhà 11/03 đường Nguyễn Trường Tộ. Hàng ngày, chàng cứ đứng lấp ló sau cây cột, lén nhìn một người đẹp. Nàng đi bộ từ bên kia sông, qua cầu Phủ Cam, dạo gót hồng dưới hàng long não, ngang qua chỗ Sơn ở là chàng cứ sướng ran cả người. Một tình yêu ‘hương hoa’ kéo dài cho đến cuối đời chàng. Sau này, mỗi một mối tình tiếp theo của Sơn đều có hình ảnh cô gái đó”, giáo sư Bửu Ý nói.

Một cõi đi về

Ca khúc được viết vào khoảng 1974 đầu năm 1975 nhưng từ năm 1980 mới phổ biến. “Đây là một bài hát rất lạ, thực sự không dễ hiểu vì có những câu trong bài hát bản thân tôi cũng thấy khó giải thích. Viết thì viết vậy nhưng để giải thích thật rõ ràng thật khó. Khi tôi gặp không ít người dù họ học ít nhưng họ lại thích, hỏi họ có hiểu không, họ trả lời là không hiểu nhưng cảm nhận được có một cái gì đó ở bên trong. Khi nghe, khi hát lên có một điều gì đó chạm đến trái tim mình. Tôi nghĩ trong nghệ thuật điều quan trọng nhất là làm thế nào để mở ra một con đường ngắn nhất đi từ trái tim đến trái tim của người khác mà không cần cắt nghĩa gì thêm”, Trịnh Công Sơn từng nói.

Hạ trắng

Hạ trắng là một ca khúc trữ tình do Trịnh Công Sơn sáng tác năm 1961 (sau bài Diễm xưa). Bài hát được bắt nguồn cảm xúc từ nỗi ám ảnh của một mùa hè nóng bỏng tại Huế, cộng với một câu truyện về cái chết của cha mẹ một người bạn.

“Sau đó tôi kết hợp giấc mơ hoa trắng mùa hạ với mối tình già keo sơn này như áo xưa dù nhầu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau để viết nên bài Hạ trắng” – trích hồi ký Trịnh Công Sơn.

Nhớ mùa thu Hà Nội

Trịnh Công Sơn kể: “Mình rất yêu Hà Nội. Năm 1985 mình cùng ba đồng nghiệp được Bộ Văn hóa Liên Xô mời thăm Liên Xô, khi trở về, mình ở lại Hà Nội luôn một tháng. Mỗi sáng, mình và Thái Bá Vân đi loanh quanh Hà Nội gặp bạn bè. Chiều nào cả hai cũng lên Hồ Tây, nằm bên hồ với chai Ararat, uống lai rai và nhìn bầy sâm cầm đáp xuống bay lên”.

Nhin lai 9 bai hat noi tieng nhat cua Trinh Cong Son hinh anh 2

Tôi ơi đừng tuyệt vọng

Trên báo Thanh Niên từng viết: “Nhạc sĩ của những bản tình ca Trịnh Công Sơn đã buồn tha thiết khi từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. Dường như trong các ca khúc của anh luôn thấp thoáng những mối tình, khi như nắng như mưa, khi như sương như khói, khi lại hư ảo đến nao lòng. Hiểu tường tận những mối tình ấy, có lẽ là Trịnh Xuân Tịnh, người em từng theo anh đi tận cùng trời cuối đất, rong ruổi trên những nẻo đường giang hồ phiêu bạt.

Anh kể: ‘Hôm ấy, giữa phòng triển lãm tranh, có người con gái tha thướt trong chiếc áo lụa màu ve chai. Một thoáng ngỡ ngàng bởi anh Sơn rất quen. Đôi mắt, đôi môi, nụ cười ấy tỏa sáng và tinh khiết. Khoảnh khắc đó tôi đã thực sự bùng cháy’.

Thế rồi, căn nhà 47C Phạm Ngọc Thạch, quận 1, TP/HCM đã có thêm một dáng người. Không gian, thời gian ở đó chợt tình tứ, rộn ràng. Anh em, bạn bè rất mừng khi hay tin con người suốt mười mấy năm chưa lấy vợ, nay sắp sửa bước vào vườn địa đàng của trần gian. Người đó là á hậu V.A. Từ đó, mỗi sáng, anh Sơn thường ngồi uống một chút gì ở quán cà phê 81 Nguyễn Văn Trỗi cùng bạn bè. Câu chuyện tùy hứng, lúc là chuyện đời, chuyện người, có khi là chuyện tiếu lâm nhưng ít nói chuyện âm nhạc.

Lúc đó, trong anh đang có niềm hạnh phúc thật thanh thản, thật nhẹ nhàng. Người ấy cũng ghiền những món anh thường dùng như cá nục kho khô, thịt luộc, mắm ruốc, tôm chua, canh mít, mồng tơi, mướp đắng.

Những ngày ấy, anh còn mẹ. Bà thương và rất cưng hai người. Bà cũng mong có cháu nội. Đây cũng là lúc anh có dự định cưới vợ mãnh liệt nhất bởi trong anh tình yêu đang là thác đổ. Một ngày, căn phòng đầy ắp cây cọ, bức tranh, sách vở, đàn và rượu đã không còn bóng dáng thanh thanh, dong dỏng của người tình. Người ấy đã ra đi như những dòng sông nhỏ. Cả nhà, bạn bè biết anh buồn lắm. Nỗi buồn không chùng xuống vực sâu mà bay vút lên rằng ‘đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng’.

Dặn dò với lòng mình như thế, nhưng làm sao không đau khi ‘lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông’, làm sao khỏi hoang mang khi trước đó ’em là tôi và tôi cũng là em’, còn giờ ‘tôi là ai, là ai, là ai!’. Anh ngồi đó, nhìn nắng tàn phai như một nỗi đời riêng. Với người tình, anh vẫn độ lượng ’em hồn nhiên, rồi em sẽ bình minh’. Có thể ở một nơi nào đó, có người đang thầm thì ‘đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng…'”.

Như cánh vạc bay

Nhân vật của Như cánh vạc bay là một cô gái Huế đã định cư ở nơi xa. Không được ở bên nhau, sống với nhau, anh vẫn luôn mong người ấy hạnh phúc, dù anh âm thầm đau khổ: “Ta nghe từng giọt lệ. Rớt xuống thành hồ nước long lanh” – trích lời Trần Long ẩn.

“Người con gái trong bài là một thiếu nữ tên P.T.L, người gầy và cao, rất đẹp, sinh trưởng trong một gia đình nề nếp, gia phong nổi tiếng. Sau này cô cư ngụ tại Ottawa và từng gặp lại Trịnh Công Sơn trong dịp anh sang Montréal thăm gia đình lần duy nhất vào dịp Phục Sinh năm 1992” – trích Trường Kỳ.

Có rất nhiều giai nhân bước qua cuộc đời của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn nhưng cô gái Huế Dao Ánh luôn chiếm một vị trí đặc biệt. Bà chính là nguồn cảm hứng để ông viết nên những ca khúc nổi tiếng như Còn tuổi nào cho em, Lặng lẽ nơi này, Mưa hồng, Tuổi đá buồn…

Nhin lai 9 bai hat noi tieng nhat cua Trinh Cong Son hinh anh 3

Theo chia sẻ của bà Trịnh Vĩnh Trinh – em gái của Trịnh Công Sơn – thì Dao Ánh là “người gốc Bắc, đẹp, cao, duyên dáng, sang trọng và tính tình rất dịu dàng. Chị không thích ồn ào, không thích đám đông và sống nội tâm, kín đáo, rất hợp với anh Sơn”.

Dao Ánh là em gái của Ngô Vũ Bích Diễm – nhân vật chính trong ca khúc Diễm xưa. Khi mối tình Trịnh – Diễm không thành, Dao Ánh đã viết thư động viên Trịnh Công Sơn. Tình cảm chân thành của cô gái 15 tuổi đã khiến cho chàng nhạc sỹ 24 tuổi rung động. Trịnh Công Sơn đã viết thư lại và đó là khởi đầu cho một mối tình kéo dài gần 4 năm giữa họ (từ 1964 – 1967)

Khi yêu nhau, Dao Ánh còn đang là cô nữ sinh của trường Đồng Khánh còn Trịnh Công Sơn vừa mới tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn và đang giảng dạy tại thành phố B’lao (nay là Bảo Lộc – Lâm Đồng). Trong thời gian này, Trịnh Công Sơn đã gửi khoảng 300 trăm bức thư tình gửi cho Dao Ánh. Những bức thư tình này lần đầu được công bố vào năm 2013 trong cuốn sách Thư tình gửi một người mà gia đình Trịnh Công Sơn thực hiện nhân kỷ niệm 10 ngày mất của ông.

Trong những bức thư gửi cho Dao Ánh, Trịnh Công Sơn luôn thể hiện nỗi nhớ thương da diết dành cho người yêu bé nhỏ: “Anh nhớ Ánh, nhớ Ánh , nhớ Ánh mà không nói được với ai. Như tiếng kêu của một loài kiến nhỏ. Làm thế nào Ánh nghe thấy… Ánh ơi, Ánh ơi, Ánh ơi, Ánh trở về buổi trưa mắt buồn, áo trắng… Rất mong thư Ánh mỗi ngày mỗi giờ mỗi tháng mỗi năm…” (trích bức thư Trịnh Công Sơn gửi cho Dao Ánh ngày 16/2/1965).

“Anh bây giờ đang có một điều cần nhất là: Yêu Ánh vô cùng. Anh đang nhớ lắm đây. Tình yêu đó bỗng đổi dạng như một phép lạ…” (thư gửi ngày 16/9/1966).

Cũng giống như những mối tình khác, Trịnh Công Sơn và Dao Ánh cũng có những khoảng thời gian giận hờn, trách móc. Dao Ánh đã từng dùng lời một bài hát tiếng Pháp để gửi cho Trịnh: “Em sẽ đợi giông tố và gió mưa về để khóc. Em mãi yêu anh nhưng anh chẳng màng gì tới nỗi buồn của em. Và em sẽ khóc dưới mưa đây”.

Khi nhận lời trách móc đầy yêu thương của người tình bé nhỏ, nhạc sỹ Trịnh Công Sơn cũng trích dẫn một câu nói tiếng Pháp trong cuốn Khung cửa hẹp của Andre Gide: “Ngày ngày ngọn gió đời vẫn thổi nhưng chưa bao giờ thổi tắt được tình yêu”.

Tuy vậy, sau gần 4 năm gắn bó, Trịnh Công Sơn biết rằng không thể cho Dao Ánh cái cô muốn là một mái ấm gia đình nên ông chủ động chia tay và nhận hết tội lỗi về mình. Trong bức thư chia tay, vị nhạc sỹ họ Trịnh viết: “Anh xin cảm ơn bốn năm ròng rã nâng niu tình yêu đó. Cũng xin cảm ơn những buổi đợi chờ thật dịu dàng không bao giờ còn có được…”

Sau cuộc tình đẹp nhưng cũng đầy xót xa với Trịnh Công Sơn, Dao Ánh đã sang Mỹ và lập gia đình. Bà vẫn giữ liên lạc với gia đình người nhạc sỹ này. Vào năm 1989, khi Trịnh Công Sơn đã bước sang tuổi 50 tuổi, ông viết thư gửi người tình cũ với những lời trách nhẹ: “Dao Ánh ơi, lâu lắm mới viết lại tên Ánh trên tờ thư (…) Anh nhớ Ánh như những ngày xưa (…) Những kỷ niệm xưa đã nằm trong những bài hát của anh. Ánh thì chẳng giữ lại gì cả. Thế mà cũng hay. Hãy để một người khác giữ và mình thì đã lãng quên hoặc nhớ trên một văn bản không bao giờ có thực”.

Tuy nhiên, trái ngược với suy đoán của Trịnh Công Sơn, Dao Ánh vẫn giữ từng bức thư mà ông gửi, giữ lại cả những bông lau trên đồi B’lao, những bông hồng còn e ấp mà 45 năm trước Trịnh Công Sơn đã ép và gửi tặng bà.

Vào năm 1993, Dao Ánh trở về Việt Nam và tìm gặp lại người cũ. Trịnh Công Sơn cũng đã viết ca khúc Xin trả nợ người để tặng bà. Sau cuộc tái ngộ này, Dao Ánh đã ly dị chồng.

Những ngày cuối đời nhạc sỹ Trịnh Công Sơn bị ốm nặng, Dao Ánh cũng trở về Việt Nam chăm sóc ông. Bà cũng đã gửi tặng lại gia đình nhạc sỹ này hơn 300 bức thư tình mà ông đã gửi cho bà thuở còn yêu nhau.

Theo Giáo dục, khampha

Khánh Ly: ‘Tôi chưa bao giờ khóc trước Trịnh Công Sơn’

Cố nhạc sĩ từng viết bài ‘Rơi lệ ru người’ tặng danh ca nhưng ngoài đời, cả hai giấu nước mắt vào lòng khi gặp nhau.

Khi về Việt Nam, Khánh Ly đã thực hiện nhiều liveshow sau hơn 40 năm rời Việt Nam. Bà cũng tái ngộ khán giả Sài Gòn trong một đêm nhạc riêng, và có cuộc trò chuyện về kỷ niệm với thành phố này.

– Ngày xưa, Khánh Ly chân đất hát ở Sài Gòn có Trịnh Công Sơn đàn. Trong liveshow dự kiến tổ chức vào tháng 12, ai sẽ là người ôm đàn bên Khánh Ly?

– Người nào đàn cũng được vì đã không có ông Sơn thì ai cũng thế thôi. Tôi không thể đòi hỏi mà phải chấp nhận sự thật không còn ông Sơn nữa. Với tôi, ông vẫn quanh quẩn đâu đây, vẫn ở khắp nơi trong Sài Gòn này. Ở đây, chỗ nào tôi cũng có cảm tưởng dấu chân ông đã bước qua, hơi thở của ông vẫn là hơi thở Sài Gòn. Ngày trước, tôi sống và hát ở Sài Gòn cũng là theo ước mơ của ông Sơn chứ khi đó tôi chưa biết ước mơ như thế. Ông Sơn luôn muốn sống mãi ở nơi này.

Khánh Ly chia sẻ bà luôn cảm nhận cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

– Mỗi lần về Sài Gòn, ngoài công việc, bà tìm đến những nơi nào?

– Tôi tưởng tôi sẽ đi lại con đường xưa, nơi chốn cũ nhưng tôi không đến nữa. Vì tôi biết mọi sự đã thay đổi. Hơn 40 năm bản thân tôi cũng thay đổi huống chi cỏ cây, gỗ đá… Những người tôi muốn tìm không còn nên tôi không đi tìm. Về tới Sài Gòn tôi chỉ nhớ ông Trịnh Công Sơn. Không chỉ vậy, bên cạnh ông Sơn còn có tấm lòng của người Sài Gòn dành cho tôi, đó là điều đáng quý. Với tôi như vậy đã là rất đủ.

– Tại sao với bà, Sài Gòn chỉ có ông Trịnh Công Sơn, khi ở đây bà vẫn thành danh qua tác phẩm của các nhạc sĩ khác?

– Dĩ nhiên tôi còn thành danh với nhạc của các tác giả khác nhưng có những điều trong đời sống không mang ra so sánh được. Nó như tình yêu vậy. Tình yêu không phải là trang sách để mình có thể lật trang này sang một trang hoàn toàn mới.

– Bà từng nói bà không yêu ông Sơn khoảng thời gian hai người ở Đà Lạt, vậy với thời gian cả hai ở Sài Gòn thì sao?

– Ông Sơn ở Đà Lạt hay Hà Nội, Sài Gòn cũng là ông Trịnh Công Sơn thôi. Ông Sơn còn sống hay ông Sơn đi cõi khác cũng là ông Sơn thôi. Không vì ông Sơn ở đây hay không có ở đây mà tình yêu tôi dành cho ông thay đổi. Nó chỉ có một tình yêu duy nhất.

– Nhưng bà từng chia sẻ, quãng đời ở Đà Lạt là lúc bà và Trịnh Công Sơn giữ mối tình thơ nhạc, còn ở Sài Gòn là quãng đời ghi dấu cả hai thành một đôi trong âm nhạc, cùng ăn, cùng hát… Vậy có thể hiểu sự thay đổi trong mối quan hệ đó thế nào?

– Không có thay đổi đâu, mối quan hệ đó đã ghi dấu từ đầu. Nếu mình nghĩ đó là số phận, định mệnh thì từ lúc gặp nhau nó đã đóng dấu đời mình. Mối quan hệ ấy không có gì thay đổi dẫu ông Sơn ở đâu, có năm bảy vợ thì vẫn là ông Sơn của tôi thôi.

Khánh Ly và Trịnh Công Sơn ở Quán Văn.

– Năm 1967 khi bà từ Đà Lạt về lại Sài Gòn, bà đã gặp lại Trịnh Công Sơn như thế nào?

– Chúng tôi đi ngoài phố và gặp nhau thôi, rất tình cờ, dẫu có thể không phải là ngẫu nhiên. Lần đầu chúng tôi gặp lại là ở đường Lê Thánh Tôn. Lúc đó, cả hai mừng lắm. Ông Sơn rủ tôi đi hát liền. Ở Sài Gòn, đêm đầu tiên tôi hát cùng ông trước rất nhiều khán giả tại Quán Văn.

– Bà và Trịnh Công Sơn có bao giờ thổ lộ rằng người này có tình cảm với người kia?

– Lại càng không bao giờ. Chúng tôi không bao giờ đề cập chuyện đó dù xa hay gần. Mối quan hệ giữa cả hai người muốn hiểu sao thì hiểu. Bởi vì nó không có gì thì hỏi làm gì. Nếu có đã có ngay. Tình yêu lạ lắm, yêu là yêu từ tích tắc đầu tiên.

– Từ khi biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đến giờ, lần nào bà rơi nước mắt vì nhạc sĩ này?

– (Im lặng lâu) Không. Có những điều mình giấu kín trong tâm tư, có những giọt nước mắt giấu kín, nhưng cái quan trọng dù ở đâu mình cũng nhớ, không cần phải tới ngày giỗ ông tôi mới nhớ, đã nhớ thì sáng trưa chiều tối đều có thể nhớ. Cách sống tôi là vậy, không biểu lộ bên ngoài, cái gì giữ trong tim là yêu dấu. Yêu là phải giấu đi để những điều mình nói ra không phương hại tới ai, những điều mình giấu kín trong lòng là những điều mình trân quý nhất. Có những niềm vui chỉ có thể vui một mình thôi. Nhiều khi khuya về ngồi một mình nhớ tới những chuyện cũ bỗng cười một mình. Vì cái vui của mình chưa chắc là cái vui của mọi người, cái buồn của mình cũng thế. Giờ, khi tôi nhớ ông Sơn hay chồng tôi, tôi thường giữ một mình.

– Bà chưa khóc vì ông Sơn vậy trước mặt ông Sơn có bao giờ bà khóc vì một điều gì đó?

– Không. Chưa bao giờ. Kể cả những lúc cuộc đời đi vào những ngõ quanh tôi cũng chưa bao giờ khóc trước mặt ông Sơn. Đối với mẹ tôi, chồng tôi, tôi còn chưa khóc, dù khó khăn đau khổ nhất đến có thể chết được tôi cũng không khóc. Có khóc cũng vô ích. Chỉ có mình thôi, không ai gánh vác cho mình được đâu.

Có thể khi nghe tôi hát thì người ta khóc, ai hiểu tôi thì hiểu, tôi không thể than van để mọi người hiểu giùm tôi.

Khánh Ly hát tại TP HCM trong đêm nhạc thiện nguyện Vòng tay nhân ái quy tụ nhiều ca sĩ

– Trịnh Công Sơn đã viết bao nhiêu ca khúc cho bà?

– Chỉ có một bài duy nhất tôi biết ông viết cho tôi, đó là bài Rơi lệ ru người. Ông đã nói với tôi điều đó. Còn với tôi, bài nào ông sáng tác tôi cũng nghĩ là viết cho tôi cả. Cũng giống như khi mọi người nghe nhạc ông mọi người cũng có thể nghĩ đó là viết cho họ vì họ tìm được bản thân trong đó.

– Thương quý ông Trịnh Công Sơn như thế, vì sao đám tang ông 15 năm trước, bà không về?

– Đám tang ông Sơn tôi đã mua vé máy bay nhưng không về vì tôi không muốn làm xáo trộn tang lễ. Dẫu người ta quý ông Sơn cỡ nào đi nữa người ta cũng muốn biết con nhỏ Khánh Ly là ai. Đó là làm lộn xộn. Tất cả hào quang là của ông. Tôi chỉ là cái bóng bên cạnh hào quang.

Từ khi tôi rời Việt Nam cho đến ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mất, chúng tôi đã có bốn lần gặp lại. Lần đầu tiên là năm 1988 tại Paris, Pháp. Lần thứ hai là năm 1992, gặp ở Canada, khi ông Sơn qua đó chữa bệnh, đó là sau khi mẹ ông Sơn mất. Đến năm 1997 tôi về và gặp ông ở Sài Gòn. Năm 2000, vài tháng trước khi ông mất, tôi có về thăm ông. Ngày đó, tôi về Sài Gòn là để thăm ông Sơn vì tôi gần như không còn người thân ở đây.

Theo VnExpress.net

Khánh Ly: ‘Tôi không sợ thời gian và tuổi tác’

Ở tuổi 73, danh ca thấy mỗi ngày của bà trôi qua trong hạnh phúc vì được yêu thương và còn nhiều việc cần làm.

– Từ ba năm nay, khi chồng không còn để cùng tôi đón giao thừa, tôi cũng không giữ thói quen đi xa nhà vào những ngày này. Trước Tết, tôi cùng con gái đi chợ mua sắm, trang hoàng bàn thờ. Tôi không có quà Tết gì đặc biệt ngoài nồi cá kho tự tay chăm chút nấu, chia ra hộp rồi biếu tặng bạn bè, những người gắn bó với tôi. Tôi vui Tết cùng gia đình con trai, con gái, cháu nội. Cũng giống như mọi nhà, Tết với tôi là những ngày sum họp hiếm hoi của cả gia đình.

Tôi còn có thói quen đọc và gửi email chúc Tết mọi người. Sáng mùng Một tôi sẽ đi viếng và dâng hoa cho Đức Mẹ, cầu nguyện một năm mới an lành cho gia đình mình và mọi người.

Danh ca Khánh Ly và cháu nội.

Danh ca Khánh Ly và cháu nội.

– Ở tuổi ngoài 70, bà đón nhận những điều đến với mình mỗi ngày ra sao?

– Tôi luôn tạ ơn Chúa, tạ ơn cuộc đời vì ngoài thất thập còn được yêu thương, được rong ruổi khắp nẻo đường cùng các bạn trẻ. Tôi cho đó là hạnh phúc không phải ai cũng có được. Năm qua, tôi nhận được quá nhiều sự yêu thương của mọi người, nhờ thế mới tổ chức được một chuỗi đêm nhạc kỷ niệm 55 năm ca hát của tôi ở Việt Nam.

Tôi đón nhận mỗi ngày trôi qua trong hạnh phúc và chỉ mình tôi mới cảm nhận được trọn vẹn niềm hạnh phúc ấy. Đôi khi một mình cũng là hạnh phúc. Tôi đã tập có đời sống đơn giản, không đòi hỏi nhiều. Việc gì đến thì làm cho hết lòng, gặp ai đó thì vui cho trọn vẹn. Tôi không sợ thời gian và tuổi tác. Phần tôi và các con đã đầy đủ, tôi chỉ mong có thêm sức để chia sẻ nhiều hơn nữa đến những người kém may mắn hơn tôi, dẫu chỉ là một nụ cười.

Bà thường chiêm nghiệm gì về cuộc sống?

– Theo tôi, trời đất rất công bằng. Tôi nhận được thứ này quá nhiều thì sẽ mất đi cái khác. Khi chồng tôi mất cách đây ba năm, tôi tưởng mình gục ngã, cuộc đời khép lại nhưng nhờ niềm tin vào Chúa, nhờ những người bạn trẻ xung quanh, tôi được kéo ra khỏi cái chết chậm. Thay vì sống khép kín, tôi đến các nhà thờ, thăm những người già neo đơn, hát cho những người bất hạnh, ôm ấp những trẻ mồ côi… Tôi tìm được sự an ủi và niềm tin vào Chúa phục sinh, tôi đuợc sống một cuộc đời mới. Đó là chặng đường ý nghĩa nhất trên quãng đường đời thật dài mà tôi đã đi qua.

Tôi cũng là nghệ sĩ nếm trải đủ oan khiên, nghịch cảnh, bội bạc. Có những lúc chạnh lòng vì những nhận xét tiêu cực từ người khác. Nhưng bù lại, tôi thầm hãnh diện vì mình đã giữ được một chốn đi về hơn 40 năm. Tôi đã trải qua những cái buồn lớn nhất là mất cha, mất ông Sơn (nhạc sĩ Trịnh Công Sơn), mất chồng. Chẳng có cái buồn riêng nào lớn hơn nữa.

– Năm qua, bà làm thế nào để có thể vừa lưu diễn vừa thực hiện những dự án nhân ái đồng thời chăm sóc nhà cửa, mảnh vườn của mình tại Mỹ?

– Tôi giật mình khi nhìn lại một năm qua. Ở mỗi công việc, tôi đều được bạn bè khích lệ, động viên và đồng hành với tôi. Ca sĩ Quang Thành giúp tôi có được những chuyến đi dài, tới được nhiều miền đất. Chuỗi show kỷ niệm 55 năm ca hát, tôi được các công ty giải trí trong nước giúp đỡ, tạo cơ hội cho tôi tri ân các nhạc sĩ, còn khán giả đã cho tôi một đời sống tốt lành.

Cùng những người bạn đồng hành, năm qua tôi đã đến được các bệnh viện, mái ấm tình thương, nhà hưu dưỡng, dưỡng lão nghệ sĩ, trại trẻ mồ côi… để chia sẻ những bữa cơm tình thương, viên thuốc, giọt sữa… Tôi đã hát và kể cho sinh viên về quê hương chúng ta cần gìn giữ và phát triển.

Còn việc nhà cửa, vườn tược, đã có con gái đảm đương. Các con của tôi đều đảm đang và ủng hộ công việc của mẹ.

– Bà gặp khó khăn gì trong quá trình rong ruổi tới các vùng miền?

– Để thực hiện mỗi dự án, chúng tôi cũng phải trải qua những vui buồn, khó khăn vì di chuyển qua nhiều vùng, giờ giấc không ổn định, sinh hoạt tối thiểu không phải lúc nào cũng dễ dàng… Sự đồng lòng, hỗ trợ của những người bạn làm tôi lúc nào cũng thấy ấm áp và có cảm giác cần đi tiếp. Tôi hiểu, thời gian của tôi không còn nhiều nữa. Đây là những cơ hội cuối cùng để tôi có thể thực hiện những điều tốt đẹp cho tôi và cho mọi người. Tôi luôn tin cha tôi, ông Trịnh Công Sơn và chồng tôi luôn bên cạnh tôi trên những bước đường. Hẳn họ cũng mỉm cười và chia sẻ với tôi.

– Ai là người gần gũi, thân thiết nhất với bà hiện tại?

– Khi ở nhà, tôi bình yên và an tâm vì con gái quán xuyến mọi việc nặng nhọc, lớn nhỏ, biết quan tâm đến sức khỏe của mẹ. Mẹ con cũng hợp tính nhau, đều “tri túc thường lạc”. Còn trong công việc, 10 năm qua tôi có ca sĩ Quang Thành giúp đỡ. Cậu ấy vừa như người con, vừa là đồng nghiệp, bạn tâm giao của tôi. Trước khi mất, nhà tôi gửi gắm tôi cho cậu ấy, vì ông ấy hiểu người vợ ngu dốt của ông không biết gì ngoài việc hát. Tôi chỉ mong được sống và làm những điều xứng đáng với tình yêu mọi người dành cho tôi.

– Ước mong và dự định của bà trong năm mới?

– Như mọi người, tôi chỉ mong có sức khỏe để cùng các bạn của tôi tiếp tục đến những nơi cần vòng tay nhân ái. Tôi sẽ cùng ca sĩ Quang Thành thực hiện DVD thánh ca, góp một viên gạch nhỏ trong việc trùng tu Vương cung thánh đường Sài Gòn – Nhà thờ Đức Bà. Năm nay tôi định ra mắt tiếp hồi ký. Tôi cầu mong khán thính giả khắp nơi, đồng nghiệp, bạn bè của tôi có một năm mới tốt đẹp, mạnh khỏe và vạn sự như ý.

Theo VnExpress