Tang lễ danh ca Lệ Thu sẽ diễn ra trong phạm vi gia đình vào ngày 29/1/2021

Theo thông tin từ gia đình danh ca Lệ Thu, vì tình hình dịch bệnh vẫn còn rất phức tạp nên tang lễ của nữ danh ca sẽ được diễn ra chỉ trong phạm vi gia đình và họ hàng vào trưa ngày 29/1/2021 (giờ địa phương) tại Holy Spirit Catholic Church ở Fountain Valley, California.

Trong tờ cáo phó ghi rõ: Để hạn chế tối đa tình trạng lây nhiễm cho mọi người, tang lễ sẽ được cử hành chỉ trong phạm vi gia đình và họ hàng. Tang gia xin chân thành biết ơn những lời cầu nguyện của quý vị xa gần.

Trước đó, danh ca Lệ Thu đã qua đời vào ngày 19h ngày 15/1/2021 (giờ địa phương), sau khoảng thời gian hơn 1 tháng điều trị bệnh vì bị nhiễm nCoV. Những ngày cuối đời, cô trong tình trạng phổi không hoạt động, phải dùng máy trợ thở hoàn toàn.

Danh ca Lệ Thu tự thấy không khỏe và nghi ngờ bị nhiễm nCoV từ cuối tháng 11/2020, cô đã tự đi đến bệnh viện xét nghiệm, rồi khi nhận kết quả dương tính, cô cũng tự gọi xe cấp cứu để vào bệnh viện mà không nói với con cái vì sợ sẽ lây cho người thân. Khi nhập viện, Lệ Thu được đưa thẳng vào phòng chăm sóc tích cực (ICU). Kể từ khi nhập viện, sau đó hôn mê rồi qua đời, vì quy định của bệnh viện, không một người thân nào được quyền đến thăm viếng và tiếp xúc với cố danh ca Lệ Thu, những người con của cô chỉ được nhìn thấy mẹ qua video call.

Cũng vì qua đời do COVID19 nên phải đến 2 tuần sau đó, đến ngày 29/1/2021 thì gia đình mới có thể tổ chức tang lễ được cho danh ca Lệ Thu.

Thông tin thêm về bệnh tình của danh ca Lệ Thu trong lúc đại dịch tiếp tục hoành hành

Như đã đưa tin, nữ danh ca Lệ Thu đã nhiễm SARS-CoV-2 và mắc COVID19, vẫn đang phải nằm ở phòng săn sóc đặc biệt của bệnh viện Memorial Coast, và theo thông tin mới nhất từ trang VOA Tiếng Việt thì cô vẫn đang bị hôn mê, chưa có nhiều tiến triển.

Được biết trước khi nhiễm bệnh, Lệ Thu chỉ sống một mình, có thói quen sinh hoạt rất sạch sẽ, cẩn thận: Ra ngoài luôn đeo khẩu trang, khi về nhà luôn rửa tay, thay đồ khác. Cách đây khoảng hơn 1 tháng, cô nói chuyện điện thoại với con gái lớn và cho biết mình thấy không khỏe và tự nghi ngờ rằng mình đã bị COVID19. Sau khi xét nghiệm có kết quả dương tính, Lệ Thu tự gọi xe cấp cứu để vào bệnh viện mà không nói với con cái vì sợ lây cho người thân. Khi nhập viện, cô được đưa thẳng vào phòng chăm sóc tích cực (ICU).

Sau 2 tuần được chữa trị, tình hình sức khỏe của cô rất khả quan và thậm chí chuẩn bị được xuất viện. Tuy nhiên kể từ hôm 24/12/2020 thì cô bị khó thở và phải thở máy, thậm chí là bị hôn mê. Theo lời kể của con gái Lệ Thu nói với VOA thì cuối tháng 12/2020, bác sĩ đã gọi cho gia đình để thông báo tình hình không được khả quan cho lắm, các anh chị em đã nói chuyện với nhau và “chuẩn bị tâm lý”. Tuy nhiên may mắn là chỉ 1 ngày sau đó thì có diễn biến tích cực hơn khi Lệ Thu không còn khó thở nhiều như thời điểm nguy cấp.

Hiện nay gia đình Lệ Thu chỉ biết cầu nguyện và hy vọng, trông chờ vào sự cứu chữa của đội ngũ y bác sĩ đang cực kỳ bận rộn vì tình hình dịch bệnh rất căng thẳng ở nơi Lệ Thu sinh sống là thành phố Fountain Valley, tiểu bang California, các bệnh viện hoạt động vượt quá công suất.

Phía ngoài Orange Coast Medical Center nơi ca sỹ Lệ Thu đang được chữa trị. Ảnh: VOA

Trao đổi với báo Người Việt, con gái lớn của Lệ Thu nói: “Tôi mong những người hâm mộ mẹ, nếu có nghĩ đến bà, xin cầu nguyện cho bà chóng qua khỏi. Nếu phải ra đi thì đi trong nhẹ nhàng. Cầu mong có một phép lạ nào đó cho bà chóng bình phục.”

Theo VOA, nguoi-viet.com

Danh ca Lệ Thu bị Covid-19 phải nằm phòng săn sóc đặc biệt

Thông tin danh ca Lệ Thu đã bị COVID19 trong quãng thời gian dịch bệnh này đang có nhiều diễn biến phức tạp ở Mỹ đã làm cho những người hâm mộ cô lo lắng. Thông tin này đã được hầu hết các báo ở trong nước đăng tải.

Vừa mới đây, con trai của MC Nguyễn Ngọc Ngạn là John Dinh Vuong Nguyen đã đăng trên facebook, cho biết danh ca Lệ Thu đang nhập viện cấp cứu và phải nằm phòng chăm sóc đặc biệt: “Danh ca Lệ Thu đang nằm trong ICU vì COVID-19. Xin mọi người cùng góp lời cầu nguyện chúc cô mau hồi phục”.

Ở dưới phần bình luận bài viết này, và ở khắp nơi khác của facebook, bạn bè đồng nghiệp và người hâm mộ khắp nơi liên tục đăng bình luận thể hiện sự lo lắng và cầu nguyện cho danh ca Lệ Thu. Năm 2020 chỉ còn 2 ngày nữa là kết thúc, nhưng làng văn nghệ Việt Nam đã liên tục phải nhận những tin buồn.

Hiện nữ danh ca vẫn đang nằm trong phòng ICU ở bệnh viện Memorial Coast, phải dùng máy trợ thở. ICU có nghĩa là “săn sóc đặc biệt”, dành cho các bệnh nhân nặng đang cần nhanh hồi phục. ICU là viết tắt của chữ tiếng Anh Intensive Care Unit, tạm dịch là các đơn vị hồi sức cấp cứu, chăm sóc đặc biệt hoặc điều trị tích cực.

Ca sĩ Trizzie Phương Trinh cho biết danh ca Lệ Thu đã nhập viện từ 3 tuần trước, đáng lẽ đã được xuất viện, nhưng 2 ngày gần nhất bệnh trở nặng. Mong rằng cô Lệ Thu sẽ nhanh chóng vượt qua cơn nguy hiểm đang ảnh hưởng đến toàn cầu này.

Năm tháng lưu vong cuối đời của Nam Phương Hoàng hậu tại Pháp – Cô đơn giữa những lâu đài

Hoàng hậu Nam Phương là hoàng hậu cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam, là một giai nhân nổi tiếng trong lịch sử. Hầu hết những người Việt Nam đều biết đến tên tuổi cũng như dung nhan của bà, nhưng có thể ít người biết tường tận về cuộc đời và, đặc biệt là những năm cuối đời.

Bài viết này xin nhắc về những năm tháng lưu vong xa quê hương của một bậc mẫu nghi thiên hạ.

Nam Phương hoàng hậu tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan, được sinh ra trong một gia đình quyền quý bậc nhất hồi đầu thế kỷ 20, có ông ngoại là ông Huyện Sỹ – Lê Phát Đạt, cha là quận công Nguyễn Hữu Hào. Tiền tài, danh vọng, sắc đẹp là những thứ bà đều có, nhưng đó là những cái sẽ thoáng qua mau, cho đến nay người ta vẫn nhớ về Nam Phương hoàng hậu với vẻ đẹp đoan chính và đức hạnh được nhiều người kính phục.

Danh hiệu Nam Phương của hoàng hậu được vua Bảo Đại ban cho, với ý nghĩa là hương thơm của miền Nam. Tuy nhiên sau này, cựu hoàng viết trong hồi ký như sau:

“Nàng có vẻ đẹp dịu dàng của người miền Nam pha một chút Tây phương, do vậy mà tôi đã chọn từ kép Nam Phương để đặt danh hiệu cho nàng”.

Nam Phương Hoàng Hậu xuất thân trong gia đình giàu có bậc nhất nhất miền Nam thế kỷ 20, rồi trở thành hoàng hậu An Nam. Đến khi phải rời quê hương để lưu vong nơi đất khách, bà vẫn có cuộc sống sung túc với những khối tài sản đồ sộ mà gia đình để lại, có nhiều bất động sản trên khắp nước Pháp lẫn các đồn điền ở vùng khác, các lãnh địa – lâu đài lớn ở Cannes, Limousin, Paris…

Sở hữu nhiều lâu đài, đồn điền như vậy, nhưng rốt cuộc Nam Phương hoàng hậu phải sống những những năm tháng cô đơn vò võ lúc cuối đời vì mang phận là vợ của một vị vua nổi tiếng phong lưu.

Năm 1934, sau nhiều lần gặp gỡ, tìm hiểu, vua Bảo Đại quyết định hỏi cưới cô Nguyễn Hữu Thị Lan bởi mến mộ vì tài sắc hơn người của người con gái miền Nam.

Bất chấp sự cách biệt về tôn giáo (Nhà vua theo Phật Giáo, còn Thị Lan theo Công giáo), cùng với sự cản ngăn gay gắt của đức Từ Cung thái hậu, hai người vẫn đến với nhau.

Đám cưới cử hành ngày 20/3/1934 tại Điện Dưỡng Tâm (Tử Cấm Thành – Huế). Khi đó vua Bảo Đại 21 tuổi, còn hoàng hậu tròn 20. Cuộc hôn nhân của vị vua cuối cùng triều Nguyễn đi kèm với những thỏa thuận trước đó chưa từng có:

  • Thứ nhất là giải tán tam cung lục viện, tuân thủ chế độ một vợ một chồng, không còn chuyện năm thê bảy thiếp như những vị vua trước.
  • Thứ hai, hoàng đế tấn phong hoàng hậu sau khi cưới, chứ không phải là chỉ được phong sau khi hoàng đế qua đời như trước.
  • Thứ ba, con trai sinh ra phải được phong là thái tử.

Sau hơn 10 năm chung sống hạnh phúc, Nam Phương Hoàng hậu sinh cho hoàng đế Bảo Đại 5 người con là Hoàng thái tử Bảo Long, 3 hoàng nữ Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung và hoàng tử út Bảo Thăng.

Thời cuộc thay đổi nhanh chóng, những tháng ngày mật ngọt của vua và hoàng hậu kết thúc bắt đầu từ tháng 8 năm 1945, khi vua Bảo Đại thoái vị. Đến ngày 2 tháng 9 năm 1945, ông được mời ra Hà Nội để làm cố vấn tối cao cho chính phủ VNDCCH.

Ngày chia tay của Ông Bà Hoàng một thuở được ông Phạm Khắc Hoè (Đổng lý Ngự tiền văn phòng triều Bảo Đại – là người góp phần thúc đẩy vua Bảo Đại thoái vị) kể lại như sau.

6 giờ sáng ngày 2-9, Phạm Khắc Hoè và bộ trưởng chính phủ VNDCCH Lê Văn Hiến đến cung An Định:

“Xe chúng tôi đã vào đậu ngay trước phòng khách mà trong cung vẫn tối tò mò, im phăng phắc – chỉ nghe có tiếng gõ mõ niệm Phật từ trên lầu vọng xuống”.

Một lát sau Hoàng hậu Nam Phương trong sắc phục màu xanh da trời, từ trong nhà đi ra cùng con trai là Bảo Long và 3 con gái Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung. Cựu hoàng Bảo Đại tới hôn vợ, hôn các con với những lời âu yếm. Đây là lần đầu tiên trong đời mình, cựu hoàng đi xa mà không có ai đưa tiễn ngoài vợ con.

Nam Phương với sắc mặt buồn đưa tay trái lên cổ sửa lại sợi dây vàng đeo thánh giá lấp trong áo, tay phải cầm mùi xoa lau nước mắt trong tiếng gõ mõ tụng kinh của đức Từ Cung từ trên lầu vọng xuống đều đều buồn bã. Cựu hoàng – lúc này đã trở thành công dân Vĩnh Thuỵ, sắp sửa thành “ông cố vấn” – khoé mắt hơi ướt, nhưng miệng vẫn mỉm cười, bế Phương Dung lên hôn một lần nữa, rồi bỗng nói to: “Thôi, đi!”.

Bà Nam Phương mở to mắt nhìn theo như muốn níu chồng lại, nhưng ông không quay lại.

(Trích lời kể của ông Phạm Khắc Hoè)

Trong khi bà Nam Phương ở lại cung An Định bên ngoài Hoàng Thành Huế với Đức Từ Cung và các con, thì tại Hà Nội, không lâu sau, cựu hoàng Bảo Đại sống chung với thứ phi Mộng Điệp, phá vỡ lời hứa một vợ một chồng với hoàng hậu năm xưa. Song song với thời gian đó là mối quan hệ với một người đẹp nức tiếng: Lý Lệ Hà.

Thông tin này đến được tai bà Nam Phương qua giới săn tin thông thạo và trung thành với bà. Thời gian đó ông Hoè và ông Lê Văn Hiến có đề xuất đưa bà Nam Phương và các con ra Bắc đoàn tụ cùng với Bảo Đại, nhưng bà đều từ chối. Không rõ tâm tư thực sự của bà ra sao, nhưng trong một lần nói chuyện với ông Hoè – người vẫn đi đi về về giữa Huế và Hà Nội, bà Nam Phương nói:

“Ông Hoè này, tôi cũng muốn ra Hà Nội để vợ chồng, con cái cùng ở với nhau cho hạnh phúc. Nhưng tôi ngại hai điều: một là sẽ làm tốn kém thêm cho Nhà nước trong lúc chính phủ đang còn nghèo, lo trăm chuyện, hai là làm cho Hoàng đế đang ‘vui sướng’ trở thành đau khổ, gò bó. Thôi, tôi đành chịu đựng riêng một mình để cho người ta vui sướng”.

Tháng 3 năm 1946, cựu hoàng Bảo Đại được chính phủ VNDCCH cử tham gia phái đoàn sang Trung Hoa công tác, nhưng ông tách đoàn và không trở về nước nữa mà sang Hongkong sinh sống. Lý Lệ Hà nghe tin đã bay sang để sống chung.

Biết rõ mối quan hệ thắm thiết của chồng mình với cô Lý, Hoàng hậu với tư thế là một “bà cả” đã viết một bức thư gửi “người đến sau” mà hơn 50 năm sau đó Lý Lệ Hà vẫn còn giữ, có nội dung:

“Em Lý Lệ Hà thân quý! Chị ở xa đức cựu hoàng hàng mấy vạn dặm trùng dương, nhưng chị biết rằng em đang hết lòng hết sức chăm sóc cựu hoàng ở Hongkong. Chị cầu mong lịch sử mai đây không buông rơi cựu hoàng, còn gặp lại nhau. Đức Từ Cung thái hậu và chị trọn kiếp nhớ ơn em. Chị, Nam Phương”.

Tháng 12 năm 1946, tình hình chính trị và quân sự giữa Việt Minh và Pháp rất căng thẳng, trong khi đó thì cựu hoàng đã ở luôn Hongkong nên không còn là “ông cố vấn” cho chính phủ VNDCCH nữa. Cảm thấy ở trong cung An Định không còn được an toàn, bà Nam Phương đưa các con vào tạm lánh trong nhà dòng Chúa Cứu Thế, nơi thuộc quyền quản lý của các linh mục người Canada, trung lập giữa 2 bên Việt Minh và Pháp.

Ở đây một thời gian, bà Nam Phương lại muốn rời đi nơi khác để tránh sự rắc rối có thể xảy ra cho nhà dòng, bà được người Pháp giúp đỡ đến ở tạm trong tầng hầm của nhà băng Đông Dương thời gian ngắn, rồi sau đó lên Đà Lạt ở với người chị ruột để lánh xa khỏi những khói lửa binh biến.

Khi đó thái tử Bảo Long đang ở vị trí quan trọng có thể bị các phe phái chính trị lợi dụng làm con bài chiên lược, bà Nam Phương hẳn là rất lo lắng cho an nguy của những người con dòng dõi hoàng gia này, nên bà đã có một quyết định khó khăn là phải rời bỏ quê hương, đưa các con sang Pháp sống, mở ra một cuộc hành trình xa xứ mà từ đó bà không về lại quê hương một lần nào được nữa.

Trong hành trình này, bà Nam Phương cùng các con có ghé ngang qua Hongkong để thăm cựu hoàng trước khi sang đến Pháp. Bên dưới là 2 hình ảnh được chụp ở Hongkong:

Hong Kong 1947 – Cựu hoàng Bảo Đại tiếp các đại biểu của Việt Nam tại Hong Kong: Phan Văn Giáo, Trương Vĩnh Tòng, Nguyễn Văn Tâm; Nguyễn Hải Thần; Nguyễn Bảo Toàn; Nguyễn Văn Hải; Trần Văn Lý; Ngô Xuân Tích; Trần Quang Vinh (Cao Đài); Nguyễn Xuân Bảng (thư ký của Nguyễn Văn Tâm); Trần Thanh Đạt; X. (Chủ bút báo Bạn Dân ở Nha Trang. Thân Văn Tuyên; Nguyễn Tường Tam. Ảnh: Sogny-Marien
Bà Nam Phương chụp ảnh cùng các con ngay trước khi sang Pháp năm 1947

Năm 1947 tới Pháp, trong thời gian đầu, mẹ con bà Nam Phương về Cannes, nơi có toà lâu đài Thorenc thuộc gia sản của cha mẹ bà đã mua trước đó.

Bà Nam Phương và 5 con tại Cannes – Pháp

Năm 1949, Bảo Đại trở về Việt Nam làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam, nhưng bà Nam Phương vẫn ở bên Pháp. Những ngày nghỉ lễ, bà thường đi phố cùng các con để mua đồ chơi cho con, hoặc đi xem chiếu bóng với hoàng tử Bảo Thăng, công chúa Phương Dung là hai người con nhỏ nhất.

Hàng ngày sinh hoạt của cựu hoàng hậu là chăm lo cho các con hay đọc sách báo hoặc ra vườn trồng hoa, tỉa lá. Buổi tối bà thích chơi dương cầm cho các con nghe.

Cũng có những lúc Bảo Đại về Pháp, nhưng niềm vui ở bên chồng quá ít ỏi, nhất là từ sau năm 1955, quốc trưởng Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm phế truất và bỏ đi tứ xứ.

Bà Nam Phương và 5 con tại Cannes – Pháp

Năm 1958, khi các con đều đã lớn, mỗi người đi một nơi, bà Nam Phương rời Cannes để về sống ở lâu đài Domain de la Perche ở Chabrignac thuộc vùng Trung Tây nước Pháp, cách Paris chừng 400-500 cây số. Nơi này có một trang trại lớn của riêng bà Nam Phương mà trước đây gia đình bà (ông bà Nguyễn Hữu Hào) đã mua cho.

Cổng vào lâu đài Domain de la Perche

Nơi ở của bà có rừng bao quanh, gồm 32 phòng, 7 phòng tắm, 5 phòng khách. Về đời sống vật chất thì bà Nam Phương không lúc nào thiếu thốn khi sống ở xứ người. Tài sản riêng do gia đình Nguyễn Hữu Hào tậu cho bà gồm một chung cư lớn tại Neuilly và ở đại lộ Opera. Ngoài ra bà còn nhiều nhà đất ở bên xứ Marocco, Congo… Những bất động sản này bà đã chia cho các con mỗi người một phần riêng và chỉ giữ lại trang trại ở Charbrignac, gồm 160 mẫu đất với một đàn bò gần trăm con và một vườn hồng lúc nào cũng nở hoa.

Nhà của bà ở cách biệt với những nhà dân ở vùng này, vì là làng quê nên mọi người ít có dịp giao thiệp với nhau. Và đã có lần bà Nam Phương ngỏ ý được trở về Việt Nam để được an tang bên cạnh hai mộ cha mẹ ở Đà Lạt nhưng Bảo Đại và các con không đồng ý.

Dân làng Chabrignac kể rằng, bà Nam Phương giàu có, nhưng sống trầm lặng. Bao nhiêu năm chỉ thấy cựu hoàng Bảo Đại về thăm Hoàng hậu mấy lần, lần được nhớ nhất là vào dịp lễ cưới của công chúa Phương Liên kết hôn với chàng trai người Bordeaux. Buồn nản vì tình cảm của mình, bà Nam Phương chỉ sống âm thầm trong ngôi nhà vắng vẻ. Họa hoằn bà mới về thăm Paris vài ngày. Có lẽ vui nhất là dịp nghỉ hè, các con mới có dịp về thăm bà.

Những năm sau này bà Nam Phương ít đi ra ngoài và gặp gỡ ai. Cũng có đôi khi bà Nam Phương đi Paris để thăm các con đang học và làm ăn ở đó. Và ngược lại những dịp hè thì các con có về đây thăm mẹ ở ít ngày cho bà đỡ buồn. Thời gian này bà bị bệnh tim nặng làm khó thở.

Cho đến cuối đời, bà vẫn sống trong nhung lụa nhờ gia đình cự phú của mình. Tuy nhiên, với bà Nam Phương, tiền không giúp mua được niềm vui. Cựu hoàng hậu sống lặng lẽ với thú vui điền viên trong trang trại Charbrignac, bất động sản duy nhất bà giữ lại cho riêng mình, sau khi chia hết các tài sản khác cho các con.

Điền trang La Perche ở làng Chabrignac rộng 160 ha đã được hoàng hậu mua lại để sống cuộc đời ẩn cư

Rũ bỏ lớp áo vàng son quyền quý, bà Nam Phương quay lại sống đúng nghĩa cuộc đời an lành, bình dị của một phụ nữ An Nam học thức.

Hàng ngày, bà dậy rất sớm, thường tự tay trang trí, dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc cây cảnh.

Khi có việc ra ngoài, bà thường tự tay lái chiếc xe hơi hiệu Dauphine, có thêm cô hầu gái hay người quản gia đi theo. Bà nuôi trong điền trang 4 người giúp việc nông, một số người hầu gái và một viên quản gia người Pháp. Tất cả người ăn kẻ ở trong nhà đều được bà đối xử thân tình và gần gũi.

Bà Nam Phương và con trai út Bảo Thăng

Lucien Boudy – một cựu xã trưởng Chabrignac, cho biết Hoàng hậu Nam Phương “…là một mệnh phụ phu nhân rất duyên dáng, đặc biệt thân thiện rộng rãi với dân làng. Bà cũng rất nhân từ và yêu thương với cả người hầu kẻ hạ trong nhà”.

Nam Phương Hoàng hậu sống rất cởi mở, quảng giao, thường xuyên đi thăm thú điền trang để gặp gỡ và trò chuyện thân mật với những người nông dân. Vì thế dân làng rất quý mến bà. Từ chỗ xa lạ, sau 5 năm làm dân Chabrignac, bà đã để lại biết bao tình cảm trong tâm trí người dân địa phương. Họ xem bà là một cô-rê-diên (Người địa phương Correze) chính cống.

Có lẽ sự cô đơn và nỗi đau buồn cho cuộc đời tuy vàng son mà bất hạnh của mình khiến hoàng hậu lưu vong mắc bệnh tim. Ngày 14/9/1963, vừa từ thị trấn Brive cách điền trang 30 km trở về, bà Nam Phương đã cảm thấy đau họng. Viên bác sĩ được mời đến đã khám qua loa và kết luận bà bị viêm họng nhẹ, chỉ uống thuốc vài ngày là khỏi. Kỳ thực, bà bị chứng lao hạch tràng hạt, cơn đau tiếp tục hoành hành dữ dội. Trước khi viên bác sĩ thứ hai kịp đến nơi thì Nam Phương Hoàng hậu, 49 tuổi, đã qua đời vì nghẹt thở.

Bà mất vào ngày 15/9/1963. Đám tang của bà rất lặng lẽ. Ngày đưa tang, ngoài hai Hoàng tử Bảo Long (1936), Bảo Thăng (1943) và ba Công chúa Phương Mai (1937), Phương Liên (1938) và Phương Dung (1942) đi bên cạnh quan tài của mẹ.

Nơi ở cuối cùng của hoàng hậu Nam Phương

Khi được tin bà Nam Phương tạ thế, Bảo Đại trở về ngay và đã mua một chiếc quan tài bằng gỗ sồi, loại gỗ quý giá nhất của người Pháp để an táng người vợ hiền thục, nhân từ và đạo đức mà cho tới tận cuối đời cũng không hề bị ai chê trách hay than phiền. Ngay cả ông Bảo Đại cũng chưa bao giờ dám trách vợ về việc trai gái, vì kể từ ngày ly thân với Bảo Đại, bà Nam Phương không có bất kỳ nhân tình nào, dù là đi khiêu vũ hay đi tắm biển với một người đàn ông khác cũng không. Có lẽ bà Nam Phương được sinh ra trong một gia đình nề nếp nên bà giữ đạo rất nghiêm khắc, ngay cả với các con.

Ngôi mộ của bà Hoàng Hậu Nam Phương, người vợ chính thức đầu tiên của Bảo Đại, rất dễ nhận ra, vì có hai cây tùng trồng hai bên mộ, nay đã cao và to phình. Ngôi mộ có vẻ mới được trùng tu lại, sạch sẽ, đơn sơ. Trên ngôi mộ đơn sơ dựng một tấm bia đá giản dị. Mặt trước tấm bia ghi dòng chữ Hán:

“Đại Nam Nam Phương Hoàng Hậu chi lăng” (Dịch nghĩa: Lăng của Hoàng hậu Nam Phương nước Đại Nam).

Nắp đậy huyệt chỉ là một tấm bê tông phẳng phiu, có chạm nổi hình thánh giá và một tấm bia chìm đề hàng chữ tiếng Pháp “Sa Majesté Nam Phuong Impératrice d’Annam 1913 – 1963”. Trên nắp huyệt dựng một tấm bia khác đề rõ hơn một chút “Ici repose l’Impératrice Nam Phuong, née Jeanne Mariette Nguyen Huu Hao, 14.11.1913 – 15.09.1963” (Tại đây an nghỉ Nam Phương Hoàng Hậu, tên gốc Jeanne Mariette Nguyen Huu Hao, 14.11.1913 – 15.09.1963).

Có một nghịch lý là, hoàng hậu Nam Phương nổi tiếng là một Đệ nhất phu nhân đẹp nhất nước Nam, nhưng thời gian 5 năm bà làm dân Chabrignac và lăng mộ của bà ở Chabrignac, không mấy người Việt ở Việt Nam hay ở ngay trên đất Pháp biết đến. Trong lúc đó người dân Chabrignac hạt Corrèze thì lại rất tự hào khi quê hương họ đã từng là nơi sinh sống 5 năm cuối đời và là nơi an nghỉ của bà Hoàng hậu đẹp nổi tiếng của Việt Nam, với niềm tự hào ấy, người chủ Domaine de la Perche ngày nay đã xây dựng khu nhà cũ và lăng mộ của bà thành một điểm du lịch ở trung tây nước Pháp.

Vậy là, một cuộc đời oanh liệt của hoàng hậu Nam Phương đã khép lại. Những ngày tháng buồn nhiều hơn vui. Tiền tài, của cải, vật chất, danh vọng, sắc đẹp… thoáng qua đi như bong bóng. Nhưng vẻ đẹp tâm hồn, đức hạnh của bà lại là điều sống mãi, lưu hương lại mãi, như cái tên bà hoàng hậu Nam Phương – Hương thơm từ Phương Nam…

Xin nói thêm về các câu chuyện xung quanh đức tính nhân từ được nhiều người kính nể của Nam Phương Hoàng Hậu, xin trích ra đây những thông tin của nhà nghiên cứu Lý Nhân Phạm Thứ Lang, đó là thi bá Tản Đà đã từng làm thơ tặng cho bà.

Tản Đà là một người hơi khó tính, không phải ai cũng được ông tặng thơ. Nhưng nhân dịp Nam Phương hoàng Hậu tuần du ra Bắc, Tản Đà đã đại diện sĩ phu Bắc Hà có món quà văn nghệ gửi tặng. Ông nói:

“Tôi cũng có chút tình kính mến bà Nam Phương. Vì bà là một con người sinh ra trong gia đình gia giáo, bà rất nhân từ, xứng đáng là bậc mẫu nghi thiên hạ nên tôi không nề hà gì mà không sáng tác một áng thơ để nhờ chuyển dâng tới tay bà Nam Phương”.

Suy nghĩ một vài phút rồi thi sĩ Tản Đà đề nghị: “Tôi sẽ làm một bài thơ theo thơ ca trù (hát nói, ả đào) thời kỳ cận đại”.

Rồi ông lấy giấy bút ra viết tựa đề:

Bài Hát Mừng Đức Nam Phương Hoàng Hậu Ra Tuần Du Đất Bắc

Nam Phương ngự giá Bắc tuần
Cỏ hoa vùng Bắc tin xuân đón mừng
Trâm hoa tàn quạt tưng bừng
Trời Nam quang cảnh ai từnh thấy chưa?

Năm Đinh Sửu qua Rằm tháng Chạp
Bạn quần thoa đông họp bốn trăm người
Đèn văn minh lửa sáng trưng giời
Góp ngọc nói hoa cười nghênh thánh giá

Cung duy mẫu đức nghi thiên hạ
Lạc đồ tiên nhân giáng tự trần
Bụng từ nhân thương xót kẻ bình dân
Đạo bác ái ân cần câu diễn thuyết

Hội Hợp Thiện được nghe lời khuyến thiện
Lòng hướng dương thêm kiến quyền trung quân
Bắc Nam đâu cũng thần dân.

Sau đây, xin đăng lại những hình ảnh của Nam Phương Hoàng Hậu qua các thời kỳ:

Thời thiếu nữ:

Lễ cưới và tấn phong hoàng hậu năm 1934:

Khi đã trở thành hoàng hậu:

Chuẩn bị sinh thái tử Bảo Long

Ảnh chụp cùng các con:

Hoàng gia Bảo Đại – Nam Phương chính thức thông báo với Nam triều ông bà đã có con trai đầu lòng và được Phủ tôn Nhơn ghi vào Tôn phả với danh xưng Bảo Long. Ảnh chụp vào đầu năm 1936
Vua và hoàng hậu chụp cùng đức Từ Cung thái hậu

Nam Phương Hoàng hậu với Thái tử Bảo Long (trái) và công chúa Phương Mai (phải) dạo chơi trong công viên

Cuộc sống lưu vong:

Năm 1950 tại Pháp, lúc cựu hoàng Bảo Đại vẫn còn là Quốc Trưởng
Bà Nam Phương thăm Vatican năm 1954

Bài viết được trích theo cuốn sách Nam Phương – Hoàng hậu cuối cùng của tác giả Lý Nhân Phạm Thứ Lang
Hình ảnh từ manhhai flickr
Biên soạn: Đông Kha

Thi sĩ Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương – Những thiên tài bạc mệnh của thi đàn Sài Gòn xưa

Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là 2 trong những thi nhân nổi tiếng nhất của thi đàn miền Nam từ sau năm 1954. Họ đều là những thi nhân gốc Bắc từng đi theo kháng chiên và tham dự Đại hội Văn nghệ tại Liên khu Ba hồi thập niên 1940. Sau đó họ cùng “dinh tê” về thành cùng lúc: Vũ Hoàng Chương về Nam Định dạy học, còn Đinh Hùng về Hà Nội làm báo.

Không hẹn mà gặp, vài năm sau đó thì họ đã cùng di cư vào Sài Gòn năm 1954 và sinh sống tại đây cho đến khi kết thúc cuộc đời. Giữa hai nhà thơ có tình bạn thân thiết, và cũng có mối quan hệ gia đình gần gũi khi Vũ Hoàng Chương lấy chị ruột của Đinh Hùng. Họ đều là những nhà thơ kiệt xuất thích chơi đùa cùng chữ nghĩa trong những bài thơ đặc tả tâm trạng đau đớn mà các thi nhân đa cảm thường gặp phải.

Và bi kịch thay, họ cùng có một điểm chung nữa: đều là những thiên tài bạc mệnh.

Hãy cùng đọc lại trích đoạn nói về cuộc đời tài hoa nhưng khốn khó của họ sau này của tác giả Tô Kiều Ngân trong cuốn Mặc Khách Sài Gòn sau đây:

Lịch sử văn học Việt Nam đã ghi nhận tên tuổi họ, nhưng trong biến thiên của lịch sử dân tộc không ít văn thi sĩ tên tuổi phải chìm nổi cùng vận mệnh đất nước…

Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nhà thơ nổi tiếng từ hồi “phong trào Thơ Mới” thời tiền chiến. Họ đều là những “đại gia” trong làng thơ, nhưng cả hai không ai tự tạo dựng được cho mình được một mái nhà mà suốt đời toàn đi ở nhà thuê.

Năm 1954, khi di cư vào Sài Gòn, hai người thuê một căn nhà lợp tôn, vách ván tại xóm Hòa Hưng. Vũ Hoàng Chương cùng vợ ở trên gác, dưới nhà là tổ ấm của gia đình Đinh Hùng. Nhị vị này là anh em: Vũ Hoàng Chương lấy chị ruột Đinh Hùng là bà Đinh Thị Thục Oanh, nên hai nhà sống chung với nhau trong bước đầu nơi xứ lạ, quê người là điều dễ hiểu.

Tuy nhiên thực tế lại rất… khó sống. Quen với cảnh “miếu nguyệt, vườn sương”, “cách tường hoa ảnh động”, nay phải giam mình trong căn gác gỗ nóng hầm hập, hơi nóng từ mái tôn phả xuống như muốn luộc chín người, Vũ Hoàng Chương cảm thấy nguồn thơ đang bị nắng Sài Gòn làm cho khô cạn.

Dưới nhà, Đinh Hùng cũng chẳng hơn gì, anh cũng cởi trần ra, vừa quạt, vừa nắm viết “Kỳ Nữ gò Ôn Khâu”, “Đao phủ thành Đại La” cho các nhật báo Sài Gòn thời đó. Ngoài viết tiểu thuyết dài từng kỳ, anh còn vẽ tranh vui và giữ luôn mục “Đàn ngang cung” là mục thơ trào phúng ký tên Thần Đăng.

Vũ Hoàng Chương dạy học tại trường Văn Lang. Đinh Hùng viết báo và bình thơ tại Đài phát thanh. Cả hai kiếm tiền không đến nỗi chật vật nhưng lại đều không tậu được cho mình một mái ấm là vì họ trót dính đến nàng tiên nâu nên kiếm tiền bao nhiêu đều tan thành mây khói.

Để kiếm một chỗ ở thoải mái hơn, họ Đinh và họ Vũ tạm chia tay nhau, mỗi gia đình đi thuê một nơi ở khác. Tác giả “Thơ Say” dọn về chợ Vườn Chuối (đường Nguyễn Đình Chiểu bây giờ). Họ Đinh thì mướn một căn gác hẹp ở xóm lao động gần đường Frères Louis (trước 1975 là đường Võ Tánh, nay là Nguyễn Trãi). Xóm lao động này có ngõ dẫn ra đường Lê Lai. Con đường nằm bên cạnh ga xe lửa Sài Gòn, hồi đó chưa lập thành công viên như bây giờ, quang cảnh còn rất vắng.

Chỗ ở mới cũng không hơn gì căn nhà ở xóm Hòa Hưng, chật hẹp, tối tăm, nóng bức. Mỗi lần xong việc ở đài phát thanh, Đinh Hùng thường rủ chúng tôi về nơi ở, không phải ở nhà anh mà là họp nhau tại một quán rượu ở gần nhà, đường Lê Lai. Đường này thường đêm vắng ngắt, có lần uống say, Đinh Hùng cao hứng mở cuộc thi… bò ra đường xem ai bò nhanh. Thế là Thanh Nam, Tô Kiều Ngân, Đinh Hùng, Thái Thủy, Hoàng Thư, Quách Đàm… hăng hái tham gia môn vận động chưa từng diễn ra ở bất cứ vận động trường nào! Bò xong rồi nằm lăn ra đường, vừa đọc thơ, vừa cười.

Ít lâu sau, Đinh Hùng lại đổi nhà. Lần này anh thuê được một căn gác, nhà tường hẳn hoi, tại đường Trần Văn Thạch, gần chợ Tân Định, nay đổi tên là Nguyễn Hữu Cầu. Nhà lợp ngói lại ở mặt tiền nhưng vào nhà chẳng thấy bàn ghế gì, chỉ thấy một chiếc giường nằm chình ình ngay giữa nhà. Trên giường chất chồng đủ thứ: mền gối, sách vở, ấm chén và có một thứ không thể thiếu đó là chiếc bàn đèn thuốc phiện. Đinh Hùng nằm lọt thỏm vào giữa “giang sơn” của anh, vừa “dìu hồn theo cánh khói” vừa tìm ý thơ.

Nhà thơ Đinh Hùng

Tác giả “Đường vào tình sử” có thói quen nằm mà viết. Anh nằm vắt chân chữ ngũ, đặt tập giấy lên đùi. Có lẽ lâu ngày nên quen, trong tư thế đó, chữ viết anh vẫn bay bướm, rõ ràng, không dập xóa, trang bản thảo nào cũng sạch sẽ, xinh đẹp. Khi cần đi đâu, họ Đinh lại vớ lấy chiếc sơ mi đã mặc bốn, năm hôm trước, quàng bên ngoài chiếc áo vét cũ, cà vạt đàng hoàng. Tắm ư, chỉ cần vào “toa-let” mở nước ở “la-va-bô”, nhúng đầu vào bồn nước rồi hất lên, chảy xơ qua là xong. Trông Đinh Hùng lúc nào cũng ăn mặc chỉnh tề nhưng đừng ai ngồi quá gần anh, vì anh ít khi… tắm.

Vũ Hoàng Chương lại đổi nhà một lần nữa. Lần này anh mướn nhà ở đường Nguyễn Khắc Nhu, ở gần nhà Bình Nguyên Lộc. Tuy được đi dự Hội nghị Thi Ca quốc tế ở nước ngoài, có thơ dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiền kiếm được có thể mua một căn nhà bực trung nhưng họ Vũ vẫn đi ở nhà thuê. Vào các năm 1973 – 1975, vợ chồng anh được nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội mời về cho ở một căn gác tại toà biệt thự đồ sộ của bà ở đường Nguyễn Trọng Tuyển.

Nói là cho ở nhưng họ Vũ phải trả tiền điện, tiền nước và tiền điện thoại. Anh đặt tên chỗ ở mới này là “Gác Mây”. Nơi đây, tôi và bạn bè đã có lần uống rượu với Vũ Hoàng Chương, nghe anh đọc thơ Tuy Lý Vương và phát hiện ra cái thôn Vỹ Dạ ở Huế đã đi vào thơ Hàn Mạc Tử không phải là Vỹ Dạ mà là Vỹ Dã (cánh đồng lau). Nhưng rồi Vũ Hoàng Chương cũng không an trú lại “Gác Mây” được bao lâu. Sài Gòn sụp đổ, bạn bè cách mạng của chủ nhân Mộng Tuyết vào ra thăm bà tấp nập; có lẽ thấy sự hiện diện của Vũ Hoàng Chương ở tại nhà mình có sự không tiện nên bà đánh tiếng để họ Vũ dọn đi. Phải đi thôi nhưng phải đi đâu? Thời buổi khó khăn, tiền đâu để đặt cọc, thuê nhà? Anh đành dắt díu vợ con về tá túc tại căn nhà bé bằng bàn tay của bà quả phụ Đinh Hùng bên khu Khánh Hội.

Đinh Hùng ra đi trước Vũ Hoàng Chương. Anh mất vì bệnh ung thư tại bệnh viện Bình Dân, an táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Đám tang trọng thể. Thuở sinh thời, Đinh Hùng từng viết trong thơ:

Khi tôi chết các em về đấy nhé

Cảm tấm lòng tri ngộ với nhau xưa
Tay cầm hoa, xõa tóc đến bên mồ…

Điều mong ước đó, kỳ diệu thay lại biến thành hiện thực: trong đám tang của anh người ta thấy có hai chục cô thiếu nữ mặc áo trắng, xõa tóc, tay cầm hoa lặng lẽ sắp hàng đi theo linh cửu. Họ đến bên mồ và lặng lẽ thả những bó hoa xuồng lòng huyệt, ngậm ngùi tiễn đưa người thi sĩ. Hiện tượng này không do một sự sắp đặt mà do một cảm ứng tự nhiên.

Đinh Hùng mất rồi, vợ anh phải trả căn nhà ở gần chợ Tân Định lại cho chủ. Đang chưa biết ở đâu thì may thay, một vị tướng quân hồi đó, rất yêu thơ mà lại có chức quyền nên đã vận động cấp cho bà quả phụ Đinh Hùng một căn nhà ở khu Khánh Hội. Bà Đinh Hùng với con trai là Đinh Hoài Ngọc không thể ôm một căn nhà lớn để mà nhịn đói nên đã bán căn nhà đó đi rồi rút lui vào vùng sâu, vùng xa của bến Phạm Thế Hiển lúc đó còn đìu hiu lau lách, dựng một mái chòi để sống qua ngày. Chính nơi đây, Vũ Hoàng Chương đã cùng vợ con sống chui rúc những ngày cuối đời của anh trước khi “được” đưa đến ở một toà nhà to lớn, kiên cố, có lính gác ngày đêm, đó là… khám Chí Hòa!

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương bệnh hoạn, suy sụp rất nhanh nên ít lâu sau khi được thả ra, anh lặng lẽ ra đi. Đám tang anh cũng cử hành trong lặng lẽ, nghèo nàn, hiu hắt. Năm 76, mọi người còn bận rộn với những vấn đề to lớn, đa số bạn bè và người hâm mộ anh kẻ đi tập trung cải tạo, kẻ đi nước ngòai, người còn lại thì do không biết tin anh chết nên đám tang anh chỉ thưa thớt dăm người đi đưa, trong đó có nhà thơ Bàng Bá Lân và Tôn Nữ Hỷ Khương.

Mười năm sau, 1986, mộ Vũ Hoàng Chương được cải táng về chôn tại nghĩa địa của chùa Giác Minh tại Gò Vấp. Suốt một đời lận đận vì nỗi không nhà, giờ đây hai con người tài hoa kia đã có một chỗ ở trang trọng, miên viễn đó là chỗ ngồi lâu bền trong văn học sử và điều an ủi lớn nhất là họ còn sống mãi trong tâm hồn những khách yêu thơ.

Tô Kiều Ngân (Trích từ sách Mặc Khách Sài Gòn)

Xin đăng lại 2 bài thơ tiêu biểu nhất của 2 nhà thơ thiên tài của miền Nam:

Cánh Chim Dĩ Vãng – Đinh Hùng

Anh trở lại con đường lên núi biếc,
Thương mây bay từ đó vẫn cô đơn.
Những bông hoa còn có nửa linh hồn.
Những lá cỏ nghiêng vai tìm mộng ảo.

Ôi nắng cũ nhạt mùi hương dã thảo!
Lạnh màu rêu, tảng đá nhớ chân đi.
Những cánh chim từ quá khứ bay về,
Tà áo mỏng chập chờn phai sắc bướm.

Bài thơ nhỏ hôm xưa hồng nắng sớm,
Trêm môi em, gió núi đã gieo vần.
Mùa hạ nào thơm mái tóc hoài xuân?
Hơi phấn thoảng còn ướp say hình bóng.

Giấc em ngủ, thơ anh về báo mộng,
Nhắn sao khuya soi lén nụ hôn đầu.
Ôi sườn non, mây lụa quấn vai nhau!
Mỗi bậc đá nâng cao từng ước vọng.

Em chuyển bước, trùng dương nào cuộn sóng
Dưới bàn chân? – Hồi hộp biển cây xanh.
Hương phất phơ chùm hoa mộng đầu cành,
Gò má thẹn một màu hồng hợp cẩn.

Hãy dừng lại hỡi mùa hoa hồng phấn!
Mấy hoàng hôn, mái tóc đã sang thu?
Chĩu hàng mi, lá úa rụng tình cờ,
Tờ thư lạnh, gió sương bay dòng chữ.

Thương tâm sự, mưa sa vành nón cũ,
Anh ngờ em mang cả núi non đi.
Hoa qua đầu, cánh bướm cũng vu quy,
Nhòa nắng xế, nụ cười mây khói tỏa.

Ai trao gửi lời thề trên xác lá,
Để vầng trăng tìm mãi dấu chân xưa?
Ngôi sao buồn lên đỉnh núi bơ vơ,
Cành trinh nữ, thu xanh màu tóc lạ.

Lời ước hẹn dư âm truyền vách đá,
Em vội đi, hờn giận tiếng non cao.
Em đi rồi! Then khóa cả chiêm bao,
Gầy vóc mộng, gói tròn manh áo nhớ.

Nhắc làm chi? Ôi! nhắc làm chi nữa?
Em đi rồi, mưa gió suốt trang thơ.
Mây lìa ngàn, e lệ cánh chim thu,
Con bướm ép thoát hồn mơ giấc ngủ.

Anh trở gót, hương đưa về núi cũ,
Theo mây bay, tìm mãi hướng trăng thề.
Nhắc làm chi? Còn nhắc nữa làm chi…!

Phương Xa – Vũ Hoàng Chương

Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng,
Xô về đông hay dạt tới phương đoài,
Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng,
Lòng cô đơn cay đắng hoạ dần vơi.

Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt,
Treo buồm cao cùng hát tiếng hò khoan.
Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt,
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan.

“Đệ nhất thi sĩ miền Nam” Vũ Hoàng Chương – Lạc loài trong cõi nhân sinh

Khi tiếng kêu đớn đau của thi sĩ Hàn Mặc Tử ở phương Nam chợt vụt tắt, thì vòm trời thi ca đất Việt dường như chỉ còn một Vũ Hoàng Chương đang quằn quại với những vết thương xẻ nát tâm hồn. Thì kỳ lạ thay, từ chính vết thương đang rỉ máᴜ ấy lại vẽ ra một lối đi riêng, một con đường cho thi ca ngay từ buổi đầu đến với thơ mới.

Nếu ai đó đã nói, thơ là tiếng nói hồn nhiên trong trẻo của tâm hồn, là tuổi thơ của loài người còn sót lại… thì quả thật với Vũ Hoàng Chương, nó lại là tiếng bi ai được cất lên từ nỗi đau rách nát của linh hồn. Chính vì vậy, thơ ông đã chạm đến tận cùng nỗi đau và sự cảm thông của con người. Để rồi thơ văn Vũ Hoàng Chương không chỉ đóng đinh vào lòng người, mà còn dán chặt tên tuổi ông vào nền văn học nước nhà. Ông viết nhiều thể loại, từ thơ, văn đến cả kịch thơ… Hơn hai chục tác phẩm tuy chưa hẳn đã là nhiều, nhưng chính tư tưởng, hình tượng nghệ thuật mới làm nên chân dung và sự nghiệp sáng tác đồ sộ Vũ Hoàng Chương.

Vũ Hoàng Chương sinh năm 1915 tại Nam Định, trong một gia đình nho giáo. Cha ông là quan tri huyện, mẹ ông cũng hay chữ, yêu văn học và âm nhạc, nên ông được học và tiếp cận với Hán văn từ nhỏ. Sau đó, Vũ Hoàng Chương học tiếp tiếng Pháp và vào học trung học, đỗ tú tài Pháp tại Hà Nội năm 1938. Đang học luật ông bỏ đi làm ngành hỏa xa và in tập Thơ Say đầu tay vào năm 1940. Năm 1941 ông theo học khoa toán, Đại học khoa học Hà Nội. Rồi một lần nữa ông lại bỏ xuống Hải Phòng dạy học và cùng với Chu Ngọc, Nguyễn Bính lập ra Ban Kịch Hà Nội.

Năm 1943 ông in tập thơ Mây, rồi theo kháng chiến. Một thời gian sau ông bỏ kháng chiến về thành, rồi di cư vào Nam. Từ đây ông theo nghề dạy học và viết văn làm thơ. Thời gian này, ông viết nhiều, được dịch và in ra nhiều thứ tiếng. Do vậy, tên tuổi ông đến gần hơn với bạn đọc nước ngoài cũng như văn bút quốc tế.

Sau năm 1975 ông bị bắt vào tù và mất ngay sau đó vào tháng 9 năm 1976.

thủ bút của Vũ Hoàng Chương

Có thể nói, Vũ Hoàng Chương là nhà thơ lớn của dân tộc. Nếu nhìn lại văn học sử, ta có thể thấy: Sau sự cổ vũ của các cụ Phan Khôi, Nguyễn Văn Vĩnh… Vũ Hoàng Chương góp phần không nhỏ, cùng với những Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Nguyễn Nhược Pháp, Xuân Diệu, Huy Cận… mở đường tiên phong cho phong trào thơ mới từ những thập niên đầu của thế kỷ hai mươi. Thơ ông sang trọng, giàu nhạc tính, tuy cách tân mà vẫn mang mang hoài cổ.

Tập Mây (in năm 1943) và Lửa Từ Bi (năm 1963) có thể chưa phải là những thi tập hay nhất của Vũ Hoàng Chương, nhưng với tôi, nó là hai tập thơ tiêu biểu nhất cho từng giai đoạn, tư tưởng cũng như thi pháp sáng tác của ông.

Vũ Hoàng Chương xuất hiện vào thời kỳ cuối của phong trào thơ mới bằng tập Thơ Say. Nhưng phải đến thi tập Mây (năm 1943) tên tuổi ông mới được khẳng định trên thi đàn. Và tập thơ này đã làm rung động giới thưởng ngoạn, bởi giọng điệu thơ khác hẳn với những thi sĩ cùng thời.

Thật vậy, khi đọc và và nghiên cứu sâu về thơ Vũ Hoàng Chương, tôi mới chợt nhận ra cái tôi, cái riêng biệt trong thiên tình sử của ông, sao mà nó khác với những tuyên ngôn tình yêu, dành cho hội trường, đọc nơi đông người như trong thơ tình Xuân Diệu đến vậy. Với khoảng cách, sự trái ngược này, chỉ có cảm thụ của cá nhân người đọc mới có thể tự so sánh rạch ròi. Nếu được phép gắn ông hoàng, bà chúa cho thơ (tình) như người ta vẫn thường làm, với tôi chắc chắn vương miện đó phải được trao cho Vũ Hoàng Chương.

Sinh ra, lớn lên trong gia đình quyền quí, nhưng cuộc sống, tình yêu Vũ Hoàng Chương luôn tuyệt vọng, chán chường. Để tự thoát ra khỏi cuộc sống bơ vơ nơi địa ngục:

“Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh”

Ông đã treo hồn mình lơ lửng giữa vòm trời thi ca. Và Vũ Hoàng Chương không chỉ lạc loài giữa cõi nhân sinh hiện hữu này, mà chính linh hồn ông cũng lạc khỏi thân xác mình. Do vậy, đọc Vũ Hoàng Chương, ta có cảm giác thơ ông được chiết ra từ khói thuốc, men rươu trong những cơn chao đảo, thất tình điên loạn.

Vâng! Chỉ có những cơn say ấy mới có thể nhập linh hồn vào với thể x̠ác, để thi nhân đủ can đảm đi đến tận cùng sự thật đắng cay. Những tiếng kêu bi thảm đó, làm ta ngỡ, trái tim người thi sĩ tựa hồ vỡ vụn. Và biết bao đêm trường như vậy, nấm mồ sầu thảm đó vẫn được đong bằng nước mắt của thi nhân:

“Là thế là thôi là thế đó
Mười năm thôi thế mộng tan tành
Mười năm trăng cũ ai nguyện ước
Tố của Hoàng ơi Tố của Anh

Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu ghi mười hai
Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc
Tố của Hoàng nay Tố của Ai”

Có lẽ, không có nỗi đau nào bằng sự đổ vỡ, phụ bạc của tình yêu, nhất là trái tim dễ vỡ của thi nhân. Và Vũ Hoàng Chương cũng không nằm ngoài cái qui luật đó.

“Yêu sai lỡ để mang sầu trọn kiếp
Tình mười năm còn lại mấy tờ thư!”.

Đứng trước sự bế tắc của xã hội và tình yêu nhà thơ luôn cảm thấy lạc loài, bơ vơ với cuộc sống đang hiện hữu, nên luôn luôn muốn từ bỏ, thoát ly nó, tìm đến cõi mộng ảo địa đàng. Thật vậy! Vũ Hoàng Chương đang trốn chạy, tìm nơi ẩn nấp. Và cứ tưởng rằng, trốn vào men say và khói thuốc, thì sẽ mất đi nỗi đau, sầu nhớ đó, nhưng rượu đã cạn, thuốc đã tàn càng buốt lạnh thêm tâm hồn thi nhân:

“Say đã gắng để khuây sầu lẻ gối
Mưa, mưa hoài rượu chẳng ấm lòng đau
Gấm thế nào từ buổi lạnh lùng nhau
Vàng son có thay màu đôi mắt biếc?

Tình đã rời đi riêng mình tưởng tiếc
Thôi rồi đây chiều xuống giấc mơ xưa
Lá, lá rơi nằm bệnh mấy tuần mưa
Say chẳng ngắn những đêm dằng dặc nhớ…”.

Có thể nói, Mây là tập thơ hay và tiêu biểu về sự bế tắc tình yêu, cuộc sống của Vũ Hoàng Chương. Trong đó, có một số bài, một số câu thơ mới táo bạo đã đạt đến độ toàn bích. Có lẽ, ở thời điểm đó, ngoài Vũ Hoàng Chương không ai dám viết và viết hay được như vậy. Có một điều đặc biệt, đa phần những bài thơ hay của ông đều thuộc thể thất ngôn. Ta hãy đọc lại đoạn trích trong bài Đời Vắng Em Rồi, để thấy rõ sự chia ly và tình yêu đắng chát như vậy, nhưng lời thơ rất đẹp, nhẹ nhàng và trau chuốt:

“…Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai”

Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không
Mà đây lòng trắng một mùa đông
Tương tư nối đuốc thâu canh đợi
Thoảng gió trà mi động mấy bông.”

Trong cuộc sống đầy thị phi này, có rất nhiều người có những mối tình đầu đổ vỡ, đắng cay. Nhưng thất vọng sầu thảm, gục mặt vào bồng bềnh men khói, tìm đam mê, khoái cảm, quên đi nỗi buồn dằng dặc như Vũ Hoàng Chương, thì quả thật trong văn học sử đất Việt, (ngoài Hàn Mặc Tử cùng thời) dường như chỉ có nhà thơ, nhà biên kịch Lưu Quang Vũ (có thể) coi là hậu nhân của ông mà thôi.

Vũ Hoàng Chương là người giỏi Hán Văn và chịu nhiều ảnh hưởng Đường thi.
Mỗi lần đọc ông, ta lại thấy hồn cốt của Bạch Cư Dị, Lý Bạch… chợt hiện về. Những Đà Giang, Nghe Hát… đã nối dài thêm mạch chảy Tỳ Bà Hành, một thi phẩm gắn liền với tên tuổi Bạch Cư Dị. Và khi viết, ông sử dụng nhiều từ Hán Việt cũng như hình tượng điển tích, làm cho lời thơ sang trọng ẩn chứa thiền triết hoài cổ. Những nét phương đông cổ kính ấy cho ta cảm giác gần gũi lạ thường.

Tuy sâu sắc như vậy, nhưng thơ ông lại kén người đọc, nhất là tầng lớp bình dân và những người ít am hiểu văn học cũng như (tích tuồng) lịch sử. Đoạn trích trong bài Chân Hứng dưới đây, cho ta thấy rõ điều đó:

“Từ thuở chàng say ôm vũ trụ
Thu trong bầu rượu một đêm trăng.
Nhảy xuống muôn trùng sông quạnh quẽ
Đem theo chân hứng gửi cô Hằng.

Ngựa ơi hãy nghỉ chân cuồng khấu
Cho thoả lòng ta nỗi khát khao
Ta chẳng mò trăng như Lý Bạch
Nhưng tìm thi hứng mất đêm nao…

Tình hoa thuở trước xô về đọng
Ơi phiến gương vàng một tối nay.
Ta lặng buông thân trời lảo đảo,
Mơ hồ sông nước choáng men say…”

Cũng là người yêu thích thơ Đường, nên tôi hay tìm đọc những bài cổ thi qua bản dịch của các nhà thơ, dịch giả tên tuổi. Bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, tôi đã được đọc từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường qua bản dịch của Tản Đà, sau đó là những bản dịch Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Khương Hữu Dụng và một số người khác. Tuy nhiên bản dịch của Tản Đà hay và nhiều người biết hơn cả.

Nhưng gần đây tôi mới tìm được bản dịch của Vũ Hoàng Chương. Đọc xong, tôi lặng người, bởi lời thơ thoát, thoáng đạt giữ nguyên thể thơ Đường, nhưng vẫn kéo tâm trạng sầu nhớ nao nao đi đến tận cùng trong lòng người lữ khách. Qủa thật, bản dịch của Vũ Hoàng Chương tôi thích hơn so với bản dịch theo thể lục bát của Tản Đà. Với tôi, đây là tác phẩm (dịch) tuyệt bút của ông. Chúng ta đọc lại dịch phẩm cuả Tản Đà và của Vũ Hoàng Chương, để nhìn nhận so sánh:

“Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.

Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” (Tản Đà)

“Xưa hạc vàng bay vút bóng người,
Đây Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
Vàng tung cánh hạc đi đi mất,
Trắng một màu mây vạn vạn đời.

Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu,
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
Gần xa chiều xuống đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!” (Vũ Hoàng Chương)

Nhát dao cắt đôi đất nước và cuộc di cư năm 1954 là bước ngoặt lớn nhất không chỉ cho riêng Vũ Hoàng Chương, mà cho cả dân tộc. Ông thực sự hoang mang trước sự bi đát ấy. Và với ông, lúc này bàn đèn kho’i thuốc dường như không còn là nơi trú ngụ cho thể xác lẫn tâm hồn. Sự dằn vặt làm ông thao thức và luôn tự hỏi về thân phận con người trong loạn ly.

Bài Nguyện Cầu của Vũ Hoàng Chương ra đời trong hoàn cảnh, tâm trạng như vậy. Bài thơ mang hương vị thiền ở thể lục bát. Khi viết bài này, dường như thi sĩ muốn bỏ cái tham, sân, si của con người để đến gần nơi cửa phật. Cả bài thơ như một câu hỏi tu từ: “Ta còn để lại gì không?” nhằm răn mình, răn đời vậy. Đây là bài thơ không chỉ hay nhất trong thi tập Rừng Phong, mà còn là trong số (ít) những bài hay nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông:

“Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi.
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước, xa xôi dặm về

Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương
Ta van cát bụi bên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này.

Ðể ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời.
Nói chi thua được với đời
Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu.

Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặc, ta cầu đó thôi!
Ðêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian.

Một phen đã nín cung đàn
Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm.”

Trong cái xã hội nhá nhem điên loạn và sự bấp bênh của thân phận con người, tết Bính thìn 1976, Vũ Hoàng Chương trải lòng mình vào Vịnh Bức Tranh Gà Lợn. Đây là bài thơ hay và lạ. Lạ bởi có lẽ ít ai dám đưa tục ngữ, thành ngữ vào trong thơ như ông một cách dân dã và châm biếm như vậy. Và bài thơ có tính thời sự cao, dễ thuộc đi vào mọi tầng lớp trong xã hội và lan truyền nhanh ở trong nước cũng như ra hải ngoại.

“Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn, om sòm rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có hoạ
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh

Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh“

Tôi không rõ bài thất ngôn tứ tuyệt: Dấu Hỏi Vây Quanh Kiếp Người, được thi sĩ Vũ Hoàng sáng tác từ khi nào? Đây là bài thơ có tính thiền triết, đầy hình tượng ám ảnh, cho ta cảm giác rờn rợn khi đọc. Cả kiếp người là một câu hỏi, một câu hỏi trong vòng luẩn quẩn, đến lúc nhắm mắt xuôi tay không lời giải đáp, mà chỉ có tiếng vọng lại khi nắp quan tài sập lại:

“Dấu hỏi vây quanh trọn kiếp người
Sên bò nát óc máu thầm rơi
Chiều nay một dấu than buông dứt
Đinh đóng vào săng tiếng trả lời.”

Bài thơ này, tiếng vọng kia, phải chăng là câu kết hay lời khép lại của chính cuộc đời thi sĩ Vũ Hoàng Chương?

Trích theo bài của tác giả Đỗ Trường

Hồi ức về “con đường đến trường” của các thế hệ học sinh ngày xưa

Hàng năm, cứ đến khoảng tháng 8, tháng 9 là mùa tựu trường. Nhìn hoàn cảnh hiện nay của các bé nhi đồng bước chân vào tiểu học, nhiều người lớn không thể xua đi hết cảm giác thương cảm cho “con đường đến trường” trong thời đại hiện nay.

Bởi vì từ lâu rồi, các thế hệ học sinh đã không thể thấm thía được đoạn văn này của Thanh Tịnh, vốn đã quen thuộc với hầu hết thế hệ học trò xưa kia:

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

Ngày nay, đường đi học của các em, kể cả nông thôn lẫn thành thị, đầy những bụi bặm, xe cộ và không thiếu những cạm bẫy chực chờ. Xã hội ngày càng văn minh, càng phát triển thì không gian tuổi thơ của các em bị thu hẹp lại rất nhiều. 

Tuổi thơ của tôi chỉ mới đi qua được vài chục năm, nhưng lúc đó hãy còn đẹp lắm. Khi hoàng hôn đã khuất dạng, màn đêm kéo đến và thế gian không được soi rọi bởi ánh điện văn minh như hiện nay, nhưng chúng tôi vẫn có ánh trăng bừng sáng cả một khoảng sân rộng, ở đó trẻ em cả làng có thể tụ tập và vui chơi trong một khung cảnh rất thanh bình.

Con đường đến trường khi gần, khi xa, nhưng luôn an toàn, và chúng tôi vẫn có thể tự đi bộ đến trường. Đó là một hành trình như một chuyến phiêu lưu để chúng tôi – những đứa trẻ bắt đầu hình thành ý thức – có thể khám phá những điều mới lạ ở hai bên vệ đường.

Nếu có bạn nào thắc mắc con đường đến trường ở thời điểm xa xưa hơn nữa, vào cái thời thập niên 1950-1960 ở miền Nam, tác giả Hoàng Lan Chi đã kể lại như sau:

Con đường đến trường tiểu học thật dễ thương. Ngày ấy chúng tôi đi bộ nhiều, chẳng vù vù xe máy như bây giờ. Đi bộ đến trường thật vui. Cứ tung tăng chân sáo, vừa đi vừa hái hoa bắt buớm. Ôi sao ngày đó Sài Gòn nhiều hoa bướm thế! Hai bên đường những hàng rào hoa dâm bụt đo đỏ xinh xinh. Nhìn vào trong, nhà nào cũng có vườn, cây cối xum xuê. Bướm bay la đà. Những con bướm đủ màu sắc, nhưng bướm vàng nhiều nhất. Nếu nhìn riêng thì bướm vàng không đẹp nhưng khi bay lượn giữa rừng lá xanh thì đàn bướm vàng thật duyên dáng. Chúng như một nét điểm xuyết cho bức họa hoa lá… Tôi thích nhìn bướm bay, tôi thích ngắm hoa nở.

Trường học to vừa phải, lớp học đủ ánh sáng. Mỗi sáng thứ hai chào cờ, đứng nghiêm và hát quốc ca: “Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi…”

Ừ thì thanh niên luôn được dạy dỗ là “đáp lời sông núi”.

Chúng tôi được học những bài công dân giáo dục đầu tiên và chúng đã ăn sâu mãi vào tiềm thức. Đủ biết các cụ nói uốn cây khi chúng còn non là đúng. Tuổi ngây thơ coi những lời thầy cô là khuôn vàng thước ngọc:

  • Không phá của công
  • Không xả rác ngoài đường
  • Phải nhường ghế cho người lớn tuổi, phụ nữ có thai trên xe buýt
  • Phải dắt em bé hay cụ già qua đường
  • Phải ngả nón chào khi xe tang đi qua
  • Không gian lận. Nói dối là xấu xa…

Chúng tôi đã được dạy như thế đó và chúng tôi đã làm theo như thế đó. Ôi Sài Gòn của tôi ơi, bây giờ tôi đi giữa phố phường mà lạc lõng vô cùng khi chỉ mình tôi ngả nón chào người chết hay chạy nép vào lề nhường cho xe cấp cứu đi qua! (Hoàng Lan Chi – Hồi ký của một người con gái đất Bắc tại Sài Gòn trước 75)

Trong 1 bài viết trên báo Tri Thức Trẻ, tác giả Trang Trần so sánh việc học của thời xưa và thời nay như sau:

Thời xưa, chuyện học hành của lũ trẻ nhàn hạ lắm. Học ít vô cùng, mà chơi nhiều hơn. Trẻ em ngày xưa, đa phần chỉ học một buổi, sáng hoặc chiều trong ngày, chương trình học cũng rất nhẹ nhàng, phù hợp với lứa tuổi. Hồi ấy, hiếm thấy đứa nào bị cận thị hay gù lưng, vẹo xương sống vì phải vác theo những chiếc cặp nặng trịch hay còng lưng ngồi làm bài tập liên miên. Cặp sách chỉ có vài quyển vở được bọc bằng giấy báo, giấy bìa màu xi-măng, sang lắm là giấy gói quà loại mỏng và sách học, cái hộp bút nhựa đựng thước kẻ, bút chì, tẩy và bút kim tinh, thêm cái compa nữa là quá đầy đủ.

Phương tiện đến trường chủ yếu của tụi nhỏ chính là xe “căng hải” (hai cẳng – đi bộ). Cả đám gần nhà thường chờ nhau, xúm xít dàn hàng năm hàng ba, vừa dắt nhau đến trường vừa cười đùa ríu ran. Hiếm lắm mới có chuyện bố mẹ dắt con hay anh chị lớn chở em nhỏ bằng xe đạp đến trường. (Trang Trần – báo Tri Thức Trẻ)

Còn ngày nay, học đúng là một gánh nặng với trẻ em ngay từ khi chập chững vào mẫu giáo. Trước khi vào lớp 1, các em đã phải tăng ca học chữ, chứ không như xưa, khi trẻ em vào lớp 1 như một tờ giấy trắng. Học chính khóa ngày 2 buổi chưa đủ, các em ngày nay phải học thêm buổi tối, học năng khiếu… từ sáng đến tối chỉ có học mà bài vở vẫn không hết thì đâu còn thời gian để vui chơi.

Bọn trẻ ngày nay có lẽ không thể hình dung ra được những trò chơi dân dã của ngày xưa, không tốn tiền và luôn cần thật nhiều người cùng tham gia chơi, càng đông càng vui. Chỉ cần một khoảng sân rộng, vài ba hòn đá, viên bi… là đủ để lũ nhóc chơi đủ trò từ bắn bi, đánh đáo, ô ăn quan hay bịt mắt bắt dê cũng đủ để những tiếng cười giòn tan vang lên.

Tuổi thơ của quá khứ dân dã mà thanh bình đó, có lẽ là sẽ không bao giờ quay lại được nữa.

Bài: Đông Kha

Vũng Tàu năm 1967-1968 qua bộ ảnh của Terry Maher

Từ thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, phố biển Vũng Tàu (còn được gọi là Cap Saint Jacques) trở thành địa điểm đi nghỉ quen thuộc tầng lớp thượng lưu ở phía Nam, tuy nhiên cơ sở hạ tầng ở đây còn khá hoang sơ.

Đến thời đệ nhất cộng hòa, Vũng Tàu được củng cố và phát triển để đáp ứng nhu cầu của một nơi nghỉ mát và du lịch quan trọng ở phía Nam Việt Nam. Ngoài nghề đánh bắt, chế biến hải sản và trồng trọt nương rẫy truyền thống, nhiều cơ sở hạ tầng được xây dựng, cửa hàng cửa hiệu, cơ sở dịch vụ, phục vụ cho việc ăn chơi, giải trí đã được chính quyền khẩn trương hoàn thiện, khiến cho bộ mặt thành phố ngày một hoa lệ.

Từ năm 1964, Vũng Tàu trở thành trị xã trực thuộc trung ương, Tên chính thường được biết tới tên gọi Đặc khu Vũng Tàu, ban có thể xem hình ảnh cơ sở quân sự của đặc khu Vũng Tàu ở dưới đây.

Tấm hình này được nhiếp ảnh gia Terry Maher (quân nhân Mỹ) chụp năm 1968. Mời các bạn xem thêm những tấm ảnh khác, chủ yếu được chụp trên đường Trần Hưng Đạo, con đường nhộn nhịp bậc nhất Vũng Tàu trước năm 1975.

Tác giả của bộ ảnh
Bến xe ngựa trên đường Trần Hưng Đạo, khu vực tập trung nhiều khách sạn, quán bar, con đường nằm song song với đường ven Bãi Trước này thường được lính Mỹ gọi là bar street.
Có rất nhiều lính Úc đóng quân ở Vũng Tàu. Trong hình là hãng hàng không của Úc đang đón các quân nhân. Phi trường Vũng Tàu lúc đó trở thành một sân bay quân sự quan trọng tại Nam phần.

Nhà thờ Giáo xứ Vũng Tàu, còn được gọi là nhà thờ Lớn
Chùa Phật Bửu Tự trên đường Nguyễn Thái Học
Các nữ sinh tụ tập bên quầy bánh mì nướng bên ngoài một ngôi trường ở Vũng Tàu.
Rạp chớp bóng
Trước cửa Tây chợ Vũng Tàu đường Trần Hưng Đạo

Grand Hotel, nơi lưu trú ưa thích của quân nhân Hoa Kỳ khi tham quan Vũng Tàu

Khách sạn – vũ trường Ly Ly trên đường Trần Hưng Đạo
Bạch Dinh, là dinh thự có kiến trúc châu Âu cuối thế kỷ 19, nằm bên sườn núi Lớn của thành phố Vũng Tàu. Nơi đây từng được dùng làm nơi nghỉ mát cho Toàn quyền Đông Dương, Hoàng đế Bảo Đại và các đời Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Nơi đây cũng là nơi chính quyền thuộc địa Pháp làm nơi giam lỏng vua Thành Thái từ ngày 12 tháng 9 năm 1907 đến năm 1916. Hiện nay, Bạch Dinh được dùng làm nhà bảo tàng, trưng bày các chuyên đề như: đồ gốm thời Khang Hy vớt được từ tàu cổ đắm tại khu vực Hòn Cau – Côn Đảo cùng nhiều hiện vật có giá trị khác được tìm thấy qua các đợt khai quật khảo cổ ở Bà Rịa – Vũng Tàu…
Bạch Dinh nằm góc trái của hình, bên sườn núi Lớn
Các quán bar trên đường Phan Thanh Giản (nay là đường Lý Tự Trọng)
Một bác quân cảnh đang điều phối giao thông
Chiếc “xe ca” quen thuộc liên tỉnh Sài Gòn – Vũng Tàu
Đường Quang Trung ven bãi Trước có rất nhiều kiosk bán nước hình lục giác

Đường ven biển Quang Trung
Ngoại vi Vũng Tàu

Thực hiện: Đông Kha (nhacxua.vn)
Nguồn ảnh: Terry Maher

Vũng Tàu 50 năm trước qua bộ ảnh của Barry Connors

Thời đệ nhất cộng hòa, Vũng Tàu là một quận thuộc tỉnh Phước Tuy mới thành lập. Đến năm 1964, Vũng Tàu trở thành thị xã trực thuộc trung ương và thường được gọi là “đặc khu Vũng Tàu.

Trong giai đoạn 1964 – 1972, quân đội Hoàng gia Úc đã huy động tổng cộng 61.000 quân Hải, Lục, Không quân đến phục vụ tại Vũng Tàu. Phi trường Vũng Tàu trở thành một sân bay quân sự quan trọng tại Nam phần. Trong số những quân nhân Úc đó có Barry Connors, đồn trú ở căn cứ quân sự Úc tại Vũng Tàu trong 2 năm 1970-1971 với nhiệm vụ là một đầu bếp. Ông đã chụp lại những hình ảnh Vũng Tàu cách đây tròn 50 năm sau đây.

Tác giả Barry Connors tại Vũng Tàu năm 1970
Từ trại lính Úc nhìn về phía căn cứ Radar trên Núi Lớn

Ngọn hải đăng trên Núi Nhỏ (còn được gọi là núi Tao Phùng). Ngày nay là một địa điểm tham quan nổi tiếng của Vũng Tàu
Bạch Dinh nhìn từ phía dưới đường. Tòa dinh thự này được xây trên đỉnh đồi có thể nhìn bao quát bên dưới
Grand Hotel, nơi lưu trú ưa thích của quân nhân Hoa Kỳ khi tham quan Vũng Tàu
Quán cóc ở gốc cây, hình ảnh quen thuộc không chỉ ở Vũng Tàu mà ở tất cả vùng quê xưa. Ở đây có thể bán nước, bán chè, hoặc đủ thứ đồ ăn vặt
“bar street” của Vũng Tàu xưa
Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu nhìn từ Núi Lớn, là cơ sở đào tạo nam thiếu niên trên hai phương diện: Văn hóa Phổ thông và Cơ bản Quân sự. Tiêu chí của trường là đào tạo và huấn luyện cho lớp thiếu niên khi ra trường sẽ trở thành binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan hoặc trở thành những kỹ sư, bác sĩ, giáo viên… để phục vụ trong quân đội.
Trận banh giao hữu của quân đội

Tàu mắc cạn Ioannis K, do Công ty Saint Ioannis Shipping Corp, Hy Lạp là chủ sở hữu. Con tàu phải nằm đó trong hơn 20 năm, kể từ 1968 cho đến cuối thập niên 1980.
Vị trí cuối của Bãi Sau
Bãi Sau Vũng Tàu

Bãi tắm ở Bãi Sau một ngày cuối tuần

Chợ Vũng Tàu

Bắt cá ở Bãi Trước
Y Viện Vũng Tàu
Căn cứ Radar của quân đội Mỹ trên Núi Lớn, vì vậy người nước ngoài gọi Núi Lớn là “đồi Radar”

Thực hiện: Đông Kha (nhacxua.vn)
Hình ảnh: Barry Connors

 

Nhìn lại Vũng Tàu 50 năm trước qua bộ ảnh tuyệt đẹp của Rod Allen

Có lẽ dân Saigon không ai là không một lần ghé biển Vũng Tàu. Khắp dải đất miền nam có thêm nhiều bãi biển xa hơn, có thể đẹp hơn Vũng Tàu, như Mũi Né (Phan Thiết), Ninh Chữ (Phan Rang), hoặc xa hơn nữa ở Nha Trang, Phú Yên, Quy Nhơn, Đà Nẵng… Nhưng đối với dân Saigon xưa, và cho đến tận ngày nay, đi du lịch tắm biển Vũng Tàu vẫn là một chọn lựa lý tưởng.

Trước năm 1975, Vũng Tàu cũng là nơi chuyên dành cho những chàng G.I. (General/Government Issue: lính Mỹ) đến nghỉ dưỡng, ăn chơi. Trong loạt ảnh dưới đây của ông Rod Allen – là một G.I – chụp khoảng năm 1971-1972, trong thời gian ông nhận nhiệm vụ ở Vũng Tàu, các bạn sẽ được nhìn thấy một hình ảnh Vũng Tàu tương đối khác lạ với những góc ảnh độc đáo.

Đây là hình của tác giả Rod Allen chụp tại Vũng Tàu năm 1971
Sân bay quân sự Vũng Tàu
Bãi Dứa – Vũng Tàu

Một bar dành cho các lính Mỹ
Nhà màu trắng chính giữa là Bạch Dinh nằm bên sườn núi Lớn. Người Pháp từng giam lỏng vua Thành Thái tại đây khi ngài về nước sau khi bị đày. Từ năm 1934, dinh này thành nơi nghỉ mát của vua Bảo Đại.

Chùa Thích Ca Phật Đài nằm trên mạn sườn phía Bắc của Núi Lớn, đây là quần thể kiến trúc Phật giáo nổi tiếng ở Vũng Tàu được khởi xây từ thập niên 1960. Vẻ đẹp của Thích Ca Phật Đài chính là sự kết hợp giữa kiến trúc tôn giáo và phong cảnh thiên nhiên.

Từ năm 1990 trở về trước, người dân và du khách mỗi khi đến Bãi Sau của phố biển Vũng Tàu đều thấy một con tàu lớn, bị bỏ hoang, rỉ sét, nằm phơi mình ngay sát mép nước. Tên của con tàu ấy là Ioannis K, do Công ty Saint Ioannis Shipping Corp, Hy Lạp là chủ sở hữu. Con tàu đã nằm đó trong hơn 20 năm, kể từ 1968 cho đến cuối thập niên 1980.

Một tiệm tạp hóa ở Vũng Tàu

Thực hiện: Đông Kha (nhacxua.vn)
Hình ảnh: Rod Allen