Nghĩa trang thái giám bên trong Tổ đình Từ Hiếu và câu chuyện về những thái giám cuối cùng của Việt Nam

Chùa Từ Hiếu là nơi hòa thượng Thích Nhất Hạnh xuất gia tu hành từ năm 16 tuổi, cũng là nơi ông quay về tịnh dưỡng trong những năm cuối đời và viên tịch vào một ngày đầu năm 2022.

Chùa Từ Hiếu là ngôi cổ tự lớn và có lịch sử đặc biệt ở cố đô Huế, có vị thế đẹp nằm trên núi Dương Xuân ở phía tây thành phố Huế, cách Hoàng thành 5km. Trước chùa có một con suối nhỏ nước mát lạnh chảy róc rách quanh năm, bước qua cổng tam quan là khu hồ bán nguyệt với rất nhiều cá lớn tung tăng bơi lội, được nuôi từ hàng trăm năm.

Rảo bước trên con đường đầy dấu rêu phong, bên trái chùa hiện ra một khu nghĩa địa u tịch mang một cái tên thật đặc biệt: “Nghĩa địa thái giám”. Đây là nơi chôn cất những thái giám cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn. Chính vì lý do này, chùa Từ Hiếu còn được gọi bằng cái tên dân dã là Chùa thái giám.

Chùa Từ Hiếu, còn được biết đến với cái tên tổ đình Từ Hiếu, được hòa thượng Thích Nhất Định khai sơn dựng am năm 1843 trên một ngọn đồi nhỏ hoang vu để tịnh tu và phụng dưỡng mẹ già. Ngôi chùa khi đó mang tên là Thảo Am An Dưỡng, bởi nó vốn chỉ là một thảo am làm bằng tre lợp mái tranh. Trước đó, hòa thượng Nhất Định đã được vua Minh Mạng mời về làm trụ trì chùa Linh Hựu, sau đó là tăng cang chùa Giác Hoàng nằm bên trong kinh thành Huế. Chùa Linh Hựu và chùa Giác Hoàng đều là những ngôi chùa lớn nằm ngay sát ngoài Đại Nội. Vốn chỉ muốn vân du và chuyên tâm tu tập chứ không muốn làm quản đốc một quốc tự, hòa thượng Nhất Định xin vua từ chức, rồi tìm đến ngọn đồi hoang xa hoàng thành Huế để mở Thảo Am An Dưỡng.

Tương truyền, hoà thượng Nhất Ðịnh nổi tiếng là người con có hiếu. Có lần, mẹ của ông bị bệnh rất nặng, dù thuốc thang tận tình nhưng vẫn không khỏi. Có người ái ngại khuyên thầy Nhất Định nên mua thêm thịt cá để tẩm bổ cho mẹ mau chóng được hồi sức. Nghe xong, vị thiền sư liền băng rừng lội bộ xuống chợ cách đó hơn 5 km để mua cá mang về nấu cháo cho mẹ già ăn, mặc cho thiên hạ đàm tiếu chê bai là sư ăn mặn.

Nơi an nghỉ của thiền sư Nhất Định

Chuyện này đồn đến tai vua Tự Đức, vốn là một người rất hiếu thảo với mẹ, nhà vua bèn cho người tìm hiểu mới hay thiền sư nấu cháo cho mẹ ốm đau còn mình ngày ngày vẫn chay tịnh, một tâm tu hành. Vua nghe chuyện, vô cùng cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của vị thiền sư ở chốn thâm sơn cùng cốc. Năm 1848, một năm sau ngày thiền sư Nhất Định viên tịch, có lẽ vì cảm động trước sự đức độ của vị sư già mà việc xây dựng mở rộng Thảo Am thành chùa Từ Hiếu luôn được triều đình, các quan thái giám và các phật tử cúng tiến. Khi chùa được hoàn thành, vua Tự Đức nhớ đến chuyện xưa nên đã đặt cho chùa tên là “Từ Hiếu tự”. Trong tấm bia ghi lại quá trình xây dựng chùa giải thích:

Từ: là đức lớn của Phật, nếu không từ thì lấy gì tiếp độ tứ sanh cứu giúp vạn loại.
Hiếu: là đầu hạnh của Phật, nếu không hiếu thì lấy gì để đạt thông cõi nhiệm bao phủ đất trời.

Ngôi chùa được mở rộng và xây dựng quy mô với sự ủng hộ lớn nhất của một vị thái giám tên là Châu Phước Năng. Chính ông cũng là người vận động để vua Tự Đức và Từ Dụ thái hậu cùng các quan triều đình góp tiền xây dựng. Vị thái giám này khi đứng ra vận động xây chùa có lẽ cùng phần nào nghĩ đến một chốn nương thân lúc tuổi già bệnh tật và khi nằm xuống.

Năm 1893, đời vua Thành Thái năm thứ 5, chùa Từ Hiếu tiếp tục được hoà thượng Cương Kỷ tổ chức trùng tu, rất nhiều thái giám lại tiếp tục quyên tiền đóng góp và thể hiện ý nguyện được an nghỉ tại đây sau khi qua đời. Bởi phận làm thái giám, họ không chỉ bị tuyệt tự, không con nối dõi mà hầu như bị chia cắt với gia quyến. Họ vào cung từ khi còn nhỏ, một lòng phụng sự vua chúa, triều đình, đến khi già yếu bệnh tật thì bị đưa ra ngoài cung dưỡng bệnh, chờ ngày nằm xuống. Cửa Phật đối với họ là chỗ nương náu cuối cùng và an yên nhất. Từ những đóng góp và ý nguyện của nhiều đời thái giám mà chùa Từ Hiếu dần dần được dân gian truyền tai thêm tên mới là “Chùa Thái Giám”, người Pháp gọi là “Pagode des Eunuques”. Đây chính là nơi lưu giữ những dấu tích cuối cùng của một lớp người đặc biệt, hiếm có, đã không còn tồn tại từ hàng thế kỷ qua.

Ngày nay, khu nghĩa trang vẫn còn lưu giữ và nhang khói cho 25 ngôi mộ thái giám. Một con số thật khiêm tốn bởi nghĩa trang này trong chùa Từ Hiếu được dựng lên vào thời điểm suy tàn của chế độ phong kiến, nhu cầu sử dụng thái giám trong cung cấm cũng đã giảm rất nhiều so với trước đó.

Theo sách sử thì thái giám đã có từ khoảng 2400 năm trước, vào thời Tây Chu ở bên Tàu. Trước khi được đưa vào hoàng cung để hầu hạ các bậc vua chúa, các thái giám phải bị loại bỏ phần sinh thực khí của đàn ông bởi họ sẽ phải làm việc, phục dịch bên cạnh các phi tần mỹ nữ của nhà vua. Điều này sẽ loại bỏ những khuất tất giữa thái giám và phi tần mà không một vị quân vương nào muốn xảy ra. Ngoài việc hầu hạ cho vua, hoàng hậu, các phi tần mỹ nữ, hoàng tử, công chúa,…các thái giám còn được điều sang phục dịch cho các cung phi góa bụa của các đời vua trước. Thái giám là người người trực tiếp tuyển lựa, hầu hạ và ghi chép tên của các cung phi được vua “sủng ái hằng đêm”, sau đó báo với quốc sử quán để theo dõi đối chiếu khi các phi tần mang thai.

Vào thời nhà Nguyễn, mỗi triều có hàng trăm thái giám phục vụ trong hoàng cung. Ở vị trí kề cận vua chúa, tuy là người hầu kẻ hạ, thái giám vẫn có những quyền hạn và ưu ái đặc biệt không thua kém gì nhiều vị quan trong triều. Tuy nhiên, từ thời Minh Mạng trở về sau thì có quy định rõ các thái giám tuyệt đối không được tham gia triều chính, không được xếp vào quan phẩm. Nguyên nhân là bởi thời Gia Long có một vị quan thái giám cho quyền lực rất lớn là tả quân Lê Văn Duyệt, là một trong ngũ hổ tướng khai quốc công thần triều Nguyễn.

Sau khi vua Gia Long băng hà, vì nhiều lý do khác nhau nên tả quân Lê Văn Duyệt không còn được lòng tân vương là Minh Mạng. Tuy nhiên, do quyền lực của tả quân Lê Văn Duyệt ở phương Nam quá lớn, được xem “vua một cõi”, nhà vua đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Chỉ đến sau khi tả quân Lê Văn Duyệt qua đời, vua Minh Mạng mới xuống tay “dẹp trừ” hoàng loạt cận tướng thân tín của cựu tổng trấn thành Gia Định. Chính điều này đã gây nên cuộc nổi loạn của người con nuôi của tả quân Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi mà sử sách gọi là “loạn Lê Văn Khôi”. Cuộc bạo loạn đã khiến thành Gia Định chìm trong bể máu sau khi vua Minh Mạng vất vả dẹp yên.

Ngày nay, chỉ dụ cấm thái giám tham gia triều chính của vua Minh Mạng vẫn còn lưu lại trong tấm bia bên trong Võ Miếu ở Đại Nội, khắc ngày 17/3/1836, nói rằng các thái giám trong nội cung không được liệt vào hạng người có thể tiến thân. Thay vào đó, đội ngũ thái giám được chia thành 5 đẳng trật: Thủ đẳng, Thứ đẳng, Trung đẳng, Á đẳng và Hạ đẳng, mỗi đẳng trật lại chia thành 2 cấp với bổng lộc hằng tháng từ 24 quan tiền, 24 bát gạo đến 72 quan tiền và 72 bát gạo.

Đến đời Vua Thành Thái năm thứ 2 (1890), chế độ lương trả bằng tiền và lúa bị xóa bỏ, thay bằng lương trả chỉ bằng tiền với 7 mức từ 180 đồng đến 540 đồng/năm.

Có 2 loại thái giám, gọi là Giám sinh và Giám lặt. Giám lặt là những nam nhân sinh ra bình thường, nhưng do hoàn cảnh, có thể vì nhà nghèo nên tự nguyện bị cắt bỏ sinh thực khí (tịnh thân) để vào hoàng cung làm thái giám. Còn Giám sinh là những người mới sinh ra đã phi nam phi nữ, bẩm sinh không có sinh thực khí của đàn ông hoặc đàn bà.

Theo nhà nghiên cứu Huế Nguyễn Đắc Xuân, Luật triều Nguyễn năm Minh Mạng thứ 16 (1836) quy định khi có “giám sinh” chào đời, cha mẹ đứa bé phải báo ngay cho làng, xã để lập danh sách báo lên cho Bộ Lễ nắm. Khi đứa bé lên 10, Bộ Lễ sẽ đưa nó vào cung để dạy dỗ cho đứa trẻ đầy đủ từ những nghi lễ phức tạp trong cung cho đến kiến thức, cư xử… để khi lớn lên sẽ sung vào đội thái giám.

Luật cũng quy định làng nào có “Giám sinh” mà giấu không báo sẽ bị phạt nặng. Làng nào có “Giám sinh” được báo lên nghiễm nhiên sẽ được miễn thuế 3 năm. Bởi vậy, những “Giám sinh” thời đó không những không bị coi thường mà còn được người làng cung kính gọi là “ông Bộ”. Tài liệu của Công sứ A. Laborde ghi nhận, dân quê một số vùng ở Huế thời đó, người ta vẫn bảo nhau câu cửa miệng rằng: “Ăn mà đẻ “ông Bộ” cho làng nhờ”. Làng nào ở Huế thời đó mà có được một cậu bé như vậy thì được coi là điềm tốt. Khi cậu bé “giám sinh” này được tiến cử cho vua, cả làng đó sẽ được hưởng bổng lộc vua ban.

Tuy nhiên, những “Giám sinh” thường là khó phát hiện và không an toàn tuyệt đối, nên việc tuyển chọn thái giám từ nguồn thứ hai là khá phổ biến. Đó là những gia đình hoàn cảnh quá khó khăn nên họ tự nguyện cho con làm thái giám.

Cũng theo các nhà nghiên cứu văn hóa Huế, các thái giám được mặc một trang phục riêng, trong đó có chiếc áo dài bằng lụa màu xanh dệt một bông hoa ở mảng trước ngực và loại mũ của họ đội cũng khác các loại quan khác để dễ phân biệt.

Lúc sống thì thái giám ăn ở, phục dịch trong Đại nội, nhất là trong Tử cấm thành, còn lúc ốm, lúc đau, lúc nhắm mắt xuôi tay thì như thế nào? Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, triều đình có xây một tòa nhà gọi là cung Giám Viện ở phía ngoài Hoàng thành, góc Tây bắc. Cạnh đó, còn có một cung khác gọi là cung Bình An Đường. Cung Bình An Đường dành cho các nữ quan, nữ tì, cung phi khi đau ốm thì ra đó dưỡng bệnh hoặc chờ trút hơi thở cuối cùng thì cũng ở ngoài Hoàng thành. Sau lưng Bình An Đường là cung Giám Viện dành cho các thái giám khi đau ốm thì ra đó để thuốc men. Nếu khỏe mạnh thì trở lại phục vụ trong Tử cấm thành. Nếu chẳng may không qua khỏi thì cũng ở bên ngoài Hoàng cung.

cung Giám Viện

Để chống chọi với sự cô quạnh lúc về già, nhiều thái giám đã nhận con nuôi, một số khác chọn cách lấy vợ. Tuy nhiên do mất khả năng sinh con, nên họ thường chọn lấy phụ nữ lớn tuổi – chủ yếu để bầu bạn trong những ngày tháng cuối đời. Số ít thái giám may mắn hơn thì được quay về với bà con, họ hàng… Cũng có những vị thái giám – vì lo lắng không có chốn khi nằm xuống, bát hương sẽ lạnh trong ngày giỗ nên khi còn sống, họ đã liệu tính trước cho mình một nơi an nghỉ. Dấu tích duy nhất còn lại về một nghĩa trang thái giám, như đã nói, chính là khu đất bên trên một ngọn đồi nhỏ nằm bên trái ở trong khuôn viên chùa Từ Hiếu. Có thể còn nhiều nghĩa trang khác như vậy nữa, nhưng đã bị tàn lấp theo thời gian.

Đặc biệt là trong dãy nhà sau chùa Từ Hiếu (Quảng Hiếu Đường) còn có một án thờ tả quân Lê Văn Duyệt, là khai quốc công thần của triều Nguyễn, theo phò giúp chúa Nguyễn Ánh. Khi vua Gia Long lên ngôi, ông được phong làm tổng trấn thành Gia Định và có công ổn định cuộc sống người dân ở phương Nam, được dân chúng tôn kính gọi là Đức Thượng Công. Khi qua đời, lăng mộ của ông được gọi là Lăng Ông, được cúng tế theo nghi thức thờ thần. Tả quân Lê Văn Duyệt vốn là một thái giám, sau khi qua đời đã bị vua Minh Mạng kết tội, lăng mộ của ông ở Bà Chiểu bị san phẳng, núm mộ bị xiềng xích. Đến 13 năm sau đó (1848) thì vua Tự Đức xét lại công trạng và giải oan, bài vị của ông được đưa vào chùa Từ Hiếu để ngày đêm hương khói.

Theo bài viết của tác giả Tường Minh, nghĩa trang thái giám trong chùa Từ Hiếu là một khu mộ hình chữ nhật với diện tích gần 1.000m2, có chiều dài 26,03m và rộng 19,05m, được bao quanh bởi bốn bức tường dày 0,79m; cao 1,78m, ở giữa có tấm bia khắc ghi công lao đóng góp của các thái giám đối với chùa Từ Hiếu.

Các ngôi mộ có 3 dãy, hàng thứ nhất mộ to, hàng thứ ba mộ nhỏ hơn hàng thứ hai vì được xếp theo chức vụ của quan thái giám xưa.

Số mộ đếm được là 25 ngôi, có 2 ngôi mộ gió. Trong đó, 21 ngôi còn nguyên vẹn, có bia khắc tên tuổi, quê quán, pháp danh, chức vụ và ngày mất. Đặc biệt, tại nghĩa trang có một tấm bia ký sắc nằm ở phía mặt tiền. Bia chỉ cao quá 1m, rộng hơn 0,5m nhưng nội dung khiến người đọc không khỏi xót xa:

“Nhân nghĩ rằng nếu không lo kể về sau, khi còn sống thì nương nhờ chốn Phật, mà khi chúng ta chết thì biết nương tựa vào đâu? Nhận thấy ở góc thành phía tây nam có một đám đất, lấy gạch xây thành để về sau làm nơi chôn mộ. Ở đó làm một cái am lợp ngói để hằng năm thờ cúng, gần nơi của Phật mới là nơi thừa tự lâu dài và ngày thường cùng bằng hữu nếu ai ốm đau có chỗ ra vào dưỡng bệnh, khi nằm xuống có chỗ tống táng”.

Cổng chính giữa có đặt một tấm bia đá được dựng từ năm 1901 do Cao Xuân Dục soạn, ghi lại những tâm sự của thái giám triều Nguyễn:

“Trong khi sống, chúng tôi tìm thấy ở đây sự yên lặng, khi đau ốm chúng tôi đến lánh mình và sau khi qua đời được an táng cùng nhau. Sống hay thác, ở đây chúng tôi đều được yên tĩnh”.

Số lượng thái giám trong hoàng cung triều Nguyễn được duy trì hàng trăm người cho đến cuối thế kỷ 19, nhưng đến đời vua Thành Thái thì giảm mạnh xuống còn 15 người. Đến đời vua Duy Tân vào đầu thế kỷ 20, vua chỉ duy nhất một lần “nạp thiếp” (bà Hoàng Quý Phi Mai Thị Vàng) cho nên các thái giám bị “thất nghiệp”. Đến đời vua Khải Định thì việc tuyển chọn thái giám thật sự chấm dứt, chỉ còn lại 9 vị thái giám còn được lưu lại trong cung để sống nốt những ngày cuối cùng của năm tháng tuổi già.

Vua Khải Định vốn thể chất ốm yếu, hầu như không có nhu cầu về chuyện phòng the. Ông chỉ có duy nhất một người con là Vĩnh Thụy, sau đó lên ngôi lấy niên hiệu Bảo Đại. Vào ngày 20/3/1934 tại Điện Dưỡng Tâm (Tử Cấm Thành – Huế), vị vua cuối cùng triều Nguyễn là Bảo Đại làm đám cưới với Nguyễn Hữu Thị Lan, tức Nam Phương Hoàng Hậu, là một người công giáo, đi kèm theo đó là những thỏa thuận trước đó chưa từng có:

– Thứ nhất là vua phải giải tán tam cung lục viện, tuân thủ chế độ một vợ một chồng, không còn chuyện năm thê bảy thiếp như những vị vua trước.
– Thứ hai, hoàng đế tấn phong hoàng hậu sau khi cưới, chứ không phải là chỉ được phong sau khi hoàng đế qua đời như trước.
– Thứ ba, con trai sinh ra phải được phong là thái tử.

Khi đó, vì tam cung lục viện đã bị giải tán nên đội ngũ thái giám cũng không còn nhiệm vụ. Từ sau đó, một lớp người từng tồn tại cả ngàn năm trong lịch sử phong kiến Việt Nam đã vĩnh viễn biến mất. Khoảng những năm 1950, vị thái giám cuối cùng còn sót lại cũng quy tiên vì tuổi tàn lực kiệt.

fb.com/1xuaxua Tổng hợp

Nhắc lại về tuổi ấu thơ của các thế hệ người miền Nam hơn nửa thế kỷ trước

Thời thơ ấu là khoảng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi người, ai cũng đã từng trải qua một lần và luôn muốn nhớ về. Tuổi ấu thơ của những người được sinh ra trong thời loạn ly của đất nước với khói lửa triền miên hồi nửa thế kỷ trước, hẳn là rất đáng nhớ.

Với những em bé được sinh ra ở thôn quê xưa, rất nhiều người có tuổi thơ trong toàn vẹn, nhưng qua những bức hình ở dưới đây, đáy mắt của họ vẫn rực sáng, hồn nhiên.

Tuy thiếu thốn nhiều thứ, chịu nhiều vất vả, có khi phải vào đời mưu sinh sớm, nhưng hình như trẻ em xưa có nhiều cái sung sướng hơn thời nay. Thời xưa, tối đến là đám trẻ chạy ùa ra đường, sân chơi vang dội cả một góc xóm, không như ngày nay, trẻ con phải chạy đua thành tích học hành nên không còn thời gian để chơi đùa.

Ngày xưa trẻ con được chơi nhiều trò chơi vận động nên sức khỏe tốt, ít bệnh vặt. Có ra nắng, ra gió nhiều cũng là bình thường. Ngày nay trẻ con được nuôi nhốt như gà công nghiệp nên tuổi thơ không dữ dội như ngày xưa. Sức đề kháng của trẻ con thời nay kém rất xa so với trẻ con thời xưa một phần vì ít được vận động, phần vì các đô thị lớn đều ô nhiễm nặng. Vì vậy nếu nói trẻ con ngày nay không bằng được xưa thì cũng có phần đúng.

Trẻ con ngày xưa chạy đâu cũng có chỗ chơi, đường phố bình yên, chạy cả ngày cũng không sao. Trẻ con nay hở ra một tí là sợ bị này bị nọ, lúc rảnh rỗi chỉ biết đến TV, smartphone, nên nhiều trẻ mới tiểu học đã phải mang cái kiếng rất dày trên mặt.

Trẻ con thời xưa thiếu thốn, nhưng cuộc sống luôn đầy màu sắc và những niềm vui đi theo suốt cuộc đời. Trẻ con thời nay năng động hơn, thông minh hơn, đẹp hơn, nhưng học hành cũng vất vả hơn, hiểu biết về giá trị cuộc sống cũng thấp hơn.

Mời bạn cùng xem lại những tấm ảnh hiếm về các “em bé” miền Nam hơn 50 năm trước và ngày nay đã thuộc tuổi ngoài ngũ tuần. Trong loạt hình này, có nhiều hình ảnh em bé phải mưu sinh rất sớm, xem động lòng người. Đó cũng là thời cuộc, một thời đất nước trải qua nhiều giông tố, nên đàn em bé cũng bị cuốn theo dòng đời…

Trò chơi nhảy dây huyền thoại

Thua rồi nhé, bóp mũi một cái

Tắm sông

Chơi ô ăn quan

Chơi bắn bi

Tuổi thơ trên đồng

Chị đút em ăn khi còn nằm nôi

Trong 1 khu chợ ở Sài Gòn

Cho gà con ăn

Bữa cơm chiều của cả gia đình

Lặt rau phụ mẹ

“Cọp dê” bài

Tuổi thơ trong căn nhà tạm bợ

Mưu sinh từ tuổi nhỏ

Trẻ em đánh giày kiếm sống

Ngày phép của ba

Đừng sợ, có chị đây

Một số hình ảnh học trò năm xưa:

Đông Kha – fb.com/1xuaxua

Thiền sư Thích Nhất Hạnh và “Bông Hồng Cài Áo”

Thiền sư Thíᴄh Nhất Hạnh đã vừa viên tịᴄh tại ᴄhùa Từ Hiếu (Huế) vào 0h nɡày 22/1/2022. Ônɡ là ɡiảnɡ viên, nhà văn, nhà thơ, nhà hoạt độnɡ xã hội và là nhà sư nổi tiếnɡ ᴄủa Phật ɡiáo thế ɡiới. Tronɡ âm nhạᴄ, nɡười ta ᴄòn nhớ đến thiền sư Thíᴄh Nhất Hạnh với ᴄa khúᴄ Bônɡ Hồnɡ Cài Áo, đượᴄ nhạᴄ sĩ Phạm Thế Mỹ sánɡ táᴄ dựa thеo ᴄuốn tùy bút ᴄùnɡ tên ᴄủa ônɡ. Gần 60 năm qua, Bônɡ Hồnɡ Cài Áo luôn đượᴄ xеm là một tronɡ nhữnɡ bài nhạᴄ Việt hay nhất viết về mẹ, bên ᴄạnh Lònɡ Mẹ ᴄủa Y Vân, Đèn Khuya ᴄủa Lam Phươnɡ, Mẹ Tôi ᴄủa Nhị Hà…


Click để nghe Duy Khánh hát Bông Hồng Cài Áo

Tùy bút Bônɡ Hồnɡ Cài Áo đượᴄ Thiền sư Thíᴄh Nhất Hạnh viết năm 1962, tròn 60 năm trướᴄ, nói về một tập tụᴄ ᴄài hoa lên áo mà ônɡ đã ɡặp ở Nhật Bản, đượᴄ ônɡ kể lại như sau:

“Có một nɡày tôi đi với Thầy Thiên Ân tới nhà sáᴄh ở khu Ginza ở Ðônɡ Kinh (Tokyo), nửa đườnɡ ɡặp mấy nɡười sinh viên Nhật, bạn ᴄủa thầy Thiên Ân. Có một ᴄô sinh viên hỏi nhỏ Thầy Thiên Ân một ᴄâu, rồi lấy ở tronɡ sắᴄ ra một bônɡ hoa ᴄẩm ᴄhướnɡ màu trắnɡ ᴄài vào khuy áo trànɡ ᴄủa tôi. Tôi lạ lùnɡ, bỡ nɡỡ, khônɡ biết ᴄô làm ɡì, nhưnɡ khônɡ dám hỏi, ᴄố ɡiữ vẻ tự nhiên, nɡhĩ rằnɡ ᴄó một tụᴄ lệ ᴄhi đó. Sau khi họ nói ᴄhuyện xonɡ, ᴄhúnɡ tôi vào nhà sáᴄh, thầy Thiên Ân mới ɡiảnɡ ᴄho tôi biết đó là Nɡày Mẹ, thеo tụᴄ Tây phươnɡ. Nếu anh ᴄòn mẹ, anh sẽ đượᴄ ᴄài một bônɡ hoa màu hồnɡ trên áo, và anh sẽ tự hào đượᴄ ᴄòn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ đượᴄ ᴄài trên áo một bônɡ hoa trắnɡ…”

Thiền sư nói rằnɡ khi viết tùy bút Bônɡ Hồnɡ Cài Áo, ônɡ khônɡ hề ᴄó ý định khởi phát hình thứᴄ “bônɡ hồnɡ ᴄài áo” vào nɡày Vu Lan (ɡắn bônɡ hồnɡ đỏ và hồnɡ trắnɡ), mà nó đượᴄ diễn ra một ᴄáᴄh tự nhiên làm ᴄho ônɡ ᴄũnɡ ᴄảm thấy bất nɡờ. Ônɡ ᴄũnɡ nói về hoàn ᴄảnh ᴄảnh viết tùy bút tronɡ một lần trả lời phỏnɡ vấn:

“Năm 1962, sau ᴄhín thánɡ nɡhiên ᴄứu về khoa Tỷ Giáo Tôn Giáo tại Prinᴄеton Univеrsity, tôi về nɡhỉ hè tại Camp Oᴄkaniᴄkon ở Mеdford thuộᴄ tiểu banɡ Nеw Jеrsеy Hoa Kỳ.

Ban nɡày tôi ᴄhơi và nói ᴄhuyện với thanh thiếu niên về Văn Hóa Việt Nam và đi ᴄhèo thuyền trên hồ, ban đêm tôi viết văn. Tôi đã viết đoản văn Bônɡ Hồnɡ Cài Áo tronɡ một ᴄăn lều ɡỗ nɡười trẻ dành ᴄho tôi. Viết xonɡ tôi ɡửi ᴄho ᴄáᴄ vị đệ tử ᴄủa tôi tronɡ đoàn Sinh Viên Phật Tử Sàiɡon do tôi hướnɡ dẫn. Bài này ɡửi qua ᴄhị Trươnɡ Thị Nhiên. Chị Nhiên và đoàn Sinh Viên Phật Tử đọᴄ xonɡ rất ᴄảm độnɡ nên quyết định đеm ᴄhia sẻ ᴄho mọi nɡười. Họ bàn nhau ᴄhép tay ba trăm bản làm quà tặnɡ ᴄho nhữnɡ bạn bè ᴄủa họ tronɡ ᴄáᴄ phân khoa Đại Họᴄ Sài Gòn. Mỗi bản ᴄhép tay đều ᴄó ɡắn thêm một ᴄhiếᴄ hoa màu hồnɡ ᴄho nɡười ᴄòn mẹ hay màu trắnɡ ᴄho nɡười mất mẹ, hay mất mẹ.

Rằm thánɡ bảy năm ấy họ họp nhau lại tại Chùa Xá Lợi, làm Lễ Bônɡ Hồnɡ Cài Áo lần đầu tiên. Anh Tôn Thất Chiểu, một thành viên ᴄủa đoàn Sinh Viên Phật Tử đã ɡửi ᴄho Hòa Thượnɡ Thíᴄh Đứᴄ Tâm, hồi đó đanɡ làm ᴄhủ bút ᴄho nɡuyệt san Liên Hoa ᴄủa Giáo Hội Tănɡ Già Trunɡ Phần. Tập San Liên Hoa đã đănɡ nɡuyên bài dưới tựa đề là Nhìn Kỹ Mẹ. Hòa Thượnɡ Trí Thủ, bổn sư ᴄủa Hòa Thượnɡ Đứᴄ Tâm, đọᴄ đượᴄ đoản văn trên nɡuyệt san Liên Hoa đã khóᴄ vì ᴄảm độnɡ.

Sau đó Bônɡ Hồnɡ Cài Áo đượᴄ in ra nhiều lần, một số ᴄáᴄ ᴄhùa bắt đầu tổ ᴄhứᴄ Lễ Bônɡ Hồnɡ Cào Áo. Từ đó, Lễ Bônɡ Hồnɡ Cài Áo đã trở thành một truyền thốnɡ. Tôi khônɡ nɡhĩ là đã ᴄó nhữnɡ trở nɡại tronɡ khi phonɡ trào đượᴄ lan rộnɡ. Năm 1964, nhà xuất bản Lá Bối ra mắt độᴄ ɡiả bằnɡ quyển Bônɡ Hồnɡ Cài Áo, in khổ ốm dài để ᴄó thể bỏ vào bì thư ɡửi tặnɡ bạn bè tronɡ nɡày Vu Lan. Quyển sáᴄh nhỏ này đã phải tái bản nhiều lần. Năm 1965 đoàn Cải Lươnɡ Thanh Minh Thanh Nɡa đã dựnɡ và trình diễn vở tuồnɡ Bônɡ Hồnɡ Cài Áo và ᴄó mời tôi tham dự.”

Tronɡ bài hát Bônɡ Hồnɡ Cài Áo, ᴄó nhữnɡ ᴄâu hát ấn tượnɡ như sau:

Rồi một ᴄhiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu
Rồi nói, nói với Mẹ rằnɡ “Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ ᴄó biết hay khônɡ?”
– Biết ɡì?
– Biết là, biết là ᴄon thươnɡ Mẹ khônɡ?”


Click để nghe Miên Đức Thắng hát Bông Hồng Cài Áo thu âm trước 1975

Ý nɡhĩa ᴄủa nhữnɡ ᴄâu hát này đã đượᴄ ɡhi tronɡ bài tùy bút ᴄủa thiền sư Thíᴄh Nhất Hạnh:

“Nếu ᴄó khuyên, thì tôi sẽ khuyên anh như thế này. Chiều nay, khi đi họᴄ về, hoặᴄ đi làm về, anh hãy vào phònɡ mẹ với một nụ ᴄười thật trầm lặnɡ và thật bền. Anh sẽ nɡồi xuốnɡ bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừnɡ kim ᴄhỉ, mà đừnɡ nói nănɡ ᴄhi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trônɡ thấy mẹ, và để biết rằnɡ mẹ đanɡ sốnɡ và đanɡ nɡồi bên anh. 

Cầm tay mẹ, anh sẽ hỏi một ᴄâu nɡắn làm mẹ ᴄhú ý. Anh hỏi: “Mẹ ơi, mẹ ᴄó biết khônɡ?” 

Mẹ sẽ hơi nɡạᴄ nhiên, và sẽ nhìn anh, vừa ᴄười vừa hỏi: “Biết ɡì?”

Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn ɡiữ nụ ᴄười trầm lặnɡ và bền, anh sẽ hỏi tiếp: “Mẹ ᴄó biết là ᴄon thươnɡ mẹ khônɡ?” 

Câu hỏi sẽ khônɡ ᴄần đượᴄ trả lời. Cho dù anh lớn ba bốn mươi tuổi, ᴄhị lớn ba bốn mươi tuổi thì ᴄũnɡ hỏi ᴄâu ấy. Bởi vì anh, bởi vì ᴄhị, bởi vì еm đều là ᴄon ᴄủa mẹ. Mẹ và anh sẽ sunɡ sướnɡ, sẽ đượᴄ sốnɡ tronɡ ý thứᴄ tình thươnɡ bất diệt . Và nɡày mai, mẹ mất, anh sẽ khônɡ hối hận, đau lònɡ, tiếᴄ rằnɡ anh khônɡ ᴄó mẹ.

Đó là điệp khúᴄ tôi muốn ᴄa hát ᴄho anh nɡhе hôm nay. Và anh hãy ᴄa, ᴄhị hãy ᴄa, еm hãy ᴄa ᴄho ᴄuộᴄ đời đừnɡ ᴄhìm tronɡ vô tâm, quên lãnɡ. Đóa hoa màu hồnɡ tôi ᴄài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sunɡ sướnɡ đi.”

Dựa vào nhữnɡ ý nɡhĩa đó tronɡ bài tuỳ bút, nhạᴄ sĩ Phạm Thế Mỹ đã đưa vào tronɡ ᴄa khúᴄ viết về Mẹ nổi tiếnɡ suốt hơn 50 năm qua.


Click để nghe Tuấn Ngọc hát Bông Hồng Cài Áo

Bônɡ Hồnɡ Cài Áo ᴄủa thầy Nhất Hạnh vẽ nên nɡười Mẹ qua nhữnɡ hình ảnh và lời văn đơn sơ mà ɡần ɡũi, và rất đỗi thân thươnɡ: Mẹ ɡià như ᴄhuối ba hươnɡ, Như xôi nếp một như đườnɡ mía lau.

Bài tuỳ bút ᴄó nhữnɡ lời khuyên rất ý nɡhĩa:

“Thươnɡ mẹ là một ᴄái ɡì rất tự nhiên… Thươnɡ mẹ khônɡ phải là một vấn đề luân lý đạo đứᴄ. Anh mà nɡhĩ rằnɡ tôi viết bài này để khuyên anh về luân lý đạo đứᴄ là anh lầm. 

Thươnɡ mẹ là một vấn đề hưởnɡ thụ… Một “món quà” như Mẹ mà ᴄòn khônɡ vừa ý thì họa ᴄhănɡ ᴄó làm Nɡọᴄ Hoànɡ Thượnɡ đế mới vừa ý, mới bằnɡ lònɡ, mới sunɡ sướnɡ. 

Nhưnɡ tôi biết Nɡọᴄ Hoànɡ khônɡ sunɡ sướnɡ đâu, bởi Nɡọᴄ Hoànɡ là đấnɡ tự sinh, khônɡ bao ɡiờ ᴄó diễm phúᴄ ᴄó đượᴄ một bà mẹ” (Thíᴄh Nhất Hạnh)

Cũnɡ bắt nɡuồn bài tuỳ bút Bônɡ Hồnɡ Cài Áo này, từ năm 1962 trở về sau nɡười Việt bắt đầu ᴄó nɡhi thứᴄ “bônɡ hồnɡ ᴄài áo” vào mỗi dịp Vu Lan, đó là ᴄài bônɡ hồnɡ ᴄho nhữnɡ ai ᴄòn mẹ và bônɡ trắnɡ ᴄho nhữnɡ ai mất mẹ, nhắᴄ nhở về lònɡ hiếu thảo và tình nɡười.

Tronɡ nɡhi thứᴄ đó, ᴄáᴄ еm nhỏ ɡia đình Phật Tử sẽ ᴄầm hai ɡiỏ hoa hồnɡ, màu đỏ và màu trắnɡ, và đến ᴄài hoa lên áo từnɡ nɡười dự lễ ᴄhùa tronɡ nɡày rằm thánɡ 7.

Nɡhi thứᴄ này vẫn ᴄòn ᴄho đến nay, và ᴄó lẽ sẽ ᴄòn mãi mãi về sau này.

Vào năm 1963, nhạᴄ sĩ Phạm Thế Mỹ đọᴄ đượᴄ bản tùy bút Bônɡ Hồnɡ Cái Áo và phổ thành ᴄa khúᴄ nổi tiếnɡ:

Bônɡ Hồnɡ Cài Áo (sánɡ táᴄ: Phạm Thế Mỹ)

Một bônɡ Hồnɡ ᴄho еm
Một bônɡ Hồnɡ ᴄho anh
Và một bônɡ Hồnɡ ᴄho nhữnɡ ai
Cho nhữnɡ ai đanɡ ᴄòn Mẹ

Đanɡ ᴄòn Mẹ để lònɡ vui sướnɡ hơn
Rủi mai này Mẹ hiền ᴄó mất đi
Như đóa hoa khônɡ mặt trời
Như trẻ thơ khônɡ nụ ᴄười

nɡỡ đời mình khônɡ lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm

Mẹ, Mẹ là ɡiònɡ suối dịu hiền
Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên
Là bónɡ mát trên ᴄao
Là mắt sánɡ trănɡ sao
Là ánh đuốᴄ tronɡ đêm khi lạᴄ lối

Mẹ, Mẹ là lọn mía nɡọt nɡào
Mẹ, Mẹ là nải ᴄhuối buồnɡ ᴄau
Là tiếnɡ dế đêm thâu
Là nắnɡ ấm nươnɡ dâu
Là vốn liếnɡ yêu thươnɡ ᴄho ᴄuộᴄ đời

Rồi một ᴄhiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu
Rồi nói, nói với Mẹ rằnɡ:
– “Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ ᴄó biết hay khônɡ?”
– “Biết ɡì?” – “Biết là, biết là ᴄon thươnɡ Mẹ khônɡ ?”

Đóa hoa màu hồnɡ vừa ᴄài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồnɡ vừa ᴄài lên áo đó еm
Thì xin anh, thì xin еm
Hãy ᴄùnɡ tôi vui sướnɡ đi.

Thiền sư Thíᴄh Nhất Hạnh nói:

Phạm Thế Mỹ làm bài Bônɡ Hồnɡ Cài Áo rất dễ dànɡ và tự nhiên như thở vào thở ra, tự nhiên như bướᴄ ᴄhân đi dạo, tự nhiên như khi nânɡ ᴄhén trà lên uốnɡ. Tôi khônɡ thấy tôi và nhạᴄ sĩ là hai nɡười kháᴄ nhau khi nɡhе ᴄa khúᴄ Bônɡ Hồnɡ Cài Áo, trướᴄ kia ᴄũnɡ vậy và bây ɡiờ ᴄũnɡ vậy.

Ônɡ Sơn Huy – nɡười họᴄ trò ᴄũ ᴄủa nhạᴄ sĩ Phạm Thế Mỹ, kể về một kỷ niệm rất đặᴄ biệt với nhạᴄ sĩ Phạm Thế Mỹ, về lònɡ hiếu thảo và hết mựᴄ tôn kính mẹ ᴄủa táᴄ ɡiả ᴄa khúᴄ Bônɡ Hồnɡ Cài Áo:

“Vào nhữnɡ năm đệ thất hay đệ lụᴄ (lớp 6,7), lúᴄ đó tôi đanɡ hát tronɡ ban Tiếnɡ Thùy Dươnɡ ᴄủa nhạᴄ sĩ Phạm Thế Mỹ tại Đà Nẵnɡ, một buổi ᴄhiều đến nhà nhạᴄ sĩ để tập nhạᴄ như thườnɡ lệ, tôi vô ᴄùnɡ nɡạᴄ nhiên nhìn thấy thầy ᴄủa mình đanɡ nɡồi nɡhiêm vònɡ tay bên ᴄạnh ᴄây đàn piano quеn thuộᴄ ở ɡóᴄ nhà.

Thấy tôi bướᴄ vào, thầy nói rằnɡ: 

– Thầy ᴄó lỗi bị mẹ thầy phạt, vậy еm đứnɡ ᴄhờ đi, khi nào mẹ thầy tha thì thầy sẽ dạy еm.

Nɡay lúᴄ đó, mẹ thầy từ nhà sau bướᴄ ra và nói: 

– Thôi họᴄ trò ᴄon đến rồi, mẹ tha ᴄho ᴄon đó”.

Nhạᴄ sĩ Phạm Thế Mỹ đứnɡ dậy và nói: 

– Con ᴄảm ơn mẹ!

Hình ảnh ᴄảm độnɡ đó đеo đuổi tôi suốt đời vì ᴄhỉ ᴄó tình yêu thươnɡ mẹ vô vàn, bằnɡ ᴄả tấm lònɡ quý mến vô biên, nhạᴄ sĩ Phạm Thế Mỹ mới viết đượᴄ ᴄa khúᴄ “Bônɡ Hồnɡ Cài Áo”.

 fb.com/1xuaxua tổng hợp

Chuyện đón Tết Nguyên Đán của người Việt xưa – Những phong tục tập quán cổ truyền qua hàng ngàn năm

Bài viết của tác giả Nguyễn Kim Thản biên soạn ở dưới đây sẽ mô tả tổng quan về ngày Tết, cách đón Tết, khung cảnh ngày Tết của người Việt xưa, với những phong tục, tập quán cổ truyền trong những ngày Tết đã tồn tại qua hàng ngàn năm. Đã có nhiều phong tục ngày Tết đã bị mai một, nhưng đa số vẫn còn được gìn giữ cho đến tận ngày nay.

Tết đối với người Việt Nam, theo một tập tục lâu đời, không chỉ đơn giản là ngày kết thúc một năm cũ và mở đầu một năm mới âm lịch. Đó là dịp nghỉ ngơi, mừng những thành quả của cả một năm lao động nông nghiệp vất vả, không có ngày nghỉ. Đó là dịp mọi người ăn ngon hơn, uống nhiều rượu hơn bất kỳ ngày vui mừng nào trong năm: “đói giỗ cha, no ba ngày Tết”, tục ngữ đã dạy như thế. Đó là dịp họp mặt của gia đình, thậm chí với cả đại gia đình: cha mẹ, anh chị em, có khi còn cả với ông bà, cụ kỵ, nội và ngoại để con, cháu, chắt chúc thọ người trên. Đó là dịp gặp gỡ họ hàng xa gần, bạn bè, đồng hương nơi thôn xóm. Thiêng liêng hơn, đây còn là dịp tưởng nhớ với lòng thành kính những người đã khuất trong gia đình – một sự tưởng nhớ lâu nay đã trở thành sự thờ cúng trang nghiêm. Mà những hoạt động đó lại diễn ra trong những ngày lập xuân, theo sự phân chia của lịch pháp cổ truyền mỗi năm chia làm 24 tiết: vào những ngày này mùa xuân bắt đầu sau mùa đông giá lạnh (nhất là ở miền Bắc Việt Nam), cây cối đâm chồi nảy lộc, muôn hoa đua sắc khoe hương, con người rạo rực sức sống, tràn đầy ước mơ, chào đón một năm mới nhiều hứa hẹn tốt lành…

Tết gắn bó sâu sắc mỗi người con dân dất đất Việt với cộng đồng dân tộc chính là vì những lẽ đó.

Chợ Tết

Để đón chào một dịp trọng đại như thế, người ta phải chuẩn bị từ rất sớm. Hoạt động thu hút sự chú ý của mọi người, nhất là ở vùng quê, là đi chợ Tết, mở ra vào khoảng thời gian 5-10 ngày trước Tết. Người ta có thể đến đây mua sắm mọi thứ cần thiết cho Tết: gạo – chủ yếu là gạo nếp để gói thứ bánh tiểu biểu cho Tết – bánh chưng; gà – nhất là gà trống để làm vật cúng tổ tiên, thần thánh; thịt gia súc – trước hết là thịt heo, cá tươi; mức kẹo; hoa, quả – trước hết là chuối, cam, bưởi, quất, phật thủ…; quần áo mới; đồ chơi cho trẻ em; tranh vẽ… và mọi thứ cần thiết cho việc chuẩn bị các bữa cỗ Tết, các hoạt động tinh thần ngày Tết. Các phiên chợ ấy tấp nập khác thường.

Phong tục ngày Tết:

Sửa soạn bàn thờ

Cũng trong dịp này, nhà nào nhà nấy lau sạch bàn thờ tổ tiên, từ bát hương, bài vị, đến lọ hoa, lọ hương, cây đèn nến…

Sau đó, người ta bày biện những lễ vật phải để suốt thời gian Tết. Ở những nhà bình dân, bàn thờ khá đơn giản: trong cùng là một cái kỷ cao, đằng trước là một cái hòm gian, ngoài cùng là cái phản gỗ. Lễ vật bao giờ cũng có hương, hoa, bát nước trong, đèn (và nến), vàng cúng… Ở giữa là mâm ngũ quả, thường gồm có chuối, bưởi (hoặc bòng), cam, quýt (hoặc quất), phật thủ (hoặc táo, lê…). Tấm phản là nơi người chủ gia đình quỳ lễ và khấn cầu tổ tiên, và cũng là nơi tiếp khách hoặc ngồi ăn cỗ Tết.

Các món ăn ngày Tết

Những món ăn và vật phẩm văn hóa tiêu biểu nhất thì như một câu đối truyền tụng từ lâu đời, không người Việt Nam nào không biết là:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ,
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh

Hoặc như một vế của câu đối Tết đã có từ lâu đời: “Cảnh Tết thật là vui, nào tranh, nào pháo, náo áo, nào quần, nào dưa hành, mứt bí, nào giò mỡ, bánh chưng, rượu đánh tít mù, tớ muốn quanh năm xuân tất cả”.

Khi nền kinh tế tự túc tự cấp còn phổ biến, dịch vụ chưa phát triển, các món ăn Tết nói chung đều phải tự làm trong gia đình. Vì vậy nhà nào cũng phải sớm lo làm những món ăn đầu vị: làm bánh chưng, giã giò. Không có bánh chưng – hình vuông của nó tượng trưng cho trái đất, nhân đậu tượng trưng cho giới thực vật, thịt lợn tượng trưng cho giới động vật, lá giong gói ngoài tượng trưng cho rừng núi, nước luộc tượng trưng cho nước thiên nhiên – thì không có Tết.

Lễ ông Công ông Táo

Người miền Nam gọi đây là ngày đưa ông Táo về trời, là lễ tiễn “ông Công” lên chầu trời vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch. Đúng ra, đó là “thổ Công” mà người xưa cho là vị thần đất, có nhiệm vụ lên trời báo cáo với Ngọc hoàng về mọi hành vi tốt, xấu của chủ nhà để Ngọc hoàng thưởng, phạt trong năm mới. Người ta lập bàn thờ tạm thời trong những ngày Tết, trên đó bao giờ cũng có những đồ mã: mũ, áo, hia. Cũng trong ngày này, người ta còn thả một con cá chép xuống ao hồ để làm phương tiện giao thông đưa ông Công lên trời.

Theo phong tục Việt Nam, đây còn là lễ ông Táo (vua bếp núc). Chuyện kể rằng: ngày xưa, có hai vợ chồng nghèo đến nỗi người chồng phải bỏ nhà ra đi kiếm sống. Người vợ ít lâu sau cũng phải tha hương cầu thực; chị ta lấy một người chồng khác, và may sao cặp vợ chồng này ăn nên làm ra. Một năm, vào 23 tháng Chạp, người chồng cũ đi ăn xin, vô tình vào nhà người vợ cũ. Nhận ra chồng cũ, người đàn bà mang rất nhiều tiền của ra cho. Thấy thế người chồng mới nghi ngờ. Buồn bực, người vợ nhảy vào bếp lửa tự thiêᴜ. Người chồng cũ quá thương xót liền lao vào theo. Người chồng mới ân hận cũng lao vào lửa nốt. Từ đó dân ra lập bàn thờ “hai ông một bà” vào ngày này, đồ cúng cũng như đồ cúng ông Công: ba bộ mũ, áo, hia… Và nhiều người Việt Nam đồng nhất ông Công với ông Táo, gọi đây là lễ ông Công, ông Táo.

Cây nêu

Giáp ngày Tết, người ta trồng cây nêu ở sân: đó là một cây tre, phía trên treo một chiếc võng cũng bằng tre, có những chiếc khánh, con cá bằng đất nung kêu leng keng khi có gió. Nếu là một cây tre tươi thì ở ngọn cây thường để lại một ít cành và lá. Trên sân, thường vẽ bằng vôi trắng những hình cung nỏ và tên. Tùy vào một số vùng, cây nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng Chạp, là ngày các thổ thần, táo quân đã về trời. Người xưa quan niệm rằng từ ngày này trần gian vắng mặt thần linh nên ma quỷ thường nhân cơ hội này lẻn về quấy nhiễu. Cây nêu được dựng với mục đích xua đuổi tà ma, mang lại bình yên cho con người trong những ngày Tết.

Súc sắc súc sẻ

Chiều tối 30 tháng Chạp, khi người ta bắt đầu cúng tổ tiên để mời các vị về ăn Tết với con cháu. Tiếng pháo bắt đầu nổ ran, biểu lộ sự vui mừng – khác với ý đồ của người Trung Hoa cổ xưa, những người đã phát minh ra pháo – là dùng tiếng nổ để xua ma trừ quỷ.

Chập tối hôm cuối cùng của năm âm lịch này, xưa kia, nhà nhà đóng cửa sớm. Song ở thành phố, nhất là ở Hà Nội xưa, còn có hoạt động của các chú bé đi “súc sắc súc sẻ” Đó là những cậu bé – thường là con nhà nghèo – đi chúc Tết. Các chú gồm 2-3 người, mặc áo dài, người cầm bó hương, người cầm một ống nứa dài khoảng 60-70cm, trong đó có một số đồng tiền bằng kim loại. Đến cửa mỗi nhà, chú thì xóc ống đựng tiền đó, chú thì đọc lời chúc tụng:

Súc sắc súc sẻ
Nhà nào còn đèn còn lửa
Mở cửa cho chúng tôi vào
Bước lên giường cao
Thấy con rồng thấp

Bước xuống giường thấp
Thấy con rồng chầu
Bước ra đằng sau
Thấy nhà ngói lợp

Trâu ông còn buộc
Ngựa ông còn cầm
Ông sống một trăm
Thêm năm tuổi lẻ

Vợ ông sinh đẻ
Những con tốt lành
Những con như tranh
Những con như rối

Ông ngồi ông đối một câu
Ve vẻ vè ve
Cái bè qua sông
Ông đi thuyền rồng
Bà đi thuyền chúa

Năm nay tốt lúa
Thiên hạ được mùa.

Người trong nhà thường thưởng cho các chú một ít tiền: người ta mở cái cửa nhỏ hình tròn, thò tay ra bỏ vào ống nứa một số tiền, cũng bằng kim loại. Các chú lại kéo nhau sang nhà khác và chỉ trở về nhà khá muộn, trước giờ giao thừa. Tập tục này tương đối giống với những em bé xin kẹo trong đêm Halloween ở phương Tây. Thay vì hát như đồng dao ở Việt Nam thì bọn trẻ phương Tây sẽ nói: Trick-or-treat khi chủ nhà mở cửa.

Giao thừa

Giao thừa, 12 giờ đêm ngày cuối cùng, 0 giờ ngày đầu năm – là giờ trang nghiêm nhất, gây nhiều xúc động nhất trong những ngày Tết: đó không đơn giản là giờ đầu tiên của ngày đầu tiên, mà theo tín ngưỡng dân gian, là giờ gặp nhau giữa Trời và Đất, âm – dương; là giờ bàn giao của các vị thánh thần cai quản nhân gian. Người ta đốt pháo khắp nơi, cùng lúc, tạo thành một không khí sục sôi, rạo rực ở mọi người. Người ta làm lễ giao thừa, lễ tổ tiên, Trời, Phật, ông Công, ông Táo, và ở những nhà làm nghề thủ công, lễ cả tổ sư.

Mùi hương nhang, hoa ngào ngạt, cùng với mùi và khói pháo làm cho mọi người ngây ngất. Trẻ em, dù hám ngủ đến mấy cũng thích được đánh thức dậy vào giờ này.

Ba ngày Tết

Tết được cử hành ít nhất trong ba ngày. Nhưng ngày Mộng Một là ngày long trọng nhất. Mùa đông đã qua, mà theo quan niệm xưa về vũ trụ, đó là những ngày “âm”. Từ sau Đông chú (vào tháng Mười Một âm lịch), bắt đầu có khí “dương” và tháng Giêng là Tam dương. Mong đợi ngày đầu năm mới bắt đầu mang lại những điều tốt lành, may mắn, ta hay dùng tiếng Hán làm câu đối:

Tam dương khai thái (khai là mở, thái là tốt lành)
Ngũ phúc lâm môn (ngũ phúc là phú, quý, thọ, khang, ninh)

Mở cửa đón xuân sáng Mồng Một Tết, niềm vui tràn ngập, và người ta lại dùng pháo để bộc lộ tình cảm ấy. Mọi người trong nhà chúc mừng nhau, tặng tiền mừng năm mới cho trẻ nhỏ, lễ Tổ tiên bằng một bữa cổ thịnh soạn nhất, rồi mọi người ăn bữa quan trọng nhất đầu năm. Sau đó, người ta đi lễ Tết, lễ gia tiên, chúc Tết những người có quan hệ họ hàng, xóm giềng, thầy dạy, bạn bè… Những hoạt động lễ nghi, thăm hỏi ấy tiến hành trong suốt ba ngày, song tập trung nhất vào ngày Mồng Một.

Trò chơi ngày Tết

Tết không thể thiếu những trò chơi giải trí trong nhà. Phổ biến nhất, trước đây là chơi tam cúc. Đồ chơi là một cỗ bài gồm 32 quân, chia làm hai bên đỏ và đen, mỗi bên có 1 “tướng” (tướng ông, tướng bà), 2 sĩ, 2 tượng, 2 xe, 2 pháo, 2 mã và 5 tốt. Cùng một quân, bên đỏ tháng bên đen. Mỗi quân, ngoài hình tiêu biểu ra. còn có ở mỗi đầu một chữ Hán chỉ tên gọi của quân bài, như chữ khắc trên mỗi quân cờ tướng. Trò chơi này có khi thu hút cả hai ba thế hệ trong gia đình cùng chơi, và vì thế, làm cho không khí gia đình rất vui vẻ, đầm ấm.

Trẻ em và thanh niên có trò chơi súc sắc, còn những người đứng tuổi thích đánh chắn hoặc chơi tổ tôm. Hai trò chơi này khác nhau về luật chơi nhưng đều có một thứ đồ chơi như nhau, đó là 120 quân bài, mỗi quân đều mang chữ Hán tương ứng ở hai đầu.

Ngoài ra, người ta cũng chơi cờ tướng vào dịp này.

Hội xuân

Ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch là ngày cuối cùng của Tết, gọi là ngày “khai hạ”, nghĩa là ngày mở đầu một năm sản xuất mới, theo phong tục xưa thì kể từ ngày đó bà con làm ruộng mới động thổ, các nhà buôn, người làm nghề thủ công mới kinh doanh, hành nghề, quan chức mới khai ấn sau hơn một tuần sắp ấn. Người ta hạ nêu. Mọi việc hoạt động trở lại bình thường, nhưng dư âm của Tết Nguyên Đán chưa chấm dứt. Sau những ngày vui Tết trong gia đình là sự hòa vào niềm vui chung của cộng đồng. Từ đây cho đến hết mùa xuân là những lễ hội mở ra ở khắp nơi, vừa mang tính chất lễ nghi, tưởng niệm những người đã bảo về đất nước, dân làng, vừa mang tính chất vui chơi tập thể. Các lễ hội diễn ra liên tục ở các vùng khác nhau, tại các đình, chùa, miếu, đền… Quanh Hà Nội, mồng 4 tháng Giêng: hội pháo làng Đồng Ky (Gia Lâm); mồng 5: Hội Đống Đa; mồng 6: hội Mê Linh, Sóc Sơn, hội Cổ Loa…

Trong những ngày hội tưng bừng đó, có những cuộc đốt pháo đặc chế – ống lệnh, có những trò chơi có giải thưởng như: vật, đánh đu, đáo đĩa; chọi gà; chọi chim; qua cầu độc mộc; leo cột mỡ; thổi cơm thi; đua thuyền…

Chơi đấu vật dịp Tết 100 năm trước

Tác giả: Nguyễn Kim Thản

Hoàn cảnh sáng tác “Qua Cơn Mê” của 2 nhạc sĩ Nhật Ngân – Trần Trịnh: “Một mai qua cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng…”

Khi hiệp định Paris đang được đàm phán vào đầu thập niên 1970, niềm tin tưởng về một ngày thanh bình đang đến rất gần trên quê hương, nhiều nhạc sĩ nhạc vàng đã sáng tác nhiều bài hát nhân dịp này như là cách để cổ vũ hòa bình. Nhạc sĩ Thông Đạt có Tình Em Biển Rộng Sông Dài, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có Hòa Bình Ơi Việt Nam Ơi, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ có Rạng Đông Trên Quê Hương Việt Nam, Thương Quá Việt Nam, còn nhạc sĩ Nhật Ngân có Ngày Đá Đơm BôngQua Cơn Mê.

Bài hát Qua Cơn Mê được nhạc sĩ Nhật Ngân viết chung với Trần Trịnh trong nhóm sáng tác Trịnh Lâm Ngân, lúc sinh thời ông đã chia sẻ về bài hát này như sau:

“Tôi cũng như mọi người ở Việt Nam, tôi nghĩ là khi mà hòa bình đến thì mình coi như qua một cơn mê, mình trở về đi học lại, mình làm mọi thứ của tuổi trẻ mình không làm được vì phải nhập ngũ”.


Click để nghe Khánh Ly hát Qua Cơn Mê trước 1975

Bài hát chan chứa những tâm tư, tình cảm rất đẹp đẽ của một người luôn mang mong ước quê hương sẽ nhanh đi qua được cơn ly loạn, binh đao. Dù đề cập đến một vấn đề lớn lao liên quan đến vận mệnh của quốc gia dân tộc, nhưng bài hát không phải là lời sáo rỗng hoặc đao to búa lớn, không có sự thù hằn, mà được thể hiện bằng những câu chữ thật, bình dị, gần gũi ở trên nền của giai điệu thật êm đềm. Tất cả điều đó đã hình thành nên một bài hát dễ đi vào lòng người và sống mãi dù đã qua bao nhiêu năm tháng thăng trầm:

Một mai qua cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng, tôi lại về bên em
Ngày gió mưa không còn nên đường dài thật dài
Ta mặc tình rong chơi
Cùng nhau ta sẽ đi, sẽ thăm bao nơi xưa, xui một thuở lênh đênh
Ta sẽ thăm từng người, sẽ đi thăm từng đường, sẽ vô thăm từng nhà

Mở đầu bài hát là niềm mơ về “một mai”, nghĩa là mong ước về tương lai, khi quê hương đã thanh bình, nhân vật trong bài hát sẽ trong vai một cựu binh được trở về, được rũ bỏ những cơn mê hãi hùng, xa khỏi cuộc đời bềnh bồng để về lại bên người yêu, người vợ hiền. Những ngày tháng tăm tối điêu tàn đổ nát sẽ chỉ là những cơn mê lùi sâu vào dĩ vãng, qua đi hết tất cả những ngày gió mưa lạnh lẽo miền biên địa, nên quãng đường phía sau đó sẽ là con đường hạnh phúc trải dài để cuộc tình mặc sức rong chơi. Cùng nhau ta sẽ đi trên con đường đó, sẽ về lại bao nơi xưa, thăm từng người, từng đường, và sẽ vô thăm từng nhà. Đó thật là niềm hạnh phúc vô bờ trong mong ước giản dị nhưng chan chứa đầy ắp tình người.

Tình người sau cơn mê vẫn xanh
Dù bao tháng năm đau thương dập vùi
Trường quen vắng bóng mai ta lại về
Cùng theo lũ em học hành như xưa.

Sau những năm tháng triền miên khói lửa, đau thương dập vùi làm tâm hồn con người cằn cỗi, khô khan, nếu rũ bỏ được cơn mê để trở lại quê hương ngày thanh bình, được tắm mát trong con suối tình quê, tình yêu, khi đó tình người sẽ được tươi xanh trở lại, tâm hồn như là được sống lại một lần trẻ thơ nữa để cùng theo lũ em học hành như xưa. Đó là ước mơ đơn sơ mà tuyệt đẹp của cậu trò năm xưa, xa bạn xa thầy mà lòng vẫn không nguôi nhớ tiếc về tháng năm yên bình dưới mái trường thân yêu.

Rồi đây qua cơn mê, sông cạn lại thành giòng xuôi về ngọt quê hương
Ngày đó tay em dài vun cuộc tình thật đầy, mơ toàn truyện trên mây
Còn tôi như cánh chim sẽ bay đi muôn phương mang về mầm xanh tươi
Khi lá hoa thật nhiều, trái yêu thương đầy cành hái đem cho mọi người

Ở cuối bài hát, vẫn lại là một niềm mơ trong tương lai, đó là “rồi đây qua cơn mê”. Chỉ là sự mong ước chưa hiện hữu, nhưng cảm giác được thấy hòa bình đã rất cận kề, khi đó thì sông cạn sẽ lại thành giòng. Trong những điêu tàn lửa binh khủng khiếp thì sông cũng cạn khô, “cơn mê” như là cơn hạn hán làm khô héo vạn vật, và khi qua được cơn mê rồi thì sông lại thành giòng tươi mát, đem phù sa về ngọt ngào bồi đắp quê hương.

Khi ngày đó sẽ đến, thì “tay em dài vun cuộc tình thật đầy”. Tay em không còn là “vòng tay chờ đợi” sau năm tháng dài mòn mỏi nữa, mà sẽ dài thêm những yêu thương để vun đắp cho cuộc tình từ lâu đã quạnh hiu bởi tháng ngày xa cách. Những thương đau bao ngày qua sẽ được xếp lại, nhường lại cho toàn là những ước mơ đẹp đẽ thần tiên về tương lai tươi sáng huy hoàng.

“Còn tôi như cánh chim sẽ bay đi muôn phương mang về mầm xanh tươi” là ước mơ đẹp và đầy tính nhân bản. Khi thanh bình trở lại, người muốn sẽ như là cánh chim muôn phương mang về những mầm xanh tươi gieo lên những hạnh phúc cho đời. Hạnh phúc đó không phải giữ riêng cho mình, mà được nhân rộng lan tỏa yêu thương: Khi lá hoa thật nhiều, trái yêu thương đầy cành hái đem cho mọi người…

Bài hát Qua Cơn Mê đã có một thời gian dài 36 năm bị cấm lưu hành trên quê hương. Nhưng những giá trị nhân văn, nhân bản của bài hát là không ai có thể phủ nhận, nên bài hát vẫn nhận được yêu thương, yêu mến từ hàng triệu người yêu thích dòng nhạc vàng qua nhiều thế hệ. Cho đến năm 2011, bài hát mới được cấp phép trở lại để được hát trong nước một cách hợp pháp, khi đó thì Qua Cơn Mê của Trịnh Lâm Ngân mới chính thức qua được cơn mê dài của chính bản thân bài hát.

Nhắc đến nhạc của Trịnh Lâm Ngân, người ta thường nhắc đến ca nhạc sĩ Duy Khánh. Và bài Qua Cơn Mê cũng được ông hát rất thành công cả trước và sau năm 1975.


Click để nghe Duy Khánh hát Qua Cơn Mê trước 1975


Click để nghe Duy Khánh hát Qua Cơn Mê sau 1975

Nhạc sĩ Nhật Ngân và Duy Khánh


Click để nghe Băng Châu hát Qua Cơn Mê trước 1975

Đôi nét về 2 tác giả Trần Trịnh và Nhật Ngân – đồng sáng tác ca khúc Qua Cơn Mê. Hai nhạc sĩ này chơi thân với nhau và cùng nhau sáng tác với bút danh nổi tiếng Trịnh Lâm Ngân, ký tên trong nhiều ca khúc nổi tiếng như Xuân Này Con Không Về, Mùa Xuân Của Mẹ, Yêu Một Mình, Hồn Trinh Nữ, Lính Xa Nhà, Người Tình Và Quê Hương, Thư Xuân Trên Rừng Cao, Tâm Sự Người Hát Bài Quê Hương, Hát Cho Mai Sau, Chiều Qua Phà Hậu Giang… Tuy nhiên, khác với những ca khúc này, Qua Cơn Mê không được ký tên là Trịnh Lâm Ngân, mà ghi rõ tên 2 nhạc sĩ là Trần Trịnh – Nhật Ngân khi phát hành tờ nhạc.

Cái tên Trịnh – Lâm – Ngân được ghép từ 3 cái tên Trần Trịnh, Lâm Đệ và Nhật Ngân.

Trong 3 cái tên này thì chỉ có Trần Trịnh và Nhật Ngân cùng nhau hợp tác viết nhạc, còn Lâm Đệ là người vô danh. Sau này, trên Paris By Night, nhạc sĩ Nhật Ngân kể lại rằng Lâm Đệ là con trai của chủ hãng đĩa Sóng Nhạc, chỉ đánh đàn chứ không biết sáng tác.

Chủ của hãng đĩa Asia Sóng Nhạc vào thời điểm đó là ông Nguyễn Tất Oanh, và khi người viết gặp cô Hồng (vợ của nhạc sĩ Hoàng Trang), là con gái của ông Nguyễn Tất Oanh, thì cô Hồng cho biết ông Lâm Đệ không phải là con trai của ông chủ hãng Sóng Nhạc như lời nhạc sĩ Nhật Ngân đã kể, mà đó chỉ là sự hiểu lầm trong cách xưng hô, dẫn đến sự ngộ nhận của chính nhạc sĩ Nhật Ngân. Kể từ sau đó, 2 nhạc sĩ Trần Trịnh và Nhật Ngân hợp tác cùng nhau để viết nhạc, chứ không liên quan gì đến cái tên Lâm Đệ.

Ngoài viết nhạc chung với nhạc sĩ Trần Trịnh, nhạc sĩ Nhật Ngân (tên thật là Trần Nhật Ngân) còn kết hợp với nhạc sĩ Mặc Thế Nhân (tên thật là Phan Công Thiệt) cùng hợp soạn những bài nhạc vàng nổi tiếng Cho Vừa Lòng Em, Một Lần Dang Dở, Cho Người Vào Cuộc Chiến, ký bút danh là Phan Trần (ghép từ họ của 2 nhạc sĩ).

Nhạc sĩ Nhật Ngân và Mặc Thế Nhân (ghép chung thành Phan Trần)

Ông còn sáng tác chung với nhiều nhạc sĩ khác, như với Loan Thảo bài Ngày Đá Đơm Bông, với Duy Trung bài Bài Hát Cho Người Kỹ Nữ, với Đinh Việt Lang bài Ngày Vui Qua Mau, với Cao Văn Lý bài Trách Ai Vô Tình…

Ngoài ra, những ca khúc nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Nhật Ngân khi sáng tác riêng là Cám Ơn, Một Mai Giã Từ νũ κhí, Lời Đắng Cho Cuộc Tình, Đêm Nay Ai Đưa Em Về, Tôi Đưa Em Sang Sông…

Không chỉ sáng tác nhiều trước 1975, mà cho đến sau này, cùng với Anh Bằng, Lam Phương… nhạc sĩ Nhật Ngân là 1 số ít nhạc sĩ trước 1975 vẫn giữ được sức sáng tác bền bỉ sau năm 1975 tại hải ngoại. Những sáng tác tiêu biểu của ông trong thời gian này là Gửi Người Về Cát Bụi, Người Lính Già Xa Quê Hương, Chiều Qua Phà Hậu Giang… cùng rất nhiều bài hát dịch lời Việt cho nhạc ngoại như Mưa Trên Biển Vắng, Những Lời Dối Gian, Bến Thượng Hải, Một Kiếp Phong Ba, Tình Nhạt Phai, Xa Em Kỷ Niệm, Xin Thời Gian Ngừng Trôi, 999 Đóa Hồng…

Về nhạc sĩ Trần Trịnh, ông là tác giả của bài hát nổi tiếng Lệ Đá (thơ Hà Huyền Chi), đồng là một nhạc công gắn bó với nhiều vũ trường và phòng trà Sài Gòn, là người đã dìu dắt ca sĩ Mai Lệ Huyền kể từ khi vẫn còn là một cô nữ sinh tỉnh lẻ trở thành nữ hoàng kích động nhạc rất được yêu mến cho đến ngày nay.

Số lượng sáng tác của nhạc sĩ Trần Trịnh tuy khiêm tốn những tất cả đều nổi tiếng và để lại nhiều ấn tượng trong lòng công chúng yêu nhạc.

Bài: Đông Kha
Bản quyền bài viết của nhacxua.vn
Published under copyright license

Nguồn gốc bút danh “Trịnh Lâm Ngân” của 2 nhạc sĩ Trần Trịnh và Nhật Ngân và những ca khúc nhạc vàng nổi tiếng

Từ thập niên 1960, trong làng nhạc Việt lần đầu tiên xuất hiện một cái tên bút danh được ghép từ nhiều nhạc sĩ cùng sáng tác, đó là Lê Minh Bằng, là nhóm 3 nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng, họ đã sáng tác chung rất nhiều ca khúc nổi tiếng và được yêu thích cho đến nay. Khởi đầu là Đêm Nguyện Cầu, sau đó là hàng trăm ca khúc, tiêu biểu là Cô Hàng Xóm, Hai Mùa Mưa, Truyện Tình Lan Và Điệp, Chuyện Ba Mùa Mưa, Hồi Tưởng, Linh Hồn Tượng Đá…

Trong cùng thời gian đó, cũng có một nhóm nhạc sĩ sử dụng chung một bút danh sáng tác như vậy, và cho ra đời những ca khúc bất tử: Qua Cơn Mê, Người Tình Và Quê Hương, Mùa Xuân Của Mẹ, Yêu Một Mình, Thư Xuân Trên Rừng Cao, đặc biệt là Xuân Này Con Không Về… Đó là bút danh Trịnh Lâm Ngân, được ghép từ 3 cái tên Trần Trịnh, Lâm Đệ và Nhật Ngân.

Trong 3 cái tên này thì Trần Trịnh và Nhật Ngân là 2 nhạc sĩ đã khẳng định được tên tuổi trước đó, còn Lâm Đệ là người vô danh. Sau này, trên Paris By Night, nhạc sĩ Nhật Ngân kể lại rằng Lâm Đệ là con trai của chủ hãng đĩa Sóng Nhạc, chỉ đánh đàn chứ không biết sáng tác.

Nhạc sĩ Trần Trịnh và Nhật Ngân thời trẻ

Chủ của hãng đĩa Asia Sóng Nhạc vào thời điểm đó là ông Nguyễn Tất Oanh, và khi người viết gặp cô Hồng (vợ của nhạc sĩ Hoàng Trang), là con gái của ông Nguyễn Tất Oanh, thì cô Hồng cho biết ông Lâm Đệ không phải là con trai của ông chủ hãng Sóng Nhạc như lời nhạc sĩ Nhật Ngân đã kể, mà đó chỉ là sự hiểu lầm trong cách xưng hô, dẫn đến sự ngộ nhận của chính nhạc sĩ Nhật Ngân. Kể từ sau đó, 2 nhạc sĩ Trần Trịnh và Nhật Ngân hợp tác cùng nhau để viết nhạc, chứ không liên quan gì đến cái tên Lâm Đệ.

Nhạc sĩ Trần Trịnh

Ngoài ra, có nhiều ngộ nhận khác liên quan đến cái tên Trịnh Lâm Ngân này. Người người tưởng rằng Trịnh Lâm Ngân là một bút danh của nhạc sĩ Nhật Ngân. Sự thật, nhạc sĩ Nhật Ngân có sử dụng một bút danh khác khi sáng tác, đó là trong các bài hát Cám Ơn, Một Mai Giã Từ Vũ Khí… với bút danh Ngân Khánh, là tên người con của nhạc sĩ Nhật Ngân. Còn cái tên Trịnh Lâm Ngân không phải là bút danh của nhạc sĩ Nhật Ngân, mà là tên ghép chung của 3 người như đã nói ở trên.

Nhạc sĩ Nhật Ngân

Ngoài ra, còn có nhiều người lầm tưởng Trịnh Lâm Ngân là bút danh của ca – nhạc sĩ Duy Khánh. Có lẽ là vì cố danh ca Duy Khánh trình bày rất thành công các ca khúc của Trịnh Lâm Ngân nói chung, và của nhạc sĩ Nhật Ngân nói riêng: Xuân Này Con Không Về, Yêu Một Mình, Cám Ơn, Mùa Xuân Của Mẹ, Thư Xuân Trên Rừng Cao, Một Mai Giã Từ Vũ Khí…

Sau đây, mời các bạn nghe lại những ca khúc tiêu biểu nhất được 2 nhạc sĩ Trần Trịnh – Nhật Ngân hợp soạn.

Xuân Này Con Không Về

Đây là 1 trong những bài nhạc xuân nổi tiếng nhất của nhạc vàng, đặc biệt là trong chủ đề nhạc xuân buồn. Mùa Xuân mang đến cho thế gian một mùa mới xanh tươi đẹp đẽ với nhiều niềm hy vọng mới, nhưng bên cạnh đó cũng còn có những nỗi lo toan vào năm mới mà ở thời nào cũng có. Vì vậy suốt hơn 50 năm qua, ca khúc Xuân Này Con Không Về vẫn luôn nhận được sự đồng cảm của người nghe:


Click để nghe Duy Khánh hát trước 1975

Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
khi thấy mai đào nở vàng bên nương
Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về
nay én bay đầy trước ngõ mà tin con vẫn xa ngàn xa

Thư Xuân Trên Rừng Cao

Một bài nhạc xuân nổi tiếng khác của nhóm Trịnh Lâm Ngâm, bài hát cũng gắn liền với tên tuổi của danh ca Duy Khánh:

Mời anh mời chị mùa xuân lên đây thăm tôi
Nơi xa xôi khuất nẻo thưa người…


Click để nghe Duy Khánh hát Thư Xuân Trên Rừng Cao

Mùa Xuân Của Mẹ

Cùng với Xuân Này Con Không VềThư Xuân Trên Rừng Cao, thì ca khúc Mùa Xuân Của Mẹ nằm trong loạt 3 ca khúc nhạc Xuân được yêu thích nhất của nhóm Trịnh Lâm Ngân, một ca khúc cảm động nói về tình mẫu tử của người con nơi phương xa nhớ về người mẹ ở nơi quê nhà xa xôi:


Click để nghe Chế Linh hát Mùa Xuân Của Mẹ trước 1975

Mẹ ơi hoa cúc hoa mai nở rồi
Giờ đây đời con đang còn lênh đênh
Đèo cao gió lộng ngày đêm bạt ngàn
Áo trận sờn vai bạc màu
Nhìn xuân về lòng buồn mênh mang

Yêu Một Mình

Bài hát viết về tình yêu không thành vì sự “môn đăng hộ đối”, vì khoảng cách to lớn của giàu và nghèo giữa 2 người. Tình yêu trong bài hát chỉ là sự đơn phương của chàng trai, yêu nhưng không dám nói, vì tự biết thân phận mình hèn mọn, không thể mang đến một cuộc sống đầy đủ, tương xứng với người mình đã phải lòng.

Nhà em có hoa vàng trước ngõ
Tường thật là cao, có cây leo cây kín ngoài
Nhà anh cuối con đường ngoại ô
Vách thưa đèn dầu thắp, gió lùa vào từng đêm

Tuổi em cũng như hoa mới nở
Vạn người thầm mong được đưa đón chân em
Xót xa anh còn trắng tay hoài
Sách đèn nợ chưa dứt, nên lận đận truân chuyên


Click để nghe Dạ Hương hát trước 1975

Qua Cơn Mê

Bài hát này không được 2 nhạc sĩ kỹ bút danh Trịnh Lâm Ngân như các bài hát viết chung khác, mà ghi là Trần Trịnh – Nhật Ngân. Hai nhạc sĩ nổi tiếng đã cùng hợp soạn bài này khi nghe tin về hiệp định Paris đang được đàm phán vào đầu thập niên 1970, với niềm tin tưởng về một ngày thanh bình đang đến rất gần trên quê hương, sẽ đi qua hết được một cơn mê dài…

Lúc sinh thời, nhạc sĩ Nhật Ngân đã chia sẻ về bài hát này như sau:

“Tôi cũng như mọi người ở Việt Nam, tôi nghĩ là khi mà hòa bình đến thì mình coi như qua một cơn mê, mình trở về đi học lại, mình làm mọi thứ của tuổi trẻ mình không làm được vì phải nhập ngũ”.


Click để nghe Khánh Ly hát Qua Cơn Mê trước 1975

Một mai qua cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng, tôi lại về bên em
Ngày gió mưa không còn nên đường dài thật dài
Ta mặc tình rong chơi
Cùng nhau ta sẽ đi, sẽ thăm bao nơi xưa, xui một thuở lênh đênh
Ta sẽ thăm từng người, sẽ đi thăm từng đường, sẽ vô thăm từng nhà


Click để nghe Duy Khánh hát Qua Cơn Mê trước 1975

Hồn Trinh Nữ

Có lẽ đây là bài hát duy nhất mà nhóm Trịnh Lâm Ngân phổ từ thơ. Nguyên tác là một bài thơ mang tên Viếng Hồn Trinh Nữ của thi sĩ Nguyễn Bính, được 2 nhạc sĩ lược bỏ đi một số đoạn, nhưng nhìn chung vẫn bám sát nội dung và truyền tải được tinh thần của bài thơ, là cảm xúc của tác giả khi chứng kiến cảnh đưa tiễn một người trinh nữ về cõi vĩnh hằng vào một buổi sáng đầy u ám.


Click để nghe Dạ Hương hát Hồn Trinh Nữ

Một chủ đề quen thuộc của nhóm Trịnh Lâm Ngân là nhạc lính, nhạc viết về thời cuộc. Sau đây là các bài hát nổi tiếng nhất:

Người Tình Và Quê Hương


Click để nghe Giao Linh hát Người Tình Và Quê Hương trước 1975

Lính Xa Nhà


Click để nghe Hương Lan hát Lính Xa Nhà trước 1975

Hát Cho Mai Sau


Click để nghe Duy Khánh hát Hát Cho Mai Sau trước 1975

Lửa Mùa Hạ


Click để nghe Phương Hồng Quế hát Lửa Mùa Hạ trước 1975

Năm 1964, nhạc sĩ Trần Trịnh phát hiện ra giọng ca rực lửa của cô gái mang tên Thu Cúc từ Bình Long. Ông đã đề nghị cô xuống Sài Gòn để thành ca sĩ, đặt cho cô nghệ danh Mai Lệ Huyền, rồi cùng với nhạc sĩ Nhật Ngân sáng tác 1 số bài nhạc “kích động” để cô hát. Sau đó không lâu, Mai Lệ Huyền cũng trở thành vợ của nhạc sĩ Trần Trịnh.

Mời các bạn nghe lại 1 số bài nhạc kích động của nhóm Trịnh Lâm Ngân, thu âm trước 1975:


Click để nghe Gặp Nhau Trên Phố


Click để nghe Hai Trái Tim Vàng


Click để nghe Mắt Xanh Con Gái

Sau năm 1975, nhạc sĩ Nhật Ngân vẫn sáng tác nhiều, đặc biệt là ông viết lời Việt cho rất nhiều ca khúc ngoại quốc nổi tiếng, trong khi đó thì nhạc sĩ Trần Trịnh gần như là ngưng sáng tác. Tuy nhiên vẫn có ca khúc hiếm hoi 2 người viết chung, đã nổi tiếng và gắn liền với giọng hát của cố ca sĩ Phi Nhung, đó là Chiều Qua Phà Hậu Giang:


Click để nghe Phi Nhung hát Chiều Qua Phà Hậu Giang

Bản quyền bài viết của nhacxua.vn
Published under copyright license

Văn chương – chữ nghĩa trong ngày Tết xưa của người Việt: Một vài phong dao và câu đối Tết

Những bài viết sau đây rất đặc biệt. Thứ nhất, nó mang văn phong của ngôn ngữ Việt hồi gần một thế kỷ trước, được viết vào thời kỳ chữ quốc ngữ bắt đầu phổ biến ở trong sách báo, nên sẽ có sự khác biệt rõ rệt với chữ nghĩa hiện nay.

Thứ hai, những bài viết này mang tính châm biếm sự mê tín và những hủ tục trong ngày Tết của người Việt hồi đầu thế kỷ 20, hoặc là mang tư tưởng ủng hộ bỏ Tết Ta để chuyển sang ăn Tết Dương Lịch, giống như nhiều ý kiến của thời nay.

Bài viết này có sử dụng một số từ Việt cổ mà ngày nay hầu như không còn ai dùng tới, thí dụ như chữ “chính sóc”, nghĩa là ngày mùng 1 Tết âm lịch, “học biệc” nghĩa là “có học”, “trước Jésus” nghĩa là trước Công Nguyên…

Một ít phong dao về ngày Tết và mùa xuân

Cái chính sóc theo âm lịch mà nước ta xưa nay đó là của Tàu. Song cái chính sóc ấy người Tàu cũng mới nhất định độ 2200 năm trở lại đây chớ hồi trước thì có thay đổi nhiều lần.

Hồi nhà Hạ (2250 trước Jésus) vẫn theo chính sóc đời xưa, kiến Dần, nghĩa là lấy tháng Giêng làm đầu năm như lịch bây giờ. Đến nhà Thương (1783 trước Jésus) lại kiến Sửu, lấy tháng Chạp làm đầu năm. Đến nhà Chu (1134 trước Jésus) kiến Tý, lấy tháng 11 làm đầu năm. Nhà Tần lại đổi chính sóc lần nữa, kiến Hợi, lấy tháng mười làm đầu năm. Cho đến sau nhà Hán mới bỏ kiến Tý mà đi theo kiến Dần như nhà Hạ, từ đó tuân hành luôn hơn hai nghìn năm cho đến Dân Quốc mới theo Dương lịch.

Nước ta từ hồi có sử thì lấy kiến Dần luôn, chớ không có sự thay đổi chi như Tàu; còn về hồi chưa có sử như đời Hùng Vương thì chính sóc của ta thế nào, thật không biết được.

Bởi vì theo sử ta không đủ mà khảo cứu, nên nhắc sơ một đoạn lịch sử về sự thay đổi của chính sóc của Tàu như trên kia để cho biết rằng cái ngày Tết đời xưa nó đã thay đổi nhiều phen, chớ không phải nhất định.

Ngày Tết đời xưa đã thay đổi mà không có nhất định thì nếu sau này ta bỏ Âm lịch mà theo Dương lịch cũng là một sự thường chẳng lấy chi làm lạ vậy, ấy cHỈ vì sự cần dùng theo thời đại mà thôi.

Sự theo Dương lịch chắc rồi đây cũng phải theo. Nếu vậy thì cái ngày Tết âm lịch sau này rồi nó sẽ thành đồ cổ, chỉ để làm vật cho người ta khảo cứu. bởi nghĩ như thế, tôi mới lượm lặt mấy câu phong dao có quan hệ với ngày Tết mà viết bài này, hầu để làm tài liệu cho ai muốn khảo cứu về sau.

Ngày Tết chỉ vào ba ngày mồng một, mồng hai, mồng ba của tháng Giêng năm mới, nhưng từ bữa ba mươi của tháng Chạp năm cũ cũng đã kể ra Tết rồi, mà ngày ấy lại là ngày quan hệ hơn ba ngày sau nữa. Vì người ta phải chạy tiền, chạy gạo, mua sắm mọi vật trong ngày ấy; rồi qua đến ba ngày sau chỉ ngồi đó mà ăn thôi.

Bởi vậy có câu:

Có không, mùa đông mới biết, giàu nghèo ba mươi Tết mới hay

Lại có câu:

Khôn ngoan đến cửa quan mới biết; giàu nghèo ba mươi Tết mới hay

Người ta làm ăn khó nhọc quanh năm, chỉ có ba ngày Tết là ngày ăn chơi sung sướng, theo tục ta là như vậy. Bởi vậy, dầu kẻ nghèo khó đến đâu nữa cũng phải sắm ăn trong ba bữa ấy cho sung túc, do đó mới có câu này:

Đói hòng ᴄhết, ba ngày Tết cũng no

Chẳng những vậy thôi, lại còn chỉ lo trong ba ngày ấy cho no, những ngày khác đói thây kệ! Người ta mới dám mạnh miệng nói rằng:

No ba ngày Tết, đói ba tháng hè

Ba tháng hè tức là ba tháng mùa hạ. theo ngoài Bắc, ba tháng hè là ba tháng chưa đến ngày mùa, cũng có lẽ đói thật.

Sở dĩ như vậy thì tại theo tư tưởng người mình thì đời người ta duy có gần Tết là sướng hơn hết, là quan trọng hơn hết, bởi có nói rằng:

Sống, ngày Tết; ᴄhết ngày giỗ

Nhưng sướng thì sướng mà phải lo:

Tết đến sau lưng, ông vải thì mừng con cháu thì lo

Nói thì như vậy, chứ kỳ thật bao nhiêu của cúng cấp ngày Tết rồi cũng con cháu xơi hết chớ ông vải nào có được chi? Tuy vậy Tết nhất thì thế nào cũng nghĩ đến việc ông bà trước đã, trong đó đủ thấy cái thói tục trọng tổ tiên của người mình vậy.

Thịt heo là món ăn chính của người mình, mà duy có ngày Tết thì nhà nào cũng có, nên anh thầy bói mới đoán tiên tri cho cô kia mà rằng:

Số cô chẳng giàu thì nghèo, đến ba mươi Tết thì có thịt heo trong nhà

Dầu nghèo đi nữa, đến ba mươi Tết thì có nhiều bánh chưng, cũng như trong Nam nhiều bánh tét, nhiều đến nỗi thấy mà chán không muốn ăn, nói rằng:

Dửng dưng như bánh chưng ngày Tết

Ngày Tết chỉ có ăn với chơi. Hết ăn rồi đến chơi.

Cái Tết lại trúng nhằm mùa xuân, là mùa ấm áp vui vẻ, hợp với sự chơi lắm. Người ta giục nhau chơi mà nói rằng:

Ai ơi chơi lấy kẻo già, măng mọc có lứa, người ta có thì.
Chơi xuân kẻo hết xuân đi, cái già xồng xộc nó thì đến sau!

Thiệt vậy, theo tâm lý người mình cũng như mọi người thiên hạ, cũng cho cái xuân là đẹp, là quý, nó đi đi là đáng tiếc:

Một năm là mấy tháng xuân?
Một ngày là mấy giờ dần sớm mai?
Năm kia dễ mấy mùa xuân?
Đỏ kia hầu dễ mấy lần đặt tên?

Một năm chưa dễ mấy xuân?
Gái kia chưa dễ mấy lần đưa dâu?

Huống chi:

Một năm một tuổi, như đuổi xuân đi!

Xuân qua mà tuổi của người ta cũng qua màu nhan sắc và có sức vóc, cũng một ngày một kém thì không chơi cũng phí mất một đời…

Song le, chúng ta đương ngày nay, ở trong cái tình cảm này, ở trong cái đời sanh hoạt khó khăn này, mà ăn làm sao? Mà chơi làm sao? Mà vui sướng làm sao? Dẫu có một đôi người ăn chơi vui sướng đi nữa, khi nghĩ đến phần đông đồng bào đương sống cơ cực, chân lấm tay bùn kia, mà chẳng đau lòng vì xuân sao được?

Tác giả: Hùng Sơn, đăng trong Sách chơi xuân năm Tân Vị do Nam Kỳ Thư Quán xuất bản ở Sài Gòn năm 1931.

Tết dán câu đối

Tục nước ta, cứ đến Tết Nguyên Đán là các nhà thường hay dán câu đối:

Nhập thế cuộc bất khả vô văn tự
Chẳng hay họ cũng phải dự một bài
Huống chi người có sẵn văn tài
Ngày Tết lại chẳng một hai câu đối

Ấy là người có văn tài mà giở ra thì còn dễ chịu, chứ nhiều ông “không có gì” mà cũng “gọi là một chút” rồi cũng một hai câu đối thì câu đối của ông ấy chửi đời lắm. Cũng vì thấy nhiều câu thực “chẳng ra gì” mà cũng viết, cũng dán nên đã có người làm một câu dán mỉa đời rằng:

Tết có gì, cũng viết loài viết xoài, cũng chữ hoài, dửng với họ ra điều học biệc!
Xuân thì chơi, nào câu đối câu điếc, nào pháo phiếc, chán cho đời những sự tết tung.

Rõ ra cái ý mỉa đời mà lại khéo dùng được nhiều những tiếng dịp đôi. Nhưng mỉa thì mỉa, ai chơi vẫn cứ chơi, cái thói dán câu đối Tết vẫn chưa bỏ được hẳn, nên cứ cuối năm các ông đồ, bác khóa là đã vác chiếu, vác mực, vác nghiên, vác bút ra ngồi ở hè phố “viết loài viết xoài” cũng kiếm được món tiêu.

Theo bà Thanh Quan thì dân ta phần đông là có duyên nợ với văn chương cả:

Duyên với văn chương nên dán chữ
Nợ gì trời đất phải trồng nêu

Cái thói dán chữ bảo để còn được, chứ cái thói trồng nêu thì còn giữ làm gì. Trồng nêu, treo mũ, hoặc giắt cành đa, bảo là theo phù thủy pháp môn để cho quỷ nó biết rằng đất mình ở đây cũng là đất của Phật mà nó sợ không dám đến quấy nhiễu; nhưng, quỷ nào? Rõ mê tín hão huyền thật. Câu trên này chính là ý bài bác cái thói hủ ấy.

Lại còn cái thói cứ đến Tết là đốt không biết bao nhiêu là pháo mà phần nhiều là mua của Tàu cả, thực là “gánh vàng đi đổ sông Ngô”. Bây giờ có pháo của Tây làm, đốt khét lẹt, rõ là mua lấy cái dại.

Một thói hủ nữa là cứ đến tối 30 thì đem vôi bột rắc, vẽ hình cung tên ra ngoài cửa, bảo là theo phép của đức Văn Thù Bồ Tát để nạt quỷ dạ xoa… thêm bẩn cả mắt. Nhịn chẳng được, Tú Xương làm một câu, kêu:

Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
Nhân tình trắng thế lại bôi vôi.

Thực ngụ ý bài trừ thói hủ, huyền hoặc vô lý ấy đi mà lại có ý than thở cho thiên hạ nhân tình lắm.

Hay là bảo đốt pháo, trồng nêu cho bọn mù nó biết là đến Tết, biết là đã xuân. Nhớ câu của Nguyễn Công Trứ làm cho một anh thầy bói rằng:

Tối ba mươi, dờ cẳng đụng cây nêu, ờ Tết
Sáng mùng một, lắng tai nghe tiếng pháo, hừ xuân!

Tài là ra được giọng thầy bói ngây ngô chẳng biết rõ lúc nào là xuân, lúc nào là Tết, đến khi nghe thấy pháo, đụng phải nêu mới hay, thực là ngớ ngẩn.

Tài tình nữa là Yên Đỗ, gần Tết có anh hàng thịt nọ đem biếu cụ bát tiết canh và đôi bồ dục để xin câu đối, cụ liền tức cảnh đọc ngay:

Tứ thời bát tiết canh chung thủy
Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang.

Nghĩa là bốn mùa tám tiết thay đổi thủy chung; gặp mùa xuân đến thì cây bồ liễu đều ý muốn điểm trang xuân sắc cả. Rõ thật là tả cảnh đầu xuân năm mới mà khéo dùng được những tiếng “bát tiết canh, đôi bồ dục” để ám chỉ nhà hàng thịt lợn.

Lại câu:

Uẩy ấy ai vặn máy tuần hoàn, đưa thoi ngọc để xoay trời đất lại,
Ừ mới biết rằng tay tạo hóa, tuông then xuân cho rạng nước non ra.

Và câu dán cửa:

Không dưng xuân đến chi nhà tớ
Có lẽ trời nào đóng cửa ai

Thì ý từ đều lưu loát cả, mà giọng văn đọc lên nghe thực mới. Câu dưới ý nói đầu năm xuân mới tới, trời mở cửa cho mọi sự gặp may cả, mà không phải dùng đến điển cố.

Lại câu sau này:

Uẩy! Tết đến rồi đó, chả lẽ giơ cùi cùng tuế nguyệt,
Kìa! Xuân sang đó nhỉ, phen này mở múi với giang san.

Nguyên là của một người học trò, Tết đến chỉ có một quả bồng nên mới có những tiếng “giơ cùi, mở múi” mà lại tả nghĩa nghèo kiết, chả lẽ giơ cùi ngồi xuống, tất cũng có ngày mở múi mà ra mặt mới đời. Đối đã hay lại có khẩu khí, hách dịch.

Cứ nói đến “khẩu khí” thì lại nhớ đến Lê Thánh Tông. Gần Tết vua ăn mặc thường để đi xem xét nhân tình, qua một nhà kia vẫn thấy quạnh hiu không trang hoàng câu đối câu điếc gì cả.

Vua liền rẽ vào hỏi thì chủ nhà nói là vì làm nghề hèn hạ nên không dám dán chữ và bầy biện gì. Vua trông quanh nhà thì thấy ở một góc kia có chiếc cập tre và chiếc áo tơi, chừng đã hiểu nên bảo ngay nghề gì chả là nghề, lấy phân chả là nghề sao, sao lại tự hạ thế, để ta làm cho đôi câu đối. Chờ người đó lấy giấy bút lại, vua liền viết:

Ý nhất nhung y, đởm thế gian chi nan sự
Đề tam xích kiếm, thu thiên hạ chi nhân tâm.

Nghĩa nói: Khoác chiếc áo tơi, đảm đang việc khó ở thế gian; Cầm ba thước kiếm thu hết lòng người trong thiên hạ. Rõ là ra khí tượng ông vua mà tả được việc gắp phân là việc rất khó, mấy ai dám làm, thế mà khoác chiếc áo tơi, cầm cái cập tre (trông như thanh kiếm) đảm đang được việc.

Nguyễn Hữu Chỉnh, ta thường quen gọi là Cống Chỉnh, nhân ngày Tết cũng làm hai câu dán cửa:

Mở khép càn khôn, có ra tay mới biết
Ra vào tướng tướng, thử liếc mắt mà coi.

Cũng có cái ngữ khí người anh hùng lắm. Về sau ông đem Tây Sơn ra Bắc Hà diệt Trịnh phù Lê, làm xoay chuyển cả đất trời (mở khép càn khôn), các quan khanh tướng đều phải khiếp sợ (ra vào tướng tướng).

Còn cái “cánh càn khôn” và cái “then tạo hóa” của Xuân Hương thì lại khác:

Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, kẻo nữa ma vương đưa quỷ tới,
Sáng mồng một, ngỏ then tạo hóa, để cho thiếu nữ rước xuân vào.

Tuy cũng là ngụ ý chỏ then cửa với cánh cửa, mà lại trỏ… có ý lẳng lơ.

Đến câu dán cánh cửa nhà cô Tư Hồng của Yên Đỗ làm cho, đọc mới thấy nhiều kỳ thú:

Mở toang ra toác toạc toàng toang, nền tạo hóa chỉa ra đôi mảnh
Khép khít lại khìn khin khít khịt, máy âm dương đưa đẩy một phen.

Câu đối mà dùng được những tiếng tục ngữ để ghép lại thành thì thực là tài như câu dưới này, không nhớ được là của ai, làm để dán nơi điếm sở trong làng:

Cấm đình, cấm đáo, cấm pháo thăng thiên, cấm tiền xóc ống, cấm búng sa quay, cấm xoay thò lò, cấm tuốt
Có bầu, có bạn, có ván cơm xôi, có nồi cơm nếp, có đệp bánh chưng, có lưng hũ rượu, có gì.

Còn cảnh chùa làng. Ta xem câu đối dán Tết của một nhà sư dưới đây cũng đủ rõ:

Lá phướn phất ngang trời, bốn bể đều trông nêu Phật,
Tiếng chuông kêu dậy đất, năm châu cũng tưởng pháo sư.

Cảnh trường học. Truyền rằng Cao Bá Quát khi làm Giáo thụ, nhân ngày Tết làm dán nhà trường:

Mô phạm năm ba thằng mặt trắng
Đỉnh chung chiếc rưỡi cái lưng vàng.

Mặt trắng là người học trò (bạch diện thư sinh), lưng vàng là lương quan Giáo, ngày xưa chỉ ăn độ một hộc rưỡi gạo vàng mà thôi. Nhân tài như thế mà đãi một cách như thế, đỉnh chung, mô phạm nỗi gì, đến ai mà không oán vọng…

Tác giả: Lê Tràng Kiều, đăng trong Tập Văn xuân năm Giáp Tuất của Vị Giang văn khố năm 1934

2 câu đối treo trên tường nhà

Một vài câu đối xưa:

Chiều ba mươi nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
Sáng mồng một rượu say túy lúy, dang tay bồng ông Phúc vào nhà.

(Nguyễn Công Trứ)

Có là bao? Ba vạn sáu ngàn ngày được trăm bận tết.
Ước gì nhỉ? Một năm mười hai tháng cả bốn mùa xuân.

(Nguyễn Khuyến)

Nực cười thay! nêu không, pháo không, vôi bột cũng không, mà tết!
Thôi cũng được! rượu có, nem có, bánh chưng vẫn có, thừa chơi!

(Tú Xương)

Tết tung túng tắng tiền tiêu Tết.
Xuân xiếc xênh xang sắm sửa Xuân.

(Nguyễn Bính)

Hoa đào toét miệng báo xuân sang; mở cửa đón xuân, xuân: chào chủ!
Quả mứt đậy ngăn chờ khách đến, pha trà thết khách, khách: mời em!

(Hoàng Quảng Đức – 1933)

Tối ba mươi, quét cảnh tàn đông. đem nét mực xóa nhòa tranh vũ trụ
Sáng mồng một, đón mừng xuân mới, đốt pháo hồng lấp hẳn cuộc tang thương.

Ngoài vườn thúy con oanh chúc Tết,
Trong nhà xuân nét chữ đề thơ

Tháng trước đã mời đi, vì ông Táo ngủ quên làm bếp cháy,
Xuân này không cúng nữa, bởi thần Tài ăn đút để buôn thua.

(Nguyễn Văn Tiến 1935)

fb.com/1xuaxua

 

 

Nguyễn Bính và “Những Bóng Người Trên Sân Ga” – Những cuộc chia lìa khởi từ đây…

Nói đến Nguyễn Bính – nhà thơ “hương đồng gió nội“ – dường như người Việt Nam thuộᴄ thế hệ 8x trở về trướᴄ, không ai là không thuộᴄ dăm ba ᴄâu thơ ᴄủa ông. Nhiều ᴄâu thơ ᴄủa ông đã ru vàᴏ lòng người, làm ᴄhᴏ nhiều người tưởng đó là ᴄa daᴏ.

Cuộᴄ đời ᴄủa Nguyễn Bính ᴄùng khổ, phiêu bạt giang hồ. Ông sinh năm 1918 tại Nam Định, mất năm 1966 tại quê nhà, ᴄhỉ thọ ᴄó 48 tuổi, nhưng ông đã để lại ᴄhᴏ đời hàng ngàn bài thơ, mà bài nàᴏ ᴄũng hay ᴄũng rung động người đọᴄ. Nguyễn Bính viết rất nhiều thể lᴏại, từ kịᴄh, truyện ký, truyện thơ. Nhưng ᴄó lẽ hay nhất là những bài thơ ông viết về nông thôn, về đồng quê.

Hầu như những năm tháng tuổi trẻ ᴄủa ông gắn liền với Nam bộ, với Hà Tiên, nơi ᴄó những nhà thơ Đông Hồ, nữ sĩ Mộng Điệp, nhà thơ Kiên Giang. Họ là những người bạn thân tình ᴄủa ông, giúp đỡ ông từ vật ᴄhất ᴄhᴏ đến tình ᴄảm, trᴏng những năm tháng phiêu bạt giang hồ. Những ngày lang bạt, giang hồ ấy đã gây ᴄhᴏ ông nhiều ᴄảm hứng viết nhiều bài thơ thật ᴄảm động, và rung động lòng người. Tiêu biểu ᴄhᴏ những ᴄuộᴄ ᴄhia ly đứt ruột, xé lòng này ᴄhính là bài “Những Bóng Người Trên Sân Ga”, là một trᴏng những bài thơ hay nhất nói về sự ᴄhia ly ᴄủa thi ᴄa Việt Nam, kể từ khi xuất hiện thơ mới đến nay.

“Sân ga” ᴄũng là hình tượng rất quеn thuộᴄ trᴏng âm nhạᴄ, đặᴄ biệt là nhạᴄ vàng. Công ᴄhúng ᴄhᴏ đến nay vẫn say mê ᴄáᴄ ᴄa khúᴄ Chuyến Tàu Hᴏàng Hôn, Tàu Đêm Năm Cũ, Hai Chuyến Tàu Đêm, Buồn Ga Nhỏ, Chiều Sân Ga, Người Tình Không Đến… Ca sĩ Hᴏàng Oanh đã nhiều lần ngâm nột đᴏạn trᴏng bài thơ Những Bóng Người Trên Sân Ga trướᴄ khi hát những ᴄa khúᴄ nhắᴄ đến những tiếng ᴄòi tàu và sân ga này.

Nếu ᴄó hình ảnh nàᴏ mà khi nhắᴄ tới là đều gợi lên một nỗi niềm ᴄhia ly buồn nhưng đầy tính lãng mạn, thì đó ᴄhính là hình ảnh đường ray, sân ga và những ᴄhuyến tàu.

Không ᴄó gì đau khổ day dứt bằng sự ᴄhia ly. Sự ᴄhia ly ᴄủa tình yêu, ᴄhia ly ᴄủa tình mẹ ᴄᴏn, ᴄhia ly ᴄủa tình ᴄhị еm ᴄhᴏ đến sự ᴄhia ly ᴄủa tình bạn. Đôi khi là sự ᴄhia ly ᴄủa ᴄhính bản thân mình. Nguyễn Bính đã lấy sân ga, ᴄᴏn tầu để diễn tả những ᴄuộᴄ ᴄhia ly thựᴄ. Sân ga trᴏng thơ ông ᴄó khi rất thựᴄ, nhưng ᴄó khi là sân ga trᴏng lòng ông, trᴏng lòng người đọᴄ.

Mở đầu bài thơ bằng vài nét ᴄhấm phá, nhà thơ ᴄhᴏ ᴄhúng ta thấy những ᴄuộᴄ ᴄhia ly đau đớn đến xé lòng. Ông đã dùng hình tượng, đàn đứt dây để nói lên những ᴄuộᴄ ᴄhia ly này (đàn đứt dây thì làm saᴏ nối lại đượᴄ – ᴄó kháᴄ ᴄhi sự ᴄhia ly đau đớn không ᴄó gì bù đắp). Bắt đầu từ sân ga này (là thựᴄ) hay sâu thẳm ᴄủa những trái tim (nghĩa bóng) – Những ᴄuộᴄ ᴄhia ly đã và đang diễn ra:

Những ᴄuộᴄ ᴄhia lìa khởi từ đây
Cây đàn sum họp đứt từng dây
Những đời phiêu bạt thân đơn ᴄhiếᴄ
Lần lượt thеᴏ nhau suốt tối ngày

Có lần tôi thấy hai ᴄô bé
Sát má vàᴏ nhau khóᴄ sụt sùi
Hai bóng ᴄhung lưng thành một bóng
Đường về nhà ᴄhị ᴄhắᴄ xa xôi…

Vàᴏ bài, ta bắt gặp hình ảnh hai ᴄô bé tiễn biệt nhau ở sân ga. Nguyễn Bính gọi là “hai ᴄô bé” nên ᴄó thể họ nhỏ tuổi hơn nhà thơ. (Bài thơ này Nguyễn Bính viết năm 1937, lúᴄ đó ông mới 19 tuổi). Hai ᴄô bé ᴄòn tuổi họᴄ trò. Nhưng tại saᴏ họ phải xa nhau? Có người ᴄhᴏ rằng: “Họ ᴄòn rất trẻ với tình ᴄảm thơ ngây, ᴄòn nᴏn nớt, ᴄó thể phải bỏ trường họᴄ để đến trường đời, ᴄhưa biết nơi nàᴏ sắp phải đến…” Tuy nhiên ᴄâu thơ “Đường về nhà ᴄhị ᴄhắᴄ xa xôi…” làm ᴄhᴏ tôi nghĩ phải ᴄhăng họ là hai ᴄhị еm? Cô еm tiễn ᴄô ᴄhị đi làm ăn xa, hᴏặᴄ về nhà ᴄhồng? (năm 1937 ngày đó ᴄòn tảᴏ hôn, quả thật là những lời ru buồn).

Hình ảnh áp má, ᴄhung lưng, gợi ᴄhᴏ ta một ᴄảm giáᴄ vô ᴄùng lưu luyến, day dứt thơ ngây khi họ phải tiễn đưa nhau. Tình ᴄảm hai ᴄô bé là hai nhưng đã quyện thành một. Sự giằng xé đó làm ᴄhᴏ hai trái tim nᴏn nớt phải ᴄhơi vơi. Và ᴄᴏn tầu kia sẽ đưa một trᴏng hai ᴄô về đâu?

Có lần tôi thấy một người yêu
Tiễn một người yêu một buổi ᴄhiều
Ở một ga nàᴏ xa vắng lắm
Họ ᴄầm tay họ bóng xiêu xiêu

Rồi đây nữa, với từ “một“ đượᴄ lặp đi lặp lại gợi lên sự đơn lẻ ᴄủa hai ᴄᴏn người lúᴄ ᴄhia ly. Lời thơ trầm buồn, đâu đây mang hơi thở ᴄủa âm nhạᴄ, Nguyễn Bính đã dựng lại tᴏàn bộ một ᴄuộᴄ ᴄhia ly ᴄủa một người tình với một người tình. Với nỗi buồn man máᴄ, bùi ngùi đơn lẻ.

Buổi ᴄhiều là sự báᴏ hiệu sắp kết thúᴄ một ngày, ᴄũng như ᴄuộᴄ tình ᴄủa họ sắp đi qua ᴄhăng? Họ ᴄó những ᴄhuỗi ngày sống bên nhau thật êm đềm, hạnh phúᴄ, ᴄó lẽ nàᴏ ngày vui đã hết, giờ ᴄhia ly đã đến. Hình ảnh ᴄhiều tà, là thời gian, không gian như nghẹt lại, gợi ᴄhᴏ ta đó là ᴄuộᴄ ᴄhia ly thật nặng nề. Lại một ᴄặp láy từ “Họ ᴄầm tay họ“ thật mᴏng manh “Bóng liêu xiêu“. Dường như tình yêu đã vuột ra khỏi tầm tay họ.

Cũng trên sân ga ấy, Nguyễn Bính ᴄũng bắt gặp đôi bạn thân tiễn đưa nhau. Họ quyến luyến như không muốn rời xa nhau. Người đi đã yên vị trên tầu, người tiễn muốn kéᴏ thời gian lại. Người đi lᴏ lắng ᴄhᴏ bạn, nên giụᴄ bạn về ba bốn lần. Nhưng người tiễn đưa lᴏ lắng, lưu luyến ᴄũng không kém. Để rồi trời đã tối, bóng nhòa trᴏng bóng, nhùng nhằng ᴄhưa ᴄhịu ᴄất bướᴄ:

Hai ᴄhàng tôi thấy tiễn đưa nhau
Kẻ ở sân ga kẻ ᴄuối tàu
Họ giụᴄ nhau về ba bốn bận
Bóng nhòa trᴏng bóng tối từ lâu

Hình ảnh họ nhòa trᴏng bóng tối như hòa quyện trᴏng ᴄhung rượu đầy để ᴄùng nhau uống ᴄạn. Tình bạn rất đời thường, nhưng ᴄó gì đẹp hơn thế?

Có lần tôi thấy vợ ᴄhồng ai
Thèn thẹn ᴄhia tay bóng ᴄhạy dài
Chị mở khăn trầu anh thắt lại
Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!


Một lần kháᴄ trên nẻᴏ đường giang hồ ᴄủa mình, nhà thơ đã bắt gặp một ᴄặp vợ ᴄhồng, tiễn biệt nhau trên sân ga. Họ thẹn thùng không dám ᴄùng nhau sánh bướᴄ. Dường như họ sợ ai nhìn thấy, kể ᴄả người lạ. Dᴏ vậy người ᴄhồng đi trướᴄ người vợ bẽn lẽn thеᴏ sau: “Thẹn thùng đưa nhau bóng ᴄhạy dài”. Người vợ ᴄởi khăn trầu lấy tiền đưa ᴄhᴏ ᴄhồng, người ᴄhồng thắt khăn lại không lấy. Họ ᴄứ đùn đẩy nhau mãi. Hình ảnh này đã lột tả hết tình thương họ dành ᴄhᴏ nhau. Trᴏng ᴄuộᴄ tiễn đưa ᴄòn ᴄó một người thứ ba, đó là người mẹ, nhưng bà không xuất hiện trên sân ga này. Đưa tiền lại ᴄhᴏ vợ người ᴄhồng nói: “Mình về nuôi lấy mẹ mình ơi”.

Một sự lᴏ lắng hiếu thảᴏ đầy tính nhân văn ᴄủa người nông dân Việt Nam dưới ngòi bút ᴄủa Nguyễn Bính.

Một buổi ᴄhiều tà, với đôi guốᴄ mộᴄ, bộ quần áᴏ nâu nhầu nát, ᴄhuếnh ᴄhᴏáng mеn say, Nguyễn Bính khật khưỡng trên sân ga. Trướᴄ mắt ông một ᴄuộᴄ ᴄhia ly thật ᴄảm động, xót xa. Bứᴄ tranh đó đã đượᴄ ông ᴄhép lại:

Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn ᴄᴏn đi một ᴄhốn xa
Tàu ᴄhạy lâu rồi bà vẫn đứng
Lưng ᴄòng đổ bóng xuống sân ga

Có lẽ không ᴄó hình ảnh nàᴏ từ xưa đến nay làm xúᴄ động ᴄhúng ta bằng hình ảnh người mẹ già tiễn ᴄᴏn ra trận. Trấn ải xa, là nơi biên thùy xa xôi, đầy nguy hiểm. Tầu đã đưa người ᴄᴏn trai đi rồi, nhưng bà ᴄứ đứng như trời trồng. Bà nhìn thеᴏ mãi ᴄᴏn tầu đầy quyến luyến. Sự đau khổ tột ᴄùng đã làm bà gụᴄ ngã xuống sân ga. Hình tượng bà vừa thựᴄ lại vừa như ảᴏ. Lưng ᴄòng đổ xuống bóng sân ga. Lưng bà ᴄòng xuống, hay bà ᴄứ đứng từ lúᴄ bóng ban trưa ᴄhᴏ đến xế ᴄhiều tối (bóng mặt trời ᴄhiều) bóng bà đổ xuống. Nhà thơ đã quan sát và viết lại tình ᴄảnh đau khổ ᴄủa người mẹ khi người ᴄᴏn phải đi xa.

Có sự ᴄô đơn, lẻ lᴏi nàᴏ hơn, khi mình phải đưa tiễn ᴄhính bản thân mình. Giai thᴏại kể, bà Anh Thơ viết trᴏng hồi ký: Bà và ông Nguyễn Bính đã từng yêu nhau, nhưng gia đình bà không ưa thói lãng tử ᴄủa ᴄhàng thanh niên hay thơ. Nguyễn Bính tự ái và ᴄái ᴄhính không thíᴄh ᴄuộᴄ đời gò bó vàᴏ khuôn khổ gia đình nên đã ᴄó một ᴄuộᴄ ᴄhia ly. Ông ᴄô đơn, lặng lẽ ra sân ga, không người tiễn đưa.

Có lần tôi thấy một người đi
Chẳng hiểu về đâu nghĩ ngợi gì?
Chân bướᴄ hững hờ thеᴏ bóng lẻ
Một mình làm ᴄả ᴄuộᴄ phân ly…

Thi sĩ thấy ᴄhính mình lẻ lᴏi với ᴄõi đời này, ᴄô đơn không biết đi đâu, về đâu khi xung quanh trống vắng, và vô định.

Nghе tim mình giá buốt
Hồi ᴄòi xé nát không gian
Xót thương vô vàn
Nhìn thеᴏ bóng tàu dần khuất trᴏng màn đêm… (Sầu Lẻ Bóng – Anh Bằng)

Cᴏn tầu lăn bánh báᴏ hiệu một sự ᴄhia ᴄắt, phân ly. Có những ᴄuộᴄ ᴄhia ly ᴄó ngày gặp lại, và những ᴄuộᴄ ᴄhia ly không baᴏ giờ gặp lại. Phải ᴄhăng ᴄᴏn tầu lăn bánh, nó đang lăn ᴄhính trᴏng lòng người thi sĩ. Nhà thơ như đang thả hồn vàᴏ từng ᴄâu thơ đó:

Những ᴄhiếᴄ khăn mầu thổn thứᴄ bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Nhưng đôi mắt ướt tìm đôi mắt
Buồn ở nơi đâu hơn ᴄhốn này…

Tác giả: Đỗ Trường

100 ảnh hiếm về Tết ở Hà Nội 100 năm trước và tập quán ngày Tết của người Hà Nội xưa

Mời các bạn xem bộ ảnh 100 tấm chụp Hà Nội ngày Tết vào thập niên 1920, tức là khoảng 100 năm trước.

Bộ ảnh lột tả rõ nét văn hóa ăn Tết của người Việt (cụ thể là người Hà Nội) từ nghàn xưa với những cành đào, câu đối, chậu thủy tiên, tranh tứ bình, cây nêu,… Tất cả những nét văn hóa đó có thứ còn, có thứ đã không còn hiện diện trong những ngày Tết của thời hiện đại nhưng tất cả chưa từng mất đi trong tâm trí, trong ký ức của rất nhiều những thế hệ người Việt, trong những câu chuyện kể và đặc biệt trong bộ ảnh đặc biệt quý giá này.

Với mỗi gia đình người Việt từ xưa đến nay, khu vực ban thờ gia tiên luôn là phần được quan tâm nhất, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ. Bàn thờ lúc nào cũng phải được đặt ở gian giữa, khu vực trang trọng và sạch sẽ nhất trong nhà.

Khu vực ban thờ gia tiên được trang hoàng đẹp đẽ và gọn gàng

Vào những ngày Lễ Tết, khu vực ban thờ càng phải trang hoàng kĩ lưỡng hơn, với các loài hoa trái tươi tắn và ngon đẹp nhất, những món đồ phong thủy, bình phong, câu đối,… cũng được sửa soạn, trang hoàng để cầu cho một năm mới an khang, nhiều may mắn sẽ đến với gia đình.

Cây nêu là hình ảnh quen thuộc trong những ngày Tết xưa. Ngày nay, việc dựng cây nêu trước nhà trong những ngày Tết không còn phổ biến nhưng phong tục này vẫn còn xuất hiện rải rác trong nhiều gia đình ở nhiều nơi, đặt biệt là ở khu vực phía Bắc.

Một người đàn ông chuẩn bị cây nêu vào chiều 30 Tết

Thông thường, cây nêu được chuẩn bị vào lúc chiều tối của ngày 30 Tết (thường tầm 7-8 giờ tối). Người ta sẽ chặt lấy một cây tre (hoặc tầm vông) cao khoảng 5-7m, có ngọn hơi rủ xuống, đem róc những cành lá phía dưới chỉ chừa lại phần ngọn rủ; rồi lấy một lá bùa bát quái, cùng một chiếc giỏ nhỏ đựng lá vàng bạc, vôi và trầu cau buộc lên phần sát ngọn. Một số nơi sẽ buộc thêm những chiếc khánh nhỏ hoặc đèn lồng.

Tập tục này xuất hiện dựa theo những quan niệm duy tâm của người xưa rằng: Trên thế gian, mỗi nơi chốn đều có một vị thần trấn nhậm trị yêu quỷ. Tuy nhiên, từ chiều 30  Tết, các chư thần đều bận về chầu trời nên không có ai trị yêu. Ma quỷ nhân dịp này sẽ đi phá phách làng xóm. Và cây nêu được dựng nên với mục đích để trừ ta ma yêu quỷ phá phách, cầu bình an và dẫn đường cho ông bà tổ tiên trở về ăn Tết với con cháu.

Cây nêu sau khi chuẩn bị xong sẽ được đem dựng ở trước nhà.

Người Việt ngày nay vẫn truyền tụng câu nói của ông bà từ ngàn xưa: “Mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết mẹ, mùng 3 Tết thầy”. Đây là câu nói vắn tắt thể hiện tầng bậc lễ nghĩa trong văn hóa chúc tụng ngày Tết của người Việt, đồng thời khẳng định 3 thứ lễ quan trọng nhất mà mỗi người đều cần phải thực hiện trong những ngày lễ Tết là cha mẹ, nội ngoại và những người Thầy. Có thể nói, văn hóa chúc tụng, lễ lạt là thứ văn hóa quan trọng bậc nhất, không thể thiếu trong mỗi gia đình người Việt trong 3 ngày Tết chính.

Thanh niên trong nhà quần áo chỉnh tề xếp hàng chúc Tết người lớn tuổi

Những đứa trẻ được dạy về văn hóa chúc Tết ngay từ khi vừa bập bẹ biết nói.

Những người lớn đến nhà nhau để thăm hỏi chúc Tết.

Những lời chúc tụng sẽ được hai bên lần lượt, vui vẻ nói ra ngay khi những người khách và những người chủ nhà gặp gỡ nhau ở trước cửa nhà.

Từ xa xưa, người Việt đã có truyền thống đốt pháo vào mỗi dịp Tết, đặc biệt là trong đêm giao thừa và sáng mùng một Tết. Nguồn gốc ban đầu của tập tục này là do người ta tin rằng tiếng pháo có thể làm ma quỷ sợ hãi mà bỏ trốn, gia đình nhờ đó sẽ được ăn Tết yên ấm.

Những tràng pháo nhỏ được chuẩn bị để đem ra đốt

Một người đàn ông đang đốt pháo ở sân

Cho đến ngày nay, nhiều người Việt vẫn hoài niệm về những cái Tết rộn ràng tiếng pháo, với xác pháo nhuộm đỏ sân nhà và cái mùi khét khét thân thuộc của thuốc pháo tràn ngập trong không khí mùa Xuân.

Cả đại gia đình quầy quần và háo hức xem đốt pháo

Từ hàng trăm năm trước, khi máy ảnh được người Pháp mang đến Đông Dương, các gia đình giàu có bắt đầu hình thành thói quen chụp ảnh gia đình ngày Tết.

Một gia đình giàu có chuẩn bị chụp ảnh Tết bên tiểu cảnh hòn non bộ

Ngày Tết là dịp tốt nhất để có những bức ảnh gia đình sum họp đông đủ và đẹp nhất. Ai cũng quần là áo lượt còn nhà cửa thì được trang hoàng đẹp đẽ.

Nhắc đến Tết, không thể không nhắc đến đình, đền, chùa chiền,… Người Việt từ xưa tới nay, ngoài thời gian đi chúc tụng bà con, họ hàng, bạn bè luôn dành một phần thời gian trong những ngày đầu năm mới để đến những nơi chốn tâm linh vừa để vãn cảnh, vừa để cầu nguyện cho một năm mới tròn đầy, may mắn.

Khách bộ hành nườm nượp kéo đến Chùa Đông Quang

Trước đền Ngọc Sơn

Đền Ngọc Sơn xưa
Đền Ngọc Sơn là một địa điểm du Xuân không thể thiếu của người Hà Nội từ xa xưa

Dù là từ hàng trăm năm trước thì Tết vẫn là thời điểm người Việt tiêu pha, mua sắm nhiều nhất. Và dĩ nhiên, nơi nhộn nhịp, ồn ào nhất trong những ngày giáp Tết chính là những khu chợ. Dù giàu dù nghèo, mỗi gia đình Việt đều luôn cố gắng sắm sửa, trang hoàng, để các thành viên trong gia đình đều được hưởng một cái Tết ấm no đầy đủ nhất.

Cảnh mua bán đi lại nhộn nhịp diễn ra ở khắp các khu chợ

Hàng hóa chất đầy các gánh hàng, chờ người mua đến mang về

Một người phụ nữ mang theo con nhỏ ngồi bán những bình cây, hoa trang trí ngày Tết

Một góc chợ bán đào, quất nhộn nhịp kẻ mua người bán

Nhắc đến Tết Hà Nội, nhất định phải kể đến chợ Đồng Xuân. Khu chợ nổi tiếng và sầm uất bậc nhất xứ Hà Thành xưa:

Những nải chuối đẹp nhất được bày bán để mọi người mua về bày mâm ngũ quả

Người xe chen chúc ra vào khu chợ chính

Những bó lá giong lớn còn tươi nguyên được gói buộc cẩn thận bày bán khắp nơi trong chợ để mọi người mua về gói bánh

Những sạp hoa đủ loại khoe sắc thắm

Những cành đào lớn được vác đi bán rê trong chợ

Ngày Tết ở Hà Nội nói riêng và ở vùng phía Bắc nói chung, không thể thiếu hoa đào, cũng giống như ở miền Nam không thể thiếu một nhành mai. Hoa đào không chỉ là loài hoa đặc trưng của mùa xuân miền Bắc mà còn mang ý nghĩa về sự tươi mới, sinh sôi nảy nở báo hiệu một năm may mắn, tài lộc thịnh vượng.

Năm 1936, nhà thơ Vũ Đình Liên đã viết một bài thơ nổi tiếng về nghề “viết chữ, câu đối” của những ông đồ trong mỗi dịp Tết với những câu thơ vô cùng xúc động:

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài:
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa, rồng bay”

Ngay từ thời điểm bài thơ ra đời, nghề “ông đồ” với những câu đối đỏ đã trở thành ký ức vàng son trong tâm tưởng của những người hoài cổ. Bởi thời điểm này, chữ nho hầu như đã mất chỗ đứng, không còn được trọng dụng; hệ thống thi cử cũ cũng bị bãi bỏ. Những câu đối đỏ bằng chữ nho đã không còn được ưa chuộng.

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

Nhưng ở thập niên 1920, thầy đồ vẫn còn rất được trọng dụng. Và ngày Tết nhất định không thể thiếu những câu đối đỏ chữ Hán mực Tàu treo trong nhà. Có thể nói đây là những hình ảnh cuối cùng của thời cực thịnh của ông đồ.

Tết nhất cũng là dịp “ăn nên làm ra” của những sạp hàng vàng mã. Thứ vật phẩm tâm linh không thể thiếu trong văn hóa cúng bái của người Việt từ xưa tới nay.

Một quầy hàng bán vàng mã

Có thể thấy, ngay từ thập niên 1920, những vật phẩm vàng mã đã rất phong phú, đa dạng.

Những sạp hàng vàng mã đầy ụ thể hiện sức mua của người dân trong các dịp Tết là rất lớn

Văn hóa Tết của người Việt, ngoài phần Lễ nhất mực quan trọng còn có phần Hội vô cùng phong phú, thể hiện qua các trò chơi dân gian, những lễ hội chỉ xuất hiện duy nhất trong những ngày đầu năm.

Chơi đấu roi
Người dân háo hức tham gia và cổ vũ trong các trò chơi của lễ hội

Một số hình ảnh khác:

Một ông quan trẻ về ăn Tết cùng gia đình

Chơi cờ ngày Tết

Một gia đình tứ đại đồng đường

Ăn cỗ ngày Tết

Những đứa trẻ bận đồ ngày Tết

Đi tảo mộ

Cảnh chia đồ ăn khi xong một bữa ăn cỗ ngày Tết

Tiệm bán nhang

Bài: Đông Kha – fb.com/1xuaxua
Ảnh: manhhai flickr

Chuyện ngày Tết xưa – Tập tính của người Việt trong Tết Nguyên Đán – Bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh năm 1932

Vài năm gần đây, cứ tới dịp đầu năm là trên các diễn đàn trực tuyến, trên mạng xã hội, và cả trên báo chí chính thống, đã có rất nhiều tranh luận về việc có nên “gộp” Tết cổ truyền (Tết Nguyên Đán) vào Tết Dương Lịch hay không. Điều đó có nghĩa là nhiều người đã ủng hộ việc sẽ không ăn tết theo lịch Âm nữa, mà sẽ ăn Tết cổ truyền theo Tây lịch, mục đích là tránh cho dịp nghỉ Tết kéo dài quá lâu, làm gián đoạn sản xuất, giao thương.

Không chỉ vài năm gần đây, mà từ hàng thế kỷ trước, đã xuất hiện nhiều ý kiến về việc nên ăn Tết theo Tây lịch, bỏ lịch âm. Cứ mỗi dịp đầu năm thì những ý kiến đó lại trỗi dậy trên khắp các diễn đàn. Từ khi Việt Nam còn là thuộc địa của Pháp, thậm chí chính quyền thuộc địa còn ban hành sắc lệnh cấm tổ chức một số lễ hội theo lịch âm. Tuy nhiên bất chấp những điều đó, hàng ngàn năm qua người Việt vẫn đón Tết cổ truyền, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.

Một số người còn nói rằng Tết Nguyên Đán là ngày Tết của người Trung Quốc, và chúng ta ăn Tết Nguyên Đán đồng nghĩa với việc chưa thoát khỏi sự “Bắc thuộc” suốt hàng ngàn năm qua.

Không phủ nhận rằng ngày Tết cổ truyền của Việt Nam có thể có liên quan ít nhiều đến Tết Trung Hoa, nhưng quan trọng là đã từ rất lâu người Việt đã cải biến cái Tết thành nét đặc thù và phù hợp với văn hóa Việt Nam. Nguyên nghĩa của từ “Tết” chính là “tiết”. Văn hóa Việt cổ – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước của khu vực Á Đông, do nhu cầu canh tác, đã phân chia thời gian trong một năm thành 24 tiết, ứng với mỗi tiết có một thời khắc “giao thời”. Trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên đán, sau này được gọi thành Tết Nguyên Đán.

Trong các sách sử, nhiều học giả nổi tiếng người Việt đều thừa nhận Tết cổ truyền của người Việt có ảnh hưởng từ Tết của người Trung Hoa. Tuy nhiên gần đây nhiều người lại trích dẫn một số thông tin nói rằng Tết Nguyên Đán có thể xuất xứ từ người Việt cổ. Việc đúng sai chưa rõ, nhưng có một điều chắc chắn rằng từ hàng ngàn năm qua người Việt đã ăn Tết theo kiểu của người Việt, với những nét văn hóa hoàn toàn riêng biệt, độc lập với dân tộc Trung Hoa, và được lưu truyền qua nhiều đời.

Sau đây là bài viết của học giả Nguyễn Văn Vĩnh viết năm 1932, tròn 90 năm trước, nói về tập tính của người Việt trong những ngày Tết. Đây là một tư liệu quý giá để chúng ta hình dung được không khí ngày Tết của người Việt ở thời điểm hàng trăm năm trước, nhìn lại xem là có sự đổi khác so với ngày nay hay không. Qua bài viết này, tác giả Nguyễn Văn Vĩnh, từ 90 năm trước, đã giải thích rõ vì sao người Việt chỉ có thể đón Tết cổ truyền của mình bằng âm lịch dựa theo dựa chuyển động của không gian, của đất trời, mùa màng, chứ không thể đón bằng Tết dương lịch.

Nhà tân học, nhà báo, nhà văn, nhà phiên dịch Nguyễn Văn Vĩnh là một trí thức nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20, được xem là ông tổ của nghề báo ở Việt Nam, cũng là thân phụ của nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Nhược Pháp (tác giả bài thơ Em Đi Chùa Hương). Bài viết sau đây nguyên tác ghi bằng tiếng Pháp, được Du Uyên dịch.

Bất chấp việc chính quyền ra các sắc lệnh bắt buộc phải sử dụng lịch dương, người Trung Quốc và người An Nam vẫn tiếp tục sử dụng lịch âm trong cuộc sống riêng tư của họ, trong quan hệ thương mại và trong hầu hết các văn bản hành chính công.

Mặc dù có những cấm đoán nghiêm khắc nhất, nhưng người Trung Quốc và người An Nam vẫn tổ chức các lễ hội theo âm lịch và đặc biệt là ngày đầu năm mới – một ngày lễ lớn đầy chất thơ và mang tính truyền thống. Trong 3 ngày lễ ấy, mọi người được thoải mái vui cười, bỏ qua những lo lắng phiền muộn, những mối hận thù cá nhân. Ba ngày tĩnh tâm để gợi nhớ tổ tiên, để cho các linh hồn hộ mệnh của họ trở về giữa những người đang sống. Mọi người chỉ xem các chương trình vui nhộn và nghĩ đến những điều hạnh phúc, ăn no uống say, thưởng thức những món ngon trong không khí trang trọng, khoác lên mình những bộ quần áo đẹp nhất, nói những điều đẹp đẽ nhất, trao nhau những điều ước và những lời chúc tụng tốt đẹp. Đó là một sự nghỉ ngơi, một hiệp định đình chiến chấm dứt mọi tranh đấu và ganh đua, một giấc mơ hạnh phúc lớn lao mà cả một dân tộc tự nguyện thực hiện sau một năm đau khổ vì thất bại.

Tôi cam đoan với các bạn rằng, tôi yêu Tết như một đứa trẻ. Vì tôi thấy ớ đó con người sống nhân bản hơn, tốt hơn với đồng loại, hài lòng với chính mình, với mọi thứ và với mọi người. Tôi đặc biệt thích Tết, bởi vì phụ nữ làm cho mình đẹp hơn và để cho mọi người ngưỡng mộ. Tôi vẫn còn thích Tết vì những ngày này người An Nam lại rất yêu hoa. Thông thường người dân nghèo mà quanh năm không có thời gian để ngắm nhìn những gì đẹp đẽ của thiên nhiên và đi ngang qua một cây bông hồng mà không thèm nhìn ngắn, thì đến ngày này tất cả họ đều trở thành nhà thơ và nghệ sĩ, ngay cả trong sự sắp xếp cho ngôi nhà của họ. Ngôi nhà khiêm tốn nhất cũng trở thành một cung điện nhỏ, và người bán trà trở thành một bà chủ vui tính, đặt chiếc chiếu đẹp nhất của mình lên chiếc giường bằng tre để mời bạn ngồi. Tất cả những gì chúng ta có thể tìm thấy mang lại một dáng vẻ chỉnh tề cho những thứ rách rưới nhất.

Nhiều gia đình có bàn thờ gia tiên trông rất kỳ lạ. Đó luôn là những người không giàu có gì. Một cái bàn đơn giản có tấm khăn phủ bên ngoài mà người ta thường có trong gia đình, được đặt sát vào tường, dán thêm một tờ giấy đỏ đơn giản, một vài lễ vật mà người ta đặt bằng cả tấm lòng của mình, tất cả được thắp sáng bằng một bóng đèn nhỏ và tỏa ra mùi nhang thơm ngào ngạt.

Nhưng tại sao tất cả những điều này không thể được thực hiện vào ngày mùng 1 của năm dương lịch? Đó là vì năm dương lịch bắt đầu gần với ngày Đông chí (chỉ mười ngày sau) và hoa của đất nước chúng ta vẫn chưa nở. Những cây mận, đào, mơ mà chúng ta trồng chỉ để lấy hoa, không nở kịp cho đến đầu mùa xuân (ngày mùng 5 tháng Hai theo lịch dương). Những loài hòa quý hiếm đến với chúng ta từ phương Bắc chỉ có thể vượt biển vào những khoảng thời gian tiểu hàn (ít lạnh, ngày mùng 6 tháng Một) và đại hàn (cực lạnh, ngày 21 tháng Một) mới đến được chúng ta. Đó là trường hợp của hoa thủy tiên và hoa mẫu đơn – hai loài hoa được người Trung Quốc gọi là “nữ hoàng của các loài hoa”. Vì vậy, Tết của chúng ta luôn rơi vào sớm nhất là ngày 22 tháng Một và muộn nhất là ngày 22 tháng Hai theo lịch châu Âu.

Thời tiết trong những ngày Tết cũng rất đặc biệt, cho dù trời nóng và khô, hay lạnh và mưa. Nồm (thời tiết nóng) của Tết là một hiện tượng mà chúng ta cho là nguyên nhân làm cho hoa nở quá sớm và làm hư hoa của chúng ta quá nhanh. Nó không giống như nồm của tháng Mười Một và tháng Mười Hai. Tương tự như vậy, cơn mưa phùn băng giá này khiến bạn luôn nghĩ đến việc về nhà khi ra ngoài, đó là trận mưa phùn Tết mà người ta dễ dàng tha thứ cho việc rỉ rả và thấm vào người. Thời tiết này thích hợp với những trò chơi đánh bài kéo dài trong gia đình; hoặc một bữa tối sôi nổi, trong đó mỗi người khách tự nhúng thịt sống, cá, tôm, salad và rau vào trong một nồi nước dùng lớn, sôi sùng sục để trên chiếc lò lớn được đặt giữa bàn (ăn giúng).

Một lý do nữa khiến người dân tổ chức Tết vào ngày mùng 1 tháng Một âm lịch, là do nó tương ứng với khoảng thời gian nghỉ ngơi sau khi kết thúc công việc cấy lúa mùa ở vùng đồng bằng ngập nước (ruộng chiêm). Trong lúc đó, người dân ở các khu vực phía trên sẽ bán hết số dư còn lại của vụ thu hoạch tháng Mười và không còn gì để làm. Vì vậy, bây giờ là thời điểm thích hợp để vui chơi và ăn những gì chúng ta kiếm được ít ỏi trong năm. Các chi phí dùng cho lễ hội này đã được dự trù và lễ này là dịp đo lường sự dồi dào của mùa màng. Nếu điều đó là tốt, những người nông dân sử dụng số dư thừa của họ, và nếu như vụ mùa thất bát, hoặc không bán được lúa thì những người buôn bán nghèo khó không có gì để bán, khó mà trả được nợ.

Vì vậy, đừng lên tiếng phản đối Tết.

Tất cả mọi người cần phải sống khi cây lúa phát triển tốt và bán được giá. Đúng là những người tạo ra của cải này nên thu lợi từ nó và chuyển cho tất cả các ngành nghề khác cùng thu lợi.

Vài nét về tác giả:

Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà tân học, nhà báo, nhà văn, nhà phiên dịch, nhà chính trị Việt Nam đầu thế kỷ 20, được xem là ông tổ của nghề báo ở Việt Nam. Năm 1896, khi mới 14 tuổi ông vào làm thông ngôn ở tòa sứ Lào Cai, năm sau chuyển về Hải Phòng. từ năm 1897-1905, ông làm ở tòa sứ Hải Phòng và Bắc Ninh. Năm 1906, ông gia nhập Hội nhân quyền Pháp, hợp tác in ấn tờ Đại Nam đồng văn nhật báo xuất bản bằng chữ Hán. Năm 1907, tờ báo đổi tên thành Đăng Cổ Tùng Báo và in bằng cả 2 chữ Nho và Quốc Ngữ, ông được cử làm chủ bút. Năm 1909, ông ra tờ Notre Revue bằng tiếng Pháp. Năm 1913 ông làm chủ bút tuần báo Đông Dương tạp chí. Năm 1914, ông kiêm luôn chức chủ bút tờ Trung Bắc tân văn. Năm 1919, Đông Dương tạp chí ngừng xuất bản, thay thế là tờ Học báo do ông làm chủ nhiệm, đồng thời mua tờ Trung Bắc tân văn và cho ra hằng ngày. Năm 1927, ông cùng 1 người khác lập tủ sách Âu Tây tư tưởng. Năm 1929, ông được bầu vào Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương. Năm 1931, ông lập tờ l’Annam Nouveau. Năm 1936, ông sang Lào và mất tại đây.

Tòa soạn báo Trung Bắc Tân Văn của Nguyễn Văn Vĩnh

Nguyễn Văn Vĩnh – Năm Thân 1932. Du Uyên dịch