Lịch sử hơn 60 năm khách sạn Caravelle ở trung tâm Sài Gòn – Bộ sưu tập hình ảnh đẹp ngày xưa

Khách sạn Caravelle được xây năm 1957, khai trương vào dịp Noel năm 1959 và vẫn còn cho đến ngày nay. Ngay từ ban đầu, tầng trệt của khách sạn có văn phòng thương mại của hãng Air France (đến ngày nay vẫn còn sau 1 thời gian gián đoạn sau năm 1975).

Khách sạn Caravelle nằm ở vị trí rất đẹp, trên đường Tự Do nằm sát bên cạnh Opera House, khi đó đang được sử dụng làm trụ sở Quốc Hội

Vị trí xây khách sạn này, trước đó vốn là quán Grand Cafe de la Terrasse, một trong những quán cà phê đầu tiên và nổi tiếng của Sài Gòn từ cuối thế kỷ XIX.

Khách sạn Caravelle được xây dựng với cổ phần của hãng Catinat Foncier, hãng hàng không Air France và Giáo hội Công giáo Việt Nam. Thời điểm xây khách sạn, hãng hàng không của Pháp là Air France vừa mua được một đoàn máy bay phản lực mang tên Caravelle của xưởng sản xuất Sud Aviation, nên đã đề nghị dùng tên “Caravelle” để gọi tòa nhà này.

Khách sạn Caravelle đăng xây gần xong vào năm 1959

Khách sạn Caravelle lúc bấy giờ là tòa nhà hiện đại và cao nhất Sài Gòn, giá một đêm là $17, lầu thứ 8 có quán Jerome, có thang máy, máy lạnh, nước nóng, điện thoại. Vì lý do an ninh, cửa kính dùng loại kính chống đạn. Nằm ngay sát bên cạnh những công trình cổ mang phong cách Pháp là Opera House, Continental Palace, xa hơn một chút là Tòa Đô Chánh, Nhà Thờ, nên khách sạn Caravelle xuất hiện cuối thập niên 1950 trở nên nổi bật vì là tòa nhà hiện đại và cao nhất Sài Gòn thời điểm đó, với giá một đêm là $17, lầu thứ 8 có quán Jerome, có thang máy, máy lạnh, nước nóng, điện thoại. Vì lý do an ninh, cửa kính dùng loại kính chống đạn.

Trong những năm thập niên 1960, Caravelle Hotel là nơi đặt trụ sở của Đại sứ quán Úc, Đại sứ quán New Zealand, và văn phòng đại diện của các hãng thông tấn lớn của Mỹ là New York Times, NBC, ABC và CBS. Đó là thời gian mà khách sạn này được xem là trung tâm của báo chí nước ngoài, nơi nhóm họp của các ký giả kỳ cựu quốc tế, vì nó nằm ngay bên cạnh trụ sở Quốc Hội (thời kỳ 1967-1975 là Hạ Nghị Viện), là trung tâm chính trị của chính quyền miền Nam, đồng thời từ trên sân thượng của Caravelle có thể phóng tầm mắt nhìn bao quát cả thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ.

Ký giả quốc tế trên sân thượng Caravelle

Ngay sau khi đi vào hoạt động, khách sạn Caravelle còn là địa điểm họp mặt của nhóm trí thức và chính khách thời Đệ Nhất Cộng hòa khi họ soạn thỉnh nguyện thư đòi Tổng thống Ngô Đình Diệm cải tổ chính trị để mở rộng nền dân chủ. Bản văn kiện đó được công bố rộng rãi năm 1960, tác động nhiều đến chính trường Miền Nam. Nhóm người đó sau được gọi chung là Nhóm Caravelle.

Khách sạn Caravelle khoảng năm 1992, thời điểm mang tên là khách sạn Độc Lập

Công trình kiến trúc nguyên thủy của thập niên 1950 gồm cao ốc chín tầng (10 tầng kể cả sân thượng) và một tòa nhà kế bên năm tầng, chủ yếu là nhà phụ thuộc chứa các thiết bị máy móc cho cao ốc chính.

Phòng ăn của khách sạn Caravelle

Tầng trệt cao ốc chính có sảnh chờ của khách sạn và văn phòng thương mại của hãng Air France. Phía dưới là nhà hầm. Tầng hai đến tầng sáu là khách sạn, mỗi tầng 13 căn, tổng cộng là 43 căn. Tầng bảy là đại sứ quán của Úc. Tầng tám và chín là nhà hàng. Trên cùng là sân thượng (tầng 10).

Sau năm 1975, khách sạn Caravelle bị chính quyền quốc hữu hóa và đổi tên thành khách sạn Độc Lập, thuộc Tổng công tu du lịch Thành phố. Đến năm 1992, dưới một hợp đồng liên doanh với Chains International Hotels Management Singapore Pte. Ltd, khách sạn chuyển cho Chains-Caravelle và cái tên “Caravelle” được phục hồi. Ban quản lý mới đề nghị phá tòa nhà cũ, xây lại mới nhưng Giáo hội Công giáo Việt Nam – với tư cách là một cổ đông lớn – phản đối và xin chính quyền hoàn lại cơ sở này cho Giáo hội nếu phá hủy công trình cũ.

Cuối cùng các bên thỏa thuận xây một tòa nhà cao 24 tầng xây sát bên cạnh tòa nhà cũ năm 1959 vẫn giữ nguyên.

Mời các bạn xem lại hình ảnh khách sạn Caravalle trước 1975:

Khách sạn Caravelle bên trái hình, bên phải là Phòng thông tin Đô Thành, nhìn từ bên Continental Palace

Tầng trệt của Caravelle là văn phòng hãng hàng không Air France

Hình ảnh trên sân thượng Caravelle:

Những hình ảnh được chụp từ trên Caravelle nhìn ra xung quanh và nhìn xuống dưới đường Tự Do, phía công trường Lam Sơn, Quốc Hội/Hạ Nghị Viện, Eden, Continental…

Sở điện lực bên đường Hai Bà Trưng, nằm sau lưng Hạ Nghị Viện, nhìn từ Caravelle

Thương xá Eden và Continental Palace, phía xa là chóp nhọn Nhà Thờ

Từ Caravelle nhìn ra đại lộ Lê Lợi, bên phải hình là REX Hotel

Đại lộ Lê Lợi và REX Hotel về đêm, nhìn từ Caravelle

Công trường Lam Sơn nhìn từ Caravelle

Công trường Lam Sơn và đại lộ Lê Lợi

Công trường Lam Sơn và thương xá Eden

Một ký giả quốc tế trên tầng cao của Caravelle, bên dưới là phòng thông tin Đô Thành
Từ Caravelle nhìn qua đường Hai Bà Trưng, góc đường Thái Lập Thành (nay là Đông Du), nơi có tòa nhà BGI

Từ Caravelle nhìn xuống đường Tự Do, có thể thấy được Eden, Continental và Nhà Thờ

Đông Kha – chuyenxua.vn
Hình ảnh: manhhai flickr

Bộ ảnh Sài Gòn sau cơn mưa thời hơn 50 năm trước

Mùa mưa ở Sài Gòn bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào những ngày cuối cùng của năm dương lịch. Mưa đầu mùa ở Sài Gòn là những cơn chợt đến, chợt đi, giống như nỗi lòng của cô gái tuổi mới lớn. Mưa Sài Gòn bắt đầu vồn vã vào những ngày tháng 6, như Nguyên Sa từng nói rằng tháng 6 trời mưa, trời mưa không dứt… rồi dầm dề nhất là trong những ngày tháng 7 âm lịch của mùa Ngâu.


Click để xem cảnh mưa trên đường Catinat Sài Gòn thập niên 1940 (gần 80 năm trước)

Những cơn mưa, dù là mưa bụi nhẹ nhàng giăng ngang thành phố, hay là mưa dai dẳng cả ngày đêm, thì cũng đều gợi buồn. Cùng ngắm lại hình ảnh Sài Gòn trong những ngày mưa của ngày xưa, thời điểm hơn nửa thế kỷ trước, chắc hẳn là sẽ mang lại cho mọi người một cảm xúc thật đặc biệt.

Thương xá TAX sau cơn mưa

Bùng binh Bồn Kèn xưa, bên kia là Thương Xá TAX nay chỉ còn là kỷ niệm. Chiếc xích lô đang che dù để khách khỏi ướt mưa

Ngã tư Phan Đình Phùng – Đoàn Thị Điểm (Nay là Nguyễn Đình Chiểu – Trương Định)

Sài Gòn sau cơn mưa. Hình chụp từ bùng binh Chợ Bến Thành nhìn về phía đại lộ Lê Lợi. bên tay phải là Nhà thương thí (Bịnh viện Đô Thành), nay là Bệnh viện đa khoa Sài Gòn

Đường Đồng Khánh trong cơn mưa. Đây là đoạn ngã 3 Đồng Khánh – Châu Văn Tiếp (nay là đường Trần Hưng Đạo B – Trần Xuân Hòa)

Mưa Sài Gòn năm 1971

Bùng binh Nguyễn Cư Trinh – Cống Quỳnh xưa

Trú mưa trước cổng trường đua Phú Thọ

Sài Gòn sau một cơn mưa lớn trên đại lộ Nguyễn Huệ, phía xa là Tòa Đô Chánh

Góc đường Tự Do – Lê Lợi nhìn từ mái hiên của Continental Palace. Bên phải là thương xá Eden, phía xa là Phòng thông tin Đô Thành

Hình ảnh được chụp cùng thời điểm và cùng vị trí với ảnh bên trên. Bên trái là Caravelle Hotel

Mưa trên đường Tự Do (nay là Đồng Khởi), người chụp hình đứng từ Continental nhìn qua Passage Eden

Ảnh chụp từ trên lầu của Continental Palace nhìn xuống Thương xá Eden và công trường Lam Sơn

Mưa Sài Gòn năm 1966 tại ngã tư Lê Lợi – Pasteur, phía xa là ngã tư Lê Lợi – Công Lý

Sau cơn mưa trước chợ Bến Thành

Góc đường Nguyễn Du – Tự Do, phía trước Nhà Thờ

Từ cuối đường Tự Do, phía trước Nhà thờ, nhìn về phía Bưu Điện

Lê đường đằng trước Bưu Điện, bên phải là Nhà Thờ, phía xa là đường Tự Do

Mưa trên đường Catinat (Tự Do) năm 1945

Một số hình ảnh Sài Gòn ngập năm xưa:

Ngập trên đại lộ Lê Lợi

Ngập trên đại lộ Lê Lợi

Góc đường Lê Lợi – Pasteur, bên trái là tòa nhà Viễn Đông, bên phải là Bưu Điện Quận Nhứt (nay là Saigon Centre)

Góc đường Hồng Bàng – Tổng Đốc Phương (nay là Châu Văn Liêm)

Mưa ngập tại ngã tư Lê Lợi – Công Lý (nay là đường NKKN)

Góc đường Công Lý – Lê Lợi. Chú thích tiếng Anh trong tấm ảnh này ghi: 12/6/1968 – MÙA MƯA Ở SÀI GÒN – Khách bộ hành và các xe xích lô lội một con đường Sài Gòn ngập nước trong một cơn mưa lớn mùa mưa. Trận mưa theo mùa trút nước trong khoảng một giờ và mực nước ngầm cao của thành phố đã làm chậm việc thoát nước

Đường Thái Lập Thành (nay là Đông Du). Bên phải là tòa nhà BGI góc Hai Bà Trưng – Thái Lập Thành

Đông Kha – chuyenxua.vn

Tiểu sử “Tivi chi bảo” Phương Hồng Quế

Ca sĩ Phương Hồng Quế là một trong những giọng hát tiêu biểu của thế hệ ca sĩ nhạc vàng sinh vào thập niên 1950, là thế hệ sau cùng của làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975. Cô được báo chí Sài Gòn gọi danh hiệu là “Tivi chi bảo”, là ca sĩ xuất hiện nhiều nhất trên các kênh truyền hình Sài Gòn từ thập niên 1970. Tên tuổi của Phương Hồng Quế gắn liền với các ca khúc Phố Đêm, Lời Trần Tình, Đàn Không Tiếng Hát…

Ca sĩ Phương Hồng Quế tên thật là Nguyễn Thị Quế, sinh năm 1953 tại Tân Định – Sài Gòn. Nghệ danh đi hát của cô được thầy là nhạc sĩ Nguyễn Đức đặt cho, cùng với những nàng ca sĩ tên Phương khác là Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Ngọc, Phương Hồng Trinh…

Cô là người con thứ 2 trong một gia đình gồm “ngũ long công chúa” và 1 người con trai. Trong gia đình, ngoài Phương Hồng Quế theo nghệ thuật, còn có em kế là Mỹ Phương từng một thời gian là thành viên trong ban vũ Lưu Hồng, khi ban này cộng tác với chương trình ca vũ nhạc Hoàng Thi Thơ tại vũ trường Maxim’s vào đầu thập niên 70.

Phương Hồng Quế có năng khiếu ca hát từ nhỏ và thần tượng của cô chính là ca sĩ Phương Dung. Cô thường hát theo thần tượng khi nghe trên đài và được một người bạn của cha đàn mandoline để hát theo. Trong một lần có người anh là nghệ sĩ guitar tới nhà chơi, thấy cô bé Nguyễn Thị Quế mới hơn 12 tuổi hát ngêu ngao, nhận thấy được khả năng của cô nên người anh này xin cha mẹ Phương Hồng Quế cho theo học ở lớp đào tạo ca sĩ của nhạc sĩ Nguyễn Đức rất nổi tiếng thời đó.

Nhờ người anh họ giới thiệu, Phương Hồng Quế đạp xe tới lớp nhạc Nguyễn Đức tại số nhà 223/31 trong hẻm trên đường Vĩnh Viễn để xin theo học nhạc.

Tại lớp học nhạc buổi tối, Phương Hồng Quế được thầy dạy nhạc lý, luyện giọng, có khi được dợt riêng. Chỉ sau 3 tháng, cô được đưa vào hát ở Ban Việt Nhi trên đài phát thanh hàng tuần. Lúc này vì tuổi còn nhỏ nên cô chỉ hát những ca khúc thiếu nhi.


Click để nghe nhạc Phương Hồng Quế trước 1975

Đến khoảng năm 14-15 tuổi, Phương Hồng Quế được đưa vào hát ở ban Sao Băng nữ và bắt đầu chuyển dần sang hát nhạc người lớn. Lúc này cô được nhạc sĩ Nguyễn Đức cho đi hát khắp nơi để quen dần với khán giả và sân khấu, đó là đi hát ở sổ xố rạp Thống Nhất, hát ở tiền đồn và các buổi uỷ lạo chiến sĩ ở khắp nơi.

Chỉ vài năm sau đó, khi mới 16 tuổi, tên tuổi của Phương Hồng Quế đã nổi tiếng khắp miền Nam, và vinh dự được gọi danh hiệu là “Ti vi chi bảo”. Khi đó ở bên cải lương, nghệ sĩ Bạch Tuyết cũng được gọi là “cải lương chi bảo”.

Xuất phát của danh hiệu này, nguyên do là vì từ cuối thập niên 1960, hầu như chương trình nào chiếu trên TV – màn ảnh nhỏ ở miền Nam cũng đều có sự xuất hiện của Phương Hồng Quế.


Click để nghe Phương Hồng Quế song ca cùng Phương Đại bài Hoa Xuân trên đài truyền hình năm 1970. Lúc này cô mới 17 tuổi

Kể từ khi lần đầu xuất hiện trên đài số 7 với chương trình của Nha Động Viên là ca khúc Một Người Đi của nhạc sĩ Mai Châu, từ sau đó Phương Hồng Quế được mời hát trong hầu hết các chương trình ca nhạc trên truyền hình, từ đài quân sự đến dân dự, các chương trình Tiếng Thuỳ Dương của Châu Kỳ, Trường Sơn của Duy Khánh, Thời Trang Nhạc Tuyển của Đỗ Lễ đến chương trình nhạc mang tính chất nghệ thuật của Phạm Mạnh Cương.

Trong một thời gian khá dài, ca sĩ Phương Hồng Quế được coi như là nữ ca sĩ xuất hiện trên truyền hình nhiều nhất. Sự kiện này làm cho giới báo chí đã tặng cho Phương Hồng Quế danh hiệu Ti Vi Chi Bảo, tức là một cái gì đó quý giá ở trên tivi.

Cũng từ cuối thập niên 1960, Phương Hồng Quế đã gia nhập Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương và xung phong đi phục vụ nơi các tiền đồn hẻo lánh.

Sau khi rời Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, Phương Hồng Quế gia nhập Tổng Ủy Dân Vận vào năm 1970 cho đến tháng 4 năm 75. Cũng trong thời gian này, cô được biết đến rất nhiều với nhạc phẩm Phố Đêm của nhạc sĩ Tâm Anh, một trong những nhạc phẩm đã tạo tên tuổi cho Phương Hồng Quế. Cho đến nay trong những chuyến lưu diễn khắp nơi, Phố Đêm vẫn là bài cô được khán giả yêu cầu nhiều nhất.

Thời gian từ năm 1972 đến 1975, Phương Hồng Quế hoạt động sôi nổi trong nhiều lĩnh vực như phòng trà, vũ trường và đại nhạc hội, ngoài những lần xuất hiện liên tục trên các chương trình ca nhạc truyền hình và tham gia vào những chương trình truyền thanh trên cả hai đài Quân Đội và Sài Gòn.

Đó cũng là thời kỳ mà Phương Hồng Quế ở tuổi đôi mươi đã đạt được đỉnh cao trong sự nghiệp, và tiếng hát Phương Hồng Quế đã được thu thanh trên nhiều băng, dĩa nhạc của các trung tâm Nghệ Thuật, Sóng Nhạc, Asia, Dư Âm, Việt Nam,… với nhiều nhạc phẩm tình cảm liên quan đến đời quân ngũ.

Cô ca sĩ xinh đẹp đang ở tột đỉnh của thành công thì cuộc đổi đời năm 1975 diễn ra làm cho cô gần như mất tất cả. Không còn được ca hát, Phương Hồng Quế bắt đầu lao vào cuộc mưu sinh vất vả khi phải đi buôn vải ở chợ cũ, sau đó đến mở tiệm ăn ngay tại nhà, rồi lại chuyển qua bán sách, bán quần áo…

Thời gian sau đó Phương Hồng Quế được trở lại với ca hát, đi theo các đoàn hát đi trình diễn chui tại các tỉnh xa xôi. Đó là các đoàn văn nghệ của Tùng Lâm, Thanh Hoài, Duy Khánh, Ngọc Giao…

Sau đó cô được phép về Sài Gòn hát trong đoàn Duy Ngọc ở rạp Quốc Thanh, nhưng vì cái tên Phương Hồng Quế đã gắn bó quá sâu sắc đến những ca khúc nhạc lính trước 1975 nên cô lấy tên Hồng Yến để đi hát trong thời gian này.

Sau đó Phương Hồng Quế tham gia đoàn kịch nói Kim Cương, từ đó không phải đi diễn xa xôi vất vả ở tỉnh lẻ nữa.

Vào năm 1979, Phương Hồng Quế lập gia đình với bác sĩ Phạm Kỳ Nam mà cô từng gặp trong khi đi công tác ủy lạo thương bệnh binh ở Cần Thơ trước năm 1975, lúc đó ông là đại úy quân y tại Quân Y Viện Cần Thơ. Họ có với nhau 2 người con.

Nam 1985, Phương Hồng Quế cùng hai người bạn hợp tác mở một nhà hàng lấy tên là Phương Hồng trên đường Trần Hưng Đạo. Nhà hàng này nổi tiếng sang trọng, lịch sự và phục vụ tốt, đã trở thành nơi gặp gỡ của những khách hàng thượng lưu và cả Việt Kiều. Từ đó cuộc sống của gia đình Phương Hồng Quế trở nên dễ thở và khá giả hơn.

Tuy đang sống một cuộc sống sung túc, nhưng Phương Hồng Quế vẫn muốn sang Mỹ nhờ một người em bảo lãnh. Vì ấn tượng không tốt đối với cuộc sống ở nước ngoài nên chồng của cô cương quyết không đi. Vì nghĩ đến tương lai của hai con nhỏ, Phương Hồng Quế dứt khoát ra đi với 2 con, với mẹ và cô em út vào năm 1991.

Ngay khi vừa sang Mỹ, Phương Hồng Quế được trung tâm Thúy Nga mời hát trong Paris By Night 16 với ca khúc “Chiều Cuối Tuần” thu hình tại Paris.

Phương Hồng Quế và Hương Lan trong một lần thu hình cho trung tâm Thúy Nga

Một năm sau, Phương Hồng Quế bắt đầu hợp tác với trung tâm Asia trong chương trình video số 1 chủ đề Đêm Sài Gòn năm 1992 với ca khúc Phố Đêm của nhạc sĩ Tâm Anh đã gắn liền tên tuổi của cô trước năm 1975.


Click để nghe Phương Hồng Quế hát Phố Đêm

Từ sau đó, Phương Hồng Quế tham gia thường xuyên với trung tâm Asia và Thuý Nga cho đến nay. Ngoài ra trong những năm gần đây, Phương Hồng Quế cùng Trang Thanh Lan thực hiện chương trình Tiếng Hát Hậu Phương được nhiều người biết đến.

Mời các bạn nghe lại những ca khúc được yêu thích nhất của Phương Hồng Quế trước và sau năm 1975. Hầu hết những bài nhạc vàng này có thể là đã nổi tiếng với những giọng ca khác, tuy nhiên Phương Hồng Quế vẫn tạo được dấu ấn riêng với từng ca khúc.

Thu âm trước 1975:

Ai Khổ Vì Ai

Sau 1975, Giao Linh cũng hát lại Ai Khổ Vì Ai rất sâu lắng và mùi mẫn, thích hợp với nội dung bài hát, tuy nhiên Phương Hồng Quế vẫn được xem là người trình bày thành công nhất bài ca thất tình nổi tiếng này của nhạc sĩ Anh Bằng (ký bút danh Thương Linh)


Click để nghe Phương Hồng Quế hát Ai Khổ Vì Ai trước 1975

Lời Trần Tình

Bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Hàn Châu, sau này rất ít người hát lại, đáng chú ý nhất là phiên bản của Sơn Tuyền. Cả 2 bản thu âm này đều xuất sắc và được khán giả yêu thích.


Click để nghe Phương Hồng Quế hát Lời Trần Tình trước 1975

Đàn Không Tiếng Hát

Bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Châu Kỳ sáng tác năm 1967, được Phương Dung thu âm đầu tiên trong dĩa nhựa Việt Nam, sang thập niên 1970 được Phương Hồng Quế hát lại trong dĩa nhựa. Phương Dung cũng là ca sĩ mà Phương Hồng Quế xem là thần tượng từ nhỏ.


Click để nghe Phương Hồng Quế hát Đàn Không Tiếng Hát trước 1975

Người Em Xứ Bưởi

Bài hát của nhạc sĩ Hoàng Phương được Phương Hồng Quế hát lần đầu trong băng Kim Đằng 1.


Click để nghe Phương Hồng Quế hát Người Em Xứ Bưởi trước 1975

Kẻ Đến Sau

Bài hát của nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân được Phương Hồng Quế hát lần đầu trong dĩa Dư Âm, sau đó hát lại trong băng nhạc Kim Đằng 2.


Click để nghe Phương Hồng Quế hát Kẻ Đến Sau trước 1975

Thu âm sau 1975:

Phố Đêm

Bài hát của nhạc sĩ Tâm Anh đã gắn liền với tên tuổi Phương Hồng Quế cả trước và sau năm 1975. Dù Phố Đêm đã được ca sĩ Bạch Lan Hương hát lần đầu, nhưng sau đó Phương Hồng Quế nổi tiếng nhiều hơn với bài này, được phát đi phát lại nhiều lần trên làn sóng điện.

Năm 1991, ca sĩ Phương Hồng Quế sang Mỹ, 1 năm sau cô hợp tác với trung tâm Asia, và ca khúc Phố Đêm mà cô hát tại Asia 1 rất được yêu thích. Lúc đó, trong bất kỳ show diễn nào Phương Hồng Quế cũng đều nhận được yêu cầu hát Phố Đêm nhiều lần.


Click để nghe Phương Hồng Quế hát Phố Đêm trên Asia

Chiều Cuối Tuần

Trong cùng năm 1992, Phương Hồng Quế cũng hát trên Paris By Night số 16 với ca khúc Chiều Cuối Tuần của nhạc sĩ Trúc Phương và cũng rất được yêu thích.


Click để nghe Phương Hồng Quế hát Chiều Cuối Tuần

Chuyện Chúng Mình

Nhắc đến Chuyện Chúng Mình của nhạc sĩ Trúc Phương, ai cũng nhớ đến giọng hát Thanh Thúy. Tuy nhiên phiên bản Phương Hồng Quế năm 1994 trên Paris By Night cũng được yêu thích:


Click để nghe Phương Hồng Quế hát Chuyện Chúng Mình 

Nỗi Buồn Châu Pha

Bài hát này đã gắn liền với tiếng hát Thái Châu, Phương Dung, hoặc sau này rất được yêu thích với giọng hát Như Quỳnh, tuy nhiên phiên bản của Phương Hồng Quế cũng rất được yêu thích. Nỗi Buồn Châu Pha nằm trong loạt bài hát viết về xứ Thượng nổi tiếng của nhạc sĩ Lê Dinh, bên cạnh Thương Về Xứ Thượng, Chiều Lên Bản Thương Tiếng Hát Mường Luông.


Click để nghe Phương Hồng Quế hát Nỗi Buồn Châu Pha

Đan Áo Mùa Xuân

Bài nhạc xuân nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ được Phương Hồng Quế hát trên Asia Xuân cách đây tròn 10 năm:


Click để nghe Phương Hồng Quế hát Đan Áo Mùa Xuân

nhacxua.vn biên soạn
Published under copyright license

Nhạc sĩ Tâm Anh và ca khúc Phố Đêm: “Người đi khai phá nét kiêu sa…”

Nhắc đến nhạc sĩ Tâm Anh, người ta sẽ nhớ đến ngay bài hát ca khúc Phố Đêm. Ngoài ra ông còn là tác giả của nhiều bài nhạc vàng nổi tiếng khác mà người yêu nhạc vẫn còn nhớ đến và yêu mến, đặc biệt là cụm bài hát Chuyện Tình: Chuyện Tình Không Dĩ Vãng, Chuyện Tình Không Đam Mê, Chuyện Tình Không Đoạn Kết, Chuyện Tình Không Hối Tiếc, Chuyện Tình Không Suy Tư.

Tâm Anh còn là người chủ trương thực hiện những băng nhạc Tâm Anh Nghệ Thuật nổi tiếng trước năm 1975.

Nhạc sĩ Tâm Anh tên thật là Trần Công Tâm, sinh ngày 29 tháng 7 năm 1948 tại Sài Gòn và qua đời năm 2006 cũng tại Sài Gòn một cách lặng lẽ. Gần như cả đời của ông đã gắn trọn với mảnh đất Sài Gòn: Sinh ra, lớn lên, học tập, lập ngiệp, thành danh, sống thầm lặng và qua đời đều ở tại Sài Gòn.

Cha của Tâm Anh mất khi ông mới được 3 tuổi, mẹ của ông mở tiệm may nuôi con học tới đại học, tốt nghiệp Trường Kỹ thuật Phú Thọ. Học xong, nhạc sĩ Tâm Anh làm ở sở thuế, nhưng chỉ được một thời gian thì chán nghề công chức. Năm 1968, ông thành lập ban nhạc chuyên đi hát cho các vũ trường, quán bar.


Click để nghe Thanh Tuyền hát Phố Đêm trước 1975

Trong cùng năm 1968, ông sáng tác bài hát nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của mình là Phố Đêm, được hãng dĩa Sóng Nhạc ký độc quyền thâu âm với tiếng hát Bạch Lan Hương. Ca khúc này sau đó nổi tiếng hơn cả với tiếng hát Phương Hồng Quế, và sau năm 1975 được hầu hết ca sĩ nhạc vàng hải ngoại hát.

Theo lời của người vợ là bà Tuyết thì “Tâm Anh lúc nào cũng nhỏ nhẹ, hiền từ, chẳng bao giờ lớn tiếng”.


Click để nghe Phương Hồng Quế hát Phố Đêm trên Asia

Khoảng năm 2005, có một ca sĩ trẻ rất nổi tiếng ở trong nước hát Phố Đêm, nhưng lại để tên nhạc sĩ sáng tác là Nguyễn Tuấn Kiệt, làm cho nhạc sĩ Tâm Anh phải đích thân gửi đơn đến báo chí để khiếu nại.

Từ năm 1970, nhạc sĩ Tâm Anh lập nhóm mang tên là Nghệ Thuật và chủ trương thực hiện các chương trình ca nhạc phát hành băng cối (magnetic) rất thành công, thường được gọi là Băng nhạc Tâm Anh Nghệ Thuật, lăng xê được nhiều bài hát và các ca sĩ thời đó. Cho đến nay, những băng nhạc này vẫn còn được nhiều người tìm nghe:

Thứ tự các băng nhạc này:

  • Nghệ Thuật 1: Những Chuyện Tình Không Đoạn Kết
  • Nghệ Thuật 2: Những Chuyện Tình Không Dĩ Vãng
  • Nghệ Thuật 3: Những Chuyện Tình Không Hối Tiếc
  • Nghệ Thuật 4: Những Chuyện Tình Không Suy Tư
  • Nghệ Thuật 5: Những Chuyện Tình Không Đam Mê
  • Nghệ Thuật 6: Nhạc Chọn Lọc
  • Nghệ Thuật 7: Máu Và Nước Mắt
  • Nghệ Thuật 8: Quê Hương và Chiến Tranh
  • Nghệ Thuật 9: Nghệ Thuật Tất Niên 1971
  • Nghệ Thuật 10: Nhạc Tuyển Tâm Anh
  • Nghệ Thuật 11: Nhạc Hòa Tấu Khiêu Vũ
  • Nghệ Thuật 12: Quê Hương và Hòa Bình


Click để nghe băng nhạc Tâm Anh Nghệ Thuật 1 phát hành năm 1970

Doanh thu kiếm được từ những chương trình băng nhạc này đều được ông quyên góp một phần vào các chương trình từ thiện xã hội.

Năm 1974, Tâm Anh còn kết hợp cùng nhạc sĩ Tuấn Khanh để thực hiện băng nhạc Tuấn Khanh, nhưng không mấy thành công. Chủ đề này thực hiện được 3 băng nhạc thì dừng lại vì sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.


Click để nghe băng nhạc Tuấn Khanh

Sau khi lấy vợ, nhạc sĩ Tâm Anh rời khỏi âm nhạc sau lời hứa với cha vợ. Vợ của Tâm Anh tên là Nguyễn Ngọc Tuyết, con của ông phó giám đốc hãng tàu. Bà Tuyết kể lại trên báo Tiền Phong:

“Bữa đó, Tâm Anh theo anh rể của tôi về tiệm, chúng tôi hỏi thăm tình hình của nhau thời gian qua. Tâm Anh và anh rể của tôi định làm chung một bộ phim, nhưng không thành. Chúng tôi lại không gặp nhau trong suốt 2 năm. Tuy không gặp nhau nhưng thỉnh thoảng Tâm Anh vẫn qua Nguyễn Huệ, con phố tài tử giai nhân. Ảnh đi ngang tiệm của tôi, có lúc nhòm thấy tôi thì chào tôi, tôi cũng chào lại, vậy thôi. Nhiều khi ảnh đi với người yêu của ảnh nữa. Tôi cũng tỉnh bơ. Bởi lúc đó chưa có tình cảm gì nhiều.

Một thời gian sau, Tâm Anh tới chơi thường xuyên, khiến chị tôi hỏi tôi: “Có chịu không mà sao người ta cứ tới hoài vậy?”. Tôi đáp: “Chỉ là bạn bè thôi à”. Nhưng chị tôi mách mẹ tôi: Có người nhạc sỹ đang mến gái út. Mẹ tôi không thích Tâm Anh vì bà cho rằng, nhạc sỹ hay lãng mạn, lại khổ con gái bà. Mẹ đem chuyện kể với ba.

Khi ấy các anh chị tôi đều đã lập gia đình, chỉ còn tôi rảnh rang. Ba tôi nói với Tâm Anh: Nếu muốn tiến tới với con gái của ông thì không được làm nhạc nữa. Ba tôi muốn ảnh đi làm trong hãng của ba. Tuy nhiên, ba không ép ảnh mà cho thời gian suy nghĩ, quyết định. Ngoài ba má thì các anh chị không phản đối chuyện của tôi và Tâm Anh. Vì cả nhà tôi ai cũng thích nhạc, thích bản “Phố Đêm”.

Chắc ảnh tự ái với đề nghị của ba tôi nên bẵng đi một thời gian ảnh không đến thăm tôi. Ảnh còn đi với một vài cô gái ngang qua tiệm tôi hoài. Thành ra tôi nghĩ không có duyên nợ với nhau rồi. Vì nếu có duyên nợ làm sao ảnh dám cặp đi ngang qua mình? Chúng tôi gặp nhau cứ cúi đầu chào nhau.

Thế rồi, bất ngờ Tâm Anh nói với chị tôi là ảnh muốn cưới tôi. Chị tôi ngạc nhiên: Ủa, thấy cậu đi với nhiều cô lắm mà? Suy nghĩ kỹ chưa? Tâm Anh đáp: Đã suy nghĩ kỹ. Và giải thích mấy người đi cùng ảnh là bạn thôi, không có gì. Chị tôi cũng thông cảm vì anh rể tôi cũng làm nghệ thuật. Nghệ sỹ làm gì không có cô nọ, cô kia, chỉ đến khi có vợ con thì mới “tu chí” được.

Bữa đó trời mưa, Tâm Anh tới tiệm tôi chơi, lần đầu tiên ảnh kể về cuộc đời ảnh, từ nhỏ tới lớn. Cha mất khi ảnh mới 3 tuổi. Mẹ mở tiệm may nuôi con học tới đại học, ảnh tốt nghiệp Trường Kỹ thuật Phú Thọ. Mẹ ảnh từng muốn ảnh đi làm, không muốn ảnh học đại học, nhưng ảnh vẫn quyết chí học đến cùng. Học xong đại học, ảnh ra làm ngành thuế, thuế vụ đó. Nhưng ảnh làm thuế vụ một thời gian thì chán, vì phải ngồi 8 tiếng công sở.

Thấy người ta làm nhạc ảnh thích nên sáng tác bản “Phố Đêm”. Nổi tiếng luôn. Dù má ảnh năn nỉ quá trời ảnh vẫn không chịu trở lại ngành thuế”, bà Ngọc Tuyết vừa kể, vừa cười. Bà gật đầu làm vợ nhạc sĩ Tâm Anh, sau khi nghe chuyện đời ông kể. Bà thương người đàn ông mồ côi cha sớm, tuy vất vả vẫn ráng học hành và mê giọng nói của ông: “Tâm Anh lúc nào cũng nhỏ nhẹ, hiền từ, chẳng bao giờ lớn tiếng”.

Vì đã chọn đi theo tiếng gọi của tình yêu, nhạc sĩ Tâm Anh gác lại sự nghiệp âm nhạc từ khi lấy vợ cho đến lúc qua đời. Từ đó về sau, ông hoàn toàn không có sự hiện diện nào trong làng nhạc, ngoài số ít những lần gặp gỡ chuyện trò với các nhạc sĩ cùng thời.

Sau năm 1975, Tâm Anh nghỉ việc ở hãng tàu vì hãng của Pháp rút về nước. Lúc này người anh rể của bà Tuyết cũng dẹp tiệm ảnh, trở thành cổ đông của Hợp tác xã Trường Sơn, chuyên làm xe đạp. Tâm Anh cũng về hợp tác xã làm, sau giữ vị trí Phó Chủ nhiệm Hợp tác xã Trường Sơn. Khi hợp tác xã giải thế, nhạc sĩ chuyển sang làm xây dựng, trở thành đội trưởng đội thi công và về hưu khi chưa đầy 60 tuổi. Theo lời kể của bà Tuyết trên báo Tiền Phong, lúc này, nhạc sĩ mới nói với vợ: “Bây giờ ba mất rồi, anh cũng tròn bổn phận làm rể, con cái cũng cưới vợ hết rồi, cho anh được sáng tác trở lại”.

Tuy nhiên không lâu sau đó thì nhạc sĩ Tâm Anh qua đời năm 2006 khi dự định còn dở dang.

Gia đình nhạc sĩ Tâm Anh

Chỉ 1 năm trước khi qua đời, nhạc sĩ Tâm Anh xuất hiện vài lần trên báo chí khi ông gởi đơn khiếu nại ca sĩ nhạc trẻ nổi tiếng vì ca sĩ này hát bài Phố Đêm của ông, nhưng lại đề tên tác giả bài hát này là Nguyễn Tuấn Kiệt.

Thời điểm đó nhạc vàng vẫn chưa được cấp phép hát rộng rãi như ngày nay, và ca khúc Phố Đêm của Tâm Anh nằm trong danh sách cấm ở trong nước vì có nhắc đến “lính” trong lời hát:

Người đi khai phá nét kiêu sa
Tuy lính chiến xa nhà mà vẫn luôn yêu đời

hoặc:

Phố đêm chờ người phong sương
Chinh chiến từ lâu rồi
Có niềm riêng hay ước.

Ngoài 2 câu hát này ra thì ca khúc này đơn thuần viết về một câu chuyện tình yêu với lời lẽ rất đẹp và lãng mạn:

Nhớ ngày nao hoa nắng ngủ trên cây
Thương lá vàng úa tàn
Mây bơ vơ bay khắp nẻo vô tình
Cho người yêu ước mơ…

Dù bài hát không được phép hát chính thức ở trong nước, nhưng hầu như tất cả những người yêu nhạc vàng đều biết đến Phố Đêm của nhạc sĩ Tâm Anh, vì đây có thể xem là 1 trong những ca khúc nổi tiếng nhất của dòng nhạc này, với lời ca đã được nhiều thế hệ khán giả thuộc nằm lòng.

Bên dưới đây xin đăng lại nguyên văn đơn khiếu nại của nhạc sĩ Tâm Anh về trường hợp bài hát của ông đã bị người khác sử dụng nhưng đổi thành của một nhạc sĩ khác, được đăng trên báo Thanh Niên năm 2005.

Nhạc sĩ Tâm Anh công bố hợp đồng thâu thanh bài hát Phố Đêm với hãng đĩa Asia năm 1968 để làm bằng chứng khiếu nại

Tôi tên là: Trần Công Tâm, biệt hiệu: Nhạc sĩ Tâm-Anh
Sinh ngày 29/7/1948 tại Sài Gòn

Là tác giả nhạc phẩm Phố Đêm do chính tôi sáng tác và in phát hành vào năm 1968 theo giấy phép số 2591/BTT/NBC/PHNT ngày 19/10/1968 và hợp đồng thâu thanh vào đĩa hát Sóng nhạc số 00570 ngày 21/11/1968 và do ca sĩ Bạch Lan Hương ghi âm vào đĩa.

Từ năm 1968 đến nay, trên 37 năm, bản nhạc Phố Đêm này được rất nhiều ca sĩ và nhiều hãng băng đĩa nhạc trong và ngoài nước ghi âm, nhưng hầu hết đều tôn trọng người sáng tác là ghi rõ tên Tâm Anh ngay sau bản nhạc Phố Đêm.

Hôm nay, tôi được biết album Đàm Vĩnh Hưng – Tình ca 50 do Lạc Hồng audio – video đã sản xuất và vừa phát hành theo GP số 477/QĐ-PH-SVHTT cấp ngày 28.11.2005, người thực hiện ĐVH Production&PIG’S Family, và ở mục 9 có bài Phố Đêm với tên một tác giả khác. Tác phẩm của tôi đã bị sửa nhiều ca từ để ghi âm như: năm tháng cách xa nhà (thay vì tuy lính chiến xa nhà) và vai áo bạc phai màu (thay vì chinh chiến từ lâu rồi)… Đã vậy còn in tờ bướm kèm theo đĩa ghi toàn bộ lời ca cũ, nhưng sai ý của người sáng tác (theo trong dấu ngoặc) như: khi nhở (ghi nhớ), mây đêm (đen), ngàn lời (ngàn người), lạc loài hương (thương) yêu, giá lạnh ướt mềm (thêm).

Vì vậy, tôi buộc lòng làm đơn này kính yêu cầu quý cơ quan chức năng xem xét thu hồi hoặc chỉnh sửa lại album Tình ca 50 do ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng thực hiện, và có hướng xử lý việc vi phạm tác quyền này.

Kính chào và trân trọng cám ơn!
Kính đơn,
Trần Công Tâm
Nhạc sĩ Tâm-Anh

Bài Phố Đêm được nhạc sĩ Tâm Anh sáng tác năm 1968, ngay trong những ngày “thương tích lớn” của đầu năm Mậu Thân. Khi đó, đêm ở Sài Gòn không còn nhộn nhịp và rực rỡ sôi động nữa, nhường chỗ lại cho những hàng kẽm gai của lệnh giới nghiêm nằm lạnh lùng dưới ánh đèn mờ giăng giăng. Phố đêm vì vậy mà thật buồn, vắng vẻ và trống trải, gợi niềm suy tư khắc khoải.

Mây đen làm úa trăng gầy
Cho nên còn tiếng say mềm
Trước thềm ngàn lời vu vơ
Vì người hay mơ dòng đời như thơ.

Mây đen thời cuộc kéo đến làm héo úa ánh trăng gầy, che phủ những phận đời, tạo ra những vết gãy đổ trong lòng người, bởi vì người nhận ra rằng kể từ đây dòng đời sẽ không còn như thơ nữa, những êm đềm xưa cũ chỉ còn lại ở trong giấc mộng, và những tháng ngày đẹp đẽ đó của quá khứ được nhạc sĩ khắc họa bằng ca từ tuyệt mỹ:

Nhớ ngày nao hoa nắng ngủ trên cây
Thương lá vàng úa tàn
Mây bơ vơ bay khắp nẻo vô tình
Cho người yêu ước mơ

Những ngày hoa mộng cũ đã trở thành ký ức, tất cả rồi cũng như vàng lá úa tàn, chỉ còn có thể tìm lại trong mơ ước mà thôi.

Người đi khai phá nét kiêu sa
Tuy lính ᴄhιến xa nhà mà vẫn luôn yêu đời
Bằng câu ca tiếng cười
Tìm vui trong giấc mơ
Dù bâng khuâng chữ ngờ.

Khi đô thành chịu những “thương tích lớn”, thì quân nhân chính là người phải đương đầu với điều đó trước tiên. Nhưng dù có khó khăn đến mấy thì anh lính vẫn cố luôn lạc quan yêu đời, dù là “bằng câu ca tiếng cười” hay là “tìm vui trong giấc mơ”, nhưng trong lòng vẫn “luôn bâng khuâng chữ ngờ” vì những biến loạn dồn dập kéo tới không hẹn trước.

Phố đêm lạc loài hương yêu
Chìm đắm như hàng cây giá lạnh ướt mềm
Phố đêm chờ người phong sương
Chinh ᴄhιến từ lâu rồi
Có niềm riêng hay ước.

Cho tôi mười ngón thiên thần
Cho tôi mười ngón thiên thần
Để rồi dìu người tôi yêu
Dìu người không yêu
Và người chưa yêu.

Phố vắng đêm nay còn lại chỉ mình anh lính gác, chợt nghe lạc loài hương yêu vì nỗi cô đơn xâm lấn, tâm trạng suy tư chìm đắm, như là hàng cây đang ướt mềm trong sương khuya giá lạnh.

Lời cầu xin “Mười ngón thiên thần” ở đoạn cuối bài hát như là một hình ảnh mang tính biểu tượng, mong cho đôi bàn tay chai sần cháy nắng này sẽ được luôn được vững chãi để gánh vác được sơn hà, dìu bao người về được bến của yêu thương, không phân biệt dù đó là người tôi yêu, người không yêu hay là người chưa yêu…

Phố Đêm được ca sĩ Bạch Lan Hương ghi âm vào đĩa lần đầu năm 1968. Mời các bạn nghe lại giọng hát Bạch Lan Hương:


Click để nghe

Sau đó, ca sĩ Trúc Ly và Thanh Tuyền có thu âm lại bài này trong dĩa nhựa và băng magnetic:


Click để nghe Thanh Tuyền hát

Bài hát sau này cũng gắn liền với giọng hát Phương Hồng Quế:


Click để nghe Phương Hồng Quế hát

Đông Kha – chuyenxua.vn biên soạn

Người Sài Gòn được sử dụng “nước máy” từ khi nào – Câu chuyện về nhà máy nước đầu tiên của Sài Gòn ở khu vực Hồ Con Rùa

Việc cấp nước sinh hoạt hằng ngày là dịch vụ quan trọng cần thiết hàng đầu của một thành phố trong quá trình xây dựng đô thị. Việc xây dựng hệ thống cung cấp nước ở Sài Gòn, từ nguồn nước đến phân phối cho người dân trong thành phố, được chính quyền thuộc địa bắt tay thực hiện ngay từ năm 1876, chưa đầy 10 năm sau khi người Pháp chính thức chiếm được Nam kỳ (1867). Đó là một tiến trình rất nhanh chóng để đáp ứng cho nhu cầu của một thành phố đang phát triển sau khi được quy hoạch và xây dựng từ đầu.

Cho đến năm 1876, nước sinh hoạt được người dân vẫn được lấy từ giếng, một phương thức truyền thống giống như hầu hết ở các vùng nông thôn. Công trình đầu tiên của hệ thống cung cấp nước ở Sài Gòn được khởi sự xây dựng từ năm 1879 dưới thời các Thống đốc Nam kỳ là các sĩ quan hải quân. Sau khi chuyển qua dân sự, hồ sơ ban đầu của hệ thống cung cấp nước được chuyển cho chính phủ, từ đó đến Sở công chánh và văn phòng thị trưởng thành phố.

Hình dưới đây là sơ đồ hệ thống lấy nước giếng cho tháp nước (Chateau d’Eau) nằm ở vị trí Hồ Con Rùa hiện nay, là hệ thống phân phối nước đầu tiên của Sở cấp nước thành phố.

Theo sơ đồ cho thấy hệ thống gồm một giếng nước có độ sâu 20m, lấy nước từ mạch nước ngầm trải rộng khắp thành phố. Nước được hai máy bơm, xếp theo tầng, bơm vô 4 bể chứa cao trên mặt đất làm thành hình chữ thập quanh tháp nước ở giữa. Một máy bơm thứ 3 bơm bước từ các bể chứa này lên đỉnh tháp nước. Tòa nhà chứa máy bơm (nhà máy cung cấp nước) nằm ở quảng trường tháp nước, nay là ở góc đường Võ Văn Tần – Phạm Ngọc Thạch. Trong hình sơ đồ, và cả trong các tấm hình xưa, có thể thấy được cột khói cao của nhà máy nước, là ống xả khói cho hệ thống phát điện chạy bằng hơi nước để cấp điện cho 3 máy bơm nước.

Nhà máy nước bên tay trái với ống khỏi cao. Tháp nước nằm ở chính giữa Hồ Con Rùa hiện nay. Hình được chụp vào thập niên 1880 khi nó vừa được xây xong, khi vẫn chưa có cây cối xung quanh

Các bể lọc nước ngầm được xây dựng hoàn toàn bên dưới lòng đất, bên dưới khu vực Hồ Con Rùa hiện nay. Những bể này làm thành một phòng khổng lồ dưới mặt đất dài 120m, ngang 12m và cao 9m50, được ngăn ở chính giữa bởi các giếng đá hình tròn khắp phòng.

Vách tường của phòng được cấu tạo bởi các cột nâng đỡ vòm và những tấm mặt lọc bằng đá khô và hững móng đá cao cho tới mặt đất. Những ống dẫn nước xuyên qua các móng đá này và lấy nước ở sâu trong mạch nước ngầm.

Công trình được bắt đầu từ tháng 11/1879 và hoàn thành tháng 7/1881.

Nhà máy nước đầu tiên của Sài Gòn nằm ở khu vực Hồ Con Rùa hiện nay. Một phần của nhà máy vẫn còn cho đến năm 2015 trước khi bị bỏ hoàn toàn

Năm 1882, hệ thống cung cấp qua tháp nước được khánh thành trọng thể. Tờ báo Pháp ngữ Le Monde Illustre ngày 18/3/1882 mô tả buổi lễ (được dịch lại) như sau:

“Khánh thành dịch vụ cung cấp nước ở Nam kỳ

Ngày 3 tháng 1 vừa qua ở Sài Gòn, chính quyền sở tại đã khánh thành tháp nước được xây dựng từ năm 1879, theo kế hoạch của ông Thevenet – kỹ sư cầu cống, giám đốc công chánh ở Nam kỳ, để cung cấp nước uống cho thành phố.

Trước ngày này, người dân ở Sài Gòn phải tự múc nước giếng, vốn có chưa nhiều loại tạp chất là nguồn thường xuyên gây bệnh truyền nhiễm. Từ nay dân chúng sẽ không phải lo điều đó nữa, nhờ vào những bể nước lọc khổng lồ được bơm lên tháp nước để cấp nước sinh hoạt.

Trong buổi lễ trang trọng này có ban nhạc của trung đoàn hải quân được mời đến giúp vui. Đến 5h chiều, ông Le Myre de Vilers – Thống đốc Nam kỳ, đến và được ông thị trưởng thành phố tiếp đón dưới âm thanh của bài quốc ca Pháp.

Ngay sau đó, Thống đốc phát biểu, sau khi nhắc lại vài lời về lịch sử của công trình đồ sộ này, ông ra lời cảm ơn và khen tặng những người tổ chức buổi lễ. Sau đó công trình tháp nước được mở để người dân tự do vào, những người An Nam tham dự rất phấn khởi và tham gia vào các trò chơi do hội đồng thành phố tổ chức. Đến 8 giờ rưỡi tối, đèn chiếu sáng được bật rực rỡ để kết thúc ngày lễ khánh thành”.

Hình vẽ mô tra buổi khánh thành tháp nước

Hình chụp lễ khánh thành năm 1882

Một năm sau khi khánh thành tháp nước và hệ thống cung cấp nước này, các đại biểu Hội đồng thành phố, trong đó có ông Vienot, Trương Minh Ký, Cazeaux, Nguyễn Văn Bình và Lê Văn Tống, trong phiên họp ngày 17/5/1883 đã đề nghị thành phố thiết lập một dịch vụ cứu hỏa với máy bơm dùng hệ thống nước trong thành phố. Năm 1885, dịch vụ cứu hỏa ở Sài Gòn được ông Berger – kiến trúc sư thành phố, đề nghị có thường trực 8 nhân viên cứu hỏa người bản xứ ban đêm ở 3 trạm cảnh sát: quận 1, quận 2 và cầu Ông Lãnh. Vào ban đêm, dịch vụ cung cấp nước và tháp nước phải có sức ép nước để cung cấp nước cho dịch vụ cứu hỏa.

Nhu cầu nước tăng nhanh, các bể lọc nước ở giếng nói trên không đủ dùng. Sự thiếu nước trầm trọng đó được bàn thảo trong buổi họp ngày 15/1/1886, thị trưởng Sài Gòn đã mời các chuyên gia đến để cùng bàn luận để giải quyết. Sở công chánh báo cáo tình hình cho biết sự thiếu hụt nước không chỉ vì người dùng đang phí phạm không biết tiết kiệm, mà nguồn nước dẫn đến tháp nước cũng không đủ. Hội đồng thành phố đã thành lập một Ủy ban đặc biệt để xem xét vấn đề về nước, và đưa ra mấy ý kiến cho ông thị trưởng như sau:

– Thông báo cho Giám đốc Nội vụ về tình hình cung cấp nước uống, đưa ra lời kêu gọi là kể từ lúc đó không được dùng nước từ hệ thống cấp nước uống để rửa đường phố, mà phải dùng nước từ các rạch. Các vòi nước trong vườn bách thảo (nay là Thảo Cầm Viên) và vườn chính phủ (nay là công viên Tao Đàn) sẽ tạm thời bị khóa lại. Tất cả các tòa nhà công sở, nước uống từ hệ thống cấp nước chỉ được dùng khi cần thiết.

– Chỉ định một nhân viên kiểm soát chặt chẽ những nơi đăng ký mua nước chỉ được dùng đúng số lượng nước đã đăng ký.

– Ra chỉ thị cho cảnh sát xem xét kỹ lưỡng để phòng hờ các vòi nước phông tên công cộng chảy nước vô ích mà không ai dùng.

Ông Thetard – kỹ sư cơ khí trông coi tháp nước, đã nghiên cứu tìm thêm nguồn nước đảm bảo cho sự lâu dài. Bản tường trình của ông ở Hội đồng thành phố ngày 8/9/1886 cho rằng trong tương lai thành phố phải lấy nước từ những nguồn xa thành phố, vì không thể lấy nước từ sông Sài Gòn hay rạch Thị Nghè ở ngay bên cạnh vì nước ở đây có nhiều bùn và mặn khi thủy triều lên cao. Sau khi tính nhu cầu mỗi người dân khoảng 240 lít một ngày và các thành phần hóa chất trong nước, ông Thetard nói cần nhà máy khử nước lớn và rất đắt tiền. Nghiên cứu của Thetard cho rằng nước ở Thủ Đức và nước có chất lượng rất tốt từ các giếng ở Chợ Lớn là cùng mạch nước ngầm của sông Đồng Nai. Phải cho đến tận 80 năm sau thời của ông Thetard thì Sài Gòn mới xây dựng được hệ thống cấp nước từ Thủ Đức dẫn đến Sài Gòn (thập niên 1960). Còn thời thể kỷ 19, vì phải tính toán nhiều chi phí, nên chính quyền không thể xây hệ thống lấy nước từ Thủ Đức, mà dùng nước ngầm đã lọc qua các tầng đất và đào thêm các giếng ở khu đất cạnh tháp nước.

Sau đó, thành phố giao cho ông Thetard đảm nhiệm công trình đào thêm giếng ở công trường Nhà Thờ (phía trước Nhà Thờ Đức Bà, là công trình vừa xây dựng trước đó 10 năm).

Từ Nhà Thờ nhìn về phía tháp nước (nay là Hồ Con Rùa). Bên trái hình là nhà máy nước. Hình chụp đầu thế kỷ 20, khi cây cối xung quanh đã có nhiều

Mặc dù có thêm giếng nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đã không đủ, nên sau năm 1888, thành phố khai thác thêm một nguồn nước mới ở góc đường Mac Mahon và Richaud (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Nguyễn Đình Chiểu), và 1 nguồn khác trên khoảng đất xưa của Trường Thi (nay là vị trí tòa nhà Thành đoàn trên đường Phạm Ngọc Thạch).

Với sự bổ sung này, chính quyền tạm giải quyết đủ nhu cầu nước sinh hoạt cho thành phố, nhưng vẫn chưa thể đảo bảo tính lâu dài. Sang đầu thế kỷ 20, bác sĩ Grall – Giám đốc Sở Y Tế Đông Dương đã có bản báo cáo về việc cung cấp nước cho Sài Gòn, bản báo cáo này cho biết nguồn nước lâu dài và tốt nhất cho thành phố ở hồ Trị An gần thượng nguồn sông Đồng Nai.

Sở công chánh thành phố và Nam kỳ đã nghiên cứu đề án công trình xây dựng hệ thống nước từ Trị An cung cấp cho Sài Gòn – Chợ Lớn. Đề án đã được Hội đồng thành phố và Hội đồng quản hạt đồng ý, Thống đốc Nam kỳ phê chuẩn và gửi đến Bộ trưởng Thuộc địa. Vì chi phí đề án quá lớn nên chính quyền thông qua phương án mượn vốn 16 triệu francs. Chủ tịch Hội đồng quản hạt và thị trưởng Sài Gòn là Eugene Cuniac đã thân hành về lại Paris để bảo vệ đề án, tìm cách mượn vốn. Tuy nhiên sau đó Thống đốc Nam kỳ nhận được điện tín từ Toàn quyền Đông Dương thay mặt cho Bộ trưởng thuộc địa cho biết là chính phủ không đồng ý với đề án tốn kém như vậy, và khuyên Hội đồng thành phố dùng và cải tạo hệ thống cung cấp nước từ các giếng.

Ngay sau đó, tại phiên họp của Hội đồng thành phố ngày 9/2/1905, ra quyết định không tiếp tục chương trình mở rộng cung cấp nước qua hệ thống giếng theo như lời của Toàn quyền Đông Dương, mà cho rằng chỉ có phương án lấy nước từ Trị An mới giải quyết lâu dài nhu cầu nước của Sài Gòn và Chợ Lớn. Tuy nhiên đề án đó chưa bao giờ thực hiện được. Thay vào đó, một đề án tốn ít chi phí hơn được thực hiện, đó là xây dựng thêm một nhà máy nước từ làng Tân Sơn Nhứt ở Gia Định. Đề án này được giao cho công ty Điện Nước Đông Dương CEE (Cie des eaux et de l’Electricite) thực hiện.

Dự án này đã được khảo sát từ năm 1896, nhưng đến năm 1908 mới được tiến hành trước nhu cầu cấp thiết về nước. CEE xây thêm một nhà máy nước và 2 bể chứa lớn có thể tích 1250m khối mỗi bể ở làng Tân Sơn Nhứt (Gia Định), đồng thời xây thêm 2 tháp nước nữa được xây trên trụ bằng kim loại ở gần tháp nước cũ. Hiện nay chỉ cón lại 1 tháp ở góc đường Pasteur – NTMK.

Tháp nước được xây dựng thêm ở khu vực Hồ Con Rùa hiện nay

Tờ Công Báo của chính phủ Pháp đăng ngày 12/8/1913 có nhắc về việc này như sau:

“Năm 1907, Thống đốc Nam kỳ lo lắng về vấn đề thiếu nước uống ở Sài Gòn do nguồn nước đã khai thác không đủ cung cấp cho thành phố này, nên đã phải nghiên cứu một dự án dẫn nước từ sông Đồng Nai. Dự án này mất cho phí đến 10 triệu fr. để có 12.000 mét khối nước mỗi ngày. Số tiền này dự kiến vay từ quỹ hưu trí của người già, đã được chấp thuận và thương lượng giữa chính phủ Pháp, Nam kỳ.

Hai tháng trước khi thực hiện dự án, Thống đốc Nam kỳ và thị trưởng Sài Gòn rất lo ngại về gánh nặng của khoảng vay 10 triệu fr. sẽ đặt lên ngân sách, chưa kể chi phí vận hành cao đáng kể, nên đã đến gặp ông G. Hermenier (sáng lập công ty CEE), là người được nhượng quyền cung cấp dịch vụ nước ở Sài Gòn, để bàn thảo về việc tìm nguồn khai thác thêm để cung cấp được thêm 6000-7000 mét khối nước uống và nước sạch mỗi ngày cho Sài Gòn.

Trong nhiều năm, ông Hermenier đã thường xuyên khảo sát trong bán kính 50km quanh Sài Gòn để tìm nguồn nước, nên đã đề ra dự án lấy nước mới từ một điểm gọi là Tân Sơn Nhứt. Dự án này tốn 875 ngàn fr., cung cấp 6000 mét khối mỗi ngày lượng nước hoàn toàn sạch so với chi phí 10 triệu fr. cho 12.000 mét khối nước từ Trị An.

Dự án đi vào hoạt động, liên tục cung cấp 6000-7000 mét khối nước cho Sài Gòn. Ông Hermenier cũng đề nghị xây một trạm lấy nước tương tự, dự án này sẽ đảm bảo cùng với dự án đầu tiên sẽ cung cấp đủ 12.000 mét khối nước mà trước đó đã dự kiến từ nguồn Trị An, với chi phí tổng cộng chỉ 1.5 triệu fr., thay vì 10 triệu”.

Hợp đồng cấp nước sau cùng mà công ty CEE ký với thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn là ngày 12/3/1937, có giá trị 20 năm, đến hết ngày 31/12/1957. Vì vậy kể cả sau khi người Pháp rút khỏi Đông Dương năm 1954-1955, Công ty điện và nước CEE vẫn tiếp tục hoạt động thêm 2-3 năm nữa cho đến khi hợp đồng kết thúc, khi đó chính quyền VNCH đã mua lại toàn bộ cơ sở hạ tầng của CEE, quốc hữu hóa hoàn toàn công ty. Cái tên CEE trở nên quen thuộc với hầu hết người Sài Gòn khi nó được ghi trên các trạm biến áp khắp thành phố, hiện nay vẫn còn lại dấu tích.

Các trạm biến áp được xây dựng trước năm 1969 vẫn ghi chữ CEE, thời gian sau đó là ghi chữ SĐL (Sở Điện Lực).

chuyenxua.vn biên soạn
Nguồn: Sài Gòn & Nam Kỳ thời kỳ canh tân 1875-1925 (Nguyễn Đức Hiệp)

Câu chuyện về nghệ sĩ Tòng Sơn – Đệ nhất khẩu cầm (harmonica) của Việt Nam

Từ những năm thập niên 1950 trở đi, làng văn nghệ Sài Gòn xuất hiện một nghệ sĩ được gọi là “quái kiệt”, khi ông có biệt tài vừa thổi harmonica vừa uống bia hay ăn chuối, hoặc thổi cùng lúc 2 chiếc kèn bằng mũi. Đó là nghệ sĩ Tòng Sơn – “đệ nhất khẩu cầm” của Việt Nam.

Nghệ sĩ harmonica Tòng Sơn tên thật là Dương Ngô Tòng, sinh ra năm Canh Ngọ 1930 ở miền Tây Nam Bộ. Tuổi thơ của ông là những chuỗi ngày chạy giặc và sống trong hoàn cảnh nghèo khổ.

Cơ duyên đến với bộ môn thổi kèn harmonica của Tòng Sơn là từ năm 16 tuổi, trong lúc chạy loạn, ông đã vô tình lượm được cây kèn harmonica của một lính Pháp đánh rơi trong đống đổ nát. Từ thời điểm đó, ông cũng như là đã “lượm” được chính cuộc đời mình, vì đó là một bước ngoặt rất lớn.

Bị tò mò, thu hút bởi những âm thanh phát ra từ cái harmonica, cứ rảnh rỗi ông lại lôi kèn ra thổi, từ những âm ngắt quãng, hụt hơi cho đến những đoạn ngân dài hơn… Ông phát hiện ra mình có sự nhạy cảm với âm thanh và hợp với loại kèn này, từ đó trở đi đã trở thành vật bất ly thân của mình.

Thời điểm thập niên 1940, hầu như không có người dạy thổi harmonica nên ông chủ yếu tự mày mò sau khi học vỡ lòng với ông cậu biết sơ sơ về kèn. Học thêm chút nhạc lý cơ bản từ anh trai của mình, cậu bé Tòng mày mò bắt chước chơi lại các bài hát được phát trên đài phát thanh. Thời đó, bài được nhiều người biết đến, lại dễ thuộc, dễ chơi lại trên harmonica là Lên Đàng của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Nhiều bạn bè, người quen đã bất ngờ trầm trồ thích thú khi nghe ông chơi bản nhạc này một cách điệu nghệ, với nhạc cụ bé xíu trong lòng bàn tay.

Vì lận đận mưu sinh cơm áo nên nghệ sĩ Tòng Sơn đến với nghệ thuật khá muộn. Năm 1950, rời quê miền Tây để lên Sài Gòn làm thợ sắp chữ trong một nhà in. Ông kiếm sống bằng nghề này, nhưng cũng vì nó mà bị chính quyền thời đó bắt vào bót Catinat vì được thuê in truyền đơn cho Việt Minh để chống Pháp. Một thời gian sau được ra tù, hành trang và cũng là người bạn duy nhất của ông Tòng vẫn chỉ là cây harmonica bé nhỏ.

Năm 1950, trong cuộc thi “Tuyển lựa tài tử” do Đài Phát thanh Pháp Á tổ chức, Dương Ngô Tòng thử ghi danh dự thi môn harmonica. Vì chưa tự tin nên ông lấy thêm tên cha của mình ghép vào tên mình, để lỡ có thi rớt thì năm sau thi bằng tên thật, từ đó xuất hiện tên Tòng Sơn. May mắn mỉm cười, Tòng Sơn được giải, chính thức bắt đầu con đường nghệ thuật đang mở rộng thênh thang trong bối cảnh đời sống văn nghệ tự do cởi mở và bắt đầu trở nên sôi động ở Sài Gòn thời đó.

Tên tuổi Tòng Sơn bắt đầu nổi tiếng, ông nghĩ ra nhiều cách biểu diễn để thu hút khán giả, kết hợp giữa âm nhạc và tạp kỹ.

Trong một lần được đi xem nghệ sĩ harmonica người Mỹ đến Sài Gòn biểu diễn rất điêu luyện và được khán giả tán thưởng rất nhiệt liệt, ông có quyết tâm làm một cái gì đó để chứng tỏ người Việt không thua kém. Ông tập vừa ăn chuối vừa thổi kèn, nhưng ban đầu không dám đem ra biểu diễn. Trong một lần về biểu diễn ở Cần Thơ, ông đánh bạo giở ngón nghề đã khổ luyện trong thời gian dài ra, không ngờ được khán giả đón nhận. Ông có tự tin hơn và mang về Sài Gòn biểu diễn, đạt được thành công ngoài mong đợi.


Click để xem Tòng Sơn biểu diễn vừa ăn chuối, uống bia, vừa thổi kèn bằng mũi

Nhân đà đó, nghệ sĩ Tòng Sơn mày mò tìm chiêu mới, đó là vừa uống nước ngọt vừa thổi. Năm 1957, trong tiệc cưới của ca sĩ Duy Mỹ trong ban Tam Ca Sao Băng, nhóm bạn của Tòng Sơn là nhạc sĩ Khánh Băng, Phùng Trọng đề nghị ông “nâng cấp” màn biểu diễn: thay nước ngọt bằng bia. Sau đó, những tiết mục của ông đã được công chúng xếp vào danh mục biểu diễn của các nghệ sĩ tôn xưng là “quái kiệt” như Ba Vân, Trần Văn Trạch. Đó là một vinh dự rất lớn, vì danh hài Tùng Lâm trong thời đỉnh cao cũng chỉ được gọi là “tiểu quái kiệt” mà thôi.

Nghệ sĩ Tòng Sơn ước tính rằng trong cuộc đời biểu diễn hơn 70 năm của mình, ông đã ăn hơn 10 tấn chuối, hàng chục nghìn chai bia qua các màn diễn.

Năm 1966, khi bộ phim cao bồi lừng danh The Good, The Bad and The Ugly của đạo diễn Sergio Leone được chiếu rạp ở Sài Gòn, giai điệu bất hủ của cây harmonica do nhạc sư Ennio Morricone tạo ra đã làm giới trẻ trở nên mê đắm âm thanh của nhạc cụ này. Liên tục nhiều năm sau đó, các loại phim cao bồi luôn được đánh dấu bằng âm thanh harmonica đã trở thành một phương tiện quảng bá độc đáo cho tài năng của nghệ sĩ Tòng Sơn. Gần như suốt cả một thập niên, đi đâu người ta cũng yêu cầu ông chơi lại bài nhạc cao bồi này, và cũng khi nhắc tới bài nhạc này, người ta lại cứ phải nhớ đến Tòng Sơn.

Tòng Sơn trở thành sao hạng A trong làng giải trí miền Nam, được mời đi lưu diễn khắp nơi trên thế giới qua các nước như: Lào, Campuchia, Mỹ, Nhật, Pháp, Ý, Đức, Úc… Thời đỉnh cao của mình, mỗi ngày ông nhận đến 5 show diễn, tiền cát-sê mỗi tháng ít nhất là 200.000 đồng, tính theo giá vàng thời đó thì ông có thể mua được cả trăm cây vàng trong vài năm sự nghiệp.

Sau năm 1975, nghệ sĩ Tòng Sơn theo đoàn hát Hương Miền Nam đi diễn khắp các tỉnh, sau đó về Sài Gòn thường xuyên diễn tại các sân khấu Tuổi Trẻ, Hòa Bình, 126, Trống Đồng. Năm 2013 nghệ sĩ Tòng Sơn nghỉ hưu, không còn trong biên chế các đoàn hát nữa, nhưng ông vẫn nhận đi diễn, ngay cả khi đã tuổi cao sức yếu ở tuổi ngoài 80. Ông cho biết:

“Hồi 75 tuổi tôi vẫn một mình chạy xe Honda đi diễn, không cần ai chở. Giờ chân tôi yếu lắm rồi, không đi nổi nữa. Mấy cái kèn đạo cụ gắn với tôi, tôi cũng cho hết rồi. Kể cả những tờ báo viết về tôi, tôi cũng cho hết, không giữ lại cái gì cả.

Trước đây tôi đi diễn cũng có tiền nhưng không để dành vì nghĩ mình không sống được lâu. Đợt đó tôi bệnh nặng, từ bệnh viện ra cầm kèn thổi không còn chút hơi nào. Tôi nằm bệnh viện suốt hai tháng trời, về nhà một cái là cho hết đồ diễn vì nghĩ không còn sức để đi diễn nữa. Tôi cho hết các loại kèn, quần áo”.

Thời trẻ Tòng Sơn rất đào hoa, có nhiều vợ, ông tiết lộ rằng có đến 8 đời vợ, riêng người vợ đầu có tới 10 người con. Từng làm ra rất nhiều tiền, từng có nhiều vợ con, nhưng những năm cuối đời nghệ sĩ Tòng Sơn sống cô đơn và túng thiếu trong căn nhà trọ chỉ 13m2 ở Sài Gòn, sau đó về sống chung với người em gái ngoài 70 tuổi.

Tâm sự trên một bài báo, ông cho biết:

“Nếu tui biết tiết kiệm thì đã không phải sống cảnh “nay đây mai đó” như bây giờ. Thời vàng son với nghề, tiền tui kiếm được dư mua nhà to nhà lớn ở đất Sài Gòn này. Nhưng mà lúc đó cứ nghĩ mình còn trẻ, sức lực, tài nghệ và cả khán giả ủng hộ nên tui chẳng tính đến đường lui lúc cuối đời”.

Trong một chương trình truyền hình năm 2021, Tòng Sơn kể:

“Tôi có nhiều con lắm, tôi có tới 8 vợ liền. Riêng với người vợ đầu tiên, tôi đã có tới 10 đứa con. Hồi đó tôi đào hoa lắm, ai cũng mê.

Nhưng hiện tại tôi không ở với người vợ nào hết, cũng không sống với con cái. Tôi ở riêng một mình cùng người em gái thôi.

Sở dĩ như vậy vì ngày trước tôi có lỗi với người vợ đầu tiên. Tôi sống không đàng hoàng, không chịu lo cho gia đình, vợ con, bỏ bà ấy đi ở với người khác. Tôi có 10 đứa con với bà ấy nhưng không lo cho đứa nào.

Một mình bà ấy phải làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ nuôi 10 đứa con lớn khôn. Tôi sai ngay từ đầu nên giờ không trách đứa con nào hết. Tôi biết đó là lỗi của mình.

Sau này, tôi ở với bao nhiêu người vợ tiếp theo, vợ đầu của tôi đều biết hết. Có những lúc thấy tôi khổ, bà ấy cũng mua đồ này nọ tới thăm. Tôi cũng có xin lỗi bà ấy và bà ấy đã tha thứ cho tôi.

Các con tôi thi thoảng cũng gọi điện hỏi thăm tôi chứ không giận hờn gì hết. Với mấy người vợ sau, tôi chỉ ở trong 8, 9 năm rồi chia tay vì khổ quá”.

Năm 2018, nghệ sĩ Tòng Sơn nhập viện vì nhiều bệnh tuổi già: huyết áp, suy nhược cơ, tim mạch… và phải nhờ tới sự giúp đỡ của các bạn bè đồng nghiệp và người hâm mộ.

Đến ngày 3/8/2020, ông một lần nữa phải nhập viện vì bị ngã và cao huyết áp. Biết rõ bệnh tình của mình, nghệ sĩ Tòng Sơn đã chuẩn bị sẵn hậu sự cho mình, có sẵn chỗ khi nằm xuống.

Ngày 12/6/2022, sau thời gian được đưa vào phòng chăm sóc đặc biệt, dù được các y – bác sĩ bệnh viện Trưng Vương tận tình cứu chữa nhưng do tuổi cao, sức yếu và mắc nhiều bệnh nền, nghệ sĩ Tòng Sơn đã qua đời tại nhà riêng, hưởng thọ 92 tuổi.

chuyenxua.vn

Sài Gòn nửa thế kỷ – Bộ sưu tập ảnh màu năm 1972 (kỳ 3)

Mời các bạn theo dõi phần tiếp theo của câu chuyện về những tấm ảnh chụp Sài Gòn năm 1972, thời gian cách đây tròn nửa thế kỳ.

Góc đường Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực – Công Lý (nay là NKKN), là khu vực tập trung nhiều sinh hoạt văn nghệ của Sài Gòn 50 năm trước. Bên trái là Nhà hàng Kim Sơn, nơi tụ tập của các văn nghệ sĩ. Tầng trên cùng là phòng trà Bồng Lai nổi tiếng, và nhiều nghệ sĩ cũng thuê phòng trọ tại tòa nhà này. Chính diện hình là Nhà hàng Quốc Tế và phòng trà Quốc Tế. Dưới trệt là nhà sách và các quầy bán băng dĩa nhạc. Đằng sau tòa nhà Quốc Tế này là Thương xá Tam Đa, cũng là nơi có nhiều cơ sở phát hành băng dĩa nhạc (Thúy Nga, Phạm Mạnh Cương…)

Hồ Cᴏn Rùa 50 năm trước. Đây là một trᴏng những địa điểm quеn thuộᴄ nhất ᴄủa trung tâm Sài Gòn, là nơi tiếp giáp ᴄủa những ᴄᴏn đường thẳng tắp ngày nay là đường Trần Caᴏ Vân, Võ Văn Tần (xưa là Trần Quý Cáp) νà đường Phạm Ngọᴄ Thạᴄh (xưa là đường Duy Tân).

Từ năm mà hình này được chụp (1972), νị trí ᴄủa Hồ Cᴏn Rùa ᴄó tên gọi ᴄhính thứᴄ là Công trường Quốᴄ Tế, tuy nhiên ᴄái tên đó ít đượᴄ dùng tới, mà người ta ᴄhỉ quеn gọi là Hồ Cᴏn Rùa, bởi νì từ khᴏảng năm 1967 đã một ᴄᴏn rùa lớn bằng đồng đượᴄ đặt giữa hồ nướᴄ.

Khu vực Thủ Thiêm năm 1972, đối diện bên kia bến Bạch Đằng. Nơi này từng thuộc quận Thủ Đức trước 1975, sau đó cùng với phường An Khánh tách ra thành Quận 9 thuộc đô thành Sài Gòn. Sau năm 1975 Thủ Thiêm nhập trở lại vô huyện Thủ Đức, sau đó lại tách ra thành Quận 2 từ năm 1997. Đến năm 2021. Thủ Thiêm lại nhập vô Thủ Đức để thành thành phố Thủ Đức.

Từ Thủ Thiêm nhìn về Bến Bạch Đằng, ở phía công trường Mê Linh, có tượng đài Đức Thánh Trần Hưng Đạo, phía bờ sông có thuyền bè tấp nập.

Tòa Hòa Giải (Justice de Paix) ở số 115 đại lộ Nguyễn Huệ,được xây dựng từ thế kỷ 19 và tồn tại cho đến tận năm 1995. Trước khi tòa này được xây dựng thì từ năm 1863, một nhà thờ gỗ được xây dựng ở vị trí này. Đến năm 1880, khi Nhà Đức Đức Bà được xây dựng xong bên đường Catinat thì Nhà thờ gỗ bị dỡ bỏ, nhường chỗ cho Tòa nhà hòa giải. Tòa nhà này tồn tại cho đến hơn 100 năm sau, trước khi bị đập bỏ để cao ốc Sunwah.

Hai bên Tòa Hòa Giải là 2 con đường ban đầu mang tên Ohier và Hamelin. Năm 1917 đường Hamelin tách thành 2, đoạn bên cạnh Tòa Hòa Giải mang tên 1 người Việt là Đỗ Hữu Vị (phi công đầu tiên của Việt Nam, con của Tổng Đốc Phương). Từ năm 1955 đến nay, đường Đỗ Hữu Vị đổi thành Huỳnh Thúc Kháng, đường Ohier đổi thành Tôn Thất Thiệp.

Đường Hồng Thập Tự (nay là NTMK) đoạn gần tới ngã tư với đường Công Lý (nay là NKKN). Phía trước xa xa bên phải là thấp thoáng trường Lê Quý Đôn, đối diện bên kia đường của trường là Dinh Độc Lập.

Nhà thờ Đức Bà năm 1972. Người chụp hình đang đứng ở lề đường Tự Do (nay là Đồng Khởi).

Quang cảnh tập nập ở khu vực bến Bạch Đằng, cảng Sài Gòn, và Bến Nhà Rồng, từng là trụ sở của hãng vận tải hàng hải Messageries maritimes tại Sài Gòn từ năm 1864 đến năm 1955. Sau năm 1955, chính quyền đã cho tu bổ lại mái ngôi nhà và thay thế hai con rồng cũ bằng hai con rồng khác với tư thế quay đầu ra. Năm 1965, tòa nhà được quân đội Mỹ sử dụng làm trụ sở của Cơ quan Tiếp nhận viện trợ quân sự Mỹ.

Sau năm 1975, tòa nhà – biểu tượng của cảng Sài Gòn – thuộc quyền quản lý của Cục đường biển Việt Nam.

Hình ảnh khác của Bến Bạch Đằng năm 1972, nhìn vế hướng đi công trường Mê Linh, chụp từ trên tầng cao của Majestic Hotel (đầu đường Tự Do).

Viện bảo tàng nằm trong Thảo Cầm Viên, được khánh thành năm 1929, ban đầu mang tên là Bảo tàng Blanchard de la Brosse (đặt theo tên Thống đốc Nam kỳ – người cho khởi công xây bảo tàng), còn gọi là  bảo tàng Hội nghiên cứu Đông Dương. Từ năm 1956-1975, bảo tàng mang tên là Bảo tàng quốc Gia Việt Nam do Bộ quốc gia giáo dục quản lý. Năm 1970, bảo tàng được nới rộng, xây thêm một tòa nhà hình chữ U ở giữa là hồ nước. Sau năm 1975, nơi này mang tên Bảo tàng lịch sử.

Hình ảnh công viên Đống Đa đằng trước Tòa Đô Chánh. Bên trái hình là cinema REX nằm bên trong REX Hotel. Khách sạn này được vợ chồng ông bà Ưng Thi xây từ thập niên 1950, còn REX cinema là rạp chớp bóng hiện đại nhất Đông Nam Á thời đó, là rạp duy nhất của Sài Gòn có màn ảnh đại vĩ tuyến để chiếu những cuốn phim có kỹ thuật tân tiến nhất với dàn máy chiếu đặc biệt.

Đông Kha – chuyenxua.vn
Hình ảnh: manhhai flickr

Lịch sử Tòa nhà Dinh toàn Quyền (nay là Phủ chủ tịch) và sự ra đời của chức vụ Toàn quyền Đông Dương

Trong suốt thời kỳ Liên bang Đông Dương từ năm 1887-1954, người lãnh đạo cao nhất của Pháp ở Đông Dương là Toàn quyền Đông Dương. Ban đầu thủ đô của Liên bang Đông Dương ở Sài Gòn, đến năm 1902 chuyển ra Hà Nội, cùng năm đó công trình Dinh toàn quyền được xây dựng ở thủ đô mới, nơi ngày nay là Phủ chủ tịch.

Dinh toàn quyền được xây dựng trên khu đất rất rộng và nhiều cây xanh trước đó vốn thuộc vườn Bách Thảo, án ngữ tuyến phố La République (nay là phố Hoàng Văn Thụ) và nhìn ra quảng trường Puginier (nay là quảng trường Ba Đình).

Để tìm hiểu về sự hiện diện của chính quyền Pháp ở Hà Nội và toàn xứ Bắc, cùng với sự hình thành của chức danh Toàn quyền Đông Đương, xin giở lại trang sử vào 140 năm trước. So với Sài Gòn, thì người Pháp chiếm Hà Nội chậm hơn 20 năm.

Đó là năm 1882, viện cớ là triều đình Nguyễn không tôn trọng hiệp ước năm 1873, đại tá hải quân Pháp là Henri Rivière chỉ huy quân đánh chiếm Hà Nội, thành Hà Nội do tổng đốc Hoàng Diệu trấn thủ đã bị hạ nhanh chóng. Liên tiếp 2 năm 1883 và 1884, triều đình Huế buộc phải ký 2 hiệp ước công nhận sự bảo hộ của Pháp ở xứ Bắc và Trung kỳ (Trước đó toàn cõi Nam kỳ đã là thuộc địa của Pháp kể từ 1867).

Ngày 19/7/1888, sau khi chiếm được Hà Nội 5 năm, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội (tách biệt với tỉnh Hà Nội đã được thành lập từ thời Minh Mạng).

Ngày 1/10/1888, triều đình Huế hợp thức hóa quyết định bên trên, khi vua Đồng Khánh ký chỉ dụ cắt Hà Nội thành nhượng địa của Pháp (cùng với đó là Hải Phòng và Đà Nẵng). Ngày 3/10/1888, Toàn quyền Richaud chính thức đưa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng trở thành những thành phố theo chế độ nhượng địa (Các phần lãnh thổ khác của xứ Bắc và Trung, về mặt danh nghĩa thì vẫn là xứ bảo hộ, chứ không phải là nhượng địa như 3 thành phố kia).

Ngay sau khi kiểm soát những thành phố nhượng địa này, người Pháp đã tiến hành xây dựng nhiều công trình, sơ sở hạ tầng, cơ quan công quyền, trong đó có phủ toàn quyền Đông Dương.

Xin nói thêm về Toàn quyền Đông Dương, chức danh này chỉ có từ năm 1887, khi Pháp có nhượng địa ở cả 3 miền Việt Nam. Trước đó Pháp chỉ có quyền cai trị hoàn toàn ở Nam kỳ, nên chức vụ cao nhất của chính quyền thực dân tại Đông Dương là Thống đốc Nam kỳ.

Sau năm 1884, Liên bang Đông Dương được thành lập, ban đầu thủ đô ở Sài Gòn, bao gồm Việt Nam và xứ Cao Miên.

Khi đó toàn cõi Việt Nam là xứ bảo hộ của Pháp với 3 hình thức: Nam kỳ (từ Bình Thuận trở vô) là thuộc địa, do Pháp trực tiếp cai trị. Trung kỳ về danh nghĩa thuộc triều đình Huế, trừ Đà Nẵng bị cắt thành nhượng địa năm 1888. Bắc kỳ là xứ bảo hộ, trừ Hà Nội và Hải Phòng là nhượng địa.

Từ đó, Pháp có thêm chức vụ Khâm sứ miền Trung ở Huế, gần như là Đại sứ của nước Pháp ở Đại Nam, và chức vụ Thống sứ Bắc kỳ, giám sát việc cai trị của quan lại Việt Nam. Ngoài ra bên Cao Miên cũng có chức vụ khâm sứ giống như ở Trung kỳ.

Ba chức danh Thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và Thống sứ Bắc kỳ độc lập với nhau, và đều dưới dưới quyền của một chức vụ mới là Toàn quyền Đông Dương (đồng thời Khâm sứ Cao Miên cũng dưới quyền Toàn quyền Đông Dương). Thỉnh thoảng trong các văn bản sau năm 1888, người ta còn gọi chức vụ Thống đốc Nam kỳ bằng cái tên Phó Toàn quyền Đông Dương, vì vậy nơi làm việc của viên chức này còn gọi là “Dinh Phó Soái”, tức Dinh Gia Long nằm trên đường la Grandiere (nay là Lý Tự Trọng).

Thời kỳ ban đầu vì chưa có Dinh toàn quyền nên các Toàn quyền Đông Dương ở và làm việc tại dinh Thống đốc Nam kỳ cũ là Dinh Norodom ở Sài Gòn (còn Thống đốc Nam kỳ chuyển qua sử dụng Dinh phó soái như đã nói ở trên).

Năm 1902, thủ đô của Liên bang Đông Dương chuyển ra Hà Nội, đây cũng là năm Dinh toàn quyền Đông Dương được xây dựng ở thủ đô mới. Đến năm 1906, Dinh toàn quyền mới được xây xong, từ đó các Toàn quyền Đông Dương chuyển ra sinh sống và làm việc ở Hà Nội.

Công trình Phủ Toàn quyền Đông Dương (tiếng Pháp: Palais du Gouvernement général de l’Indochine) do kiến trúc sư Charles Lichtenfelder thiết kế và được xây dựng trong những năm 1901-1906 với quy mô hoành tráng, uy nghiêm và quyền lực.

Việc xây dựng được Toàn quyền Paul Doumer khởi xướng khi ông nhậm chức năm 1897. Học giả William Logan cho rằng “việc tạo ra các dinh thự ở Hà Nội là một niềm đam mê quá mức của Doumer vì muốn xây dựng một thủ đô thuộc địa phản chiếu vinh quang của nước Pháp”. Tuy nhiên khi Dinh toàn quyền được xây xong năm 1906 thì Paul Doumer đã hết nhiệm kỳ và trở về Pháp được 4 năm.

Theo bài viết của tác giả Nguyễn Ngọc Tiến đăng trên báo Thanh Niên, ban đầu người Pháp dự định xây dinh toàn quyền trên một khu đất rộng ở khu vực đường Henri Rivière (nay là phố Ngô Quyền), nhưng khu đất này không đủ rộng để phô diễn kiến trúc Pháp và thể hiện quyền lực của nước Pháp nên công việc xây Dinh toàn quyền bị trì hoãn (Mảnh đất này sau đó xây Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, nay là trụ sở của Bộ LĐ-TB-XH).

Phủ Thống sứ Bắc Kỳ

Khi công việc phá dỡ tường thành Hà Nội hoàn thành năm 1897, chính quyền thuộc địa quyết định lấy một phần đất phía tây bắc thành và một phần đất của Vườn thực vật (thành lập năm 1890, nay là Bách thảo) để xây dinh.

Công việc quy hoạch dinh giao cho KTS người Pháp gốc Nga Vladimir de Gontcharoff. KTS này sử dụng 12.000 m2 đất cho công trình với một tòa nhà chính và các công trình phụ. Vẽ phối cảnh, thiết kế tổng thể do KTS Henry Vildieu đảm nhiệm trên tinh thần tân cổ điển và những bản thiết kế hoàn thành vào năm 1899. Dinh chính cao 4 tầng gồm: tầng hầm, tầng trệt và 2 tầng gác. Tổng chi phí cho công trình (kể cả những lần sửa chữa) là 1.228.386 đồng Đông Dương.

Văn phòng Dinh Toàn quyền

Bảng tiêu chuẩn vật liệu xây dựng công trình do KTS Lichtenfelder lập để đấu thầu gồm những vật liệu tốt nhất. Gạch phải lấy từ nhà máy gạch Hà Nội và Đáp Cầu (Bắc Ninh). Đá xây móng lấy ở vùng Đông Triều (Quảng Ninh) và Kẻ Sở (Hà Nam). Cầu thang ngoài trời dùng đá hoa cương trắng Thanh Hóa. Đá mảnh nhỏ dùng để ghép là đá Biên Hòa. Cầu thang, cửa dùng gỗ lim, gụ Thanh Hóa, Nghệ An; gỗ lát sàn là lãnh sam (họ của gỗ thông) nhập khẩu từ Mỹ và Na Uy. Xi măng, sắt thép, kính, tôn… sản xuất ở Pháp. Lichtenfelder cũng đưa ra những yêu cầu rất khắt khe, chi tiết, như gỗ phải thẳng thớ, không có mắt, không có mấu, phải khô. Từng viên gạch phải nung đủ chín, vuông vắn. Xi măng chở từ Pháp sang phải đóng trong thùng kín. Với vôi, nhà thầu phải vận chuyển đến công trình và tỷ lệ chưa chín chỉ là 10%, sau khi các kỹ sư chấp thuận mới cho tôi lên.

Tòa nhà chính được khởi công tháng 5 năm 1903. Trong quá trình thi công, KTS Lichtenfelder mới thiết kế chi tiết nội thất các phòng và lập bảng tiêu chuẩn để đấu thầu. Phong cách trang trí của dinh thự rất cầu kỳ và tỉ mỉ. Bàn họp, ghế ngồi sơn men trắng có đường chỉ mạ vàng. Đèn chùm, đèn vách, đèn góc, đèn tường theo nhiều phong cách: đế chế, phục hưng, Louis XIV. Riêng đèn chùm 5 bóng có quạt trần theo phong cách hiện đại. Đá ốp lò sưởi ở phòng khánh tiết là đá hoa cương màu. Bản thiết kế bếp do Hãng Ateliers Briffaut (Pháp) cung cấp với bệ rửa bát hoàn toàn bằng bạc đã giành được giải vàng Triển lãm quốc tế kiến trúc năm 1900.

Cổng Dinh toàn quyền

Theo bài viết của KTS Trần Quốc Bảo, cổng chính được làm bằng thép có phong cách trang trí thời Phục Hưng, các chi tiết được liên kết khá cầu kỳ bằng đinh tán, vọng gác hai bên được xây dựng cũng khá cầu kỳ, các diện tường chạy gờ chỉ ngang bên dưới các Fronton càng làm tăng vẻ tráng lệ mà nghiêm trang của công trình mang tính cường quyền này.

Cổng Dinh toàn quyền

Công trình gồm 4 tầng: Dưới cùng là tầng hầm dành cho các phòng phục vụ gồm 11 phòng dung làm nơi để lương thực, bếp, điện, máy bơm nước và phòng lưu trữ công văn. Tầng trệt có 10 phòng chính, 1 phòng khánh tiết của hội đồng cấp cao Đông Dương diện tích rất lớn, xung quang là các phòng của sĩ quan tùy tùng, phòng làm việc và phòng của nhân viên phục vụ; tầng 2 có sân trời gồm 9 phòng chính, 1 làm việc của Toàn quyền Đông Dương, phòng họp, 2 phòng khách, 2 phòng ngủ, 1 phòng ăn cùng các phòng làm việc; tầng 3 là nơi sinh hoạt của gia đình viên Toàn quyền.

Phòng khách trong Dinh toàn quyền

Mố số hình ảnh bên trong dinh:

Phòng khách lớn

Một góc phòng khách

Phòng tiếp tân lớn

Phòng tiếp tân

Một góc phòng tiếp tân

Phòng hut thuôc

Hành lang

Phòng ngủ

Phòng ăn

Toàn cảnh phòng ăn

Phòng ăn

Phòng làm việc

Bàn làm việc của Toàn quyền Đông Dương

Phòng làm việc của thư ký riêng

Bàn làm việc của chánh văn phòng

Sảnh cầu thang

Sảnh cầu thang

Cầu thang lên khu ở riêng của Toàn quyền

Mặt bằng công trình hình gần vuông theo kiểu Palladio thời Phục hưng hậu kỳ có lối vào từ 3 phía mang tính đối xứng nghiêm ngặt, đây cũng là nét độc đáo của toà nhà vì ở Hà Nội chỉ có duy nhất Dinh Toàn quyền là có dạng mặt bằng này.

Phía trước sảnh chính là một cầu thang đại hội lớn xây bằng đá rất rộng, có nhiều bậc và được kéo thẳng lên tầng một càng làm tăng tính kỳ vĩ của công trình. Cầu thang ở những phía còn lại có bản thang nhỏ gọn hơn nhưng cũng được trang hoàng bằng các hình thức đậm chất Cổ điển. Nhìn chung thiết kế mặt bằng của Charles Lichtenfelder dựa trên nền tảng của sự đăng đối trong việc bố trí các không gian, vị trí các cửa cũng như cầu thang trong và ngoài nhà… tất cả là sự hài hòa theo tinh thần Tân cổ điển. Nội thất được bài trí theo phong cách vương giả, cầu kỳ gồm các chi tiết thời Louis XV, Phục Hưng hay Đế chế Pháp. Tùy vào mỗi lần thay đổi Toàn quyền, người kế nhiệm lại thay đổi, trang trí theo ý thích riêng mà bên trong công trình lại được sửa chữa, tu bổ nên nội thất công trình phần nào mang tính Triết chung.

Mặt chính công trình cho thấy ảnh hưởng của phong cách kiến trúc Palladio với sự tuân thủ nhịp điệu đặc – rỗng – đặc và các hàng cột thức cổ điển giàu tính trang trí. Toàn bộ công trình được đặt trên một tầng đế chắc đậm với lượng mở cửa rất nhỏ, tường xây tạo chỉ lõm, các bậc thang bằng đá nhấn mạnh tính bề thế. Mặt nhà chia thành 3 phần rõ rệt theo phương ngang. Khu vực trung tâm mang tính rỗng, được trang trí bằng các hàng cột La Mã, tầng 1 dùng thức Doric mạnh mẽ, tầng 2 dùng thức Ionic nhẹ nhàng, giữa hàng cột là các cửa mở rộng và kết thúc theo kiểu cuốn vòm, phần trên khá nhẹ với các ô cửa hình vuông phía dưới một diềm mái được trang trí rất tinh tế. Kết thúc theo phương ngang là hai khối nhô mạnh ra phía trước (avantcorps) mang tính đặc với hai hàng cửa có tương quan diện tích tương đối nhỏ so với mặt tường nhưng được trang trí cầu kỳ, hai phía cửa đều được nhấn bởi các thức cột, tầng dưới thức Doric, tầng trên thức Ionic, kết thúc phía trên bằng hình thức hai Fronton xếp chồng lên nhau theo kiểu Baroque.

Các mặt bên không sử dụng thức cột cổ điển nhưng vẫn tuân thủ tính đối xứng nghiêm ngặt. Tầng trệt và tầng 3 vẫn tuân thủ quy luật bố trí cửa trên mặt chính với lượng mở cửa nhỏ, khu vực giữa tầng một là hệ 5cửa sổ và cửa đi cấu tạo kiểu vòm cuốn composite, phía trên có các hoa văn trang trí hình hoa lá đắp nổi, tầng 2 là các cửa chữ nhật kiểu Corinth có ban công chạy dài suốt khu vực giữa nhà. Khối kết thúc hai phía mặt bên có các cặp cửa cuốn kép composite ở tầng 1, tầng 2 có ban công nhỏ ở giữa là cửa đi được trang trí cầu kỳ bởi các cột nhỏ theo thức Ionic, phía trên là một vòm trang trí kiểu Corinth.

Mặt sau nhà là thể hiện lặp lại theo quy luật của mặt chính nhưng ở mức độ đơn giản hơn nhiều về tính trang trí. Nét nổi bật ở đây là hệ cột Corinth La Mã có độ cao vượt suốt hai tầng nhà, phía dưới là ba cửa cuốn vòm Composte, tương ứng với ba cửa chữ nhật kiểu Corinth ở phía trên. Kết thúc hai phía cũng là những khối đặc nhô ra theo kiểu avantcorps với ban công và cửa đi cuốn vòm ở tầng 1, ban công nhỏ cùng cửa đi được trang trí thống nhất với mặt bên ở tầng 2.

Bên cạnh việc tuân thủ các quy tắc tổ chức không gian mặt đứng thời Phục hưng hậu kỳ, các chi tiết trang trí trên mặt đứng cho thấy công trình còn mang ảnh hưởng của phong cách Baroque với những đường cong uốn lượn, các Fronton xếp chồng lên nhau cùng các cửa mắt bò (oeil de boeuf). Chính sự pha trộn này cũng làm tăng thêm nét duyên dáng của công trình.

Với tư cách trụ sở cơ quan quyền lực cao nhất toàn xứ Đông Dương, với tính chất một công trình long trọng, nguy nga, được xử lý nhuần nhuyễn theo nguyên tắc kiến trúc Phục hưng hậu kỳ, Dinh Toàn quyền Đông Dương xứng đáng là đại diện lớn nhất cho thể loại nhà hành chính theo phong cách Tân cổ điển ở Hà Nội.

Từ khi tòa nhà được hoàn thành đến năm 1945, đã có 29 đời Toàn quyền và Quyền Toàn quyền ở và làm việc tại đây.

Khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương năm 1945, dinh thự này được sử dụng là nơi ở và làm việc của Công sứ Nhật tại Bắc Bộ. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, người Pháp tìm cách tiếp quản dinh thự này như một biểu tượng tái xuất hiện quyền cai trị. Tuy nhiên, ngày 3 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh bãi bỏ toàn bộ các cơ quan thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương và thiết lập một hệ thống cơ quan phục vụ chính phủ lâm thời Việt Nam tại đây.

Sau khi tái chiếm Đông Dương cuối năm 1946, người Pháp đã sử dụng nơi đây làm nơi làm việc cho Ủy viên Cộng hòa tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ (tiếng Pháp: Commissaire de la République pour le Tonkin et l’Annam du Nord). Năm 1954, Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ, sau đó rời khỏi Đông Dương, tòa nhà được dùng làm Dinh thự cho Chủ tịch nước và bộ máy cơ quan giúp việc. Từ đó có tên gọi chính thức là Phủ Chủ tịch cho đến ngày nay.

Đông Kha – chuyenxua.vn
Hình ảnh: manhhai flickr

Cuộc đời vua Bảo Đại qua hình ảnh – Phần 1: Hoàng đế cuối cùng

Bảo Đại là hoàng đế thứ 13 và là vị vua cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn, cũng là vị hoàng đế cuối cùng của chế độ quân chủ trong lịch sử Việt Nam. Cuộc đời của ông trải qua nhiều thăng trầm giữa thời cuộc nhiều biến động, được sinh ra và làm vua giữa lúc đất nước bị thực dân đô hộ, rồi qua đời với thân phận lưu vong xứ người. Bộ ảnh này sẽ kể lại sống động cuộc đời của vị hoàng đế cuối cùng, với phần 1 là hình ảnh trong thời gian thuở thiếu thời của vị hoàng tử/thái tử, cho đến lúc trở thành vua, rồi thoái vị năm 1945.

Hoàng đế Bảo Đại tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, sinh ngày 22/10/1913 tại kinh thành Huế, là con trai duy nhất của vua Khải Định, mẹ là Hoàng Thị Cúc.

Hoàng tử Vĩnh Thụy năm 1919

Hoàng tử Vĩnh Thụy và mẹ, bà Hoàng Thị Cúc

Ngày 28/4/1922, hoàng tử Vĩnh Thụy được sách lập làm Đông cung Hoàng Thái tử.

Ngày 15 tháng 6 năm 1922, thái tử Vĩnh Thụy cùng vua Khải Định sang Pháp để tham gia cuộc triển lãm hàng hóa (đấu xảo) tại Marseille. Đây là lần đầu tiên Vĩnh Thụy đi sang một quốc gia ở miền Tây Âu.

Hình ảnh thái tử Vĩnh Thụy và vua cha tại Pháp năm 1922:

Trên tàu sang Pháp

Cũng trong chuyến đi này, thái tử Vĩnh Thụy được vợ chồng cựu Khâm sứ Trung kỳ là Jean François Eugène Charles nhận làm con nuôi và cho học ở trường Lycée Condorcet.

Tháng 2 năm 1924, thái tử Vĩnh Thụy về nước để dự Lễ tứ tuần đại khánh của vua Khải Định, đến tháng 11 trở lại nước Pháp để tiếp tục học trường Hattemer.

Thái tử Vĩnh Thụy trong Lễ tứ tuần đại khánh (sinh nhật 40 tuổi) của vua Khải Định. Ngồi bên cạnh là Toàn quyền Đông Dương Martial Merlin (nhiệm kỳ 1923-1925)

Hình ảnh vua Khải Định và thái tử Vĩnh Thụy. Có nhiều lời đồn về việc Vĩnh Thụy không phải là con ruột của vua, nhưng có thể thấy trong hình ảnh này thì họ rất giống nhau

Thái tử Vĩnh Thụy năm 1925

Ngày 6 tháng 11 năm 1925, vua Khải Định mất, thái tử Vĩnh Thụy về nước thọ tang.

Thái tử Vĩnh Thụy trong lễ tang vua Khải Định

Ngày 8 tháng 1 năm 1926, khi mới 13 tuổi, thái tử Vĩnh Thụy được tôn lên kế vị làm hoàng đế kế nhiệm, lấy niên hiệu Bảo Đại.

Lễ đăng quang của vua Bảo Đại

Tháng 3 cùng năm 1926, vua Bảo Đại trở lại Pháp để tiếp tục du học.

Một số hình ảnh vua Bảo Đại năm 1926 tại Paris, khi ông ở tại nhà của cha nuôi là Jean François Eugène Charles – cựu khâm sứ Trung Kỳ, trong thời gian du học ở Pháp:

Với em họ là hoàng thân Vĩnh Cẩn

Ông bà Charles và 2 người con nuôi Vĩnh Thụy – Vĩnh Cẩn

Thời khoá biểu trong những năm niên thiếu của vua Bảo Đại thời gian ở Pháp được quy định chặt chẽ, chính xác, thích hợp với việc dạy làm vua trong tương lai. Ngoài giờ lên lớp buổi sáng, thời gian còn lại là làm những bài tập rất chuyên cần cùng với vài người đồng hương.

Vua Bảo Đại tại lễ khánh thánh Hội quán Binh sĩ Đông Dương tại Val-de-Grâce, Pháp, tháng 3 năm 1927

Từ niên khóa 1930, vua Bảo Đại vào học trường Sciences Po, Paris (Học viện nghiên cứu chính trị Paris). Ông sống trong một căn nhà dành riêng cho mình tại số 13 phố Lamballe. Theo báo L’Asie Nouvelle (Châu Á mới) kể lại, ngoài thời gian học, nhà vua trẻ chơi thể thao. Đây là một điều mới mẻ, một cuộc cách mạng với hoàng tộc. Những ảnh chụp thời đó cho thấy vua Bảo Đại mặc trang phục tennis, quần soóc, áo thun trắng, hay trang phục của người chơi gôn, trượt tuyết.

Lúc nào nhà vua cũng ăn mặc chỉnh tề, trau chuốt, lịch sự, điển trai, hợp với những thú vui Paris hơn là hoạt động chính trường.

Vua Bảo Đại năm 1930

Hình ảnh năm 1931, nhà vua trẻ trong ngày khai mạc Hội chợ Thuộc địa Paris 1931, bên cạnh là toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier:

Một số hình ảnh trong năm cuối cùng vua Bảo Đại ở Pháp trước khi về lại An Nam sau tròn 10 năm du học:

Tháng 9 năm 1932, vua Bảo Đại hồi loan về nước chính thức nắm quyền làm hoàng đế.

Nhà vua trở về bằng đường biển, trên con tàu Alerte cập bến ở Tourane (Đà Nẵng). Khoảng 9h sáng tàu mới cập cảng, nhưng theo báo chí thời đó ghi lại thì nhưng không khí ở Tourane đã nhộn nhịp từ sáng sớm. Năm giờ sáng, quanh tòa Đốc lý, đám đông đã tụ tập và đến bảy giờ, người đã chen nhau chật ních như nêm cối kéo hai dãy dài chừng 2, 3 trăm thước. Số khác không còn chỗ để chen chân, đành đứng cả dưới nước chờ đợi: “Lúc đó thực là người đủ các nước Pháp, Nam, Trung Hoa. Trông như một cái bể người, sóng vỗ ầm ầm vậy”.

Vua Bảo Đại trong ngày trở về, 8/9/1932), lúc này vua mới 19 tuổi

Một số hình ảnh đón tiếp vua Bảo Đại về nước ở Đà Nẵng:

Đám đông đang chờ tàu Alerte chở vua Bảo Đại vào đến Đà Nẵng

Tàu Alerte đang chuẩn bị cập bến

Nhà vua lên tảu lửa để về Huế

Vua Bảo Đại về tới Huế:

Sau đó vua Bảo Đại thực hiện nhiều cải cách, ra quyết định nhằm vào những tập tục lâu đời mang tính hình thức đang cột chặt lối sống và nếp nghĩ của Triều đình. Nhà vua xoá bỏ những thói hối lộ trong bộ máy cai trị của triều đình và đổi mới các quy tắc thừa hưởng của người Trung Hoa, cho giảm bớt các lễ thức chào hỏi cung kính, tôn thờ. Bớt những đồ đạc bài trí chỉ gây tò mò mà vô bổ. Bỏ hẳn thói quen để móng tay dài quá mức, để râu dài ở các cụ cao tuổi, chỉ dám nhìn dưới đất chứ không ngẩng mặt lên nhìn vào người đối thoại…

Vua Bảo Đại và Thượng thư bộ Lại Nguyễn Hữu Bài hướng dẫn Phái đoàn Toàn quyền Pháp thăm Đại nội Huế

Chỉ mấy tháng sau ngày trở về chấp chính, vua Bảo Đại đã có chuyến đi thăm các tỉnh trong xứ An Nam (một việc trước đây các Hoàng đế tiền nhiệm chưa bao giờ làm). Nhà vua tuyên bố thẳng không chút quanh co úp mở rằng ông có ý định một mình cầm quyền không cần thủ tướng, qua đó muốn nói lên ý muốn nắm quyền thực sự chứ không chỉ bằng lòng với vai trò danh dự.

Một số chuyến đi của Bảo Đại khắp các vùng khác được ghi lại trong loạt ảnh năm 1933 sau đây:

Vua Bảo Đại và đoàn tùy tùng ở Darlac năm 1933

Vua Bảo Đại ở Darlac (Đắc Lắc):

Ở Ban Mê Thuộc

Ở Phan Thiết

Vua Bảo Đại ở Đà Lạt

Một số hình ảnh ở Nha Trang:

Dưới triều Nguyễn, có một nghi lễ quan trọng là lễ tế trời được cử hành tại đàn Nam Giao vào trung tuần tháng hai hàng năm. Trước triều vua Thành Thái, lễ được tổ chức một năm hoặc hai năm một lần. Đến năm Thành Thái thứ 2 (1890), đổi lại là ba năm tế một lần.

Đàn Nam Giao được xây dựng xong vào năm Gia Long thứ 5 (1806) ở làng Dương Xuân, phía nam Kinh thành Huế, trong một khuôn viên đất dài 390m, rộng 265m, trên một vị thế cao ráo, thoáng đãng.

Sau đây là một số hình ảnh trong ngày lễ tế đàn Nam Giao, lần đầu vua Bảo Đại làm chủ tế trong 2 ngày 15,16 tháng 3 năm 1933:

Đầu tháng 12 năm 1933, vua Bảo Đại có chuyến ngự du Bắc Hà thăm dân chúng:

Vua Bảo Đại ở Hải Phòng 1/12/1933

Vua Bảo Đại ở Hà Nội 2/12/1933

Năm 1934, vua Bảo Đại làm lễ cưới với Jeanne Mariette Nguyễn Hữu Hào (Nguyễn Hữu Thị Lan), con gái của Pierre Nguyễn Hữu Hào, một điền chủ giàu có theo đạo Công giáo.

Vua Bảo Đại năm 1934

Đám cưới cử hành ngày 20/3/1934 tại Điện Dưỡng Tâm (Tử Cấm Thành – Huế). Khi đó vua Bảo Đại 21 tuổi, còn hoàng hậu tròn 20. Cuộc hôn nhân của vị vua cuối cùng triều Nguyễn đi kèm với những thỏa thuận trước đó chưa từng có:

  • Thứ nhất là giải tán tam cung lục viện, tuân thủ chế độ một vợ một chồng, không còn chuyện năm thê bảy thiếp như những vị vua trước.
  • Thứ hai, hoàng đế tấn phong hoàng hậu sau khi cưới, chứ không phải là chỉ được phong sau khi hoàng đế qua đời như trước.
  • Thứ ba, con trai sinh ra phải được phong là thái tử.

Một số hình ảnh lễ cưới năm 1934:

Sau này cựu hoàng Bảo Đại kể trong hồi ký như sau:

“Lễ cưới được tổ chức ngay trong phòng tiếp tân của điện Cần Chánh. Cũng giống như lễ đăng quang, triều thần đứng sắp hàng dọc theo một tấm thảm đỏ và vàng dành riêng cho Hoàng đế. Lần đầu tiên trong lịch sử triều Nguyễn có một người phụ nữ xuất hiện giữa triều đình” (vì trước đó nơi này chỉ dành cho vua và các quan đại thần bàn việc nước).

Vua Bảo Đại kể thêm:

Nam Phương mặc áo rộng thùng thình, chân đi hài mũi cong, đầu đội vương miện có đính vàng ngọc châu báu óng ánh. Nàng đi một mình đến giữa tấm thảm, tất cả triều thần cúi chào. Với một vẻ đẹp tuyệt vời, nàng đi thẳng vào các phòng lớn, tôi đang ngồi chờ nàng trên một cái ngai thấp ở đó. Nàng đến đứng trước mặt tôi, cúi đầu chào tôi ba lần rồi ngồi ở cái chái bên phải của tôi. Buổi lễ ngắn ngủi chấm dứt. Hoàng hậu đã bên tôi. Chúng tôi sánh vai nhau bước đi trong tiếng nhạc mừng, qua Tử Cấm Thành vào điện Kiến Trung – nơi ở và làm việc chính của chúng tôi.”

Chỉ một ngày sau lễ cưới, ngày 21/3/1934, Nguyễn Hữu Thị Lan được sắc phong là Nam Phương Hoàng Hậu.

Ngày 4/1/1936, Hoàng hậu sinh thái tử Bảo Long:

Lễ giới thiệu thái tử Bảo Long
Nhà vua và Hoàng hậu năm 1936

Phòng làm việc của vua ở điện Kiến Trung

Là một vị vua không có thực quyền, vì quyền lực đều nằm trong tay chính quyền thực dân, nên thời gian từ khi về nước đến khi thoái vị vào tháng 8 năm 1945, vua ít khi tham gia vào việc triều chính mà dành phần lớn thời gian để vùng cao nguyên săn bắn nghỉ mát hoặc sang Pháp. Sau đây là những hình ảnh vua Bảo Đại trong thời gian này (cuối thập niên 1930).

Đầu thập niên 1940 cho đến năm 1945, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển, Nhật thế chân Pháp ở Đông Dương, vua Bảo Đại thành lập chính phủ Trần Trọng Kim. Sau cách mạng tháng 8, vua Bảo Đại chính thức thoái vị, kết thúc chế độ quân chủ. Phần 1 của xin kết thúc ở đây, phần 2 của bộ hình ảnh những tấm hình của Bảo Đại sẽ là khoảng thời gian từ 1945-1997, khi Bảo Đại trở thành một cựu hoàng, rồi là quốc trưởng trước khi bị truất bỏ năm 1955 và phải lưu vong ở hải ngoại cho đến khi qua đời năm 1997.

Đông Kha – chuyenxua.vn
Hình ảnh: manhhai flickr

Bộ ảnh những chuyến tàu điện ở Hà Nội trước thập niên 1990 – Ký ức một thời leng keng xe điện

Tuyến đường sắt nội thành đầu tiên của Việt Nam được xây dựng ở Sài Gòn, kết nối Sài Gòn và Chợ Lớn và đi vào hoạt động từ năm 1881, ban đầu chạy bằng động cơ hơi nước (đến 1911 mới bắt đầu chuyển qua động cơ điện).

Trễ hơn tròn 20 năm, đường sắt nội thành ở Hà Nội được khánh thành năm 1901, nhưng khi đó sự tiến bộ trong công nghệ đã giúp tuyến đường sắt này có hệ thống các tàu điện hiện đại nhất thời bấy giờ, với các đầu xe được chạy bằng động cơ điện ngay từ lúc bắt đầu.

Trước đó, ngay khi chiếm đóng Hà Nội, người Pháp đã sớm đặt một tuyến đường ray đi từ khu Đồn Thủy dọc Tràng Thi đến thành Hà Nội. Nhưng thuở đó xe chưa được cơ khí hóa, tàu do 3 con lừa hoặc ngựa kéo, chuyên chở người và hàng hóa cho người Âu.

Theo Tim Doling (tác giả của cuốn sách The Railways and Tramways of Viet Nam), công ty Compagnie des Tramways Électriques d’Hanoï et Extensions (CTEH) đã được thành lập vào măm 1900 để xây dựng hai tuyến tàu điện đầu tiên, và cùng được khánh thành vào tháng 11 năm 1901.

Từ đó trở về sau, người Pháp đã xây dựng ở Hà Nội tổng cộng 5 tuyến tàu điện nội thành.

Tàu điện tuyến số 1 đang đi trên rue Francis Garnier, nay là phố Đinh Tiên Hoàng. Trước đó, đây là phố Hàng Chè, nối liền với phố Hàng Bài (chỗ người chụp hình đang đứng, lúc này mang tên đại lộ Đồng Khánh). Bên trái hình này là Hồ Hoàn Kiếm, bên phải là rue Paul Bert (nay là phố Tràng Tiền)

Hai tuyến tramway đầu tiên cùng hoạt động trong năm 1901, cùng khởi hành từ ga Place des Cocotiers ở Bờ Hồ, lúc đó được gọi là quảng trường Négrier (nay là vòng xoay Hàm Cá Mập, hoặc quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục) ở phía bắc hồ Petit Lac (hồ Hoàn Kiếm hiện nay).

Tàu điện đi trên phố Hàng Bài năm 1960. Bên trái là cửa hàng Mậu Dịch Quốc Doanh (nay là Tràng Tiền Plaza)

Tuyến số 1 đi về phía Nam, qua đại lộ Đồng Khánh (nay là phố Hàng Bài) qua phố Huế rồi đến khu Bạch Mai (hiện nay gần Chợ Trời). Năm 1905, tuyến số 1 kéo dài thêm gần 2km để đến Chợ Mơ trên phố Bạch Mai ngày nay.

Tàu điện tuyến số 2 tại phổ cổ Hà Nội. Hai bên đường là trụ cấp điện cho xe, thông qua 1 cái cần gắn trên nóc xe

Tuyến số 2 thì lên dọc theo phố cổ Hàng Đào, theo hướng Đông Bắc lên phía đại lộ du Grand Bouddha (nay là phố Quán Thánh) để đến Làng Giấy, gần Chợ Bưởi ở Quận Tây Hồ ngày nay.

Tàu điện tuyến tramway số 2 đi xuyên qua Phổ Cổ, trên phố Hàng Đào

Tuyến tramway số 2 đi ngang qua Chợ Đồng Xuân để lên hướng Bắc thành phố

Trước chợ Đồng Xuân đầu thập niên 1990. Bên trên là dây cấp điện đi dọc theo đường ray tàu điện

Năm 1904, tuyến số 3 được tiến hành lắp đặt, cũng khởi hành từ ga Place des Cocotiers đi về phía Tây từ hồ Hoàn Kiếm qua các phố du Chanvre (Hàng Gai) và du Coton (Hàng Bông) qua công viên Cửa Nam (nay là Vườn Hoa Bách Việt) rồi qua Rue Duvillier (nay là phố Nguyễn Thái Học) để đến Văn Miếu Quốc Tử Giám và sau đó đi về phía Tây Nam đến Ấp Thái Hà. Năm 1914, tuyến số 3 nối dài tới khu Hà Đông, sau đó là đến chợ Cầu Đơ năm 1938.

Tram xe lửa tuyến số 3 ở Hà Đông

Năm 1904, tuyến số 4 được xây dựng, tiếp nối theo tuyến số 3 từ Văn Miếu Quốc Tử Giám rẽ về phía Tây hướng đến cầu Pont du Papier (Cầu Giấy ngày nay).

Các toa tàu được chế tạo hoàn toàn ở Pháp, được vận chuyển đường biển về Hải Phòng rồi theo tuyến đường sắt về cơ xưởng của Công ty đường sắt Vân Nam ở Gia Lâm. Ở đó, các toa được lắp trên bộ phận chạy kiểu thùng xe cổ điển Truck Brill có vách ngăn.

Tàu điện ở Hà Nội 100 năm trước

Theo tác giả Tim Doling, mặc dù trong những năm đầu tiên được nhiều người biết đến, nhưng mạng lưới tàu điện tại Hà Nội vẫn gặp phải nhiều vấn đề về tài chính. Cho đến cuối năm 1913, CTEH vẫn bị thâm hụt doanh thu. Từ đó trở đi, lợi nhuận của công ty vẫn khá khiêm tốn, và việc bảo trì các xe điện, đường ray, dây xích điện và các tòa nhà thuộc quyền sở hữu của công ty cũng bị hạn chế. Vào năm 1927, mạng lưới ngày càng xuống cấp này đã được một tập đoàn mới tiếp quản, đó là Tổng công ty Tàu điện Pháp (CGFT), thông qua chi nhánh ở Đông Dương là Công ty Tàu điện Hà Nội mở rộng.

Tàu điện ở ngã tư Tràng Tiền

Năm 1929, công ty này đã lấy tên là Compagnie des Tramways du Tonkin (CTT – Công ty Tàu điện Bắc Kỳ). Cũng trong năm đó, họ đã bắt tay vào nâng cấp các đoạn đường ray và dây xích, và đặt mua các toa xe và đầu máy thế hệ thứ hai của Pháp.

Chỉ 1 năm sau đó, CTT cho mở rộng mạng lưới đường xe điện ở Hà Nội, thành lập tuyến đường số 5 đi dọc hướng Bắc – Nam của thành phố, đi từ khu Yên Phụ (xưa là một đoạn để cổ ven sông Hồng) về hướng Nam đến khu Kim Liên.

Tàu điện tuyến số 3 đang đi trên rue Borgnis Desbordes (nay là phố Tràng Thi) sang phía rue Duvillier (nay là phố Nguyễn Thái Học). Vườn hoa Cửa Nam nằm bên phải hình

Tuyến số 5 này cắt tuyến số 3 ở công viên Cửa Nam tại vị trí trong hình bên trên, theo hướng đường Mandarine (nay là đường Lê Duẩn) ngang qua ga Hàng Cỏ để đi xuống phía Nam.

Ngoài ra, tuyến số 5 cũng đi ngang qua đường ray của tuyến số 2 tại Château d’eau – nay là Bốt Hàng Đậu.

Năm 1943, tuyến số 5 được kéo dài về phía Nam tới tận đường vành đai Route Circulaire (nay là phố Đại La) để phục vụ hành khách Bệnh viện René Robin (Bệnh viện Bạch Mai), Đài phát thanh Hà Nội và sân bay Bạch Mai. Với việc lắp đặt hoàn tất tuyến số 5, mạng lưới tàu điện tại Hà Nội đã đạt chiều dài khoảng 30 km.

Tàu điện đi dọc theo bờ hồ Hoàn Kiếm

Năm 1952, công ty CTT được đổi tên thành Société des Transports en Commun de la Région d’Hanoï. Tuy nhiên, sau thất bại ở Điện Biên Phủ, người Pháp rút khỏi Đông Dương, nên công ty này cun gđã ngừng hoạt động từ ngày 1 tháng 6 năm 1955, tất cả các đường ray, thiết bị và tàu điện đã được chuyển giao cho Nhà nước VNDCCH.

Cũng trong năm 1955, công ty khai thác và vận hành hệ thống tramway ở Sài Gòn là Công ty Tàu đện Pháp ở Đông Dương (CFTI – Compagnie Francaise des Tramways de l’Indochine) rút khỏi Đông Dương, cùng với đó là sự kết thúc của hệ thống tàu điện nội thành Sài Gòn. Tuy nhiên thì lúc đó xe hơi cá nhân đã du nhập nhiều vào Sài Gòn, đồng thời các loại xe thổ mộ, xích lô, bus, sau đó là taxi cùng bùng phát, tiện dụng, đủ sức thay thế cho hệ thống xe điện trong mạng lưới giao thông công cộng của Sài Gòn.

Bến tàu điện ở Bờ Hồ (nay là quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục)

Ở Hà Nội thì không như vậy, tuyến đường sắt nội thành vẫn hoạt động đến hơn 30 năm sau đó thì mưới kết thúc sứ mệnh. Trên thực tế là vào năm 1968, chính quyền thành phố Hà Nội thậm chí còn xây dựng thêm một đoạn đường ray mới từ giao lộ Cửa Nam dọc theo phố Cột Cờ (nay là Điện Biên Phủ) và đường Hùng Vương, nối lại tuyến đường số 2 ở phía Nam hồ Trúc Bạch.

Tàu điện Hà Nội năm 1973

Tàu điện Hà Nội năm 1979

Tuy nhiên, vào đầu những năm 1980, những đường ray, dây xích và các toa tàu đã bị xuống cấp đến mức không còn sử dụng được. Điều này dẫn đến việc tuyến số 1 đã bị đóng vào năm 1982, sau đó là tuyến số 4 (Cầu Giấy), tuyến số 3 (Hà Đông), và tuyến số 5 (Yên Phụ) cũng dừng khai thác. Cuối cùng, tuyến số 2 (Đường Bưởi) đã ngừng hoạt động vào năm 1989.

Tàu điện Hà Nội năm 1989

Theo Tim Doling, vào năm 1986 thì tuyến số 4 (Cầu Giấy) đã được mở lại, và các đầu máy của xe điện cũ được thay thế bởi những chiếc xe điện bánh hơi được tài trợ từ Đông Âu. Xe điện này chạy bằng dây cáp trên tuyến Hà Nội – Cầu Giấy. Tuy nhiên, đến năm 1994, những chiếc xe điện bánh hơi cũng dần bị biến mất dưới ảnh hưởng của quá trình hiện đại hóa đất nước.

Một trong những chuyến xe điện cuối cùng năm 1994

Sau đây là một số hình ảnh tàu điện ở Hà Nội thập niên 1970:

Bến tàu điện ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm năm 1973

Tàu điện trên phố Hàng Bài năm 1973, bên trái là nơi ngày nay là Tràng Tiền Plaza

Tàu điện tuyến số 2 năm 1973

Một số hình ảnh khác của tàu điện ở Hà Nội năm 1973:

Tàu điện sắp vô bến ở quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1974

Tàu điện Hà Nội năm 1979

Tàu điện trên phố Đinh Tiên Hoàng năm 1979

Một số hình ảnh thập niên 1980, đầu thập niên 1990:

Tàu điện Hà Nội năm 1980

Tuyến xe điện số 2, trước Bưu điện Quán Thánh

Xe điện năm 1985

Xe điện trước chợ Đồng Xuân năm 1989

Tàu điện trên phố Đồng Xuân, phía sau về bên phải ảnh là chợ Đồng Xuân với 5 gian đầu hồi nhà lồng chợ

Những người sống ở Hà Nội thập niên 1970-1980, có lẽ vẫn còn nhớ một loại hình nghệ thuật độc đáo được diễn xướng trên các chuyến tàu điện và ga tàu điện của Hà Nội, vì thế nó có tên là xẩm tàu điện. Khi phương tiện giao thông này bị thay thế, loại hình nghệ thuật này đã lụi tàn.

Theo bài viết của tác giả Thanh Hà đăng trên giadinh.net.vn, thông thường nhóm xẩm tàu điện chỉ khoảng từ 2-3 người, trong đó mỗi người đều có thể vừa là nhạc công, vừa là người hát. Nhóm xẩm tàu điện thường có một đứa trẻ. Khi biểu diễn thường là do hai người lớn thực hiện, nhưng mỗi khi lên đến cao trào là có tiếng hát lanh lảnh của một em bé chen vào.

Đặc trưng của xẩm là ở đâu cũng trở thành môi trường diễn xướng như bến sông, bãi chợ, sân đình và cả trong thính phòng. Vì thế, khi Pháp mở tuyến tàu điện đầu tiên, với lượng khách đông đúc, xẩm tàu điện ngay lập tức có được chỗ đứng. Sau này có rất nhiều người cũng hành nghề xẩm tàu điện.

Xẩm tàu điện có khá nhiều điểm khác so với xẩm truyền thống, trước hết là về trang phục. Trong khi “ông tổ” của nghề xẩm là xẩm chợ, hàng ngày phải mặc áo tơi, đội nón lá để “chiến đấu” với cảnh dầm mưa dãi nắng thì nghệ nhân xẩm tàu điện lại vô cùng “ăn diện”. Nam thì mặc quần áo nâu, mùa rét thì khoác bên ngoài tấm áo veston, đầu đội mũ cát (giống như mũ cối nhưng màu trắng) nhưng vẫn phải đeo kính đen để thể hiện sự “bơ đời”, tránh cái nhìn không thiện cảm về cái nghiệp “xướng ca vô loài” hè phố. Nữ thì mặc áo tối màu (nâu hoặc xám), có áo yếm sáng màu, váy lưng lửng đầu gối. Sở dĩ có sự khác biệt về trang phục như vậy là bởi môi trường diễn xướng của nó quá tân thời khác hẳn không gian diễn tấu của xẩm truyền thống.

Về đạo cụ thì xẩm tàu điện chỉ có nhị hồ với song loan. Còn xẩm chợ thì dùng rất nhiều các nhạc cụ như nhị, đàn bầu. Đặc biệt là gánh xẩm nào cũng phải có trống. Vì họ biểu diễn ở chợ rất ồn ào nên phải có nhiều đạo cụ thì mới thu hút được sự chú ý của mọi người. Chính vì có nhiều nhạc cụ như vậy nên một gánh xẩm truyền thống cũng có nhiều người hơn so với xẩm tàu điện. Thông thường, gánh xẩm chợ toàn là người trong đại gia đình, từ già đến trẻ.

Về chủ đề của các bài xẩm cũng có sự khác nhau giữa xẩm tàu điện và xẩm chợ. Trong khi đối tượng diễn xướng của xẩm tàu điện đa phần là dân thị thành, nên những vấn đề được đề cập trong xẩm tàu điện cũng “cao cấp” hơn chứ không dân dã như xẩm ở làng quê, xẩm chợ. Chẳng hạn, ở nông thôn hay hát điệu “thập âm” trong những lễ mừng thọ để báo hiếu với bố mẹ, ông bà hay mỗi khi có người chết. Vì thế, những điệu xẩm cũng dài lê thê, có khi hát cả đêm không hết và giai điệu thì nghe rất buồn. Trong khi đó, Hà Nội là phố buôn bán tấp nập, người ta không có thời gian để nghe hàng tiếng đồng hồ, vì thế, các điệu xẩm cũng ngắn gọn hơn, tiết tấu nhanh hơn và rộn ràng hơn.

Bài: Đông Kha (chuyenxua.vn)
Tư liệu tham khảo: Tim Doling (historicvietnam.com), Frederic Hulot (Đường Sắt Pháp Ở Đông Dương và Vân Nam), Thanh Hà (giadinh.net.vn)
Hình ảnh: manhhai flickr