“Đón Xuân Này Nhớ Xuân Xưa” – Ai cũng có một mùa xuân đong đầy kỷ niệm để nhớ về…

Đón Xuân Này Nhớ Xuân Xưa là 1 trong những ca khúc nhạc xuân nổi tiếng nhất trước năm 1975. Đây là 1 tác phẩm của nhạc sĩ Châu Kỳ. Thật trùng hợp khi nhạc sĩ Châu Kỳ cũng ra đi vào một mùa xuân cách đây hơn 10 năm.

Mùa xuân luôn mang đến cho thế gian những rung cảm đặc biệt. Lá hoa tươi thắm chào mùa xuân, và lòng người cũng háo hức đón chờ xuân đến. Ca khúc này nói về sự hồi tưởng của một chàng trai khách sông hồ, khi mùa xuân đến chợt nhớ đến những mùa xuân xưa khi còn người yêu ở cạnh bên. Họ đã hẹn hò nhau trong phút giao thừa nhiều nỗi bâng khuâng. Cô gái chờ người yêu bên song thưa, thầm hỏi nhau mùa xuân đã về chưa để rồi gieo cho nhau những ấm áp và hy vọng về một cuộc tình xuân hạnh phúc.

Tuy nhiên ước nguyện không thành, chàng trai đành tìm vui nơi bước sông hồ, nay trở về tìm lại cô gái xuân xưa khi gió chuyển mùa sang, nhưng nào đâu thấy người xưa nữa…

Đón Xuân này tôi nhớ Xuân xưa
Một chiều xuân em đã hẹn hò
Như ươm tình trong cánh hoa mơ,
Khơi hương theo làn gió
Em bảo rằng em viết thành thơ

Đón Xuân này tôi nhớ Xuân xưa
Hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa
Em đứng chờ tôi dưới song thưa
Tôi đi qua đầu ngõ
Hỏi nhau thầm Xuân đã về chưa

Xuân đến xuân đi, xuân về gieo thương nhớ
Xuân qua để tôi chờ
Xuân đến xuân đi, xuân về mơn lá hoa,
Xuân qua rung đường tơ

Bước sông hồ như đắm như mơ
Trở về đây khi gió sang mùa
Mong ước tìm cô gái Xuân xưa, cho vơi bao niềm nhớ
Có ngờ đâu Xuân vắng người thơ…

Ca khúc này không chỉ được hát lên dành cho tình yêu đôi đứa, mà dành cho tất cả những ai đã từng có một mùa xuân tươi thắm, và ai cũng đều nhớ về những mùa “xuân xưa” đong đầy kỷ niệm mà nay đã xa vời và chìm khuất nẻo quê.

Xin đăng lại những dòng cảm xúc về ca khúc này của tác giả Phúc Nguyễn trên vnexpress, một người con tha hương luôn nhớ về những mùa xuân nơi quê mẹ:

“Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa,
Hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa…”

Lời bài hát này mỗi lần vang lên trong tiết trời se lạnh ngày Tết lại khiến những người con xa quê như tôi bồi hồi một cảm giác khó tả! “Đón xuân này” lại nhớ “xuân xưa”, tại sao người Việt Nam lại nhớ về cái xuân, cái Tết ngày xưa như thế nhỉ? Phải chăng nó là những ký ức, những hoài niệm về “những ngày xưa thân ái”?

Từ ngày rời xa quê hương, rời xa “chùm khế ngọt” ngày nào vẫn tung tăng vui đùa, tôi lại nhớ, nhớ lắm mái tranh nghèo mẹ vẫn thường ngồi gói bánh, nhớ khói nghi ngút cái đêm mà chúng tôi thức trắng để canh bánh cho mẹ, nhớ bên hiên cành mai vàng khoe một màu hy vọng, mà mỗi khi nhìn, chúng tôi lại hỏi mẹ: “Mẹ ơi, xuân đã về chưa?”. Rồi ngày chúng tôi lớn lên cùng những cái Tết quê hương, cùng hình ảnh mẹ vẫn ngồi gói bánh đợi các con về quây quần bên nhau, tôi thèm lắm những hình ảnh đó, không ai có thể hiểu được những hình ảnh đó quý giá với chính bản thân tôi như thế nào đâu, và những người con Việt xa quê nữa.

Bỏ lại quê hương để tìm đường mưu sinh, nhưng chúng tôi vẫn luôn hướng về đất Việt, về mảnh đất thiêng liêng của tổ tiên bao đời, về hình ảnh “Xuân này, mẹ chờ em trông…” và rồi “bạn bè lại trông mong…”. Ở lứa tuổi của tôi bây giờ, ngồi tâm tình ngày xuân với các bác đã rời xa quê hương trên 20 năm, tôi lại cứ hỏi sao các bác lại cứ “nhớ xuân xưa” đến như vậy?

Cái xuân xưa với tiếng pháo đêm giao thừa rộn rã, âm thanh của tiếng pháo như xua tan đi những điềm xấu, những không may trong năm cũ. Mùi khói pháo làm chúng tôi thấy nức lòng. Bọn trẻ con chúng tôi vẫn thường xem chơi pháo như một trò chơi dân gian vậy. Ngày mùng 1 ra đường với xác pháo nhuộm đỏ các góc đường xen lẫn với những cánh mai vàng khiến con người ta cảm nhận được hương vị Tết khó tả, xa xa lại thấy vài bóng người đi hái lộc đầu xuân…

Đêm giao thừa có thể xem là đêm thiêng liêng nhất của năm, chính vì vậy mà ai cũng “hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa…” để rồi quây quần bên nhau ôn lại những điều của năm đã qua và chúc nhau những điều tốt lành của ngày đầu năm mới. Lũ trẻ con chúng tôi thì rất háo hức vì được ông bà, cha mẹ lì xì nhưng trước đó là phải nghĩ ra những câu chúc xuân thật hay…

Ngồi viết những dòng tâm tình này, tôi chợt hỏi “Xuân đã về chưa?” khi ngoài trời chỉ có những hạt tuyết rơi vô tình và lạnh lẽo. Nhưng trong lòng những đứa con xa quê như chúng tôi, xuân quê hương đã sưởi ấm tâm hồn và tiếp sức hy vọng để chúng tôi sống, làm việc và mơ về một cái xuân quê hương cho riêng mình.

nhactrinh.vn biên soạn

Chuyện ít người biết về “ca sĩ Nguyễn Chánh Tín”

Nhắc đến nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín, người ta thường chỉ nhớ đến ông là một diễn viên. Song, ít ai biết rằng ông khởi nghiệp bằng ca hát và còn là một ca sĩ nổi tiếng đình đám từ những năm 1970.

Nói về thuở thiếu thời đầy vinh quang của Nguyễn Chánh Tín, không thể không nhắc đến hình ảnh rất lãng tử mà khán giả một thời đặc biệt ấn tượng về ông. Đó là hình ảnh Nguyễn Chánh Tín ngồi trầm tư vừa hút thuốc, vừa hát say mê trên sân khấu như thể người đàn ông từng trải qua nhiều mất mát, dù khi ấy Chánh Tín chỉ mới 18 tuổi. Đó cũng chính là hình ảnh đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông chỉ sau một đêm.

Năm đó, Nguyễn Chánh Tín đang ở độ tuổi đẹp nhất của đời người, 18 tuổi và đang học năm cuối cấp tại Trường trung học Mạc Đĩnh Chi, một ngôi trường nằm ở ngoại ô Sài Gòn. Do có khiếu văn nghệ, nên ở trường ông là “đinh” văn nghệ trong những buổi diễn. Hôm đó có hội thi văn nghệ liên trường và Chánh Tín được nhà trường giao hát lĩnh xướng giọng nam cho trường ca “Hòn Vọng Phu”.

Mọi thứ như đã sắp đặt sẵn từ trước, có một sự cố nhỏ nên chương trình thừa 5 phút. Lúc này đạo diễn chương trình yêu cầu Nguyễn Chánh Tín hát để bù khoảng trống đó. Trong lúc luống cuống, ông đã chọn 2 bài đơn ca là “Tìm Nhau”, “Nghìn Trùng Xa Cách” vốn là hai bài hát nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Phạm Duy thời đó.

Đặc biệt, do bài hát nằm ngoài kế hoạch nên khi đó trên sân khấu rất trống và ban tổ chức phải chọn cách tắt hết đèn, chỉ để một vệt sáng rọi xuống gốc cây và Nguyễn Chánh Tín ngồi hát như độc thoại…

Rơi vào tình huống bất ngờ này, Nguyễn Chánh Tín bị hẫng, ông thấy mình không bình tĩnh nên xin một điếu thuốc lá. Thế là ông ngồi vừa hút thuốc, vừa hát như một người đàn ông từng trải đối diện với mất mát. Hát xong ông còn dụi dụi điếu thuốc dưới giày, trầm tư một lúc rồi sân khấu mới chìm vào bóng tối…


Nghe Nguyễn Chánh Tín hát Nghìn Trùng Xa Cách

Sau đêm diễn “định mệnh” đó, khoảng 40 tờ báo của Sài Gòn đồng loạt đăng tin về “hiện tượng” người thể hiện bài hát “Nghìn Trùng Xa Cách” ấn tượng nhất; và hình ảnh người đàn ông trầm tư bên điếu thuốc đã đi vào lòng công chúng từ đó.

Kể từ sau đó, Nguyễn Chánh Tín trở thành một ca sĩ nổi tiếng khắp miền Nam. Không chỉ thế, khi được biết đến với vai trò ca sĩ, cũng là lúc nhiều đạo diễn điện ảnh nổi tiếng chú ý bởi vẻ ngoài hào hoa, lãng tử và gương mặt điện ảnh của ông. Họ mời ông tham gia đóng phim, mà toàn giao cho ông đóng vai chính!

Vào năm 1974, Chánh Tín 22 tuổi, ông lấy vợ. Ông nói, ca sĩ Bích Trâm – vợ ông là người duy nhất đã cho ông hiểu sâu sắc thế nào là tình yêu, hạnh phúc.

Ca sĩ Bích Trâm ngày đó là một người bạn học cùng Trường Luật với ông và cùng tham gia đội văn nghệ của trường. Bích Trâm cũng từng đi hát trong nhóm Spotlight cùng nhiều danh ca nổi tiếng như: Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Đức Huy… và được các nhà báo miền Nam bình chọn giải thưởng Nữ ca sỹ được yêu thích nhất thời bấy giờ. Chánh Tín cùng Bích Trâm biểu diễn ở nhiều nơi, trở thành cặp đôi vàng lúc đó và hai người cũng bén duyên vợ chồng nhờ ca hát.

Nguồn: Petrotimes.vn

Nhạc sĩ Đinh Việt Lang và ca khúc “Hẹn Một Mùa Xuân” – Tôi sẽ về khi mùa Xuân đơm hoa trước ngõ…

Nhạc sĩ Đinh Việt Lang là tác giả của các ca khúc Hẹn Một Mùa Xuân, Ngày Vui Qua Mau (viết chung với Nhật Ngân) và Lạnh Lùng (phổ thơ Vạn Thuyết Linh), có tên thật là Đinh Xuân Tình, sinh năm 1939 ở Sài Gòn, là con thứ tư của gia đình gồm 9 anh chị em.

Tác phẩm đầu tay của Đinh Việt Lang là bài Lạnh Lùng phổ từ thơ của thi sĩ Vạn Thuyết Linh do Diên Hồng xuất bản năm 1959. Năm 1969, Đinh Việt Lang và Nhật Ngân xuất bản hai tác phẩm viết chung là Ngày Vui Qua Mau và do 1001 Bài Ca Hay phát hành.

Trước năm 1975, Đinh Việt Lang làm trong Ban Văn Nghệ Xây Dựng Nông Thôn, sau 1975 mở lớp nhạc ở đường Nguyễn Huệ, sau đó là Nhà văn hóa Phú Nhuận nhưng không mang lại thành quả nào. Những năm cuối đời, nhạc sĩ Đinh Việt Lang bị nghiệи rượᴜ nặng, và ông đã qua đời trong một đêm say rượᴜ, sáng ngày 4/1/1997. Trước đó ông có đi chơi đàn, dạy nhạc, nhưng ở chỗ nào cũng chỉ được 1 vài tháng rồi nghỉ.

Vợ của nhạc sĩ Đinh Việt Lang là bà Trần Xuân Nga cho biết ông là người rất hiền, và chỉ mê nhạc và rượu. Khi qua đời vì rượᴜ, ông vẫn nằm để tay lên ngực như ngủ. Họ có với nhau 2 người con trai là Đinh Vũ Bằng và Đinh Vũ Bảo.

Nhạc sĩ Đinh Việt Lang và vợ con tại Thảo Cẩm Viên năm 1970

Ca khúc nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Đinh Việt Lang là Hẹn Một Mùa Xuân, và ông cũng qua đời cũng vào 1 ngày đầu xuân. Có phải lúc đó, ông đã thật sự đã trở về:

Tôi sẽ về khi mùa Xuân đơm hoa trước ngõ
Để em gái nhỏ mắt thơ ngây
Tóc thôi biếng chải vì đợi chờ
Đêm yên giấc ngủ cơn mơ dỗ ngọt
Cho môi em mềm mùa Xuân.

Tôi sẽ về thăm lại dòng sông con phố cũ
Ngày xưa có lần chiến tranh qua
Những đôi mắt trẻ lệ nhạt nhòa
Xuân không pháo nổ
Xuân không áo màu
Không nụ cười đưa duyên.

Bao năm chinh chiến gót mòn nẻo gần xa
Lòng vẫn mơ ngày quê hương nắng đẹp
Trẻ thơ vui tiếng cười
Xuân rộn ràng Xuân về nơi nơi.

Tôi sẽ về đưa người yêu đi qua lối cũ
Nhặt hoa lót từng bước em đi
Nếu chân có mỏi vì đường dài
Xin yên giấc ngủ đêm Xuân gió thoảng
Ru mộng tròn môi em.

Cảm nhận âm nhạc – Mùa Xuân Đó Có Em (Anh Việt Thu)

Em có nghe trời vào xuân chưa,
Bên sông từng giọt nắng vàng,
Chợt lưa thưa và mùa xuân đó
Có em thì xuân rất đẹp…

Đây không phải lần đầu tiên đón tết xa quê, cũng không phải lần đầu tiên đi xa, nhưng hôm nay sao nghe lòng cồn cào quá, da diết đến thế. Tôi lại nghe bài hát “Mùa Xuân Đó Có Em” với những câu hát:

Em có nghe trời vào xuân chưa,
Bên sông từng giọt nắng vàng,
Chợt lưa thưa và mùa xuân đó
Có em thì xuân rất đẹp,

Anh không biết xuân về lúc nào,
Lời tình đong đưa theo gió,
Mình yêu nhau mấy tuổi xuân rồi…

Câu hát “anh không biết xuân về lúc nào” nghe mà chua xót, da diết đến thế bởi vì văn hóa của nước tôi đang ở không giống với Việt Nam của mình. Đất nước văn minh hiện đại này, đầy đủ tiện nghi hơn mình rất nhiều nhưng sao nó xa lạ đến vô cùng. Tôi đã cố gắng hết sức để nghĩ rằng nó thân thiện và hiền hòa như quê hương mình, nhưng sao thật là khó quá.

Những cánh chim đang đậu trên những cành cây trụi lá, cảnh vật đìu hiu, gió thổi vi vút và tuyết phủ trắng xóa làm cho lòng tôi lại càng dâng trào thêm nỗi nhớ quê. Tôi nhớ lũy tre đầu làng, không khí đón xuân với những bó lá dong, bánh chưng và chiếc ống giang để làm lạt buộc bánh, những chiếc bóng bay đủ màu sắc đang tung bay giữa chợ quê hòa với màu sắc của đào, quất và những chậu hoa thật đẹp ở phố huyện. Quê tôi là như vậy đó.

Nhớ năm nào còn mẹ, mẹ đã dậy thật sớm để ngâm gạo gói bánh. Mẹ còn giã một bó lá giềng để làm cho bánh thêm xanh. Mẹ còn gói đủ thứ bánh trái khác như là bánh gai, bánh xèo… Nhớ những đêm thức cùng với ba, trải chiếu xuống dưới bếp thức canh bánh chưng với những ánh lửa bập bùng, tiếng sôi sùng sục từ nồi bánh chưng. Nhớ ba làm kẹo lạc và cho tôi một miếng nhỏ mà thấy tuổi thơ của tôi thật đẹp, đẹp như chưa từng có.

Chợt bâng khuâng nghĩ về mẹ, không biết giờ này mẹ đang ở đâu, phiêu diêu nơi cõi cực lạc này. Tôi cũng đang đau đáu nghĩ về quê mình, chợt nhớ những câu hát “Xuân này con về, mẹ ở đâu? Bao mùa xuân hẹn con vẫn đi. Đời trai như cánh chim phiêu bạt. Bao lần xuân về để mẹ hoài ngóng trông”.

Không biết giờ này ba đã chuẩn bị được gì chưa, các cháu đã có những tấm áo mới nữa không. Năm nay không còn được cậu mua những chiếc áo thật đẹp nữa rồi, chắc các cháu cũng mong ngóng cậu về lắm phải không? Có lẽ tôi là người yếu đuối chăng, khi những con chữ trên màn hình chạy thì đồng nghĩa với những giọt nước mắt lăn dài trên khóe mắt. Nhưng tôi thấy hạnh phúc, hạnh phúc vì còn được khóc, còn được có quê hương để mà nhớ, để mà yêu.

Biết chia sẻ cùng ai đây, nơi đất lạ xứ người, chẳng người thân thích, chẳng có ai quen mặt, cứ lầm lũi như vậy thôi. Tôi biết rằng, cùng cảnh ngộ với tôi còn có hàng chục nghìn sinh viên Việt nam ở khắp thế giới cũng đang mong ngóng về quê hương, Tổ quốc thân yêu, nơi có bà, có mẹ cho ta những tiếng ru hời từ thuở nằm nôi. Giờ chúng ta đã khôn lớn, đôi cánh đã mạnh mẽ bay khắp cùng trời cuối đất để mang lại niềm tin, trí tuệ, tri thức cho quê mình.

Những dòng tâm sự gửi về cho quê hương yêu dấu và tôi sẽ về trong ngày mai tốt đẹp hơn. Xin chúc cho tất cả mọi người đón xuân tràn đầy ấm áp tình yêu thương của gia đình, bạn bè, những người thân và hát khúc ca xuân: “Xuân xuân ơi! Xuân đã về, có nỗi vui nào hơn ngày xuân đến, Xuân xuân ơi! Xuân đã về, Tiếng chúc giao thừa chào đón mùa xuân”. (Theo Ánh Dương – VnExpress.net)

Theo trang dongnhacvang.com, hoàn cảnh sáng tác của ca khúc Mùa Xuân Đó Có Em được con trai trưởng của nhạc sĩ Anh Việt Thu kể lại rằng ca khúc này được nhạc sĩ sáng tác vào mùa xuân năm 1969, trong một dịp Anh Việt Thu đi công tác tưởng rằng ông đã không kịp về đón xuân cùng gia đình. Nhưng may mắn thay, ông cũng đã kịp về nhà bên vợ con vào những ngày cuối năm để cùng sum họp đón tết. Và khi ngồi ở bàn làm việc bên song cửa sổ nhìn những tia nắng vàng lưa thưa chiều 30 tết, ông đã lên cảm hứng sáng tác ca khúc Mùa Xuân Đó Có Em này.

Em gái Elvis Phương: Anh Phương không xứng đáng hát bài “Bông Hồng Cài Áo”

Trên YouTube những ngày cuối năm đã lan truyền một đoạn video đám tang mẹ của ca sĩ Elvis Phương. Trong đoạn video này, em gái của ca sĩ Elvis Phương và Kiều Nga đã có những lời lẽ bức xúc với anh trai Elvis Phương là đám tang mẹ nhưng Elvis Phương không thể có mặt.

Cô nói:

Anh Elvis Phương không xứng đáng hát bài Bông hồng cái áo. Ảnh đi tất cả chùa chiền này kia, hát bài Bông Hồng Cài Áo, nhưng hôm nay đám tang mẹ… Con người ta dù là vua, hay tổng thống hay làm vị trí gì thì đám tang mẹ cũng phải về. Còn mình, tại sao mẹ mất lại không về?

Trong khi đó, gia đình Elvis Phương tại Việt Nam cũng có chia sẻ, phân trần với báo chí về việc này. Bà Lệ Hoa vợ của nam ca sĩ cho biết: “Anh Phương rất buồn khi biết sự việc. Ai mất mẹ mà không đau buồn nhưng mỗi người có cách thể hiện khác nhau. Vì điều kiện, tôi và anh Phương không về Mỹ được. Ở Việt Nam, chúng tôi cùng người thân, họ hàng làm lễ, cúng 49 ngày cho má ở chùa”.

Bên cạnh lời chia sẻ, bà Lệ Hoa cũng khẳng định vợ chồng bà không bình luận về những phát biểu này. Song bà cho biết việc em gái “tố” danh ca Elvis Phương không quan tâm, lo lắng cho má là sai sự thật. Bà khẳng định: “Việc lo hậu sự, anh Phương đã lo cho má từ 20 năm trước”.

Kiều Nga và Elvis Phương đứng chung sân khấu trong lần gần nhất

Tổng hợp

Đội banh của Miền Nam Việt Nam 2 lần đánh bại Thái Lan để vô địch SEA Games lần đầu tiên năm 1959

Năm 1959, Đại hội Thể thao bán đảo Đông Nam Á chính thức được tổ chức lần đầu tiên tại Bangkok (Thái Lan). Ngay lần đầu đó, đội túc cầu (ngày nay gọi là bóng đá) đại diện cho Việt Nam khi đó là Miền Nam Việt Nam (tức VNCH) đã đạt giải nhất khi thắng đội chủ nhà Thái Lan 4-0 ở vòng loại và 3-1 ở trận chung kết ngày 17/12/1959 để đạt Huy chương vàng.

Thủ quân Phạm Văn Hiếu (giữa) cầm HCV vàng SEAP Games 1959 vừa được trao, Thái Lan HCB bên phải 

Tròn 60 năm sau, đội banh nam của Việt Nam mới lặp lại được thành tích đó khi chiến thắng Indonesia 3-0 vào ngày 10/12/2019 trong trận chung kết SEA Games lần 30.

Đại hội thể thao Đông Nam Á lần đầu tiên năm 1959, khi đó chưa mang tên SEA Games, mà mang tên SEAP Games (South East Asian Peninsular Games), tức là Đại hội thể thao của bán đảo Đông Nam Á.

SEAP Games đầu tiên tổ chức năm 1959 tại Thái Lan có mặt VĐV của 6 nước sáng lập là Thái Lan, Myanmar (Miến Điện), Malaysia (Mã Lai Á), Singapore (Tân Gia Ba), Việt Nam và Lào (Ai Lao). Trước đó, tháng 10 năm 1958, quan chức của các nước này đã họp tại Nhật Bản và thống nhất tổ chức thường kỳ đại hội thể thao này. Việt Nam (do miền Nam Việt Nam đại diện) tham dự đủ các SEAP Games từ kỳ 1 đến kỳ 7.

Đến năm 1975, do tình hình chiến sự nên 3 nước Đông Dương đều vắng mặt, SEAP Games 8 tổ chức ở Thái Lan chỉ còn 4 nước dự tranh. Chính vì muốn tăng thêm sức cạnh tranh, Đại hội thể thao của khu vực năm 1977 đã kết nạp thêm 3 thành viên mới nằm ngoài bán đảo Đông Nam Á là Indonesia (Nam Dương), Philippines (Phi Luật Tân) và Brunei.

Cũng vì lý do này, chữ “bán đảo” (tên tiếng Anh là Peninsular) trong tên gọi của đại hội phải bỏ chữ “P” để có tên gọi mới là SEA Games từ Đại hội kỳ 9 tổ chức tại Malaysia năm 1977. Số kỳ 9 của đại hội mang tên SEA Games đầu tiên này được nối tiếp với số kỳ 8 cuối cùng của SEAP Games cũng là mong muốn của những người tổ chức, xem SEAP và SEA Games là một tổ chức thống nhất và hoạt động liên tục từ năm 1959 đến nay. Thực tế, thành tích thống kê về thành tích đồng đội và cá nhẫn lẫn số lần đăng cai tổ chức các nước thành viên đều được giữ từ đầu đến nay.

Khi tham dự SEAP Games năm 1959 và giành chức vô địch, đội banh của Miền Nam Việt Nam không di chuyển bằng máy bay mà đi đường bộ trong 1 ngày 2 đêm mới đến được địa điểm tổ chức là Bangkok – Thái Lan.

Cựu trung phong Hà Tam, một trong những thành viên của đội banh giành vinh quang năm đó kể lại:

“Tối 10/12/1959, đội banh cùng với VĐV các môn khác xuất phát từ Sài Gòn đi Thái Lan bằng đường bộ, đến thủ đô Phnôm Pênh (Campuchia) đoàn dừng ăn sáng rồi đi tiếp đến biên giới Thái Lan khoảng 18 giờ ngày 11 tháng 12. Sau khi ăn tối, tài xế cho xe chạy suốt đêm để 8 giờ sáng 12/12 có mặt ở Bangkok. Tiện nghi của xe đò lúc đó rất kém nên ai nấy đều mệt nhoài, bụi đường đất đỏ lấm đầy cả người và hành lý”.

Ở trên báo Thanh Niên, ông Hà Tam cho biết thành phần của đội tuyển VNCH khi đó rất mạnh với 7 tuyển thủ đã dự vòng chung kết giải túc cầu châu Á 1956 như Phạm Văn Rạng, Nguyễn Văn Cụt, Phạm Văn Hiếu, Lê Văn Hồ (tự Myo), Pierre Trần Văn Nhung, Đỗ Quang Thách và Nguyễn Văn Tư (Tư mũi tên vàng). Ngoài ra đội còn bổ sung 4 cầu thủ có trình độ không hề thua kém là Lê Văn Tỷ, Nguyễn Ngọc Thanh, Đỗ Thới Vinh và trung phong Hà Tam (tức Há).

Đội hình thi đấu trận chung kết giành huy chương vàng SEAP Games 1959 – Hàng đầu từ trái: Nhung, Vinh, Há, Thách. Tư – Hàng 2: Thanh, Hiếu, Hồ – Hàng 3: Tỷ, Rạng, Cụt

Đây đều là những cái tên mà bất cứ người hâm mộ môn túc cầu nào ở Sài Gòn thập niên 1960 đều biết đến. Bởi họ đã có một giai đoạn cống hiến huy hoàng cho làng túc cầu của Việt Nam với chiến thuật khi đó là WM, từng quật ngã các đại diện mạnh như Israel, Thụy Điển (khi đó là á quân thế giới năm 1958, thua Brazil của “vua bóng đá” Pelé trong trận chung kết). Ông Hà Tam rất tự hào khi cùng với tập thể này làm nên những chiến công oai hùng.

Quá trình tham dự SEAP Games của đội banh Việt Nam năm 1959 được báo Thanh Niên đăng tải như sau:

Khi đội banh đến Bangkok, dù không có đủ thời gian hồi phục, nhưng bằng trình độ chuyên môn cao cộng với kinh nghiệm và nhiệt huyết, đội tuyển Việt Nam thắng Thái Lan 4-0 và Myanmar 3-0 một cách đầy thuyết phục. Vì đã sớm lọt vào trận chung kết nhờ có 2 chiến thắng cùng hiệu số bàn thắng bại cao (2 đội đứng đầu theo thể thức vòng tròn tính điểm và hệ số phụ giữa 4 đội sẽ tranh chung kết) nên trận cuối vòng bảng với Malaysia chỉ có tính thủ tục. Đội Việt Nam do ảnh hưởng bởi di chuyển đường bộ quá mệt nhọc, chỉ được nghỉ 1 ngày và phải đấu liền 2 ngày liên tiếp nên chủ động dưỡng sức. Kết quả đội Việt Nam thua Malaysia 1-2 nhưng cuối cùng vẫn đứng đầu vòng loại, vào chung kết với đội nhì bảng là Thái Lan.

Trong trận chung kết, tiền vệ Đỗ Thới Vinh đánh đầu mở tỷ số cho đội tuyển Việt Nam, sau đó Thái Lan đã gỡ hòa 1-1. Nhưng tiền đạo Đỗ Quang Thách và hậu vệ Lê Văn Tỷ đã ghi thêm 2 bàn giúp đội tuyển Việt Nam giành chiếc HCV của kỳ đại hội thể thao Đông Nam Á đầu tiên. Có một chi tiết ít người biết rằng, bên cạnh tấm HCV SEAP Games, đội tuyển Việt Nam thời bấy giờ rất thành công với đội hình thi đấu 4-2-4.

Đỗ Thới Vinh – người mở tỉ số trận chung kết SEAP Games 1959

Chiếm lĩnh 2 vị trí quan trọng ở giữa sân là Nguyễn Ngọc Thanh và Đỗ Thới Vinh, đây cũng chính là 2 danh thủ giúp túc cầu Việt Nam gây tiếng vang trong một thời gian dài, trong đó, có cả chức vô địch Merdeka Cup năm 1966.

Có một điều rất đặc biệt là đội tuyển túc cầu của Việt Nam đoạt HCV ở SEAP Games 1959 khi thi đấu mà không hề có HLV hay chỉ đạo viên. Danh thủ Hà Tam kể lại: “Hồi ấy còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn nên làm gì có HLV giỏi để chỉ đạo chiến thuật như bây giờ. Anh em toàn tự bảo ban nhau thi đấu. Trên sân cỏ, đội trưởng là nhân vật có uy tín nhất và cũng là người đưa ra các đấu pháp chiến thuật thi đấu trên sân. Tất nhiên, ý tưởng của những người được đeo băng đội trưởng đều được anh em nhất nhất tuân theo. Đội trưởng ban đầu là Phạm Văn Hiếu, sau là Nguyễn Ngọc Thanh”.

Ông Hà Tam còn kể lại hành trình trở về nước sau khi kết thúc giải như sau: “Đi thì hai đêm một ngày, còn về thì bớt đi một đêm. Nhưng về thì đường cũ vẫn có nhiều ổ gà, xe vẫn bị xốc như lúc đi, chúng tôi phải chia nhau ôm chặt chiếc cúp vàng mới nhận. Ai nấy chuyền tay nhau xem chiếc Cúp như báu vật và không muốn nó bị lọt ra ngoài khi cả đoạn đường dài di chuyển, chiếc xe cứ xốc lên xốc xuống khiến hàng hóa mà mọi người mua về lăn long lóc trên sàn xe. Đến khi xuống xe, ai nấy đều đi không nổi, vì vừa ôm chặt chiếc Cúp, vừa giữ tất cả những kỷ vật kèm theo dành cho chức vô địch cộng thêm hành lý đè lên chân nên … cặp giò của bất cứ người nào cũng bị tê cứng!”

Đội hình đội banh Việt Nam đoạt vô địch SEAP Games 1 – 1959

+ 17 cầu thủ: Gồm 2 thủ môn: Phạm Văn Rạng và Trần Văn Ðực – 2 hậu vệ: Lê Văn Tỷ và Nguyễn Văn Cụt – 4 tiếp ứng: Nguyễn Ngọc Thanh, Phạm Văn Hiếu, Lê Văn Hồ (tự Myo) và Lâm Văn Bon – 9 tiền đạo: Trần Văn Nhung (tự Pierre), Ðỗ Thới Vinh, Hà Tam (tự Há), Đỗ Quang Thách, Nguyễn Văn Tư, Trần Bá Tỷ, Lý Văn Rỏn, Nguyễn Văn Còn và Nguyễn Thành Sự.

Một số cầu thủ miền Nam VN vô địch SEAP Games 1959 – Hàng đứng từ trái: Tỷ (thứ 2), Thanh (3), Rạng (5), Hiếu (7), Hồ (8) – Hàng ngồi: Nhung (2), Thách (3), Vinh (4), Tư (8)

+ Thể thức thi đấu: Môn túc cầu có 4 nước dự là Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và Malaysia thi đấu vòng tròn ở vòng loại, 2 đội cao điểm nhất vào đấu trận chung kết.

+ Kết quả vòng loại:

  • Malaysia 2 – 1 Myanmar
  • Việt Nam 4 – 0 Thái Lan
  • Việt Nam 3 – 0 Myanmar
  • Thái Lan 3 – 1 Malaysia
  • Việt Nam 1 – 2 Malaysia
  • Thái Lan 5 – 1 Myanmar

+ Xếp hạng vòng loại:

  1. Việt Nam
  2. Thái Lan
  3. Malaysia
  4. Myanmar

+ Chung kết tối 17.12.1959:  Việt Nam 3-1 Thái Lan

Ngoài chức vô địch SEAP Games năm 1959, một thành tích vang dội khác của đội banh Miền Nam Việt Nam là Vô địch Giải túc cầu Merdeka của Malaysia lần thứ 10 năm 1966 với các trận thắng: Thắng Singapore 2-1, Thắng Nhật 2-0, thắng Đài Loan 3-0 và thắng Miến Điện 1-0 trong trận chung kết. Đội trưởng đội VNCH lúc đó là Phạm Huỳnh Tam Lang – chồng cũ của nghệ sĩ Bạch Tuyết.

Một điều đặc biệt là Huấn luyện viên của đội tuyển VNCH vô địch giải này là ông Karl-Heinz Weigang người Đức, khi đó mới 31 tuổi.

29 năm sau, vào năm 1995, lần thứ 3 đội tuyển bóng đá của Việt Nam thống nhất tái gia nhập SEA Games, và cũng chính ông Weigang đã trở lại và giúp đội Việt Nam giành huy chương bạc SEA Games Chiang Mai năm 1995 – Một giải đấu rất đáng nhớ với người Việt Nam 25 năm trước.

Vào thập niên 1970, do ảnh hưởng của chiến tranh nên đội banh của VNCH không còn mạnh và nhiều lần thất bại trước các đội banh trong khu vực Đông Nam Á.

Lâu nay vẫn có thông tin cho rằng trước năm 1975, đội banh VNCH vươn tầm châu lục, vượt xa các đội Nhật, Hàn… Tuy nhiên công bằng mà nói, đội banh VNCH chỉ thực sự mạnh vào khoảng thập niên 1960 với 2 chức vô địch như đã nói ở trên. Ngoài ra, khi đối đầu với đội banh Nhật Bản, VNCH đã thắng 3 trận nhưng cũng để thua 4 trận, và chưa bao giờ thắng được đội Hàn Quốc. Ngoài trận thắng Miến Điện năm 1966 để giành chức vô địch Merdeka, các trận khác thì VNCH đều bại dưới tay đội Miến Điện. Cụ thể là:
SEAP Games 1961, thua Miến Điện 1-2 ở bán kết.
SEAP Games 1967, thua Miến Điện 1-2 ở chung kết.
SEAP Games 1973, thua miến Điện 2-3 ở chung kết

Ngoài chức vô địch SEAP Games năm 1959, đội Miền Nam Việt Nam vẫn tham dự SEAP Games ở các năm tiếp theo nhưng không thể lên ngôi lần nữa, điều đó cho thấy là đội banh VNCH không thể hiện được sự vượt trội so với các đối thủ trong khu vực.

Tuy nhiên, đã có thời điểm đội banh Miền Nam Việt Nam sở hữu những tài năng kiệt xuất và được vinh danh trong các đội hình tiêu biểu của Châu Á. Điển hình là Phạm Huỳnh Tam Lang, Đỗ Thới Vinh, Phạm Văn Rạng…

Phạm Huỳnh Tam Lang và Bạch Tuyết trong ngày cưới

Các thiếu nữ Nhật vây quanh thủ môn Phạm Văn Rặng để xin chữ ký

nhacxua.vn biên soạn
Nguồn: thanhnien.vn, bongdaplus.vn

Câu chuyện thú vị về tên đường Alexandre de Rhodes trước và sau năm 1975

Con đường nghiêng mình nằm bên lề của Công viên Thống Nhứt (nay là công viên 30/4) như một cô tiểu thư kiêu kỳ và tràn đầy sức sống.

Ban đầu, đường Alexandre de Rhodes có tên là Rue de Paracels (tức Hoàng Sa). Đến ngày 16/10/1871 thì đổi tên thành Colombert (tên gọi cũ của quần đảo Hoàng Sa).

Đường Alexandre de Rhodes thời Pháp

Trong thời Đệ nhất Cộng Hòa, đường mang tên Alexandre De Rhodes. Đến tháng 4 năm 1985, đường đổi tên thành Thái Văn Lung. Và đến năm 1995 được phục hồi tên Alexandre De Rhodes cho tới ngày nay. Sự kiện đổi lại tên đường hồi 1995 được kể lại với một giai thoại thú vị về cố thủ tướng Võ Văn Kiệt như sau:

Năm 1993, thủ tướng Võ Văn Kiệt có chuyến thăm nước Pháp theo lời mời của Tổng thống François Mitterrand. Ngoài các chương trình làm việc với phía Pháp, ông có đến thăm và gặp gỡ với phái đoàn ngoại giao Việt Nam tại Đại sứ quán Việt Nam ở Paris. Tại đây, ông được thông báo là Đại sứ quán có sắp xếp tại trụ sở Đại sứ quán một cuộc gặp mặt giữa ông với ông Hoàng Xuân Hãn – một trí thức, học giả người Việt sinh sống ở Pháp. Nghe đến ông Hoàng Xuân Hãn, ông Kiệt nói ngay:

– Vậy thì tôi sẽ đến thăm học giả Hoàng Xuân Hãn tại tư gia của ông ấy, chứ không phải là chúng ta mời ông ấy đến đây gặp tôi.

Sau đó, ông Kiệt hủy lịch hẹn gặp học giả Hoàng Xuân Hãn tại Đại sứ quán và đề nghị bố trí xe để ông đích thân viếng thăm vị học giả tại nhà riêng.

Khi đến nơi, sau khi thăm hỏi nhau, ông Kiệt đã nói với ông Hoàng Xuân Hãn rằng hôm nay, ông đến đây trước là để thăm gia đình học giả và sau là để nghe ông Hoàng Xuân Hãn nói, về bất kỳ chuyện gì. Sau này, khi kể lại cuộc gặp này với điêu khắc gia Phạm Văn Hạng, ông Kiệt cười:

“Tôi biết nói với một học giả uyên bác như ông Hãn chuyện gì đây, nên tốt nhất là cứ im lặng lắng nghe ông ấy nói!”

Và ông Hãn đã nói với ông Kiệt rất nhiều chuyện, với tư cách là một học giả Việt kiều góp ý với một vị lãnh đạo của Việt Nam về đất nước, học thuật cũng như thời cuộc. Cuối buổi trò chuyện, ông Hoàng Xuân Hãn đề nghị Việt Nam nên đặt tên đường Alexandre de Rhodes để ghi nhận công lao của vị giáo sĩ người Pháp này trong việc phát triển và hoàn thiện chữ quốc ngữ. Và ông Võ Văn Kiệt đã nhận lời.

Khi về nước, ông Võ Văn Kiệt hỏi những người có trách nhiệm trong chính quyền TP. HCM về việc đặt tên đường Alexandre de Rhodes. Họ trả lời là thời VNCH đã có con đường đó, nằm gần Dinh Độc Lập. Nhưng sau năm 1975, đường Alexandre de Rhodes đã được đổi tên thành Thái Văn Lung.

Nghe xong, ông Kiệt hỏi:

– Vậy bây giờ muốn đổi tên đường này trở lại thành đường Alexandre de Rhodes có được không?

– Dạ thưa bác Sáu, việc đặt tên đường phải lập hồ sơ để hội đồng đặt tên đường của thành phố xét duyệt, rồi phải trình HĐND TPHCM thông qua, rất mất thời gian và nhiêu khê, trong khi Alexandre de Rhodes là một giáo sĩ người Pháp nên sẽ khó khăn hơn trong việc xét duyệt và thông qua.

Ông Kiệt hỏi tiếp:

– Vậy làm một cái bảng tên đường ghi tên Alexandre de Rhodes giống như các bảng tên đường khác mất bao lâu?

– Dạ thưa, chỉ 1 buổi là xong.

– Vậy tháo cái bảng tên đường cũ ra, lắp bảng tên đường mới vào thì mất bao lâu?

– Dạ thưa, chừng mươi phút ạ.

Nghe xong, ông Kiệt bảo: “Vậy hãy cho làm bảng tên đường mang tên Alexandre de Rhodes và chuẩn bị ốc vít đầy đủ”

Sau đó, ông lệnh cho những người thừa hành cho tháo biển tên đường Thái Văn Lung ra, lắp bảng tên đường Alexandre de Rhodes vào con đường trước đây đã mang tên vị giáo sĩ này. Việc được tiến hành âm thầm, đến khi người dân thành phố thấy tên đường Alexandre de Rhodes đã được thay thế cho Thái Văn Lung thì mọi chuyện đã xong.

Sau khi ông Kiệt đổi tên đường, Thành ủy TP.HCM vội vàng chỉ đạo các đơn vị, ban ngành liên quan tổ chức một hội thảo lớn, có sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học lịch sử. Tại hội thảo này, mọi người đã đi đến sự đồng thuận chung và cuối cùng tên đường Alexandre De Rhodes được chính thức công nhận như hiện nay.

Đó là một trong những câu chuyện về việc “xé rào” đi trước thời đại của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Công viên Thống Nhứt

Nằm ngay trung tâm thành phố, đường Alexandre de Rhode cũng tấp nập như những con đường xung quanh nó, nhưng ẩn chứa bên trong những nét thầm kín thú vị. Đó là một con đường nhỏ dài chừng 300m, cái áo ngoài chỉn chu đến sang trọng, với những biệt thự xinh đẹp, những chiếc ô tô nối nhau đậu san sát, hàng cây cao vút tỏa bóng… Nơi đây còn là thế giới riêng của những người yêu thích sự khác biệt do chính mình tạo ra.

Ngày nay, xung quanh khu vực này, và ngay trên đường Alexandre de Rhode có khá nhiều quán cà phê hạng sang nhưng cà phê bệt vẫn là lựa chọn của nhiều bạn trẻ. Đường không đông người qua lại nhưng trên vỉa hè thì lúc nào cũng đông đúc. Nhất là sáng sớm và chiều tối, hàng trăm thanh niên ngồi bệt dựa lưng vào tường, nhâm nhi ngụm cà phê, tán dóc với bạn bè, hoặc lơ đãng ngắm dòng người lướt nhanh trên đường tấp nập. Từ con đường này trông ra, có những góc nhìn tuyệt đẹp mà hiếm nơi nào khác của Sài Gòn có được. Trước mặt là khoảng xanh mênh mông của công viên, cùng con đường Thống Nhứt, Pasteur chạy ngang, cắt công viên thành những mảng ô vuông. Chếch qua phía bên phải là dinh Độc Lập. Nhìn nghiêng qua trái là khu mua sắm Diamond plaza, Nhà Thờ Đức Bà, Bưu điện trung tâm Thành phố, cùng những tòa nhà cao tầng.

Từ trước đến nay, đường Alexandre de Rhodes vẫn được biết đến như một con đường của sự sang trọng, từ vị trí trung tâm, kết cấu hạ tầng hiện đại, những ngôi biệt thự, những nhà hàng, quán cà phê đẹp. Nhưng nơi đây, cũng là chốn buôn bán của những người nghèo với đôi quang gánh, chiếc xe đạp cà tàng ngồi tạm bên vỉa hè. Nơi đây là địa điểm tụ tập, là chốn kỷ niệm của những người trẻ ưa thích sự lang thang cùng cà phê bệt. Nơi đây có sự giao thoa của lịch sử và hiện đại, của sự giàu có cùng sự vất vả mưu sinh.

Tổng hợp

Những kỷ niệm về chương trình “Nhạc Chủ Đề” của Nguyễn Đình Toàn trên làn sóng điện những năm 1960-1970

Một buổi tối khuya, một ngày của thập niên 1970, giọng nói trầm quen thuộc từ làn sóng điện:

“Tình ca – những tiếng nói thiết tha và tuyệt vời nhất của một đời người – bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau… Tất cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại, làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta…

Em đâu ngờ anh còn nghe vang tiếng em trong tất cả những tiếng động ngù ngờ nhất của cái ngày sung sướng đó: Tiếng gió may thổi trên những cành liễu nhỏ, tiếng những giọt sương rơi trên mặt hồ, tiếng guốc khua trên hè phố… Ngần ấy thứ tiếng động ngân nga trong trí tưởng anh một thuở thanh bình nào, bây giờ đã gần im hơi, nhưng một đôi khi vẫn còn đủ sức làm ran lên trong ký ức một mùa hè háo hức, một đêm mưa bỗng trở về, gió cuốn từng cơn nhớ… Anh bỗng nhận ra anh vẫn còn yêu em, dù chúng ta đã xa nhau như hai thành phố”…

Ðó là những lời mở đầu một chương trình “Nhạc Chủ Ðề” trên làn sóng điện của Ðài Phát Thanh Sài Gòn, một buổi tối thứ năm nào đó. Nhạc sĩ Nguyễn Ðình Toàn đọc những lời giới thiệu ấy sau phần nhạc hiệu của chương trình, và tiếp theo là những giọng hát và những ca khúc chọn lọc đến với thính giả – giọng hát Duy Trác và “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương, giọng hát Thái Thanh và “Giáo Ðường Im Bóng” của Nguyễn Thiện Tơ, giọng hát Sĩ Phú và “Trở Về Dĩ Vãng” của Lâm Tuyền, giọng hát Lệ Thu và “Bóng Chiều Tà” của Nhật Bằng, giọng hát Khánh Ly và “Mùa Thu Chết” của Phạm Duy…


Nghe lại các bài hát trong chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn trên làn sóng điện thập niên 1960-1970

Những lời giới thiệu ấy, những lời ca tiếng hát ấy dội vào tâm tư của cả một thế hệ Việt Nam, một thế hệ lớn lên trong bối cảnh của những cơn binh lửa nối tiếp nhau trên quê hương. Và kỳ lạ thay, đến bây giờ những ca khúc ấy vẫn ở lại trong ký ức họ, cho dù nhiều năm tháng đã trôi đi, bao nhiêu khuôn mặt đã xa khuất…

Nếu như đối với các thính giả ái mộ “Nhạc Chủ Ðề” của thập niên 60, chương trình phát thanh ấy là một thư viện cất giữ giùm cho họ những trang sách kỷ niệm vô giá của tuổi thanh xuân hay một thời yêu đương, thì đối với sinh hoạt văn nghệ nói chung, “Nhạc Chủ Ðề” là nhịp cầu tiếp nối giữa dòng nhạc tiền chiến và dòng nhạc sau cùng của miền Nam. Chất nối kết hai dòng nhạc ấy là tình yêu, cho nên cuộc hành của “Nhạc Chủ Ðề” chính là cuộc hành trình của tình ca Việt Nam, dọc theo những năm tháng tan tác khói binh.

“Tình Ca Việt Nam” là tựa đề của băng nhạc đầu tiên và duy nhất do người khai sinh chương trình “Nhạc Chủ Ðề” – nhà văn – nhạc sĩ Nguyễn Ðình Toàn – thực hiện vào năm 1970. Ngày đó trên quê hương chúng ta, compact disc và video chưa xuất hiện, mới chỉ có hình thức ”bande magnetique”, và các phòng thâu băng cũng chưa có những thiết bị kỹ thuật tối tân để lọc âm thanh, ghép tiếng hát…

Nhưng ngày đó cơn lốc chiến ƭranh đã cuốn hàng triệu người tuổi trẻ từ thành phố ra sa trường và đưa Iửa đạɴ mịt mù từ sa trường về thành phố. Giữa giông bão chiến ƭranh, trong nỗi mong manh bọt bèo của thân phận con người, những ca khúc bất hủ của kho tàng tình ca Việt Nam được ghi lại và cất lên qua những giai điệu tuyệt vời nhất, vào giai đoạn thăng hoa nhất của những tiếng hát Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Trác, Sĩ Phú, tiếng dương cầm của Nghiêm Phú Phi và Lê Vũ Lê Văn Chấn, tiếng vĩ cầm của Ðan Thọ, Tuấn Khanh, Phạm Văn Phúc, Ðào Duy… tiếng clarinette của Ðỗ Thiều và Lê Ðô, tiếng đại hồ cầm của Nhật Bằng, nhịp trống của Trần Quang Mây…

Hơn ba mươi năm sau, khi khối người Việt Nam lưu lạc nơi hải ngoại đã chuyển tiếp từ thế hệ thứ nhất qua thế hệ thứ hai, rồi thế hệ thứ ba, “Tình Ca Việt Nam” mới được in và phát hành lần đầu tiên dưới hình thức CD. Nguyễn Ðình Toàn gửi đến thính giả mười lăm bài hát cũ của chương trình “Nhạc Chủ Ðề” trên làn sóng điện của Ðài Phát Thanh Sài Gòn, cùng lúc với tuyển tập ca khúc thứ hai do ông sáng tác “Tôi Muốn Nói Với Em”. Và như thế, phải chăng một nhịp cầu đã được nối trở lại?

Nhưng câu hỏi ấy đặt ra để làm gì nhỉ? Ba mươi quá đủ dài để dập vùi bao nhiêu cuộc đời, xé nát bao nhiêu giấc mơ, cuốn phăng bao nhiêu ân tình, nhưng vẫn chưa và có lẽ chẳng bao giờ xóa sạch được dấu vết kỷ niệm trên ký ức của những người đã lạc nhau trong một cuộc bể dâu. Ba mươi năm trước, khi viết lời giới thiệu “Hướng Về Hà Nội”, Nguyễn Ðình Toàn nhắn nhủ rằng sự chia lìa hai thành phố trên cùng một đất nước cũng đớn đau y như cuộc phân ly giữa những cặp tình nhân sinh ra đời để yêu nhau.

Bây giờ đây, có những người mở mắt chào đời ở Hà Nội và trưởng thành ở Sài Gòn nhưng chẳng biết có còn được một ngày trở về để nhìn lại hai thành phố thân yêu ấy lần nữa hay không. Sự chia lìa giữa người và người đã trộn lẫn trong cuộc phân ly giữa người và quê hương, cũng như những con sông đều trở thành dòng vĩnh biệt để chảy vào biển cả câm lặng.

“Ta đã xa nhau như đời xa cõi chết
Có bao giờ
Còn có bao giờ ta thấy lại nhau không?”

Ðó là lời hát của “Em Còn Yêu Anh”, một trong những ca khúc Nguyễn Ðình Toàn viết khi ông sống sót trở về. Mỗi ca khúc ấy là hóa thân của một bài thơ, được viết trong đầu rồi hát trong tim, như sự mài dũa trí nhớ để chống chọi với một cơn mộng dữ. Nhưng dẫu cho đau buồn bao nhiêu và cay đắng chừng nào, những bài thơ ấy vẫn còn nguyên vẹn sự óng chuốt và mềm mại, cũng giống như những lời giới thiệu “Nhạc Chủ Ðề” của thập niên 60.

Thật là kỳ lạ khi mỗi câu thơ và lời hát này, sau bao nhiêu đợt sóng quay cuồng của định mệnh, vẫn có thể mang người ta trở lại với một ngày nắng vui hay một chiều mưa buồn, một buổi sớm mai trong mảnh vườn nhỏ của Hà Nội hay một đêm khuya hiu hắt trên đường phố Sài Gòn. Nếu người ta tái ngộ với chính mình qua những dòng thơ “Em Ðến Thăm Anh Ðêm Ba Mươi” thì người ta cũng cảm thấy lòng trẻ lại với “Căn Nhà Xưa”. Cái rung cảm của năm nào

“Tay em lạnh để cho tình mình ấm,
môi em mềm cho giấc ngủ anh thơm,
sao giao thừa xanh trong đôi mắt ngoan,
trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết ”

– vẫn trở lại đầy ắp trong lời thầm thì của mấy chục năm sau:

“Em có nhớ căn nhà xưa bên khu vườn cải,
nơi những sớm mai nằm nghe nắng ròn trên mái

…Có những sớm em tìm đến,
với những đóa hồng khép nép giữa vòng tay ôm…
Nghe sau lưng em có chiếc lá mừng,
đã đổi màu xanh lấy hương nồng…”

Những ca khúc ấy khiến người ta bâng khuâng tự hỏi:

“Biết đâu có một ngày ở hai phương trời cách biệt mà cũng đều là đất khách quê người, có đôi tình nhân cũ tuy xa nhau hàng ngàn dặm nhưng đang cùng chia sẻ với nhau một thanh âm quen thuộc, để nhắn nhủ nhau rằng ”tình ca – những tiếng nói thiết tha nhất của một đời người – bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau…”

Cũng như Hà Nội, Sài Gòn trong lời giới thiệu “Nhạc Chủ Ðề” có thể chỉ là một nơi chốn kỷ niệm nào đó – “một thành phố nơi người ta đã yêu nhau”. Nhưng đối với tác giả bài hát, và đối với cả một thế hệ những người yêu quý ông, Sài Gòn giống như một chiếc hộp thần bí mà Pandora đã vô tình mở ra, và những oan khiên thống khổ tràn ngập không gian là cái giá phải trả cho những hạnh phúc tuyệt vời mà người ta nhận từ thế giới huyễn hoặc của một thời tuổi trẻ.

Sài Gòn là nơi từ đó, suốt thập niên 60, qua làn sóng điện giữa đêm khuya thanh vắng, chương trình “Nhạc Chủ Ðề” đã gửi đến thính giả những viên ngọc trác tuyệt nhất của kho tàng tình ca Việt Nam, những sáng tác bất hủ của Ðoàn Chuẩn, Ðặng Thế Phong, Nguyễn Thiện Tơ, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Khánh, Ngọc Bích, Lâm Tuyền, Phạm Duy, Hoàng Trọng, Nhật Bằng… Mỗi bài hát là tặng vật vô giá mà chỉ riêng các cặp tình nhân Việt Nam mới có thể chia sẻ cùng nhau. Sài Gòn cũng là nơi mà Nguyễn Ðình Toàn đã viết lên những ca khúc của chính ông, đầy chất thơ và miên man tình tự, ghi lại dấu vết những cuộc tình không may, nổi trôi giữa cơn gió định mệnh khắc nghiệt.

Dường như mỗi bài hát mà Nguyễn Ðình Toàn đã viết và mang theo khi ông rời xa quê hương là dấu vết còn sót lại của một thời mà người ta cùng nghe với nhau và hát cho nhau nghe những bản tình ca. Những bài hát ấy rất buồn, mỗi lời hát có thể như một tiếng thở dài chua xót, nhưng đó là ngôn ngữ của tình ca, của hạnh phúc và khổ ải quyện lẫn với nhau thành tặng phẩm của trần gian. Như ai đã nói:

“Chẳng có gì khác biệt giữa những giọt lệ khóc thương và những giọt lệ mừng vui”

Biết đâu mỗi kỷ niệm đắng cay âm thầm chứa đựng một phút giây hạnh phúc?

Trích bài viết của tác giả Đào Trường Phúc

Cố ca sĩ – nhạc sĩ Duy Khánh: Huyền thoại Bolero

Âm nhạc của Duy Khánh đậm dấu ấn âm hưởng dân ca miền Trung. Ngay từ khi sớm nổi tiếng với những ca khúc của Phạm Duy, ca sĩ Duy Khánh đã định hình cho mình một phong cách âm nhạc dân gian…

Giọng hát Duy Khánh (1936-2003) sớm có sức cạnh tranh một thời với các giọng ca Hùng Cường, Nhật Trường và Chế Linh. Tuy mỗi người một màu sắc khác nhau nhưng Duy Khánh có làn hơi khỏe và ngân dài khó ai địch nổi. Hơn nữa, Duy Khánh lại chuyên hát dòng nhạc quê hương tạo nên “đặc sản” cho riêng mình.

Cả cuộc đời Duy Khánh chỉ hát về quê hương với âm sắc ngọt ngào trong sáng pha chút u buồn nhưng không ủy mị.

Một trò chơi “Trời cho”

Ngay khi biết cậu nhỏ Diệp (Nguyễn Văn Diệp, tên khai sinh của Duy Khánh) cứ ca hát suốt ngày không chịu học hành, ông bố đã cấm tiệt. Nhưng cậu nhỏ Diệp đâu dễ bỏ thói quen. Mỗi khi đi học hay đến trường, cậu Diệp thường trốn đi tập hát. Nhiều đêm cậu còn đóng kín cửa, chui đầu vào chum gạo hát véo von cho đến sáng mới thôi.

Giọng hát tự nhiên trong trẻo vang ngân được ông trời ban cho đã tạo nên tính cách lãng mạn bay bổng của Diệp. Cậu mong ước sau này trở thành ca sĩ làm rạng danh gia tộc thuộc dòng dõi “Quận công” từ thời ông nội để lại. Sau khi tốt nghiệp cấp hai, Diệp được gia đình cho chuyển từ quê Quảng Trị vào Huế học lên Trung học toàn phần (1952).

Được vào Huế như chim sổ lồng, cậu Diệp chỉ tập trung vào đàn ca sáo nhị, hát hò thâu đêm. Diệp trở thành ca sĩ chính của ban nhạc trẻ ở Huế. Cậu còn được mời về Sài Gòn tham gia các chương trình phụ diễn ở các rạp chiếu bóng. Thậm chí, dù mới chỉ 16 tuổi, Diệp còn được hát chung với ca sĩ nổi tiếng Tuyết Mai lúc bấy giờ. Cậu tự lấy nghệ danh cho mình là Tăng Hồng và mạnh dạn dự thi đơn ca tại đài Pháp Á tổ chức ở Huế (1955).

Ai ngờ, giọng hát của Tăng Hồng đoạt giải Nhất với ca khúc “Trăng Thanh Bình” của nhạc sĩ Lam Phương. Giải thưởng như một sự khẳng định tài năng ca hát của Diệp. Năm sau cậu bỏ học trốn gia đình vào Sài Gòn lập nghiệp.

Sài Gòn vào năm 1956 đang nở rộ trào lưu tân nhạc. Không khí âm nhạc rất sôi nổi cùng với sự hiện diện lừng lẫy của nhiều danh ca nổi tiếng ở miền Nam.

Ca sĩ Duy Khánh (Duy từ tên Phạm Duy; Khánh là tên bạn thân của Diệp từ nhỏ) lúc đó không mấy được chú ý. Không ngờ, chỉ mới nghe Duy Khánh hát thử, nhạc sĩ Phạm Duy lập tức mời anh tham gia chương trình ca nhạc Hoa Xuân. Đặc biệt Duy Khánh được chọn cùng danh ca Thái Thanh hát hai ca khúc của Phạm Duy thì mọi sự thay đổi hẳn đối với Duy Khánh. Đó là thời điểm năm 1965, Duy Khánh nổi lên trên bầu trời âm nhạc với hai trường ca “Con Đường Cái Quan” và “Mẹ Việt Nam”.

Có thể gọi đây là hai bản trường ca đòi hỏi giọng hát cao vút, ngân vang mới biểu hiện được tư tưởng của tác giả. Duy Khánh trình bày chững chạc và có chiều sâu nội tâm. Có thể nói, chỉ giọng nam cao (Terno I) của Duy Khánh mới đủ sức thể hiện được hai tác phẩm này. Từ đó, các ca sĩ gạo cội có cái nhìn khác hẳn với giọng hát của Duy Khánh. Họ nể trọng và thán phục tài năng thiên bẩm của anh.

Sau này người nghe còn nhắc đến tác phẩm “Hòn Vọng Phu” qua cặp song ca Duy Khánh – Hoàng Oanh. Ít có nam ca sĩ hát lại bài này vì thấy giọng hát của Duy Khánh đạt tới đỉnh khó vượt qua. Còn nữa, với ca khúc “Vọng Ngày Xanh”, người nghe cũng đã quen với giọng hát cao vút Thái Thanh. Coi như đó là bài hát độc quyền của Thái Thanh. May ra chỉ có Hùng Cường mới thể hiện phần nào so với Thái Thanh khi biểu diễn ca khúc này. Nhưng đến khi Duy Khánh trình bày thì khác hẳn. Anh đã gây sự náo nhiệt trong khán giả. Đến đoạn kết phải ngân lâu thì Duy Khánh đã thể hiện một khả năng kéo dài bất tận. Khán giả bật dậy vỗ tay tới bốn lần tán thưởng mà tiếng hát Duy Khánh vẫn ngân nhẹ nhàng và dần tan biến vào trong khoảng lặng.

Không ai khác, nhạc sĩ Phạm Duy đã nhận xét: “Trong giọng ca Duy Khánh, nghe âm hưởng của tiếng trống cổ thành, tiếng thông reo trên đồi Vọng Cảnh (Huế)”. Ông còn nói ca sĩ Duy Khánh có thể ngân dài tới 21 nhịp và chuyển từ thấp lên cao, vượt quãng hai bát độ một cách thanh thoát như chim bay.

Nỗi buồn xa xứ

Mâu thuẫn nội tâm trong cuộc đời của Duy Khánh đã được báo hiệu từ những ngày anh bước chân sang xứ người (1988). Tưởng như cuộc đời sẽ đổi thay khi cả gia đình được người em bảo lãnh sang Mỹ, nhưng có ngờ đâu, tâm hồn Duy Khánh lại trở nên bạc nhược mệt mỏi. Lòng anh luôn luôn muốn trở về, tâm hồn anh bị xao động vì nỗi nhớ quê hương. Giọng hát đã pha những nghẹn ngào tiếc nuối.

Bên cạnh đó, những sáng tác của Duy Khánh luôn ẩn chứa nỗi sầu thương. Ân oán cuộc đời anh trao gửi hết vào lời ca khi hát về nỗi buồn xa xứ. Mỗi lời cất lên là một nỗi ám ảnh cố hương. Hãy lắng nghe rằng: “Anh ơi, cho dù anh trở về quê hương hoặc còn tha phương. Xin anh còn giữ vẹn câu thề. Dù gió mưa về vẫn một lòng yêu mến quê. Ngày mai ta xa nhau rồi, nhưng tin trong đời anh sẽ còn gặp tôi. Quê cũ mừng vui” (Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê).

Cho dù đây là bài hát anh đã sáng tác từ hồi 1966 với lời nhắn nhủ người khác đã chia tay bạn bè thân thương khi bỏ xứ xa quê. Vậy mà giờ đây anh hát cho chính mình, khóc vì đã dấn thân tha hương xứ người.

Phải nói, ca sĩ Duy Khánh là một nhạc sĩ chuyên sáng tác những ca khúc về tình yêu quê hương xuất sắc. Những chùm bài hát về Huế của anh rất đặc sắc và có những bài sống mãi với thời gian như: “Ai Ra Xứ Huế”, “Sầu Cố Đô”, “Thương Về Miền Trung”, “Thư Về Em Gái Thành Đô”, “Bao Giờ Em Quên”… Anh cũng là một trong số ít ca sĩ có khả năng sáng tác ca khúc thời đó.

Thực ra Duy Khánh cũng là một trường hợp hiếm có khi vừa mới vào nghề ca hát, anh đã sáng tác khá sớm. Thậm chí từ năm 1959 anh đã có sáng tác rất nổi tiếng là “Thương Về Miền Trung” hay “Ai Ra Xứ Huế”. Nhiều người ngỡ ngàng vì anh mới ngoài 20 tuổi chưa có tiếng tăm gì trong làng ca hát nhưng lại mọc mũi sủi tăm qua những sáng tác đầu tay. Chỉ một năm sau, Duy Khánh đã có sáng kiến xuất bản nhạc bướm với chủ đề “1001 Bài ca hay nhất” (1960). Bản nhạc bướm phát hành được nhiều nhạc sĩ ủng hộ vì bản in đẹp và dễ bán. Bản nào cũng được minh họa trình bày khá hấp dẫn.

Trong thời gian sống ở Mỹ, nhạc sĩ Duy Khánh lập trung tâm nhạc Trường Sơn để tự sản xuất đĩa hát và quy tụ những nhạc sĩ nổi tiếng ra mắt Album. Đáng chú ý, Duy Khánh còn mở lớp dạy nhạc cho các con em Việt kiều, ngay tại trung tâm của mình. Lớp học luôn hướng tới tình yêu quê hương qua rất nhiều cung điệu truyền thống.

Âm nhạc của Duy Khánh đậm dấu ấn âm hưởng dân ca miền Trung. Ngay từ khi sớm nổi tiếng với những ca khúc của Phạm Duy, ca sĩ Duy Khánh đã định hình cho mình một phong cách âm nhạc dân gian. Những sáng tác của anh khởi đầu từ thập niên 60 chan chứa nỗi niềm tình quê. Nếu tính từ ca khúc “Đêm nào trăng sáng” (1959) đến “Điệu buồn chia xa” (1994), Duy Khánh đã viết 38 tác phẩm và phát hành 50 Album ca nhạc. Trong thời gian 15 năm sống trên đất Mỹ anh khó sáng tác hơn trước. Nhiều đêm anh đã khóc vì mong muốn được trở về. Nỗi buồn tha hương day dứt tâm hồn anh.

Nhớ quá mẹ hiền, nhớ quá anh em

Khán giả không thể quên đôi mắt đọng sầu của Duy Khánh mỗi khi anh hát ca khúc “Xuân Này Con Không Về” và “Người Lính Già Xa Quê Hương”. Mười lăm năm tha hương. Tết nào anh cũng hát với nấc nghẹn trong con tim. Mọi người vừa nghe vừa nhỏ lệ cùng anh qua lời ca: “Nhớ quá mẹ hiền, nhớ quá anh em. Vẫn thấy quê hương đêm ngày réo gọi. Vẫn thấy trong tim canh cánh đường về. Vẫn thấy nơi đây chỉ là đất tạm. Thầm hẹn ngày về chết giữa quê hương”.

Thật tiếc cho người nghệ sĩ tài hoa này không thực hiện được ước nguyện của mình. Mỗi lần định về lại một lần lỡ hẹn. Đúng đầu xuân năm 2003, Duy Khánh vĩnh viễn ra đi trong cơn bạo bệnh. Đó chính là căn bệnh suy sụp trong tâm hồn.

Dự tang của anh, mọi người thầm lặng đi theo sau xe tang mà vẫn nghe lời anh ngân nga vẳng lên trong không trung: “Hương Giang thuyền không chỗ đậu. Ngự viên có bướm hoa vàng. Hay là hài xưa yêu dấu. Đưa người đẹp ấy sang ngang” (Bao giờ em quên). Duy Khánh được khán giả vinh danh là một “huyền thoại” của dòng nhạc Bolero ở Việt Nam.

Theo Bội Kỳ (cand.com.vn)

Ý nghĩa và xuất xứ của ngày Halloween ở phương Tây

Tại Phương Đông, kể cả Việt Nam, có ngày Rằm Tháng 7, hay còn được gọi là ngày Xá tội Vong nhân. Người ta tin rằng vào ngày này cánh cửa địa ngục sẽ rộng mở để các linh hồn người chết được về “đoàn tụ” với gia đình!

Phương Tây lại chọn ngày cuối cùng của tháng 10, bắt đầu từ chiều tối cho đến 12 giờ đêm, để tổ chức lễ hội được gọi là Halloween, tên viết tắt từ “All Hallows’ Evening”.

Theo Thiên Chúa Giáo, ngày đầu tiên của tháng 11 được chọn làm lễ cầu siêu cho các linh hồn đã mất cho nên trước đó các hồn ma sẽ lưu lạc trần thế lần cuối cùng trong đêm Halloween.

Theo truyền thuyết Ireland, ngày Halloween sẽ là ngày ăn mừng kết thúc mùa hè, chuẩn bị cho năm mới, tương tự như Giao thừa ở các nước Phương Đông.

Người Ireland kể rằng: Có một anh chàng tên Jack lúc sống rất keo kiệt và bủn xỉn. Trong làng có một con quỷ luôn quậy phá nên dân làng đã mời thầy về “ếm” để mọi người an tâm sinh sống.

Kẻ bị “ếm bùa” lại là người bạn hay chơi đùa với Jack… thế là Jack gỡ lá bùa ra giúp bạn. Con quỷ hứa sẽ đền ơn Jack bằng cách không bao giờ bắt linh hồn anh xuống địa ngục, khi anh gặp nạn linh hồn anh tìm cách lên thiên đàng nhưng ở đó lại không chấp nhận bởi vì anh không sống tốt. Thế cho nên, linh hồn Jack cứ lang thang lạnh lẽo ỡ trần gian.

Con quỷ thấy vậy bèn đưa cho anh ít than hồng nơi địa ngục để giữ ấm, anh lấy một quả bí ngô đục lỗ cho có không khí, than cứ rực sáng trên con đường anh đi nơi trần gian. Đó chính là sự tích chiếc đèn bí ngô “Jack O’Lantern” phổ biến trong dịp Halloween.

Theo phong tục tại các nước Phương Tây, trẻ em trong trang phục ma quái thường đến các gia đình trong đêm Halloween với lời “đe dọa”: “Trick-or-Treat”, tạm dịch là “cho kẹo hay bị ghẹo”! Chủ nhà phải lựa chọn giữa Trick và Treat, hoặc chịu những trò ma quái còn Treat là đãi ngộ bằng kẹo hoặc đôi khi bằng tiền!

Vì vậy, một số nhà sẵn sàng chọn Treat bằng cách treo các trang trí Halloween bằng kẹo bên ngoài cửa ra vào hoặc chỉ cần để lại kẹo sẵn trên hiên nhà để trẻ em tự do lấy đi.

“Trick or Treat” ở Phương Tây trong tối Halloween có những ý nghĩa tương đồng với việc “cướp cháo” ngày Rằm Tháng 7, hay còn gọi nôm na là “giựt cô hồn”, ở Phương Đông.

Nguồn: Nguyễn Ngọc Chinh