Trịnh Công Sơn giữa chúng ta

Trịnh Công Sơn thuở sinh thời luôn cần đến hơi người. Anh cần thấy và nghe tiếng nói cười, luôn cả nơi xao náo, tranh luận, rồi sau đó mới rút lui về góc riêng. Đặt chân đến một nơi nào đó, dù quen hay lạ, anh vẫn cảm thấy cái nhu cầu “xuống phố”.

Phố, hiển nhiên là một ngã tư của con người và thông tin, một nơi lý tưởng để hóng, để ngóng.

Rất nhiều người từng chia sẻ sở thích này với anh như Vũ Bằng, Thạch Lam và biết bao nhiêu văn nhân thi sĩ khác.

Phía trời Tây cũng có những nhà thơ như André Breton từng ngao du từ bắc xuống nam, qua từng thành phố, để mắt tới từng ngọn gió đổi chiều, từng ánh đèn trong ngôi nhà khuất, để rồi cuối cùng bắt gặp một bóng hồng vô cùng mộng mị là Nadja đã làm xoay chiều cả cuộc đời mình. Hay như là thi sĩ Jacques Prévert dạo chơi bát phố hằng ngày như người đi xem lễ để săn từng chữ, câu từng lời, nơi người qua đường hay nơi kẻ bán báo. André Breton, người trưởng tràng của phong trào siêu thực, không ngần ngại thổ lộ: “Đường phố với những lo toan cùng các ánh mắt đúng là môi trường của tôi. Không có nơi nào bằng nơi này khiến tôi hóng lấy cái thoảng qua của những gì xảy ra bất chợt” (Tự bạch tự trào, 1942). Phong trào siêu thực này, nối tiếp phong trào lãng mạn, đã từng vượt đại dương tràn sang nước ta và châm ngòi cho nhóm Xuân Thu nhã tập, hoặc một số thi sĩ độc lập như Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Ngô Kha… Nhà văn hiện đại J.K.Rowling, người mẹ tinh thần của Harry Potter chắc hẳn sẵn sàng đồng tình với Trịnh Công Sơn khi bà từng tâm sự: “Trước kia tôi có thói quen viết trong tiệm cà phê. Tôi thích có nhiều người xung quanh tôi”.

Bản thân tôi, thú thật, sẵn sàng nhập ngũ vào đạo quân này. Bởi, còn gì nhàn nhã, thú vị, ấm áp cho bằng viết văn, viết báo bên hè phố, trước mặt là tách cà phê, giữa tiếng lanh canh nói cười, như thể mình lọt vào một an bài vĩ đại và phải chi, thêm vào đó, lòng giắt sẵn hình bóng người yêu thì quả là hạnh phúc! Mà cái khoản người yêu, một kẻ như Trịnh Công Sơn không hề thiếu. Chính nhờ những con người như thế này mà quán tiệm luôn có khách. Cứ ngồi đó thôi, một mình cũng tốt, vì dễ viết, trong khi con mắt không ngớt phóng ra bên ngoài lục lạo hình ảnh quen biết trong đoàn người qua lại. Nhưng một mình mà chẳng khác con “chim mồi”, trước sau gì cũng có kẻ sà vào, và cứ thế, không hẹn mà nên, chiếc bàn cà phê thành nơi quây quần tụ hội. Trường hợp người thân quen chưa xuất hiện, ta được dịp phóng bút. Và, đừng quên, giữa hai câu viết, giở ký ức ra điểm danh người yêu đang khuất nẻo. Cái vòng tròn màu hồng ấy cứ vần xoay.

Nhiều tác giả nghiên cứu phần nhạc trong ca khúc Trịnh Công Sơn, đặc biệt là Trần Hữu Thục, có ghi nhận rằng nhạc sĩ này thích sử dụng cung mi và cung la. Và ở hai cung sở trường này, anh chuyển từ bậc thứ sang bậc trưởng và ngược lại. Đặc điểm này khiến tôi liên tưởng đến đời sống của anh, nhất là những năm “khó sống” nhiều biến động chính trị ở miền Nam. Thuở ấy, anh sống những tháng ngày thật thăng trầm, khi thì thênh thang tự do, khi thì sống núp lánh, nay được phép hát bài này mai bị cấm hát bài kia, vừa “hát cho đồng bào tôi nghe” vừa uống rượu trên lầu cao, có hôm tụ họp với sinh viên có hôm trình diện quân cảnh. Một đời sống đầy rẫy bóng tối giữa ban ngày mà lại lóe sáng trong đêm khuya.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 1981, ông Georger Simeron, một nhà văn Pháp gốc Bỉ nổi tiếng với nhiều truyện trinh thám mang tính chất phân tích tâm lý, bị nhà báo Berrard Pirot chất vấn như thế này: “Ông hô hào cho hạng “dân dã” còn ông thì chưa hề là một kẻ dân dã. Ngay khi ông nổi tiếng, ở Paris, ông lui tới những lễ trình diễn ra mắt, ông được trọng đãi…”. Nhà văn đáp: “Tôi quả có sống như thế suốt hai năm, vì tôi muốn biết. Tôi muốn hiểu con người. Tôi săn đuổi con người suốt đời. Muốn hiểu người, thì đọc báo hoặc nhìn từ xa là không đủ: phải vào cuộc. Tôi đã vào cuộc trong giới thượng lưu Paris suốt hai năm. Tôi mặc dạ phục hằng ngày và dự trình diễn ra mắt, dự yến tiệc…”.

Kinh nghiệm thu thập được đối với nghệ sĩ hiển nhiên là đa tạp, mắc mỏ, lắm khi nghệ sĩ phải khoác lên mình những lớp áo của hoàn cảnh. Nhưng chung quy lớp áo vẫn chỉ là lớp áo.

Nhà văn Gaston Kelman, một tác giả Pháp gốc Cameroun, có viết một cuốn truyện nhan đề là Tôi là người da đen không thích ăn sắn. Một nhan đề truyện độc đáo về nhiều phương diện. Trước hết là nó dài, nhưng hẳn tác giả cảm thấy cần phải dài trên mặt bìa như vậy mới thật sự trọn nghĩa, mới tự giới thiệu mình một cách tránh gây ngộ nhận. Cái đề truyện lòng thòng ấy – nó giống như cả một… cương lĩnh, khắc ghi vào tâm khảm một chương trình sống, được dán lên bản thân vừa đập mạnh vào mắt mọi người. Tôi là da đen nhưng không phải hễ da đen là ăn sắn. Và tôi sực nghĩ tới Trịnh Công Sơn. Nhạc sĩ của chúng ta có thể nhại tác giả da đen để tuyên bố: tôi là người da vàng mà thích uống rượu ngon, tôi sống trong thời chiến nhưng làm nhạc phản chiến, tôi không có tiền vẫn khoái mặc đẹp…

Cách thế sống không phải chỉ có một, cũng không nhất thiết trước sau là một, có khi nó vừa vặn với người này mà bó rọ với người kia và lại thùng thình với người nọ, nó biến chuyển theo từng người, theo từng “tạng” người, nói theo cách nôm na.

Trịnh Công Sơn không khỏi có khi ngẫm mình như người phu quét đường, được trao cho một việc làm mà người khác không buồn để ý, một việc làm như tuồng lạc lõng, không ăn nhập với toàn cảnh, như trong ca khúc Đại bác ru đêm:

Đại bác ru đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe…

Người phu vẫn miệt mài cắm cúi làm công việc “dọn sạch để đón chờ ngày mới”:

…Người phu quét lá bên đường
quét cả nắng hồng quét hạ buồn tênh…
…Người phu thôi quét bên đường
quét chỗ em nằm quét cả mùa xuân…
(Trịnh Công Sơn, Góp lá mùa xuân)

Trong số Báo Thanh Niên chủ nhật 25/4/2004, tác giả Lê Trọng Nhi đã cảm nhận điều này và liên tưởng đến “người phu quét đường Martin Luther King”, giải Nobel Hòa bình năm 1964, khi người mục sư Mỹ da đen này giảng giải cho sinh viên đại học Mỹ năm 1967 như sau:

“Nếu một người đã được gọi để làm một người phu quét đường, hãy quét những con đường như đại nhạc sư Beethoven đã soạn nhạc, hãy quét những con đường như đại văn hào Shakespeare đã làm thơ. Người phu quét đường phải quét những con đường một cách tốt đẹp nhất để tất cả khán thính giả trên thiên đàng và nơi trần gian sẽ ngẫm nghĩ và nói: Đây là đời sống của một người phu quét đường vĩ đại – ông ta đã làm công việc của mình thật tốt đẹp”.

Theo Bửu Ý (Thanh Niên)

Nơi nghìn trùng cơn gió bay

Trịnh Công Sơn mất ngày 01.04.2001. Như thế anh bước qua thế kỷ 21 được tròn 3 tháng. Vượt qua năm 2000 và bước vào thế kỷ 21 là niềm vui của anh, cũng là niềm vui bạn bè mừng sức khỏe anh. Chỉ tiếc rằng thế kỷ này không được vinh dự giữ chân anh lâu, không còn hân hạnh ghi dấu những ca khúc mới Trịnh Công Sơn nữa.

Năm 2000 trở thành cái mốc thời gian khắc nghiệt với Sơn từ nhiều năm trước. Nhìn quanh nhau tuổi đời đã xế, sức khỏe đã mòn, dù có thách đố thời gian đến đâu bằng sự sáng tạo miệt mài, yêu thương cuồng nhiệt, cố kéo ngày dài ra đến 1, 2 giờ sáng hôm sau để tham lam nhìn ngắm cuộc đời, cỏ cây trời đất, thì cũng chẳng làm thay đổi được gì cái khoảnh khắc 365 ngày ấy. Rất nhiều lần đi chơi với nhau, Sơn luôn nói: Tụi mình phải vượt qua năm 2000, chỉ còn mấy năm nữa thôi.

Chỉ có mấy năm thôi, thời gian tưởng chừng quá ngắn ngủi ấy, thế mà Sơn đã bị rơi rụng quá nhiều bạn bè. ở Hội Âm Nhạc Thành Phố, nơi anh thường lui tới làm việc mỗi ngày, các nhạc sĩ Xuân Hồng, Diệp Minh Tuyền, Ngô Huỳnh, Phạm Trọng Cầu đã lần lượt ra đi. Trước đó, năm 1995 anh Văn Cao ở Hà Nội, và gần đây Thái Bá Vân, Hoàng Thiệu Khang… Nhìn lại quanh mình sao bạn bè vắng đi nhanh quá, Sơn bắt đầu bị ám ảnh nhiều về sự bấp bên của đời sống. Những cái chết được gọi tên quá nhịp nhàng.

Một cú điện thoại nửa đêm: Quỳnh à, anh Văn Cao mất rồi. Hoặc: Xuống ngay đi, Mây vừa gọi vào, Thái Bá Vân…Hoàng Thiệu Khang kêu đau ngực, một mình lấy taxi vào bệnh viện Nguyễn Trãi buổi chiều, thì mới tối, điện thoại reo: Anh Khang đưa về nhà rồi, đêm nay liệm. Sao đời sống phù du thế. Mới ngồi quán với nhau tối qua mà. Khang rất khoẻ mạnh, chưa một lần đi bác sĩ, dạy học suốt tuần không mỏi, ăn uống điều độ, luôn nói với Sơn bằng giọng giả Huế: Sơn lo sức khỏe của Sơn đi. Còn moa thì đủ sức rồi, năm 2000 với thế kỷ 21 có nghĩa chi mô. Thế mà anh ra đi tức tưởi một buổi chiều tháng 8, chỉ còn 4 tháng nữa tới năm 2000!

Sau mỗi cú phone nghiệt ngã như thế, bạn bè kéo đến bên Sơn. Và lần nào cũng thế, một chai Chivas mới được mở ra, rót một ly cho người vừa nằm xuống, một cây nhang được đốt lên cắm vào cái chai nhỏ. Bạn bè lần lượt cụng ly với người vừa mất. Im lặng. Khói hương tỏa quanh bàn và những hồi ức làm mọi người cay mắt. Ngoài trời đêm dày đặc. Gió rúc vào vòm hoa giấy cổ thụ trước nhà.

Một buổi sáng ngồi ở quán Văn Nghệ đường Trần Quốc Thảo thấy nhạc sĩ Ngô Huỳnh đạp xe đi ngang, Sơn chỉ anh ta và nói: Ngô Huỳnh bị gan nặng lắm nghe không qua khỏi, hôm nào tụi mình ngồi với anh một bữa. Ngô Huỳnh tác giả bài Con Kênh Xanh Xanh. Và bữa rượu chưa kip mời thì được tin anh mất.

Từ đó ra đường gặp một người vẫy tay, mình phải đưa tay chào vội. Làm được gì cho nhau thì chớ chần chừ. Vì đời sống nhiều bất trắc quá. Để không bao giờ ân hận bởi một sự lười biếng cỏn con, một vô tình không đáng có.

Trịnh Công Sơn trầm mình trong suy tư về cái cõi tạm của đời người. Ai cũng phải một lần chào vĩnh viễn nhân gian. Nhưng giã từ cách nào đây. Quỹ thời gian còn ít, nên phải liệu mà chi tiêu hợp lý. Từ đó những bài hát của anh là lời tỏ tình với cuộc sống, lời nhắn nhủ thầm kín về những nỗi niềm tuyệt vọng, và cũng là một nỗi lòng tiếc nuối khôn nguôi đối với buổi chia lìa cùng mặt đất mà anh đã một thời chia xẻ những buồn vui cùng mọi người. Trong bài Tôi Ơi Đừng Tuyệt Vọng, anh nói lên lòng yêu tha thiết cuộc sống cùng nỗi tuyệt vọng khốn cùng của phận người: Tôi là ai mà còn khi dấu lệ. Tôi là ai mà còn trần gian thế. Tôi là ai, là ai…mà yêu quá đời này!

Ca khúc của anh gắn liền với cảm xúc máu thịt. Bằng tâm hồn rất nhạy cảm, anh ghi nhận từng rung động để rồi dùng thứ ngôn từ phù thủy của mình viết ra.

Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên, Chiều Trên Quê Hương Tôi, Huyền Thoại Mẹ, Xin trả nợ người, Hoa Xuân Ca, Con Mắt Còn Lại, Bống Bồng ơi… là những ca khúc tôi từng được anh chia sẻ với.

H. trong Hoa Xuân Ca là tên người con gái Hà Nội xinh đẹp ở cạnh nhà Tôn Thất Văn, một họa sĩ nổi tiếng về tranh lụa, nơi mà mỗi tuần bạn bè kéo về ăn uống vui vẻ. H thường xưng hô với Sơn là Monsieur và em. Một buổi chiều tôi chở anh về nhà Văn trên chiếc P.C sơn màu vàng cam (mà Phạm Trọng Cầu gọi là màu nắng), anh đã dùng vỏ bao thuốc lá viết lên lưng tôi. Lúc xuống xe, anh chép lại trên giấy những dòng nhạc và nhẩm hát: Cây sẽ cho lộc và cây sẽ cho hoa…Tôi nói chắc anh đặt tên bài này là Hoa ca? Sơn nói không, mình đặt là Xuân Ca. Trong Hoa Xuân Ca có hai câu rất hay và rất tượng hình:

Em mướt xanh như ngọc mà tôi có đâu ngờ
Em suối kia rất ngọt và tôi đứng hai bờ.

Bài Con Mắt Còn Lại, anh lấy ý từ hai câu thơ của Bùi Giáng: Còn hai con mắt, khóc người một con. Hai lời đầu được viết trong buổi chiều uống rượu ở nhà Tôn Thất Văn, làng Báo chí. Anh em hát lui hát tới bài này rất vui. Lúc ra về, trời tối, rượu thấm, Sơn ngồi sau vỗ vai tôi: Quỳnh à, mình ghé chỗ Quế H. đi. Quế H. đang trọ ở nhà khách Bộ Đại Học ngay Hồ Con Rùa. Tại đây, Sơn lấy Con Mắt Còn Lại ra, cười hát với nhau. Rồi cảm hứng thế nào anh viết luôn lời 3 tại chỗ. Lấy phone gọi hát cho bạn bè nghe lời mới giữa đêm khuya khoắt. Con Mắt Còn Lại để lại nhiều kỷ niệm rộn ràng nhất.

Ca khúc mới mà rất tình cuối cùng của Sơn là 3 bài Bống viết cho Hồng Nh. Bống Không Là Bống, Thuở Bống Là Người và Bống Bồng ơi. Có thể nghe rõ tâm trạng anh trong mỗi ca khúc này. Bống 1 hân hoan bao nhiêu, Bống 2 nhẹ nhàng thơ mộng bao nhiêu, thì Bống 3 buồn bã lạ lùng.

Nắng vàng em đi đâu mà vội
Mà vội nắng vàng nắng vàng ơi
Em đi đâu mà vội mà vội
Bống này Bống nhỏ nhoi
Ngày Bống mẹ bồng nhẹ quá tơ tằm
Lay nhẹ bống bồng bông
Lay nhẹ đoá hồng nhung.

Bống Bồng Ơi tha thiết, trách móc. Như một nỗi chia lìa. Buổi chiều trong căn phòng im ắng, Sơn ngồi một mình với ly rượu trước mặt, nhìn nắng hắt lên bức tường rêu. Nắng chập chờn bóng lá. Nắng đổi màu lạ lẫm từng lúc. Úa vàng rồi ửng trắng. Tâm hồn anh có lúc cũng chùng xuống trong màu nắng kia. Nắng trong Bống Bồng Ơi là thứ nắng của một buổi chiều như thế.

Trong cuộc nhân sinh thực hư mù ảo này, Trịnh Công Sơn đã vắt kiệt đời mình để sống. Lúc vui chơi giữa đời biết đâu nguồn cội, anh vẫn nghĩ đến cái hữu hạn của phận người và luôn linh cảm về sự chia lìa một ngày nào đó.

Đường trần rồi khăn gói.
Mai kia chào cuộc đời.
Nghìn trùng con gió bay.
(Những con mắt trần gian)

Có một ngày như thế anh đi.
Anh đi đâu về đâu về cõi chiêm bao.
Lìa những cơn đau.
Hồn tuyết bao la.
Anh đi đâu về đâu.
Ngọn gió hư hao thổi suốt đêm thâu.
Đời sẽ lên đênh nơi nao.
(Có một ngày như thế)

Tôi như nụ hồng nhiều khi ưu phiền chờ tôi rã cánh một lần
(Tự tình khúc)

Những hẹn hò từ nay khép lại.
Thân nhẹ nhàng như bay.
Chút nắng vàng giờ đây cũng vội.
Khép lại từng đêm vui.
(Như một lời chia tay)

Còn bao lâu cho thân tôi lưu đày chốn đây.
Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này.
Còn bao lâu cho mây đen tan trên hồn người.
Còn bao lâu tôi xa em xa anh xa tôi.
(Phúc âm buồn)

Và cuối cùng là hình ảnh một nấm mồ:

Hương trầm có còn đây.
Ta thắp nốt chiều nay.
Xin ngủ trong vòng nôi.
Ta ru ta ngậm ngùi.
Xin ngủ dưới vòm cây.

Vòng nôi hay vòm cây. Hay chỗ về cuối cùng của đời người. Đây là hình ảnh đầy ẩn dụ mà chỉ có một Trịnh Công Sơn mới vẽ lên thôi.

Trịnh Công Sơn đã bỏ lại bạn bè, người thân và hàng triệu khán thính giả vô cùng yêu mến anh để ra đi vĩnh viễn. Trịnh Công Sơn đã giã từ cái trần gian cay cực lẫn huy hoàng mà anh yêu tha thiết này để về với Nghìn trùng con gió bay. Tôi ao ước ở nơi ấy, vẫn có những sớm mai ửng hồng hay những hoàng hôn lao xao gió, vẫn có cái nắng hạ trên bức tường rêu của chốn quê nhà. Để anh không bao giờ thấy mình hiu quạnh.

Bây giờ là tháng năm, cuối tháng năm. Thế mà tôi vẫn còn bàng hoàng rơi vào cõi thực hư thế nào mỗi lần nhớ anh. Anh Sơn ơi, anh đã yên nghỉ, nhưng sao lòng bạn bè vẫn không nguôi. Bởi tấm lòng anh còn đó. Hay bởi cuộc chia tay vội vã thiếu lời giã từ nhau?

Lữ Quỳnh
San Jose, cuối tháng 5 – 2001

Những ngày cuối của Sơn ở cõi tạm

Đến với cuộc đời, Sơn tự giới thiệu: “Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo…”. Ngay trong lần triễn lãm cuối cùng của Sơn vào tháng 07.2000 cùng với Đinh Cường và Bửu Chỉ tại Galery Tự Do, Sơn cũng đã xác định lại điều đó một lần nữa.

Trong cuộc chơi này, Sơn vẫn quen nói như vậy, Sơn tham gia 12 bức, nhưng có đến 10 bức Sơn mới vẽ trong vòng một tháng trước đó. Đêm nào Sơn cũng vẽ đến sáng mà tưởng chừng như không biết mệt. Ngoài những bức như Người Hát Rong (Troubadour), Cha Con Hát Xẫm (Minstrel-Father and Son), Kiều ca ky û (Kieu-minstrel), thì Bóng Thơ (Poetic Shadow), Tự Họa Self-Portrait), Vòng Phấn Trắng (Narrow Magrin), Cõi Riêng Tư (Reflexion) và Thế Giới Ảo (Reminiscence) trong đó Sơn tự họa chân dung mình bên cạnh cây đàn ở nhiều vị trí khác nhau để khẳng định với mọi người Sơn vẫn là người hát rong.
Người hát rong không cư ngụ một nơi nào cố định, luôn luôn di chuyễn. Di chuyển từ miền đất này đến vùng đất khác, từ thị trấn này đến thị trấn khác, và… từ cõi trần gian này sang thế giới bên kia. Mỗi nơi người hát rong dừng lại, theo Sơn dù lâu hay mau đều là nơi ở trọï “Tôi nay ở trọ trần gian, trăm năm về chốn xa xăm cuối trời (Ở Trọ). Trần gian cũng chỉ là cõi tạm.

Ở một khía cạnh nào đó, Sơn chia xẻ cách nhìn của André Malraux: “La vie ne vaut rien, mais rien ne vaut une vie” (Cuộc đời không đáng gì, nhưng không gì đáng bằng cuộc đời). Dù trần gian có là nơi ở trọ thì Sơn cũng đã sống, sống hết mình và yêu thương hết mình dù có đôi lần bị phụ bạc, ruồng bỏ… Sơn tin hay không có một thế giới sau cõi tạm này? Có thể… Chính Sơn cũng đã nhiều lần khẳng định: “Cuối cùng không có gì khác hơn là sống và chết. Sống làm thế nào cho tròn đầy sự có mặt và chết cho ngập tràn cõi hư không. Phải đi đến tận cùng hai cõi sống chết để làm tan biến tất ca û những giấc mộng đời không thực”.
Sơn có rất nhiều muộn phiền. Không hiểu vì sao Sơn đã ray rứt về sự ra đi, ở lại của cuộc đời, mà như Sơn nói là từ rất sớm. Cho nên “Mỗi bài hát của tôi là một lời tỏ tình với cuộc sống, một lời nhắn nhủ thầm kín về những nỗi tuyệt vọng, và cũng là một nỗi lòng tiếc nuối không nguôi đối với buổi chia lìa cùng mặt đất mà tôi đã một thời chia xẻ những buồn vui với mọi người”.

Người hát rong vẫn cứ lên đường. Đi để mà đi chứ không để đến một nơi nào đã định.
Ít nhất, Sơn cũng đã một lần dậm chân bước qua thế giới bên kia. Cái thế giới siêu hình mà có thể Sơn chưa từng biết nhưng đã nhiều lần nói tới, suy tưởng về nó …

Lần đầu ngày 12.07.1997 Sơn bị sốt, và đường huyết đột ngột tăng cao, có một bác sĩ quen với gia đình được mời đến. Có lẽ chưa có kinh nghiệm với bệnh trạng của Sơn, khi khám thấy đường huyết tăng cao, anh ta đã nhất quyết đề nghị chích insuline. Sơn đã phản ứng không chịu chích, nhưng anh ta vẫn cho là mình đúng , nên đã thuyết phục người nhà phải chích để chữa trị cho Sơn, và đã tiến hành chích trong lúc Sơn đang ngủ. Mấy tiếng đồng hồ sau mũi thuốc, Sơn hoàn toàn rơi vào trạng thái hôn mê. Gia đình và bạn bè đã tức tốc đưa Sơn vào bệnh viện Chợ Rẫy, khu Cấp Cứu Hồi Sức, lầu 2. Cái phòng mà những ai đã lỡ bước vào thì không mấy người quay trở lại với cõi đời. Nhìn Sơn thoi thóp trên giường, giữa những người bệnh nằm la liệt chung quanh, một không khí chết chóc, tuyệt vọng… tôi đã quỵ xuống gần như bất tỉnh. Nhưng với tất cả lòng tự tin và ý chí muốn sống, cọng thêm tình yêu thương của mọi người trên khắp trái đất dành cho Sơn, vốn như một sức mạnh tinh thần đã hổ trợ Sơn chiến đấu, chống chọi với thần Chết. Có thể Sơn còn quá nhiều dự tính, còn quá nhiều điều chưa kịp bày tỏ với cuộc đời.

Không biết do tình cờ, hay để chuẩn bị tổ chức sinh nhật bé Dao, con gái của Chuyết và Thúy vào ngày 15.07. Các em Sơn đều có mặt ở Việt Nam đông đủ, không thiếu một ai. Đêm đó, ngoài các em, các cháu của Sơn, còn có Phạm Phú Ngọc Trai, Huỳnh Thiện, Phi Long, Hoàng Thiệu Khang, Bùi Huỳnh Anh, Lê Phước Bốn , bác sĩ Thành đều lóng ngóng đứng ngoài cửa phòng cấp cứu cho đến khuya, hồi hộp chờ đợi tin Sơn từng giây từng phút.
Khuya hôm đó trở về nhà tôi đã suốt đêm không ngủ. Đến 5 giờ sáng, không chịu đựng được nữa, tôi chuẩn bị vào với Sơn. Trước khi đi, ngập ngừng mãi tôi mới nhấc điện thoại lên quay số điện thoại của Chuyết. Khi nghe tiếng cười của Chuyết (chồng Thúy, em gái Sơn) từ đầu dây bên kia, tôi đã hiểu ngay “những cơn gió lành đến từ các thảo nguyên xa xôi mang theo mùi hương cốm ,hương bạc hà của những loài hoa dại đánh thức Sơn dậy và làm hồi sinh những mùa Xuân đang ngủ quên trong các mạch máu của cơ thể Sơn”.
Ngay sáng hôm đó, Sơn được chuyển ngay lên lầu 10, phòng 5 và gia đình Sơn cũng thuê thêm một phòng nữa, cách phòng Sơn một hai phòng để luôn túc trực chăm sóc Sơn. Ngày nào cũng hai lần tôi đến bệnh viện với Sơn, mang thư bạn bè khắp nơi, thư viết tay, điện thư cũng co và đọc cho Sơn nghé. Trong những ngày trên giừơng bệnh, Sơn không thể viết trả lời tất cả các thư viết tay, nhưng các thư điện thì tôi ghi nhận ý kiến của Sơn trước khi thay Sơn trả lời.

Đúng một tháng kể từ ngày nhập viện, Sơn đã vững vàng bước ra khỏi cánh cửa của Bệnh viện Chợ Rẫy trước sự bỡ ngỡ và vui mừng vô hạn của các em Sơn và bạn bè Sơn như một phép lạ. Tôi nghĩ là phép lạ…hay đúng hơn một sức mạnh thiêng liêng nào đó đã bảo bọc, che chở Sơn.

Tôi còn nhớ buổi chiều chúng tôi đón Sơn ra khỏi bệnh viện, vừ lên xe Sơn đã yêu cầu chúng tôi đưa Sơn đi một vòng khắp thành phố, tôi nhìn ánh mắt Sơn mở lớn sau cặp kính đang chăm chú với tất cả sự say mê, khi chúng tôi đi qua những con đường, những hàng cây xanh rợp lá, những dãy phố, những ngôi nhà cao tầng, những con hẽm, những gian hàng, quán xá… Tất cả đang cử động, đang sống , khác hoàn toàn với thế giới mà Sơn vừa rời bỏ, một thế giới đang chòi đạp, chiến đấu giữa cái sống và cái chết. Tôi bắt gặp trong đó trong ánh mắt Sơn lóe lên một niềm vui, một lòng ham muốn được sống , nhưng không phải trong đôi mắt bạn tôi không có chút suy tư, nỗi ám ảnh về cái chết.

Có thể là một nghịch lý, Sơn từng bày tôi: “Tôi chỉ biết thời điểm này trong tôi đang thôi thúc thu xếp hành trang cho một cuộc lên đừơng mới. Cũng vẫn là một cuộc chơi như bao cuộc chơi đã trãi qua. Vẫn đi đến nhưng không hò hẹn. Muốn hội ngộ một sự tình cờ tốt lành hơn nhưng không náo nức”.

Nơi đến sắp tới của Sơn sẽ là đâu? Ở trần gian này hay thế giới bên kia? Thời gian này, Sơn có thói quen dậy thật sớm, đi bộ tập thể dục dọc theo con đường Phạm Ngọc Thạch, đến công viên sau lưng Nhà Thờ Đức Bà. Sơn đi mấy vòng, rồi quay về nhà, có nhiều khi ngủ lại một lát. Aên sáng xong, Sơn đến văn phòng Hội Aâm Nhạc, số 8, Trần Quốc Thảo, Quận 3 gặp gỡ bạn bè, người mến mộ hoăïc trao đổi công việc.

Buổi sáng khoảng hơn 10 giờ, buổi chiều 5 giờ Sơn thường gọi điện thoại cho tôi và chúng tôi vẫn thường ngồi với nhau ở đâu đó, mà thường là ở nhà hàng Givral hoặc Saigon Center. Suốt hơn nửa năm nay Sơn không hề uống một gịot rượu, mà chỉ uống nước trà. Sơn mà đã uống nước trà thì bạn bè quanh Sơn không ai uống rượu, mặc dù Sơn vẫn khuyến khích anh em uống rượu hoặc tùy thích. Trước đây khi Sơn uống Cutty Sack, bạn bè đều uống Cutty Sack, Sơn đổi qua Chivas Regal thì bạn bè lại theo Sơn uống Chivas Regal. Nói chung Sơn uống thứ gì bạn bè uống thứ đó. Thứ rượu cuối cùng Sơn uống la øBlack Label. Sơn đã có lần tâm sự: “Trên lối đi dẫn vào cuộc sống tôi đã găïp gỡ Tình Yêu và Rượu…Tuy nhiên đã có những ngày tháng dài tôi sống không tình yêu và tôi cũng không có ý định tìm lại nó. Đó là thời gian trắng ,một thứ âm bản của tâm hồn.Không có một nỗi vui buồn nào đang chờ đợi.Không vẫy chào. Không từ giả.Thế giới trôi đi và tôi ở lại. Hình như thế. Dù sao đó cũng chỉ là một thứ cảm nhận bâng quơ. Giờ đây tôi đang nói thêm một lời tạm biệt khác. Tạm biệt những ly rượu nồng nàn những sáng, trưa, chiều, tối…”
Sơn đã chịu vào khuôn phép, không biện minh bằng lý luận này hay hay lập luận khác để tiếp tục uống như trước đây. Có thể Sơn đã hiểu rõ tình trạng sức khỏe của mình hơn ai hết. Hơn nữa, Sơn cũng thấy được sự quan tâm chăm sóc của các em và những bạn bè thường xuyên gần gủi đã làm Sơn chùn lại trước những cơn khát rựơu.

Hằng ngày chúng tôi uống trà với nhau như thế cho đến gần 12 giờ mới về nhà để Sơn kịp chích thuốc điều trị bệnh tiểu đường. Sau đó, ăn cơm chung với gia đình, chuyện trò đến khoảng 1,30 giờ Sơn nghỉ trưa. Buổi chiều ở nhà hoặc ngồi ở Givral hay đâu đó rồi về, hoặc ăn cơm tối ở quán Ba Miền, Tib hoặc Trịnh… Những năm gần đây buổi tối Sơn thường ngủ rất sớm, khoảng 9.30 giờ sau khi theo dõi tin tức, xem phim,đọc sách, hoặc viết một vài trang gì đó. Nhưng Sơn cũng có thói quen điện thoại cho một ai đó trong số những bạn bè gần gủi đến với Sơn, thường thì rất khuya mới chịu chia tay. Đặc biệt không có phụ nữ. Có thể nói mấy năm sau này thật sự Sơn không có tình yêu, không một phụ nữ nào có vị trí trong trái tim Sơn. Sơn đã từng có lần bày tỏ: “Tôi thấy tình bạn quý hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa”.

Suốt mấy tháng trời, không ngày nào Sơn không ngồi ở Givral, hoặc Saigon Center, có ngày đến hai ba lần: sáng, trưa, tối với các em, và những người bạn thường xuyên gần gũi với Sơn.

Báo động đầu tiên về sức khỏe của Sơn ,nếu tôi nhớ không nhầm thì đó là sáng 26.11.2000, cũng tại nhà hàng Givral. Sơn đang ngồi uống trà, tự nhiên Sơn có phản ứng hơi bất thường, mất trí nhớ đến nỗi không nhận ra Tịnh, em trai mình. Sau đó Sơn được đưa đi bệnh viện chĩnh hình đến buổi chiều thì chuyễn đến bệnh viện Chợ Rẫy, Khu Chăm Sóc Đặc Biệt, lầu 10 phòng 7 để điều trị. Nhưng chỉ 9 ngày sau thì sức khỏe của Sơn hồi phục và được xuất viện. Sau khi lấy lại sức khỏe, Sơn tiếp tục cuộc sống bình thường vẫn quanh quẩn giữa các em và bạn bè. Sơn hẹn sẽ chơi bài vào những ngày đầu năm tại nhà Trai, Sơn cũng hứa sẽ đến đạp đất một số nhà của bạn bè thân quen vào dịp Giao Thừa sắp tới.

Nhưng đến trưa 22.01.2001 tức 28 Tết Âm Lịch, từ nhà hàng Givral trở về như mọi ngày thì Sơn kêu đau chân. Rồiø sau giấc ngủ trưa hôm đó, Sơn cho biết chân càng đau đớn hơn, nhất là những lúc trở mình hay di chuyễn thì đau đớn không chịu nỗi. Có lẽ đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy Sơn nhăn nhó vì đau đớn. Những lần trước dù đã từng bứơc qua Khu Cấp Cứu Hồi Sức nhưng hình như Sơn không có cảm giác đau đớn hay ít ra không biểu hiện sự đau đớn trên nét mặt. Vã lại, Sơn rất ghét ai thương hại mình, nếu kiềm chế được thì nhất định Sơn không để lộ ra bên ngoài.

Có thể nói bắt đầu từ hôm đó, Sơn không tự mình đi đứng được, muốn di chuyễn phải nhờ người giúp đỡ. Đôi chân Sơn, đôi chân của Người Hát Rong bây giờ không sử dụng đúng với chức năng của nó. Sơn đã không thể tiếp tục những chuyến đi của mình trên Cõi Tạm này. Đó thật sự cũng là một bi kịch, bi kịch của một Người Hát Rong.

Đôi mắt Sơn chứa dấu một chút gì gần như nỗi chua xót. Có thể vì thế mà Sơn trượt dài theo căn bệnh của mình chăng? Đến ngày 27.01.2001, tức mồng 4 Tết, Sơn không ăn, và xuống cân rất nhanh, buộc gia đình phải đưa Sơn vào bệnh viện để được theo dõi. Lại vẫn Khu Chăm Sóc Đặc Biệt, lầu 10, phòng 5. Sơn tỏ ra không chịu đầu hàng số phận. Sơn vẫn chiến đấu, vẫn chống chỏi. Vì cuộc đời còn đáng yêu quá, đáng sống quá, Sơn không nỡ từ bỏ cái thế giới này dù chỉ là nơi Ở Trọ.

Hằng ngày bên cạnh Sơn thường có các em Sơn và bạn bè… đã khích lệ Sơn rất nhiều… Buổi trưa, buổi tối dù bận đến mấy, tôi cũng cố gắng vào bệnh viện để kịp ăn cơm chung với Sơn, ít nhất là một lần trong ngày.

Và tôi cũng không thể không nhắc tới, trong những ngày ở bệnh viện Sơn vẫn nhận được rất nhiều hoa của những người yêu mến Sơn khắp nơi gưỉ đến. Có những bó hoa được hái đâu đó trong vườn nhà, hay ngoài đồng cỏ cột dây vụng về của các em nhỏ. Nhưng đó cũng là những bó hoa Sơn trân quý hơn hết.

Ngày 12.02.2001 tức 16 ngày sau Sơn lại được xuất viện, tuy nhiên chân Sơn không di chuyễn được. Theo chẩn đoán, các bác sĩ chuyên khoa cho biết chất sụn giữa các khớp xương đã bị khô đi, phải giải phẩu mới sớm đi được, nhưng thể lực của Sơn hiện tại không cho phép một cuộc giải phẩu như vậy. Nhìn vẻ ngoài thì sức khỏe của Sơn khá tốt, thỉnh thoảng Sơn kể chuyện tiếu lâm hay đùa cợt một câu gì đó để dịu đi nỗi lo lắng của những người chung quanh.

Ngày Tình Yêu (Valentine’s Day) 14.02 năm nay đối với Sơn có phần khác hơn mọi năm. Sơn không có một phụ nữ nào tăng hoa cho Sơn và Sơn đón nhận nó đúng với ý nghĩa của ngày lễ. Nói một cách khác Sơn không có tình yêu, Sơn chỉ có nỗi cô đơn. Sơn đã cảm thấy “(…) trò chơi tình yêu không còn gì thích thú nữa thì tạm ngừng để chuẩn bị một trò chơi khác. Thí dụ một trò chơi riêng, trò chơi của một người với chỉ có bóng hình của nó, dững dưng với tất cả”.

Nhưng Sơn vui hẳn lên trong những ngày chuẩn bị đón mừng Sinh Nhật của Sơn : ngày 24.02, Chuyết, chồng Thúy từ Canada về, ngày hôm sau đến phiên Hà, em trai kế của Sơn cũng từ Mỹ về. Mỗi trưa, mỗi tối Sơn luôn muốn cùng ngồi ăn chung với các em và một vài người bạn. Lượng đường trong máu của Sơn thời gian này tương đối ổn định, Sơn lên có tới 4 kg, ai cũng nghĩ Sơn đang phục hồi dần. Và Sơn nói rất nhiều về những dự tính của mình. Sơn mơ ứơc xây dựng một công trình mà Sơn đặt tên là Nhà Nguyện Tình Yêu…

Sinh Nhật thứ 62 của Sơn (28.2.2001) dự định tổ chức một cách đơn giản chỉ gồm những người trong gia đình và một số ít bạn bè theo đề nghị của Sơn. Nhưng hôm đó vẫn có rất nhiều người không được mời vẫn đến. Vì không biết tự bao giờ ngày Sinh Nhật của Sơn đã không còn là của riêng Sơn và ngôi nhà của Sơn ngập đầy những hoa và hoa.

Đôi chân Sơn vẫn đau, không di chuyễn được, nhưng khuôn mặt và nụ cười của Sơn rạng rỡ và ấm áp giữa những người thân, bạn bè… Thỉnh thoảng Sơn nhăn nhó vì đau ở chân do đổi thế ngồi. Mỗi lần như thế tôi rùng mình theo Sơn, theo cái chân của Người Hát Rong, mà tôi thú thật không biết làm gì… Đơn giản là vì tôi không phải là Thượng Đế, cũng không phải là bác sĩ. Tôi chỉ thấy cái chân của Sơn đau, và như nhiều người nói, chỉ cần tập trung chữa cái chân của Sơn là đủ. Trong gia đình cũng có dự định xây cho Sơn một cái hồ bơi ngay tại nhà để Sơn tập vận động theo gợi ý của một chuyên gia.

Sau cuộc vui, mọi người ra về, ai cũng nghĩ Sơn đang phục hồi, chỉ còn vấn đề thời gian. Tôi cũng ngây thơ như mọi người, tin rằng điều đó là thật.

Mấy ngày sau, một người bạn gái cũ của Sơn từ Mỹ về. Nội cái tình ấy cũng có thể là một niềm động viên cho Sơn trong những ngày này? Tôi thầm hỏi như thế. Cô chỉ có phép 11 ngày mà hết ba ngày di chuyễn. Những ngày còn lại, ngày nào cũng như ngày nào cô vẫn ngồi bên Sơn, im lặng không nói. Bóng cô hắt lên tường giống như bóng của ngừơi Thiếu phụ Nam Xương trong truyện cổ tích. Không hiểu sao tôi có sự liên tưởng lạ lùng như vậy mà cho đến giây phút này tôi cũng không giải thích được.

Bên cạnh Sơn thỉnh thoảng cũng có một vài bóng hồng khác… Sơn yêu quý họ như yêu quý một nhan sắc, nhưng đó không phải là tình yêu. Người phụ nữ Sơn yêu không có thật.
Những ngày kế tiếp, lượng đường trong máu của Sơn có tăng giãm, nhưng không đột biến, chân vẫn đau, muốn di chuyễn phải nhờ đến người khác. Đó chính là nỗi phiền muộn đối với Sơn, nhưng vẻ ngoài sức khỏe Sơn vẫn bình thường. Sơn vẫn đọc báo, theo dõi tin tức thời sự hằng ngày trên màn ảnh nhỏ. Sơn tự mình trả lời điện thoại cho bất cứ ai gọi đến: từ một học sinh ở tận Quãng Ninh, một bà bán tạp hóa ở chợ Cà Mau, đến một người bạn ở Mỹ hay một nhà báo ở Paris… Sơn vẫn sống trong tình yêu thương trân quý của các em Sơn, các bạn bè thân thiết và những người yêu mến Sơn ở khắp nơi trong và ngoài nước.
Tôi có cảm giác trong thời gian gần đây hình như trong ánh mắt Sơn đã bớt đi niềm tự tin vốn có. Tôi lờ mờ hiểu được rằng tất cả đều do nơi cái chân đau, cái chân không đi được của Sơn. Trước đây Sơn không như vậy. Sơn có bệnh, đã từng chạm mặt với Thần Chết, nhưng đau đớn như lần này thì không. Sơn thực sự cảm thấy đau đớn, gần như bất lực và phụ thuộc vào người khác, phụ thuộc ngay cả những việc nhỏ nhặt, tầm thường nhất trong cuộc sống hằng ngày đến nỗi Sơn đã phần nào vô tình lõng buông ý chí muốn sống của mình, sức mạnh đã giúp Sơn bao lần vượt qua những giây phút hiễm nghèo trong cuộc sống. Sơn tiết lộ: “Tôi thường rơi vào cơn hôn mê trong giấc ngủ. Ở biên giới đó tôi hốt hoảng thấy mình lơ lững giữa sự sống và cái chết. Những giây phút như thể vồ chụp lấy tôimỗi đêm. Khi quanh tôi mọi người đã yên ngủ (…)”.

Ngày 24.03 Hồng Nhung đến thăm và tạm biệt Sơn trước khi đi biểu diễn ở Australia. Trong bữa ăn chung hôm đó, Sơn vẫn vui vẻ nói cười. Tôi vẫn nhớ nụ cười của Sơn, nụ cười thật hồn nhiên, phảng phất một nét buồn vừa như một đứa trẻ thơ, vừa như một nhà hiền triết.

Ngày 26.03 Sơn có triệu chứng suy nhược, không ăn được nên gia đình lại đưa Sơn vào bệnh viện Chợ Rẫy, Khu Điều Trị Theo Yêu Cầu, dãy nhà sau, tầng trệt, phòng số 4. Ở đây Sơn được điều trị về tiêu hóa, tiểu đường và khớp đùi phải. Chỉ một hôm sau sức khoẻ và mọi sinh hoạt của Sơn trở lại bình thường như những ngày trước đây ở nhà. Sơn đã vui vẻ hưởng ứng đề nghị của Phạm Phú Ngọc Trai đi nghỉ Vũng Tàu vào tuần tới sau khi xuất viện.

Trưa 29.03, Huỳnh Thiện có công việc về trước, chỉ có Tịnh và tôi ở lại ăn trưa với Sơn. Tôi đơm cho Sơn một dĩa cơm khá đầy và khuyến khích Sơn. Sơn vui vẻ cố gắng ăn, nhưng vẫn không hết nổi dĩa cơm. Ăn xong như thường lệ chúng tôi vẫn ngồi bên nhau trò chuyện cho đến lúc Sơn nghỉ trưa.

Giữa lúc đó, Trần Mạnh Tuấn vào thăm Sơn, ngồi nói chuyện một lát thì Trần Mạnh Tuấn kêu riêng tôi ra ngoài và nhờ tôi chuyễn Hợp Đồng xuất bản album CD trong đó có 10 ca khúc của Sơn do Tuấn thổi saxo cho Sơn ký, nếu Sơn đồng ý. Tôi hỏi ý kiến Sơn và Sơn đã đặt bút ký sau khi đã xem kỹ. Sau này tôi hiểu đó là hai chữ ký cuối cùng của Sơn trước khi ra đi.

Những ngày trước đó, có nhiều tin đồn đoán, rằng Sơn đã mất, nhưng gia đình muốn giấu. Tôi không hiểu sao có tin đó, mà nếu như sự thật đau lòng đó xảy ra thì liệu gia đình có giấu được không và giấu để làm gì. Tôi đã nhận không biết bao nhiêu cuộc gọi của bạn bè khắp nơi trên thế giới, những người biết mối quan hệ giữa tôi và Sơn, đã yêu cầu tôi xác nhận về nguồn tin nầy. Thật tâm, cho đến giờ phút đó tôi vẫn có lòng tin Sơn sẽ không có mệnh hệ gì, sẽ vững vàng bước ra khỏi đây như Sơn đã từng trải qua trước đây, sẽ đi nghỉ Vũng Tàu vào tuần tới, rồi còn lời hứa sẽ đi Âu châu theo lời mời của Phạm Văn Đĩnh, vợ chồng Trương Hồng Liêm, vợ chồng Thanh Hải.. Tôi khẳng định điều đó với Đinh Cường trong cuộc gọi của anh vào sáng hôm đó, cũng như trong những thư điện mấy ngày trước đó.

Nhưng khoảng 11 giờ đêm hôm đó, bất ngờ Sơn rơi vào tình trạng tiền hôn mê. Sơn được chuyễn từ Khu Điều Trị Theo Yêu Cầu lên lầu 8 đặc trị về Gan. Khoảng gần 3 giờ sáng ngày 30.3 Sơn có tỉnh lại, nhận ra được Trai, Hà, vợ chồng Tịnh Hiếu… và một vài người chung quanh. Đến 5 giờ sáng khi mọi người đã về, còn Tịnh và Hiếu, Sơn tỉnh lại một lần nữa và cho biết là rất đau đớn. Một lát sau, Sơn tiếp tục hôn mê và hơi thở càng lúc càng nặng nhọc. Có thể đó là lời chào tiễn biệt vì ngoài điều đó ra Sơn đâu cần nói thêm điều gì nữa. Sơn đã nói quá nhiều trong các tác phẩm của mình.

Đến gần 8 giờ kết quả cuộc hội chẩn cho biết Sơn bị xơ gan, suy thận, tiểu đường, xuất huyết tiêu hóa, viêm phổi. Tôi không tin ở tai mình, sao mới chỉ mấy ngày mà bệnh ở đâu nhiều thế ?

Sau khi làm xong thủ tục Sơn được chuyễn từ lầu 8 xuống lầu 2 Khu Cấp Cứu Hồi Sức. Nhìn Sơn khuất sau cánh cửa lòng tôi thắt lại. Sơn nằm ở giường số 8, được chạy thận nhân tạo và thường xuyên có bác sĩ, điều dưỡng túc trực bên cạnh. Tuy nhiên sức khỏe của Sơn tiếp tục suy giảm rất nhanh.

Khoảng 7 giờ sáng ngày 1.4.2001, Sơn vẫn tiếp tục hôn mê, tri giác giảm dần. Từ 10 giờ 30, Sơn rơi vào tình trạng hôn mê rất sâu. 11giờ 15 tim Sơn ngừng đập lần thứ nhất, nhưng các bác sĩ đã hết sức cố gắng, giành giật từng phút, từng giây với Thần Chết, nhưng vẫn không đo được huyết áp của Sơn. Đúng 12 giờ 45 sau lần thứ năm, trái tim Sơn hoàn toàn ngưng đập. Khi Sơn thở hơi cuối cùng tôi vẫn ở đó, bên cạnh Sơn, người tôi tê dại, không có chút cảm xúc và cũng không biết có những ai. Tôi không chịu đựng nổi khi nhìn thấy Sơn ra đi, tôi lặng lẽ bước ra, đi quanh một vòng, cũng chẳng biết để làm gì. Tôi cứ đi, cho đến khi tôi trở lại trước phòng Sơn từ lúc nào không biết. Nhìn lên tôi nhìn thấy Trần Mạnh Tuấn, và một người nữa là Tuyết Mai, một người quen thân với gia đình Sơn . Khi đó tôi mới chợt nhớ bổn phận của mình, tôi lấy điện thoại ra gọi cho bất cứ ai là bạn bè thân quen với Sơn mà tôi kịp nhớ. Sau đó, tôi không nhớ ai đã phân công tôi về nhà trước chuẩn bị để đưa Sơn, có thể là Tịnh hoặc Trai gì đó. Khoảng một hai tiếng đồng hồ sau, Sơn được đưa về tới nhà, xác Sơn được đặt ngay giữa phòng khách nhà trệt, chưa liệm ngay, đợi các em, các cháu đang trên đường về. Tôi nhớ hôm đó trời mưa tầm tã, kéo dài đến tối. Chung quanh Sơn, ngoài Trịnh Quang Hà, vợ chồng Trịnh Xuân Tịnh, em trai Sơn, Lê Thế Chuyết, em rễ Sơn còn có Phạm Phú Ngọc Trai, Huỳnh Thiện, Phi Long, Bùi Huỳnh Anh, Lê Phước Bốn, Lê Đăng Xu, Bảo Phúc, Trần Mạnh Tuấn, Tương Lai, Nguyễn Quang Sáng…những người lâu nay vẫn gần gũi Sơn, mỗi người một tay làm vệ sinh thân thể và thay áo quần cho Sơn.

Đến 7 giờ tối, thì các em các cháu Sơn mới từ Canada về đến. Chiếc khăn đắp mặt Sơn được giở ra. Những tiếng khóc, than thở vang lên, kéo dài, rồi nghi thức tẫm liệm Sơn được tiến hành. Bắt đầu từ phút giây đó, tôi chỉ thấy loang loáng, những người thân quen, bạn bè và luôn cả những khán giả ngưỡng mộ Sơn lục tục đến, càng lúc càng đông.

Không ai bảo ai, từ đó Phạm Phú Ngọc Trai, Huỳnh Thiện và tôi, ba chúng tôi tự nguyện trở thành những người phụ trách trật tự cho suốt thời gian tang lễ của Sơn. Hôm sau, Cao Lập tình nguyện đưa một nhân viên đến phụ giúp sổ ghi chép. Tôi thật sự không biết bao nhiêu người đến viếng Sơn. Tối đầu tiên, có lẽ do tin Sơn mất chưa được phổ biến, số lượng người đến viếng chưa nhiều, nên chúng tôi cho phát mỗi người hai thẻ nhang cho những người đến viếng Sơn, một để cúng Phật, một để viếng Sơn, có thắp hương vái lạy. Đến sáng hôm sau trở đi, thì chúng tôi chỉ cho phát một thẻ nhang để vái trước linh cửu Sơn; nhưng về sau số lượng càng lúc càng đông, dù đã săùp đến 3 hàng dài gần mấy trăm mét trước hẽm nhà Sơn ra tới đường Phạm Ngọc Thạch, thì mỗi người chỉ đi qua cắm nhang trước linh cửu Sơn mà không vái lạy. Nhưng điều đặc biệt, dù phải chờ đợi rất lâu để đến lượt mình viếng Sơn, nhưng đám đông vẫn rất trật tự, hoàn toàn không có một xáo trộn ồn ào nào.

Như vậy là Sơn đã rời nơi Ở Trọ, “(…) Không muốn bỏ đi, vậy mà cũng có lúc phải bỏ đi. Cái thân phận con người hữu hạn phải đành thôi” để lên đường tiếp tục cuộc hành trình của Người Hát Rong. Sơn sẽ đặt chân đến một nơi nào trong cái thế giới xa xăm mà tôi không biết được, nhưng nơi đó chắc chắn cũng là một nơi Ở Trọ khác của Sơn. Không biết bao lâu Sơn từ giả nơi mình vừa đến để tiếp tục đi nữa, đi mãi. Nhưng tôi tin bất cứ nơi đâu Sơn đến, muôn loài vạn vật ở đó sẽ hạnh phúc, hoan ca bởi Sơn vẫn tiếp tục hiến dâng trọn vẹn trái tim của mình để làm cho thế giới chung quanh trở nên tươi đẹp hơn và có ý nghĩa hơn.

Sâm Thương, 09.04.2001

Hai kỷ niệm nhỏ

Trịnh Công Sơn dùng nhiều từ rất ngộ, nhiều lắm. Chẳng hạn hai chữ cuối trong câu cuối của “Chiều trên quê hương tôi”:

Chiều trên quê hương tôi
Với bao nhiêu điều đã trôi qua
Có riêng em cuộc đời sẽ nhớ
Nét quê hương nghìn năm vẫn là

“Vẫn là” là thế nào? Vẫn là một trời mưa bay? Vẫn trên sông bờ xa sương khói? Vẫn nắng phai trên màu ngói non tươi? Giọt chiều trên lá như mắt người?

Sơn rất thích thú với hai chữ này. Thích thú như đã dùng như thế trong một bài khác, rất thơ mộng, bài “Nguyệt Ca”, vẫn hai chữ cuối, câu cuối:

Từ khi trăng là nguyệt tôi nghe đời gõ nhịp ca
Từ khi em là nguyệt cho tôi bóng mát thật là

“Thật là” là thế nào? Là vườn xưa lá xanh tươi từ khi trăng là nguyệt? Là vườn xưa em đến nay trăng quá vô vi? Là vườn xưa vừa mệt vì cây đam mê hết nhánh? Hay là mát như phút đó tình cờ?

Hè 1986, tôi có ghé thăm Sơn một buổi tối tại nhà. Anh khoe biết một quán Huế ngon lắm và cho người đi vội ra phố mua một món đặc biệt Huế để mời tôi. Người nhà đi, rồi về tay không, bởi vì hôm đó là ngày rằm. Ngày rằm, người Huế ở Sài Gòn không nấu món ăn mặn. Tôi nói tôi tưởng người Huế vào Sài Gòn sẽ đổi khác, ai ngờ ở đâu người Huế vẫn là… Tự nhiên như thế thôi, câu chuyện lạc bước vào chốn thâm sâu của “thật là” và “vẫn là”. Tôi hỏi: Sơn có để ý đến chữ “như” của nhà chùa không? Như, là như vậy đó. Chân lý như vậy đó. Ðừng nói gì thêm. Nói thêm chút gì, lời nói sẽ làm sai mất ý nghĩ hiện ra trong tư tưởng.

Chuyện đang vớ vẩn như thế thì Bác gái, mẹ Sơn, bước vào phòng. Bác đi cúng rằm về, mặc áo lam, giống như mẹ tôi. Bác ngồi với chúng tôi một lát, góp chuyện vui vẻ, nhắc lại thời 1963-64. Chắc Sơn không biết đâu nhỉ, khi tôi ra về, Bác một mình đưa tôi ra tận cổng và ôm tôi vào lòng. Tôi ôm chiếc áo lam của Bác, tưởng chừng như ôm luôn cả cái quán ăn Huế ngày rằm không sát sanh.

———————–

Vài năm sau, tôi được bạn bè đề nghị góp phần giới thiệu nhạc Trịnh Công Sơn tại Nhà Việt Nam trong dịp Sơn qua Pháp. Hôm đó, có cả em gái Sơn, chị Vĩnh Trinh, từ Canada qua. Tất nhiên chị sẽ hát, nhưng vừa bước chân vào Nhà Việt Nam, tôi đã nghe tin dữ: chị bị cảm, khan giọng. May quá, khi chương trình sắp bắt đầu, tôi thấy chị Vĩnh Trinh bước ra và tôi an tâm. Trời nóng, chị bận áo cánh ngắn, hở nửa lưng, nửa chiếc lưng tròn như trong một câu hát Trịnh Công Sơn. Tôi an tâm, vì nếu cảm nặng chắc chị phải đến với cái mền. Chị Vĩnh Trinh đẹp và lưng chị yêu kiều. Tôi ngồi phía trên với Sơn, nói đôi ba chuyện, rồi mời chị Vĩnh Trinh hát. Ðó là lần đầu tôi nghe chị hát, và tôi không ngờ chị hát hay đến thế. Trong tiếng hát của chị, bỗng tôi nghĩ đến một câu trong bài “Quỳnh Hương”:

Em mang cho ta một chút tình
Miệng cười khúc khích trên lưng

Lại một ý thật ngộ của Trịnh Công Sơn. Anh nghe tiếng cười từ trên lưng, không phải trên môi. Sao anh tài tình thế! Tôi chắc chắn giọng hát óng ả mà tôi đang nghe mê man chỉ có thể ngân nga từ trên lưng ấy mà thôi.

Như mọi người, tôi biết Trịnh Công Sơn được gia đình ôm ấp, bảo bọc thế nào. Nhạc Sơn tràn ngập tình yêu, giai nhân nhiều như sao trên trời. Nhưng tất cả sao họp lại cũng không sáng như trăng, không sáng như trăng rằm mà các cô em gái của Sơn đã dâng tặng anh. Trong yêu kiều của vô vàn người đẹp mà Sơn ca ngợi, tôi thấy thấp thoáng nét yêu kiều của các cô em gái của Sơn. Và bây giờ Sơn mất, nghe nhạc Sơn mấy hôm nay, tôi càng thấy bay bay màu áo lam của Bác, của mẹ Sơn, trong rất nhiều bài hát quen, không riêng gì trong “Ðóa Hoa Vô Thường” hay trong những vô thường khác mà Sơn đã dùng chiếc đũa phù thủy để gõ thành thơ:

Em đi bỏ lại con đường
Bờ xa cỏ dại vô thường nhớ em.

Cao Huy Thuần, 4-2001

Có một Trịnh Công Sơn của Huế

I. Tôi quen anh Trịnh Công Sơn từ thuở còn “quân quản” và trở nên thân thiết đến khi anh rời Huế vào – sống với gia đình tại Tp Hồ Chí Minh.

Trước 75 Trịnh Công Sơn là một trong những thần tượng về âm nhạc của tuổi trẻ đô thị miền Nam, bởi anh không chỉ biết dấn thân mà nhạc của anh còn vỗ về, an ủi đến nỗi để bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình, nhiều người đã không ngần ngại viết “tôi thích nhạc họ Trịnh”. Đầu năm 71, từ Huế tôi thoát ly lên chiến khu. Trong hành trang của mình, ngoài cây ghita và các tập nhạc của Trịnh Công Sơn vừa được xuất bản, tôi còn mang theo hàng trăm bức ảnh phản ánh cao trào đấu tranh của học sinh sinh viên miền Nam năm 1971, trong đó có hình chàng nhạc sỹ họ Trịnh tham gia phong trào “hát cho đồng bào tôi nghe”.

Cảm khái từ nhiều thông tin, sau hiệp định Pari năm 73, như để bày tỏ niềm tin của mình, anh Hoàng Phủ Ngọc đã có bài ký “Như trăm con sông đổ về biển cả” mà Giao (tức Trịnh Công Sơn) là nhân vật trung tâm. Khi tôi ra Bắc chữa bệnh và học tập, không ngờ trong số những người quen, như nhạc sỹ Mạnh Đạt chẳng hạn (nay công tác ở Đài Lâm Đồng) đã hát và thuộc lòng nhiều ca khúc của Trịnh. Vì vậy, khi được điều về công tác ở Đài phát thanh Huế giải phóng, tuy không theo dõi mảng văn nghệ nhưng hễ “có việc” là tôi tìm đến căn gác ở số 11/3 Nguyễn Trường Tộ để phỏng vấn anh Trịnh Công Sơn về những đề tài liên quan.

Thuở đó, Huế nghèo và Trịnh Công Sơn chỉ ở một mình. Tôi chẳng rõ, anh Sơn thương và quý tôi khi nào, chỉ nhớ sau một cuộc phỏng vấn. Trời mưa, anh rót rượu mời tôi: “uống đi, rượu Phủ Cam đó”. Với cái tuổi 22 mới ở rừng về như tôi, chưa hề biết mùi rượu là gì nhưng vì “sĩ diện” và trước sự chân thành của anh, tôi đã mạnh dạn cầm ly. Tôi nói hết suy nghĩ của mình, thỉnh thoảng anh Sơn giải bày thêm những điều tôi muốn biết, như về bài “Gia tài của mẹ” chẳng hạn. Sơn hát, tôi vỗ tay theo. Anh can và nói: Thu nghe cho rõ lời đây “Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, hai mươi năm chinh chiến từng ngày”… Nghe hai từ “Chinh chiến” tôi sững người và hỏi “Nhưng tại sao Khánh Ly và các ấn phẩm đều dùng từ “nội chiến” ”? Sơn thở dài, anh chỉ than: Mình không kiểm soát được bởi mình có ở Sài Gòn đâu! Để nguôi ngoai, tôi hỏi về mối quan hệ giữ Khánh Ly và anh cũng như xuất xứ nhiều tình khúc khác. Với Khánh Ly, anh nói đó là người bạn tri âm và rút ra tờ báo có in hình hai người lúc Khánh Ly tại ngoại, chờ để điều tra việc gì đó. Chỉ vào bức ảnh, anh nói: đây là hình do Trung tá Tuấn, chồng cô ta chụp ở trường Quốc Học Huế. Mưa kéo dài. Sơn đưa tôi ra ban công, chỉ lên hàng long não, anh kể “Diễm Xưa. Biết đâu cội nguồn mình lấy ấn tượng từ hàng cây này. Anh khe khẻ hát “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ…” “cây trưa thu bóng dài và tôi thu bóng tôi…” Riêng về bài Như Cánh Vạc Bay , Sơn kể: “Lúc ấy mình ở Đà Lạt, một cô từ Pari về đến Sài Gòn tìm địa chỉ. Nàng nói, nàng vừa tốt nghiệp đại học, sắp đi lấy chồng. Về Việt cốt để gặp mình, nói lên điều mà nàng ngưỡng mộ và chỉ xin phép được hôn mình trước khi đi lấy chồng. Hôn xong, nàng bỏ chạy xuống đồi thông, mái tóc thề của nàng làm mình liên tưởng đến “cánh vạc”…

Nơi em về trời vui không em
Nơi em về trời xanh không em
Ta nghe nghìn giọt lệ
Rớt xuống thành hồ nước long lanh

Trịnh Công Sơn là vậy. Hình như mỗi tình khúc của anh là dành cho một người tình…

II. Vậy là sau lần đó, anh Sơn xem tôi vừa là đứa em vừa là đứa bạn. Đất nước vào những năm 70 cơ cực quá. Trong gần 4 năm sống ở Huế, ngoài lương tháng 64 đồng kèm theo một chỉ vàng “của mạ cho”, anh Sơn sống tằn tiện với “rượu Phủ Cam” và cơm lúc có lúc không trong căn gác nhỏ của mình. Có lần, cụ Nguyễn Tuân gửi tặng anh chai rượu Tây anh báo cho bạn bè đến để chia sẻ. Trong thư cụ Nguyễn kiệm lời, chỉ vẻ hình một chiếc ly và trên nó là chiếc dù có mưa rơi, chiếm một góc trang giấy. Tôi hiểu cụ Nguyễn nhắn nhủ với anh điều gì đó. Anh trân trọng tất cả các tấm lòng, anh nghèo và bạn bè của anh sống ở Huế đều nghèo. Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tô Nhuận Vỹ, Đinh Cường, Tôn Thất Vân, Bửu Ý, Nguỵ Ngữ, Định Giang, Trần Phá Nhạc… phần lớn đều có gia đình. Thỉnh thoảng, nhờ vợ lo cho một bữa để kéo nhau tới nhậu. Nhậu chỉ là cái cớ, còn điều cốt yếu vẫn là động viên nhau vượt qua những tháng ngày gian khổ, để mà làm việc, để mà chia sẻ với quê hương mình.

Tôi nhớ có lần trong chuyến đi Quảng Bình công tác, nhờ “ăn theo” tôi được tặng chừng bốn, năm chục quả trứng lộn và vài chai rượu cam Hà Nội. Nhậu xong, Ngụy Ngữ và anh Trịnh Công Sơn cùng về. Đang loay hoay dọn dẹp tôi nghe tiếng gọi thảng thốt: Thu ơi! Thu ơi! Tôi chạy ra, đã thấy Ngụy Ngữ bồng anh Sơn trên tay. Hoá ra đèn phố nhập nhoạng, phía đối diện nhà tôi là mương thoát nước vừa xây nhưng chưa có nắp. Anh Sơn rơi xuống đó! Sờ trán, có máu, chúng tôi cuống cuồng. Ngữ còn tỉnh táo: Mày tìm chiếc kính cho Sơn. Tôi định nhảy xuống mương thì anh Sơn đã can: Nó đây rồi! Chúng tôi mừng, anh tai qua nạn khỏi. Có phải vì vậy mà khi về sống với gia đình ở Tp Hồ Chí Minh, anh Sơn đã trao căn nhà 11/3 Nguyễn Trường Tộ cho Ngụy Ngữ ở nhờ ít tháng (nay là nơi ở của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường) và chiếc xe đạp màu huyết dụ anh tặng riêng tôi. Có lần vào thành phố Hồ Chí Minh, lúc anh còn là Thư ký toà soạn tờ Sóng Nhạc anh hỏi tôi: Chiếc xe đạp còn không, cô Michicô muốn có nó. Tôi ngơ ngác, cố nhớ lại nhưng không thể nhớ chiếc xe đạp anh Sơn cho hiện ở đâu nên đành đánh trống lãng.

“Ngữ ơi, cái đêm mưa gió ấy mày còn nhớ đã nói gì với tao và anh Sơn. Và Nhạc ơi, lần mày cưới Vinh mày có còn nhớ bản nhạc mà anh Sơn viết riêng để dành cho vợ chồng mày nhân ngày cưới” Những ngày ấy đã xa và Sơn ơi, xin anh hãy tha lỗi cho em!

Huế, ngày tiễn anh 4.4.2001
HỮU THU /Tạp chí Sông Hương, số 147 – 05.2001

Hồi ức Khánh Ly – Gặp nhau sau 17 năm

Ở đâu và bao giờ cũng vậy, mỗi khi nghe tiếng anh nói cười, tôi đều cảm thấy một nỗi yên tâm vô cùng… “Ồ, Mai hả, có qua không”. Tôi cười.. “Em cũng chưa biết tính sao, để xem đã nghe anh…” Miệng thì nói vậy, sáng hôm sau tôi đã có mặt ở phi trường. Chuyến bay cất cánh lúc 7 giờ sáng.

Trời lúc đó đã sang tháng 4. Tuyết vẫn phủ trắng xóa 2 bên đường từ phi trường về nhà. Hình như cái gì vào lúc sắp hết cũng mạnh mẽ thêm, như ánh lụa, như cơn nắng, như mùa đông, như tình yêu – rồi mới chịu dứt hẳn, mới chịu buông tay chấp nhận. Cũng may, tôi chuẩn bị áo lạnh đầy đủ vậy mà cũng không tránh khỏi những suýt xoa.

Tôi đi thẳng lên lầu, rón rén bước vào phòng. Anh đang ngủ. Giấc ngủ buổi chiều. Khuôn mặt gầy, xương xương góc cạnh. Cái kính gọng vân vân như đồi mồi để trên cái bàn nhỏ đầu giường. Anh gầy quá. Tôi bước lại gần anh hơn. Rất nhẹ nhàng tôi cúi xuống nhìn sát mặt anh. Tôi không nghe thấy hơi thở của chính mình. Tự dưng tôi muốn hôn lên trán anh. Tôi không làm thế. Tôi muốn nắm lấy bàn tay rất gầy có những ngón thon dài, đặt trên ngực. Tôi không làm thế. Và cũng rất nhẹ nhàng như khi bước vào, tôi ra ngoài phòng khách ngồi nói chuyện với Tâm, Tĩnh, và anh Thích.

https://i.imgur.com/7ziDJ2G.jpg

Anh bước ra, tay vuốt tóc, tay chỉ tôi … “A, tới rồi. Tới hồi nào vậy?” Giọng anh không hề có chút ngạc nhiên, làm như cái chuyện tôi đến, anh đã biết. Ngày xưa cũng thế. Chúng tôi ôm choàng lấy nhau và đến lúc này tôi mới cảm nhận rằng chúng tôi thực sự có nhau. Không phải trong một giấc mơ kéo dài 17 năm. Tất cả chúng tôi ngồi bên nhau. Hình như chưa bao giờ chúng tôi nói với nhau nhiều dù ở bất cứ một đề tài, một lãnh vực nào. Hình như chúng tôi có cách nói mà chỉ hai chúng tôi hiểu được. Một cách nói ở bốn con mắt im lặng. Cũng có lúc, cả hai chúng tôi bị lôi cuốn vào câu chuyện vui của mọi người. Nhưng đó là những điều hoàn toàn không dính líu, liên quan đến những điều thực sự chúng tôi muốn nói với nhau. Tất cả những điều cần nói, chính là những điều không bao giờ nói ra bằng lời.

Buổi chiều tuyết rơi kín mặt hồ, chúng tôi đi bên cạnh hàng cây đầy hoa. Hoa tuyết. Nói chuyện bâng quơ, không có gì rõ ràng được đặt ra, không có gì thắc mắc, không có khoảng cách 17 năm để phải ngỡ ngàng. Tôi ngỡ như vừa từ Saigon vào Huế thăm anh. Anh từ Huế vào Saigon. Chúng tôi uống cafe tại La Pagode. Tôi tưởng sẽ có nhiều điều, để hai anh em nói với nhau. Nhưng cả hai đều không nói gì cả.

Bao nhiêu ngày tháng đã đi qua giữa chúng tôi. Anh vẫn không bao giờ thay đổi. Tôi cũng thế. Cả hai không có những thắc mắc về đời sống của nhau bởi 30 năm trước đã không hỏi thì 30 năm sau cũng không hỏi… Tôi quý những giây phút ở bên anh và tôi nghĩ anh sẽ nói với tôi điều cần nói, nếu có. Anh im lặng cũng có thể vì những điều anh nghĩ, anh muốn, không còn cần thiết phải nói ra.

Trong một căn phòng, không phải bên cạnh sông Hương mà ở ngay giữa lòng thành phố Montreal. Bên ngoài tuyết rơi, chúng tôi ngồi với nhau, những người bạn cũ. Hát lại những bài hát ngày xưa. Hoặc những tình ca mới. Mỗi người một ly rượu, khói thuốc mù mịt, mỗi người ngồi sát nhau trên chiếc thảm, trước lò sưởi… Không ai cảm thấy lạnh. Không chút lạnh lẽo nào giữa chúng tôi trong căn phòng nhỏ. Anh hát đi. Không, Mai hát đi. Giang hát đi. Mai ngâm thơ đi…

“Mà sao giấc ngủ không dài. Mà đêm không ngắn mà trời cứ mưa. Ở đây tôi sống như thừa. Có đem men rượu tẩm vừa lòng nhau” (Nguyễn Bính)

Cũng mùa đông, một đêm nào đó, 1974 ở nhà anh chi Lê, ở Huế. Ngôi biệt thự bên cạnh sông Hương. Ngoài trời cũng tối và lạnh như đêm nay. Mùa đông ở Huế. Chúng tôi cũng ngồi bên nhau như hôm nay. Lúc đó tôi vừa 30 tuổi. Tóc vẫn còn xanh. Lòng còn tha thiết yêu đời sống. Một buổi sáng tôi bỗng thấy mặt trời lên cùng tôi và biển cả. Nước mắt tôi tuôn như mưa. Tôi nhớ mùa đông ở Huế. Mùa đông ở Huế và anh.

“17 mùa đông” lặng lẽ đi qua, tôi vẫn nhớ những ngày âm u lạnh lẽo của Huế. Tôi có thể quên nhiều điều, tôi có thể quên tất cả để chỉ nhớ về những con đường của Saigon – nơi tôi đã ở và đã từ đó ra đi… nhưng không bao giờ tôi quên được những ngày tháng ngắn ngủi, vội vàng ghé Huế. Ðến vội vàng. Ði vội vàng mà chẳng thể nào quên được. Một thứ tình lạ thường đã trói buộc Huế trong trái tim tôi. Một trói buộc mơ hồ nhưng mạnh mẽ, đằm thắm. Tôi lớn trong hơi thở có Huế. Chính Huế cho tôi hơi thở.

Bây giờ là cuối đông. Những bông tuyết bay trong chiều, đậu trên những cành cây trụi lá, gầy guộc. Chúng tôi đi bên nhau. Tia nắng dịu dàng đậu trên những bông hoa nhỏ bé, lấp lánh, tấm thảm dầy trắng tinh, chỉ có vết chân bé nhỏ của những chú sóc nghịch ngợm chạy tới ăn những hột bắp rang no bụng mà anh liệng ra để dụ chúng lại gần. Anh cười vui, ánh mắt long lanh thơ dại. Tôi ít thấy anh cười mà cũng không bao giờ thấy anh tỏ vẻ buồn bã.

Chúng tôi tìm đến một thân cây lớn, một nửa ngập dưới tuyết, ngồi nghỉ chân. Tuyết vẫn rơi. Chỉ có hai chúng tôi giữa một vùng trắng mênh mông yên lặng. Chẳng lẽ không có gì để nói, không còn gì đáng nói sau mười mấy năm vắng nhau? Có chứ. Anh đã nói, không phải với riêng tôi, mà ở những bài hát. Tôi đã nghe và hiểu từ đó…

“Có đường xa mà gió chiều quạnh quẽ. Có hồn ai đang nhè nhẹ sầu lên… Tôi là ai mà còn khi đau lẻ. Tôi là ai mà còn trần gian thế. Tôi là ai. Là ai. Là ai mà yêu quá đời này… Con diều bay mà linh hồn lạnh lẽo. Con diều rơi cho vực thẳm buồn theo…”

Tôi bỗng thương anh thêm và càng quý trọng những giây phút bên anh. Cũng vội vàng, ngắn ngủi như những lần tôi ghé Huế. Tuy nhiên, tôi nghĩ, như thế có lẽ tốt hơn. Bởi vì những điều như thế đã cho tôi cái cảm tưởng là không hề bao giờ, giữa chúng tôi có cái khoảng cách 17 năm. Lá vẫn rơi trên lối chúng tôi đi. Những khóm hoa nắng vẫn lấp lánh trên đường chúng tôi đi. Tất cả vẫn rất còn rực rỡ.

Quay về căn phòng nhỏ. Ánh lửa như hồng thêm, ấm áp thêm bên ly rượu màu hổ phách, cay nồng. Cởi áo lạnh ra, trông anh gầy hơn xưa nhiều song so với lần gặp nhau ở Paris 1989, anh có vẻ khỏe hơn. Bên cạnh anh là Hoàng Xuân Giang của quán Văn ngày xưa. Giang đã có vợ, con gái lớn rồi. Hoàng Xuân Sơn cũng đùm đề một gánh thê nhi nặng trĩu hai vai. Phạm Nhuận to béo hơn xưa, vui vẻ cười nói ồn ào bên cạnh Hoàng Xuân Sơn nhỏ nhẹ thư sinh. Hoàng Xuân Giang vạm vỡ khỏe mạnh như loài cây hoang trong rừng già và anh, anh mỏng manh và thật đằm thắm. Nhìn quanh, tôi thấy như mình đang sống trong thần thoại 20 năm là đây. Chỉ ở một buổi chiều cuối đông tại thành phố Montreal. Còn ai nữa nhỉ? Chắc chắn là còn thiếu một vài người. Trong tôi, một thoáng ngậm ngùi.

Chúng tôi chia tay nhau, dưới ánh đèn đường vàng vọt, trước cửa nhà anh Quế. Mai gặp lại. Anh và tôi trở về nhà Tâm. Nỗi vui làm tôi khó ngủ như ngày xưa sau mỗi buổi hát, chúng tôi thường ngồi lại với nhau, chia cho cạn niềm vui còn sót lại. Những niềm vui không thể để vung vãi, bỏ phí. Phải uống hết, phải nuốt hết vào lòng. Chúng tôi đã sống bằng những niềm vui không nhiều trong đời. Tôi tự cho mình là cái bóng của anh và cũng được hưởng niềm vui đó.

Tôi mở cửa phòng rất nhẹ. Anh đã ngủ yên. Chỗ tôi nằm cách chỗ anh một sải tay. Tôi khẽ nằm xuống, kéo mền len, nhắm mắt dỗ giấc ngủ. Tôi nghĩ lát nữa đây, khi mặt trời lên trên thành phố này, khi tôi thức dậy, tôi sẽ nhìn thấy anh. Tuyết vẫn bay ngoài cửa sổ nhưng ngày sẽ đẹp.

Anh dậy rất sớm và việc làm đầu tiên trong ngày của anh là ra khỏi nhà. Tìm đến một quán Cafe, ngồi đó hút thuốc và nhìn người qua lại trên đường phố… “phải nhìn thấy mọi người, một ngày không thấy ai, buồn dễ sợ”. Tôi nhìn anh cười không nói. Cái nhìn và nụ cười là câu trả lời. Ngày xưa anh cũng thế. Chúng tôi cùng nhau xuống phố. Vẫn im lặng đi bên nhau với nỗi hân hoan hạnh phúc không thành tiếng…” Mỗi ngày tôi chọn đường mình đi. Ðường đến anh em, đường đến bạn bè. Tôi chọn nơi này cùng nhau ca hát. Ðể thấy tiếng cười rộn rã bay…”

Ðó là những điều rất thật thà anh đã nói, đã làm, để sau cùng “Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống, vì đất nước này cần một trái tim. Và như thế tôi đến trong cuộc đời. Và như thế tôi sống vui từng ngày. Ðã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi”.

Tôi thấy anh yêu đời thật sự. Anh cười với ông Phạm Duy, ông Trầm Tử Thiêng, ông Duy Khánh và các bạn qua điện thoại. Anh hát và chỉ cho tôi, cắt nghĩa cho tôi những bài hát mới. “Nhớ đừng có hát như trả bài nhé”. Giọng anh hát khỏe hơn lần gặp ở Paris. “Thôi anh hát đi, anh hát hay hơn em”. Anh cười, mắt anh cũng cười “Anh bao giờ cũng hát hay hơn Mai”.

Tôi bồi hồi nhớ lại những ngày tháng của năm 1967. Chúng tôi những người bạn nghèo, đến với nhau, gắn bó không ngờ. Gia đình anh giầu, gia đình Hoàng Xuân Sơn, Hoàng Xuân Giang cũng giầu, nhưng cá nhân chúng tôi đều nghèo. Một đĩa cơm chia hai, một điếu thuốc cũng hút, một ly cafe cũng uống. Chia nhau nằm ngủ trên những tờ báo nhầu nát trải dưới đất. Tình bạn, tình anh em nảy mầm ở đó. Quán Văn, cái tên quán dễ nhớ và dễ thương, mọc lên chơ vơ giữa lòng Saigon trăm ngàn màu sắc. Những tấm ván ép hư bể, được ghép lại, nhỏ hơn cái bếp ở đây, chỉ dành làm chỗ pha cafe. Mọi người tới tùy tiện tìm chỗ ngồi trên cái nền xi măng bỏ trống ngổn ngang gạch vụn và cỏ dại. Ðó là nơi gặp gỡ đẹp đẽ nhất của một thời tôi còn trẻ.

Chúng tôi không hề biết ngoài đời có gì vui. Chúng tôi không cần biết vì niềm vui đã có. Rất đơn sơ mà thắm thiết không rời. Ðến với nhau qua sự run rủi của định mệnh. Không thề thốt, không hứa hẹn. Ðến và ngồi với nhau. Một lần rồi thì có nghĩa là mãi mãi. Giang đó, Sơn đó, Nhuận đó, Thảo đó, Anh và tôi… từ những ngày lăn lóc đó cho đến bây giờ vẫn không dời đổi. Qua những bài hát của anh, sự kết hợp những người trẻ thật khít khao vừa vặn. Ai đến cũng được, ai đi cũng được…

“Em theo đời cơm áo. Mai ra phố xôn xao. Bao nhiêu ngày yêu dấu tan theo…”. Tôi có cảm tưởng đó là một lời trách móc anh dành cho tôi. Rất dịu dàng như bản tính anh. Từ bao nhiêu năm nay, câu hát đó theo tôi như một vết thương. Ðời cơm áo quả thật đã cho tôi lắm ê chề, khổ đau, nhưng những ngày yêu dấu bên anh và bạn bè đã chẳng bao giờ tôi quên… dù đời sống có làm tan vỡ, có làm chìm sâu những mơ ước của một đời người – thì trong trái tim bầm dập của tôi, những ngày tháng cũ vẫn là một điểm son, là một bám víu cuối cùng và duy nhất…

Khánh Ly
(Trích Tạp Chí Văn Nghệ Số 1.2000)

Văn Cao: Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người thơ ca

Lời bạt cho tập nhạc “Em còn nhớ hay em đã quên”.

Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người thơ ca (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ. Và bởi Sơn đã hát về quê hương đất nước bằng cả tấm lòng của một đứa con biết vui tận cùng những niềm vui và đau tận cùng những nỗi đau của Tổ quốc mẹ hiền.

Mãi hơn một năm sau ngày 30 tháng 4, chúng tôi mới thực sự nhìn mặt tay cầm tay lần đầu, nhưng tôi có cảm giác như chúng tôi đã là bạn của nhau tự bao giờ, mặc dù giữa tôi và Sơn còn cả một thế hệ đệm. Nói cách nào đó, tôi đã gặp Sơn từ những ngày đất nước còn chia hai miền và còn chìm trong khói lửa. Tôi muốn nhắc đến ở đây một kỷ niệm không thể quên ở nhà một người bạn trẻ. Đêm ấy lần đầu tiên tôi nghe (cũng có nghĩa là gặp) Trịnh Công Sơn… Những bạn trẻ hát cho tôi nghe gần suốt đêm hàng loạt ca khúc Trịnh Công Sơn (Không biết họ học ở đâu?) hát say sưa đến nỗi đứt cả dây của cây đàn guitar duy nhất có trong nhà. Sau này, Sơn kể cho tôi nghe rằng những bài đó, Sơn đã sáng tác trong những ngày trốn lính, sống lê la với bạn giang hồ.

Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra. Nói như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, người bạn già của tôi, “Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra”. Cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ chính là ở chỗ đó, ở chỗ không định tạo ra một trường phái nào, một triết học nào, mà vẫn thấm vào lòng người như suối tưới. Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi, Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim, không chỉ ở trong nước, mà cả ở bên ngoài biên giới nữa. Và nếu không lầm thì dấu ấn của Sơn đã ít nhiều in trên tác phẩm của một số nhạc sĩ thời kỳ sau 1975.

Có lẽ cũng không cần nghe lại nữa, dù bây giờ và sau này Sơn có in thêm, một lần là đủ, từ cái đêm chiến tranh ấy, tôi biết mình đã gặp một – tâm – hồn – chị – em xẻ chia Một cõi đi về. Và tôi viết lời bạt này cho tập nhạc của Sơn như giữ một lời hẹn thầm chưa ngỏ, lời hẹn của một tri âm với tri âm…

Văn Cao

Huyền thoại về con người

Tô Thùy Yên, 01/1967. Lời tựa cho tập nhạc “Ca khúc Trịnh Công Sơn”.

Nếu ở vào một thời đại khác, có lẽ anh đã chẳng viết những ca khúc này.

Những ca khúc với nhịp nói kể récitativo rã rời, bải hoại, thảm thiết cùng độ đàn trên diệu blues đau nghẹn, đè nén công phẩn, điệu của một màu da nô lệ.

Những ca khúc như những bản chúc thư của con người trong tôi.

Mỗi ca khúc như một lời trối trăn tuyệt mệnh vừa đủ cho đời người, một bài thôi tưởng không cần nói thêm cũng xong.

Những ca khúc dựng lên viễn tượng ghê rợn của thế giới sau ngày cuối cùng, một thế giới lạnh lẽo, cô tịch, im lìm trên đó những dấu tích nhân loại đã bị bôi xóa, chỉ còn mỗi con người độc nhất sống sót lủi thủi đi tìm trong vô vọng cái ý niệm về mình.

Những ca khúc như những bản spírituals để đám đông bị giam hãm chờ chết đồng ca trong cơn đại nạn.

Những ca khúc như những báo hiệu cuối cùng của đêm tối vĩnh cửu trên trần gian.

Những ca khúc như những lời kể tội chung thẩm để chẳng buộc tội ai hết, nếu chẳng phải để buộc tội chính mình.

Những ca khúc như những tra vấn quyết liệt về đời nguời nhìn thấy qua một chuyến phiêu lưu của hữu hạn trong ngàn trùng vô hạn.

Ðã tan biến tụ bao giờ cái áo tưởng chói lòa này? nghệ thuật, khi đi đến tận cùng hành trình của nó, sẽ giải phóng con người khỏi cái thân phận nghiệt ngã.

Bây giờ, hơn bao giờ hết, chúng ta lại nghiệm thấy một cách chua xót rằng nghệ thuật đã dìm con người sâu hơn trong nỗi khốn khổ chung thân cửa nó, đã trói con người chặt hơn vào những thực tại khiếp đảm của nó.

Ở đây, vì tình thế đau đớn đặc biệt của quê hương, chúng ta phải gánh chịu gấp đôi thân phận nhân loại.

Do đó, có vài người tâm hồn giản dị đã vội kết luận rằng những ca khúc này của anh là những tác phẩm phản chiến để buộc tội anh về những tác dụng nguy hại của chúng đời với đám đông trong giai đoạn nghiêm trọng này của đất nước.

Chẳng lẽ chúng ta lại lên tiếng trách móc sao những người lại nỡ mang đặt nghệ thuật vào trong một cuộc đầu tư ngắn hạn và chắc chắn thua lỗ.

Nghệ thuật khi đã hình thành, là một nhận thức bao quát về đời sống, là cánh hồng bay bổng tuyệt vời, chớ đâu phải là con gà què ăn quẩn cối xay.

Phải vậy không anh ?

Que nous reste-t-il de sacré ?

Ðối với câu hỏi đã xưa này của Vigny, chúng ta cũng chẳng cần phải trả lời dài dòng thêm nữa.

Chẳng lẽ lại trả lời rằng anh chỉ còn có cây đàn cùng những lời ca thảm thiết bám đau trí não hay sao?

Những ước vọng hiệp sĩ của chúng ta trong thời tuổi nhỏ đã được chôn sâu nơi bãi sầu cùng với tuổi nhỏ tự hủy hoại sớm hơn hạn kỳ.

Bài học đắt giá nhất chúng ta đã thu thập được dưới sân của thế kỷ này là cái chết của con người khai báo bơi Malraux.

Thành thử, trong những ca khúc này, thêm một lần nữa, anh khai dạng huyền thoại về con người, thảm kịch của kẻ xa lạ nơi trần thế lưu đày, những tư tưởng phổ biến trong thời đại.

Lại có vài người cũng vội nhận định rằng nghệ thuật của anh thắm đượm màu sắc tôn giáo, thiêng liêng.

Thật ra huyền thoại là gì nếu nó chẳng phải là một câu truyện ngụ ngôn nhằm giải thích sự khởi đầu của thế giới, là một câu truyện kể về sự sáng tạo sơ khai.

Nói cách khác, huyền thoại cũng là giấc mộng đi tìm ý nghĩa chính đáng cho đời sống.

Dùng tới huyền thoại tức ước muốn làm lại thế giới.

Từ đó suy đi, tôi tưởng tượng sẽ được nghe dưới tên anh, một ca khúc của hy vọng xanh rờn nhu lá non mở phơi trong một buổi sáng tinh sương tôi thức dậy còn nhìn thấy mặt trời, còn nhìn thấy đồng loại, nhất là còn nhìn thấy con người trong tôi.

Xin mượn câu đầu của truyện tình Tristan để làm câu chót của bài này:

Seigneurs, vous plaít-il d’entendre un beau conte… ?

Tô Thùy Yên
01/1967

Chút thiên thu còn mãi

Hoàng Phủ Ngọc Tường, 03/1991. Thay lời tựa cho tập nhạc “Em còn nhớ hay em đã quên”.

Ướt mi, ca khúc đầu tay nổi tiếng ngay khi mới ra mắt công chúng là một bài tình ca buồn, năm ấy, Trịnh Công Sơn vừa mới bắt đầu thời hai mươi tuổi. Hình như đường sinh mệnh trên bàn tay tài hoa ấy có một nhánh rẽ vào tình sử, và qua ba mươi năm cho đến nay, Trịnh Công Sơn trở thành người tình lãng du của nhiều thế hệ.

Ngoài tất cả mọi điều thường nói, nghệ thuật còn là cố gắng miệt mài của con người nhằm thấu suốt dự báo của ngày Lễ Tro trong Phúc Âm: từ Cát Bụi đã sinh ra, và sớm muộn người cũng được trả về Cát Bụi. Với Trịnh Công Sơn, ngườI tình trước hết là người bạn lẻ loi trong đời để cùng chia xẻ tin buồn của Phúc Âm, để đừng bao giờ em quên đi nỗi thiết tha của con chim di đã để lại dấu chân trên sỏi cát, và con phù du đã một lần cùng em bay đôi qua khói mùa hạ.

Hình như con người thời nay đã đánh mất cái cảm nhận sâu thẳm của người trèo núi ngồi nghỉ mệt trên bờ vực. Nỗi cô đơn chính là vực thẳm linh hồn mà nghệ thuật cần đạt tới, như đạt tới chân thân của mình, để từ đây biết khước từ mọi ảo tưởng cuộc đời. Tình ca Trịnh Công Sơn cuối cùng lại là bài kinh cầu bên vực thẳm, lay động ý thức về thân phận ở bất cứ ai mê muội định tìm một chỗ ẩn trốn an toàn giữa cõi đời.

Và như thế, tình ca Trịnh Công Sơn không hẳn chỉ là một bông hồng dâng tặng – nó chứa đựng tất cả tâm trạng lo âu của con người nhạy cảm nhìn ra thế giới hiện đại.

Nhưng khỏi phải e ngại rằng Trịnh Công Sơn định làm triết lý thay vì âm nhạc. Điều khiến cho tình ca Trịnh Công Sơn sống mãi trong lòng người chính là ở đây. Dù những trầm tư của tác giả đi xa đến đâu, âm nhạc Trịnh Công Sơn vẫn là một cõi riêng dành cho tình yêu: nó làm tươi lại bông hoa đầu tiên mà con người đã hái, mang theo từ vườn địa đàng, đánh thức cả trời mộng mơ tưởng chừng đã quá xa trong đời người, để đưa những người tình đến ở một lâu đài cổ xưa trong rừng, êm đềm, giản dị mà cao sang lạ thường.

Những người yêu nhau trên đời vẫn tiếp tục khiêu vũ cùng với cây đàn lyre của chàng. Qua tiếng hát Khánh Ly sương khói trần gian cứ bay đi, và một chút thiên thu còn mãi…

Huế, tháng 3.1991
Hoàng Phủ Ngọc Tường