Lời tựa cho tập nhạc “Ca khúc Trịnh Công Sơn”

Nếu ở vào một thời đại khác, có lẽ anh đã chẳng viết những ca khúc này. Những ca khúc với nhịp nói kể récitativo rã rời, bải hoại, thảm thiết cùng độ đàn trên điệu blues đau nghẹn, đè nén công phẩn, điệu của một màu da nô lệ. Những ca khúc như những bản chúc thư của con người trong tôi. Mỗi ca khúc như một lời trối trăn tuyệt mệnh vừa đủ cho đời người, một bài thôi tưởng không cần nói thêm cũng xong.

Những ca khúc dựng lên viễn tượng ghê rợn của thế giới sau ngày cuối cùng, một thế giới lạnh lẽo, cô tịch, im lìm trên đó những dấu tích nhân loại đã bị bôi xóa, chỉ còn mỗi con người độc nhất sống sót lủi thủi đi tìm trong vô vọng cái ý niệm về mình. Những ca khúc như những bản spírituals để đám đông bị giam hãm chờ chết đồng ca trong cơn đại nạn. Những ca khúc như những báo hiệu cuối cùng của đêm tối vĩnh cửu trên trần gian. Những ca khúc như những lời kể tội chung thẩm để chẳng buộc tội ai hết, nếu chẳng phải để buộc tội chính mình. Những ca khúc như những tra vấn quyết liệt về đời nguời nhìn thấy qua một chuyến phiêu lưu của hữu hạn trong ngàn trùng vô hạn.

Ðã tan biến tự bao giờ cái áo tưởng chói lòa này? Nghệ thuật, khi đi đến tận cùng hành trình của nó, sẽ giải phóng con người khỏi cái thân phận nghiệt ngã. Bây giờ, hơn bao giờ hết, chúng ta lại nghiệm thấy một cách chua xót rằng nghệ thuật đã dìm con người sâu hơn trong nỗi khốn khổ chung thân cửa nó, đã trói con người chặt hơn vào những thực tại khiếp đảm của nó.

Ở đây, vì tình thế đau đớn đặc biệt của quê hương, chúng ta phải gánh chịu gấp đôi thân phận nhân loại. Do đó, có vài người tâm hồn giản dị đã vội kết luận rằng những ca khúc này của anh là những tác phẩm phản chiến để buộc tội anh về những tác dụng nguy hại của chúng đời với đám đông trong giai đoạn nghiêm trọng này của đất nước.

Chẳng lẽ chúng ta lại lên tiếng trách móc sao những người lại nỡ mang đặt nghệ thuật vào trong một cuộc đầu tư ngắn hạn và chắc chắn thua lỗ. Nghệ thuật khi đã hình thành, là một nhận thức bao quát về đời sống, là cánh hồng bay bổng tuyệt vời, chớ đâu phải là con gà què ăn quẩn cối xay. Phải vậy không anh? Que nous reste-t-il de sacré?

Ðối với câu hỏi đã xưa này của Vigny, chúng ta cũng chẳng cần phải trả lời dài dòng thêm nữa. Chẳng lẽ lại trả lời rằng anh chỉ còn có cây đàn cùng những lời ca thảm thiết bám đau trí não hay sao? Những ước vọng hiệp sĩ của chúng ta trong thời tuổi nhỏ đã được chôn sâu nơi bãi sầu cùng với tuổi nhỏ tự hủy hoại sớm hơn hạn kỳ. Bài học đắt giá nhất chúng ta đã thu thập được dưới sân của thế kỷ này là cái chết của con người khai báo bơi Malraux.

Thành thử, trong những ca khúc này, thêm một lần nữa, anh khai dạng huyền thoại về con người, thảm kịch của kẻ xa lạ nơi trần thế lưu đày, những tư tưởng phổ biến trong thời đại.
Lại có vài người cũng vội nhận định rằng nghệ thuật của anh thắm đượm màu sắc tôn giáo, thiêng liêng.

Thật ra huyền thoại là gì nếu nó chẳng phải là một câu truyện ngụ ngôn nhằm giải thích sự khởi đầu của thế giới, là một câu truyện kể về sự sáng tạo sơ khai. Nói cách khác, huyền thoại cũng là giấc mộng đi tìm ý nghĩa chính đáng cho đời sống. Dùng tới huyền thoại tức ước muốn làm lại thế giới.

Từ đó suy đi, tôi tưởng tượng sẽ được nghe dưới tên anh, một ca khúc của hy vọng xanh rờn nhu lá non mở phơi trong một buổi sáng tinh sương tôi thức dậy còn nhìn thấy mặt trời, còn nhìn thấy đồng loại, nhất là còn nhìn thấy con người trong tôi.

Xin mượn câu đầu của truyện tình Tristan để làm câu chót của bài này: Seigneurs, vous plaít-il d’entendre un beau conte… ?

Tô Thùy Yên
01/1967

Trịnh Công Sơn: Uống chung ly rượu này

Một ngày giáp Tết năm 1998 thật xúc động nhận được tập nhạc Sơn ký tặng tôi và gia đình: Tuyển tập những bài ca không năm tháng, nhà xuất bản Âm Nhạc, với cái hộp carton màu đỏ bọc ngoài, Sơn vẽ lên đó bình hoa vàng và ly rượu với lời ghi: Uống chung ly rượu này, tôi giữ mãi một tình bạn ấm áp ấy… như cùng Sơn uống ly rượu mừng Xuân.
Bao nhiêu mùa Xuân qua không còn bạn, ly rượu rót trước ảnh thờ bạn trên kệ sách bốc hơi còn đọng lại cặn vàng mốc. Nhớ vô cùng những bức tranh bạn vẽ, những đêm khuya trên Đơn Dương năm xưa nào, những đêm khuya Huế, Sài Gòn, Hà Nội, hay Paris, Canada… Trịnh Công Sơn vẽ nhiều tranh, với những hưng phấn đột xuất kỳ lạ, càng về khuya khi rượu đã thấm, còn lại một hai người bạn thân thiết, Sơn vẽ… Nhiều nhất có lẽ là những tĩnh vật có ly rượu, những chiếc ly thủy tinh luôn chờ người nhạc sĩ tài hoa ấy rót thêm rượu vào. Như Tản Đà, như Nguyễn Tuân, Văn Cao, Nguyễn Sáng… Rượu là chất kích thích để sáng tác, một niềm vui thật nồng nàn… Hương rượu nồng hơn mọi thứ tình (Vũ Hữu Định).

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và họa sĩ Đinh Cường

Sau tĩnh vật những ly rượu là những phác thảo chân dung bạn bè. Trịnh Công Sơn nắm bắt và lột tả khi vẽ chân dung rất tài, những người bạn vong niên như Nguyễn Tuân, Văn Cao, Hoàng Cầm, Thái Bá Vân, Dương Tường, Bùi Giáng… những khuôn mặt bạn bè: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trịnh Cung, Đinh Cường, Bửu Ý, Lữ Quỳnh… qua nét vẽ của Sơn khi đã thấm rượu trong buổi hàn huyên, chỉ cần phác vài nét chính, dậm thêm màu đậm nhạt, hoen nhòa đã tỏ lộ ra cái thần sắc của người đối diện mà đôi khi vẽ kỹ chưa chắc đã có hồn như vậy. Sơn còn vẽ rất nhiều chân dung những nhan sắc, là hương hoa của mùa màng tình yêu hay bất chợt thấy dáng ai kia với màu son môi như một đốm lửa hồng (đôi môi em là đốm lửa hồng – TCS)… Sơn rất thích câu này của nhà triết học Pháp Gaston Bachelard: Mais allez au fond de l’ inconscient, retrouvez vous avec le poète, le rêve primitif et vous verrez clairement la vérité: elle est rouge la petite fleur bleu (Này ngụp sâu xuống đáy tiềm thức, cùng thi sĩ tìm gặp giấc mộng ban sơ và người sẽ trông thấy rạng ngời sự thật: đóa hoa xanh bé bỏng kia màu lửa rực). Mộng ban sơ, làm sao không nhớ Bùi Giáng, không nhớ Chagall, không nhớ Henri Rousseau trong những tranh thấm đẫm lá hoa cồn mộng mị.

Bức tranh vẽ Bích Diễm năm 1963 ở Huế – thời của ca khúc nổi tiếng Diễm Xưa – là khởi đầu cho những tranh sơn dầu khổ lớn về sau này của Sơn, những bức chân dung Dao Ánh, Chu Nguyệt Nga (mùa hè năm 1987 Nga từ Paris về, chúng tôi đã chuẩn bị dự đám cưới Sơn – Nga mà không thành, lần qua Paris năm ngoái tôi ghé thăm anh chị Đăng – Nga, anh chị vẫn nhắc nhiều đến Sơn, vẫn luôn xem như một tình bạn quý. Bức chân dung Sơn vẽ Chu Nguyệt Nga với màu xanh lục Véronèse – là màu Sơn thích nhất – chị treo trong phòng riêng, xem lại dù qua thời gian, vẫn long lanh thánh thiện) và chân dung Yoshii Michiko, người bạn gái Nhật rất yêu thương Sơn, đã làm luận án tiến sĩ “Chansons anti-guerre de Trịnh Công Sơn” (Ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn) tại Đại học Jussieu Paris 7… Còn bao nhiêu bức chân dung đẹp khác nữa, có cô chờ Sơn vẽ xong lấy đem đi ngay dù màu đang còn ướt. Trịnh Vĩnh Trinh, em gái út được Sơn vẽ nhiều nhất.

Từ vẽ bút sắt đến pastel, acrylic, màu nước, màu dầu Trịnh Công Sơn đã triển lãm chung nhiều lần cùng các bạn họa sĩ tại TP. HCM với Tôn Thất Văn, Đinh Cường tại nhà 47C Phạm Ngọc Thạch từ 4.3 đến 10.3.1988, với Đỗ Quang Em, Đinh Cường tại Nhà Hữu Nghị Tiệp Khắc, 24 Lý Tự Trọng từ 14.1 đến 24.1.1989, với Đỗ Quang Em, Trịnh Cung tại Nhà hàng Ritz 333 Trần Hưng Đạo từ 15.2.1990 đến 2.1.1991, với Trịnh Cung, Đỗ Quang Em, Tôn Thất Văn tại Khách sạn nổi tháng 9.1991 và triển lãm sau cùng với Bửu Chỉ, Đinh Cường tại gallery Tự Do từ 20.8 đến 3.9.2000.

Được ghi nhận bởi những người có uy tín trong sinh hoạt hội họa và phê bình, như Nguyễn Trung đã viết: “…hôm nay chúng ta nói về Trịnh Công Sơn, họa sĩ Michel Ragon nhà lý thuyết, người bênh vực nghệ thuật mới, nghệ thuật trừu tượng, có viết rằng trong thời đại chúng ta, không còn những họa sĩ vẽ chơi (peintre du dimanche) nữa. Rất đúng với Trịnh Công Sơn. Anh mới vẽ một vài năm và đã trở thành họa sĩ thực thụ” (phòng tranh Đinh Cường, Đỗ Quang Em, Trịnh Công Sơn, sự phối hợp thú vị của ba tính chất khác nhau – Tuổi Trẻ Chủ Nhật 5.1.1889); như Huỳnh Hữu Ủy đã viết: “Trường hợp Trịnh Công Sơn vẫn là đặc biệt, dù không còn gây chút ngạc nhiên nào về việc anh bày tranh trước công chúng. Mấy năm trước, đã có lần tôi thật bất ngờ và đầy kinh ngạc trước bức chân dung anh vẽ bạn họa sĩ, đội mũ nồi, ngậm ống vố, râu ria xồm xoàm, tất cả đều ánh lên trong màu bạc kim loại kỳ lạ, có thể nhận ra mức độ điêu luyện là cực điểm, đó là một trong những bức tranh đẹp nhất giữa tất cả các tác giả tôi yêu thích” (Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại, trang 296, VAALA- California xb 2008).

Và sau cùng là lời phát biểu của Trịnh Công Sơn: “Nghệ thuật đích thực là một thứ thông điệp còn lại ở sau cùng, khi mọi hình thức tồn tại khác đã mất đi”‘(catalogue triển lãm hội họa Trịnh Công Sơn – Đinh Cuờng – Bửu Chỉ, gallery Tự Do). Thật vậy, chỉ có nghệ thuật là tiếng nói chung của nhân loại. Hoạ sĩ Marc Chagall năm xưa ghé thăm nhà người bạn ở Georgetown, Washington DC đã vẽ tặng bạn bức tranh khảm sành (mosaique), nay nhà người bạn ấy nơi vùng tôi ở có ghi tấm bảng đồng nhỏ trước nhà cho khách có thể hẹn vào xem. Trịnh Công Sơn cũng có để lại bức tranh vẽ trên tường lớn tại nhà người bạn thân ở Huế là Bửu Ý mà Bửu Ý nói đùa ai mua thì phải gỡ cả bức tường nhà…

Đến với thế giới hội họa, cũng như âm nhạc của Sơn là đến bằng linh cảm, bởi vì tâm hồn Sơn là một tâm hồn nhạy bén không cùng. Sơn cũng vẽ dễ như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát nói: “Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra”. Không gian tranh của Sơn bao giờ cũng dở dang, nhưng lại đầy tinh khiết, sáng tạo: “Nghệ thuật dạy cho tôi biết biên giới của hữu hạn và sự vô cùng. Riêng trong hội họa tôi còn bắt gặp thêm cái không bờ bến của một giấc mộng tự do tinh thần”. Sơn phát biểu như một tuyên ngôn nghệ thuật. Tranh Sơn thanh thoát đến hư tưởng. Người xem thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng, khác với những “lời ca thơ” đầy nước mắt của Sơn “tôi không thể phân biệt được nước mắt với âm nhạc” (Nietzsche).

Uống chung ly rượu này, ngồi nhìn lại bức tranh nhỏ của Sơn, đêm cuối năm ngoài trời lạnh căm, nhớ đêm khuya nào ở nhà Sơn, năm 1999, Sơn và tôi đã cùng vẽ tiếng kèn đồng Trần Mạnh Tuấn. Tiếng kèn saxophone đã thổi bài Cát Bụi khi hạ huyệt Sơn ở Gò Dưa với bao nhiêu hoa và nước mắt, tết này là hơn mười năm rồi Sơn ơi…Tháng 8 vừa qua tôi đã đứng chụp dưới bảng tên đường Trịnh Công Sơn ở Huế, gió ở bờ sông thổi lên và bầu trời xanh trong, như một giấc mơ đời hư ảo, như lời bạn: Tôi chỉ là tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo.
Hội họa là cái hư ảo chuộc lại những cái hư ảo khác.

Đinh Cường
17.1.2001, laodong.com.vn

Trịnh Công Sơn – một người bạn hiền lành

NDĐT- Ông Trương Văn Thanh, một người Huế là bạn học của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từ những năm đệ lục cho đến khi vào Trường Sư phạm Quy Nhơn. Mỗi khi nhắc đến người nhạc sĩ tài hoa này, lòng ông vẫn dâng trào xúc cảm mạnh. Ông đã chia sẻ với chúng tôi ký ức về “một người bạn đặc biệt”…

Ban nhạc Thanh – Sơn – Hải
Tôi quen Sơn từ khi học đệ lục ở Trường Thiên Hựu cũ. Ngày ấy, Hồ Quang Hải cũng là tay ghi ta có tiếng ở Huế. Ba anh em tôi chơi với nhau vì rất hợp tính. Năm 1962, cả ba cùng lên tàu vào học ở trường Sư phạm Quy Nhơn. Lúc mới vào, ba chúng tôi họp lại thành ban nhạc Thanh-Sơn-Hải. Nói là ban nhạc cho vui, nhưng thực ra chỉ hát hò, chơi với nhau chứ ít khi biểu diễn đình đám. Chân ướt, chân ráo, vậy mà ban nhạc phụ trách việc tập luyện và tổ chức đại nhạc hội đầu tiên cho trường Sư phạm Quy Nhơn vào năm 1962, trong đó có tiết mục Dã tràng ca.

Nhớ đến Sơn, tôi hay chơi bản Tình sầu. Có một bản nhạc của Sơn ít người biết đến là Hoa buồn. Tôi thấy Hoa buồn không hề xuất hiện trong các tập nhạc được xuất bản của Trịnh Công Sơn. Bài hát này Sơn viết tại Quy Nhơn, trong đó câu cuối tôi nhớ là “… Ngày sau còn ai nhắc tên mình không?”. Một vài bạn học ở Quy Nhơn có lẽ thuộc bài hát này, nhưng thủ bút e không còn. Tôi không có dịp hỏi Sơn, nhưng có lẽ, Sơn chưa hài lòng với tác phẩm này hoặc do bài hát nói về cá nhân Sơn nhiều quá nên bạn không thích công bố chăng?
Vào Quy Nhơn, chúng tôi ở trọ cùng nhau. Thời điểm này, Sơn sáng tác rất nhiều bản tình ca. Hải và Sơn lúc ấy chơi ghi ta, tôi chơi đàn violon. Sơn hay đi chơi khuya. Đêm nào tôi cũng ngồi chơi violon cho đến khi Sơn về. Cứ có cảm hứng là Sơn ngồi sáng tác. Tôi quan sát, cứ 10 bài thì hết 9 bài, Sơn đã chuẩn bị lời hát. Lúc nào Sơn cũng có sẵn hộp diêm, khi sáng tác thì lấy que diêm chấm mực kẻ ô và viết một mạch, có khi anh ngồi đến sáng. Về Dã tràng ca, Sơn viết trong thời gian khoảng một tháng. Được đoạn nào, Sơn đàn hát, rồi chúng tôi góp ý cho bạn. Hồ Quang Hải là người góp ý rất nhiều cho Sơn chỉnh sửa Dã tràng ca. Trong đại nhạc hội lần thứ nhất (hiện có nhiều tài liệu khác nhau cho rằng, Dã tràng ca được biểu diễn tại lễ ra trường năm 1964 hoặc lễ khánh thành trường năm 1962 – NV) Sơn chỉ huy dàn hợp xướng, tôi và Hải đệm đàn. Đại nhạc hội tại rạp Vinh Khánh (Quy Nhơn) năm đó, ban nhạc Thanh-Sơn-Hải chơi từ đầu cho đến cuối Sau buổi ấy, nhiều sinh viên trong trường biết đến ba chúng tôi, đặc biệt, Sơn dành được nhiều tình cảm mến mộ.

Ban nhạc Thanh – Sơn – Hải cùng dàn hợp xướng biểu diễn Dã Tràng Ca tại Quy Nhơn
(ảnh do nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân sưu tầm)

Ngày ấy, tôi chứng kiến Sơn viết nhiều ca khúc. Như cánh vạc bay là cảm xúc của Sơn sau khi anh đọc một tác phẩm văn học nổi tiếng của Nhật. Còn Biển nhớ là viết trong mùa hè chúng tôi ở lại Quy Nhơn. Bài hát có nhắc đến tên của Bích Khê, một cô sinh viên rất dễ thương người Nha Trang đang học cùng trường Sư phạm Quy Nhơn. Bích Khê có vẻ đẹp rất lạ, ai nhìn cũng mê mẩn.

Một người hiền lành

Ngẫm lại, tôi thấy Sơn là một nhạc sĩ thiên tài, thiên tài nhất ở mặt sử dụng ca từ. Có những từ không ai hiểu nổi nhưng khi đi vào ca khúc của anh, người ta vẫn cảm được nó. Sơn là người hiền lành, thưở học ở Quy Nhơn, dịp ấy vui quá, ba chúng tôi ngồi uống lai rai trước trường, bị thầy hiệu trưởng Đinh Thành Chương ra mắng. Tôi và Hải còn giải thích, xin xỏ đôi lời, còn Sơn cứ ngồi lặng im vậy, không dám nói gì. Có lần, mẹ Sơn vào thăm không báo trước, trong khi ba chúng tôi cùng anh Nguyễn Tri Tài đi chơi và hát hò khắp nơi. Về đến nhà, bà Thanh (mẹ Sơn) trách: “Răng không đón mẹ đi chơi với bạn bè”? Sơn chỉ đáp: “Con có biết mẹ vô mô!” rồi cúi đầu ngượng nghịu.

Sơn rất tốt với bạn bè. Lúc tôi vào thăm Sơn, sau khi hỏi thăm chuyện gia đình, Sơn dẫn tôi đi mua sách Toefl và băng luyện thi cho con trai đầu của tôi. Sơn bảo: “Trong ba đứa mình, chỉ có con Thanh là học giỏi nhất. Nếu có gì khó khăn, Thanh cứ nói với mình”. Tôi nghe mà cảm động vô cùng. Sơn là người được nhiều người khác thương là vậy.

Lần khác, tôi vào chơi nhà Sơn ở TP Hồ Chí Minh, lúc này, sức khỏe Sơn đã yếu. Sơn mở cho tôi chai chivas, còn Sơn uống rượu nhẹ, sau đó, anh lật đàn Piano chơi một đoạn nhạc. Bạn bè đang ríu rít trò chuyện thì có cô ca sĩ Thu Hà ở Hà Nội vào. Cô ấy nũng nịu đòi Sơn vẽ tặng bức chân dung mình. Sơn đành căng toan vẽ và ký tặng bên dưới, xong việc mới ra ngồi uống rượu với tôi… Khi đọc một vài tập sách người ta viết sai lệch về Sơn và nhạc của Sơn, tôi hỏi: “Răng Sơn không lên tiếng?”. Sơn trả lời quấy quá: “Kệ họ! Đừng để ý”. Tôi hiểu tính Sơn là vậy.

… Ngày nhận được tin Sơn mất, tôi chết lặng. Tôi với Sơn có quá nhiều kỷ niệm. Với tôi, Sơn lúc nào cũng là một người bạn hiền lành, đáng mến.

Lô Dinh ghi
nhandan.com.vn, 01-04-2010

 

 

Trịnh Công Sơn – nơi vùng ưu tư thành tiếng du ca

Như một sợi chỉ luồn theo cây kim, tin Trịnh Công Sơn mất đến với chúng tôi trong buổi tưởng niệm ngày giỗ thứ 40 năm của nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị tại nhà văn học nghệ thuật ở đường Lê Lợi Huế. Tối ấy anh em nghệ sĩ đến nghe bình thơ khá đông, chúng tôi, chị Hỷ Khương, Bửu Ý, Gia Phàm, Như Ngân, Xuân, Xuân Quế, tôi và một số anh chị em nghệ sĩ khác đứng xúm vào nhau, nghe sợi chỉ theo cây kim níu mình xích lại gần hơn một tí với người bạn bên mình trong nỗi nhói đau một chút nơi tim.

Bỗng nhiên ít lời, một chút cay nơi mắt, một chút rã rời nơi vai, chúng tôi đứng như thế quây quần chôn chân, hình như có ai nói như một lời vĩnh biệt nửa buồn nửa vui: “Thôi rứa là từ nay hắn bỏ mình đi rong chơi chỗ khác… hắn bỏ đi thiệt rồi!”

Cái tên lãng tử nhu mì này! Tiếng hát lênh đênh, “chén rượu say uống hoài”, rong chơi cả một kiếp người, bây giờ dứt áo ra đi “lìa bầy, chim bỏ đường bay”, thõng tay viễn du nơi chốn nghìn trùng…

Sơn ra đi! Cái vòng quây quần – như chúng tôi đang đứng với nhau chiều hôm ấy, nhiều đứa tóc đã rối bời sương muối – cái vòng bạn bè hay cái vòng tử sinh của thế hệ thập niên 40-60 chúng tôi, như chúng tôi đã thường đứng hay ngồi như thế mỗi khi gặp nhau ở lứa tuổi 20, như sút đi chốt mộng, chùng giây, tuột phím… cái vòng lỏng lẻo, rã rời!

Dẫu biết rằng trong mấy mươi năm hễ ở đâu có Sơn và tiếng hát của Sơn thì cái vòng này càng nới rộng ra, như những làn sóng, khởi đầu từ một điểm xoáy nơi nào đó ở Huế, có thể nơi khúc sông Bến Ngự, hay nơi hồ Tịnh Tâm, hay ở bến Bao Vinh, hay ở đồi Vạn Niên, ở đó Sơn ném một viên sỏi là tiếng hát của mình vào đấy và làn sóng lan ra, từ thế hệ chúng tôi cho đến thế hệ trẻ ngày hôm nay, từ Huế đến Sài Gòn, Hà Nội, Cà Mâu hay Lạng Sơn, vượt qua mấy lần đại dương và cái vòng quây quần quả đất bao la, hôm qua, ngày nay và có lẽ mai sau…

Sơn là Tiếng Hát Trịnh Công Sơn của Mọi Người

Nhưng chiều hôm ấy tôi vẫn thấy – hay bởi mình muốn thấy như vậy – Sơn như vừa mới đứng dậy ra ngoài châm điếu thuốc, rồi sẽ trở lại ngồi giữa chúng tôi, trong vòng bạn bè, có thể chỉ là ba, hay bốn, hay mười, hay hai mươi đứa, ở Huế, tại nhà một người bạn nào đó, Chỉ, Ý, Tường, Tôn, Hùng, MLan, KLan, Điền, Hạnh, Thọ, Kỳ, Lý… ở nơi điểm xoáy sâu nhất của sông Hương, là vùng tâm tư của những người bạn đang tuổi thanh xuân, ngồi yên, ít lời, đôi môi mỏng thoáng nụ cười, mi mắt chớp sau gọng kính trên chiếc mũi thanh, lắng nghe những nổi sôi, những phiền muộn quanh mình, như lắng nghe chính con tim mình… trong vùng tôi xin gọi là vùng ưu tư của Huế những năm 60.

Vòng Bạn Bè

Chính trong những năm tháng ấy lần đầu tiên tôi gặp bộ ba – chữ của HPNTường – Tường – Cường – Sơn. Nguyên do thật là rất Huế, có thể tìm thấy rải rác đâu đó trong các bài hát của Sơn.

Một buổi chiều nắng vàng chiếu nghiêng trên nón lá, đường phố chính vắng người, không gian yên tĩnh có thể nghe thấy cả tiếng thời gian, chỉ có rộn rã tiếng guốc của mấy cô nữ sinh viên – đã có thể là BDiễm, TMai, Han, KLan hay MH, NB, DL, KL – đi dạo phố mua sách vở, tà áo lụa lướt bay trong nắng, bụi mờ đàng xa, và có một chàng trai xa lạ nào, có lẽ từ xứ Quảng ra, “chiều một mình qua phố “, đang đứng ngơ ngác nhìn đường phố, bỗng tà áo lụa như có sức hút nam châm, chàng trai thấy mình thơ thẩn bước theo.

Chiều hôm sau nghe báo có anh Tường đến thăm mượn sách, lúc ấy anh Tường tuy đã đi dạy văn nhưng học thêm môn cử nhân triết cùng khóa với tôi, anh đến với hai người bạn nữa, cái người hôm qua đi theo tà áo lụa và người kia là Sơn, “đi theo cho vui” như Sơn bảo. Chiều hôm sau nữa thì tôi cũng biết thêm là trong nhóm bạn của mình, có đứa là bạn của Sơn.

Huế nhỏ bé là như thế ấy, người này là bạn của bạn của bạn của bạn… và bạn bè thành ra những vòng tròn quây quần với nhau. Chỉ cần một tiếng “Ới!” của thằng bạn ở trước ngõ là đứa trong nhà đã vội vàng với cái mũ bê-rê dắt xe đạp ra mà đi rong suốt ngày làm cho cả nhà chới với chờ cơm… HPNTường hôm ấy thao thao, vì lấy cớ đi mượn sách nên phải nói về sách. Chúng tôi trao đổi với nhau một vài đoạn về chủ nghĩa hiện sinh trong cuốn Hữu Thể và Hư Vô của J. P. Sartre, một chút về ý niệm thời gian của Heidegger, mà chúng tôi đang đọc ở trường.

Sơn ngồi nghe chúng tôi bàn cãi, phân tích, hình như Sơn không bao giờ thay đổi dáng ngồi của mình, khi nào cũng như thế, tham dự nhưng không ồn ào, hiền hậu và luôn luôn thoải mái như khi ở giữa đám bạn thân, lắng nghe, chú ý mà không chút chi cố gắng, ít tranh cãi, dễ thân thiện tự nhiên, một chút phù phiếm và mỏi mệt nơi dáng người, và ánh mắt xa xôi với những chuyện cãi vã cốt dành phần lý về mình cũng như với mục đích khoa danh mà mỗi người sinh viên Huế thời ấy thường đặt ra cho mình.

Gió Phương Tây

Chủ nghĩa Hiện Sinh với Heidegger, Sartre, A. Camus, phong trào điện ảnh với Jean-Luc Godard, thể điệu chanson với Juliette Greco, Françoise Hardy ở phương Tây đã đến với lớp trẻ chúng tôi trong những năm của thập niên 60 như một làn gió chướng thổi qua cái thành phố Huế, nhỏ bé, đóng khung, còn rất cổ kính trong cách nghĩ, cách làm ấy.

Những danh từ như hiện sinh buồn chán, xao xuyến, hư vô, thời gian, hữu hạn và vô hạn, buồn nôn, thân phận con người, sự vô nghĩa của cuộc đời, nỗi hoài công phi lý của Sisyphus(1), ý niệm về siêu hình, bản thể học đã như những tiếng gõ bí ẩn vào cánh cửa tâm hồn của lớp thanh niên trẻ chúng tôi thời ấy như những mời gọi phiêu lưu vào những vùng đất lạ của tri thức. Bây giờ nhìn lại thì thấy mình dại khờ, bởi chính những tư tưởng mới này chẳng có chi là mới so với triết lý Phật giáo cả – thế nhưng lúc ấy chúng có một sức thu hút quyến rũ kỳ lạ trong cái khung cảnh đều đều êm đềm của xứ Huế, thành trì của thủ cựu và khuôn sáo, là những hàng rào ước lệ mà lớp trẻ thường hay muốn vuợt qua.
Chúng tôi thường gặp nhau để kể cho nhau nghe về một quyển sách đã đọc, soạn bài, tranh luận. Và có lần với cây đàn ghi-ta, Sơn bắt đầu hát cho chúng tôi nghe.

Ưu Tư và Du Ca

Khi nghe Sơn hát tôi giật mình. Vì Sơn hát… môn siêu hình học về cuộc đời, về tình yêu đó ! cái môn mà những con sâu gạo triết – như Đinh Cường vừa nhắc lại, là chúng tôi đang còn điên đầu vật lộn với nó, nhưng ngược lại, chẳng có một chút khô khan, trừu tượng, gượng ép hay kỳ quặc gì cả, Sơn đã hát triết học như một bà mẹ Huế có giọng nói hay nhất trên đời kể câu chuyện cổ tích Tấm Cám.

Như một con ve vừa mới thoát xác lần thứ mấy mươi nghìn năm từ lòng đất của Huế, đã đi về thường xuyên trong tâm thức Huế, đã rung động và cảm ứng với trời đất Huế, với một âm điệu giản đơn thoát từ gam trầm của giọng Huế, Sơn đã trả lời trong cảm ứng vô thức những tiếng gõ cửa từ phương xa và giải thể chúng tôi ra khỏi ngõ bí của tư duy.

Trong cái không khí sôi nổi của tuổi trẻ đô thị ham mê siêu hình, Sơn đã bắt đầu hát thay vì cãi nhau, thay vì lý luận dông dài với đám bạn bè, với cả thiên hạ, Sơn hát cho vui với anh em như Sơn thường nói, Sơn hát như một sự tham dự vào những đàm luận của bạn bè thuở đó và về sau của cả thiên hạ, mà đúng thật, Sơn hát với những ưu tư thâm kín nhất của tuổi hai mươi chúng tôi, với những tư duy của thế hệ trẻ chúng tôi và với một cách đặt vấn đề – biệt ngữ của phong trào học triết học siêu hình thời ấy, khác với những người nhạc sĩ đi trước.

Sơn hát như cách thế cổi dép đội lên đầu đi ra khỏi giảng đường của Thiền sư Triệu Châu(2) không phải là để bỏ đi, từ chối, mà là một cách thế mở ngỏ cho sự sống như Triệu Châu.

Hãy xem: Sơn hát đề tài có cái gì là khởi đầu, có gì là cái cuối cùng – ngõ bí của triết học đấy, nhưng với chất keo của một điệu ca bông đùa diễu cợt, và một chút ranh mãnh hiền triết của một thiền sư thõng tay vào chợ, Sơn hát “không có chi đâu này, là có cái chết đầu tiên, không có chi đâu này, là có cái chết cuối cùng…”, hát như con bê điên cứ đánh lưỡi tùy theo cảm hứng của nó lúc chạy theo chế diễu mọi người ở trên một đường phố nhỏ của Huế. Người nghe có thấy mâu thuẫn hay không cũng phải mỉm cười, và bỗng ngộ được tính phi lý của sự đối nghịch trước sau.

Sơn hát đề tài bản thể và hư vô và nhắc chúng tôi tìm về dòng sông Hương nhìn nước chảy, để thấy hay nghe “tay hư vô thắp nến, chiều chơi vơi lên cao, rồi dòng sông cũng qua mau, đưa người gợi mối sầu… ” trong một giai điệu tiếng nước chảy ngược về nội tâm, để thấy sông không chảy mà tâm mình đang chảy. Ai định nghĩa được hư vô ? Khổng tử cũng đã đến dòng sông để thể nghiệm với tiếng thở dài: Nước trôi mãi như thế ư ? Phạm Duy hát “im nghe nước chảy về đâu” trong một cảm giác buồn bã trôi xuôi. Với ý niệm hư vô, Sơn đặt lại vấn đề và giải mã sự biến đổi, sự trôi chảy của giòng sông với cảm tính triết học của mình trong âm giai sâu lắng, giữa tỉnh và mê, giữa buồn bã và giác ngộ.

Sơn hát đề tài nỗi hoài công của Sisyphus bằng tiếng vang của vết lăng trầm… phiến đá… ưu phiền… của một cuộc đời phiêu lãng quên tuổi xanh… quê nhà xa vời vợi… cô liêu vây quanh, của mùa thu bay đi với vòng tay buồn ôm nuối tiếc và đưa ta về với khung cảnh Huế – không phải Huế thơ mộng mà là một Huế như chốn lưu đày đồng thời là quê nhà trong nỗi nhớ, bằng một tiếng than dài như xâu chuỗi âm hưởng quấn quýt luân hồi.
Cũng phải nói thêm rằng thuở ấy, việc đi hát đối với các vị cha mẹ người Huế là một chuyện đáng nghi ngờ, nền nếp gia phong được rào lại kín cổng cao tường, không ai muốn cho con mình đi hát… hỏng đàn đúm rong chơi với những kẻ lãng tử giang hồ. Những bài hát mới do đó đối với chúng tôi thường như những trái cấm.

Cho nên bài hát đầu tiên của Sơn mà chúng tôi hát là một bài hát chuyền tay nhau: Nhìn Những Mùa Thu Đi.

Nhìn Những Mùa Thu Đi và Huế 1963

Bài ca có lẽ đã bỏ trong túi lâu ngày, chưa được phổ biến, đến tay chúng tôi thì mực đã nhạt nhoè. Để tập hát, chúng tôi xúm nhau lại trên thềm xi măng của một gian phòng rộng lớn gọi là hội trường của Nha Cảnh Sát Trung Nguyên Trung Phần (bây giờ là Đại Học Sư Phạm Huế) lúc ấy tạm sử dụng làm phòng giam những thành phần trí thức Phật tử trong phong trào đòi bình đẳng tôn giáo do việc cấm treo cờ Phật giáo vào ngày Phật Đản 1963 và việc xe tăng cán chết 14 em Gia Đình Phật Tử vào đêm Phật đản tại thành phố Huế. Chúng tôi, sinh viên Phật tử, Gia Đình Phật Tử, các giáo viên và giáo sư đều đồng thời bị bắt một loạt trong đêm 20.08.63, đêm các chùa bị tổng tấn công trên khắp miền Nam Việt Nam. Có người đang ngủ ở nhà cũng bị mời vào, như trường hợp của HPNTường, hồi ấy HPNT không nằm trong Đoàn SVPT. Mảnh giấy ghi bài Nhìn Những Mùa Thu Đi trong túi áo của HPNTường đã trở thành bài hát cho đỡ buồn (cũng như Sơn đã nói hát cho vui) trong suốt những ngày tháng bị giam cầm của chúng tôi.

Huế dạo ấy đang độ vào thu, ban đêm mưa sầm sập trên mái nhà, buổi sáng sớm trời trong trẻo, một thứ trong suốt như đóng đinh vạn vật dừng lại ở một điểm cố định, cây bàng độc nhất trong sân đứng với mấy chiếc lá đỏ trên cành, chúng tôi ngồi… “tay trơn” trên nền nhà – trẻ măng là mớ tóc và vầng trán, trẻ măng là sự ôm ấp những lý tưởng, những hoài vọng, những ước ao, những đợi chờ của tuổi hai mươi, và chúng tôi đã đếm ngày tháng bằng Nhìn Những Mùa Thu Đi…

Hội trường là nơi tạm giam chung nam nữ những thành phần trí thức và sinh viên, học sinh Phật tử đã biểu tình, tuyệt thực chưa được định tội rõ ràng. Vì tội trạng chưa được rõ ràng và được xem là những thành phần không đáng để ý nên chúng tôi có thể di chuyển thoải mái trong phòng và được đối xử tương đối tử tế. Ban đầu có đến hơn 500 người, sau đó được thả ra dần hoặc chuyển đi nơi khác, còn lại khoảng năm mươi, sáu mươi người, được chúng tôi lấy ghế ngăn lại làm hai trạm nghỉ: phần trên sân khấu dành cho phụ nữ cắm lều mùng mền, phần dưới sân khấu dành cho nam giới cắm trại. Buổi sáng sớm, khi mưa vẫn còn rỉ rả ngoài sân, nhóm phụ nữ còn nằm trên… sân khấu của hội trường thì chúng tôi thường đã được điểm tâm bằng tiếng huýt sáo của ai đó đứng ngoài hiên nhìn mưa. “Nhìn những mùa thu đi, em nghe sầu lên trong nắng, và lá rụng ngoài song…”, buổi xế trưa bỗng nghe có ai cao giọng lê thê: “gió heo may đã về, chiều tím loang vỉa hè, và gió hôn tóc thề, rồi mùa thu bay đi…” và buổi tối có giọng ai âm thầm ở trong một góc phòng của hội trường: “và lá rụng ngoài song, nghe tên mình vào quên lãng, nghe tháng ngày chết trong thu vàng… thương cho người… lạnh lùng riêng”. Chưa bao giờ trong đời tôi, đã nghe và đã hát một bài hát nhiều lần và trong một quãng thời gian dài liên tiếp ba tháng như thế.

Bài nhạc thật là đơn giản về âm giai thể điệu, đề tài mùa thu, một đề tài quen thuộc trong thi ca rất dễ bị rơi vào sáo ngữ, đã có Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư không tiền khoáng hậu, đã có Giọt Mưa Thu của Đặng Thế Phong khó quên trong lòng người, Thu Vàng của Cung Tiến âm vang, nhưng Nhìn Những Mùa Thu Đi đã là bước đầu thành công của cuộc hành trình ca khúc TCS. Có thể nói hành trình ca khúc TCS thực sự bắt đầu từ Nhìn Những Mùa Thu Đi chứ không phải Ướt Mi, dù Ướt Mi đã làm cho người ta biết đến Sơn.

Bởi vì với Nhìn Những Mùa Thu Đi, Sơn đã đưa chúng ta đến một cảm nhận mới, một thể cách tân thanh đến từ chính ý thức của người nghe: chúng ta hát Nhìn Những Mùa Thu Đi bằng mỗi cái nhìn mùa thu như một thể cách mình biết riêng cho mình, một thể nghiệm riêng cho mỗi cảm nhận lời ca của mỗi một cá nhân. Chúng ta hát cái nhìn của chúng ta, vào một buổi sáng mai thức dậy bỗng nghe gió heo may lùa vào khe cửa hay vào một buổi trưa nắng le lói trên vỉa hè của đường phố thưa thớt người qua lại hay vào buổi chiều tím bên song. Nỗi nhìn mùa thu trở thành sự rung động mùa thu.

Tôi nhớ đến chữ kiến tính của Huệ Năng khi ngài xây dựng quan điểm thiền học mới mẻ của mình, thay vì “Thân thị bồ đề thụ, tâm như minh cảnh đài” của Thần Tú, Huệ Năng đã đổi cách nhìn cuộc đời một cách vật lý so sánh thụ động bằng cái nhìn sinh động vào bản chất thực sự của sự vật trong tính chuyển đổi sáng tạo của nó “Bồ đề bổn vô thụ, minh cảnh diệt phi đài”. Với cái nhìn vô niệm vào diệu dụng của vô và phi Huệ Năng đã đưa Thiền học vào một con đường dẫn đến giác ngộ đầy sinh động và sáng tạo.

Cũng thế, trong hành trình ca khúc của Sơn, với Nhìn Những Mùa Thu Đi, theo tôi nghĩ Sơn đã mở ra bằng cái nhìn của mình một thế giới âm thanh mới và khác lạ, thể cách và âm điệu sinh động vượt ra khỏi những cảm nghĩ khuôn sáo cũ, đi thẳng vào tâm thức người nghe, làm tiền đề cho tiếng hát TCS, và có lẽ đã là không phải một trùng hợp ngẫu nhiên mà trong tiếng hát TCS chữ vô (hư vô, vô thường) đã được ngâm nga một cách tân kỳ so với lời ca của những người đi trước và người đồng thời, ngoại trừ âm nhạc Phật giáo.

Chỉ khác nhau ở một cách đặt vấn đề, với bài hát mùa thu bằng cái nhìn mùa thu, có thể nói hành trình ca khúc TCS đã từ giã khuôn khổ của âm nhạc Việt Nam trước đó để cảm ứng được những trầm tư, thao thức và khát vọng của thế hệ của chính mình và thế hệ kế tiếp mà khởi sắc giai điệu riêng tư của mình.

Mỗi khi nghe giai điệu ca khúc TCS, âm hưởng của tiếng ca đi vào lòng người một cách tự nhiên như dòng nước chảy, ta có thể nghe và hát mấy mươi lần một bài mà không chán, tôi cứ nghĩ rằng Sơn đã nắm được yếu tố cốt tủy của âm thanh trong lòng đất Huế, đã triển khai được âm giai trầm của tiếng Huế làm thành thể chất căn bản cho ca khúc, như có lần tôi đã nghe được một công án của Phật: “Có vị Sa môn ban đêm tụng kinh tiếng nghe rất buồn, có vẻ hối tiếc, lưỡng lự, muốn trở về thế tục. Phật gọi mà hỏi, khi ông ở nhà thì đã làm gì ? Thưa thường đánh đàn. Dây đàn dùi thì thế nào? Thưa không kêu. Dây đàn cao thì thế nào? Thưa mất tiếng. Cao dùi vừa phải thì thế nào ? Thưa âm điệu phát ra đủ cả. Phật nói, học đạo cũng phải như vậy, giữ tâm trí chừng mực thì đạo phải được.” (Bài kinh số 33 trong Kinh 42 Chương, Trí Quang dịch)

Âm điệu trong nhạc TCS cũng thế, đã tùy tâm để thể hiện âm thanh, cho nên nốt nhạc không bao giờ bức xé cũng như không bao giờ quá thấp để không có thể hát được, âm thanh chậm rãi, lưu luyến chảy vào tâm thức như một ý tưởng, một suy tư đang được ánh trăng thanh lọc khỏi những nứt rạn khô khan, cằn cỗi, gượng ép của tư tưởng mà trở thành dòng suối tâm thức tuôn chảy không ngừng.

Nhiều đêm nằm thao thức, nghe bài ca đi về xuôi ngược dội vào tim, tôi như trực cảm rằng trong bước đầu sáng tạo, Sơn đang từ trong giảng đường đi ra, vừa đi vừa làm một tiểu luận về – nghe buồn cười nếu tôi nói tiếp, Hữu Thể và Thời Gian của Heidegger và Nhìn Những Mùa Thu Đi là một bài tiểu luận về ý niệm thời gian mà TCS đã điểm nhãn bằng giai điệu rung cảm của Huế và của tất cả những gì đã diễn biến và lưu lại trong lòng của mảnh đất đã biến thành vùng khổ nạn kể từ năm 1963.

Tình Huế

Ở Huế có lẽ có một mối tình thủy chung duy nhất không bao giờ tàn phai, đó là tình yêu cảnh Huế của người Huế, như núi Kim Phụng mãi mãi đứng đó mà yêu hoài sông Hương bạc tình chảy xuôi, sông núi đã un đúc mối tình keo sơn của ngưới Huế với cảnh vật quanh mình ngay từ khi nằm trong nôi nghe mẹ hát “ru con cho tới làng Hồ…” “thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Long…”, hay “ru em cho thoét cho muồi, để mẹ đi chợ… mua vôi chợ Quán chợ Cầu, mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh”.

Huế có lẽ là thành phố duy nhất trên quả địa cầu có cả núi và sông nằm ngay trong lòng, để cho người Huế dù cho đi xa mấy mươi năm, mấy mươi nghìn vạn dặm vẫn cứ mỏi mòn mong ngày trở lại dòng sông, trở về với núi.

Và tình nhớ Huế hầu như trở thành một cơn “mê chiều” của cảnh thức Huế lan khắp năm châu bốn bể từ Cali cho đến Sidney cho đến Paris cho đến Muenchen, Saigon, Hanoi, và ở nơi đâu khác nữa trên địa cầu có mặt người Huế, hiện tượng Nhớ Huế như một khủng hoảng căn niên của Huế hôm nay, và trong giờ phút đứng ngay trong lòng đất Huế chính tôi cũng thấy như mình đang đứng trong một bức tranh vẽ một người đang nhớ Huế… Vườn cây, hoa lá, nắng mưa, mây gió, cảnh chùa đã ôm ru thời thơ ấu và tuổi niên thiếu của mỗi con người Huế, đã uốn nắn trong tâm thức sức nhạy cảm của người Huế trước thiên nhiên, đã trở thành những âm vang gợi cảm trong suốt cả đời người mỗi khi nghe mưa rơi, nghe lá đổ, nhìn nắng lên hàng cau, nghe hoa bưởi bắt đầu lên hương trong khu vườn buổi sáng…

Huế bốn mùa đã đưa chúng tôi quanh quẩn đi những con đường Thành Nội, Đông Ba, Ngự Viên, Lê Lợi, Bến Ngự, Nam Giao, An Cựu, Vĩ Dạ, Kim Long, Linh Mụ, Tịnh Tâm, Đại Nội… Những cuộc đi dạo thơ thẩn trên những con đường nhỏ, thường là đi bộ hay đi xe đạp chậm rãi – cuộc sống ở Huế dạo ấy không có cách chi khác hơn là chậm rãi, từ từ, thong thả, hình như song song với đi học, đi dạo là một thứ giải trí không thể thiếu trong thời khóa biểu của mỗi một người Huế ở thị thành.

Đi dạo, đi bộ, đi lang thang vì thế đối với chúng tôi đã là những cuộc hành thiền ngẫu nhiên, ở đó mỗi viên sỏi trên đường đi, một dòng nước nhỏ sau cơn mưa, mỗi chiếc lá rơi tan tác trên đường, mây chiều lãng đãng trên sông, nắng le lói trên vỉa hè, sự yên tĩnh của vườn cây, một đóa hoa vừa mới nở, một tiếng chim kêu, đã là những tín hiệu về cõi đời, về ý nghĩa của thân phận làm người, về sự phù du của thời gian và về ý nghĩa của sự đợi chờ, về tình yêu… Và mỗi cuộc đi, bên cạnh những sôi nổi ồn ào của tuổi trẻ, thường có những bước lắng nghe, chìm đắm trong cảnh vật, đã có những chiêm nghiệm trước núi và sông, “con chim nó đậu cành tre, mưa nắng ở trọ bên trong mắt người”.

Ca khúc của Sơn, nhất là ca khúc tình yêu, thường đã mang nặng cảnh thức Huế như một nguồn sống cho ý thơ và âm điệu.

Cho nên khi nghe nhạc của Sơn, người nghe nhất là người Huế thường có cảm giác mình đang đi trên một con đường nào đó ở quê hương, hay đang ở trên đường đi trong cơn mưa “thì thầm dưới chân ngà”, trong “mùa hạ khói mây” hay “mùa đông vời vợi”, để đến thăm người yêu, chỉ đến một thoáng rồi đi, chỉ để nhìn mặt hay không nhìn mặt người yêu rồi quay trở về trên đường sỏi đá bên khúc sông Bến Ngự, để vùi trong cơn sốt thương yêu “gọi thân hao gầy, gọi hồn ngất ngây”.

“Diễm xưa” là mối tình đầu của Diễm Xưa – sau Ướt Mi một thời mê say giang hồ, Diễm Xưa đã trở thành ca khúc tình đầu của Sơn và “Diễm” đã trở nên một huyền thoại “Xưa” như chuyện Từ Thức gặp tiên, như một câu chuyện tình cổ lụy cho đời và cho cả chính Sơn.

Tình yêu đã đến với Sơn như một huyền thoại bất ngờ, như một cơn mưa đến từ cõi hoang sơ rơi trên tháp cổ, nên thật bàng hoàng. Có lần Sơn bảo, con gái Huế yêu thật lạ lùng, trong cơn đau vẫn trốn mẹ, tung mền mặc áo mưa băng qua cầu chạy như bay đến để chỉ đặt một trái cây hoặc một bông hoa trước cửa, không cần gặp người yêu, rồi ra về. Để cho người con trai sững sờ, ngạc nhiên và lặng người trong nỗi nhớ nhung “buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua, trên bước chân em âm thầm lá đổ, chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa”… nỗi nhớ vết chim gi, bay qua vùng đất rộng, ước sao bờ sông Bến Ngự nối liền. “Chiều này còn mưa sao em không lại, nhỡ mai trong cơn đau vùi làm sao có nhau… hằn lên nỗi đau, bước chân em xin về mau”. Diễm ơi, Sơn ơi, những mối tình ở Huế !

Tôi nghĩ rằng không ai cả ngoài “Diễm xưa” vẫn luôn luôn là bóng dáng người tình trong những tình khúc TCS. Trong Như Cánh Vạc Bay, Quỳnh Hương, Tình Nhớ, Hạ Trắng, Mưa Hồng, Gọi Tên Bốn Mùa, Tình Sầu v.v… vẫn thấp thoáng những nét đan thanh, chấm phá của Diễm: mảnh khảnh đến gió thổi bay, vai gầy guộc như đôi cánh cò (chúng tôi thường chế diễu nhau như thế), tay gầy lêu khêu, nét xanh xao, mái tóc rối quăn ôm gương mặt trái xoan nhỏ nhắn, bóng dáng chợt đến chợt đi chợt ẩn chợt hiện như trong Liêu Trai, dáng điệu thì yếu đuối như lúc nào cũng có thể ngất đi, nhưng trong lòng thì đầy cả đam mê bão táp.

Cái hình ảnh mảnh mai ẻo lả, lãng đãng như gần như xa, như có thực mà như không có thực ấy, khác hẳn với các khuôn mặt tình và khuôn mặt đẹp theo ước lệ trong những ca khúc tình yêu thường nghe, vẻ đẹp hao gầy mong manh trở nên nguồn cảm hứng không ngừng trong ca khúc tình yêu của TCS, xúc cảm từ một cuộc tình đam mê, trong trắng, mối tình học trò ngây thơ đầy hương sắc và ánh sáng mà Sơn chưa kịp nhận được thì đã thoáng bay.

Nếu tình yêu cảnh Huế keo sơn bao nhiêu thì tình yêu của người con gái Huế lại càng phù du như đám mây trời, như cơn mưa mùa hạ bấy nhiêu. Hình như là một thông lệ cho những người yêu nhau ở Huế: yêu ai thì rất mực yêu ai, nhưng khi tính cuộc trăm năm với người nào thì cha mẹ hay tiếng nói của mẹ cha đã nằm sẵn trong tiềm thức của mỗi người quyết định, và thường khi quyết định một cách thực tế là không lựa chọn người mình yêu, dù “nỗi lòng anh đầy” nhưng “lời ca anh nhỏ” bé đơn sơ quá cho nên ước mơ “ngày nào mình còn có nhau xin cho dài lâu” đã phôi pha để chỉ còn “Này em em hãy phụ người, này em xin cứ phụ tôi” “em cứ phụ đời” bởi vì trời đã sinh ra con gái Huế là để “yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau” (Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Ai bảo Sơn không khổ vì yêu, thứ tình “mật ngọt trên môi” trở thành “mật đắng trong đời”? Cho cả cuộc đời, suốt cả bốn mùa mưa nắng “đôi khi thấy trong gió bay lời em nói, đôi khi thấy trên lá cây ngày em đã xa tôi”. Có khổ tận trong tình yêu, có đạt đạo trong nỗi khổ mới thể nghiệm được nghĩa vô thường của “yêu là chết” và có thể đồng cảm với niềm vui và nỗi khổ của những ngưòi đang yêu. Trong tất cả ca khúc tình yêu của Sơn luôn luôn có tấm tình riêng chia với tấm tình chung, như đã “yêu em” thì “yêu thêm tình phụ”, như “trên lá khô” chảy ra “dòng suối” tình yêu không tuyệt vọng…

Và đền bù lại cho những mối tình mây nổi, đã có tình bạn hữu thật chí thiết, đưa vai hứng đỡ những cơn tuyệt vọng chết người “đừng tuyệt vọng, ai ơi đừng tuyệt vọng!” “Bạn bè ở Huế thương nhau lắm, một đứa vợ la chín đứa kinh”, có một nhà thơ nhận xét như vậy sau này. Cô đơn vì người tình hờn dỗi lắm khi không cô liêu bằng khi “bạn bè rời xa chăn chiếu”. Và khi bạn yêu người nào thì hình như mình cũng yêu người ấy, khi bạn thất tình thì mình cũng đau khổ không kém gì nỗi đau của bạn. Trong những lúc Sơn lụy vì tình, đã nhiều lần thay bạn đi thuyết khách, giải thích, hóa ra ai yêu nhau ai giận nhau thì bạn bè đều mau mau đứng ra chịu trận như chính mình là người trong cuộc. Và chính Sơn cũng đã tâm sự với tôi như thể tôi cũng là người trong cuộc của hai người. Sơn ơi, người trong cuộc hay người ngoài cuộc, ai bỏ đi ai ở lại với tình, ai buồn hơn ai ?

Trong rất nhiều tình huống của những năm sáu mươi ở Huế, Sơn thường đứng ngoài cuộc, trong lúc chúng tôi dấn thân trong vòng khổ nạn của Huế 1963, nhưng mãi đến hôm nay mới biết được – dù hãy còn mơ hồ – người trong cuộc hay người ngoài cuộc, ai sầu ai thảm, ai thương ai cảm hơn ai, và tình bạn hữu đã khắn khít như thế nào giữa người đứng trong và người đứng ngoài hàng rào dây kẽm gai.

Mái Chùa

Đối với người Huế, và đối với chúng tôi, yêu cảnh Huế hầu như cũng đồng nghĩa với yêu cảnh chùa ở Huế. Hình như trong tất cả những lần đi ngoạn cảnh hay đi lang thang ở Huế, vô tình hay hữu ý nơi đến cuối cùng thường là bước vào cổng chùa, đứng nghỉ nắng hay chờ tạnh mưa dưới mái tam quan hay vào xin một chén nước chè tươi đỡ khát hoặc một chén trà ướp sen cho ấm lòng, tiện thể vào chiêm ngưỡng tượng Phật, thắp hương cho vị tổ sáng lập chùa, thăm thầy trụ trì, nghe một câu chuyện thiền trong một không khí ít lời, thong thả, mát dịu.

Thế rồi bóng nắng mời gọi, hoa trái trong vườn mời gọi, cỏ cây trong sân mời gọi là chân bước theo chân, là mắt đưa theo mắt, là tai chìu theo tai, ngẩn ngơ trong vườn sắn, vườn chè, rừng cây cổ thụ, nơi hồ sen, nơi tiếng ve kêu, nơi chùm khế sây trái, dừng lại nơi lá xanh reo, nơi suối róc rách, nơi hoa sen nở, nơi hoa mộc thơm hương – dù chỉ một vài giây vô niệm, không chủ ý – nhưng cũng đủ để thể nghiệm sự tĩnh lặng thường còn trong vạn vật, ở đó thong dong đi về không còn ngăn cách là thấy và nghe, cảm và nghĩ, xúc giác và khứu giác trong một toàn thể bao hàm tất cả những mâu thuẫn của sự trôi đi và dừng lại..
Buổi dừng chân có thể chỉ đủ để bóng nắng nghiêng trên triền đồi hay cơn mưa vừa tạnh hạt, nhưng cũng có thể để ngả lưng đợi giờ tắt cơn nắng gắt hay cơn mưa dai dẳng chưa dứt, để thấy hơn một lần hư không là nắng và vô thường là mưa.

Hay nhiều khi có thể lưu lại chùa vào một đêm trăng sáng, nghe tiếng hòa điệu rộn ràng của trăm thức hương lồng bóng nguyệt hay cảm được tiếng kinh Phổ Môn cầu an tẩm ướt ánh trăng thấm đượm thân thể như giọt nước cành dương, rồi bỗng chiêm nghiệm được trong khoảnh khắc tiếng yêu đương và tiếng yêu người cũng chỉ là một, “yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ”.

Có lẽ trong tất cả những người thanh niên trẻ của thế hệ chúng tôi, Sơn là người đã bắt gặp được sự đốn ngộ bất ngờ ấy sớm hơn ai cả, không phải nghĩa “sớm” của “trước sau” mà là đã “từ bao giờ” không ai hay – trong vòng tay của người mẹ mộ đạo Phật ru đứa con đầu lòng, của gia đình thành tâm thương Phật anh em có nhau khắn khít, của cả mấy đời người Huế thương chùa, của cả mảnh đất thần kinh thâm u miệt mài hai chữ tu tâm – nên đến bây giờ, chỉ cần một chút “run rẩy” của lá là đã chuyển động “Phật tâm viên tròn thể tánh” trong ý nghĩa đơn giản nhất: chứng ngộ, thấy được chữ “thương ai” (ta và người= từ bi) viết đậm nét trên chiếc lá “hư không”.

Mỗi ca khúc của Sơn vì thế – như ít có nơi những kẻ đi trước và những người đồng thời với Sơn trên lãnh vực âm nhạc – có thể nghe và cảm nhận như những công án thiền về cuộc đời, mà mỗi câu hỏi siêu hình về nó đều bị trả đũa bằng một hay hai điều tầm thường, vớ vẩn trong chính cuộc đời ; ở đó chữ nghĩa mất hết tính cách ước lệ, qui luật văn phạm, sự vô nghĩa nằm sát bên có nghĩa. Có ai không bất ngờ khi nghe câu hỏi đạo đức “Sống trong đời sống phải có một tấm lòng, để làm chi em có biết không?” được Sơn phổ thành bài ca với câu trả lời: “Để cho nước cuốn đi”, cũng chẳng khác chi công án thiền: “Ý nghĩa thật sự của Bồ Đề Đạt Ma đi về phương Đông là gì?” Trả lời: “Cây trắc bá trong sân!” Trong bài ca, vô nghĩa đứng cạnh có nghĩa mà vẫn không nghịch lý, người nghe không thấy chõi tai mà ngược lại cảm thấy cảm xúc lăn tròn theo tiếng hát, và trong chuỗi âm thanh theo đuổi nhau, mọi nghịch lý, phi lý làm cho con người nghẹt thở của một Sisyphus hì hục lăn tảng đá cuộc đời đều được giải tỏa bằng một hơi thở dài trút hết ưu phiền của tiếng hát lênh đênh.

Mỗi tiếng mỗi chữ trong các ca khúc trở thành những đơn thể của tâm thức trong tính cách hiện sinh duy nhất, tràn đầy sinh động của chúng đã được Sơn xử dụng một cách sáng tạo như những phương tiện “tiếng vỗ của một bàn tay”(3) nhằm đánh thức âm hưởng nội tâm của mỗi người nghe, từ đó người nghe có thể đưa thêm vào bàn tay của mình để gây âm thanh cho chính cảm xúc của mình. Và tiếng ca, từ những cọng lá khô không lời, những viên sỏi vô tri im tiếng, bỗng xôn xao “cây lá vào mùa”, bỗng lao xao sóng vỗ bờ xa…

Những ý niệm, những ngôn từ trong đạo Phật – hư vô, hư không, cõi tạm, vô thường, cõi đi về, tiền kiếp, từ bi… thường được xem như những món “cơm chay” khắc khổ, đã được Sơn hóa giải rất tài tình trong lời ca theo nguyên tắc suốt cả 49 năm Phật không thuyết một lời nào, bỏ hết tất cả những chất khô cứng đóng khung của ngôn ngữ dù đó là lời kinh, chúng được lắng nghe và linh cảm trong bản chất âm giai nội tâm đối đãi nguyên sơ nhất của chúng. “Tôi đã lắng nghe im lặng dòng sông… tôi đã lắng nghe im lặng ngọn đồi… tôi đang lắng nghe im lặng của tôi… tôi đã lắng nghe im lặng thở dài”. Bài hát sâu lắng như một buổi toạ Thiền quán sát hơi thở.

Hư vô, cõi tạm do đấy được xử dụng như tiếng thô “đục” của mõ và “thanh” bổng của chuông, hai phương tiện của nghe kinh ngộ đạo đơn sơ nhất, căn cứ vào tầng rung cảm âm thanh bẩm sinh của mỗi con người, nói nôm na là tiếng lòng của mỗi người mà âm vang của tiếng mõ và tiếng chuông có thể làm nở “đoá hoa vô thường”, có thể chở ta ra đi viễn xứ và mang chúng ta trở lại quê nhà.

Có thể nói tính cách tân kỳ của ca khúc TCS nằm ở chỗ trong khi Sơn chuyển ý niệm sắc không vào âm nhạc, Sơn đã làm mềm chúng bằng cách dựa vào giai từng cơ bản đối đãi giữa giải thoát và cõi trần cát bụi, trong tương quan chuyền qua đối lại giữa đục – thanh, trầm – bổng của mõ và chuông, từ đó tùy tâm mà chuyển đổi và ứng dụng tất cả những phương tiện khác của âm nhạc – tứ đại cảnh, ru em, hò hay điệu blue buồn hoặc điệu soul của phong trào tân nhạc Âu châu chẳng hạn, để sáng tạo nên thể cách riêng tư của mình. Trong tất cả dòng chảy của âm nhạc TCS, sự tĩnh lặng thoát ra từ âm thanh “chuông mõ” luôn luôn làm nền tảng cho sự cảm nhận nét nhạc của mỗi bài ca, dù cho bài ấy có dồn dập đến đâu.

Chính nhờ nguyên tắc đối đãi, mà lời và nhạc của Sơn luôn luôn biến chuyển không ngừng, trong nắng hư vô đã thấy tóc em dài, đường xa áo bay, và lời ru của mẹ lời ru cho em thường dẫn ta đi vào cõi đời thường như một cõi đời mộng, để cho mộng thực luân lưu trong nội tâm quyện tròn thành một lời êm dịu như tiếng kinh dỗ dành giấc ngủ.
Có thể so sánh sức mạnh sáng tạo trong thơ nhạc của TCS với một công án của Hakuin, thiền sư và họa sĩ ngộ đạo nhất của Nhật Bản:

Tay không mà có cầm cán mai
Đi bộ mà ngồi lưng trâu
Người đi qua trên cầu
Cầu trôi, nước chẳng trôi!

Cái cầu cố định hóa mềm dưới chân, nỗi ưu tư hóa mềm trong tiếng du ca. Trong cái nhìn của người nghệ sĩ, năm căn hay lục căn được cởi bỏ mọi giới hạn, để chỉ còn tự do sáng tạo, ở đó nghe là nhìn “đôi khi thấy trong gió bay lời em nói”, ngửi là nghe, vị giác cũng là nghe, “tôi đã lắng nghe im lặng mặt người”, mà Hakuin (Thiền sư Bạch Ẩn) gọi là phạm trù “kikan” của mỗi công án, phạm trù của cơ cấu mềm dẻo và tự do. Trong cái nghe sáng tạo, tiếng rơi thô kệch của hòn đá rớt xuống cành mai bỗng hóa thành tiếng chim ca thánh thót hát khúc qua đời ! Đứng dưới mái chùa, TCS đã trả lời Sisyphus bằng một công án như thế!

Một Niềm Vui, Một Giọt Nước Mắt

Trong tất cả các bài hát của Sơn, có một bài duy nhất mà tôi ít thích nghe cũng như ít thích hát, đó là bài Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui sáng tác sau 1975. Không phải vì âm điệu buồn tẻ hay lời ca không hay, nhưng vì mỗi khi nghe hát bài này tôi lại nhớ đến Sơn của lần gặp lại năm 1977, khi tôi trở về Huế thăm nhà sau 12 năm du học.

Trở về Huế sau mười mấy năm xa cách, tôi đã gặp lại một Huế thật là – người Huế thường chỉ tình trạng này bằng bốn chữ tả chân…”xanh xương mét máu”, một Huế đang giật mình, một Huế đang run sợ kinh hãi cho ngày mai, bên cạnh một Huế rất nghèo, rất khổ. Đi trên đường phố ít ai ngẩng đầu lên, có trao đổi một nụ cười với ai thì nỗi gượng gạo nơi người ấy đã ngăn vành môi bên kia không cho cười hết miệng.

Khác hẳn với một Huế ngày trước mà mỗi nụ cười là ánh sáng thân hữu hiếu khách, mà mỗi cái nhìn có phản chiếu sự trong trẻo của nước sông Hương trên khúc sông Linh Mụ mời gọi tha nhân đi sâu vào một câu chuyện mới làm quen, Huế 1977 mà tôi gặp lại là một Huế lơ đãng, sầu hận và nghi ngờ, một Huế bị phá sản hết mọi thiết tha.

Hãi kinh và ngơ ngác đọng trong mắt, trên nét mặt của mỗi người những vòng sâu thâm quầng. Lần trở về Huế năm ấy cho tôi một nỗi bơ vơ còn hơn những nỗi bơ vơ ở xứ người, vì đâu đâu hình như ai chẳng tin ai, ai cũng nghi ngờ lẫn ai, ai cũng oán hờn với ai, ai cũng sợ ai.

Chỉ có một niềm vui duy nhất: gặp lại gia đình và gặp lại bạn cũ. Trong khoảng thời gian mấy mươi ngày ở Huế, Sơn là người bạn đến thăm tôi nhiều lần nhất. Khác với ngày trước thường đi bộ ba, bộ bốn, lần này Sơn đến một mình. Vẫn dáng người gầy, mũ caskette nâu như năm nào, gọng kính trên mũi thanh, ánh mắt thân thiện như chưa bao giờ có một khoảng trống vắng trong tình bạn. Chúng tôi kể cho nhau nghe những điều đã làm đã học trong mười mấy năm không gặp.

Tuy xa nhau rất lâu, nhưng hình như lúc nào Sơn cũng có mặt không những chỉ cho riêng tôi mà cho thế hệ chúng tôi, ở những nơi xa xôi nhất như cái thành phố Âu châu mà tôi đang ở. Nhạc tình, nhạc về chiến tranh và hòa bình của Sơn trong những năm trước 1977 đã nở rộ và âm vang đến cộng đồng người Việt khắp năm châu. Ở nơi quê người chúng tôi đã hát nhạc của Sơn như nỗi ưu tư của mình về số phận của đất nước và con người Việt Nam, về nỗi khổ chiến tranh, về khát vọng hoà bình.

Khác với những ca khúc khích động xuống đường thời ấy như “dậy mà đi”, “cỏ cú”, ca khúc về cuộc chiến của Sơn thường gây ý thức, đặt vấn đề hay trình bày vấn đề, hoàn cảnh, số phận để mỗi một người chúng ta lấy quyết định mà hành động. Và khi đã lấy quyết định rồi thì tự mình gánh lấy trách nhiệm của mình, chứ không thể đổ tội cho bài ca. Bởi thế tôi nghĩ rằng những trách cứ về Sơn, buộc tội Sơn có hơi vội vàng do sự ngộ nhận bản chất thật sự của những ca khúc TCS mà có lẽ trong một dịp khác phải được phân tích và đánh giá lại một cách trung thực.

Trở lại 1977. Cả một công trình sáng tác nhạc mười mấy năm đang bị đe dọa phải chối bỏ, kiểm soát, tự phê bình, Sơn đã tâm sự với tôi nỗi khó khăn cho một người nghệ sĩ trong hoàn cảnh chế độ xã hội chủ nghĩa đang được thực hành trong tính cách tuyệt đối, khai trừ mọi ý kiến khác biệt. Đã kể cho tôi nghe những buổi “đi thực tế”, những lần phải viết bài tự phê bình về tác phẩm của mình, và Sơn bảo, họ không đồng ý với mình nhưng họ bảo mình viết rất hay. (Không biết những tài liệu ấy ngày nay có còn không?) Tôi đã ngạc nhiên trước những nhận xét sắc bén của Sơn, mà hồi trước vì thấy Sơn ít nói, tôi cứ đinh ninh là Sơn đơn giản.

Sơn đã chạm mặt với hai vấn đề: ý thức con người trong Xã Hội Chủ Nghĩa và lý thuyết Mác-xít. Vấn nạn thứ nhất làm cho một người nghệ sĩ chân chính phải kinh hoảng là sự không thành thực với chính mình – thành thật với chính mình là điều kiện tiên quyết cho sự đạt đạo trong sáng tác nghệ thuật. Trong hai năm trường Sơn đã chạm mặt với một hiện tượng mà Sơn gọi là nhị trùng bản ngã – danh từ lần đầu nghe ở Sơn, bên ngoài nói một đằng mà bên trong nghĩ khác, mà cả hai, bên trong và bên ngoài đều được chủ nhân của chúng tưởng là đúng một cách giáo điều như nhau, chứ không phải một mặt đúng thì mặt kia phải sai, không, giáo điều là sự tin tưởng cả hai thứ sai đều đúng !

Vấn nạn thứ hai là sự tò mò siêu hình cố hữu, Sơn hỏi tôi ở Âu châu đã có triết gia nào dùng lý luận để bác bỏ lý thuyết Mác-xít một cách toàn diện, tương tự như Marx đã phê bình Hegel. Câu hỏi thắc mắc triết học này đã biểu lộ nỗi lo âu trí thức của một người nghệ sĩ thức tỉnh. Không băn khoăn lo âu sao được khi ở đâu cũng bị vây quanh bởi những bích chương giáo điều quá vĩ đại và hằng ngày phải điểm tâm bằng những buổi phát thanh ca ngợi chủ nghĩa như kinh nhật tụng và những buổi học tập lý thuyết Mác-Lê loại trừ mọi phê phán ? Lo âu cho sức sáng tạo của mình bị tắt nghẽn khi phải đánh đổi sự yên tâm trí thức về chân lý bằng quyết đoán giáo điều nông cạn và hời hợt.

Một lần khác trong một cuộc đi xem triển lãm tranh tại Huế, Sơn chỉ cho tôi một bức tranh hiện thực được giải nhất, vẽ cảnh công nhân cùng với mọi tầng lớp nhân dân đang lao động, người nào cũng vai u thịt bắp mặt mày hồng hào, em bé thì bụ bẫm. Nỗi khổ của nghệ sĩ miền Nam nằm ở nơi “người người hồng hào, em bé bụ bẫm” ấy! Vì nếu vẽ hiện thực thực sự thì chỉ tìm thấy thực tế “đói dơ xương” đầy rẫy. Phải sống trong một ảo tưởng lạc quan nào đó mới có thể vẽ hay hát hiện thực “mơ mộng ngây thơ” trong hoàn cảnh Việt Nam thời ấy. Cho nên không vẽ được, không sáng tác được. Cho nên khổ !

Không có bài hát nào của Sơn trong quá khứ được ban giam khảo văn học nghệ thuật thời ấy cho lọt sổ. Nhạc Sơn bị cấm phổ biến.

Sáng tác theo chiều hướng qui định đó như một cực hình, mà không sáng tác – lẽ sống của người nghệ sĩ, thì như cây giữa mùa xuân rụng lá. Trong một hoàn cảnh như thế Sơn đã chọn lựa sáng tác và bắt đầu lượm từng chiếc lá xanh vừa rụng xuống chắp lại lên cành với bài Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui.

Trong đêm họp mặt bạn bè cũ nhân cuộc trở về Huế của tôi (hôm ấy có mặt bộ ba của thời trước – Sơn, HPNTường, Đinh Cường) và những bạn cũ, cùng một vài khách mới, Sơn đã hát cho chúng tôi nghe ngoài những bài hát cũ, bài hát vừa mới sáng tác nói trên. Về âm điệu và lời ca, thoạt nghe, thì cảm thấy bài hát thật là bỡ ngỡ nếu được nhìn trong toàn thể ca khúc TCS.

Đến 1977 ca khúc TCS đã lớn mạnh và đạt đến trình độ tinh luyện, xuất thần về âm giai cũng như về ý nhạc, cho nên khi nghe Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui tôi có cảm tưởng đau đớn là Sơn đang tập đi lại những bước nhạc ấu trĩ trong sự nghiệp ca nhạc của mình, như “kìa đàn vịt ngoi dưới ao hồ” hát hồi lớp Năm, đang phải quên tình sầu, tình nhớ, mưa hồng, cõi tạm để hiện thực trong những niềm vui không có thực, đang phải tập đi những bước đoạn trường để qua cái cầu Xã Hội Chủ Nghĩa.

Và không những chỉ Sơn, tất cả những nghệ sĩ miền Nam đều đã phải trải qua cay đắng ấy, trong khi họ gần nửa đời người sáng tác, họ phải bắt đầu lại từ đầu với một cảm giác đang bị cặp mắt của ban kiểm duyệt văn hoá quan sát ở sau lưng.

Ai nói Sơn ca ngợi niềm vui (trong lúc mọi người đang buồn đang đói) trong bài hát này? Người ấy đã nghe quá vội, chỉ nghe chữ “vui” mà không nghe chữ “chọn” đi trước. Ai vui thì nói tôi vui như bài “vui ca lên nào anh em ơi” còn một người đang ngồi “chọn” niềm vui thì người ấy chưa vui, bởi vì trong lúc chọn, “cái vui” còn là một đối tượng bên ngoài chứ chưa phải là niềm vui bên trong, cái vui nghẹn ngào, mới chỉ là một nửa, mới chỉ là “vui gượng kẻo mà” đó thôi. Âm hưởng của chữ “vui” sau chữ “chọn” nghe như có vết lăn của giọt nước mắt không nức nở của nàng Kiều !

Trong hoàn cảnh bấy giờ có người bảo không thể tìm ra một niềm vui nào cả và trách Sơn tại sao có thể xa thực tế, đi nói chuyện vui trong lúc cả nước khổ, ngược lại đài phát thanh Huế ngày nào cũng kể ra hàng vạn tin vui, và người ta trách Sơn sao chỉ chọn một niềm vui, và chọn một con đường để đi, trong lúc vui đã có và đường đã sẵn ?

Trả lời chất vấn thứ hai, Sơn hát “tôi chọn một niềm vui” ấy là thái độ tích cực đó chứ, tích cực nhưng không giáo điều vì sự chọn lựa là của tôi và như thế tôi trung thành với tôi, trả lời chất vấn thứ nhất, Sơn cho thấy sự bất bình thường của việc đi chọn một niềm vui như đi lựa một chiếc áo chưa mặc, như đi mua vé xem hát mà chưa đi. Trong Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui vẫn có chữ vui, nhưng là nỗi vui được chọn lựa trong cảnh ngộ “dùi mài một thân” của người nghệ sĩ phải tìm một niềm vui để sống, phải chọn một con đường để đi giữa “gió trúc mưa mai”, chọn và tìm cho được mỗi ngày một niềm vui thật sự giữa những niềm vui nhị trùng bản ngã không phải là dễ.

Và niềm vui mà Sơn kể ra lại không dính líu chi với những niềm vui loan ra của các đài phát thanh của cả nước thời bấy giờ cả, mà là những niềm vui tìm được trong cảnh thức Huế đã ghi đậm một thời: những bông hoa, những nụ cười, “tôi chọn gió trời mời em giữ lấy”, chọn tiếng ru con để chờ nắng đầy, chờ cơn mưa tới và “nhìn gió quê hương ngồi nghĩ đời mình”.

Tôi nhớ nàng Kiều trong “Nỗi lòng đòi đoạn xa gần, chẳng vò mà rối chẳng dần mà đau” đã nhớ về quê cũ với những kỷ niệm đầm ấm khó quên như một niềm vui an ủi cho hiện tại và cảm được tâm trạng của Sơn trong những năm sau 1975 một phần nào: Chọn ở lại trên mảnh đất quê hương như là một nhu cầu tất yếu của người nghệ sĩ – có con ve nào hát được tiếng hát trung thực của nó khi bay khỏi vùng đất mà nó vừa thoát xác ? – Chọn cho được một con đường riêng cho mình để sáng tác mà không phản bội với chính mình. Chỉ với những niềm vui trong “giấc hương quan” mà đó là “gió quê hương” của tâm thức Huế, tác giả của Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui khi “nghĩ lại đời mình” đã tạo cho cuộc đời mới của mình một mảnh đất sáng tạo dù cho hạn hẹp, ở đó anh có thể chọn một niềm vui như một thứ tự do dù cho chỉ là khoảnh khắc phù du như gió, như mưa, như nắng nhưng lại trung thực với con tim, bởi lẽ “đất nước đang cần một trái tim” trung thực như thế.

Ngày rời Huế lúc chia tay Sơn đã đem đến tặng ba bài hát viết tay trên trang giấy học trò – hồi ấy giấy viết tốt hầu như không có, bài hát nói trên, và hai bài Con Chim Nó Đậu Cành Tre, Em Đi Qua Chuyến Đò hai sáng tác mới phối hợp điệu dân ca và nhạc soul mà Sơn rất đắc ý. Hành lý mang theo hôm ấy là tình bạn hữu và một nỗi xao xuyến lo âu cho người ở lại. Ở nơi xa mỗi khi nghe ai hát những bài hát ấy tôi lại thấy xót xa với niềm vui như một giọt nước mắt khô không chảy ấy.

Trong những năm kế tiếp, sau một khoảng thời gian bặt tiếng, nhạc của Sơn như một luồng nước ngầm chảy đến miền Bắc và chinh phục mọi tầng lớp thính giả, mặc dù bị cấm phổ biến, trong những chuyến xe đò từ Nam ra Huế, ra Bắc, du khách bỗng nghe ấm lòng khi nghe Tình Nhớ, Quỳnh Hương như cuộc trùng phùng bằng hữu bất ngờ, thấp thoáng, quấn quýt bên tai.

Tiếng hát TCS đã trở thành tiếng hát của mọi người. (Sự thành công của Sơn sau 1977 là việc nghiên cứu trong tương lai). Sơn thường bảo “đời đã đãi ngộ” Sơn đó, tôi thì nghĩ, không chỉ do thế, chính trái tim chân thật đầy đạo vị của Sơn đã gặp gỡ trái tim của mọi người dù Bắc hay Nam, hữu hay tả, đó là nguồn suối thành công của Sơn.

Trái Tim Trung Thực Từ Bi – Lẽ Sống Văn Hóa

Lần cuối gặp Sơn tại Sài-Gòn vào tháng 9 năm 2000, tôi đến thăm Sơn với ý định nhờ Sơn phổ nhạc cho vở kịch của B. Brecht do tôi dịch và Minh Ngọc làm đạo diễn. Một sự tình cờ, hôm ấy Thầy Tuệ Sĩ cũng đến chơi, lại nghe có Đinh Cường ở Mỹ về cũng sắp đến. Chúng tôi ba người ngồi nói chuyện với nhau đợi Cường, và một đề tài cố hữu lại được đề cập – một cách thoải mái, chuyện làm văn hoá tại Việt Nam.

Sơn nói với Thầy Tuệ Sĩ – hôm nay mới thấy là một ngẫu nhiên lạ lùng, như một kết luận cho hành trình ca khúc của mình: nên làm văn hóa và có thể làm văn hóa trên đất nước này, có thể sống văn hóa trên đất nước này miễn là mình vẫn trung thành với chính mình, với con tim của mình, với cảm xúc sáng tạo của mình, và với tình thương, thì sẽ thuyết phục được thiên hạ và có niềm vui. Rồi chỉ vào mình Sơn bảo: “Như Sơn!”, không một chút tự cao mà nhân hậu như một thiền sư đã chứng ngộ mọi sự khổ của cuộc đời, mọi nỗi vui của cuộc đời, với ly rượu cố hữu (khổ nạn và đam mê của Sơn) trong tay.

Tôi nghĩ đến cách thế cởi dép đội lên đầu mà đi của Thiền sư Triệu Châu(4), câu trả lời duy nhất có thể cứu sự sống qua bao nhiêu tranh luận ý thức hệ, bao nhiêu giáo điều chủ nghĩa, bao nhiêu sự chém giết đày đọa hận thù lẫn nhau mà Việt nam đã trải qua và thế hệ của chúng tôi đã trầm luân trong ấy.

Ngoảnh mặt lại nhìn thì đến bây giờ chúng tôi chỉ có TIẾNG HÁT TRỊNH CÔNG SƠN như tiếng của cõi lòng thế hệ 40 – 60.

Vĩnh Biệt

Ngày đưa đám Sơn, anh em ở Huế, một số vào Sài-Gòn, một số người ở lại Huế, trong đó có tôi. Nghe báo tin ra hàng ngày là đám tang sẽ rất lớn, người ái mộ đem hoa đến không kể xiết, bỗng chùn chân không muốn đi.

Ở lại Huế, hội văn nghệ tổ chức lễ truy điệu, bạn hữu, người ái mộ đến rất đông, nhưng cũng có người không đến. Hỏi tại sao. Trả lời, tui không tới, không đi mô hết, tui đã từng thao thức nhiều đêm với hắn ở trên chùa, thời nhỏ đã từng lăn lóc với hắn trong vườn dâu trong bụi sắn, chừ tui ở nhà tui khóc với hắn, tui nói với hắn là đủ rồi – một chiêu bằng hữu kiểu Huế kỳ quái! không phải khóc cho Sơn mà với Sơn, không phải điếu văn cho Sơn mà nói với Sơn trong nỗi “bạn bè rời xa chăn chiếu”. Ô hay, sao nỗi cô liêu bỗng vô tận thế này?

Ngày đưa đám Sơn, tôi đã đi lại những con đường ở Huế, đường qua Trường Tiền đường lên Bến Ngự, vòng xuống Ngự Viên, những con đường chúng tôi đã đi thời thanh xuân, bỗng vấp chân trên đường, hòn đá lăn rơi khô khan như tiếng đất rơi tiễn biệt trên một quan tài, những viên sỏi đá! một thời tuổi xuân! đã muốn nhìn vô tri đồng nghĩa với chữ TÂM, với chữ THƯƠNG!

Sơn ơi, nơi cõi “đêm chưa qua mà ngày chưa tới” trong kinh Bát Nhã có phải “ngày sau sỏi đá vẫn cần có nhau”!

Thái Kim Lan, 2001

Một vài kỉ niệm nhỏ về anh Trịnh Công Sơn

So với những người thật sự là bạn của anh Trịnh Công Sơn, tôi chỉ là người có may mắn được gặp anh vài lần. Mùa hè 1981, trong chuyến về thăm nhà, tôi được dịp đến sinh hoạt với nhóm các nhạc sĩ của thành phố, rồi từ đó được rủ đến chơi mỗi lần các anh tụ tập với nhau khi thì ở quán, khi thì ở căn gác của anh Sơn.

Tôi không nhớ rõ cảm tưởng thế nào khi gặp một người có cái tên đã đi vào huyền thoại của cả một thời. Chắc chắn là thích thú pha lẫn chút tò mò, rồi sau đó sự thiện cảm như đối với bất cứ người ” bình thường ” nào khác mà mình thấy dễ mến. Có lẽ sự dễ quen thuộc ấy cũng là vì chung quanh anh còn có các anh Trần Long Ẩn, Hoàng Hiệp, Phạm Trọng Cầu, đều là các nhạc sĩ nổi tiếng, người nào cũng vui nhộn và nói chuyện tự nhiên ngay từ lúc mới gặp. Những năm ấy Việt Kiều các nơi về được tham gia nhiều buổi sinh hoạt văn nghệ, mỗi lần về là lại đem trở sang các băng nhạc, sách nhạc. Dạo ấy đấy là một trong những con đuờng chính để phổ biến các bản nhạc thịnh hành trong nước khi các phương tiện của giới văn nghệ sĩ còn nghèo nàn và nguồn giao lưu còn ít ỏi.

Từ các sinh hoạt ” đại trà ” giữa Việt Kiều đến ” liên hoan riêng ” trong nhóm nhỏ các anh, tôi không nhớ dẫn dắt thế nào, chỉ nhớ là rất vui và tự nhiên. Trong mấy tuần ấy gần như ngày nào tôi cũng gặp các anh, lúc thì anh Trần Long Ẩn chở tôi bằng xe Honda đi khắp nơi, lúc thì cả nhóm đàn hát ở nhà anh Sơn. Tôi nhớ nhất mấy buổi trưa êm ả trên ban công của anh Sơn, chỉ có anh và tôi. Ngoài kia trời nắng gắt, xe cộ ồn ào, nhưng trong không gian nhỏ bé ấy, yên tĩnh và xanh mát với cây và chậu hoa, anh Sơn ngồi nhâm nhi uống rượu, tôi uống trà. Anh hỏi tôi về cuộc sống ” bên kia “, công việc làm, chuyện hội hè. Anh kể vài kỷ niệm khi đi chỗ này chỗ kia, vài giai thoại quanh sáng tác này, bản nhạc nọ. Khi tên tuổi anh nổi như cồn trong phong trào phản chiến, tôi còn bé, lại học trường tây, sống như trên một ốc đảo, nên tôi chỉ biết võ vẽ mà không thuộc nhạc của anh, mù mờ về những con người và sự kiện của thời ấy. Nhưng anh không kể về thời ấy, anh không thích nhắc lại chuyện ” đời xưa “. Có lần trong buổi đàn hát, một anh hát lại các bài phản chiến, anh Sơn lắc đầu bảo : ” Tôi chán hai chữ binh đao lắm rồi “. Lát sau lại vui vẻ giải thích vài câu trong một bài hát trữ tình khác.

Có lẽ vì cảm thấy một niềm u uất nơi anh nên tôi hay kể chuyện tiếu lâm cho anh. Anh cười lăn và sau đó bắt tôi kể đi kể lại cho các anh khác. Tôi nhỏ tuổi nhất trong đám, chỉ già hơn hai cô bé em của một anh bạn Việt Kiều khác, nên ba đứa được coi như em út, các anh rủ đi ăn nhậu, hát hò hay nghe bình thơ bình văn. Hai cô bé, người thành phố, rất dễ thương, mọi người gọi là Bê và Chà. ” Tại vì em đen như Chà Và đó chị ! “. Đen nhưng rất xinh. Hai cô quí các anh, thỉnh thoảng nấu nướng cho các anh nhậu. Bê bảo : ” Mỗi ông một tính. Anh Cầu thì thích ăn béo, nhiều thịt. Nấu cho anh Sơn thì phải thật thanh, ít mỡ. Vậy mà ảnh cũng ăn ít xịt.” Có lần cả đám kéo đến một quán ở Tân Định, ăn ở vỉa hè. Khi kêu trả tiền chủ quán bảo có người đi qua nhận ra các nhạc sĩ và đã kín đáo vào trả tiền đãi, ” đặc biệt đãi tặng Trịnh Công Sơn “. Anh Cầu cười tít mắt : ” Đi với Sơn hay được như vậy đó, khoẻ lắm, người ta ái mộ nó, mình được ăn theo “. Lần khác, không có ai ái mộ trả tiền, anh Sơn thanh toán xong nói : ” Thế là hết tiền nhà xuất bản rồi nhé. Lần sau đến lượt đứa khác đấy “. Các anh vẫn quen thế, ai có món tiền nhuận bút, tiền bản quyền nào đó thì đem ra đãi mọi người, chỉ vài lần là hết.

Năm ấy kinh tế còn khó khăn lắm, cái gì cũng hiếm và đắt đỏ, xăng dầu phải mua từng chai. Anh Sơn hỏi tôi ra phi trường bằng gì, tôi bảo chắc phải thuê xe, chưa biết ở đâu. Anh bảo ” Để anh đưa bằng xe nhà “. Gia đình anh Sơn vẫn có xe hơi đi lại khi nhiều nhà tiết kiệm cả xe gắn máy, đi xe đạp cho đỡ hao. Gia đình tôi lúc ấy còn ở trong nước, tôi hay về thăm nhưng mỗi lần ra đi vẫn buồn đứt ruột. Nhờ được anh Sơn chở ra phi trường hôm ấy, tôi chia tay với gia đình ở nhà nên bớt bịn rịn, lại tặng hàng xóm một sự lạ lâu rồi chưa thấy : một chiếc xe riêng đến đậu trước cổng, bóp còi toe toe. Tại Tân Sơn Nhất, nhờ anh Sơn tôi cũng được chóng vánh mọi thủ tục, ai cũng chỉ vồn vã hỏi han anh, phẩy tay cho tôi qua mọi cửa ải. Tôi cắp bức tranh anh đặt họa sĩ Đinh Cường, bạn thân của anh, vẽ tặng tôi, cám ơn anh và chia tay. Anh cười vỗ vai tôi bảo: ” Cố gắng thu xếp sang năm lại về, thăm gia đình, đến chơi với các anh “.

Những năm sau đó, khi về thăm nhà, tôi cũng thỉnh thoảng đến gặp các anh ở Hội nhạc sĩ. Nhóm các anh trụ ở căn nhà nhỏ phía sau, có khi gặp các anh ngồi túm tụm ngoài sân, có khi chẳng thấy ai. Những buổi tụ tập như trước rồi cũng không còn. Tôi còn đến thăm anh Sơn vài lần ở nhà nhưng anh như rút thêm sâu vào thế giới riêng của anh, và anh uống nhiều hơn trước nữa. Sự thong dong, nét phong lưu của anh vẫn thế nhưng anh như chìm thêm trong sự u hoài tuy vẫn nói cười vui vẻ. Không khí đã khác ở thành phố với những Việt Kiều khác, về nước trong tinh thần khác. Tôi cũng ít về hơn và không nhớ gặp anh Sơn lần cuối là năm nào.

Được tin anh mất hôm nay, tôi nhớ lại vài kỷ niệm nho nhỏ của 20 năm trước, gửi tặng anh giữa những câu thương tiếc, bày tỏ cảm phục của rất nhiều người, bạn bè xa gần, đồng nghiệp của anh. Trong một đời người, làm sao đếm được những khuôn mặt thoáng qua chung quanh mình mỗi ngày, không ai để lại dấu ấn gì cho ai khi không hề quen biết. So với những người thật sự biết anh, tôi chỉ như một người anh gặp trên xe lửa, nói một câu chuyện rồi lại mỗi người một ngả, giữa vô vàn sự gặp gỡ khác của đời anh. Nhưng khác với người ” bình thường “, anh để lại cho tôi nhiều kỷ niệm. Bức tranh anh tặng, từ 20 năm nay vẫn treo trong phòng tôi, và vẫn sáng đẹp như ngày anh Đinh Cường vẽ xong và đưa cho anh. Sáng đẹp như nơi anh vĩnh viễn ở và thả hồn theo nốt nhạc kể từ nay.

Đỗ Tuyết Khanh
01.04.2001

Anh Trịnh Công Sơn và tôi

Mùa hè năm 2000, tôi chưa có ý định về thăm lại quê hương. Nhưng vợ con và bạn bè cứ rủ mãi, nên cuối cùng tôi cũng quyết định về thăm gia đình và bạn bè một chuyến.
Không ngờ đó cũng là lần cuối gặp lại anh Sơn, đi hát cùng anh, trò chuyện, vui cười… Anh đã ôm tôi từ giã trong vòng tay gầy guộc của anh tại Hội Văn Nghệ TP HCM trước ngày tôi trở về Đức. Chúng tôi còn hẹn sẽ gặp lại nhau tại Toulouse, nơi mà các bạn Liêm, Hương, Đỉnh, Thủy, anh chị Hớn, Trần Bích Thủy, Nguyễn Thanh Vân… và rất đông bạn bè bên ấy đã nhiều lần mong đợi có dịp đón tiếp anh.

Giờ đây khi được tin anh mất, tôi sững sờ và quá xúc động. Thương tiếc và buồn bã khiến tôi không nói nên lời. Tôi biết rằng những người bạn trong anh em chúng tôi cũng đang âm thầm khóc anh. Anh Sơn ơi, anh đã đi thật rồi sao?

Tôi muốn viết thật nhiều về anh, nhưng biết bắt đầu từ đâu? Tâm tư tôi đang ngổn ngang nhiều nỗi, tôi không ngồi yên để viết được. Hôm nay, nỗi buồn đã thấm dần và lắng đọng, tôi mới yên tĩnh để bày tỏ những gì tôi nghĩ về anh.

Trong tâm trạng một người em đã có thời chia sẻ với anh những vui buồn, những cảm nghĩ vu vơ trong tình yêu, thân phận con người, quê hương trong giai đoạn khó khăn ngày ấy, lòng tôi bùi ngùi đau xót khi cảm nhận rằng mình đã thực sự mất anh…

Với tôi, anh Trịnh Công Sơn không chỉ là một người anh, một người thầy, mà còn là một người bạn rất dễ thương, mặc dầu anh lớn hơn tôi mười tuổi. Tôi chưa hề thấy anh bực mình, hoặc tỏ vẻ khó chịu khi tôi hát nhạc của anh mà có lúc quên lời, tôi “chế” ra theo cảm nghĩ của mình, và mỗi lần nghe được, anh chỉ mỉm cười khoan dung nhắc lại lời anh Trương Thìn đã nói: “Nhạc sĩ là người sáng tác, mà ca sĩ lại là người sáng tác lần thứ hai, phải không Thanh Hải?”

Rất tiếc tôi không về gặp được anh để cùng uống với anh ly trà từ biệt, vì nghe đâu trong những ngày tháng cuối của cuộc đời anh chỉ uống trà, theo như lời anh Sâm Thương kể lại: “Sơn không uống rượu nữa, chỉ được uống trà. Những bạn bè thân thuộc không nỡ để Sơn uống trà một mình, nên cũng đã ngồi nhấm trà cùng anh”…

Tôi sinh ra tại miền Trung, mảnh đất nơi tôi lớn lên cùng chiến tranh và nghèo đói. Giai đoạn cuối của những năm 1960, tôi cũng như bao nhiêu người thanh niên khác, sống trong khắc khoải lo âu của cuộc chiến, chán nản và tìm đủ mọi cách để trốn tránh. Rồi tình cờ một hôm trốn học, tìm một góc ấm cúng trong một quán café, nghe tiếng hát của anh Sơn và Khánh Ly qua cuộn băng Ca khúc da vàng, tôi đã tìm được cho tâm hồn mình một lối thoát. Tôi đã cảm nhận được những dòng nhạc của anh từ đó.

Tiếng hát và lời nhạc của anh thấm dần trong tôi từng ngày theo cuộc chiến, và cũng từ đó tôi thường ôm đàn hát những lời của anh, khi tiếng súng xa xa vẫn vọng về. ” Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe… Một buổi sáng mùa xuân, một đứa bé ra đồng, đạp trái mìn nổ chậm, xác không còn đôi chân, em thơ ơi chiều này trường học lại, trong sân chơi bạn và thầy im lời, bài học về yêu thương trên giấy mới, sao hôm nay nét mực đã phai? “… Ôi những lời nhạc tha thiết của anh, anh đã nói dùm tôi, nói dùm mọi người. Tôi không nghĩ rằng một ngày nào đó tôi sẽ đựơc gặp anh. Cuộc sống mong manh quá…!

Cuộc chiến cứ kéo dài mãi và đời sinh viên ở Sài Gòn mang nặng những chán chường.
Mùa xuân năm 1975 tôi về lại miền Trung mà lòng vui như hội, vì từ nay chiến tranh đã chấm dứt. Ước mơ hoà bình đã thành sự thật. Lời hát của anh vang vọng khắp nơi. Sau đó tôi trở lại Sàigòn và đi hát đó đây cùng các bạn.

Năm 1976 tôi gặp lại anh Phạm Trọng Cầu – người nhạc sĩ tôi quen trước đây tại phòng âm nhạc của viện đại học Vạn Hạnh – lúc ấy tôi đang sinh hoạt trong đoàn văn nghệ Vạn Hạnh dưới sự đảm trách của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Một hôm, không nhớ là ngày tháng nào, có lẽ duyên hội ngộ đưa đẩy, anh Phạm Trọng Cầu đã đưa tôi đến gặp anh Trịnh Công Sơn tại Hội Văn Nghệ. Tôi vẫn nhớ hôm gặp gỡ đầu tiên ấy, anh Cầu bảo anh Sơn: mày ngồi đây nghe Thanh Hải hát thử bài này, và tôi đã hát:

“Đi về đâu hỡi em khi trong lòng không chút nắng. Giấc mơ đời xa vắng, bước chân không chờ ai đón. Đời nhẹ nâng bước chân em về lại trong phố thênh thang. Những buồn xưa sẽ quên, hãy yêu khi đời mang đến một cành hoa giữa tâm hồn…”

Đó là bài Đời gọi em biết bao lần, nhạc phim mà anh vừa sáng tác. Từ đấy chúng tôi quen nhau. Hình như đã có một sự cảm thông nào đó không nói được ngay trong buổi gặp gỡ đầu tiên ấy.

Nhạc của anh Sơn viết lúc đó rất bị hạn chế, đôi khi còn bị chặt đầu chặt đuôi để bình phẩm, lên án. Chẳng hạn bài Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui: tại sao mỗi ngày lại chọn một niềm vui? Tại sao mỗi ngày lại chọn một đường đi? Rồi tại sao: “em ra đi nơi này vẫn thế?” Phải tốt hơn chứ!…

Thời điểm ấy thật là khó khăn và khốn đốn!

Hai anh em tôi lúc ấy hầu như ngày nào cũng gặp nhau: sáng uống café ở Hội Văn Nghệ, trưa về khách sạn Bông Sen uống bia cùng anh Nguyễn Quang Sáng, anh Muộn, tối nếu không đi hát cùng nhóm, thì tụ về nhà anh Sơn ngồi chơi, uống rượu, hát nghêu ngao với những người bạn, đa số là các bạn từ xa về. Có nhiều đêm tôi đang nằm nhà, sắp đi ngủ thì nghe tiếng anh gọi trước cửa. Biết ngay là anh đang cần, tôi vội chạy xuống để chở anh về tận nhà. Đó là những lúc anh chỉ còn biết “chỉ có ta trong cuộc đời mà thôi”…

Nhóm “giới thiệu sáng tác mới” cũng ra đời trong khoảng thời gian đó. Lạ một điều là nhóm thuộc hội Trí Thức Yêu Nước, chứ không thuộc hội Văn Nghệ, mặc dầu những người trong nhóm hầu hết đều là nhạc sĩ của hội Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Nhóm sinh hoạt rất vui, và chúng tôi thường được mời đi đây đi đó hát. Những bài hát thường là những sáng tác mới của các anh Phạm Trọng Cầu, Hoàng Hiệp, Trương Thìn, Trịnh Công Sơn, Trần Long Ẩn, Miên Đức Thắng, Nguyễn Nam, Lâm Cao Thanh, nhà thơ Lê Thị Kim…, với tiếng sáo đệm của Nguyễn Phước, Tân đánh trống, Thanh đại hồ cầm. Các anh thường tự đàn và hát những sáng tác của mình. Ca sĩ thì có Tường Vi, Thanh Hậu, tôi, và một vài bạn khác nữa. Nhóm được nhiều khán giả yêu chuộng, và mỗi lần đi lưu diễn chúng tôi đều được tiếp đãi rất là ưu ái. Thời gian ấy tôi thường hát nhạc của anh Trịnh Công Sơn: Đời gọi em biết bao lần, Cánh chim cô đơn, Em đến tự nghìn xưa, Vì tôi cần thấy em yêu đời, Chiều trên quê hương tôi, Một cõi đi về, Tôi vẫn nhớ… Thỉnh thoảng tôi lại xé rào với sự chấp thuận của anh Trương Thìn – bác sĩ kiêm nhạc sĩ, phụ trách điều khiển chương trình của nhóm – hát lại những tình khúc cũ của anh Trịnh Công Sơn tại hội Trí Thức Yêu Nước. Nhóm đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm khó phai mờ.

Thời gian sau đó là những ngày đất nước càng khó khăn thêm. Số người ra đi ngày càng nhiều. Bài hát Em còn nhớ hay em đã quên được anh Sơn viết ra đúng ngay vào lúc ấy.
Đây là một bài hát mà tôi thật là khó quên. Vào dịp ấy hội Văn Nghệ Việt Nam lần đầu tiên từ Hà Nội vào Sàigòn tổ chức 3 ngày ca nhạc tại rạp Rex. Tôi được mời hát trong những buổi hát đó. Trước ngày trình diễn một hôm, tôi gặp anh Trịnh Công Sơn đang chạy chiếc xe PC trong một buổi trưa nắng gắt trên đường, gặp tôi anh khoe liền: “Mình vừa mới viết xong một bản nhạc, đi theo mình về nhà tập thử!”. Thế là hai anh em kéo nhau về nhà anh bỏ cả ăn trưa để tập bài hát mới.

Thú thật, nhìn bản nhạc còn ướt mùi mực, dài ơi là dài mà lòng tôi ngao ngán, bởi vì ngày mai phải hát xuất đầu tiên rồi, làm sao mà thuộc cho hết!… Nhưng sau đó, lời nhạc đã cho tôi một nỗi cảm xúc thật sự, những hình ảnh trong bài đều rất thực đối với tôi.
Em còn nhớ hay em đã quên, nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng, nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân, nhớ mặt đường vàng hoa như gấm…

Dường như đây cũng là những cảm nghĩ của tôi. Có lẽ anh đã viết bài này để tặng tôi chăng? Bởi vì dầu tôi không nói, nhưng anh đã hiểu được rằng một ngày nào đó tôi cũng sẽ ra đi…

Tôi đã diễn đạt bài này một cách tốt đẹp và thành công suốt sáu buổi hát trong ba ngày liền, mặc dầu sau mỗi xuất hát anh Sơn đều đến gặp tôi để đề nghị thêm bớt, sửa đổi một vài chỗ mà anh vừa chợt nghĩ ra, đắc ý hơn. Có một điều vui là, vì bài hát mới và dài, nên đôi lúc tôi cũng không nhớ hết được, có khi đã phải tự ứng biến vài nơi, nhưng anh Sơn không hề quở trách. Bài hát đã gây ra một dao động không nhỏ trong dân chúng Sài Gòn lúc ấy. Khán giả cho biết họ đã cảm xúc thật sự khi nghe bài này và trong rạp đã có nhiều người lau nước mắt…

Cuối năm 1981, tôi cũng ra đi. Mười một tháng nằm trên đảo, tôi vẫn hát nhạc của anh cho bạn bè nghe, nhưng trong lòng mang một tâm trạng khác.

Sáu năm gần gũi bên anh, hai anh em đã chia sẻ với nhau những tâm tình, vui buồn, xót xa bằng những cảm nhận không cần nói nên lời. Điều đặc biệt ở anh, là anh đã vượt qua được tất cả, anh đã có một tấm lòng bao dung không thù hận, ngay cả với những người đã dèm pha, tìm cách dìm anh xuống trong giai đoạn khó khăn ấy. Có lần anh đã nói với tôi: “Moa biết tất cả, không có gì qua mắt được moa đâu, nhưng thôi kệ…”

Cuộc sống xa quê hương nơi đây đối với tôi thật u buồn và trầm lặng. Tôi nhớ Sài Gòn, nhớ đèn đường từng đêm thao thức, nhớ xôn xao hàng quán đêm đêm, nhớ món ăn quen, nhớ ly chè thơm, nhớ bạn bè chào nhau quen tiếng… Lời hát của anh tôi càng thấy thấm thía hơn.

Có một điều an ủi cho tôi, là nhiều người bạn ở Châu Âu này rất yêu mến nhạc Trịnh Công Sơn. Họ thường mời tôi đến để hát những bài hát của anh, và nhờ đó chúng tôi có dịp quen thêm bạn bè ở Paris, Toulouse, Lourdes, Lyon, Bruxelles, Liège, Genève, Fribourg, Lausanne, Stuttgart, Muenchen, và các tỉnh khác ở Đức. Tôi đến với anh em bằng tâm tình của một người bạn, không khách sáo, không chính trị, không thương mại. Cám ơn những người bạn với tâm hồn văn nghệ thật dễ thương và thoải mái, đã cho tôi và An những tình cảm thân quý, những ngày vui trong cuộc sống tha hương này. Cám ơn anh Trịnh Công Sơn và những bài hát tuyệt vời của anh.

Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu được mình. Một số người cho rằng, anh Trịnh Công Sơn không chịu ra đi là vì anh theo cộng, tôi hát nhạc của anh tức là tôi cũng thiên cộng. Có báo còn viết rằng, Hà Nội đã gởi tôi ra nước ngoài hát nhạc Trịnh Công Sơn để ru ngủ kiều bào tại hải ngoại.

Ôi cuộc đời thật là phức tạp..!

Tết 1989 tôi về thăm lại quê hương. Gặp lại anh Sơn, tình cảm giữa chúng tôi vẫn thắm thiết, vui vẻ. Nhiều người yêu cầu tôi cho nghe lại những bài hát của anh, dù chỉ một bài, nhưng tôi không hát. Tôi đến thăm anh nhiều lần, lần nào cũng gặp nhiều văn nghệ sĩ và nhiều người anh chưa hề quen biết từ Hà nội vào ngồi uống rượu cùng anh. Anh cho biết lúc này anh thích hoạ. Anh chỉ cho tôi những bức hoạ mà anh đã sáng tác.

Cũng mùa hè năm ấy, tháng 6.1989, tôi được Nhà Việt Nam tại Paris, qua thơ mời của anh Bạch Thái Quốc, sang Paris để gặp anh Trịnh Công Sơn và hát với anh một đêm. Thật là cả một điều vui mừng và bất ngờ đối với tôi, vì Tết vừa rồi không nghe anh nói gì về chuyến đi này cả.

Tôi vẫn nhớ mãi câu nói đầu tiên tại Paris của anh Sơn khi gặp lại tôi trong quán tối hôm ấy: “Thanh Hải chạy đi đâu cũng không thoát khỏi moa, …và toa biết không, khi moa vừa đặt chân xuống phi trường Charles de Gaule thì cả phi trường đều tắt điện đón chào moa…”, rồi anh cười thích thú. Hôm ấy chúng tôi ngồi chung thật là đông vui, ấm cúng, có các anh Bửu Ý, Bạch Thái Quốc, Phạm văn Đỉnh, Yoshii Michiko – cô bạn người Nhật của anh Sơn, Như An, và nhiều anh chị em khác nữa. Chúng tôi đã cảm nhận được một hạnh phúc êm ái khi gặp lại nhau, ngồi bên nhau, chuyện trò với nhau giữa thủ đô nước Pháp – một dịp vui bất ngờ và hiếm có. Hôm sau hai anh em đã cùng nhau chọn lại những bài hát để chiều hôm ấy hát tại Nhà Việt Nam. Bây giờ nhìn lại những tấm hình kỷ niệm lần gặp gỡ đó, tôi không khỏi ngậm ngùi thương tiếc…

Vừa rồi đài phát thanh tại Paris đã gọi điện thoại qua phỏng vấn tôi, khi nghe tin anh Trịnh Công Sơn qua đời tại Sài Gòn. Anh Dũng đã hỏi tôi về những kỷ niệm giữa tôi và anh Sơn, vì sao tôi thích hát nhạc của anh, tôi đã quen anh Sơn từ lúc nào, lần gặp anh Sơn tại Paris năm 1989 đã để lại ấn tượng gì trong tôi và anh Sơn. Thú thật, lúc đó tâm hồn tôi dao động quá, những cảm xúc và buồn bã trong tôi, tôi không bày tỏ được. Sự mất mát đến quá nhanh, tôi chưa nói được gì…

Lần gặp ở Paris mới đó mà đã mười hai năm trôi qua rồi. Nếu tôi nhớ không lầm thì năm đó cũng là năm Tỵ, năm con rắn. Tấm hình ngày đó anh cười thật tươi. Năm nay, tình cờ Như An lại chọn tấm hình ấy để làm lịch cho năm Tân Tỵ 2001. An in làm hai tấm, một cho tôi và một gởi về tặng anh Sơn nhân dịp sinh nhật 28.2 của anh. Tôi nhờ bạn tôi, anh T.Q. Sen trong dịp về Việt Nam đến thăm và trao giùm cho anh. Những ngày đó nghe đâu anh không được khoẻ, bạn bè muốn gặp anh đều được hẹn qua lần khác, vì anh cần yên tĩnh nghỉ ngơi.

Anh Sơn ơi, không ngờ mùa hè năm 2000 vừa qua lại là lần cuối cùng từ giã anh! Tôi còn nhớ rõ như in những ngày hè tháng bảy vừa qua tại Sài Gòn, tôi và Như An, Trương Hồng Liêm, Kim Hương thường gặp anh, ngồi uống nước quanh cái bàn nho nhỏ ở Hội Văn Nghệ, có cả anh Hoàng Hiệp, Sâm Thương, Trần Long Ẩn, Trần Tiến, Phạm Văn Hạng, Huỳnh Phi Long cùng một vài người bạn khác… Hôm sau lại gặp nhau ở câu lạc bộ Nghệ Sĩ, hôm khác lại đi ăn ở quán Ba Miền. Những hôm ấy anh nói nhiều câu thật tếu, làm cả bọn cười vang. Chúng tôi “hơi bị vui” như lời anh nhận xét, và cảm thấy hạnh phúc nhẹ nhàng làm sao.

Nhớ nhất là đêm văn nghệ hôm thứ sáu 21.7.2000 tại Saigon Times Club. Trong không khí thân mật cùng bạn bè từ Đức, Pháp về Việt Nam thăm nhà và nhóm bạn anh Võ Như Lanh, chủ nhiệm tờ Kinh Tế Thời Báo, theo lời mời của anh, sau mười chín năm đây là lần đầu tiên tôi hát lại tại Sài Gòn. Trong đêm ấy, anh Trịnh Công Sơn đã cùng tôi hát rất nhiều. Anh đã thật sự cảm hứng và tự động bước lên sân khấu, một cái bục nhỏ và thấp, rất thân tình, anh đã hát một cách say mê, đầy cảm xúc. Đó là một điều thật ngạc nhiên, vì như các bạn cho biết, những năm gần đây hầu như anh chưa bao giờ hát nhiều và hát say mê đến như vậy.

Bài cuối cùng, anh ngồi trên một chiếc ghế bên cạnh tôi, trên bục sân khấu nhỏ, anh nói với chúng tôi rằng: “Bây giờ mình sẽ tặng Như An và Thanh Hải một bài hát. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù bất cứ nơi đâu, Như An và Thanh Hải cũng đừng bao giờ tuyệt vọng”. Rồi anh hát, mắt nhắm lại như gởi tất cả tâm hồn vào đó:

“Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng. Lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông. Đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng. Em là tôi, và tôi cũng là em. Đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng. Nắng vàng phai như một cõi đời riêng. Đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng. Em hồn nhiên, rồi em sẽ bình minh…”

Tôi đang khóc khi viết lại những dòng này. Tim tôi đang thổn thức. Anh Sơn ơi, sẽ không bao giờ tuyệt vọng, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Lời của anh tôi sẽ còn hát mãi, hát mãi và nhớ mãi …

Thanh Hải
Cộng hoà Liên bang Đức, giữa tháng 4.2001

Những Kỷ Niệm Rời Cùng Khánh Ly

Đà Lạt 1964

Mùa hè Đà Lạt thường mưa buổi chiều, mưa liên tiếp ba buổi rồi tạnh. Mưa núi buồn hơn mưa thành phố, có thể ngửa bàn tay hứng những hạt mưa đá li ti rồi tan ngay. Mây xám thấp, sà xuống sát núi chỉ chừa lại một loé sáng, một màu mây nếu vẽ lên tranh sẽ thấy thật dữ dội. Những cây thông già mờ đi trong từng đám mây băng qua. Và gió se lạnh, phải kéo cao cổ áo. Chúng tôi có một buổi chiều thật đẹp, Khánh Ly với chiếc jupe ngắn màu xanh nhạt, cầm khay đưa kéo cho ông Thị trưởng Thành phố cắt băng khai mạc phòng tranh tại Alliance francaise de Dalat (lúc ấy là trung tá Trần Văn Phấn, hiện ở tại Centreville,Virginia).

https://i.imgur.com/sNtEZKV.png

Khánh Ly, trang sơn dầu trên bố của Đinh Cường

Tôi triển lãm ở đó vào dịp Lễ Giáng Sinh 1965 với ba mươi ba bức tranh sơn dầu, Trịnh Công Sơn nói lời giới thiêu và catalogue có ghi dòng chữ xiêng nhỏ: dédié à Tuyết Nhung. Một không khí đầy tình bằng hữu, phương xa về có các anh Phạm Duy, Nguyễn Văn Trung, Christian Cauro (giáo sư Đại học Văn khoa Huế và Sài Gòn, đã mất tại Paris), Marybeth Clark (giáo sư anh văn nữ trung học Đồng Khánh Huế, hiện ở San Diego–California), từ Saigon lên, Bửu Ý, Hoàng Phủ Ngọc Tường từ Huế vào, tại Đà Lạt có anh Đỗ Long Vân, anh chị Hoàng Anh Tuấn–Ngô Thy Liên, Thái Lãng, Trịnh Công Sơn, Trịnh Xuân Tịnh, Nguyễn Xuân Thiệp, Tôn Nữ Kim Phượng, chị Thanh Sâm …và Dì Ba, ông café Tùng. Ông Tùng mua bức tranh Thiếu nữ Xanh treo ở café Tùng cho đến nay, qua vật đổi sao dời, tranh đã ngã màu, hư hao …và ông Tùng cũng không còn nữa. Dãy ghế da nâu liền nhau trong quán vẫn không thay đổi, vách bên mặt treo bức tranh sơn dầu lớn “Người đánh đàn guitar” của Vị Ý, phòng nhỏ bên trong có bức “Chân dung thiếu nữ” của Cù Nguyễn rất quý…còn nhớ ông hay khoe bộ báo Bách Khoa đầy đủ, đóng bìa da, để ở lầu trên nay tan tác nơi nào?

Khánh Ly, Đinh Cường, Đỗ Long Vân, Trịnh Xuân Tịnh

Hãy trở lại những đêm Đà Lạt năm 1964, thời gặp hình ảnh người ca sĩ nhỏ nhắn với chiếc jupe ngắn màu xanh nhạt ở Night Club, rồi Tulipe Rouge, ôi tiếng hát và vóc dáng mãnh mai ấy đã cuốn hút chúng tôi biết bao, nhất là những đêm cuối tuần ngoài trời đầy sương lạnh. Tôi đã nói với Sơn không còn giọng hát nào hay hơn, hát rõ câu chữ như nhã từng lời buồn thánh (nhớ là khi qua Paris gần đây, ngày nào trong bửa ăn, Bạch Thái Quốc cũng cho tôi nghe Billie Holiday hát, ôi những bài blues mê hoặc lòng người, làm nhớ lại những lời ru của Sơn qua giọng ca Khánh Ly…) Và chúng tôi đã làm quen được người nữ ca sĩ của Đà Lạt từ năm ấy, để năm sau khi bày tranh, Khánh Ly đã là bóng dáng đẹp nhất trong lòng bạn bè…“Nguyễn đã gặp các bạn Đinh Cường và Trịnh Công Sơn rồi Khánh Ly và bao nhiêu người nữa. Giáng Sinh, kéo nhau đi uống bia, rồi về đàn hát ở studio Đinh Cuờng trên đường Rose. Có đêm uống rượu ở kiosque Dì Ba, hay vào Night Club dưới chân Đài phát thanh nghe Khánh Ly hát …” (Giáng Sinh và những đống lửa trong đêm mùa đông – Nguyễn Xuân Thiệp – tuần báo Trẻ, Dallas , số ngày 23.12.2010).

Sài Gòn 1967
…“Bởi định mệnh nên đến năm 1967, như một sự tình cờ, Khánh Ly gặp lại nhạc sĩ Trịnh Công Sơn giữa dòng người đi lại trên đường Lê thánh Tôn, Sài Gòn, vào một buổi chiều êm ả. Từ một đêm mưa của Đà Lạt đến một buổi chiều trên đường phố Sái Gòn, tất cả đã bắt đầu. Ngay chiều ấy, trên nền gạch đổ nát có một quán lá sơ sài được dựng lên với cái tên là Quán Văn. Ca sĩ Khánh Ly bắt đầu hát với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại đây…” (Khánh Ly và Nhóm Bạn –website Khánh Ly) Quán Văn, một thời làm sao quên của những người bạn ăn dầm nằm dề ở đó: hai anh em Hoàng Xuân Sơn –Hoàng Xuân Giang, thời này Hoàng Xuân Sơn thường đệm ghita cho Khánh Ly hát.

Khánh Ly, tranh sơn dầu trên giấy của Đinh Cường

Hoàng Ngọc Tuấn, Ngô Vương Toại, Trịnh Công Sơn, Khánh Ly…đã đi vào truyện ngắn Ở một nơi ai cũng quen nhau của Hoàng Ngọc Tuấn: …“Bọn con trai nằm ngủ trên chiếu, chiếc ghế bố duy nhất trong căn phòng được dành cho Lệ Mai (1), nàng mặc một bộ áo pyjama đàn ông rộng thùng thình. Và khi cái gáy của nàng đã đặt trên gối, mái tóc xổ tung, khuôn mặt không son phấn, đôi môi và đôi mắt bình yên khép kín. Nàng nằm đó, nhỏ nhoi và bình thường như một thiếu nữ còn êm ấm với mẹ cha trong gia đình, nhưng trên vầng trán của nàng đã hằn rõ một vài nếp nhăn phiền muộn, dấu hiệu của những người sớm cô độc bước vào cuộc đời. Khi giấc ngủ đến với nàng, có người đã nhìn thấy tiếng cười thơ dại và những vết nhăn trên vầng trán cuả nàng cùng một lúc chan hoà với nhau thành một hình ảnh đẹp. Có người đã nghĩ rằng nàng như một nữ thánh. Ban ngày Lệ Mai nghịch ngợm như một con chim rừng xanh, nhưng ban đêm, đôi khi nàng có những giọt lệ âm thầm…” (OMNACQN, trang 45, Hoà Bình xuất bản,Virginia 2007). Hoàng ngọc Tuấn có làm bài thơ hiếm quý (thời ấy, tôi có làm đôi ba bài thơ, tiếc thay thơ không chịu gắn bó với tôi mãi mãi…Nhật ký – Thời Tập trang 54) tình cờ vừa đọc lại:

Khánh Ly

Đêm vang vang xa màu tóc rối
Nàng ngồi hát bàng hoàng
Bài ca đớn đau
Trên quan tài tình nhân

Cánh chim nào từ núi lạ
Đã mang tay ngà ra khơi chưa
Tôi ngồi đây thắp ngọn lửa hồng
Ao ước nàng hoá thân vành khuyên bé bỏng

Mỗi đêm tóc xoã môi phai
Bàn chân trần mướt xanh trên cát
Hơi thở mẩu thuốc tàn
Mà giọt lệ không bao giờ rơi

Âm thanh như đêm
Xoá nhoà linh hồn cũ
Đời quá muộn cho lời ao ước
Môi xin câm cho khỏi vỡ tan

Ôi sao em làm thân đàn bà một đời không sân ga dừng lại
Còi tàu khuya thúc hối khởi hành
Tiếng ca nào và khúc nhạc thầm
Hát trong bếp lửa ấm hong môi

Đêm mùa đông xa nhà
Đêm chua xót dấu vết tình yêu trên môi khô
Người đừng bao giờ nói đừng bao giờ nói
Vì giấc mơ là cánh chim sa mạc bay mù
Khi thành lời.

(Nhật ký, Thời tập, Tuyển tập nhà văn trẻ phát hành 06.1974, chủ trương: Viên Linh)

California 1989
Khánh Ly, người bạn chân tình, làm sao tôi quên những tháng đầu tiên mới đến Mỹ, năm 1989, chị đã gởi vé máy bay cho tôi từ Utah về thăm bạn bè ở California, có Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyên Khai, vợ chồng Nguyễn Thị Hợp -Nguyễn Đồng ra đón ở sân bay John Wayne …và Nghiêu Đề đã lái xe từ San Diego lên thăm …cho tôi tin tưởng hơn là sẽ lái xe được, vì Nghiêu Đề còn vụng về hơn tôi….

Khánh Ly, Trịnh Công Sơn vẽ

Năm 1992 gặp tại Montréal, Canada khi cùng qua thăm Sơn, ngồi nơi căn phòng ăn nhà người em gái Sơn, Trịnh Vĩnh Tâm–Hoàng Tá Thích, Sơn tập cho Khánh Ly hát, Khánh Ly hay lấy que tre ngắn thay trâm cài tóc…Chị là người bạn có duyên với những cuộc bày tranh của tôi, từ năm 1965 Đà Lạt rồi năm 1972 tại Hội Việt Mỹ Huế, 1974 tại Trung tâm Văn hoá Pháp Sài Gòn… cho đến tháng giêng năm 2008, là cuộc gặp gỡ đầy kỷ niệm: triển lãm tranh Đinh Cuờng và Nguyễn Đình Thuần bên cạnh một chương trình ca nhạc Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly với sự góp mặt của thi sĩ Hoàng Xuân Sơn từ Canada qua do bác sĩ Hồ Phan Hà và nhóm bạn tổ chức tại Việt Art Gallery, Houston –Texas, một đêm thật đẹp và cảm động …Khánh Ly đã nhiệt tình giới thiệu phòng tranh cùng người thưởng ngoạn, cũng như năm xưa Đà Lạt đã cùng Trịnh Công Sơn làm cho buổi khai mạc thêm ấm cúng, sóng sánh những ly rượu vang đầy thân yêu của bạn bè, không bao giờ quên…Cho tôi thắp nén nhang chiều nay, chiều giáp tết, để nhớ lại từng khuôn mặt thân quý không còn nữa: Tôn Nữ Kim Phượng, Christian Cauro, Đỗ Long Vân, Hoàng Anh Tuấn, Hoàng Xuân Giang, Hoàng Ngọc Tuấn với lời ghi tôi nhớ mãi: “Từ đau đớn và truân chuyên, tôi gởi đến mọi người hạnh phúc vững bền của chữ nghĩa”

Khánh Ly – Đinh Cường tại Triển lãm tranh 
Hội Việt Mỹ Huế 1974

Cũng như: Khánh Ly …đời mãi hát …hát cho đời, cho người-hát với người, cùng người …mãi hát …(Khánh Ly và nhóm bạn – website KL).
CD mới nhất cuả chị “Nụ cười trăm năm” gồm 12 lời ca thơ của Trần Dạ Từ làm trong trại cải tạo Gia Trung sẽ ra mắt vào ngày 13.3.2011 tại Quận Cam. Khánh Ly viết văn hay, nói giỏi (đừng nói nhiều ), là ca sĩ-nghệ sĩ xứng đáng được ngợi ca cùng với những giọng ca hàng đầu của miền Nam Việt Nam như Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Thuý, Hà Thanh, Kim Tước, Quỳnh Giao, Lê Uyên, Khánh Hà…Riêng với nhạc Trịnh Công Sơn, nhiều ý kiến cho rằng nghe Khánh Ly hát là thấm nhất. Thật vây, chị có đủ tình thân-từ thời thanh xuân, qua bao truân chuyên của đời sống, cả một thời tan tác, đau thương của chiến tranh, chia sẻ đựợc những lời ca Sơn viết…Riêng trong tôi khi nhớ đến chị là cứ nghe như vang lên Nguời nằm co như loài thú khi mùa đông về. Người nằm yên không kêu than buốt xương da mình. Từng tiếng người nhiều tiếng người gọi hoài giữa đêm. Người nằm co như loài thú trong rừng sương mù …(Phúc âm buồn 1965 in trong Ca khúc Trịnh Công Sơn, An Tiêm xuất bản 1967).

Khánh Ly – Lệ Thu – Thái Thanh

Trong sương tuyết trắng trời chiều nay, tình cờ đọc được bài thơ trên báo Xuân (2), tôi cũng như nhìn thấy lại bóng dáng của hai người bạn, Sơn và Mai của Đà Lạt một thời xa xưa, một thời mộng mị …trời xanh trên mái nhà thờ.

 
Đinh Cường
Virginia, 2.2011

(1) Khánh Ly sinh ngày 6 tháng 3 năm 1945, tên thật là Nguyễn thị Lệ Mai. Hiện cư ngụ tại Cerritos California. Phu quân của Khánh Ly là cựu ký giả, nhà văn, nhà báo Nguyễn Hoàng Đoan. Khánh Ly có 4 người con, 2 trai 2 gái, đều đã trưởng thành.

(2) CON TÀU NGÀY ẤY

Buổi sáng quá bình yên
chúng tôi ba người Huế
Nhìn nhau
Im lặng

Muà hạ đang ngoài kia
Ném lửa hàng long não
Dòng sông đang ngoài kia
Trong xanh ảo

Chiến tranh mới đi qua
Lần đầu, chẳng ngờ lần duy nhất
Gặp Trịnh Công Sơn
Dáng hao gầy

Nhà ai Khánh Ly hát
Thảng thốt trời xanh trên mái nhà thờ

Bữa ấy
Tôi kịp nói trong tiếng còi tàu

Nhạc Trịnh
Nhạc của thiên đàng
Lời Trịnh
Đau đáu trần gian

Một mình tôi lên con tàu chợ
Chưa quên
Con tàu ngày ấy nhả nhiều khói quá

NGUYỄN XUÂN THÂM
(Văn Nghệ, Tết Tân Mão, Hội nhà văn Việt Nam)

(3) – Jupe: váy
– Alliance francaise de Dalat: Hội văn hoá Pháp tại Đà Lạt
– Catalogue: danh mục
– dédié à Tuyết Nhung: đề tặng Tuyết Nhung

Có một nhà thơ tên Trịnh Công Sơn

Người ta vẫn gọi Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ chứ chưa mấy ai gọi anh là nhà thơ, dù anh cũng đã in dăm ba bài thơ lẻ. Cũng có người gọi anh là “người thơ ca” hay “người hát thơ”, nghĩa là, anh là người tác hợp giữa thơ và nhạc. Nhưng với tư cách là một nhà thơ, tôi đã khảo sát ca từ của Trịnh Công Sơn, và tôi dám khẳng định rằng, anh chính là một nhà thơ đích thực.

Cho dù khi sáng tác ca khúc, Trịnh Công Sơn có thể viết lời và nhạc cùng một lúc, hoặc có đoạn lời viết sau khi đã có nhạc, hay trước khi “phổ nhạc” thì mỗi lời ca của anh đều là những bài thơ hoàn chỉnh kể cả về ý, tứ, cấu trúc, ngôn từ và cảm xúc. Mà Trịnh Công Sơn không phải là một nhà thơ bình thường, anh là nhà thơ rất độc đáo ôm chứa tư tưởng nhân sinh và thời cuộc với một thi pháp khá riêng biệt trong thơ Việt.

Trịnh Công Sơn rất nhuần nhuyễn trong các thể thơ truyền thống như lục bát, đồng dao. Ngay từ lần nghe đầu tiên ca khúc Ở trọ, tôi đã phát hiện ra đấy là một bài thơ lục bát rất tài hoa. Từ cái chuyện ở trọ bình thường trong đời, anh đã đẩy liên tưởng tới cái “cõi tạm” chốn trần gian trong triết lý của Đạo Phật với một cách nói thoải mái, thông minh và hóm. Anh nhìn thấy con chim ở trọ trên cành cây, con cá ở trọ dưới nước, cơn gió ở trọ giữa đất trời, rồi đẩy tới một khái quát bất ngờ:

Trăm năm ở đậu ngàn năm
Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn

Có những liên tưởng còn bất ngờ hơn khi nói tới vẻ đẹp ở trọ trong thân thể, hay tâm hồn của người nữ:

Môi xinh ở đậu người xinh
Đi đứng ở trọ đôi chân Thúy Kiều

Vì thế mà có câu:

Xin cho về trọ gần nhau
Mai kia dù có ra sao cũng đành

Và khi con người đã ở trọ vào nhau bằng tình yêu thì dù có phải xa rời cõi tạm, vẫn mãi mãi khăng khít cùng nhau:

Tim em người trọ là tôi
Mai kia về chốn xa xôi cũng gần

Nhiều bài thơ phỏng theo nhịp đồng dao (bốn chữ) khá thành công nhờ cách lập tứ và chọn từ như Em đi qua chiều/ Cũng sẽ chìm trôi / Nhật Nguyệt trên cao – Ta ngồi dưới thấp, nhưng có lẽ Ngụ ngôn mùa đông mới là một bài thơ bốn chữ gây ấn tượng khó phai mờ trong lòng người đọc. Bài thơ nói về “Một người Việt Nam – Đi ra dòng sông – Nhớ về cội nguồn… Đi lên đồi non – Nhớ về cội nguồn” thật tươi đẹp, thật máu thịt, rồi bỗng:

Một ngày mùa đông
Trên con đường mòn
Một chiếc xe tang
Trái mìn nổ chậm

Người chết hai lần
Thịt da nát tan…

Người Việt ấy chết rồi lại còn phải chết thêm một lần nữa vì “trái mìn nổ chậm” của chiến tranh. Cái tứ thơ này không chỉ chia xẻ với cái chết đau thương tang tóc của con người mà còn có sức mạnh tố cáo chiến tranh thật sâu sắc:

Súng từ thị thành
Súng từ ruộng làng
Nổ xé da non

Phố chợ thật buồn
Cuộn giây gai chắn
Chắc mẹ hiền lành
Rồi cũng tủi thân

Nhịp thơ năm chữ trong thơ Trịnh Công Sơn cũng xuất hiện không ít, và lặng lẽ tuôn chảy trong veo buồn thương, ngơ ngác. Khi thì khao khát hồn nhiên: “Môi nào hãy còn thơm – Cho ta phơi cuộc tình – Tóc nào hãy còn xanh – Cho ta chút hồn nhiên”, khi thì hoang vắng, lạnh câm: “Như đồng lúa gặt xong – Như rừng núi bỏ hoang – Người về soi bóng mình – Giữa tường trắng lặng câm”, khi thì tuyệt vọng ngậm ngùi: “Không còn, không còn ai – Ta trôi trong cuộc đời – Không chờ, không chờ ai” (Ru ta ngậm ngùi), và có lúc đầy mộng mơ khao khát giữa ưu phiền: “Tôi con chim thanh bình – Mơ được sống hồn nhiên – Như hoa trên đồng xanh – Một sớm kia rất hồng” (Như chim ưu phiền). Nhịp thơ năm chữ vốn rất phổ biến trong đối đáp dân gian, nhưng với Trịnh Công Sơn, nó trở nên lồng lộng, thênh thang và quý phái:

Người ngỡ đã xa xăm
Bỗng về quá thênh thang
Ôi áo xưa lồng lộng
Đã xô dạt trời chiều
(Tình nhớ)

Cùng với những ý thơ bất ngờ đến từ trong vô thức:

Trăng muôn đời thiếu nợ
Mà sông không nhớ ra

Hoặc:

Cây trưa thu bóng dài
Và tôi thu bóng tôi
Tôi thu tôi bé lại
Làm mưa tan giữa trời…
(Biết đâu nguồn cội)

Ít thấy nhịp thơ sáu chữ ở Trịnh Công Sơn, nhưng không phải là không có. Câu thơ sáu chữ xuất hiện đan xen trong nhiều bài thơ của anh thường tạo được hiệu quả lạ, như một dấu nhấn của cảm xúc và ý tưởng. Ví dụ như trong bài Nhìn những mùa thu đi, sau mỗi câu năm chữ là câu sáu chữ khá hay: “… Em nghe sầu lên trong nắng… Nghe tên mình vào quên lãng… Tay trơn buồn ôm nuối tiếc”.

Bài Ru em là một bài thơ lục ngôn từ đầu đến cuối:

Ru em ngủ những đêm khuya
Ru em ngủ những âm u
Ru em cùng những u mê
Ru em dù đã chia xa…

Nhân nói đến thơ lục ngôn; bỗng nhớ đến một bài thơ nhịp 3 hết sức đặc biệt của Trịnh Công Sơn. Đó là bài Mưa hồng:

Trời ươm nắng
Cho mây hồng
Mây qua mau
Em nghiêng sầu

Còn mưa xuống
Như hôm nào
Em đến thăm
Mây âm thầm
Mang gió lên…

Điều đó nói lên sự đa dạng và tài hoa của Trịnh Công Sơn khi sử dụng thi điệu, bởi thơ nhịp 3 thường tươi vui nhí nhảnh, mà ở đây lại tả cái tâm trạng thương nhớ xa xăm: “Người ngồi xuống/Xin mưa đầy/Trên hai tay/Cơn đau dài”…).

Nhịp thơ thất ngôn là một sở trường của Trịnh Công Sơn. Dường như anh thẩm thấu Đường thi, nhưng hơi thở thì đã khác. Những câu thơ bảy chữ vào bài hát của anh rất tự nhiên. Nhiều bài thơ (bài hát) đã mở đầu bằng câu thơ bảy chữ thật nhẹ nhàng như chẳng có một cố ý nào. Có thể dẫn ra nhiều những trường hợp như vậy: “Một đêm bước chân về gác nhỏ”, “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi”, “Trên đời người trổ nhánh hoang vu”, “Người đi quanh thân thế của người”, “Vẫn thấy bên đời còn có em”…

Cũng là thơ thất ngôn, nhưng cách gieo nhiều vần bằng liên tiếp theo cảm hứng âm nhạc, đã khiến cho thơ anh không bị gò ép vào khuôn thước cổ thi, mà thoát ra, phong quang và mềm mại hẳn lên. Có những đoạn thơ chỉ gieo toàn vần bằng:

Màu nắng hay là màu mắt em
Mùa thu mưa bay cho tay mềm
Chiều nghiêng nghiêng bóng nắng qua thềm
Rồi có hôm nào mây bay lên

Lùa nắng cho buồn vào tóc em
Bàn tay xôn xao đón ưu phiền
Ngày xưa sao lá thu không vàng
Và nắng chưa vào trong mắt em

Cũng có khi, thơ thất ngôn của anh được gieo vần trắc:

Em đi biền biệt muôn trùng quá
Từng cơn gió và từng cơn gió
Em đi gió lạnh bến xa bờ
Từng nỗi nhớ trùng trùng nỗi nhớ

Lại có khi thơ thất ngôn được tổ chức theo từng khổ ba câu với những hình ảnh thật đẹp, thật lạ như: “lòng như khăn mới thêu”, “lòng như nắng qua đèo”, chỉ đọc một lần là bâng khuâng xao xuyến mãi:

Mười năm xưa đứng bên bờ dậu
Đường xanh hoa muối bay rì rào
Có người lòng như khăn mới thêu

Mười năm sau áo bay đường chiều
Bàn chân trong phố xa lạ nhiều
Có người lòng như nắng qua đèo

Các thi ảnh vừa tươi mới vừa lạ lùng cứ nối tiếp nhau hiện lên trong thơ Trịnh Công Sơn để đẩy tứ thơ đến tận cùng bất ngờ: “Có một dòng sông đã qua đời”. Tại sao dòng sông lại qua đời? Phải chăng, đấy chính là dòng sông biểu tượng cho tình yêu đã cạn!
Trịnh Công Sơn thuộc thế hệ những người mê đắm Thơ Mới, và thể thơ tám chữ mà các thi sĩ của phong trào Thơ Mới đã có công cải hóa và Việt hóa từ thơ Pháp có một nhịp điệu dễ mê hoặc lòng người. Trịnh Công Sơn tiếp thu nhịp điệu này, và chính âm nhạc đã thêm một lần nữa làm thơ tám chữ:

Một lần chợt nghe quê quán tôi xưa
Giọng người gọi tôi nghe (tiếng) rất nhu mì
Lòng thật bình yên mà sao buồn thế
Giật mình nhìn tôi ngồi hát bao giờ
(Bên đời hiu quạnh)

Hoặc dùng lại đúng cái nhịp Thơ Mới vẫn thường dùng, nhưng tinh thần thì đã khác:

Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng
Lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông
Đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng
Em là tôi và tôi cũng là em
(Tôi ơi đừng tuyệt vọng)

Một thi sĩ với rất nhiều cung bậc trong điệu nhạc tâm hồn, Trịnh Công Sơn thả sức bay lượn trong các nhịp thơ tự do đầy phóng túng. Những câu thơ dài ngắn khác nhau cứ tung tẩy trong các bài thơ tự do của anh. Khi thì triết lý: “Tình yêu như trái phá con tim mù lòa”, khi thì lộng lẫy: “Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay”, khi thì trùng điệp: “Bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta”, “Rừng núi dang tay nối liền biển xa – Ta đi, vòng tay lớn mãi để nối sơn hà”, khi thì gập ghềnh mệt mỏi: “Ngựa buông vó/ Người đi chùng chân đã bao lần/ Nửa đêm đó/ Lời ca dạ lan như ngại ngùng/ Vùng u tối/ Loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng”, và có khi nhịp điệu trôi xa như sông bỗng quay về gần gũi như mưa:

Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ
Ôi những dòng sông nhỏ
Lời hẹn thề là những cơn mưa

Dù là phóng túng trong thơ tự do, nhưng vần điệu và ý tưởng lạ và đẹp ở thơ anh giống như chiếc neo thuyền, neo vào lòng người để nó chẳng bao giờ trôi đi vô vọng.
Có lẽ Trịnh Công Sơn là nhà thơ được người ta thuộc nhiều nhất. Điều đó không lạ, bởi thơ anh luôn có sự truyền tải diệu vợi bằng âm nhạc của chính anh. Nhưng cũng có thể nói ngược lại, âm nhạc của Trịnh Công Sơn luôn được thơ nâng cánh. Trong ca từ của anh có rất nhiều những câu thơ thật hay như:

– Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì em, biết không?
Để gió cuốn đi!

– Làm sao em biết bia đá không đau
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau

– Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi

– Mùa xanh lá
Loài sâu ngủ quên trong tóc chiều

– Mây che trên đầu và nắng trên vai
Đôi chân ta đi sông còn ở lại
Con tim yêu thương vô tình chợt gọi
Lại thấy trong ta hiện bóng con người

– Chiều nay em ra phố về
Thấy đời mình là những quán không
Bàn im hơi bên ghế ngồi
Ngày đi đêm tới đã vắng bóng người

– Bàn chân ai rất nhẹ
Tựa hồn những năm xưa

– Áo xưa dù nhầu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau

– Mẹ là nước chứa chan
Trôi giùm con phiền muộn
Cho đời mãi trong lành
Mẹ chìm dưới gian nan

– Hà Nội mùa thu
Cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ
Nằm kề bên nhau
Phố xưa nhà cổ mái ngói thâm nâu

Nhớ đến một người để nhớ mọi người…

Có một tập ca khúc thời trẻ của Trịnh Công Sơn mang tên là Kinh Việt Nam. Phải chăng, trong sâu thẳm lòng mình, anh khao khát sáng tạo ra những bài kinh cầu cho dân tộc, cho tình yêu và cho thân phận? Đây chính là bài kinh cầu bên bờ vực linh hồn cần được cứu rỗi. Những bài kinh ấy chính là những bài thơ còn lại của Trịnh Công Sơn với một niềm yêu tin “gần như là tuyệt vọng” đã vượt lên số phận chia sẻ với đương thời và hậu thế, đấy là lòng tin vào con người khởi nguồn từ dòng cảm xúc tự nhiên, vượt qua cả tôn giáo và định kiến, bởi vì hương thơm đã sẵn đốt trong hồn (chữ của Chế Lan Viên). Cũng với một lòng tin như vậy, tôi xin mạn phép đổi một chữ trong câu thơ của anh để tạm kết thúc bài viết này:
Ngày sau sỏi đá cũng cần có THƠ!

Nguyễn Trọng Tạo
Báo Văn Nghệ 23-08-2002

Nhớ về “Nối vòng tay lớn”

Ca khúc “Ướt mi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn do Nhà xuất bản An Phú-Sài Gòn phát hành năm 1959, đó là năm tôi cất tiếng khóc chào đời ở một phường xưa Thành Nội Huế.
Mãi đến năm 1970 trong một đêm lửa trại ở đồi thông Thiên An, thầy Nguyễn Văn Dũng bắt nhịp cho toàn liên lớp đệ thất (nay là lớp 6) hát ca khúc “Nối vòng tay lớn” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Và “Rừng núi dang tay nối lại biển xa…” ấy là nhạc ngữ đã gieo vào tâm hồn thế hệ chúng tôi trở về với những ước mơ trong trẻo, những xúc cảm hoà nhịp với thiên nhiên; nhưng sự hiện hữu huyền diệu trong ca khúc ấy như tiếng nói bức thiết của thời đại.

Trịnh Công Sơn sinh ngày 2.02.1939 tại Đắc Lắc nhưng quê ở tại Hương Vinh-Huế. Trong tác phẩm “Nhạc và Đời”, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn kể lại: “Thời thơ ấu luôn luôn bị ám ảnh về cái chết. Trong giấc ngủ hằng đêm tôi thường thấy cái chết của ba tôi. Nỗi ám ảnh ấy chắc chắn không bắt nguồn từ lớp dày tro bụi của vô thức làm nên từ những cái chết của tổ tiên mà có lẽ những năm tù tội tra tấn chết đi sống lại của ba tôi trong những năm kháng chiến chống Pháp. Những năm cuối thập niên 40, chỗ ở chính của ba tôi gần như là nhà tù… Thời gian này, tại Huế, mẹ tôi và tôi thay nhau đi thăm nuôi và năm 1949 tôi được vào nhà lao Thừa Phủ ở cùng ba tôi một năm trước khi cả gia đình cùng kéo nhau vào Sài Gòn. Rõ ràng là cái chết ấy được báo động qua một tâm hồn quá nhạy cảm của tuổi thơ. Ba tôi mất đi khi tôi vừa mười lăm tuổi”.

Cha mất sớm, là anh trong gia đình gồm 2 người em trai cùng 5 người em gái và một mẹ già mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hết mực thương yêu. Đã có lần Trịnh Công Sơn hé mở đời tư: “Tôi chưa bao giờ học nhạc ở một lớp nhạc nào. Tôi đã tự học, tại Huế, Sài Gòn và Đà Lạt. Tôi sống để sáng tác nhạc”. Trịnh Công Sơn đã đậu tú tài ban Triết, tại trường Chasseloup Laubai, Sài Gòn. Đến tuổi quân dịch Trịnh Công Sơn đã từng nói: “Trốn lính gần như một cái “nghề” đầy tính chất phiêu lưu của hàng triệu thanh niên miền Nam lúc bấy giờ”.

Thời gian trốn lính, Trịnh Công Sơn cho biết: “Tôi đã phải đánh đổi 60 ngày nhịn đói tuyệt đối trong hai năm (mỗi năm 30 ngày liên tiếp trước khi trình diện) để đạt được cái mức độ tiêu chuẩn của một người lính. Nhưng muốn xuống ki lô nhanh còn phải không ngủ và uống thêm điamox là một thứ thuốc rút bớt nước trong tế bào ra”. Nhà báo Lưu Trọng Văn trong một lần trao đổi với Trịnh Công Sơn cho biết, để trốn lính, Trịnh Công Sơn phải chích thuốc cho đến từ một võ sĩ, một vận động viên nhảy cao, Trịnh Công Sơn toi tóp chỉ còn 27 ký.
Họa sĩ Đinh Cường, người bạn thân tín của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tâm sự: “Có một thời gian Trịnh Công Sơn cùng một ông giáo già dạy một lớp học cho người dân tộc ở Bảo Lộc (Lâm Đồng). Qua khoảng trống trơn của lớp học Sơn đã vẽ nhiều ký họa đẹp và sinh động những người dân tộc trên nương rẫy, dưới dòng suối mát. Có thể nói Sơn là một trong những người dạy học ở miền núi sớm nhất. Sau đó Sơn cùng Đinh Cường lên sống ở Đà Lạt. Những năm trốn lính có cả Đỗ Long Vân. Lúc đó L.M (Lệ Mai) là một cô gái nhỏ nhắn, tóc bỏ xõa, đi chân trần ra sân có hát những bài hát đầu tiên của Trịnh Công Sơn”. Cũng trong thời gian này Trịnh Công Sơn cho biết: “Lệ Mai ngày trước hát ở Đà Lạt trong một căn phòng bên đồi lạnh lẽo”.

Lệ Mai (sau này dưới cái tên Khánh Ly) bắt đầu hát ở Night Club Đà Lạt ngày 15.11.1962. Trong một bài viết “Nỗi buồn nhớ quê”, Khánh Ly nói về một nỗi day dứt thương nhớ quê hương như mọi con người Việt Nam có một trái tim biết rung động, còn có một cội nguồn: “… Cũng tưởng đời sẽ lêu bêu mãi cho đến ngày cuối, nhưng nếu định mệnh là điều có thật, thì điều đó đã đến với tôi một đêm mưa tại Đà Lạt. Dáng người mảnh khảnh, cặp kính trắng tròn, gọng đồi mồi, cặp mắt bồ câu, vầng trán cao, rộng, sống mũi thẳng, nụ cười đẹp, tươi với chiếc răng hểnh. Người con trai đó nói với tôi giọng Huế. Dân Đà Lạt, đa số nói tiếng Huế tuy hơi lai, nhưng Sơn là “Huế chay”. Từ Sơn tôi đã thành danh”. Năm 1965 Khánh Ly bỏ phòng trà Đà Lạt về hát cùng Trịnh Công Sơn ở Sài Gòn. Trịnh Công Sơn nhớ lại: “Năm 1964-1965 tôi được các bạn tổ chức buổi ra mắt đầu tiên trước quần chúng tại khu đất trồng sau lưng trường Văn Khoa Sài Gòn cũ (nay là Thư viện Quốc gia). Với tôi, đây cũng là buổi thể nghiệm xem mình có thể tồn tại trong lòng quần chúng được không. Trước mặt đám đông đến mấy nghìn người gồm đủ thành phần văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên tôi cảm thấy mình quá trơ trọi và đầy lo âu trên bục gỗ với cây đàn ghi ta dưới ánh sáng đèn”. Với một hành trang nhẹ nhàng bằng hai mươi ca khúc nói về quê hương, ước mơ hoà bình và những bài sau này được gọi là “phản chiến”. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, bạn thân nhạc sĩ Trịnh Công Sơn kể lại: “Từ năm 1965 trở đi, trong vòng chừng 10 năm, Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ phản chiến thì duy nhất chỉ có một. Đối với người trí thức ở miền Nam, theo chỗ tôi biết, thì trước khi dấn thân vào lịch sử, ở họ là một thái độ phản chiến. Nhưng Sơn giữ được thái độ ấy, đầu đuôi như một; hơn nữa, Sơn là một nhạc sĩ phản chiến. Ngay từ đầu “Xin mặt trời ngủ yên” đã là một bài hát phản chiến:

“Ôi chinh chiến đã mang đi bạn bè
Ngựa hồng đã mỏi vỏ chết trên đồi quê hương
Còn có ai trên cuộc đời
Ôi nhân loại, còn người và tôi thôi,
Rồi lang thang như mây trời…”

Suốt 15 năm trầm luân của thế kỷ, Trịnh Công Sơn đã làm xong nhiệm vụ của loài chim báo bão trong lửa đạn. Chẳng lạ gì một thời Trịnh Công Sơn tung ra bài hát nào là bài hát ấy nổi tiếng, và cả nhiều thế hệ của tuổi trẻ ở các đô thị xúm lại “ngấu nghiến” những ca khúc của anh. Và theo dòng nhạc phản chiến ấy, ca khúc “Ngày dài trên quê hương” nếu xét trên phương diện đấu tranh, đúng là ca khúc phản chiến”.

Có lẽ năm 1968 là năm đã ghi vào ký ức Trịnh Công Sơn: “Những bức tường của Thành Nội cũng đầy những vết đạn. Từ lụt lội, bão tố trong quá khứ cho đến sự tàn phá của hàng ngàn căn nhà… Người dân Huế đã phải học cách sống trong kiên nhẫn. Huế dường như bị cột chặt vào định mệnh khắc nghiệt. Tại đây, dân chúng không bao giờ có dịp để làm giàu một tháng hay một ngày. Cần phải 4 thế hệ: ông, cha, con, cháu, mới có thể xây dựng một căn nhà. Căn nhà được truyền đời nọ sang đời kia, và những người nào phải xa nhà, đều vẫn có thể nhớ từng cột nhà, từng xa nhà, từng bậc cửa”. Hãy nghe tiếp lời tâm sự của Trịnh Công Sơn vào năm này: “Ta đã có sẵn hành trang quý giá của hơn bốn nghìn năm để còn mãi bước đi trên những lộ trình mới về tương lai. Ta phải đi tới bằng con tim sứ giả mang niềm tin và lời hứa hẹn của những người đã nằm xuống. Ta phải tìm lại quê hương bằng sức sống mãnh liệt vì trong cơ thể ta đã luân lưu thêm dòng máu của anh em không còn”. Trong một phụ trương báo Le Monde số 7570 ngày 17.5.1969 đã đăng một bài viết: “Trịnh Công Sơn, ca nhân phản chiến tại miền Nam Việt Nam (Trịnh Công Sơn – Chantre de l’antiguerre au Viet Nam du Sud)”.

Qua năm 1970 là năm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã hát những sáng tác mới của mình. Các bài: “Chính chúng ta phải nói hoà bình”, “Đừng mong ai, đừng nghi ngại”… đã vang lên trong những đêm không ngủ như một sự thách thức, một quyết tâm… Dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, sinh viên, học sinh Huế đã thực hiện một chương trình “Hát cho Hoà Bình”. Cũng trong những năm đầu thập niên 70 này “Những tác phẩm của phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh như: “Dậy mà đi của Tôn Thất Lập”, “Người mẹ bàn cờ” của Trần Long Ấn, “Tự nguyện” của Trương Quốc Khánh… Và đặc biệt là dòng nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn. Đến với âm nhạc sau khi đã qua triết học, Trịnh Công Sơn đã ra khơi một dòng ca khúc của mình với lối lập ca từ mang nhiều thủ pháp của các trường phái thơ hiện đại như: Tượng trưng, ấn tượng, siêu thực. Mỗi ca khúc của Trịnh Công Sơn là một bài thơ được hát lên, vượt qua mọi trở lực, kỹ thuật của âm nhạc để đến chia sẻ, an ủi con người giữa ác liệt của chiến tranh”.

Lần bước từ năm 1965-1972 ghi dấu một giai đoạn ấn hành tiến tới hình thức in thành các tuyển tập tình khúc, ca khúc được sắp xếp theo chủ đề khác với giai đoạn đầu từ hình thức in rời từng bản khổ lớn). Đặc biệt Ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn, mẫu bìa và phụ bản của Đinh Cường. Tác giả ấn hành lần thứ năm gồm 10.000 bản in trên giấy croquis, khổ vuông 18 x 18cm. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhớ lại: “Trong những năm chiến tranh ác liệt nhất ở miền Nam, nếu ở địa hạt âm nhạc tôi viết những ca khúc phản chiến và khát vọng hoà bình thì ở phía hội họa, họa sĩ Bửu Chỉ gần như là người duy nhất vẽ rất nhiều về đề tài chiến tranh và hoà bình. Anh nổi tiếng vào thời ấy với những tranh nhỏ trên giấy vẽ bằng bút sắt với mực đen. Tranh anh được in trên các tạp chí nước ngoài và gây được một dư luận rộng rãi. Trong phong trào sinh viên, học sinh ở Huế gần như Bửu Chỉ và tôi luôn luôn có mặt bên nhau. Chúng tôi cùng hát với nhau trong những đêm không ngủ, những ngày xuống đường và nhiều nhất là những buổi hát nuôi dưỡng hào khí ở quán cà phê Tổng Hội”.

Riêng tuyển tập Ca khúc da vàng trong những năm ấy có số ấn bản tương đối khá lớn nên đã đi vào “hang cùng ngõ hẻm”. Nhà văn Nguyễn Thuỵ Kha cho biết: “Ngày giải phóng Pleiku, tôi nhặt được cuốn Ca khúc da vàng do Sơn tự ấn hành, cuốn sách không hiểu của ai nhưng có ghi mấy chữ ở bìa: “Mẹ Việt ơi. Hãy ngưng máu đổ thịt rơi. Để chúng con cùng chung vui một nhà. Kỷ niệm ngày 23.2.1969 có thể đó là một trong những người lính Cộng hòa tự rút chạy khỏi Tây Nguyên.”

Ca sĩ Khánh Ly đã có lần bộc lộ: “Tôi thù ghét chiến tranh bởi mất mát quá lớn cho tôi, cho mọi người”. Trong một lần trao đổi với nhà báo Trần Hữu Lục, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho biết: “Năm 1969, tôi có ký hợp đồng với hãng Myrica Broadcasting Corporation thu đĩa 10 bài hát trong đó có bài “Diễm xưa” được vô chung kết và phổ biến rộng rãi ở Nhật và bài “Ngủ đi con” (do nhóm nhạc phản chiến ở Tokyo hát trước 200.000 người nghe) chiến đĩa vàng, đã phát hành trên hai triệu đĩa. Tôi nhận tác quyền đầy đủ nhưng chỉ hưởng tác quyền 200 ngàn đĩa mà thôi. Sau giải phóng, qua uỷ quyền cho thân nhân ở nước ngoài, hãng này tiếp tục trả tác quyền cho tôi và năm 1979 là đợt trả cuối cùng”. Cô Michiko Yoshii, người đã bảo vệ đề tài Cao học tại Đại học Paris VII về nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn. Trong phần luận án Michiko viết: “Đọc một trăm bài viết về một bài hát không bằng nghe biểu diễn một bài hát”<:i>. Mở đầu buổi bảo vệ luận án, cô Michiko nâng đàn lục huyền cầm, vừa đệm đàn, vừa hát hai bài “Đại bác ru đêm” và “Ngủ đi con”. Theo Michiko, tại Nhật nhạc Trịnh Công Sơn được phổ biến nhiều nhất so với các nhạc sĩ Việt Nam khác được dịch ra tại Nhật hay được đặt lời mới trên giai điệu của những bài hát quen thuộc. Để làm đề tài này, Michiko đã bỏ ra 4 năm tìm hiểu về thân thế tác giả, về âm nhạc, về ngôn ngữ văn học trong ca khúc Trịnh Công Sơn. Thành công của luận án là vạch ra được trong thế giới tâm hồn dân tộc có chiều mở ra với quốc tế, khả năng vượt ra thời gian và không gian của một tài năng nghệ thuật độc đáo. Luận án đạt điểm 17/20, là điểm cao nhất từ khi thành lập Phân khoa tiếng Việt của trường Đại học Jussieu (Pháp).

Một số ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn được dịch ra tiếng Nhật và tiếng Anh. Nhà báo Quốc Bảo đã phỏng vấn ca sĩ Hồng Nhung: “Có cách nào làm cho nhạc Việt gần lại với nhạc thế giới không?”. Hồng Nhung: “Theo em có hai cách. Một là nhạc sĩ Việt viết trực tiếp bằng tiếng Anh. Cách thứ nhì dễ hơn, đó là dịch những bài có sẵn sang tiếng Anh như nhạc ông Sơn chẳng hạn, một người bạn Mỹ đã dịch: “Người con gái Việt” và “Đại bác ru đêm” ra lời Anh Ngữ rất hay. Em thấy như Văn Cao, Trịnh Công Sơn – nhạc của họ đã vượt ra ngoài biên giới đất nước”. Nhớ lại buổi bảo vệ luận án cao học về nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn, theo lời đề nghị của GS.Phạm Đạng Bình, Michiko kết thúc buổi bảo vệ bằng bài hát: “Ca dao mẹ”, dịch ra tiếng Nhật, và “Nối vòng tay lớn”. Mọi người có mặt vỗ tay hát theo bài này.

HỒ VĨNH
Tạp chí Sông Hương, số 146 – 04/2001

Tình bạn, hồi sinh cơn hôn mê

“May thay trong đời vừa có tình yêu vừa có tình bạn. Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn tình yêu. Sự bội bạc trong tình bạn cũng có, nhưng không nhiều. Tôi thấy tình bạn quý hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa.” (Trịnh Công Sơn).

Tôi và Sơn cùng tuổi Kỷ Mão. Sơn sinh ngày 28 tháng 2 (bốn năm mới có ngày 29). Theo mấy con giáp Tây Phương thì Sơn con Cá, tôi con Cua. Trở thành bạn với nhau năm 20 tuổi. Lúc tôi ra Huế học Mỹ Thuật, năm 1959. Huế là quê ngoại, và nhà thờ Nội tôi cũng ở đây (làng Nam Trung – những người trong Nam ra Huế làm việc dưới triều Nguyễn). Thời gian này, Sơn cũng vừa từ giã Sài Gòn, từ giã mái trường trung học Chasseloup Laubat (*) mà Sơn đang học năm cuối, classe philo. Để về Huế sống với gia đình.

Những năm sống tự lập, Sơn kể đã trọ tại nhà bác Kỉnh tại Sài Gòn, là gia đình người bạn thân của ba Sơn. Sau khi ba Sơn mất năm 1954 trong một tai nạn xe, khi đang đi vespa. Sơn kể là hồi nhỏ đã từng vào ở trong tù với ba Sơn ở lao Thừa Phủ thời kháng chiến chống Pháp.

Những tối đi chơi khuya về, Sơn thường rủ tôi ở lại nhà, lúc đó là tiệm Thanh Tâm, bán xe đạp ở Ngã Giữa (đường Gia Long, rồi Phan Bội Châu, nay là Phan Đăng Lưu). Tôi còn nhớ rõ, ở chân cầu thang lên lầu, bên vách, Sơn treo bức hình James Dean thật lớn, hình như Lê Vinh vẽ. Lúc đó, Lê Vinh là họa sĩ vẽ phông xi-nê rất giỏi, không ai vẽ đẹp và nhanh bằng – cả Sài Gòn và Huế.

Má Sơn thường nhường cho chúng tôi ngủ trên chiếc giường Hồng Kông rộng, có bốn cột trụ treo mùng bằng sắt đen, chạm trổ… đêm, cứ nằm nói chuyện bâng quơ, không dứt. Chuyện gì cũng tâm sự. Ngay cả chữ ký cũng hỏi nhau. Tôi còn nhớ, Sơn ký nhiều chữ ký, rồi quyết định chọn chữ có gạch ngang chạy dài trên đầu, hỏi tôi chịu không. Tôi nói, gạch ngang phía trên là cao thượng, chịu chứ. Sao ông không vẽ thêm con cá vào cho vui. Thế là Sơn vẽ con cá dưới góc mặt chữ ký, như cái triện của mình. Sơn chỉ vẽ một nét với cái vòng tròn con cá trước mặt tôi, tôi nói ông phải thành họa sĩ mới đúng… Những năm sau này, Sơn thường nói với bạn bè, Sơn vẽ là vì sự kích thích và gần gũi với những nơi chốn mà tôi đặt atelier. “Tôi là khách vãng lai thường trực của atelier Đinh Cường. Đêm cũng như ngày. Thế giới tranh của Cường đối với tôi không có gì xa lạ, bởi vì chúng tôi đã cùng sống trong thế giới ấy từ những ngày lòng chưa hề vướng bận về một tiếng thở dài…” (Trịnh Công Sơn – Thanh Niên số 47, 21.11.1988).

Chữ ký có gạch ngang kéo dài trên đầu và con cá, biểu trưng cho tuổi Sơn, đã theo Sơn suốt từ những sáng tác nhạc, tranh và trên thư từ gởi cho bạn bè. Cho đến gần mười năm sau cùng, Sơn mới đổi chữ ký, bỏ gạch ngang. Ký ba chữ với ba chữ hoa ở đầu, lên xuống tùy theo tâm trạng… “Trong từng giọng nói có màu tàn phai”, nghe Sơn hát đến câu này khi nào tôi cũng thấy rưng rưng, và tôi hay nói với Sơn “có nghe đời nghiêng”.

Đời mới nghiêng thôi mà Sơn đã rơi xuống vực… “Con diều rơi cho vực thẳm buồn theo”. Vực thẳm là tôi, đang âm thầm khóc bạn. Tôi cứ ngồi nhìn qua cửa sổ, khu rừng đàng sau nhà mà nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm… “Giữa cuộc đời điên đảo này đây, tôi chỉ còn sống trong vùng kỷ niệm. Lạ lùng thay cho phần số tôi : quân bình giữa cuộc đời này và một cõi đời khác, giữa ranh giới những gì đã qua và những cái nhãn tiền.” (Paul Klee).
Kỷ niệm đã ghi dấu trên từng năm tháng, từng chặng đường. Còn để lại gì .

THỜI XUÂN XANH

Khi tôi ra Huế, thì đã nghe “ba Sơn, ba Hải, ba Hà”, các bạn hay gọi nhau như vậy. Đó là Trịnh Công Sơn, Thanh Hải và Hà Thanh (không phải Thanh Hải hát nhạc Sơn sau này, hiện sống ở Đức). Ba người bạn đã đàn ca với nhau rất sớm, bằng tất cả tấm lòng say mê âm nhạc thuở xuân xanh. Năm 1957, Hà Thanh đã hát trên đài Phát Thanh Huế. Sơn sáng tác những bản nhạc đầu tay và Thanh Hải thì đàn guitare rất bay bướm, hay biểu diễn cho bạn bè xem, đàn ở nhiều vị thế … Thời đó còn có Đặng Nho thổi clarinette. Hà Thanh là ca sĩ đầu tiên bạn của Sơn và hát nhạc Sơn. Hà có nhiều em gái, Ph. Th. là đẹp nhất. Sơn ngỡ đó là mối tình đầu của mình. Đã ghi trong “Nhật Ký tuổi 30” – “Thời gian mơ ước được làm người lớn cũng là thời gian của mối tình đầu tiên. Cũng là thời gian được yêu và được nhìn người yêu mình đi lấy chồng. Cuộc tình duyên không cân xứng về tuổi tác nhưng cân xứng về danh vọng và nhan sắc. Điều này đã trở thành cổ điển và không gây thêm được một chút ngạc nhiên nào trong xã hội nho nhỏ của thành phố. Tuy thế, riêng tôi, là một thất vọng không lường được. Sau đó là những mối tình khác nhau nhưng tôi vẫn khó xóa được mặc cảm (tuy càng ngày càng mỏng dần trong tôi) đối với thành phố này …” (Tuổi Trẻ Chủ Nhật, 8.4.2001).

Đúng là các gia đình Huế thường chọn môn đăng hộ đối, để ý đến bằng cấp khi cưới hỏi cho con. Dạo ấy, Sơn thường rủ tôi đến nhà Hà Thanh ở đường Huyền Trân Công Chúa. Trước mặt nhà là dòng sông bến Ngự, khúc sông gần nhà ga và trường dòng Pellerin. Nhớ là tôi có đem đến tặng Hà Thanh bức tranh vẽ cô gái ngồi trước biển với con dã tràng đỏ, mà Hà Thanh cứ cười: “cổ con gái chi mà dài ngoằn rứa” – cái thời mê Modigliani mà.

Tháng 4 vừa qua, sau hai tuần Sơn mất, bạn bè ở Washington D.C. làm lễ cầu siêu cho Sơn tại chùa Hoa Nghiêm. Cách một tuần sau, Hà Thanh từ Boston lên hát cho ngày lễ Phật đản. Tôi và Hà cùng nhắc lại những ngày xa xưa ấy…, mà Nắng Thủy Tinh, Nhìn Những Mùa Thu Đi, Gọi Tên Bốn Mùa là cảm hứng từ một vẻ đẹp thánh thiện “em đứng lên gọi mưa vào hạ…”, để rồi sau đó Ph. Th. đi lấy chồng, là một viện trưởng viện đại Học Huế, rồi Bộ Trưởng Giáo Dục… Sau năm 1975, ở trại cải tạo về, một thời gian thì mất. Ph. Th. ở vậy cho đến nay tại Boston. Là một phụ nữ Huế đoan trang, đức hạnh.

MỐI ĐỒNG CẢM NGHỆ THUẬT

Năm 1958, Trịnh Cung từ Nha Trang ra Huế học Mỹ Thuật. Làm thơ với bút hiệu Thương Nguyệt, trong nhóm bạn thơ Nha Trang, với Thanh Nhung, Cao Hoành Nhân. Những bài thơ tình đầy sương khói Huế.

Sơn đã phổ nhạc bài thơ 4 chữ Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu của Trịnh Cung, và sửa câu cuối. “Lời ca anh nhỏ, nỗi buồn hôm nay” thành “nỗi lòng anh đây”. Sơn nói, “nỗi buồn hôm nay” có vẽ thời thượng quá. Thật vậy, câu Sơn sửa trong nhạc nghe thật hơn, hay hơn. Sau đó in trong tập nhạc Sơn tự chép tay 1968.

Nguyễn văn Liễu (tên thật) và Thương Nguyệt đã thành Trịnh Cung từ đó.

Tôi về Huế sau Trịnh Cung một năm. Và đã thuê chung với Trịnh Cung nhà ở đường Nguyễn thị Giang, chợ Cống. Căn nhà giữa đồng lúa hoang vắng. Chúng tôi đã vẽ với tất cả “cuồng nộ sáng tạo”. Những bức tranh cực kỳ lãng mạn của thời xanh lam. Năm 1962, Trịnh Cung ra trường, về lại Nha Trang rồi vào Sài Gòn làm việc. Sau đó nhập ngũ…

Tôi, Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường càng ngày càng thân nhau hơn. Tường đã viết những bài ký kể về một Tuyệt Tình Cốc (Ngọn Núi ảo ảnh – Thanh Niên 1999). Đó là một căn nhà lá thấp, xưa cổ của ba mẹ Tường trong xóm. Nơi tôi và Tường ở trong sự tịch lặng, thỉnh thoảng bạn bè thân thiết đến chơi, cũng là nơi để tiếp những bạn ở xa về. Như lần tiếp Thế Uyên từ Sài Gòn ra (Thế Uyên lúc đó là nhà văn đang ở trong quân đội, bạn Tường). Sơn đã hát, đã trao đổi những suy nghĩ về một cuộc chiến… Tường đã viết về những ngày Đà Lạt trong mùa lễ Giáng Sinh đáng nhớ nhất của chúng tôi, lần tôi và Sơn đang ở cùng nhau trên cao nguyên một thời gian dài. Thời Sơn dạy học ở Blao. Xe đò thoăn thoắt đi về giữa Blao, Đà Lạt, Đơn Dương… quá thơ mộng và giang hồ. “Những chuyến xe đò thoăn thoắt đi về, nối liền tiếng chim cao nguyên với loài hải âu vùng biển. Rồi lời sóng chưa kịp tan đã vội vàng nghe ra điệu suối. Kỳ thú như một con gió lăng loàn…” (TCS, Thanh Niên, 21.11.1998).

Đà Lạt, Noël 1965 và Đinh Cường (Thanh Niên, xuân 1993), và Căn Nhà của Những Gã Lang Thang (Thanh Niên, xuân Tân Tỵ 2001), nói về căn nhà nơi Sơn đã ở, có những hàng cây long não mà Sơn đã gửi hồn mình trên những phiến lá ánh bạc mỗi lần ra đứng ngoài bao lơn, nhìn xuống chờ D. đi ngang qua.

Tôi kể lại cũng không bằng Tường. Tường là người bạn một thời tôi gần gũi, tôi hiểu, một người chỉ thích:

Mùa xuân lên đồi cỏ thơm
Mùa hạ nhìn trời mây khói

(Dù Năm Dù Tháng, Người Hái Hoa Phù Dung, thơ, nxb HNV 1992)

Một người yêu sự mong manh của hoa phù dung, nhớ hoài một màu hoa violette. Luôn giữ tình cảm lãng mạn thuần khiết với đời, với bạn . Mà cứ mãi gặp những oan khiên, hiểu lầm, gán ghép… Mọi biến cố ở Huế, đều có tôi và Sơn. Từ mùa xuân Mậu Thân 1968. Lúc đó gia đình tôi tản cư về Hồ Mưng, còn gia đình Sơn vào trú trong thư viện Viện đại Học. Sau cái Tết thảm khốc đó, Sơn làm nhiều ca khúc gây những xúc động mạnh (Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người). Bãi Dâu, cái tên nghe đã rờn rợn của những hố hầm chôn người… của bao nhiêu vành khăn tang trắng. Rồi mùa hè đỏ lửa 1972, những ngày trước tháng 4.1975… Huế di tản…

Lần nào Sơn cũng cùng chung lo cho gia đình bạn bè có phương tiện di tản. Nhờ anh Hồ Đăng Lễ đang làm trưởng khu công chánh, giúp cho xe chuyên chở. Việc dựng tượng cụ Phan Bội Châu, Sơn cũng nhờ anh Lễ, khi Lê Thành Nhơn đưa ra ý kiến làm và đúc tượng đồng. Vì Huế còn có Phường đúc, nơi đúc đồng nổi tiếng còn lại. Nhơn ra Huế dạy điêu khắc, có nhiều tâm huyết. Anh Lễ đã xoay xở vật liệu, tài chánh ban đầu để có thể khởi công. Ròng rã nhiều tháng, bao nhiêu công sức. Có lúc phải dở dang vì thiếu phương tiện. Sau cùng cũng hoàn thành. Tượng đúc đồng để mãi tại Phường đúc, đến sau tháng 4.1975, nhiều tiếng nói đóng góp vào, tượng được đem về dựng tại nhà thờ cụ Phan Bội Châu tại Bến Ngự.

Nhắc đến Lê Thành Nhơn, cũng là nhắc đến căn nhà 101 Nguyễn Du, nơi Nhơn ở. Những ngày trước tháng 4.75, Sơn đã đem nhiều thùng sách nhạc mới in xong đến gởi đó. Sơn và Nguyễn Trung có những ngày ở luôn tại đó. Những ngày đầu giải phóng, Sơn đến tìm lấy lại những thùng sách nhạc, thì thấy la liệt trước sân, bị lấy làm vật lấp những vũng bùn. Ứa lệ thay, những ngày đầu của thanh lọc văn hóa. Tranh của chúng tôi còn lại, tại Dolce Vita, gallery nhỏ thuộc khách sạn Continental, cũng bị xe ba gác chở đi vất.

HUẾ, NHÓM BẠN MỘT THỜI, MÃI MÃI

Ban đầu là Sơn, Tường và tôi. Sau có thêm Ngô Kha và Bửu Ý. Tường sau khi làm luận án cao học Triết, đại học Văn Khoa Sài Gòn (giáo sư Nguyễn Văn Trung bảo trợ), về dạy triết trường Đồng Khánh. Ngô Kha sau khi tốt nghiệp đại học sư phạm khóa đầu tiên của đại học Huế (1959), dạy tại Quốc Học. Kha lấy thêm cử nhân Luật (1962). Bửu Ý thì làm trưởng khoa Pháp văn, đại học sư phạm Huế. Chúng tôi thường nói với nhau : có nhạc, có triết, có họa, nay có thơ và dịch thuật nữa thì còn gì hơn. Thật vậy, với tình bạn, với say mê văn chương nghệ thuật, bổ sung cho nhau những kiến thức, chúng tôi đã một thời làm việc đầy hưng phấn. Ngô Kha cho in Hoa Cô độc, do Rừng vẽ bìa 1962, gây luồng gió mới cho thơ. Bửu Ý dịch Vườn đá Tảng của Nikos Kazantzakis, Con Lừa Và Tôi của Ramon Rimenez rất thơ mộng. Tường say sưa với siêu hình học. Còn Sơn và tôi với những quả chín đầu mùa ấy: Diễm Xưa của Sơn, và Miền Lệ Xanh của tôi, được chọn dự triển lãm lưỡng niên họa sĩ trẻ tại Paris, 1962.

Ngô Kha bị công an Huế bắt và bị chết ngay sau khi hiệp định Paris vừa được ký kết 1973 (đến nay vẫn chưa biết đích xác bị chết như thế nào, chưa tìm ra dấu tích).

Thời gian này có thêm Bửu Chỉ. “…Trong những năm chiến tranh ác liệt nhất ở miền Nam, nếu ở địa hạt âm nhạc tôi viết những ca khúc phản chiến và khát vọng hoà bình, thì ở phía hội họa, họa sĩ Bửu Chỉ gần như là người duy nhất vẽ rất nhiều về đề tài chiến tranh và hoà bình. Anh nổi tiếng vào thời ấy với những tranh nhỏ trên giấy vẽ bằng bút sắt với mực đen…” (TCS, Bửu Chỉ – Một Cuộc Truy Hoan Vô Tận Về Cõi Vô Thường).

Không khí bạn bè lúc ấy, phải kể anh chị Đỗ Long Vân, từ Pháp về. Anh Đỗ Long Vân từ đại học Sorbonne về dạy đại học Văn Khoa Huế. Đêm nào chúng tôi cũng cùng anh chị Vân, Quỳ đạp xe đạp vào cà phê Dung trong thành nội, ngồi nói chuyện với nhau cho đến khuya. Hai người bạn ngoại quốc nữa là Christian Cauro, dạy đại học Văn Khoa, và bác sĩ Eric Wulff, dạy đại học Y Khoa… Cauro và Wulff hiện ở Paris và ở Đức, vẫn liên lạc với chúng tôi, tình nghĩa như xưa…

VÀI NGƯỜI BẠN GÁI CỦA SƠN MÀ TÔI BIẾT…

Trở thành bạn thân thiết chung của chúng tôi sau đó. Cho đến nay, Tôn Nữ Bích Kh. trong Biển Nhớ còn ở Nha Trang, tôi có lần ghé thăm. Hai chị em Bích D., và Dao A., ở California, trong Diễm Xưa và Xin Trả Nợ Người. Tháng cuối cùng trước khi Sơn mất, Dao A. về thăm, suốt tuần sáng nào A. cũng đến ngồi trên chiếc xe lăn của Sơn, chỉ còn biết nhìn Sơn, cho đến chiều tối mới về nhà. Chúng tôi thường đùa với Sơn : “D. xưa, A. nay”. Dạo đó, nhà Sơn dọn về ở khu nhà mới xây của Dòng Chúa Cứu Thế, 11/3 Nguyễn Trường Tộ. Địa chỉ của Sơn cho đến sau 75. Hiện nay gia đình Hoàng Phủ Ngọc Tường đang ở: “…Hình như trong mỗi góc đầy bóng tối của căn nhà này, trên chiếc bàn viết gỗ mục của Sơn để lại, và trong chiếc ghế bằng sợi mây hèo to của Cường thường ngày vẫn ngồi vẽ, đều dậy lên mùi hương lặng lẽ của tuổi trẻ chúng tôi.” (HPNT- Căn Nhà của Những Gã Lang Thang – Thanh Niên, xuân 2001).

Căn nhà mang nhiều kỷ niệm của Sơn, nhất là tháng ngày sau giải phóng. Khi cả gia đình Sơn đã ở tại căn nhà mới xây không lâu trước 75, 47C Duy Tân, nay là Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn. Sơn trở lại Huế một mình với bạn bè, sống những ngày đầu sau giải phóng, còn biết bao khó khăn, nghi kị. Sơn vào sinh hoạt tại hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên, thường đi lao động chung cùng Bửu Chỉ, khi tại Huế, khi tại Quảng Trị (không hề đi cải tạo hay kinh tế mới ở Khe Sanh như nhiều tin đã viết).

Mỗi đêm, chúng tôi vẫn đến nhà cùng Sơn uống rượu, Lữ Quỳnh và tôi ở trong Thành Nội, đạp xe qua Sơn, Quỳnh thường lấy chai đi mua rượu đế (chai mua hôm trước, hôm sau đến đổi lấy chai mới về). Phần lớn là rượu dổm, vì khan hiếm gạo nếp… còn nghe nói bỏ cả thuốc rầy vào cho trong. Ôi, một thời của những buổi rượu độc hại như thế, mà quây quần và nói cười, vẽ chân dung bạn bè treo đầy tường, nhất là Bửu Chỉ. Phải kể đến người bạn mới quen sau 75 mà chúng tôi rất quý mến: Thái Bá Vân, người viết phê bình nghệ thuật được các họa sĩ nể trọng. Vân mất trước Sơn hai năm, cũng vào tháng 4, Vân đã viết:

“…Riêng tôi, mãi sau khi miền Nam giải phóng, nhờ những chuyện dạy học ở Huế, 1978-1981, tôi mới được gần Trịnh Công Sơn, trên căn nhà nhỏ đường Nguyễn Trường Tộ, đầy kỷ niệm với bạn bè trong đó. Niềm an ủi ấy là của hàng triệu người đã khuất, dành cho chúng tôi, và mỗi lần nhớ lại, chúng tôi đều thầm rơi nước mắt.” (Thái Bá Vân – Tiếp Xúc Với Nghệ Thuật , Viện MTVN 1997).

Chính tại căn nhà này Sơn đã viết bài Diễm Xưa, ghi một dấu mốc cho ca từ đầy chất huyền thoại của Sơn “…Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”. Có lần Sơn bắt gặp một nhánh hoa sầu đông tím cắm trước cửa sổ nhà. Mà còn ai, ngoài cô gái mỗi ngày vẫn đi học ngang qua đó. Tất nhiên là Sơn kể cho tôi ngay với nhiều xúc động. Và, Sơn đã bạo dạn một lần, nhờ tôi đi cùng , qua thăm D., nhà bên kia sông, qua cầu Phú Cam, rẽ mặt, đi một đoạn đường Phan Chu Trinh… Lúc này, tôi cũng đã thuê phòng trọ trong con hẻm đá gần nhà D. và nhà Tuý Hồng (chị dạy Việt văn trường trung học Hàm Nghi, đã viết truyện ngắn đăng ở Bách Khoa, gây chú ý nhiều độc giả). Tường về đó ở chung cùng tôi để đi dạy gần hơn. Tôi còn nhớ nét mặt nghiêm của ông cụ D., giáo sư Pháp văn trường Đồng Khánh. Ông cụ đã nhìn chúng tôi bằng đôi mắt nghi kị, nhất là Sơn, tóc dài, có râu lưa thưa dưới cằm. Nhưng đã liều thì phải chịu trận. Lúc D. đưa chúng tôi ra cổng, cổng sân là hai liếp cửa gỗ thấp. Còn nhớ rõ là lúc đó, em gái D., còn nhỏ lắm, chạy theo ra nhìn Sơn. Ai ngờ sau này Sơn đã da diết với cái dáng vẻ khoan thai, áo lụa vàng của A., để rồi, thất vọng, để rồi… hai mươi năm sau mới được: “…Hai mươi năm em trả lại rồi. Trả nợ một đời xa vắng vòng tay …”.

Biển Nhớ, hay bóng dáng của Bích K.. Là một giai đoạn ngắn, vì hoàn cảnh và thời cuộc lúc đó. Sơn vào Qui Nhơn nấp dưới bóng trường Sư Phạm. Hè 1962, tôi vào thăm Sơn vì Sơn ở lại, không về Huế. Đêm nào Sơn cũng rủ Bích K. cùng tôi ra biển ngồi đến khuya. Bích K. từ Nha Trang ra Qui Nhơn học, cùng lớp, hay săn sóc cho Sơn, lúc ấy chỉ thấy khi nào Sơn cũng mặt chiếc áo chemise kaki vàng. K. thường đem cà phê đến tặng Sơn. Chúng tôi đã ngồi uống cà phê với nhau dưới mái quán thấp ven biển lợp bằng lá kè. Biển Nhớ là cảm hứng từ muôn vàn đợt sóng lấp lánh trong những đêm khuya khoắt ấy, mà Sơn đã kéo cao cổ áo, chợt rùng mình, rồi có một ngày sẽ xa những dấu chân trên cát, có còn “trời cao níu bước Sơn Khê …”. Thời Qui Nhơn này của Sơn phải kể đến Trường Ca Tiếng Hát Dã Tràng, mà hè 1964, trong lễ ra trường, Sơn đã dàn dựng cùng bạn bè hát rất thành công. Sơn đã chép tặng tôi mấy trang bản trường ca này. Tôi đem về, dán đầy các ô cửa kính. Tiếc là bây giờ thất lạc, không tìm lại được.

Nhắc đến Sơn – Khê, Sơn hay ghép tên bạn gái vào lời nhạc của mình một cách hồn nhiên như vậy. Như sau này, một cô gái bình thường, có sắc đẹp quyến rũ, ở cạnh nhà Tôn Thất Văn, làng Báo Chí, Thủ Đức. Tôn Thất Văn là họa sĩ vẽ tranh lụa nổi tiếng, bạn thân của chúng tôi. Tuần nào chúng tôi cũng về nhà Văn uống rượu. Sơn đi chiếc xe PC màu vàng cam … “Cây sẽ cho Lộc và cây sẽ cho hoa”. Lộc là cô láng giềng của Văn mà Sơn đã si tình.

Cũng như Bống bồng ơi sau này của Sơn. Bống là tên gọi ở nhà của Hồng Nhung:

Ngày Bống
Mẹ bồng
Nhẹ quá tơ tằm
Lay nhẹ bống bồng bông
Lay nhẹ đóa Hồng Nhung.

Và còn nữa, Quỳnh H. của “nụ cười khúc khích trên lưng”, Chu Nguyệt Ng., mà chúng tôi đã sửa soạn đi ăn cưới, Michiko, cô gái Nhật rất thương Sơn, chơi bóng rổ giỏi, đã làm luận án về nhạc Sơn tại đại học Sorbonne, Paris…

ĐÀ LẠT MÙ SƯƠNG 1965

Là những tháng ngày sương khói, lãng đãng nhất. Hình ảnh phải ghi lại kẻo quên, là chiếc khoen tai lớn với mái tóc dài, đang băng qua đồi Cù. Phùng thị L. , hình ảnh của Như Cánh Vạc Bay:

Gió sẽ mừng vì tóc em bay
Cho mây hờn ngủ quên trên vai
Vai em gầy guộc nhỏ
Như cánh vạc về chốn xa xôi…

Mà tôi đã gặp lại bên này, khi đến Canada, về thăm Ottawa. “Tóc gió thôi bay” như một âm hưởng của nhạc Sơn khởi đi từ Đà Lạt. Như “Đàn Bò Vào Thành Phố” khởi đi từ B”lao.

Sau triển lãm tranh một mình đầu tiên ở Huế, rồi Đà Nẵng, Noël 1965 triễn lãm tại Alliance Francaise, Đà Lạt. Nơi nào Sơn cũng ở bên tôi. Thời gian này Sơn gặp Khánh Ly, mới hát ở Night Club Đà Lạt. Sau đó về hát với Sơn ở sân trường Văn Khoa, Quán Văn, Sài Gòn, được sinh viên nồng nhiệt tán thưởng.

Đà Lạt, căn phòng tôi thuê ở đường Hoa Hồng. Những chiều chúng tôi thường ra Kiosque cô Ba, gần hồ Xuân Hương, uống bia. Sơn giới thiệu tôi với cô Ba, tôi làm nghề sửa xe, vì tay chân lem luốc sơn màu. Cô Ba thấy chúng tôi còn trẻ, mà chiều nào cũng ra quán ngồi, thắc mắc lắm. Sau đó, khi bày tranh, Sơn nói tôi mời cô Ba đến dự. Lúc đó cô mới ưu đãi chúng tôi hơn nữa. Uống bia nửa giá…

Những đêm khuya Đà Lạt, lúc đó Nguyễn Xuân Thiệp, trung uý, mới nhận chức trưởng đài phát thanh quân đội Đà Lạt, có chiếc jeep, cứ tối xuống là cùng nhau uống rượu, khuya về, lái xe cứ lòng vòng vì say..

Bên cạnh Sơn, còn có em Sơn, Trịnh Xuân Tịnh. Thời ở Đà Lạt, Tịnh là người gần gũi, chăm sóc cho Sơn, lo in và phát hành nhạc, từ những bản nhạc rời cho đến in thành tập. Thời gian đầu tiên đó, tôi luôn vẽ bìa cho Sơn và được ” nổi tiếng lây “, khi tờ Le Monde, tờ báo lớn và uy tín của Pháp, có bài của Pomonti viết về Sơn, in kèm cái dessin tôi vẽ Sơn rất kỹ bằng bút sắt, trong tập ca khúc đầu tiên của Sơn được in ra, rất đẹp, nhà xuất bản An Tiêm. Tô Thùy Yên viết bài giới thiệu. Chắc Tịnh không quên được cái đêm Sơn và Tịnh vơ hết tiền của anh em khi Sơn và Tịnh đánh xì tẩy thắng, lận tiền dày cộm trong áo, đi giữa khuya Đà Lạt. Sơn chơi binh xập xám và xì tẩy chì lắm.

TRỞ LẠI SÀI GÒN, THỜI “CẬU”

Còn non choẹt lúc đó, mà đêm nào chúng tôi cũng vào dancing Tự Do, được tài-pán Cường lúc nào cũng ngả người “chào cậu” và luôn dành cho cái bàn nhỏ trên lầu. Sơn nhảy bebop bay bướm và thích nhất điệu này. Những đêm đi phòng trà thường có cả Trịnh Cung, lúc đó, đang thuê căn phòng trong khu phố sau chợ Trương Minh Giảng, cạnh phòng Huy Cường, tài tử xi-nê đang ăn khách. Có những đêm tôi và Sơn lên Trịnh Cung chơi, vì hết tiền. Đang ngồi lơ mơ với nhau, đã khuya, mà có người gõ cửa mua tranh. Cung bán được tấm tranh, chúng tôi lại xuống phố…

Sơn có những cuộc si tình kỳ lạ. Kỷ niệm si tình đáng nhớ nhất, là không biết Sơn mua chiếc nhẫn bằng platine bạc lúc nào, đeo ở ngón tay. Đêm đó, sau khi nhảy xong – thường là với Dung và Thanh Thuý Tàu (vì cô lai Tàu, và để phân biệt với ca sĩ Thanh Thuý), Sơn nói là có món quà tặng Thuý, chốc nữa về sẽ trao. Khi ra khỏi cửa phòng trà, giữa khuya, đi một đoạn đường Tự Do, thì Sơn nói Thanh Thuý nhắm mắt lại, Sơn lấy chiếc nhẫn đeo vào ngón tay đeo nhẫn cưới của Thanh Thuý, làm Thanh Thuý cảm động, bỏ chạy tới trước, chiếc robe trắng tung bay trong phố khuya…

Đêm trên phố khuya ấy là một kỷ niệm đẹp. Trong chúng ta, ai mà không có những góc phố kỷ niệm:

Níu vai phố rộng xin về 
Với cây gió trút với hè nắng rưng(Bùi Giáng)

Với Sơn thì:

Về trên phố cao nguyên ngồi 
Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi

Như còn nghe rõ “ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì” của chúng tôi trên phố Blao, Đơn Dương, Đà Lạt …

Năm 1965, có lẽ là năm tháng đáng ghi nhớ nhất của tôi và Sơn. Sơn được các bạn ở Sài Gòn tổ chức buổi ra mắt đầu tiên trước quần chúng tại khu đất trống sau lưng trường Văn Khoa Sài Gòn cũ (nay là Thư Viện Quốc Gia). “…Với tôi, đây là buổi thể nghiệm xem mình có thể tồn tại trong lòng quần chúng được không. Trước mặt đám đông đến mấy nghìn người gần đủ thành phần văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên, tôi cảm thấy mình quá trơ trọi và đầy lo âu trên bục gỗ với cây đàn guitare dưới ánh sáng đèn… Buổi hát đã để lại một ấn tượng khá tốt đẹp cho người trình bày lẫn người nghe…” (TCS) Còn tôi có cuộc bày tranh Noël ở Đà Lạt với đông bạn bè lên dự, có cả Phạm Duy, Nguyễn Văn Trung, Đỗ Long Vân, Tôn Nữ Kim Phượng, Christian Cauro… Tôi, Sơn và Tường không còn gì hạnh phúc hơn tình bạn… Phòng tranh này tôi đề tặng Tuyết Nhung…

THỜI GIAN XA BẠN

Tôi có 15 năm sau giải phóng, còn ở lại cùng Sơn. Sài Gòn – Huế – Hà Nội. Cùng gặp những người bạn vong niên rất quý: Nguyễn Tuân, Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Phùng Quán, Thái Bá Vân… Các anh Tuân và Văn Cao thân thiết với Sơn nhất. Đến chơi với Sơn cũng là đến với bạn bè Sơn, vì lần nào Sơn cũng gọi chúng tôi đến cùng uống rượu. Sơn và Văn Cao có dáng dấp giống nhau. Người gầy, hai bàn tay ngón dài tài hoa. Thơ, nhạc, vẽ đều tài hoa. Hoàng Ngọc Hiến đã tiến cử một bài thơ tình hay nhất của thế kỷ, nhân một nhóm những người yêu thơ yêu cầu, đó là lời của bài nhạc Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ. Tôi cũng đồng ý như vậy. Mấy năm ở Sài Gòn, tôi có vẽ bức sơn dầu Bỏ Tôi Đứng Bên Đời Kia, cảm xúc từ mấy câu của Sơn:

Lòng tôi có đôi lần khép cửa
Rồi bên vết thương tôi quỳ 
Vì em đã mang lời khấn nhỏ
Bỏ tôi đứng bên đời kia.

Sau đó bán cho người khách đem về Nhật. Tháng trước khi Sơn mất, tôi còn gọi điện thoại về đùa với Sơn: Hoàng Ngọc Hiến bình chọn ông có bài thơ tình hay nhất thế kỷ, bây giờ mình sẽ bình chọn ông là người vẽ hay nhất của thế kỷ. Sơn cười khoái chí, nói, đừng nói vậy mà người ta ghét. Sơn sợ người ta ghét lắm. Vì Sơn chẳng ghét ai bao giờ. Thây kệ (không phải thôi kệ) là chữ Sơn hay nói khi có ai xấu với mình…

Tôi cùng gia đình qua Mỹ cuối năm 1989. Những ngày đầu năm 1990, Sơn đã viết thư chia sẻ với tôi những lo toan lúc ban đầu khi đến Salt Lake city, tiểu bang Utah: “Mình nghĩ ban đầu có khó khăn, nhưng dần dà rồi đâu cũng vào đấy cả. Lẽ ra cái tuổi bọn mình, phải bắt đầu nhàn thì bây giờ chỉ mới khởi công. Cũng gay go thật. Chúc tất cả hãy can đảm và thiền trước mọi cảnh đời đa đoan phức tạp” (trích thư Sơn, 5.3.1990).

Hai năm sau, đang nhớ bạn, thì Sơn nhắn, sẽ qua Montreal, Canada thăm gia đình các em. Lúc đó là tháng 3.1992, Canada còn tuyết nhiều. Tôi qua thăm Sơn ngay, có gặp cả Khánh Ly. Lại suốt ngày lang thang ở phố thị, St. Laurent, Duluth, … Sơn cứ chỉ bảng số xe của Canada có hàng chữ Je Me Souviens mà nói: thành phố này có tình. Có đêm vào quán nhạc Jazz nổi tiếng vừa uống rượu vừa nghe đàn. Tôi vẫn mê tiếng đàn trầm contrebasse. Sơn thì saxophone. Sau đó về nhà ngồi uống rượu tiếp đến 2, 3 giờ sáng và vẽ. Sơn thích vẽ trong những lúc thấm rượu và khuya khoắt như thế. Lần đó Sơn hát cho tôi nghe Tôi Ơi Đừng Tuyệt Vọng. Tôi thật sự xúc động, khi nghe câu: “Con diều rơi cho vực thẳm buồn theo”. Tôi cứ thầm hát cùng Sơn câu này. Nét phóng bút của lời nhạc Sơn chép tặng tôi, vẫn treo trên cánh cửa từ ngày Montreal về cho đến nay, mới đó mà đã gần 10 năm.

HỘI HOẠ, GIẤC MỘNG KHÔNG BỜ BẾN CỦA SƠN

Đến với nhạc Sơn là đến bằng linh cảm, bởi vì tâm hồn Sơn là một tâm hồn nhạy bén không cùng, với hội họa cũng vậy. Sơn cũng vẽ dễ như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát nói: “Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra”.

Không gian tranh của Sơn bao giờ cũng dở dang, nhưng lại đầy tinh khiết, sáng tạo: “Nghệ thuật dạy cho tôi biết biên giới của hữu hạn và sự vô cùng. Riêng trong hội họa tôi còn bắt gặp thêm cái không bờ bến của một giấc mộng tự do tinh thần”. Sơn phát biểu như một tuyên ngôn nghệ thuật. Tranh Sơn thanh thoát đến hư tưởng. Người xem thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng, khác với những “lời ca thơ” đầy nước mắt của Sơn “tôi không thể phân biệt được nước mắt với âm nhạc” (Nietzsche).

Những hình thể mảng màu trong tranh xếp đặt ngộ nghĩnh và đầy suy tính, lại rất đúng với nguyên lý của nghệ thuật mới. Những họa sĩ chuyên nghiệp đôi lúc cũng ngợ tay, khó bóp méo hình thể và sắp xếp không gian được như vậy.

Sơn rất giỏi về nắm bắt những nét đặc trưng khi vẽ chân dung, nhất là chân dung những người bạn thân thiết. Sơn vẽ nhiều chân dung Văn Cao rất đẹp. Lột tả được nét tinh tế trên từng khuôn mặt. Chân dung thiếu nữ như chân dung Linh Đan, chân dung M., là những bức tranh đẹp nhất của Sơn.

Nguyễn Trung đã viết “hôm nay chúng ta nói về Trịnh Công Sơn họa sĩ. Michel Ragon, nhà lý thuyết người binh vực nghệ thuật mới, nghệ thuật trừu tượng, có viết rằng trong thời đại chúng ta, không còn những họa sĩ vẽ chơi (peintre du dimanche) nữa. Rất đúng với Trịnh Công Sơn. Anh mới vẽ một vài năm nay và đã trở thành họa sĩ thực thụ” (phòng tranh ĐC, ĐQE, TCS, Sự Phối Hợp Thú Vị Của Ba Tính Chất Khác Nhau, Tuổi Trẻ CN, 5.1.1989).
Đó là lần bày tranh tại nhà hữu nghị Tiệp Khắc 1989. Tôi, Đỗ Quang Em và Sơn. Trước đó, năm 1988, một phòng tranh tại nhà Sơn của Tôn Thất Văn, Sơn và tôi, cũng rất thành công.

HÃY TRỞ LẠI, SƠN ƠI

Lần cuối cùng tôi và Sơn còn bên nhau là tháng 8, năm 2000. Mùa hè tôi từ Virginia về ở tại nhà Sơn một tháng, trưa chiều đều ngồi với nhau ở căn phòng đầy hơi hướm bạn bè tứ xứ của Sơn. Cái mặt bàn tròn là thân cây đại thụ chở từ Campuchia về, bốn chiếc ghế mây, và một dãy ghế để cạnh. Cái thùng ván thông lớn, trang trí đầy màu sắc, đựng những chai rượu chát. Chiếc đàn piano đen ám bụi, đống màu dầu và acrylic để trong góc. Tranh dựng, treo ngổn ngang. Sơn đã vẽ tại đây, hát tại đây. Xấp bản thảo nhạc là những tờ giấy rời luộm thuộm. Cuốn sổ ghi địa chỉ và số phone úa vàng, Sơn đã ghi chú chi chít trên đó. Mấy năm sau này, Sơn đã bỏ hẳn thuốc lá, chỉ còn uống ít rượu. Đang uống Black Label nhãn đen.

Cuộc bày tranh chung giữa ba người bạn: Trịnh Công Sơn, Bửu Chỉ và tôi tại gallery Tự Do (từ 20.8 – 3.9.2000) mà Sơn đã tự mình phát biểu: “Nghệ thuật đích thực là một thứ thông điệp còn lại sau cùng, khi mọi hình thức tồn tại khác đã mất đi.”

Là cuộc chơi cuối cùng sao Sơn ?

Tôi trở lại Mỹ, chỉ mới bảy tháng sau mà Sơn đã bỏ tôi ở lại bên đời.

Tôi thấy lòng đau và buồn bã. Lúc gần ba giờ sáng bên này, có tiếng điện thoại reo. Tôi biết là tin dữ.

Tháng 4. Mùa xuân bắt đầu, hoa rực nở, mà lòng tôi chùng xuống lạnh tăm. Như trở lại với màu xám chì của mùa đông dài tuyết phủ vừa qua.

Suốt hơn cả tháng nay, tôi còn như thảng thốt. Tình bạn có hồi sinh được cơn hôn mê không Sơn. Hãy trở lại và ra dấu, như Bửu Chỉ đã nhắn, để chúng ta lại nhận ra nhau, lại ôm choàng lấy nhau mà khóc.

Đinh Cường, Virginia, 16.04.2001