Cuộc đời và sự nghiệp nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2013) – Tên tuổi lớn nhất của tân nhạc Việt Nam

Nền tân nhạc Việt Nam từ thập niên 1940, dù xem xét ở bất kỳ khía cạnh nào, chúng ta đều thấy sự hiện diện của nhạc sĩ Phạm Duy, ông là tên tuổi lớn nhất, sáng tác nhiều chủ đề nhất, nhiều lĩnh vực nhất, có nhiều ca khúc nổi tiếng nhất đã trở thành kinh điển, và có thể cũng là nhạc sĩ sáng tác nhiều nhất với hàng ngàn tác phẩm.

Có thể nói, nếu như thế hệ nhạc sĩ thập niên 1930 có công khai phá ra thể loại tân nhạc, thì nhạc sĩ Phạm Duy là người có công lớn nhất trong việc xây dựng và định hình cho tân nhạc Việt Nam thời kỳ thập niên 1940 trở về sau, đặc biệt là trong thể loại tình ca, viết về tình yêu con người, tình yêu quê hương và đất nước.

Nhạc của ông thường sử dụng những yếu tố nền tảng của âm nhạc cổ truyền Việt Nam kết hợp với những kỹ thuật, cấu trúc của nhạc hàn lâm Tây phương, tạo nên một phong cách riêng với nhiều tác phẩm lớn có tính đột phá, giàu ảnh hưởng đối với các nhạc sĩ thuộc nhiều thế hệ. Ông cũng là người khởi xướng, định hướng nhiều trào lưu, phong cách mới mẻ cho nền tân nhạc Việt.

Nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác kể từ thời kỳ tiền ᴄhιến thập niên 1940, với những ca khúc đầu tiên của sự nghiệp là Cô Hái Mơ, Cây Đàn Bỏ Quên, Khối Tình Trương Chi…

Đó là thời kỳ mà ông có cơ hội đặc biệt để đi dọc theo chiều dài đất nước khi tham gia vào gánh hát Đức Huy, đi hát rong khắp mọi miền, có cơ hội tiếp xúc với nhiều người, nhiều lối sống văn hóa, là dịp hiếm có để nhạc sĩ Phạm Duy học hỏi, thu thập được rất nhiều chất liệu âm nhạc làm giàu tri thức và làm vốn liếng để sau này có thể trở thành nhạc sĩ thành công nhất của Việt Nam.

Cuối thập niên 1940, thời điểm tham gia khán ᴄhιến, ông đã viết nhiều bài cổ vũ tinh thần yêu nước và hăng say lao động, tiêu biểu là Nương Chiều, Nhớ Người Ra Đi, Nhớ Người Thương Binh, Gánh Lúa, Quê Nghèo, Bà Mẹ Gio Linh…


Click để nghe những ca khúc nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác trong thập niên 1940-1950 do chính ông tuyển chọn

Sau khi rời bỏ kháng ᴄhιến để về thành vì bất đồng quan điểm về sáng tác nghệ thuật, từ đầu thập niên 1950 nhạc sĩ Phạm Duy bắt đầu sáng tác mạnh mẽ, đặc biệt là khi vào đến Sài Gòn năm 1952, tiêu biểu nhất của thời kỳ này là Tình Ca, Tình Hoài Hương, Bà Mẹ Quê, Em Bé Quê, Vợ Chồng Quê, Thuyền Viễn Xứ, Ngày Trở Về, Người Về… Có thể thấy thời kỳ này chủ đề tình yêu chưa xuất hiện nhiều trong nhạc Phạm Duy, và vẫn chủ yếu là những ca ngợi con người, ca ngợi quê hương.

Đây cũng là thời gian mà nhạc sĩ Phạm Duy sang Pháp du học, nghiên cứu sâu hơn về âm nhạc thé giới, ông sang Paris trong hơn 3 năm (1952-1955). Sau khi trở về nước, dòng nhạc của Phạm Duy có phần khác biệt hơn, ngoài việc tiếp tục sáng tác những bài nhạc mượn chất liệu dân gian, ông sáng tác thêm dòng nhạc về tình yêu đôi lứa, về thân phận con người, với nhạc điệu hiện đại hơn, mang nhiều cung bậc cảm xúc hơn: Nước Mắt Rơi, Đường Chiều Lá Rụng, Một Bàn Tay…


Click để nghe những bài hát nhạc sĩ Phạm Duy viết trong thập niên 1950-1960

Thời kỳ này, dù đã có vợ con, gia đình đầm ấm, nhưng với một người đào hoa như nhạc sĩ Phạm Duy, ông đã có nhiều cuộc phiêu lưu ái tình mà chính ông đã kể lại trong hồi ký cuộc đời mình. Cuộc phiêu lưu ái tình dài nhất trong số đó (kéo dài tròn 10 năm) đã trở nguồn cảm hứng cho nhiều bài hát được ra đời, và đều là những bài tình ca quyến luyến yêu thương: Thương Tình Ca, Tìm Nhau, Cho Nhau, Con Đường Tình Ta Đi, Đừng Xa Nhau, Cỏ Hồng… Khi cuộc tình đó chấm dứt, thì lại có một loạt bài tình ca nữa ra đời, lần này là tình ca buồn chia xa: Nghìn Trùng Xa Cách, Chỉ Chừng Đó Thôi, Nha Trang Ngày Về…

Quãng thời gian thập niên 1960 và nửa đầu thập niên 1970 là thời kỳ sáng tác sung mãn nhất của nhạc sĩ Phạm Duy mà trong lịch sử âm nhạc Việt Nam khó có ai sánh bằng. Nếu nói ông là số 1, thì người ở số 2 phải ở một khoảng cách khá xa, bởi vì không chỉ sáng tác nhiều, có rất nhiều bài hát được yêu thích và trở thành bất hủ, mà Phạm Duy còn sáng tác rất đa dạng thể loại, hầu như không có chủ đề nhạc nào mà không có dấu chân mang tính khai phá của ông.


Danh ca Thái Thanh đã gần như dành cả cuộc đời và sự nghiệp của mình để gắn bó với nhạc Phạm Duy, click để nghe Thái Thanh hát nhạc Phạm Duy thu âm trước 1975

Ngoài nhạc quê hương, tình tự dân tộc và nhạc tình ca đã nhắc đến, nhạc sĩ Phạm Duy còn sáng tác nhạc thiếu nhi, nhạc trẻ, nhạc trường ca, đạo ca, thiền ca, tâm ca…

Về thể loại nhạc vàng đại chúng, ông cũng góp mặt với các bài nổi tiếng là Ngày Em Hai Mươi Tuổi, Anh Hỡi Anh Cứ Về…

Nhạc sĩ Phạm Duy cũng là một trong những nhạc sĩ phổ thơ nhiều nhất, nổi tiếng nhất, điển hình là phổ thơ Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Minh Đức Hoài Trinh. Nhờ nhạc Phạm Duy mà công chúng yêu nhạc biết đến những nhà thơ Phạm Văn Bình, Vũ Hữu Định…

Ngoài ra, Phạm Duy cũng là một trong những người đầu tiên viết lời Việt cho nhạc ngoại, từ thời kỳ thập niên 1940 ông đã viết lời cho nhạc cổ điển, đến thập niên 1960-1970 thì viết lời cho nhiều bài nhạc Mỹ đương đại.

Thời kỳ sau năm 1975, nhạc sĩ Phạm Duy vẫn tiếp tục sáng tác tại hải ngoại. Tuy nhiên đó là thời gian lưu vong, ông phải bận nhiều công việc để mưu sinh nuôi gia đình trong thời gian đầu (chủ yếu là ca hát lưu diễn), không còn thảnh thơi như trước nên số lượng tác phẩm thời gian sau này không còn nhiều.

Ngoài sáng tác và biểu diễn, nhạc sĩ Phạm Duy còn có những công trình khảo cứu về âm nhạc Việt Nam có giá trị. Ông từng giữ chức giáo sư nhạc ngữ tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Ông còn được coi như một nhà văn với 4 tập hồi ký về cuộc đời viết vào đầu thập niên 1990 được giới phê bình đánh giá cao về giá trị văn học lẫn giá trị tư liệu. Với hơn 70 năm sự nghiệp, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước, ông được coi là “cây đại thụ” của nền âm nhạc Việt Nam. Tuy vậy bên cạnh đó, các quan điểm nhìn nhận về ông cũng khác biệt, chủ yếu là do các vấn đề chính trị.

Sau đây là những cột mốc đáng nhớ trong cuộc đời nhạc sĩ Phạm Duy:

Nhạc sĩ Phạm Duy tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921 tại số 40 Rue Takou (nay là Phố Hàng Cót), Hà Nội, trong gia đình văn nghiệp. Cha ông là Phạm Duy Tốn thường được coi như là nhà văn xã hội đầu tiên của nền Văn học Mới đầu thế kỷ XX. Anh của ông là Phạm Duy Khiêm, giáo sư – thạc sĩ, cựu Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Pháp, văn sĩ Pháp văn, tác giả những cuốn Légendes des terres sereines, Nam et Sylvie, De Hanoi à Lacourtine.

Lúc nhỏ, ông là cậu bé hiếu động, tính tình “văng mạng, bất cần đời”, tuy vậy lại thích diễn kịch, làm trò, và mê nhạc. Ông biết dùng guitar, mandolin để chơi nhạc Tây Âu, bên cạnh đó còn tiếp thu các nhạc điệu dân ca miền Bắc, hay những bài ca Huế như Nam Ai, Nam Bình, Tứ Đại Cảnh… Ngoài nền văn hóa mang tính nhân bản của Pháp, ông còn được tiếp xúc với văn hóa cổ truyền, qua các tác phẩm của cha Phạm Duy Tốn, hay cuốn “Tục ngữ phong dao” của người anh họ Nguyễn Văn Ngọc.

Nhạc sĩ Phạm Duy học vỡ lòng tại trường Hàng Thùng, học Tiểu học tại trường Hàng Vôi. Tính ông nghịch ngợm, học không giỏi, thường hay bị phạt. Đến năm 13 tuổi (1934), vào được lớp nhất, ông mới học giỏi dần, trở thành một trong những học sinh ưu tú của lớp, nhất là môn đọc thơ tiếng Pháp.

Năm 1936, ông vào học trường Thăng Long, một trường trọng điểm của thời kỳ kháng ᴄhιến. Thầy dạy ông có các nhân vật nổi tiếng như Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Tuyên, Phan Anh, Khuất Duy Tiến. Trong những người bạn cùng lớp, có người sau này trở thành nhà thơ như Quang Dũng. Một năm học trung học giúp ông hấp thụ thêm những cái hay cái đẹp của nền văn chương Pháp, của Victor Hugo, André Chenier, Alfred de Vigny, Bernadin de Saint Pierrre…

Năm 1940, nghe lời bè bạn, ông theo học dự thính hội họa tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học thầy Tô Ngọc Vân, cùng lớp với Bùi Xuân Phái, Võ Lăng,… Tuy nhiên, ông sớm nhận ra mình không có niềm đam mê thật sự đối với hội họa.

Thời gian sau đó, nhạc sĩ Phạm Duy đã qua nhiều công việc khác như phụ gánh xiếc, thợ sửa radio, coi sóc trang trại… tại nhiều tỉnh thành, nhưng đều bỏ nghề và dời chỗ ở sau một thời gian ngắn. Tuy rằng không có nghề nào lâu dài, nhưng việc sống ở nhiều nơi, trải qua nhiều hoàn cảnh sống khác nhau cũng là những chất liệu quan trọng giúp ích cho sự nghiệp âm nhạc sau này. Cùng với giai đoạn lang thang vô định này, ông cũng dần nhận ra niềm đam mê âm nhạc của mình. Phạm Duy tự mày mò học nhạc cổ điển, rồi tập sáng tác. Trong cuộc đời của mình, ông chưa từng học chính quy một trường lớp âm nhạc nào.

Năm 1941, Phạm Duy thành ca sĩ hát tân nhạc trong gánh hát cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Thời kỳ hát rong, ông được gặp gỡ nhiều tên tuổi lớn như thi sĩ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Lê Thương, Lê Xuân Ái, Văn Đông,… và nhạc sĩ Văn Cao, người sau này trở thành bạn thân thiết trong đời sống lẫn trong âm nhạc.

Năm 1942, ông khởi nghiệp sáng tác nhạc với tác phẩm hoàn chỉnh đầu tay là Cô Hái Mơ phổ từ thơ Nguyễn Bính, trong thời kỳ phong trào Tân nhạc bắt đầu nở rộ.

Năm 1945, xảy ra nạn đói, Phạm Duy rời nhà cũ đi lang thang nhiều nơi. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, ông cùng hai kép trong gánh hát Đức Huy bị bắt vào tù khi đang lưu diễn ở Cà Mau. Cũng năm này, ông theo kháng ᴄhιến, trở thành cán bộ văn nghệ của Việt Minh và là một trong những nhạc sĩ thành công nhất lúc đó.

Năm 1949 ông lập gia đình với ca sĩ Thái Hằng tại ᴄhιến khu Việt Bắc, người chủ trì của hôn lễ này là tướng Nguyễn Sơn.

Vợ chồng nhạc sĩ Phạm Duy – Thái Hằng

Năm 1951, ông bỏ về Hà Nội. Sau khi sinh con đầu lòng Duy Quang, Phạm Duy đưa gia đình di cư vào Nam, sinh sống tại Sài Gòn. Cuối năm 1951, bị một số nhạc sĩ ghen tị tố cáo là có quan hệ với Việt Minh, ông cùng với Lê Thương và Trần Văn Trạch bị bắt giam ở khám Catinat, Sài Gòn trong 120 ngày. Năm 1953, ông qua Pháp học dự thính hai năm về âm nhạc, tại đây, ông chơi thân với Trần Văn Khê, người sau này trở thành giáo sư dân nhạc nổi tiếng. Hai năm sau, ông về Việt Nam thì đất nước đã chia cắt sau hiệp định Genève. Từ đó, ông ở miền Nam tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong ban hợp ca Thăng Long cùng với Thái Thanh, Hoài Nam, Hoài Bắc, Hoài Trung tại phòng trà Đêm màu hồng. Thời gian này ông cũng có những hoạt động trong ngành sân khấu và thông tin đại chúng, như viết nhạc kịch, viết nhạc cho phim và cộng tác với đài Phát thanh.

Năm 1956, nhạc sĩ Phạm Duy bị vướng vào một vụ bê bối gây xôn xao khắp Sài Gòn. Năm 1958, ông đi vào mối tình đặc biệt với Alice, con gái của Helen – tình nhân cũ của ông. Đây là mối tình “giữa hai tâm hồn”, “không đụng chạm thể xác”, được xây dựng trong 10 năm và chính là nguồn cảm hứng lớn để ông viết nên nhiều tác phẩm nhạc tình nổi tiếng.

Gia đình ông chuyển đến căn nhà nhỏ ở cư xá Chu Mạnh Trinh ở ngã tư Phú Nhuận, nơi có nhiều gia đình nghệ sĩ tới ở, như gia đình Nguyễn Mạnh Côn, Năm Châu, Duyên Anh, Hồ Anh, Anh Ngọc, Trần Ngọc, Hoàng Nguyên, Minh Trang, Kim Tước. Không còn hợp tác với ban Thăng Long, Phạm Duy vào làm việc ở Trung tâm Điện ảnh. Thời gian này ông hay lui tới quán Chùa (La Pagode), gặp gỡ Vũ Khắc Khoan, Cung Trầm Tưởng, Võ Đức Diên, Mặc Thu, Tạ Tỵ, Lê Ngộ Châu… Ông được Võ Đức Diên và các bạn bè giúp đỡ đi một chuyến từ Sài Gòn ra vĩ tuyến 17 để hoàn thành nốt trường ca Con đường cái quan.

Thập niên 1960, sau khi VNCH được nhiều quốc gia thân Mỹ công nhận, cùng với các bạn nghệ sĩ khác, Phạm Duy được cử đi Philippines, Nhật Bản, Thái Lan để giới thiệu văn nghệ Việt Nam. Và với ít nhiều kinh nghiệm bang giao, ông thường có mặt trong những buổi đón tiếp các phái đoàn văn nghệ nước ngoài, như đoàn vũ trống của Hàn Quốc, đoàn Moral Rearmement của Mỹ… Nhờ đó, ông có dịp trao đổi tài liệu âm nhạc với các văn nghệ sĩ nước ngoài.

Năm 1965, ông tham gia phong trào Du ca với Nguyễn Đức Quang, Giang Châu, Ngô Mạnh Thu,… đi nhiều nơi tại miền Nam Việt Nam để phổ biến các ca khúc nói lên thân phận của tuổi trẻ thời đó.

Năm 1966, ông được văn phòng Giáo dục Văn hóa của Bộ Ngoại giao Mỹ mời sang nước này, tại đây ông được mời tham quan các đài truyền hình, nhạc hội, đến ở trong gia đình nghệ sĩ The Beers Family, Petersburg. Ông được đài Channel 13 với Steve Addiss và Bill Crofut, mời tham gia chương trình dân ca của Pete Seeger, nhạc sĩ phản ᴄhιến số một của Hoa Kỳ. Bốn năm sau ông lại qua Hoa Kỳ lần nữa để làm cố vấn cho Bộ thông tin Hoa Kỳ để “giải độc dư luận Mỹ”. Tại đây ông mới biết thêm thông tin về vụ Thảm sát Mỹ Lai, và phản ứng của ông là ca khúc ”Kể chuyện đi xa”. Ông cũng hát nhiều ca khúc phản ᴄhιến tại các show truyền hình, sân khấu ở Mỹ.

Cuối thập niên 1960, ban nhạc gia đình “The Dreamers” của các con ông ra đời, ông cùng ban này đi biểu diễn tại các phòng trà, nhà hàng Sài Gòn. Đây cũng là thời gian băng Cassette thịnh hành, giúp ông có được nhiều khoản thu nhập từ tiền tác quyền, trở nên giàu có.

Sau năm 1975, trải qua nhiều khó khăn của hành trình di tản, ông và gia đình cũng ổn định, cư ngụ tại Thành phố Midway, Quận Cam, California. Thời kỳ này ông vẫn tiếp tục sáng tác, biểu diễn và tổ chức cũng như tham gia các đêm nhạc về mình.

Năm 1990, ông bắt đầu viết hồi ký, khi hoàn tất chia làm 4 cuốn.

Năm 1999, vợ ông là bà Thái Hằng qua đời, sự kiện này khiến ông bị cao huyết áp phải đi nằm bệnh viện một thời gian dài. Sau năm này, ông quyết định thực hiện những chuyến về thăm quê hương sau 25 năm xa cách.

Tháng 5 năm 2005, ông chính thức trở về Việt Nam, mua nhà sống tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cùng các con trai Duy Quang, Duy Cường. Tháng 7 cùng năm, lần đầu tiên kể từ năm 1975, 9 bài hát của ông được cấp phép phổ biến. Thời kỳ này ông vẫn hoạt động âm nhạc, tuy sức khỏe đã có dấu hiệu giảm sút, nhiều bệnh được phát hiện ra.

Ngày 27 tháng 1 năm 2013, sau một thời gian nằm viện, ông qua đời, một tháng sau cái chết của con cả ông là ca sĩ Duy Quang. Tang lễ của ông được tổ chức tại nhà riêng và ông được an táng tại Công viên Nghĩa trang Bình Dương vào ngày 3 tháng 2 năm 2013.

Ngoài vai trò là một nhạc sĩ nổi tiếng nhất của Việt Nam, Phạm Duy còn là một ca sĩ thế hệ tiên phong của tân nhạc, xuất thân trong gánh hát Cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Gánh hát này đưa ông đi nhiều miền trên đất nước, giúp ông mở mang tầm mắt, ngoài ra khiến ông trở thành một nhân tố quan trọng trong việc phổ biến tân nhạc đến các vùng. Với giọng hát điêu luyện, đậm chất Việt của mình, ông đã đưa tên tuổi các nhạc sĩ như Đặng Thế Phong, Văn Cao đi khắp đất nước Việt Nam. Trong bài báo Tài Tử Phạm Duy để giới thiệu ca sĩ Phạm Duy, đăng trên tờ Revue Radio Indochine số 47, ra ngày Tết dương lịch năm 1944, Nguyễn Văn Cổn đã khắc họa:

“… Người thiếu niên này với gương mặt gầy ốm, một cặp mắt hiền từ và mơ màng sau cặp kính trắng, với cách cử chỉ khoan thai và nhã nhặn, đó là Phạm Duy(…) Có lẽ trong tiếng hát của Phạm Duy, chúng ta thấy một cái gì hơi xa xăm, buồn tủi, phải chăng đời của nghệ sĩ như đầy những sự nhớ nhung, thương tiếc, đợi chờ, mà tiếng hát Phạm Duy là tiếng lòng thổn thức (…) Mỗi lần Phạm Duy lên ca hát tại Đài Vô Tuyến là mỗi lần các thính giả xa gần đều lặng yên để thụ hưởng những sự dịu dàng trong trẻo, như thanh điệu êm ái (…) Bài Buồn tàn thu mà Phạm Duy hát lên có lẽ ai cũng nhận thấy sự cảm động của một tâm hồn mong mỏi người xa xôi (…) đưa cái bài Buồn tàn thu tới những tâm hồn mong mỏi (…)

…Nhưng nói về nghệ thuật, thì có lẽ Phạm Duy là một tài tử thứ nhất hát những bài âm nhạc cải cách với một giọng hoàn toàn Việt Nam, có nhiều tài tử cứ tưởng lầm rằng họ ca hát những âm nhạc mới, tức là phải có một giọng Âu Mỹ, thật là sai lầm (…) Phạm Duy lại còn là một nghệ sĩ rất có lương tâm nhà nghề trước khi hát, trước khi biểu diễn, Phạm Duy rất chăm chú tập dượt những bài hát (…)”

Bên cạnh sự nghiệp âm nhạc đồ sộ hàng ngàn ca khúc với vô số bài nổi tiếng, nhạc sĩ Phạm Duy còn được biết đến như là một trong những ca sĩ hát tân nhạc đầu tiên từ thập niên 1940.

Nhạc sĩ Phạm Duy là một trong những ca sĩ thế hệ đầu tiên của tân nhạc, và thời thập niên 1940, ông là ca sĩ duy nhất mang tân nhạc đến khắp tất cả mọi miền của nước Việt.

Khi ghi lời đề tặng trong bài hát Buồn Tàn Thu, nhạc sĩ Văn Cao ghi:

Tương tiến Phạm Duy, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi đi khắp chốn.

Sở dĩ như vậy là vì Phạm Duy đã từng trình bày rất thành công ca khúc Buồn Tàn Thu – một tuyệt tác được Văn Cao sáng tác năm 16 tuổi.

Trong một bài báo giới thiệu ca sĩ Phạm Duy năm 1944, nhà thơ Nguyễn Văn Cổn đã ghi:

Bài Buồn Tàn Thu mà Phạm Duy hát lên có lẽ ai cũng nhận thấy sự cảm động của một tâm hồn mong mỏi người xa xôi (…) đưa cái bài Buồn tàn thu tới những tâm hồn mong mỏi (…)

Sau đây, mời các bạn nghe lại bản thu âm Buồn Tàn Thu được ca sĩ Phạm Duy thu âm vào đĩa đá vào thập niên 1950:


Click để nghe Phạm Duy hát Buồn Tàn Thu

Sau đây mời các bạn nghe 2 ca khúc Phạm Duy thu trong dĩa nhựa thập niên 1950:


Click để nghe Phạm Duy hát cùng Thái Thanh ca khúc Tình Ca


Click để nghe Phạm Duy hát cùng ban Thăng Long ca khúc Về Miền Quê

Mời các bạn nghe lại 1 số ca khúc được nhạc sĩ Phạm Duy hát live tại phòng trà của Jo Marcel thập niên 1970:


Click để nghe Phạm Duy hát Kỷ Vật Cho Em (trước 1975)


Click để nghe Phạm Duy hát Một Ngày Một Đời (trước 1975)


Click để nghe Phạm Duy hát Dạ Hành (trước 1975)

Năm 1966, nhạc sĩ Phạm Duy được sang Mỹ để giao lưu văn hóa, văn nghệ giữa hai nước, nhân dịp này, ông đã giới thiệu âm nhạc Việt Nam, từ nhạc dân gian đến nhạc cải cách đến công chúng nước Mỹ.

Sau đây, mời các bạn xem lại màn xuất hiện của Phạm Duy với vai trò là khách mời trong show Rainbow West trên truyền hình Mỹ năm 1966:


Click để xem phần trình diễn Giọt Mưa Trên Lá


Click để xem phần trình diễn Nhớ Người Thương Binh


Click để xem phần trình diễn Đi Đâu Cho Thiếp Theo Cùng


Click để xem phần trình diễn Qua Cầu Gió Bay


Click để xem phần trình diễn Lý Cây Đa (Trèo Lên Quán Dốc)

Cũng trong năm 1966 tại Mỹ, Phạm Duy đã tham dự lễ hội dân ca Florida và cũng trình diễn những bài hát như trên. Các bạn cũng có thể nghe lại phần trình diễn này với âm thanh chất lượng hơn ở bên dưới:


Click để nghe Phạm Duy trình diễn tại lễ hội dân ca Florida 1966

Nếu như nhạc sĩ Phạm Duy được xem là tên tuổi lớn nhất của tân nhạc Việt Nam, thì ở lĩnh vực biểu diễn, Thái Thanh được hầu hết mọi người công nhận là đệ nhất danh ca của tân nhạc.

Nhạc sĩ Phạm Duy từng nói rằng Thái Thanh chỉ cần cất giọng là người ta đã mê, bất kể bài nào. Còn nhà văn Mai Thảo là người đầu tiên gọi Thái Thanh bằng danh hiệu “Tiếng hát vượt thời gian” từ thập niên 1960. Đã thêm nửa thể kỷ nửa trôi qua chứng minh cho lời nói của Mai Thảo vẫn luôn đúng, vì cho đến lúc này, tiếng hát đó vẫn vượt thời gian, vẫn luôn vang vọng ở bất kể góc trời nào có người Việt sinh sống, bất kể những bản thâu thanh đó đã thật cũ kỹ nhưng vẫn có thể làm mê đắm hàng triệu người.


Click để nghe tuyển tập ca khúc Thái Thanh hát nhạc Phạm Duy

Trong một bài viết, chính nhạc sĩ Phạm Duy đã xưng tụng Thái Thanh như sau:

Giọng hát Thái thanh, một giọng hát diễm tuyệt: tất cả hạnh phúc và khổ đau của kiếp người bị đày đọa trong vinh quang và khổ nhục, trong hy vọng và tuyệt vọng qua những bản nhạc khóc, cười, nổi, trôi theo mệnh nước.

Có thể rằng nếu không có Thái Thanh thì Phạm Duy vẫn là một nhạc sĩ tiếng tăm, nhưng cũng phải thừa nhận rằng nếu không phải là giọng hát của nữ danh ca Thái Thanh thì khó có ai khác có thể làm thăng hoa hết được những rung cảm sâu lắng, cuộn trào như suối nguồn của ca từ, giai điệu và truyền tải hết những tâm tư và nguyện vọng lớn lao mà nhạc sĩ Phạm Duy gửi gắm trong đó.

Trong bài này, xin mời các bạn nghe lại những bản thu thanh trước 1975 hay nhất của Thái Thanh hát nhạc Phạm Duy. Thật khó để liệt kê ra hết tất cả, nên xin chọn lọc ra những bài được xem là thành công nhất:


Click để nghe Dòng Sông Xanh


Click để nghe Tình Hoài Hương


Click để nghe Tình Ca


Click để nghe Tìm Nhau


Click để nghe Cho Nhau


Click để nghe Một Bàn Tay


Click để nghe Nghìn Trùng Xa Cách


Click để nghe Phượng Yêu


Click để nghe Ngày Xưa Hoàng Thị


Click để nghe Còn Chút Gì Để Nhớ


Click để nghe Bên Cầu Biên Giới


Click để nghe Nhớ Người Ra Đi


Click để nghe Người Về


Click để nghe Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi


Click để nghe Em Lễ Chùa Này


Click để nghe Kỷ Niệm


Click để nghe Nương Chiều


Click để nghe Chiều Về Trên Sông


Click để nghe Kiếp Nào Có Yêu Nhau


Click để nghe Đường Chiều Lá Rụng


Click để nghe Chuyện Tình Buồn


Click để nghe Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà


Click để nghe Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng


Click để nghe Ngày Trở Về


Click để nghe Kỷ Vật Cho Em


Click để nghe Dạ Lai Hương


Click để nghe Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài


Click để nghe Thuyền Viễn Xứ


Click để nghe Trả Lại Em Yêu


Click để nghe Vợ Chồng Quê


Click để nghe Kiếp Nào Có Yêu Nhau


Click để nghe Cỏ Hồng


Click để nghe Nụ Tầm Xuân


Click để nghe Gánh Lúa

Bản quyền bài viết này của nhacxua.vn
Published under copyright license

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *