Nhạc Trịnh Công Sơn và những giai thoại

DIỄM XƯA…

Có hai chị em đều đẹp và quý phái. Tôi theo cô Diễm. Mối tình học trò, có lẽ đơn phương, kéo dài từ khi tôi còn ở Huế cho đến lúc vào Sài Gòn trọ học. Cha mẹ Diễm khó và không thích tôi. Nhưng tôi vẫn cứ đeo đuổi hình bóng của Diễm, bởi Diễm cũng chưa có biểu hiện nào xa lánh tôi và cũng không có lời lẽ cự tuyệt. Năm đó tôi thi trượt Bậc II. Diễm đậu và vào Sài Gòn để vào đại học Văn Khoa. Còn tôi thì về lại Huế, bỏ ngang việc học vì gia đình đang lâm cảnh sa sút. Phần buồn, phần tự ái, tôi không còn tìm cách liên lạc với Diễm nữa. Có lẽ vì vậy mà Diễm cũng lơ luôn.

Diễm đâu biết rằng trong thời gian này tôi đau khổ nhất. Tôi đã cố nén mọi khổ đau trong im lặng. Sự khổ đau và nhớ nhung dày vò tôi từng đêm, tôi đã phải viết nên bài “Diễm Xưa” để trút bớt nỗi khổ đau trong lòng. Nhưng có điều lạ là khi tôi viết xong bản nhạc này, tôi lại thấy lòng mình thanh thản, nhẹ nhàng. Tôi cảm thấy vơi đi rất nhiều nỗi nhớ và tình yêu. Trong lòng tôi bấy giờ chỉ còn một chút tình mong manh như sương, như khói. Nó không còn nồng nàn, mãnh liệt như trước kia. Một dịp tôi vào Sài Gòn, tìm đến cư xá nơi Diễm đang nội trú với ý định tặng nàng bản nhạc để làm kỷ niệm một thời tuổi trẻ, rồi thôi. Nhưng không gặp được Diễm. Tôi nhờ mấy cô bạn gái đang đứng ngoài cổng trao lại dùm. Khi tôi quay lưng đi được một quãng thì nghe tiếng Diễm từ trên “ban công” gọi theo:

– Anh Sơn! Anh Sơn! Anh Sơn ơi!

Nhưng tôi không ngoái lại. Tôi cắm đầu đi thẳng. Tiếng gọi tên tôi vẫn còn văng vẳng sau lưng. Từ ấy đến nay, tôi tự nhủ lòng, sẽ không bao giờ tìm gặp lại Diễm nữa.

LỜI BUỒN THÁNH…

Từ ngày Nguyễn Văn Ba chết, chúng tôi buồn vì thiếu vắng một người bạn, nên không còn hứng thú trong những buổi lang thang nữa.

Những ngày bó gối nằm nhà, Sơn thường ngồi tư lự trước bàn viết duy nhất dành cho cả hai soạn bài, nhìn đăm đắm ra con đường đất đỏ. Mùa này bông lau nở trắng khắp nơi. Lau trắng dọc theo con đường dốc chạy dài từ trong buôn ra tới quốc lộ, băng ngang trước nhà chúng tôi. Buổi chiều, gió nồm thổi nhẹ từng cơn, lướt qua rừng lau, xô chúng ngã nghiêng xuống, rồi chúng bật dậy, tạo thành những âm thanh xào xạc nhè nhẹ, đều đều, buồn buồn. Chiều xuống dần. Những vạt nắng cuối cùng chiếu xiên trên những ngọn bông lau, lấp lánh sáng ngời. Gió lắng dần. Không gian trở nên im ắng, tĩnh mịch. Chợt tiếng kèn đồng xa xa vẳng lại, lúc nghe, lúc mất. Thật hắt hiu buồn. Đó là lúc cô nữ sinh hàng xóm, cô Ngà, đúng giờ đi lễ chiều. Chuông nhà thờ đang vang vang, dồn dập từng hồi, thúc dục con chiên đến giáo đường.

Thật đúng như tên đặt, da cô trắng ngà. Người mãnh mai với mái tóc thề chấm ngang vai, với khuôn mặt phảng phất nhiều nét như Đức mẹ Maria. Rất dịu dàng trong dáng đi. Mỗi buổi chiều cô đi lễ, đều đi ngang nhà chúng tôi. Hai tay ấp quyển Thánh Kinh trước ngực, đầu hơi cuối xuống, lặng lẽ, khoan thai bước. Đã bao lâu rồi? Cái hình ảnh rất đẹp ấy, cái màu áo dài trắng nổi bật trên nền đất đỏ, thấp thoáng ẩn hiện trong đám lau trắng, đã đi ngang nhà chúng tôi bao nhiêu chiều rồi mà chúng tôi không hề hay biết. Thật uổng phí! Chẳng là, cứ ba giờ chiều, chúng tôi đã túc trực quanh mấy cái bàn bi da để dành chỗ rồi chơi cho đến khi tắt điện mới mò về, thì làm sao có thì giờ để biết bên hàng xóm có người đẹp. Cái tên Ngà, mãi về sau, theo dõi, lắng nghe mấy đứa em cô gọi, mới biết.

Với tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ, Sơn đã thành công khi đưa tất cả những âm thanh mơ hồ của ngàn lau, của tiếng kèn đồng, tiếng chuông nhà thờ cùng dáng yểu điệu của cô Ngà, hòa nhập với gió chiều nhè nhẹ, để cấu thành chất liệu tuyệt vời tạo nên nhạc phẩm Lời Buồn Thánh

ƯỚT MI…

Thuở còn trọ học ở Sài Gòn, năm đó tôi mười bảy tuổi – Sơn kể – đêm nào tôi cũng lò dò đến phòng trà ca nhạc để nghe Thanh Thúy hát. Dần dần hình bóng Thanh Thúy đã ăn sâu vào trong tôi lúc nào không biết. Nói yêu Thanh Thúy thì cũng chưa hẳn. Vì nhiều mặc cảm nghèo và vô danh. Trong khi đó Thanh Thúy là một ca sĩ đang lên, kẻ đón người đưa tấp nập. Biết vậy, nhưng tôi không thể không đêm nào thiếu hình ảnh và tiếng hát của nàng. Có đêm tôi chỉ đủ tiền để mua một ly nước chanh. Đêm đêm tôi thao thức với những khát khao, mơ ước là phải làm một cái gì đó để tỏ cho Thanh Thúy biết là tôi đang rất ngưỡng mộ nàng. Cái khát vọng đó đã giúp tôi viết nên bản nhạc “Ướt Mi” đầu tiên trong đời.

Khi hoàn thành, tôi nắn nót chép lại thật kỹ càng và luôn mang theo bên mình chờ có dịp tặng nàng. Với sự nhút nhát của tuổi trẻ, tôi không dám đưa tặng ngay mà phải chờ khá lâu mới có cơ hội. Một hôm tôi đánh bạo, tìm một chỗ sát bục sân khấu, dự định khi nàng vừa dứt tiếng hát là tôi sẽ đứng lên đưa luôn. Đã mấy lần định làm vẫn không kịp. Nàng vừa cúi đầu chào khán thính giả là đã có người chực sẵn rước đi ngay. Cái đêm định mệnh mà tôi quyết tâm an bài đã thành công. Khi cầm bản nhạc trong tay, nghe mấy lời lí nhí của tôi, nàng chỉ thoáng nhìn tôi một chút rồi quay gót về hậu trường. Đêm đó tôi nôn nao không ngủ được. Trong lòng nổi dậy biết bao là mộng mơ, thắc mắc. Những câu hỏi cứ hiện ra trong đầu, nhưng tôi không dám trả lời dễ dàng cho mình thỏa mãn. Nhưng câu hỏi cứ trở đi, trở lại trong tôi là: – Liệu nàng có để ý gì đến bản nhạc mà tôi đã thao thức bao đêm để làm nên vì nàng không? Hay nàng chỉ khách sáo cầm hờ rồi vứt bỏ nó ở đâu đó! Vứt đi! Tim tôi đau nhói khi nghĩ đến hai chữ ấy.

Suốt gần một tuần, tôi hồi hộp theo dõi nàng mỗi đêm, đón từng ánh mắt nàng nhìn xuống khán giả thử xem nàng có dừng lại nơi tôi không, để tôi hy vọng. Nhưng không, vẫn như mọi lần. Một cái nhìn chung để gây cảm tình chung. Mãi đến hai tuần sau, khi tôi sắp tuyệt vọng vì mỏi mòn chờ đợi thì một đêm kia, khi bước lên bục diễn, dàn nhạc dạo khúc mở đầu thì nàng ra dấu cho ban nhạc tạm im tiếng cho nàng nói vài lời. – Thưa quí vị! – Nàng bắt đầu nói và tôi hồi hộp chờ đợi. – Đêm nay Thúy sẽ trình bày một tác phẩm mới của một nhạc sĩ rất lạ, tặng cho Thúy. Đó là nhạc phẩm “Ướt Mi” của tác giả Trịnh Công Sơn. Hy vọng rằng đêm nay sẽ có sự hiện diện của tác giả để Thúy được nói vài lời cám ơn. Nói xong, nàng quay sang ban nhạc, đưa bản nhạc của tôi cho họ dạo nhạc bắt đầu. Nàng cất tiếng hát. Tôi run lên trong lòng vì sung sướng và xúc động. Khi dứt tiếng hát, nàng dừng lại khá lâu, có ý chờ người tặng nhạc. Tôi thu hết can đảm, bước tới bục, ngước lên và nói: – Xin cám ơn Thanh Thúy đã hát bài nhạc của tôi. Nàng a lên một tiếng ra vẻ bất ngờ rồi nói tiếp: – Thúy rất cám ơn anh đã tặng cho bản nhạc. Thúy muốn nói chuyện riêng với anh được không? Tôi luống cuống gật đầu. Lúc ấy tôi sung sướng quá, hạnh phúc quá nên không tìm ra được lời nào để đáp lại. Tôi cùng nàng đón taxi về nhà nàng. Nhà nàng ở sâu trong một ngõ hẽm. Căn nhà khang trang, đầy đủ tiện nghi: tủ lạnh, quạt máy. Mọi vật dụng trong nhà đều sang trọng, đắt tiền. Tối hôm ấy nàng cùng tôi nói đủ thứ chuyện. Tôi không còn nhớ chuyện gì ra chuyện gì. Tôi kể cho nàng nghe hoàn cảnh của tôi từ Huế vào trọ học. Nàng kể cho tôi nghe cuộc đời nàng từ Phan Thiết lớn lên…

CÁT BỤI

Vào một buổi chiều ngày tháng không còn nhớ, tôi một mình đến rạp Casino xem phim ”Hiệp sĩ mù nghe gió kiếm” tập 6. Đây là bộ phim nhiều tập, đã xem tập này thì không thể không chờ xem tập khác. Nói chung là tập nào cũng hấp dẫn. Trong 6 tập có đoạn hiệp sĩ mù xuất kiếm giải cứu cho một nàng Kiều xinh đẹp. Cứ mỗi tuyệt chiêu xuất ra là nghe có một tiếng nói bình giả ca ngợi. Đường kiếm như có thêm sức mạnh mỗi lúc một uyển chuyển huy hoàng hơn. Sau khi cứu được nàng Kiều, hiệp sĩ mù quay về phía tiếng nói vái tay chào hỏi. Hoá ra bên vệ đường dưới gốc cây to có một người mù khác đang ngồi xếp bàn, trên hai chân có cây đàn bọc trong bao vải gác ngang. Người nghệ sĩ mù có nhã ý chơi một bản đàn tặng hiệp sĩ mù. Hai người bèn kéo nhau vào một khu rừng gần đấy. Hình như rừng vào thu nên các cành đều trơ lá, chỉ thấy một đám lá vàng đỏ trải dài trên mặt đất. Hai người ngồi tựa vào hai gốc cây đối diện nhau. Tiếng đàn cất lên như một lời than thở ngậm ngùi về đất trời, về kiếp người. Tiếng đàn nửa chừng bỗng đứt giây. Người nghệ sĩ mù nói: có kẻ bất thiện dang nghe lén. Quả đúng như vậy, có một tên gian đang rình rập hiệp sĩ mù. Thế là hai người lặng lẽ chia tay.

Hết phim, tôi tản bộ ngang trên đường phố. Không hiểu sao cái đoạn phim ngắn ngủi ấy khiến tôi buồn buồn. Chiều tôi về nhà, sau khi ăn, tôi ngồi đọc lại cuốn “ Zorba le Grec”. Đến đoạn Zorba than thở: “Chim đa đa ơi thôi đừng hót nữa, tiếng hót mày làm tan nát tim ta”, tôi bỗng gập sách lại và không đọc nữa. Có một cái gì đó thật trùng hợp trong cùng một buổi chiều. Một nỗi buồn hay một điều gì đó gần với sự rời xa ly biệt đang cựa mình thức dậy trong tôi.Tôi lại ra đường tìm một góc quán quen thuộc ngồi. Trên đường trở về nhà, trong đầu bỗng vang lên một tiếng hát. Tôi lập đi lập lại nhiều lần trong đầu, hát thành tiếng khe khẽ. Đến khi về nhà ghi lại thì bài hát đã gần như hoàn chỉnh. Sáng hôm sau mang hát cho một số bạn bè nghe, hầu như ai cũng thích.

Đó là câu chuyện sự ra đời của bài “Cát bụi”

Mỗi bài hát đều bắt nguồn từ một duyên cớ nào đó. Có khi từ một câu chuyện không đâu.

Bây giờ thì người hiệp sĩ mù kia đã chết rồi. Khoảng hai năm nay.
Người viết Zorba đã qua đời dĩ nhiên con chim đa đa kia cũng đã chết. Và nếu Zorba là một con người có thật được Nikos Kazantzakits tỉểu thuyết hoá thì nay ông cũng mất rồi.
“Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi…”

Thời gian đã nghiền nát tất cả thành cát bụi hết rồi…

HẠ TRẮNG

Ở Huế mùa hạ, ve kêu râm ran trên những tàn cây như một giàn hợp xướng và nắng nóng oi bức như địa ngục. Thêm vào đó còn có gió Lào. Vừa tắm xong là người đã ướt đẫm mồ hôi. Bao nhiêu nhiên liệu tích lũy trong cơ thể đều tan ra thành nước. Những đồ vật và áo quần cũng có cảm giác như vừa rút trong lò lửa ra. Những mặt đường gần như bốc khói với nhiệt độ 42 – 43 độ. Có một mùa hạ năm ấy tôi bị một cơn sốt nặng, nhiệt độ trong người và bên ngoài bằng nhau. Tôi nằm sốt mê man trên giường không còn biết gì. Và bỗng có một lúc nào đó tôi cảm thấy hương thơm phủ ngập cả căn phòng và tôi chìm đắm vào một giấc mơ như một cơn mê sảng. Tôi thấy mình lạc vào một rừng hoa trắng thơm ngào ngạt, bay bổng trong không gian đó. Đến lúc tỉnh dậy người ướt đẫm mồ hôi và tôi nhìn thấy bên cạnh giường có một người con gái nào đó đã đến cắm một bó hoa dạ lý hương trắng rất lớn. Chính cái mùi thơm của dạ lý hương đã đưa tôi vào giấc mơ kia. Giấc mơ trong một mùa hạ nóng bức. Trong vùng tôi ở, quanh đó chỉ có một nhà duy nhất trồng dạ lý hương nên tôi biết ngay người mang hoa đến là ai. Sau một tuần lễ tôi hết bệnh. Nghe tin bố người bạn đang hấp hối tôi vội vàng đến thăm. Ông chẳng có bệnh gì ngoài bệnh nhớ thương và buồn rầu. Câu chuyện rất đơn giản. Hai ông bà đã lớn tuổi thường nằm chung trên một sập gụ xưa. Cứ mỗi sáng bà cụ thức dậy sớm và xuống bếp nấu nước sôi để pha trà cho ông cụ uống. Một buổi sáng nọ, cũng theo thường lệ, bà cụ xuống bếp bị gió ngã xuống bất tỉnh và chết. Mấy người con ở gần đó tình cờ phát hiện ra và đưa bà cụ về nhà một người để tẩm liệm. Sau đó chôn cất và giấu ông cụ. Tất nhiên, khi ông cụ thức dậy hỏi con, mẹ các con đi đâu rồi, thì họ trả lời là mẹ sang nhà chúng con để chăm sóc mấy cháu vì chúng bị bệnh. Vài ngày sau vẫn chưa thấy bà về ông mới trầm ngâm hỏi các con có phải mẹ các con đã chết rồi phải không. Lúc ấy mọi người mới khóc òa lên. Từ đó ông nằm trên sập gụ một mình cơm không ăn, trà không uống cho đến lúc kiệt sức và đi theo bà cụ luôn. Câu chuyện này ám ảnh tôi một thời gian. Và sau đó tôi kết hợp giấc mơ hoa trắng mùa hạ với mối tình già keo sơn này như áo xưa dù nhầu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau để viết nên bài “Hạ Trắng”.

Tổng hợp

Nhìn lại những bài hát nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn

Nhân kỷ niệm 17 năm ngày mất Trịnh Công Sơn (1/4/2001 -1/4/2018), cùng điểm lại những điều thú vị nhất xung quanh các ca khúc nổi tiếng của ông.

Cát bụi

Bài hát được bắt nguồn từ một thoáng buồn không nguyên cớ là một đoạn phim, một cuốn truyện chưa ưng ý. Trong hồi ký của Trịnh Công Sơn viết: “Có một cái gì đó thật trùng hợp trong cùng một buổi chiều. Một nỗi buồn hay một điều gì đó gần với sự rời xa ly biệt đang cựa mình thức dậy trong tôi. Tôi lại ra đường tìm một góc quán quen thuộc ngồi. Trên đường trở về nhà, trong đầu bỗng vang lên một tiếng hát. Tôi lặp đi lặp lại nhiều lần trong đầu, hát thành tiếng khe khẽ”.

Biển nhớ

Ca khúc được viết cho Tôn Nữ Bích Khê học trường Sư phạm Quy Nhơn vào hè 1962. “Chúng tôi đã ngồi uống cà phê với nhau dưới mái quán thấp ven biển lợp bằng lá kè. Biển nhớ là cảm hứng từ muôn vàn đợt sóng lấp lánh trong những đêm khuya, Sơn đã kéo cao cổ áo, chợt rùng mình rồi có một ngày sẽ xa những dấu chân trên cát, có còn ‘trời cao níu bước Sơn Khê'”, Đinh Cường chia sẻ.

Diễm xưa

Bài hát do Khánh Ly thể hiện, đã trở thành top hit ở Nhật năm 1970. Ngữ nghĩa của Diễm xưa được Trịnh Công Sơn lý giải: “Diễm là đẹp, xưa là ngày xưa”. Nhân vật được nhắc tới trong ca khúc là nữ sinh Ngô Thị Bích Diễm của Đại học Văn khoa Huế. Nhà Bích Diễm ở bên kia sông qua cầu Phú Cam, rẽ tay phải về phía đường Phan Chu Trinh, hàng ngày cô gái vẫn đi qua nơi Trịnh Công Sơn ở.

“Ngày xưa, cây cầu Phủ Cam tuy ngắn nhưng đầy duyên nợ. Trịnh Công Sơn ở căn gác tầng 2, số nhà 11/03 đường Nguyễn Trường Tộ. Hàng ngày, chàng cứ đứng lấp ló sau cây cột, lén nhìn một người đẹp. Nàng đi bộ từ bên kia sông, qua cầu Phủ Cam, dạo gót hồng dưới hàng long não, ngang qua chỗ Sơn ở là chàng cứ sướng ran cả người. Một tình yêu ‘hương hoa’ kéo dài cho đến cuối đời chàng. Sau này, mỗi một mối tình tiếp theo của Sơn đều có hình ảnh cô gái đó”, giáo sư Bửu Ý nói.

Một cõi đi về

Ca khúc được viết vào khoảng 1974 đầu năm 1975 nhưng từ năm 1980 mới phổ biến. “Đây là một bài hát rất lạ, thực sự không dễ hiểu vì có những câu trong bài hát bản thân tôi cũng thấy khó giải thích. Viết thì viết vậy nhưng để giải thích thật rõ ràng thật khó. Khi tôi gặp không ít người dù họ học ít nhưng họ lại thích, hỏi họ có hiểu không, họ trả lời là không hiểu nhưng cảm nhận được có một cái gì đó ở bên trong. Khi nghe, khi hát lên có một điều gì đó chạm đến trái tim mình. Tôi nghĩ trong nghệ thuật điều quan trọng nhất là làm thế nào để mở ra một con đường ngắn nhất đi từ trái tim đến trái tim của người khác mà không cần cắt nghĩa gì thêm”, Trịnh Công Sơn từng nói.

Hạ trắng

Hạ trắng là một ca khúc trữ tình do Trịnh Công Sơn sáng tác năm 1961 (sau bài Diễm xưa). Bài hát được bắt nguồn cảm xúc từ nỗi ám ảnh của một mùa hè nóng bỏng tại Huế, cộng với một câu truyện về cái chết của cha mẹ một người bạn.

“Sau đó tôi kết hợp giấc mơ hoa trắng mùa hạ với mối tình già keo sơn này như áo xưa dù nhầu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau để viết nên bài Hạ trắng” – trích hồi ký Trịnh Công Sơn.

Nhớ mùa thu Hà Nội

Trịnh Công Sơn kể: “Mình rất yêu Hà Nội. Năm 1985 mình cùng ba đồng nghiệp được Bộ Văn hóa Liên Xô mời thăm Liên Xô, khi trở về, mình ở lại Hà Nội luôn một tháng. Mỗi sáng, mình và Thái Bá Vân đi loanh quanh Hà Nội gặp bạn bè. Chiều nào cả hai cũng lên Hồ Tây, nằm bên hồ với chai Ararat, uống lai rai và nhìn bầy sâm cầm đáp xuống bay lên”.

Nhin lai 9 bai hat noi tieng nhat cua Trinh Cong Son hinh anh 2

Tôi ơi đừng tuyệt vọng

Trên báo Thanh Niên từng viết: “Nhạc sĩ của những bản tình ca Trịnh Công Sơn đã buồn tha thiết khi từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. Dường như trong các ca khúc của anh luôn thấp thoáng những mối tình, khi như nắng như mưa, khi như sương như khói, khi lại hư ảo đến nao lòng. Hiểu tường tận những mối tình ấy, có lẽ là Trịnh Xuân Tịnh, người em từng theo anh đi tận cùng trời cuối đất, rong ruổi trên những nẻo đường giang hồ phiêu bạt.

Anh kể: ‘Hôm ấy, giữa phòng triển lãm tranh, có người con gái tha thướt trong chiếc áo lụa màu ve chai. Một thoáng ngỡ ngàng bởi anh Sơn rất quen. Đôi mắt, đôi môi, nụ cười ấy tỏa sáng và tinh khiết. Khoảnh khắc đó tôi đã thực sự bùng cháy’.

Thế rồi, căn nhà 47C Phạm Ngọc Thạch, quận 1, TP/HCM đã có thêm một dáng người. Không gian, thời gian ở đó chợt tình tứ, rộn ràng. Anh em, bạn bè rất mừng khi hay tin con người suốt mười mấy năm chưa lấy vợ, nay sắp sửa bước vào vườn địa đàng của trần gian. Người đó là á hậu V.A. Từ đó, mỗi sáng, anh Sơn thường ngồi uống một chút gì ở quán cà phê 81 Nguyễn Văn Trỗi cùng bạn bè. Câu chuyện tùy hứng, lúc là chuyện đời, chuyện người, có khi là chuyện tiếu lâm nhưng ít nói chuyện âm nhạc.

Lúc đó, trong anh đang có niềm hạnh phúc thật thanh thản, thật nhẹ nhàng. Người ấy cũng ghiền những món anh thường dùng như cá nục kho khô, thịt luộc, mắm ruốc, tôm chua, canh mít, mồng tơi, mướp đắng.

Những ngày ấy, anh còn mẹ. Bà thương và rất cưng hai người. Bà cũng mong có cháu nội. Đây cũng là lúc anh có dự định cưới vợ mãnh liệt nhất bởi trong anh tình yêu đang là thác đổ. Một ngày, căn phòng đầy ắp cây cọ, bức tranh, sách vở, đàn và rượu đã không còn bóng dáng thanh thanh, dong dỏng của người tình. Người ấy đã ra đi như những dòng sông nhỏ. Cả nhà, bạn bè biết anh buồn lắm. Nỗi buồn không chùng xuống vực sâu mà bay vút lên rằng ‘đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng’.

Dặn dò với lòng mình như thế, nhưng làm sao không đau khi ‘lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông’, làm sao khỏi hoang mang khi trước đó ’em là tôi và tôi cũng là em’, còn giờ ‘tôi là ai, là ai, là ai!’. Anh ngồi đó, nhìn nắng tàn phai như một nỗi đời riêng. Với người tình, anh vẫn độ lượng ’em hồn nhiên, rồi em sẽ bình minh’. Có thể ở một nơi nào đó, có người đang thầm thì ‘đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng…'”.

Như cánh vạc bay

Nhân vật của Như cánh vạc bay là một cô gái Huế đã định cư ở nơi xa. Không được ở bên nhau, sống với nhau, anh vẫn luôn mong người ấy hạnh phúc, dù anh âm thầm đau khổ: “Ta nghe từng giọt lệ. Rớt xuống thành hồ nước long lanh” – trích lời Trần Long ẩn.

“Người con gái trong bài là một thiếu nữ tên P.T.L, người gầy và cao, rất đẹp, sinh trưởng trong một gia đình nề nếp, gia phong nổi tiếng. Sau này cô cư ngụ tại Ottawa và từng gặp lại Trịnh Công Sơn trong dịp anh sang Montréal thăm gia đình lần duy nhất vào dịp Phục Sinh năm 1992” – trích Trường Kỳ.

Có rất nhiều giai nhân bước qua cuộc đời của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn nhưng cô gái Huế Dao Ánh luôn chiếm một vị trí đặc biệt. Bà chính là nguồn cảm hứng để ông viết nên những ca khúc nổi tiếng như Còn tuổi nào cho em, Lặng lẽ nơi này, Mưa hồng, Tuổi đá buồn…

Nhin lai 9 bai hat noi tieng nhat cua Trinh Cong Son hinh anh 3

Theo chia sẻ của bà Trịnh Vĩnh Trinh – em gái của Trịnh Công Sơn – thì Dao Ánh là “người gốc Bắc, đẹp, cao, duyên dáng, sang trọng và tính tình rất dịu dàng. Chị không thích ồn ào, không thích đám đông và sống nội tâm, kín đáo, rất hợp với anh Sơn”.

Dao Ánh là em gái của Ngô Vũ Bích Diễm – nhân vật chính trong ca khúc Diễm xưa. Khi mối tình Trịnh – Diễm không thành, Dao Ánh đã viết thư động viên Trịnh Công Sơn. Tình cảm chân thành của cô gái 15 tuổi đã khiến cho chàng nhạc sỹ 24 tuổi rung động. Trịnh Công Sơn đã viết thư lại và đó là khởi đầu cho một mối tình kéo dài gần 4 năm giữa họ (từ 1964 – 1967)

Khi yêu nhau, Dao Ánh còn đang là cô nữ sinh của trường Đồng Khánh còn Trịnh Công Sơn vừa mới tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn và đang giảng dạy tại thành phố B’lao (nay là Bảo Lộc – Lâm Đồng). Trong thời gian này, Trịnh Công Sơn đã gửi khoảng 300 trăm bức thư tình gửi cho Dao Ánh. Những bức thư tình này lần đầu được công bố vào năm 2013 trong cuốn sách Thư tình gửi một người mà gia đình Trịnh Công Sơn thực hiện nhân kỷ niệm 10 ngày mất của ông.

Trong những bức thư gửi cho Dao Ánh, Trịnh Công Sơn luôn thể hiện nỗi nhớ thương da diết dành cho người yêu bé nhỏ: “Anh nhớ Ánh, nhớ Ánh , nhớ Ánh mà không nói được với ai. Như tiếng kêu của một loài kiến nhỏ. Làm thế nào Ánh nghe thấy… Ánh ơi, Ánh ơi, Ánh ơi, Ánh trở về buổi trưa mắt buồn, áo trắng… Rất mong thư Ánh mỗi ngày mỗi giờ mỗi tháng mỗi năm…” (trích bức thư Trịnh Công Sơn gửi cho Dao Ánh ngày 16/2/1965).

“Anh bây giờ đang có một điều cần nhất là: Yêu Ánh vô cùng. Anh đang nhớ lắm đây. Tình yêu đó bỗng đổi dạng như một phép lạ…” (thư gửi ngày 16/9/1966).

Cũng giống như những mối tình khác, Trịnh Công Sơn và Dao Ánh cũng có những khoảng thời gian giận hờn, trách móc. Dao Ánh đã từng dùng lời một bài hát tiếng Pháp để gửi cho Trịnh: “Em sẽ đợi giông tố và gió mưa về để khóc. Em mãi yêu anh nhưng anh chẳng màng gì tới nỗi buồn của em. Và em sẽ khóc dưới mưa đây”.

Khi nhận lời trách móc đầy yêu thương của người tình bé nhỏ, nhạc sỹ Trịnh Công Sơn cũng trích dẫn một câu nói tiếng Pháp trong cuốn Khung cửa hẹp của Andre Gide: “Ngày ngày ngọn gió đời vẫn thổi nhưng chưa bao giờ thổi tắt được tình yêu”.

Tuy vậy, sau gần 4 năm gắn bó, Trịnh Công Sơn biết rằng không thể cho Dao Ánh cái cô muốn là một mái ấm gia đình nên ông chủ động chia tay và nhận hết tội lỗi về mình. Trong bức thư chia tay, vị nhạc sỹ họ Trịnh viết: “Anh xin cảm ơn bốn năm ròng rã nâng niu tình yêu đó. Cũng xin cảm ơn những buổi đợi chờ thật dịu dàng không bao giờ còn có được…”

Sau cuộc tình đẹp nhưng cũng đầy xót xa với Trịnh Công Sơn, Dao Ánh đã sang Mỹ và lập gia đình. Bà vẫn giữ liên lạc với gia đình người nhạc sỹ này. Vào năm 1989, khi Trịnh Công Sơn đã bước sang tuổi 50 tuổi, ông viết thư gửi người tình cũ với những lời trách nhẹ: “Dao Ánh ơi, lâu lắm mới viết lại tên Ánh trên tờ thư (…) Anh nhớ Ánh như những ngày xưa (…) Những kỷ niệm xưa đã nằm trong những bài hát của anh. Ánh thì chẳng giữ lại gì cả. Thế mà cũng hay. Hãy để một người khác giữ và mình thì đã lãng quên hoặc nhớ trên một văn bản không bao giờ có thực”.

Tuy nhiên, trái ngược với suy đoán của Trịnh Công Sơn, Dao Ánh vẫn giữ từng bức thư mà ông gửi, giữ lại cả những bông lau trên đồi B’lao, những bông hồng còn e ấp mà 45 năm trước Trịnh Công Sơn đã ép và gửi tặng bà.

Vào năm 1993, Dao Ánh trở về Việt Nam và tìm gặp lại người cũ. Trịnh Công Sơn cũng đã viết ca khúc Xin trả nợ người để tặng bà. Sau cuộc tái ngộ này, Dao Ánh đã ly dị chồng.

Những ngày cuối đời nhạc sỹ Trịnh Công Sơn bị ốm nặng, Dao Ánh cũng trở về Việt Nam chăm sóc ông. Bà cũng đã gửi tặng lại gia đình nhạc sỹ này hơn 300 bức thư tình mà ông đã gửi cho bà thuở còn yêu nhau.

Theo Giáo dục, khampha

Đóa “hoa vàng một thuở” của Trịnh Công Sơn

Hầu như mọi người đều biết, không ít những bản tình ca của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thường được anh sáng tác từ những cảm xúc dành riêng cho một đối tượng trong đời sống tình cảm đầy lãng mạn của mình. Trong số đó, “Hoa Vàng Mấy Độ” và “Như Một Lần Chia Tay”, cho đến nay vẫn được nhiều người yêu thích nhạc Trịnh tìm hiểu về xuất xứ.

Hơn 3 năm sau khi Trịnh Công Sơn qua đời, những thắc mắc về hai nhạc phẩm trên đã được giải đáp rõ ràng khi CD “Hoa Vàng Một Thuở” được chính thức ra mắt tại Toronto sau đó. Người trình bày hai nhạc phẩm này (cùng một số nhạc phẩm của những tác giả khác) cũng là người thực hiện CD “Hoa Vàng Một Thuở” mang tên Hoàng Lan. Cô chính là nguồn cảm hứng để Trịnh Công Sơn viết thành hai ca khúc tình cảm bất hủ đó.

Hoàng Lan

Phạm Thị Hoàng Lan sinh tại Sài Gòn và là con út trong một gia đình gồm 6 người con, trong số có một người mất sớm.

Thời kỳ thơ ấu, Hoàng Lan được cặp nghệ sĩ nổi danh Kiều Hạnh – Phạm Đình Sỹ nhận làm con nuôi, ở chung trong một căn nhà trên đường Bùi Thị Xuân. Trong khi đó mẹ cô – bạn thân của nghệ sĩ Kiều Hạnh – thường đi lại giữa Sài Gòn và Đà Lạt lo việc đầu tư nhà đất.

Năm lên 7, Hoàng Lan đã đi hát với gia đình ban nhi đồng Tuổi Xanh của Kiều Hạnh và Phạm Đình Sỹ với tên Tí Hon, cũng là tên gọi ở nhà. Trong một thời gian khá dài, cô đã cùng với ban Tuổi Xanh hát trong các chương trình Phát Thanh Học Đường trên đài Sài Gòn và trong các buổi phát thanh dành cho thiếu nhi trên đài Quân Đội.

Nhờ có năng khiếu văn nghệ cùng một gương mặt xinh xắn mang những nét hồn nhiên, khi mới được 9 tuổi vào năm 1969, Hoàng Lan được mời đóng vai chính trong phim “Đôi Guốc Của Bé” do Minh Đăng Khánh đạo diễn cùng với Sĩ Phú, Linh Sơn, Hoàng Long.

Nhưng rất tiếc, cuốn phim này bị cấm nên đã không có dịp trình chiếu trước khán giả, ngoài một buổi ra mắt giới báo chí. Cũng với tên Tí Hon, cô đã được mời giữ một vai phụ trong phim “Như Giọt Sương Khuya” với Trần Quang và Bạch Tuyết, do Bùi Sơn Duân đạo diễn.

Sau biến cố tháng 4 năm 75, cô được mời đóng vai chính trong phim “Tiếng Đàn”. Tuy từng hoạt động về ca nhạc và điện ảnh từ khi còn nhỏ, nhưng “thật ra em không thích ca hát hay đóng phim. Đúng ra em bị bắt làm như vậy trong thời gian ở với gia đình Kiều Hạnh, tuy là một gia đình văn nghệ nhưng rất khó và nề nếp”, như lời Hoàng Lan tâm sự. Trong khi đó cô lại ưa thích nhất bộ môn múa, nhưng không được sự đồng ý của mẹ.

Tuy nhiên vì quá ham thích múa nên cuối cùng Hoàng Lan đã thuyết phục được mẹ để thi vào ngành múa chuyên nghiệp tại trường Quốc Gia Âm Nhạc, sau khi học đến lớp 10 trường Trưng Vương vào năm 75. Năm 80, cô ra trường và đi dạy tại trường Văn Hoá Thành Phố trong 2 năm liên tiếp.

Năm 85, Hoàng Lan cùng chồng vượt biên và sau đó được vào Canada. Đầu tiên, gia đình cô cư ngụ tại thành phố Hamilton, gần Toronto trong 3 năm trước khi dời về Sonny Creek để sống ở đây 10 năm. Cuối cùng, vợ chồng cô và 2 con gái về cư ngụ ở Burlington cho đến nay.

Trong hơn 10 năm đầu tiên sống ở Canada, Hoàng Lan không có một hoạt động văn nghệ nào, cho đến năm 1996. Trong dịp tham dự buổi tiệc khánh thành văn phòng luật sư của một người bà con, cô gặp một người trong Hội Phụ Nữ Toronto và được mời tham gia vào những sinh hoạt văn nghệ của Hội Cựu Học Sinh Trưng Vương.

Hoàng Lan nhận lời và từ đó dần dần trở thành một khuôn mặt quen thuộc trong những sinh hoạt có tính cách cộng đồng. Ngoài ca hát, cô còn là người hướng dẫn về múa cho một số hội đoàn ở Toronto cũng như là người điều khiển chương trình cho nhiều buổi văn nghệ và là một MC quen thuộc trên chương trình Truyền Hình ở Toronto do Việt Tiến thực hiện từ năm 1999.

Hoàng Lan không nuôi tham vọng trở thành một ca sĩ nghà nghề. Một điều chắc chắn nữa là cô thực hiện CD “Hoa Vàng Một Thuở” không nằm trong mục đích thương mại mà chỉ coi như một kỷ niệm cho chính mình. Đó cũng là một kỷ niệm khó mờ nhạt trong trí tưởng của cô đối với người cố nhạc sĩ tài danh Trịnh Công Sơn, người đã viết tặng cô hai nhạc phẩm đặc sắc “Như Một Lời Chia Tay” và “ Hoa Vàng Một Thuở”. Nhạc phẩm sau được mọi người biết dưới tên “Hoa Vàng Mấy Độ”.

Trịnh Công Sơn cũng là người có những liên hệ tình cảm đậm đà với Hoàng Lan và từng có ý định cùng cô chung sống. Chính người em rể của Trịnh Công Sơn là Hoàng Tạ Thích đã xác nhận sự liên hệ giữa Trịnh Công Sơn và Hoàng Lan trong một bài viết đăng trên nguyệt san “Người Đẹp Việt Nam” gồm hai số 115 và 116 nhập một, phát hành tại Việt Nam, đề ngày 1 và 15 tháng 1 năm 2004:

“… Đoá hoa vàng đã nhập vào hồn làm anh ngây ngất. Nhân ngày sinh nhật của Hoàng Lan, anh đã nhờ người đem đến tặng nàng 21 cánh hoa hồng vàng…” Yêu em một đoá hoa vàng. Yêu em một phút Hoàng Lan tình cờ…”Hoa Vàng Mấy Độ” viết cho Hoàng Lan năm 1981, nguyên bản là “Một Thuở Hoa Vàng” (Đúng ra là “Hoa Vàng Một Thuở”, theo thủ bút của Trịnh Công Sơn )…

Người em rể và cũng là người rất thân với Trịnh Công Sơn viết tiếp trong một đoạn khác:

“Hồi đó anh đã tuổi 40. Nếu quả thật anh đã mệt mỏi đôi chân muốn tìm một nơi ngơi nghỉ thì người con gái này cũng sẽ có thể là người bạn đời của anh. Nhưng rồi cuộc tình cũng trôi qua. Không vì một phụ rẫy. Không vì một nhạt phai. Chỉ vì, anh là Trịnh Công Sơn. Và những ngày ở Canada, anh đã gặp lại Hoàng Lan ở Toronto (thật ra là Montreal, theo Hoàng Lan). Dĩ nhiên cánh Hoàng Lan bây giờ đã được cắm vào một chiếc bình yên ấm. Nhưng vẫn nghe như ‘Em cười đâu đó, trong lòng phố xá đông vui… một vết thương thôi, riêng cho một người’”…

Lý do sự ra đời của “Hoa Vàng Một Thuở” cũng đã được Hoàng Lan xác nhận cùng với hình chụp nguyên bản nhạc phẩm này trên CD mang cùng tên của cô với lời đề tặng: “Viết cho sinh nhật Hoàng Lan 25.4.1981” và chữ ký của Trịnh Công Sơn: “Trịnh Công Sơn 08.04.1981”.

Trước đó, những người yêu nhạc Trịnh thường tỏ ra thắt mắc về nguồn gốc của “Hoa Vàng Mấy Độ” với nhiều nghi vấn về đối tượng đã tạo cho Trịnh Công Sơn nguồn cảm xúc để viết thành nhạc phẩm này. Bây giờ, mọi thắc mắc và nghi vấn đó đã được giải đáp.

Hoàng Lan quen Trịnh Công Sơn vào năm 1980, khi cô hướng dẫn về múa tại Sở Văn Hoá trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh (Hồng Thập Tự cũ). Thời gian này, Trịnh Công Sơn phục vụ tại Hội Nghệ Sĩ Thành Phố trong phạm vi âm nhạc, do đó thường hay qua Sở Văn Hoá để in hoặc xin kiểm duyệt nhạc.

Thỉnh thoảng hai người cùng các nhân viên của hai cơ quan trên vẫn đi công tác chung. Lần đầu tiên Hoàng Lan gặp Trịnh Công Sơn trong chuyến công tác văn nghệ ở bệnh viện Sùng Chính. Thật ra trước đó vào khoảng giữa thập niên 60, Trịnh Công Sơn từng nhiều lần đến nhà Hoàng Lan trên đường Cao Thắng chơi cùng với một người bạn của chị cô.

Sau khi người bạn này qua đời, Trịnh Công Sơn cũng vẫn thỉnh thoảng đến thăm mẹ cô do sự tương đắc trong tinh thần văn nghệ. Thời gian này, Hoàng Lan còn là một cô bé con, tuy biết Trịnh Công Sơn là một người nổi tiếng nhưng cô chẳng mấy để ý.

Lần gặp lại trong chuyến cùng đi công tác đầu tiên vào năm 80, Trịnh Công Sơn không nhận ra cô, cho đến khi được nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu nhắc nhở. Sau công tác, Trịnh Công Sơn mời Hoàng Lan về nhà anh trên đường Duy Tân, nơi ra vào tấp nập những khách khứa, bạn bè của người nhạc sĩ lừng danh.

Cô thiếu nữ Hoàng Lan từ đó đã khám phá thêm được một thế giới mới lạ, sau khi đến ngôi nhà này nhiều lần cũng như từng được Trịnh Công Sơn đến nhà chở đi ăn sáng hay trưa trên chiếc xe PC mầu cam quen thuộc của anh. Hoàng Lan và Trịnh Công Sơn càng lúc càng tỏ ra gần gũi hơn.

Hai người gặp nhau gần như hàng ngày, khi cùng đi ăn trưa, khi đi uống nước sau khi tan sở tại những địa điểm quen thuộc như Brodard hoặc Givral. Tuy gần gũi như vậy, nhưng cả hai chẳng ai thổ lộ về tình cảm của mình.

Nhưng riêng phần Hoàng Lan, cô cho biết “thật sự lúc đó em không có nghĩ gì hết, em buồn em đi thôi. Đi, nhưng anh ấy không nói chuyện. Tính anh Sơn thì anh ấy ít nói lắm, không nói gì nhiều”…

Tình cảm giữa hai người cứ lãng đãng và vu vơ như vậy cho đến “một lúc em có cảm giác là chuyện này nó cũng không rõ ràng là cái gì. Lúc đó em cũng chuẩn bị đi. Nên chiều hôm đó gặp anh ấy, em nói thôi ngày mai đừng đón em nữa, em không lên đây nữa đâu. Anh ấy hút thuốc một hồi dòi hỏi ‘bộ em chán rồi hả?’ Em bảo em không có chán nhưng mà thấy chuyện này không đi tới đâu và không rõ ràng”.

Hoàng Lan nhận thấy giữa cô và Trịnh Công Sơn có con đường đi riêng rẽ. Thời kỳ này cô đang tìm đường vượt biên, trong khi tin rằng Trịnh Công Sơn chắc chắn sẽ ở lại.

Nhưng khi trình bầy với Trịnh Công Sơn ý nghĩ của mình, Hoàng Lan được anh cho biết nếu cô lấy lý do đó để cắt đứt liên hệ giữa hai người thì không đúng. Vì cả gia đình anh lúc đó đang được cô em Trịnh Vĩnh Trinh đứng ra làm thủ tục bảo lãnh.

Hoàng Lan tìm cách thoái thác khi Trịnh Công Sơn muốn thật sự đi xa hơn với cô. Cô cho rằng anh là người của quần chúng, nếu xẩy ra tình trạng như vậy sẽ mất đi hình ảnh đẹp với những người ái mộ.

Theo Hoàng Lan, nhạc sĩ họ Trịnh đã nói trong đời sống cũng đến lúc nào phải trở lại với con người thật của chính mình. Hoàng Lan còn cho anh biết tính thân mẫu cô rất rườm rà nên nếu tổ chức đám cưới sẽ phải tuân theo nhiều thủ tục trong khi Trịnh Công Sơn vốn không ưa những sự rình rang, bề ngoài. Hơn nữa, ít ra anh còn phải mặc ”complet” là điều Trịnh Công Sơn rất ghét.

Nhưng Trịnh Công Sơn trả lời anh làm được, miễn cho Hoàng Lan và thân mẫu cô được vui lòng. Tuy là một người của đám đông, nhưng Trịnh Công Sơn luôn muốn có một đời sống bình thường, có vợ, có con mà không phải là một người “khác thường” như nhiều người nghĩ. Hoàng Lan khuyên anh cứ sống thoải mái như từng sống, không nên lệ thuộc vào một người là điều không đáng cho anh đánh đổi.

Nhiều khi tự hỏi lòng mình về tình cảm đối với Trịnh Công Sơn, Hoàng Lan nhận ra rõ ràng một điều là cô chỉ “Thương” nhưng không “Yêu” người nhạc sĩ họ Trịnh. Cô không dám nói thẳng điều này với Sơn vì sợ sẽ khiến anh đau khổ. Trịnh Công Sơn không hề biết Hoàng Lan vẫn luôn hướng tình cảm về mối tình đầu của cô, từng ngỏ lời cầu hôn với nhưng không được thân mẫu cô chấp thuận.

Có lần, vào khoảng đầu năm 81, Trịnh Công Sơn bị đụng xe nặng khi từ nhà Hoàng Lan trở về. Cô và mẹ đến thăm anh tại nhà sau khi Trịnh Công Sơn được đưa về từ bệnh viện. Hoàng Lan xúc động đến bật khóc. Nhưng Trịnh Công Sơn lên tiếng: “Em đi về đi, anh không thích những giọt nước mắt thương hại như vậy”, theo lời Hoàng Lan kể.

Cô tâm sự cảm thấy mình tội lỗi khi đã giải quyết một cách dứt khoát, dù rất đau lòng… Nhưng thật ra, đối với cô, nếu tiếp tục sự liên hệ tình cảm như trước cũng sẽ chẳng đi đến đâu. Tất cả đến từ sự gắn bó của Hoàng Lan với mối tình đầu của mình. Nên cô chỉ muốn ra đi với mục đích gặp lại người đã mang đến cho cô nhiều rung động, khác hẳn với những rung động của cô với Trịnh Công Sơn.

Nhưng sự tuyên bố dứt khoát của Hoàng Lan với Trịnh Công Sơn không được anh coi là chín chắn nên vẫn tới sở làm đón như trước. Nhưng cô tìm đủ mọi cách để tránh. Những lần Trịnh Công Sơn đến nhà chờ cô đi làm về, khi gần đến nhà nhìn thấy chiếc xe mầu cam quen thuộc là Hoàng Lan phải chạy xe vòng ngoài phố cho đến khi biết anh đã ra về.

Tuy không còn gặp gỡ riêng tư như trước, nhưng Hoàng Lan và Trịnh Công Sơn vẫn thường gặp nhau trong những lần công tác. Thời gian này cô nhận thấy Trịnh Công Sơn có vẻ buồn và uống rượu nhiều. Anh còn viết thư cho thân mẫu Hoàng Lan, có ý trách móc cô.

Những thư này mẹ cô vẫn còn giữ, trong khi cô đã đốt hết những thư Sơn viết cho cô trước khi lập gia đình. Hoàng Lan cũng trả lại Trịnh Công Sơn tất cả những món kỷ niệm cùng hai cây đàn guitars do anh tặng, chỉ giữ lại một bộ giây đàn.

Cũng thời gian này vào dịp sinh nhật Hoàng Lan năm 81, Trịnh Công Sơn tặng cô một quần nhung, một áo pull mầu hồng, một thắt lưng bằng vải bố và một số nước hoa. Anh cùng với Thanh Hải – người thường trình bày nhạc phẩm của anh, hiện sống ở Âu Châu – mang quà tặng đến nhà cô cùng với hai nhạc phẩm “ Hoa Vàng Một Thuở ” và “Như Một Lời Chia Tay”, được buộc một sợi “ruban” rất đẹp.

Một bó hồng mầu vàng – tượng trưng cho lòng không chung thủy – đã được giao đến nhà Hoàng Lan từ sáng sớm. Thanh Hải đã cất tiếng hát hai nhạc phẩm này trong buổi tiệc sinh nhật của Hoàng Lan, trong khi Trịnh Công Sơn ngồi buồn rầu bên cạnh ly rượu không lúc nào vơi.

Khi hỏi Trịnh Công Sơn về ý nghĩa câu “làm sao biết được nỗi đời riêng” trong nhạc phẩm “Như Một Lời Chia Tay”, Hoàng Lan được anh cho biết nếu hồi đó cô nói với anh là muốn rời Việt Nam thì chuyện tình cảm giữa hai người đã khác. Ý anh muốn nói không biết Hoàng Lan có ý định muốn đi, tuy vẫn thường cùng nhau đi chơi gần như hàng ngày. Nếu biết được cô muốn như vậy, anh cũng sẽ quyết định không ở lại Việt Nam.

Lễ đính hôn của Hoàng Lan được tổ chức vào tháng 11 năm 1982. Và tiệc thành hôn với người cùng chung sống với cô tên Hoà hiện nay, được tổ chức một tháng sau. Khi trao thiệp đính hôn cho Trịnh Công Sơn, anh hỏi cô: ”Lần này là thôi thật phải không Lan?”. Cô trả lời “hy vọng là như vậy!”. Trịnh Công Sơn đã không có mặt trong tiệc cưới của cô vào tháng 12 năm 1982, do thiệp mời gửi chung với các người khác tại cùng cơ quan của Trịnh Công Sơn bị thất lạc.

Gần 10 năm sau, đoá “Hoa Vàng Một Thuở” của Trịnh Công Sơn mới gặp lại anh tại Montreal, Canada khi anh qua thành phố này thăm những người em thân thiết của mình vào đầu năm 1992. Ngay khi mới đến nơi, Trịnh Công Sơn đã gọi điện thoại cho Hoàng Lan ở Burlington, Ontario nhưng không gặp.

Mãi đến tháng 7 cùng năm, cô mới có dịp lên Montreal gặp anh tại nhà hàng “La Famille Vietnamienne” do gia đình anh khai thác ở thành phố này. Trịnh Công Sơn đề nghị vẽ tặng cô một bức chân dung, nhưng hoàn cảnh không cho phép nên cô đã từ chối, để “bây giờ nghĩ lại, thấy tiếc” mặc dù khi gặp lại cũng thất rất “bùi ngùi”, như Hoàng Lan tâm sự.

Và đúng như người em rể của Trịnh Công Sơn đã viết: “dĩ nhiên cánh Hoàng Lan bây giờ đã được cắm vào một chiếc bình yên ấm. Nhưng vẫn nghe như “em cười đâu đó, trong lòng phố xá đông vui.. .một vết thương thôi, riêng cho một người”…

Trường Kỳ