Phong trào Da Vàng Ca

Vào năm 1966, cuộc chiến Việt Nam trở nên dữ dội hơn. Bom đạn trút xuống quê hương càng ngày càng nhiều, lính ngoại quốc đổ bộ lên đất nước càng ngày càng đông. Những phong trào tranh đấu ở các đô thị bị đàn áp tơi bời. Biến cố miền Trung được mang tên là “một cuộc nội chiến trong một cuộc nội chiến”: Máy bay, xe thiết giáp, lính thiện chiến của chính quyền trung ương Sàigòn tấn công các thành phố Huế, Đà nẵng.

Giữa lúc đó, cũng chính từ miền Trung, có một chàng lãng tử gầy ốm với vầng trán rộng và nụ cười héo hắt đã mang vào Nam hai bài ca nghe rất buồn thảm: bài Người già em bé và bài Ca dao mẹ. Một đám người tới với chàng, họ ngồi dưới đất, trong bóng tối và hát tuyệt vọng như những người nô lệ da đen đêm đêm ngồi than khóc phận mình. Từ đó, tiếng hát lan ra khắp các đô thị, tới đâu nó cũng đi sâu vào lòng người, làm rung lên như một dây đàn từ lâu chờ người gảy. Phong trào càng ngày càng dâng lên cao, nhất là sau biến cố Mậu Thân để rồi không có một sức mạnh nào ngăn cản nổi nữa. Chúng tôi gọi đó là phong trào DA VÀNG CA.

Năm 1966, cuộc chiến Việt Nam lại được mang thêm một tên mới: Chiến tranh diệt chủng. Tất cả khả năng cơ khí của nền văn minh Tây phương đều được tận dụng vào cuộc giết người rất khủng khiếp này. Nông dân Việt Nam đã chịu đựng cảnh bom đạn trong nhiều năm nay, càng ngày sức tàn phá của chiến tranh lại càng gia tăng.

Trịnh Công Sơn đã mô tả sự bi đát hãi hùng của thân phận da vàng Việt Nam trong những lời ca sau:

Từng chuyến bay đêm, con thơ giật mình,
Hầm trú tan hoang, ôi da thịt vàng…
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng,
Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn.
(Đại bác ru đêm)

Đó là thân phận của nông dân Việt Nam. Nay các đô thị cũng nhiều phen chìm trong khói lửa. Người dân thành phố không những đêm đêm nghe tiếng bom dội về làm rung chuyển cả thành phố mà còn sống trong cảnh tàn phá hủy hoại của bom đạn. Chết chóc đã xuất hiện đầy rẫy trong những đường phố:

Xác người nằm trôi sông, phơi trên ruộng đồng,
Trên nóc nhà thành phố, trên những đường quanh co.
Xác người nằm bên nhau, treo trên gầm cầu,
Trong góc nhà đổ nát, dưới những hàng thông sâu.

Xác người còn xương khô, trong khắp bụi mờ,
Sau những đường phố vắng, trên góc đường mấp mô.
(Bài ca dành cho những xác người)

Trước những biến cố mới đó, quần chúng đô thị bắt đầu hiểu một cách thấm thía cuộc chiến tranh đã kéo dài từ bao lâu nay. Nông thôn cũng như thành thị giờ đây không có một tất đất nào trên quê hương thân yêu này được coi là an toàn. Chiến tranh toàn diện, chiến tranh giành thắng lợi, cho dù thắng lợi là làng mạc hay thành phố biến thành đống tro tàn gạch vụn, trên đó những người được nhân danh cho cuộc chiến này nằm chết ngổn ngang. Cái hình ảnh:

Người già co ro, em bé lõa lồ,
Từng hạt cơm khô, trong miếng hững hờ,
Từng bàn tay khô lấp kín môi cười,
Từng cuộn dây gai xé nát da người,

Cửa nhà Việt Nam, cháy đỏ cuối thôn…
(Người già, em bé)

Giờ đây cũng chính là hình ảnh của quần chúng đô thị. Nó không còn là một câu chuyện của một chàng lãng tử ngang qua thành phố kể cho họ nghe trong những cảm giác đau nhức, thú vị. Đó là sự thật. Giờ đây họ thật sự sống trong chiến tranh, cho nên những lời ca đó chính là những lời ca nói về họ. Họ bắt đầu tham dự cuộc chiến tranh. Do đó, sinh hoạt văn nghệ cũng thể hiện rõ ràng cái tâm trạng của họ.

Quần chúng trí thức đô thị càng ngày càng thích nghe Ca khúc da vàng, Tình ca Trịnh Công Sơn. Và chỉ trong một thời gian ngắn, loại nhạc này đã trở thành những rung cảm chung của quần chúng đô thị, tạo nên một phong trào văn nghệ rất đặc biệt:

1. Đặc tính thứ nhất của phong trào này là phủ nhận cảnh nồi da xáo thịt.

Giữa lúc những người Việt đang tham dự một cuộc chém giết nhau, gán cho nhau là tay sai của đế quốc này hay đế quốc nọ, thì chính trong thâm tâm họ, họ luôn luôn muốn phủ nhận cái cảnh nồi da xáo thịt đó. Họ đã từ bỏ con người của họ để mang những nhản hiệu cho mình, cho người anh em của mình để đánh nhau trên khắp các chiến trường. Thế nhưng, khi họ quên hết những nhản hiệu đó, khi họ xóa bỏ những chiếc mặt nạ mang cho nhau thì họ lại thấy gần gũi nhau, yêu thương nhau:

Tôi có người yêu chết trận Plei-me,
Tôi có người yêu ở chiến khu D,
Chết trận Đồng Xoài, chết ngoài Hà nội,
Chết vội vàng dọc theo biên giới…
(Tình ca người mất trí)

Họ thấy những người chết trong cuộc chiến tranh khủng khiếp này là những người yêu, những người anh em của họ, cho dù những người này ở Plei-me, ở chiến khu D, ở ngoài Hà nội, ở Chu Prong, A Shau, hay bất cứ nơi nào trên giải đất Việt Nam thân yêu này. Tất cả là anh em cùng một màu da, đã cùng nhau trong hành trình vĩ đại của giống nòi từ miền Triết Giang đổ về để hình thành dân tộc Việt Nam. Tất cả là người yêu của họ. Yêu nhau là chấp nhận những đắng cay, ngọt bùi của nhau như câu ca dao : ‘‘Gừng cay muối mặn, xin đừng bỏ nhau’’. Không những tôi nhìn nhận anh là người anh em, mà tôi còn coi anh là người yêu, là gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau, là ‘‘gần nhau trong tiếng nói da vàng’’.
Vậy thì tại sao lại có cảnh nội chiến ? Đây là lời tố cáo :

Hai mươi năm nội chiến từng giờ,
Gia tài của mẹ, một bọn lai căng,
Gia tài của mẹ, một lũ bội tình…
(Gia tài của mẹ)

Sự xuất hiện của hai chữ lai căng trong văn nghệ mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Lai căng tức là từ bỏ con ngườI văn hóa dân tộc của mình để biến thành một người khác. Đó là trường hợp của những người nô lệ muốn thoát khỏi cảnh tình nô lệ của mình bằng cách chối bỏ khinh rẻ con người của chính mình và muốn trở thành như chủ nhân ông ngoại bang, cùng với nó cai trị những người nô lệ khác. Bọn lai căng đó trở thành một lũ bội tình dân tộc, vì luôn luôn đứng sát với ngoại bang để bóc lột, giết hại đồng bào của họ. Dĩ nhiên, bọn người này không còn là người Việt nữa, nhưng họ vẫn còn da vàng, mũi tẹt. Do đó ngoại bang mới tạo được cái ảo tưởng nội chiến, một ảo tưởng nằm trong chiêu bài của họ để che mất chế độ thực dân, nô lệ. Người Việt đã cảm thấy điều đó, cho nên dù đang ở trong cái thế chống đối nhau, tự trong thâm tâm của họ, họ vẫn thấy yêu nhau, gần nhau:
Tôi muốn yêu anh, yêu Việt Nam,

Ngày gió lớn, tôi đi môi gọi thầm,
Gọi tên anh, tên Việt Nam,
Gần nhau trong tiếng nói da vàng.
(Tình ca người mất trí)

2. Đặc tính thứ hai của phong trào là nói lên tâm trạng nạn nhân của một cuộc chiến.

Cái bi thảm nhất là ở chỗ: tay của người Việt ít nhiều đều vấy máu anh em mình, người yêu của mình. Tự trong thâm tâm họ là anh em, là người yêu của nhau, nhưng trên thực tế họ chém giết nhau, nhìn nhau xa lạ. Rồi khi kẻ xa lạ đó nằm xuống, bổng nhiên nó không còn xa lạ nữa, mà chính là những người yêu. Những người yêu đó đã:

Bỏ xác trôi sông,
Chết ngoài ruộng đồng,
Chết rừng mịt mùng,
Chết lạnh lùng,
Mình cháy như than.

Chết cong keo,
Chết vào lòng đèo,
Chết cạnh gầm cầu,
Chết nghẹn ngào,
Mình không manh áo.
(Tình ca người mất trí)

Trong cuộc chiến tranh này, không ai ca khúc khải hoàn, không ai nằm chết trong vinh quang. Những người yêu đó đã:

Chết thật tình cờ,
Chết chẳng hẹn hò,
Chết không hận thù,
Nằm chết như mơ.

Vậy thì đây là cái chết do một trận địa chấn, một cơn hồng thủy. Một cái chết không nằm trong dự tính của họ. Họ bị một thứ gông cùm xiềng xích vô hình xô đẩy họ vào mâu thuẫn, hận thù, nhưng tận trong thâm sâu của tâm hồn họ, họ không thấy sự mâu thuẫn, hận thù mà chỉ thấy một màu da thơm mùa lúa chín, thấy yêu nhau, thấy gần nhau trong tiếng nói Việt Nam. Như vậy thì quả dân tộc ta đang gặp một cơn đại nạn. Và triệu người đã chết bất đắt kỳ tử, chỉ là nạn nhân của một cuộc chiến tranh phát xuất từ đâu tới, chớ không phải từ trong lòng anh em Việt Nam.

3. Đặc tính thứ ba của phong trào là nói lên tâm trạng nô lệ da vàng.

Quê hương bây giờ không còn là quê hương thần thoại nữa mà chỉ là một ngục tù trong đó người Việt da vàng sống như những kẻ bị lưu đày. Họ không còn chủ quyền trong tay, sinh mạng hoàn toàn không được bảo đảm, giá trị làm người bị phủ nhận. Thân phận của họ không khác gì thân phận của những người nô lệ, sống không ra người, mà chết cũng không ra cái chết của một con người. Từ hoàn cảnh bi đát này xuất hiện những tiếng hát mang âm điệu nô lệ da đen, khóc than, kể lể niềm thống khổ, tủi nhục của những người da vàng trong cuộc chiến tranh tàn bạo này.

Những bài ca nổi tiếng như Tình ca người mất trí, Ca dao mẹ, Đi tìm quê hương là những bài ca rất buồn thảm, âm hưởng nhạc da đen. Bài ca bắt đầu bằng điệu Blues dìu dặt, rỉ rít, thở than, kể lể như tiếng khóc của một người đàn bà trong góc phòng tối, rồi bỗng dưng nhạc vút lên cao, nức nở, gào thét thảm thiết. Những gì trong tâm hồn họ bị nổ ra vì quá đau khổ, u uất, vì không thể đè nén lại được nữa. Những ước mơ từ lâu họ không được quyền nói tới, phải được chôn sâu vào trong lòng, nay bỗng nổ tung trong tiếng hát của người mất trí.

Tất cả những Ca khúc Da Vàng được người ta nghe trong bóng tối, như những lời kinh, những lời vô cùng thảm thiết của những linh hồn bị đày đọa không nơi yên nghỉ, bị một thứ gôm cùm xiềng xích vô hình không cho phép họ sống như những con người. Bây giờ quê hương không còn là quê hương thần thoại nữa mà chỉ là một chốn lưu đày, một ngục tù trong đó người Việt chỉ là loài ma phải chịu cảnh lang thang, đói rét và sự hủy hoại của chiến tranh:

Người già co ro, em bé lõa lồ,
Từng hạt cơm khô trong miếng hững hờ,
Ruộng đồng quê hương dấu vết bom qua.
Từng bàn tay khô lấp kín môi cười,

Từng cuộn dây gai xé nát da người,
Đạn về đêm đêm đốt cháy tương lai…
(Người già, em bé)

Họ sống trong quê hương nhưng luôn mang tâm trạng của kẻ bị lưu đày, ray rức nhớ quê hương:

Một ngục tù nuôi da vàng
Người Việt nằm nhớ nước non.

Người nô lệ da vàng cũng khổ hơn người nô lệ da đen ở chỗ họ mất quê hương chứ không xa quê hương. Người nô lệ da đen nhớ quê hương vì xa quê hương, một quê hương còn nguyên vẹn trong tâm tư với những cánh rừng thiêng liêng huyền diệu. Trong khi đó, người nô lệ da vàng không những nhớ quê hương mà còn thấy quê hương mình trong hình ảnh: Ruộng đồng trơ đất đỏ, Đàn bò không luống cỏ.

Người Việt thấy mình không phải là nô lệ nhưng lại phải sống như những cuộc sống của người nô lệ, bị đánh giá như một người nô lệ. Họ có cả ruộng vườn để tự nuôi sống, nhưng bom đạn, chất độc hóa học làm cho: ruộng đồng trơ đất đỏ. Họ có một mái nhà, cho dù là một mái nhà tranh, nhưng: hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng, cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn. Họ có bàn tay khối óc để dệt nên tấm vải nâu đen, trồng nên cây lúa cho dù phải thêm sắn thêm khoai, nhưng nay đành bó tay : ngồi xin áo xin cơm. Họ có bốn nghìn năm lập quốc, hình thành dân tộc bất khả phân ly, nhưng nay tưởng chừng như là: ôi đất nước u mê ngàn năm. Anh em lại rơi vào cảnh nồi da xáo thịt. Một thứ gông cùm xiềng xích nào đây đã trói buộc đôi chân họ lại. Họ không còn tự do, không còn độc lập, bắt họ thành nô lệ da vàng.

Tới đây một câu hỏi được đặt ra, là tại sao họ dùng những tiếng nô lệ da vàng và tại sao họ lại hát bằng âm thanh nô lệ da đen? Phải chăng họ cảm thấy thân phận của họ giống như thân phận người da đen trong thế kỷ này? Người da đen bị đày xa quê hương, bị mua bán như những đồ vật, bị bắt làm nô lệ, bị bóc lột tận xương tủy, bị coi như không phải là người nữa, bị tất cả mọi tai họa do ngườI da trắng gây nên kể từ khi có những chiếc thuyền vượt biển. Sản phẩm của nền văn minh da trắng là chế độ nô lệ, chế độ thực dân, chế độ thực dân mớI, chế độ đế quốc, là ba mươi triệu người da đen hiện diện trên nước Mỹ, là máu, nước mắt trong rừng núi Phi châu, là chiến tranh Việt Nam trong suốt trăm năm nay. Chữ nô lệ da vàng khiến ta liên tưởng đến chữ nô lệ da đen, rồi chữ nô lệ da đen lại đeo đẳng vào chữ da trắng và sự tàn bạo, vô nhân đạo của nền văn minh vật chất Tây phương. Phải chăng hoàn cảnh da vàng Việt Nam hôm nay cũng là hoàn cảnh da đen Mỹ-Phi? Cho nên đã có nhiều người quá buồn cho phận nước và bật khóc bằng điệu Blues đen vô cùng ảo não qua những “Ca khúc Da Vàng”.

4. Đặc tính thứ tư của phong trào là tâm trạng tuyệt vọng trên con đường giải thoát.

Không thể chịu đựng được cảnh tình nô lệ, những người nô lệ da vàng đã tìm cách giải thoát thân phận tù đày của mình: “Phải đập tan gông cùm, xiềng xích vô hình trói buộc dân ta”, phải giành lấy tự do, độc lập, phải xóa bỏ thảm trạng người Việt nhìn nhau xa lạ, căm hờn. Họ đã giải quyết bằng cách: “người nô lệ bước đi, đi về ruộng vườn”.

Giải pháp này cũng được thể hiện rõ ràng qua những phong trào Du Ca, CPS, Chương trình Hè, chủ trương cách mạng xã hội của nhóm Hành Trình, Thái Độ. Họ quan niệm đất nước đã đổ vỡ quá nhiều rồi, phân hóa, chia rẽ đến cùng cực rồi, nên bây giờ phải nghĩ tới việc xây dựng lại, làm cách mạng xã hội hướng về nông thôn v.v…“Bây giờ không phải là lúc ngồi đặt vấn đề nữa”, họ hát như vậy và hăng say cuốc đất, làm nhà, đào ao, bắt cầu. Nhưng khi họ bắt tay vào việc, khi họ va chạm với thực tế thì cũng là khi họ thấy cái giải pháp đó không đưa tới những kết quả như ý muốn, không giải quyết được vấn đề xiềng xích, gông cùm. Những người hăng say nhiệt tình đó trở nên thất vọng, chán nản, không tiếp tục công tác nữa. Giai đoạn công tác xã hội chấm dứt để lại cho chúng ta một bài học quí báu.

Cái lỗi lầm của chúng ta là ở chỗ không chịu ngồi đặt vấn đề để rồi bị sa lầy trong chiêu bài cách mạng xã hội do ngoại bang tung ra để đánh lạc hướng hành động của những người yêu nước. Sự thật não lòng là chúng ta còn quê hương đâu, tự do độc lập đâu để mà cày cuốc, mà làm cách mạng xã hội. Chủ quyền quốc gia đã mất, chân tay ta đã bị gông cùm, ruộng đồng trơ đất đỏ không thể lên được ngọn mạ, nhà cửa trong nháy mắt trở thành đống tro tàn.

“Ca khúc Da Vàng” đã mô tả hết tất cả những tình cảnh đó. Những người nô lệ da vàng này không đặt vấn đề ai đã đặt gông cùm xiềng xích lên đầu cổ họ mà chỉ thấy hậu quả của gông cùm xiềng xích vô hình đó mà thôi. Do đó họ không thể giải quyết đúng để giải thoát cảnh ngục tù nô lệ được. Không giải thoát, họ trở nên tuyệt vọng, hoàn toàn tuyệt vọng. Thôi, thế là trọn đời lưu vong, không còn hy vọng có ngày trở về quê hương thần thoại:

Mẹ ngồi ru con,
Đong đưa võng buồn,
Đong đưa phận mình.

Mẹ ngồi ru con,
Nghe đất gọi thầm,
Trọn đời lưu vong.

Giọt lệ ăn năn,
Đưa con về trần,
Tủi nhục chung thân,

Một dòng sông trôi,
Cuốn mãi về trời,
Bấp bênh phận người.
(Mẹ ru con ngủ)

Họ bị cô lập với quá khứ vinh quang và tương lai tươi sáng của dân tộc. Họ chỉ có một thực tại là “nhà cháy từng hàng, một rừng xương khô, một núi đầy mồ”. Họ tìm thấy gia tài của mẹ chỉ có từng ấy, còn bao nhiêu trân châu khác như những anh hùng liệt nữ, những địa danh ghi dấu những chiến thắng vinh quang họ không hề nhắc tới. Những trân châu này bây giờ không sáng bằng “hỏa châu rực sáng”, không thể kết dài được một nhúm lửa đỏ đủ sưởi ấm hy vọng của họ. Họ tuyệt vọng nên nghĩ rằng mình thành nô lệ thực sự. Vì mình là nô lệ, là u mê ngàn năm, là trọn đời lưu vong, tuyệt vọng trên con đường về quê hương thần thoại, cho nên người da vàng đã có ý nghĩ:

Xin cho tôi quên phận tù đày,
Xin cho tôi là thoáng rượu cay,
Xin cho tôi ra khỏi cuộc đờI,

Để khi nào trời đất yên vui,
Xin cho tôi xin lại cuộc đời.
(Xin cho tôi)

Người nô lệ tìm cách giải thoát thân phận tù đày của mình bằng cách sống trong tù đày nhưng quên phận tù đày, tưởng chừng như mình không sống trong cảnh tù đày. Nhưng làm sao có thể quên được? Chính rượu cay là phương tiện giải thoát. Đó là lý do tại sao phòng trà trở nên tấp nập và tình ca bộc phát thành phong trào. Vậy thì hậu quả của sự tuyệt vọng trên con đường giải thoát ấy chính là Tình ca.

Bây giờ phòng trà trở thành chỗ nghỉ ngơi giải khuây của những người nô lệ da vàng sau những giờ phút sống trong ngục tù của ngày dài trên quê hương. Ở đây có đủ chất cay để giúp họ quên phận tù đày: rượu cay, khói thuốc cay, nhạc cay…Trong cái cảnh đèn thắp thì mờ, những người da vàng ngồi quanh những chiếc bàn nhỏ, có khi họ ngồi dưới đất, họ hút thuốc, uống cà phê đậm, uống rượu mạnh và nghe Da Vàng Ca, Tình Ca. Đó là trường hợp của những quán Văn, Thơ, quán Trăng, Tre, Gió, Bão…

Lại có những phòng trà khác dành cho người ngoại quốc và những người nô lệ không còn thấy mình là nô lệ nữa. Ở đây không khí nhẹ nhàng, thư thả hơn, lộng lẫy, sang trọng hơn, có vẻ tây phương hơn. Điều đáng chú ý là người nô lệ da vàng ở đây khiến ta suy nghĩ: phải chăng mình cứ đeo đẳng vào cái màu da của mình, với quê hương chiến tranh ngục tù, với cái xã hội nhược tiểu, chậm tiến, cho nên tự chuốc lấy khổ đau? Vậy thì phải quên đi, không nhớ thương nữa, phải xóa bỏ ám ảnh trở về quê hương thần thoại. Chúng tôi gọi đó là những người nô lệ không còn thấy mình là nô lệ nữa. Đó là trường hợp các phòng trà Monaco, Queen Bee, International, Tự Do, v.v…

Nhưng người nô lệ nào rồi cũng thích Tình ca bởi vì không có thứ rượu cay nào cay đắng bằng những khúc Tình ca, bởi vì nói như Trịnh Công Sơn: “Tình yêu cũng mở ngỏ cho những lần hóa kiếp, hãy thử bước vào thế giới đó để bắt đầu một cái chết thật vô cùng yêu dấu”.

Tình khúc Trịnh Công Sơn, giọng ca Khánh Ly: đó là một thế giới trong những ngày hoang sơ thời tiền sử, khi tư tưởng chưa xuất hiện để tàn phá con người. Chúng ta không thể khám phá thế giới đó bằng sự suy tưởng được mà chỉ bằng một sự rung động hồn nhiên của tâm hồn. Ở đây tiếng nói không được xếp thành câu, câu này không xếp với câu kia cho có nghĩa này nghĩa nọ, trái lại tiếng nói chỉ là những âm thanh như tiếng chim kêu trong rừng, như tiếng thoảng qua thung lủng. Âm thanh bật ra là con tim rung chuyển, là tình yêu tràn ngập con người. Thế giới Tình ca của Trịnh Công Sơn là như thế. Khi đi vào, ta không được mang theo gì ngoài bộ óc trống rỗng, hồn nhiên với năm giác quan thật nhạy cảm. Người ca sĩ duy nhất của thế giới đó là Khánh Ly. Khánh Ly đứng trước cổng vườn địa đàng và mời gọi những kẻ bị lưu đày di cư vào thế giới tình yêu:

Tình yêu như trái phá,
Con tim mù lòa,
Một mai thức dậy,
Truyện trò với cỏ cây.
(Tình sầu)

——-

Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao
Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ

Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu…
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau.
(Diễm Xưa)

Nói như Trịnh Công Sơn, họ rủ nhau đi vào cơn mộng du nào đấy để tìm về những cánh san hô cũ kỹ, đọc trên những dòng sông, tức chính là chứng nhân già nua nhất của địa cầu đã ghi những gì về tình yêu. Phải là Khánh Ly mới có thể thực hiện cơn mộng du được, vì Khánh Ly chính là con người của thời hoang sơ tiền sử đó. Trong cơn mộng du, những người nô lệ khám phá lại được con người đích thật của mình. Đó là một thế giới mới khác hẳn với cảnh ngục tù nô lệ trong cuộc đời.

Tình Ca trở thành một giải pháp thoát ly cuộc đời. Nhưng tình ca không phải là nhạc giải thoát cuộc đời, bởi vì nó chỉ là một thứ rượu cay, bởi vì khi con người nô lệ vừa tỉnh cơn say cũng là khi cuộc đời ngục tù nô lệ vây phủ lấy phận nó. Nó lại phải chạy trốn, phải uống thật nhiều rượu cay nữa. Càng ngày nó càng uống thêm, uống thêm. Nhưng dù có chạy trốn, con người vẫn không thể xóa bỏ được cuộc đời trong tâm hồn nó, cho nên nó lại khát khao trở lại cuộc đời :

Xin cho tôi ra khỏi cuộc đời,
Để khi nào trời đất yên vui, 
Xin cho tôi xin lại cuộc đời.

Người nô lệ vẫn còn đeo đẳng với cuộc đời nhưng không tìm cách giải quyết cuộc đời. Không giải quyết được thân phận nô lệ của mình trong cuộc đời mà chỉ chờ khi nào trời đất yên vui thì xin trở lại cuộc đời. Đó là một thái độ bi thảm nhất của người nô lệ da vàng.
Giờ đây, mùi rượu cay của những tình khúc đang vây phủ lấy đô thị thân yêu này, nó vừa giải tỏa đựoc được sự đau khổ của con người trong giây lát, cũng vừa chôn sâu con người vào cảnh tù đày nô lệ. Bởi vì con người bị coi là nô lệ vẫn còn là con người nhờ sự đề kháng, chiến đấu không ngừng của nó để được làm người. Nếu chối bỏ cuộc đời, chối bỏ sự đề kháng chiến đấu trên thì không còn là người trong cuộc đời nữa mà chỉ là nô lệ: Xin cho tôi ra khỏi cuộc đời, Xin cho tôi là thoáng rượu cay, chính là những ý nghĩ tai hại nhất ngăn cản không cho tên nô lệ thành người sống trong quê hương yêu dấu mà chỉ làm cho nó thành em bé lõa lồ, suốt đời lang thang.

Có một điều mà Da Vàng Ca không đề cập tới, là ai đã buộc gông cùm xiềng xích vào đôi chân ta. Câu hỏi này mạnh như một cơn lốc cuốn phăng người nô lệ da vàng ra khỏi cơn say, lôi kéo họ về với thực tại, bắt nó tìm cho thấy câu trả lời. Trả lời không được thì phải tìm cách trả lời cho được, chứ không có quyền tuyệt vọng. Bởi vì tuyệt vọng đồng nghĩa với nô lệ. Do đó, nếu không muốn bị làm nô lệ thì không bao giờ được tuyệt vọng trong con đường giải thoát. Thái độ này được thể hiện trong phong trào văn nghệ tranh đấu.

LÊ TRƯƠNG
(Hội Sinh viên sáng tác Sàigòn – 1970)

Đà Lạt, một thời hương xa: Tuổi đá buồn của Trịnh Công Sơn

Khoảng năm 1964, sau khi tốt nghiệp Trường Sư phạm Quy Nhơn, Trịnh Công Sơn nghe theo lời rủ rê của hai người bạn thân là Trịnh Cung và Đinh Cường về B’lao dạy học, không ngờ là một cái duyên, một bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của nhạc sĩ họ Trịnh.

Trong giai đoạn đầu sống ở B’lao, ngao du Dran, Đà Lạt, phải rời xa người tình nơi đất thần kinh thơ mộng và con đường sự nghiệp âm nhạc đầy hứa hẹn (năm 1959, ca khúc Ướt mi được công bố chính thức và Thanh Thúy trình bày khá nổi tiếng) xem ra là cực kỳ khó khăn với Trịnh. Chàng trai 25 tuổi tự ví mình như “loài củi mục trên miền xứ bỏ hoang”. Trong những bức thư tình gửi cho người tình Ngô Vũ Dao Ánh (tập Thư tình gửi một người), chàng nhạc sĩ trẻ chất chứa đầy ắp những dòng bi đát, đôi khi sướt mướt kể lể về những ngày mây mù, mưa dầm ở B’lao.

Đà Lạt, một thời hương xa: Tuổi đá buồn của Trịnh Công Sơn

Phải thường xuyên lên xuống Đà Lạt vào những dịp cuối tuần hay Tết Trung thu, Giáng sinh để tìm khuây, Trịnh Công Sơn thường dành hết thời gian để du ngoạn, đến phòng trà, la cà quán xá, sống hết mình trong thế giới rộn ràng để “cho bõ những ngày nằm dài bị hắt hủi ở B’lao-sương-mù”.

Cuộc gặp gỡ định mệnh

Đà Lạt mang đến cho anh một định mệnh khác. Trịnh Công Sơn gặp cô ca sĩ phòng trà có tên Nguyễn Thị Lệ Mai (nghệ danh Khánh Ly), để từ đó tân nhạc VN “không còn như cũ nữa”.

Trong bức thư gửi Dao Ánh đề “Đà Lạt, 19.9.1964”, tức 2 tuần sau khi đến thành phố cao nguyên, Trịnh Công Sơn viết: “J’entends siffler le train (tạm dịch Đợi tiếng còi tàu) quấn chặt cổ anh như một loài rắn, quấn chặt thân anh, quấn chặt ngực anh – anh co mình ngồi im, tiếng hát Khánh Ly thả xuống, trải dài, chạy quanh vùng bóng tối Night Club, trói gọn anh vào một j’ai failli courir-vers-toi, j’ai failli crier-vers-toi (tạm dịch suýt nữa anh đã chạy về phía em/suýt nữa anh đã khóc với em) và một tiếng hát khác nhỏ hơn – âm thầm lôi phăng anh đi về một vùng cao hơn, xa hơn có tiếng đàn guitar rất đục và vùng lá xanh non buổi chiều trong con mắt đốt bằng lửa mặt trời. Xin một chút trầm hương cho cuối mùa hạ. Anh đã một phút quên đi những người bên cạnh Kim Vui – Đặng Tiến – Trịnh Cung. Anh đưa Khánh Ly ra vùng đồi Đà Lạt mưa rơi nhỏ rồi Khánh Ly cũng mất dần trong khoảng tối trước mặt. Kim Vui lái DS 19 (xe Citroen) đưa chúng anh về. Trời Đà Lạt đã lạnh rồi đó Ánh. Trịnh Cung lên đón anh ở B’lao rồi cùng có mặt ở đây buổi chiều. Kim Vui lái Austin Décapotable (xe mui trần) đưa chúng anh đi suốt những vùng đồi ở đây, uống cà phê và ăn cơm trên một quán lạ lùng nằm vùi trong tận cùng thành phố”.

Thư đề ngày 28.9.1964: “Thành phố ồn ào dưới kia. Căn phòng của anh Cung đầy những tranh, đĩa hát, sách báo, giấy tờ, mùng màn, quần áo. Chúng anh sống như thế đó, buồn phải không Ánh. Anh còn nhiều chuyện sẽ kể cho Ánh nghe nếu Ánh thấy thích về những ngày chúng anh sống chuồi mình về phía trước vừa rực rỡ vừa hẩm hiu. Lắm chuyện để tạo dựng nên mình buồn thảm”.

Những bức thư tình gửi cho Dao Ánh trong thời điểm này, Trịnh Công Sơn bộc bạch rõ nhất, chân thật nhất cái nhìn của một thanh niên có tâm hồn đa cảm, những rung động nghệ sĩ thực sự với Đà Lạt, một ý thức kiếm tìm nơi vùng đất này vừa là chốn lánh xa thời cuộc, chiến tranh nhiễu loạn, vừa là một nơi để trốn thoát sự cô đơn và nỗi sợ lãng quên vây bủa.
Khoảng năm 1964, trên chuyến xe từ Đà Lạt trở về B’lao sau những ngày lang thang cùng bè bạn, chàng nhạc sĩ 25 tuổi viết Còn tuổi nào cho em, có những ca từ đầy ám ảnh về thời gian, tuổi trẻ: “Xin cho cô đơn vào tuổi này” hay “Còn tuổi trời hư vô”... Trên bản nhạc viết tay, thay vì ghi thuật ngữ tổng phổ thì tay nghệ sĩ si tình lại ghi: “dao ánh – sương mù”. Hay trong Tuổi đá buồn, một ca khúc khác cũng được viết ra trong thời điểm này, mang cảm thức tương tự: “Tuổi buồn như lá/gió mãi cuốn đi/quay tận cuối trời”…

Thời gian này, Trịnh Công Sơn còn viết cả truyện ngắn. Trong truyện, kẻ tình si có vẻ như dự cảm được cái kết không có hậu của cuộc tình mình đeo đuổi. Tháng 3.1965, trong một lần trở lại Đà Lạt để thu âm bản Xin mặt trời ngủ yên, do Khánh Ly hát, nhạc sĩ họ Trịnh viết: “Bản này thu băng để xen vào vở kịch Quê hương chúng ta của Bửu Ý hôm nào sẽ trình diễn ở đài. Vở kịch là một độc thoại của một người con trai trên chuyến xe lửa băng qua những miền đất chiến tranh của quê hương này và kể về một tình yêu đã mất, người con gái chết trong bom lửa của thời cuộc”. Và không khí của trận mưa đá chiều 21.3 năm ấy khiến thành phố như bị phong kín trong màn tuyết trắng. Còn chàng trai si tình thì lại đang phân vân trước một chọn lựa mới của cuộc đời – anh vừa hay tin mình có tên trong khóa 20 của Trường Bộ binh Thủ Đức.

Hè năm 1966, những đêm nhạc Trịnh đầu tiên với các Ca khúc da vàng mang tình tự dân tộc được cất lên trong không gian những trường học. Bắt đầu là sân Trường tư thục Việt Anh, sau đó là Viện ĐH Đà Lạt. Trịnh Công Sơn bấy giờ đã là một hiện tượng của âm nhạc miền Nam.

Theo Thanh Niên

Cảm thức về thời gian trong nhạc Trịnh

Nhiều nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn viết nên những nỗi niềm của người phụ nữ trong bước chuyển của thời gian, vạn vật.

Năm 2016, trong bộ phim có doanh thu cao nhất lịch sử điện ảnh Việt Nam – Em là bà nội của anh, ca sĩ trẻ Miu Lê khoác thêm hình hài mới cho những ca khúc của Trịnh Công Sơn. Trong trẻo, mộc mạc và hiện đại, phần thể hiện của Miu Lê như kéo người trẻ xích lại gần thêm với di sản âm nhạc của một trong những nhạc sĩ tài hoa Việt Nam.

Trong phim, ca khúc Còn tuổi nào cho em được khán giả đặc biệt ưa thích. Đây là một bài hát nặng hoài cảm, đầy tình mến thương của Trịnh Công Sơn dành cho phái đẹp.

cam-thuc-ve-thoi-gian-trong-nhac-trinh

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thời trẻ

“…Tuổi nào nhìn lá vàng úa chiều nay
Tuổi nào ngồi hát mây bay ngang trời
Tay măng trôi trên vùng tóc dài
Bao nhiêu cơn mơ vừa tuổi này
Tuổi nào ngơ ngác tìm tiếng gió heo may…”

Phụ nữ hay ngoái đầu nhìn lại, hay nhớ tiếc thời gian, hay cảm thấy sự tàn lụi cả khi đang rực rỡ thanh xuân nhất. Có những chiều bâng khuâng, nhìn lá vàng rụng, người đàn bà không khỏi chạnh lòng nhớ về thời thơ trẻ.

Thời gian lúc nào cũng vội, chỉ vài cái chớp mắt, nàng đã chẳng còn là người thiếu nữ “ngồi hát mây bay ngang trời”,  với đôi tay măng, vùng tóc dài. Lời bài hát còn vương chút ngơ ngác của kẻ tỉnh dậy đã thấy mình đi qua cuộc đời tựa hồ như đi qua những giấc chiêm bao.

“…Tuổi nào vừa thoáng buồn áo gầy vai
Tuổi nào ghi dấu chân chim qua trời
Xin cho tay em còn muốt dài
Xin cho cô đơn vào tuổi này
Tuổi nào lang thang thành phố tóc mây cài…”

Còn tuổi nào cho em họa nên hình ảnh của một người đàn bà âm thầm chải tóc khi chiểu phủ bóng, nhìn lá vàng, miên man với hồi ức. Năm tháng chưa bao giờ vì thấy phụ nữ là phái yếu mà bớt phũ phàng, khắc nghiệt. Điều đó đặc biệt đúng với những người đàn bà Việt thường có thói quen hy sinh quá nhiều vì người khác đến quên cả bản thân. Ca khúc này, vì thế, chỉ có thể được thấu cảm tận cùng bởi những người đàn bà Á châu.

Màu của thời gian, cảm thức về sự thay đổi vận hành của mùa, của vạn vật – những điều tưởng như rất trừu tượng – đã được chạm khắc vào những ca từ của Trịnh Công Sơn một cách thật gần gũi, nồng nàn.

Bởi ông đã đặt bước đi của thời gian ấy vào những hình bóng yêu kiều của những người đàn bà, của những cuộc tình, hay rộng lớn hơn là của tha nhân. Trong Diễm xưa, hình ảnh hiện tại và quá khứ của người phụ nữ như đan hòa vào nhau qua màn mưa gợi nên một nỗi hoài vọng, nâng niu: “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ/Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao/Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ/Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu…” (Diễm xưa).

Chính từ sự yêu thương, nâng niu ấy, dường như có lúc, Trịnh Công Sơn muốn thời gian ngừng lại, để mái tóc người ông thương vẫn giữ mãi nét thanh xuân, để sự vĩnh cửu của thời gian ướp hương cho vẻ đẹp ấy còn mãi: “Ru mãi ngàn năm giòng tóc em buồn/Bàn tay em năm ngón ru trên ngàn năm/Trên mùa lá xanh ngón tay em gầy/Nên mãi ru thêm ngàn năm/Ru em từng ngón xuân nồng” (Ru em từng ngón xuân nồng).

Hình ảnh những đôi “vai gầy” luôn trở đi trở lại trong những sáng tác của Trịnh Công Sơn. Ông thương cho những “Vai em gầy guộc nhỏ – Như cánh vạc về chốn xa xôi” (Như cánh vạc bay) hay từng “Gọi nắng trên vai em gầy – đường xa áo bay” (Hạ Trắng). Nếu vai gầy tạo cảm giác mỏng manh, yếu đuối thì những mái tóc mây luôn chảy dài bất tận trong những sáng tác của ông như một sự ám ảnh, như một khoảng trời mơ mộng, một dòng thác không cạn của những tâm sự.

cam-thuc-ve-thoi-gian-trong-nhac-trinh-1

Với phụ nữ, Trịnh Công Sơn dường như thừa dịu dàng. Ông lúc nào cũng tự nhún mình, trân trọng, nâng niu phái đẹp. Trong Ru tình, ông từng viết “Ru em ngồi yên nhé, Tôi tìm cuộc tình cho”. Trong Biết đâu nguồn cội, ông khiêm tốn “Tôi xin làm đá cuội và lăn theo gót hài”. Trong Còn tuổi nào cho em, Trịnh Công Sơn như thầm cầu xin tạo hóa vô tình hãy nhẹ bớt bàn tay, đừng quá phũ phàng với người đẹp: “Xin cho tay em còn muốt dài”, “Xin cho cô đơn vào tuổi này”. Người đàn ông nhỏ bé ấy thấu hiểu và thương yêu một cách sâu sắc, trọn vẹn thân phận của người đàn bà.

“…Em xin tuổi nào còn tuổi nào cho nhau
Trời xanh trong mắt em sâu
Mây xuống vây quanh giọt sầu
Em xin tuổi nào
Còn tuổi trời hư vô
Bàn tay che dấu lệ nhòa…”

Nhạc Trịnh thường tạo cảm giác buồn bã man mác.  Nỗi buồn thường đẹp đẽ, mơ hồ, không rõ hình hài với một chuỗi những cảnh trí ẩn hiện trong những lớp sương dày của ký ức. Người nghe thoáng thấy hình ảnh của một đôi “mắt sâu”, một “mái tóc mây cài”, “vai gầy” hay “những ngón tay muốt dài”. Giai nhân trong nhạc Trịnh chẳng bao giờ đẹp lồ lộ ngỡ ngàng mà thường nép mình trong ký ức, chấp chới như những cơn mơ, không thể nắm bắt.

cam-thuc-ve-thoi-gian-trong-nhac-trinh-2

Thời gian gần đây, “Còn tuổi nào cho em” tạo cơn sốt trở lại qua giọng hát của Miu Lê trong phim “Em là bà nội của anh”.

Nhạc Trịnh chưa bao giờ đánh đố ở câu từ. Những từ ngữ ông sử dụng thường rất giản dị, dễ cảm, dễ hiểu. Tuy nhiên, để đọc được “thông điệp dưới bề mặt” của tác phẩm không phải là một điều đơn giản vì người nghe thường không chạy kịp với mạch tư duy của nghệ sĩ. Nghe nhạc Trịnh, ta dễ choáng ngợp bởi một chuỗi hình ảnh, những liên tưởng có vẻ rất ngẫu hứng và ngẫu nhiên. Ca khúc như một mạch nguồn bất tận của cảm xúc, ký ức và hình ảnh, khiến người nghe – kẻ ngoài cuộc – dễ cảm thấy bị chới với, cuốn theo và đắm chìm.

Trịnh Công Sơn đã viết nên những nỗi niềm – cả vui sướng lẫn tuyệt vọng – đầy nâng niu và trìu mến về đàn bà. Để từ tác phẩm của ông, phụ nữ tìm thấy một tri kỷ rất đỗi dịu dàng.

Theo VnExpress

Vì sao nhạc Trịnh Công Sơn trở thành bất hủ

Những ca khúc của Trịnh được hát, được yêu, được nhớ vì chúng gắn liền với buồn – vui, sự đẹp đẽ – đau thương của cuộc sống.

Nhà thơ Anh Ngọc là một trong những người “yêu điên cuồng” nhạc Trịnh hơn 40 năm qua. Tình yêu đó bắt đầu từ ngày 30/4/1975, khi ông là phóng viên của báo Quân Đội, nằm trong đoàn quân tiến vào Sài Gòn. “Tôi ra chợ Bến Thành mua cái cassette nhỏ bằng bàn tay, người bán hàng lắp cho tôi cuốn băng phát thử, đó là cuốn Hát cho quê hương Việt Nam số 5 của Khánh Ly hát nhạc Trịnh”, nhà thơ kể. Với băng nhạc đó, ông một mình vào doanh trại bỏ không của Sư đoàn thủy quân lục chiến trong thành phố, kê hai cái bàn lại với nhau và cứ thế nằm ngửa bật quạt trần nghe.”Trong trái tim của tôi có hai nửa, một nửa là con người chung, con người công dân, hướng tới mọi người, nửa còn lại do điều kiện chiến tranh tôi phải đóng kín – đó là con người cá nhân, riêng tư. 30/4, trong cuộc đoàn tụ của cả dân tộc, nhạc Trịnh đấm một cú mở toang cánh cửa đó. Với sự đánh thức của nhạc Trịnh, tôi sống bằng trái tim đầy đủ”.

Nhà thơ khẳng định cái riêng tư trong nhạc Trịnh lại chính là cái phổ cập ở mọi con người bình thường chứ không riêng ai. “Nhạc Trịnh viết về thế giới con người, đi qua ‘cái’ một người đến với mọi người, một thời đến với mọi thời, một nơi nói đến mọi nơi”, nhà thơ nói.

Với nhà nghiên cứu, phê bình văn học Chu Văn Sơn, nhạc Trịnh hấp dẫn ông từ tuổi học trò cấp ba, rồi trở thành niềm say mê khi ông là sinh viên Văn khoa và ngày càng sâu đằm theo thời gian. Theo ông, say mê hồi trẻ chỉ là của một người yêu nghệ thuật, mê ca hát, thấy nhạc Trịnh hợp với sở thích của mình. Còn giờ, là kiểu say mê của một người nghiên cứu nghệ thuật. Ông nhận định: “Càng ngày càng nhận thấy rõ các giá trị lớn của di sản Trịnh Công Sơn, một di sản không chỉ là âm nhạc”.

vi-sao-nhac-trinh-cong-son-tro-thanh-bat-hu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thời trẻ. Ảnh: tcs-home.org.

Có nhiều giá trị làm nên sự bất hủ của nhạc Trịnh.

Nhà thơ Anh Ngọc cắt nghĩa, về khía cạnh lý trí, Trịnh Công Sơn có một cái đầu tràn ngập tư tưởng và có lõi triết học gồm cả minh triết phương Đông, đặc biệt là đạo Phật và minh triết phương Tây. Nhờ trụ trên xương sống triết học nên tác phẩm có tính vĩnh cửu. Về trái tim, Trịnh Công Sơn là người chỉ lắng nghe trái tim mình. “Một trái tim quá yêu thương, đồng cảm với người khác nên trái tim đó cháy sáng lên, như Maxim Gorky từng nói: ‘đốt cháy trái tim lên thành trí tuệ’. Trái tim ấy luôn nhìn thấy hai mặt của cuộc đời này. Đẹp và buồn, yêu và đau. Nhạc Trịnh Công Sơn vĩ đại chỗ đó, phản ứng trung thực nhiều bình diện của cuộc sống, có thể gọi đó là tập đại thành về cõi đời này”.

Theo Anh Ngọc, với 600 ca khúc trong đó hàng trăm bài được mọi người thuộc và hát, hàng chục bài bất hủ, hoàn toàn có thể làm từ điển ca từ nhạc Trịnh với các trạng huống của con người, từ lúc chưa đẻ đến khi nằm xuống. Với ông, đó là cuốn bách khoa toàn thư về thế giới tinh thần, là tri âm tri kỷ, là thuốc giảm đau lúc buồn nhất. Nhà thơ cho rằng nhạc Trịnh nghe trên sân khấu hay đã đành, nhưng hay không kém là chúng ta tự hát một mình. “Nó chẳng khác gì một người bạn, là bạn của tất cả trái tim, đặc biệt những trái tim đau đớn, mất mát, tuyệt vọng”.

Bên cạnh những ca khúc về tình yêu và thân phận, Anh Ngọc nói mảng ca khúc Da vàng lay động những người lính như ông, bởi nó là tiếng khóc dài trước những thân phận trong chiến tranh, của một con người vì quá yêu thương con người, dân tộc mà đau.

Nhà phê bình Chu Văn Sơn cho rằng Trịnh Công Sơn thuộc mẫu nghệ sĩ đa tài, mẫu ba trong một: nhạc sĩ – thi sĩ – họa sĩ. Chu Văn Sơn cắt nghĩa: “Nhạc Trịnh giản dị dễ hát, ca khúc nào của anh Sơn cũng là những giai điệu đầy chân cảm, ca từ nào của anh ấy cũng là một bài thơ, tâm trạng chuyển tải trong ca khúc không chỉ là tâm trạng tình nhân mà còn là trạng thái nhân thế của thời đại. Vì thế nó rất dễ đi vào lòng người. Nhưng, chỉ âm nhạc không thôi, không thể tạo sức sống lớn đến thế. Tôi tán thành ý kiến của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, một tri kỷ đặc biệt của anh Sơn, rằng: có một văn hóa Trịnh Công Sơn. Đúng thế, Trịnh Công Sơn ảnh hưởng đến tâm hồn người Việt như một văn hóa. Người ta thấy trong đó một cách yêu, cách sống, cách ứng xử với quê hương, với đất nước, với chiến tranh, với hòa bình, với thiên nhiên, với lịch sử, với sự sống, với cái chết, với thực tại, với hư vô… Nó làm giàu thêm, đẹp thêm cho lối sống Việt, văn hóa Việt”.

Nhà phê bình chia sẻ ông khó có thể kể ra ca khúc nhạc Trịnh yêu thích nhất. “Nhạc Trịnh hay khá đồng đều trên cả hai mảng chính trước đây là tình ca và phản chiến, trên cả ba chủ đề xuyên suốt là thân phận, quê hương và tình yêu. Ca khúc nào cũng được viết giản dị nhưng đều là những giai điệu vút lên từ tâm can máu huyết, nên ca khúc nào cũng là một mảnh hồn Trịnh, một ký thác Trịnh. Nó khiến cho ai đã yêu ông dường như đều phải yêu đủ, yêu trọn. Và thật khó khăn khi phải nói ‘không’ với ca khúc nào đó”.

Có nhiều thế hệ từ Khánh Ly vẫn nối nhau hát nhạc Trịnh Công Sơn.

Trong chương trình diễn ra tối 2/4, nhiều thế hệ hát nhạc Trịnh gồm Khánh Ly, Hồng Nhung, Cẩm Vân – Khắc Triệu, Quang Dũng, ca sĩ nhí Huyền Trân đứng chung sân khấu để tưởng nhớ nhạc sĩ. Sự tiếp nối cho thấy nhạc Trịnh vẫn tiếp tục chảy trong đời sống.

Khánh Ly chia sẻ bà hát nhạc Trịnh Công Sơn chỉ đơn giản vì yêu. “Tôi cũng như cỏ cây ấy, cơn mưa xuống thì nó mọc. Với tôi, nhạc Trịnh như lời an ủi, chia sẻ trong đời sống của mình. Tôi mong mỏi mọi người cũng như tôi, tìm thấy mình trong những ca khúc đó. Ông ấy không viết riêng cho ai đâu, ông ấy viết cho chúng ta. ‘Em cứ hồn nhiên rồi em sẽ bình minh’, đó là lời ông ấy nhắn nhủ tất cả chúng ta đấy”.

Nữ danh ca khẳng định từ lúc bắt đầu cho đến hiện tại, không có điều gì làm cho bà chán mà nghĩ đến việc thôi hát Trịnh Công Sơn. “Tôi sẽ hát cho tới khi không hát được nữa”.

vi-sao-nhac-trinh-cong-son-tro-thanh-bat-hu-1

Khánh Ly và Hồng Nhung sẽ đứng chung sân khấu hát nhạc Trịnh.

Hồng Nhung chia sẻ cô yêu thích nhạc Trịnh từ khi mới là thiếu nhi. Cô biết ơn khi được trưởng thành cùng âm nhạc và con người nhạc sĩ nên mong muốn dành tình cảm, sự thăng hoa để thể hiện âm nhạc đó đến mọi người. Với Hồng Nhung, Trịnh Công Sơn là người thầy, người bạn mà cô may mắn được gắn bó trong 10 năm cuối cuộc đời nhạc sĩ. Hồng Nhung nói: “Trịnh Công Sơn dặn khi ra đường thấy ai vẫy tay với mình thì hãy vẫy tay lại, hãy dành lòng tốt cho cuộc đời bởi không biết ngày sau có còn gặp nhau không. Đời sống nỗi buồn nhiều hơn và âm nhạc của anh cũng có điều đó nhưng nó lại luôn hướng tới niềm vui, những điều đẹp đẽ. Lúc nào anh cũng cổ vũ mọi người hãy yêu nhau đi”.

Theo nữ ca sĩ, nhạc Trịnh Công Sơn gắn liền với đời sống người yêu nhạc ông nên mới có chuyện ngày xưa sinh viên đại học có trò xem bói bằng nhạc Trịnh. Với cô, mỗi thời đoạn cuộc sống khác nhau lại thấy phù hợp những bài hát khác nhau. “Hiện nay tôi cảm thấy yêu đời, biết ơn đời sống dành cho mình rất nhiều trong cả sự nghiệp âm nhạc và cuộc sống gia đình nên thích những bài hát viết về người mẹ hay hướng tới điều tốt trong mỗi ngày sống như Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, Mưa hồng…“. Hồng Nhung tiết lộ đó là những ca khúc cô vẫn hát thầm mỗi ngày.

Hồng Nhung tin rằng âm nhạc Trịnh Công Sơn sẽ không thành lịch sử mà tiếp tục đi cùng các thế hệ Việt Nam. Cô nhìn thấy tình yêu không đổi ở khán giả, từ thời Trịnh Công Sơn còn trẻ vác guitar gỗ đi các trường đại học cùng Khánh Ly hay giờ đây ở trường đại học thời đại internet, nhạc Trịnh vẫn vang lên như vậy.

Người nghe thì có nhiều lựa chọn. Với nhiều người, chỉ Khánh Ly mới làm nên nhạc Trịnh. Nhà thơ Anh Ngọc gọi mối quan hệ giữa nhạc sĩ họ Trịnh và nữ danh ca là “mối lương duyên có một không ai của âm nhạc Việt Nam”. Ngoài Hồng Nhung, Quang Dũng được đánh giá thể hiện tốt một số bài, với nhà thơ Anh Ngọc, người có thể hát nhạc Trịnh hay thứ hai sau Khánh Ly chính là Trịnh Công Sơn.

Với nhà phê bình Chu Văn Sơn, ông thừa nhận Khánh Ly là “ca sĩ lớn, thậm chí là ca sĩ vô song về hát nhạc Trịnh” nhưng ông cũng khá cởi mở để đón nhận những ca sĩ sau này như Mỹ Linh, Hồng Nhung, Thanh Lam, Tùng Dương hay Giang Trang… làm mới nhạc Trịnh Công Sơn. Theo ông, đây cũng chính là điều nhạc sĩ họ Trịnh khi còn sống mong muốn. “Mỗi ca sĩ ấy đem lại, hay đúng hơn, là tô đậm cho nhạc Trịnh ở một vẻ đẹp nào đó. Vì thế mà nhạc Trịnh được sống với nhiều bình diện, thậm chí nhiều đời sống. Tôi lấy ví dụ, thể hiện vẻ đẹp của trải nghiệm trong nhạc Trịnh, thì khó ai qua được Khánh Ly, vẻ đẹp sang trọng khó ai bì được Mỹ Linh, vẻ đẹp tươi tắn khó ai bằng Trịnh Vĩnh Trinh, Hồng Nhung, vẻ đẹp mê mị khó ai sánh được Tùng Dương, Thanh Lam, còn vẻ đẹp an nhiên thì các anh tài khác có thể phải nhường Giang Trang…”.

Trong cuộc trò chuyện về nhạc Trịnh, nhà thơ Anh Ngọc nhắc tới câu nói của Trịnh Công Sơn, đại ý con người ta hãy sống làm sao để “khi sống thì đầy ắp sự có mặt, còn khi mất đi thì đầy ắp sự vắng mặt”. Trịnh Công Sơn đã làm được điều đó. Sự hiện diện của ông không phải bằng thể xác mà trong nỗi nhớ của hàng triệu người yêu nhạc Trịnh, trong ngày hôm nay – 1/4.

Theo VnExpress

Triết học nhẹ nhàng của Trịnh Công Sơn

Đạo Phật với Trịnh Công Sơn là hơi thở là triết học làm cho con người yêu đời hơn chứ không phải là lãng quên sự sống. 

Đạo Phật đến với ông qua nếp sống gia đình, và rồi đi vào âm nhạc của ông ngày càng sâu sắc hơn qua sự trải nghiệm thăng trầm giữa cuộc đời này.

Trịnh Công Sơn có viết: “Tôi vốn thích triết học và vì thế tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình. Một thứ triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được”. Bài này sẽ trình bày rằng thứ “triết học nhẹ nhàng” này chính là triết học Phật giáo.

Trong Tứ Diệu Đế của đạo Phật, chân lý đầu tiên là khổ đế. Khổ đế là một đề tài rất phổ thông trong nhạc Trịnh Công Sơn: Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người, ông đã hát trong Gọi tên bốn mùa. Cuộc đời đầy khổ và buồn vì không có gì trường cửu cả. Theo Kinh Kim Cương, Tất cả các pháp hữu vi là “như sương mai, như ánh chớp”. Đây là một ý niệm mà Trịnh Công Sơn đã nhắc đi, nhắc lại trong nhiều lời ca của mình. Giống như con chim ở đậu cành tre và một con cá trong khe nước nguồn, không ai trong chúng ta là những người định cư vĩnh viễn, tất cả đều là những người ở trọ trần gian này. Trong khi tạm cư ở chốn trần gian này chúng ta tìm chỗ ẩn náu trong tình yêu, nhưng rồi tình yêu cũng mất đi.

Tình yêu như tất cả mọi sự khác đều vô thường như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài Đóa hoa vô thường và nhiều bài ca khác. Các bài tình khúc của Trịnh Công Sơn là những lời tuyên bố siêu hình rằng những đổ vỡ tình yêu không phải là những chông gai nho nhỏ trên con đường đời đẹp đẽ vô song. Các bài tình khúc của Trịnh Công Sơn, như Hoàng Phủ Ngọc Tường nói, là những “bài kinh cầu bên vực thẳm”. Các bài ca này là những lời nhắc nhở cho chúng ta về lẽ vô thường.

Một đề tài Phật giáo khác trong nhạc Trịnh Công Sơn là thuyết luân hồi. Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi / Để một mai tôi về làm cát bụi, ông hát trong Cát bụi. Hay Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô, trong Rừng xưa đã khép. Trong các ca khúc của mình Trịnh Công Sơn có vẻ đồng ý với đạo Phật rằng “Hiện tại là hình bóng của quá khứ và tương lai là hình bóng của hiện tại”.


Trịnh Công Sơn cũng tỏ ra chấp nhận thuyết luân hồi của nhà Phật trong những câu mà Trịnh Công Sơn đã làm nhòa nhạt biên giới giữa đi và về, như trong bài Phôi pha: Có những ai xa đời quay về lại / Về lại nơi cuối trời. Nếu chết là để đi đến tái sinh thì khi ta ra đi nghĩa là ta trở lại. Nhìn sống và chết cũng như nhìn nước chảy trên sông và tự hỏi nước đang ra đi hay nước đang trở về. Đó là ý của Trịnh Công Sơn trong Gần như niềm tuyệt vọng: Những ngàn xưa trôi đến bây giờ / Sông ra đi hay mới bước về. 


Theo đạo Phật không có cái ta trường cửu nhưng mà có một chút gì trong cái ta đã mất được tiếp nối trong cái ta tái sinh. Quá trình này thường được so sánh như khi ta thắp một cây nến từ một cây nến khác, có cái ra đi và cũng có cái trở lại, một cõi đi về như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài ca cùng nhan đề.

Một ảnh hưởng khác của Phật giáo trong ca khúc của Trịnh Công Sơn là sự mập mờ và siêu lý luận của các câu văn. Nhạc, lẽ dĩ nhiên là tiếng nói của con tim không phải là của lý trí nhưng sự xác định này cũng chưa đủ dể giải thích tại sao Trịnh Công Sơn có vẻ như không muốn làm cho lời ca rõ ràng. Tôi nghĩ rằng đây là ảnh hưởng của Phật giáo, rằng người ta không thể chỉ ngồi mà lý luận để đi đến một sự bình an cho tâm hồn, rằng ý niệm giác ngộ vượt qua biên giới của ngôn ngữ và lý luận.

Cái mập mờ danh tiếng của Trịnh Công Sơn là do sự phá bỏ biên giới giữa các điều mà chúng ta thường xem là khác biệt, một phương pháp mà Cao Huy Thuần gọi là “đối hợp”. Trịnh Công Sơn hay dùng lối văn đối nghịch, một nghệ thuật ngôn ngữ hay dùng để nhấn mạnh sự khác nhau của hai điều, nhưng ngược lại, Trịnh Công Sơn hay đem đối nghịch làm trùng hợp như trong các câu này: Tình không xa nhưng không thật gần; Không xa đời và cũng không xa một người; Một phố hồng một phố hư không. 

Trịnh Công Sơn giống như một nhà thiền sư phủ nhận rằng tuyết thì trắng, quạ thì đen, với mục đích nói lên rằng muốn giác ngộ thì phải tránh xa cái đối lập giữa “có” và “không” để thành một tổng thể hài hòa. Lời ca của Trịnh Công Sơn giống như các công án trong Phật giáo, chẳng hạn như công án nổi tiếng nói về lắng nghe tiếng vỗ của một bàn tay, và cũng giống như công án, bài hát của Trịnh Công Sơn không thể giải thích được bằng đầu óc.

Khi nói về triết lý trong nhạc Trịnh Công Sơn chúng ta cũng cần nói tới ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh nữa. Các bạn thân của Trịnh Công Sơn xác nhận rằng, ông cũng như một số đông các nhà trí thức miền Nam vào cuối thập niên năm mươi và đầu thập niên sáu mươi, rất bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa hiện sinh.

Thái Kim Lan bảo rằng: ở Huế hồi đó nhiều người nói về lo âu (angst), hư vô (nothingness), nôn mửa (nausea) và nỗi hoài công phi lý của Sisyphus. Nguyễn Văn Trung hồi đó mới từ Bỉ về, theo Bửu Ý là “nòng cốt” của các cuộc tranh luận về triết lý tại Huế. Nguyễn Văn Trung viết nhiều bài về hiện sinh và đăng trong tạp chí Đại Học, do ông làm chủ nhiệm.

Các bạn của Trịnh Công Sơn bảo rằng ông rất ham đọc sách của Camus về huyền thoại Sisyphus. Các bạn này cũng bảo Trịnh Công Sơn rất thích các phim trong đó có tài tử James Dean đóng vai của một người lưu lạc cô đơn. Chúng ta thấy hình ảnh chàng cô đơn này trong nhiều bài của Trịnh Công Sơn trong đó có bài Dã tràng ca. Trong bài này Trịnh Công Sơn muốn so sánh mình với Sisyphus, qua một hình ảnh đã được Việt Nam hóa là con dã tràng suốt ngày “xe cát biển đông” trong Nghe thân lưu đày.

Trong cuốn Huyền thoại Sisyphus, Camus nói: trong cái thế giới phi lý này, chúng ta thường hay bị quyến rũ bởi hai cách trốn thoát: một là tự vấn thân xác, hai là tự vẩn triết lý, tức là nuôi dưỡng niềm hy vọng rằng mình sau này khi chết đi sẽ được lên chốn thiên đàng vĩnh cửu. Theo Camus, chúng ta phải từ chối hai con đường giải thoát này và phải chọn một con đường khác: con đường chống đối thế giới phi lý này giống như nhân vật Sisyphus trong huyền thoại vậy.

Ông Nguyễn Văn Trung đã giải thích thuyết của Camus theo một cách khác. Ông viết về tự vẫn triết học như thế này: “Hy vọng một đời khác, hoài niệm một quê nhà sau tù đầy là một cách phủ nhận tình trạng phi lý khác, mà không chấm dứt được phi lý. Camus gọi những giải pháp thoát ly đó là một tự vẫn triết lý (Suicide philosophique)”. Nguyễn Văn Trung cho rằng, theo Camus, chúng ta phải chấp nhận rằng “Tù đày chính là quê nhà”.

Rất có thể Trịnh Công Sơn đã bị ảnh hưởng của Camus qua cách giải thích của Nguyễn Văn Trung. Giáo sư Trung đã Việt Nam hóa lý thuyết về lưu đày và thiên đàng vĩnh cửu của Camus. Lời giải thích của Nguyễn Văn Trung đã làm lẫn lộn hoài vọng về một cõi thiên đàng trong kiếp sau với hoài vọng về quê nhà.

Trịnh Công Sơn quả thật đã bị lôi kéo từ hai dòng lực tù đày và quê nhà. Nhiều đêm muốn đi về con phố xa / Nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà, ông đã hát trong Lời thiên thu gọi. Nhưng vì đã được uốn nắn trong một nền văn hóa mà trong đó tình yêu quê nhà đóng một vai trò rất mạnh, Trịnh Công Sơn đã không do dự chọn quê nhà. Ông đã hát Chân đi xa trái tim bên nhà, trong Có nghe đời nghiêngTìm thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá / Góc phố nào cũng thấy quê nhà trong Tình yêu tìm thấy. 


Do đó ta thấy Trịnh Công Sơn không chấp nhận sự nổi loạn chống lại thế giới phi lý như Camus đã cổ võ. Trịnh Công Sơn không thể nào chọn lưu đày làm nơi quê nhà. Tù đày theo Trịnh Công Sơn không phải là sự nổi loạn hiện sinh mà là sự nhìn nhận của một người con Phật trước nỗi khổ và tính cách tạm bợ của cuộc đời: Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây Trịnh Công Sơn hỏi trong Phúc âm buồn. Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này.

Hiện sinh khuyến khích cá nhân đứng lên một mình để chống lại xã hội và văn hóa. Phật giáo, ngược lại, dạy thuyết vô ngã, dạy rằng không có gì khác biệt giữa ta và tha nhân, rằng mọi sự mọi việc trên đời đều hỗ tương ảnh hưởng vào nhau. Tôi tin rằng Trịnh Công Sơn có ý nói đến thuyết vô ngã trong các bài ca của ông. Ông có nói đến “phụ người” như trong bài Ru em nhưng cái buồn của ông thật ra cũng là cái buồn của nhân thế. Yêu em yêu thêm tình phụ / Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ (Ru em). “Từ bi” có nghĩa là tâm từ (maitri) và tâm bi (karuna), hai đức hạnh mà theo Phật giáo mình nên tu dưỡng.

Lúc mới bắt đầu sự nghiệp, Trịnh Công Sơn cũng như nhiều thanh niên trí thức khác tại miền Nam, thích bàn luận về thuyết hiện sinh. Triết lý nói chung và thuyết hiện sinh nói riêng hồi đó là một đề tài rất phổ thông trong giới trẻ. Các bài hát đầu của Trịnh Công Sơn đã đáp ứng được nguyên vọng này của giới trí thức miền Nam. Phật giáo và hiện sinh quả thật có gần nhau ở một vài điểm. Cả hai đều tin rằng con người phải đối diện với cái chết và với ý niệm hư vô trước khi có thể thực sự sống một đời sống đích thực.

Trịnh Công Sơn lúc mới vào nghề nổi tiếng vì đã “chịu chơi” với thuyết hiện sinh nhưng theo tôi Trịnh Công Sơn đã sáng tác nhạc của mình dựa trên các đề tài của Phật giáo. Nếu hồi đó ít ai để ý tới cái tính cách Phật giáo trong các bài của ông, có thể là vì Phật giáo và hiện sinh gặp nhau ở một vài điểm và người ta chỉ để ý đến khía cạnh hiện sinh mà thôi. Tuy nhiên lý do chính vì sao Trịnh Công Sơn vẫn tiếp tục thành công trong một thời rất dài là vì những ưu tư có tính cách rất Phật Trịnh Công Sơn đã gởi gắm trong lời ca của mình.

Nghe nhạc Trịnh Công Sơn đối với nhiều người Việt cũng gần giống như nghe một câu kinh. Nhạc Trịnh Công Sơn khó hiểu nhưng lời ca của ông có khả năng xoa dịu những tâm hồn bị dao động.

Theo John C. Schafer
Tạp chí Văn hóa Phật giáo

Những kết hợp bất thường trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn dưới góc độ ngữ pháp

Đã gần 20 năm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trở về với “cát bụi”. Bao năm qua, ở mọi miền trên đất nước Việt Nam, người ta vẫn xao xuyến khi nhắc đến tên ông, say sưa hát những nhạc phẩm của ông và mê mải viết về ông từ nhiều góc nhìn của văn học, văn hóa, ngôn ngữ, triết học, âm nhạc, đời sống, tôn giáo… Hình như ở bất kì lĩnh vực nào, người ta cũng có thể dễ dàng lấy ông làm đề tài nghiên cứu. Theo dòng chảy mãnh liệt đó, chúng tôi thử liều lĩnh “đọc” những ca khúc của ông dưới góc độ ngữ pháp, trước hết, để thỏa mãn những khao khát của chính mình, sau nữa hi vọng góp một tiếng nói làm sáng rõ hơn những tuyệt phẩm mà ông – kẻ du ca về tình yêu, quê hương và thân phận – đã để lại cho nhân thế.

Người ta đương nhiên thừa nhận Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ, bởi ông đang sở hữu một kho tàng âm nhạc khổng lồ – hơn 500 ca khúc. Người ta còn gọi ông là một nhà thơ, bởi ca khúc của ông thấm đẫm chất thơ và đầy vần điệu. Người ta cũng phải công nhận ông là một triết gia bởi ca từ của ông mang đầy màu sắc triết lý về cõi đời, về nhân thế… Còn chúng tôi, chúng tôi cho rằng ông là một phù thủy về ngôn ngữ. Những độc đáo trong cách sử dụng ngôn ngữ của ông không ai bắt chước được, không ai làm giả được (Lê Hữu). Nó khiến người ta ngỡ ngàng, hạnh phúc; rồi trăn trở, âu lo; rồi thảnh thơi, siêu thoát… Chúng tôi sẽ nói rõ hơn về những khác lạ của ông trong việc sử dụng các kết hợp ngữ pháp (từ cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ cho đến đơn vị câu).

1. Những kết hợp bất thường trong cấu trúc cụm danh từ trong ca từ Trịnh Công Sơn

Các cụm danh từ xuất hiện trong ca khúc của người nhạc sĩ tài hoa này không phải lúc nào cũng theo quy chuẩn thông thường. Những nét độc đáo và những tầng nghĩa mới được nảy sinh từ việc đảo trật tự các thành tố, dùng danh từ đơn vị mang tính chất “lạ” hóa, hoặc dùng các định ngữ bất thường.

1.1. Đảo trật tự các thành tố trong cụm từ

Cấu trúc một cụm danh từ thông thường theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn, gồm 7 thành tố, được sắp xếp như sau:

Tất cả

-4

những

-3

cái

-2

con

-1

mèo

0

đen

+1

ấy

+2

Chỉ tổng lượng (đại từ)

Chỉ lượng (phụ từ, số từ)

Chỉ xuất

Chỉ loại
(danh từ đơn vị)

Trung tâm (Danh từ sự vật)

Từ miêu tả, hạn định

Chỉ định (đại từ)

Tuy nhiên, trong ca từ của Trịnh Công Sơn, có không ít trường hợp trật tự các thành tố bị thay đổi. Đôi khi, việc đảo trật tự khiến ta rất khó minh định ranh giới giữa cụm từ và câu. Dưới đây là một vài thí dụ:

Trật tự của Trịnh Công Sơn

Trật tự thông thường

Xuất xứ (Tên bài hát)

Sen hồng một nụ

Một nụ sen hồng

Đóa hoa vô thường

Quỳnh hương một đóa

Một đóa quỳnh hương

Chuyện đóa quỳnh hương

Hồng má môi em

Má môi em hồng

Đoản khúc thu Hà Nội

Cọng buồn cỏ khô

Cọng cỏ khô buồn

Rừng xưa đã khép

Mùa xanh lá

Mùa lá xanh

Dấu chân địa đàng

Hoa vàng một đóa

Một đóa hoa vàng

Hoa vàng mấy độ

Hoa vàng mấy độ

Mấy độ hoa vàng

Hoa vàng mấy độ

Tóc xanh mấy mùa

Mấy mùa tóc xanh

Phôi pha

Tất nhiên, trước hết, việc đảo trật tự từ ngữ phụ thuộc vào giai điệu và nốt nhạc mà từ ngữ đó phải chuyển tải, nhưng đồng thời xét ở lĩnh vực ngôn ngữ, việc đảo trật tự theo kiểu danh từ sự vật đứng trước danh từ đơn vị và số từ hoặc lượng từ là để nhấn mạnh danh từ sự vật. Có trường hợp, nhạc sĩ lại đảo định tố ở vị trí +1 lên trước danh từ trung tâm: Cọng buồn cỏ khôCọng buồn ngay lập tức trở thành một kết hợp độc đáo, bởi người ta thường chỉ nói nỗi buồn, hoặc cùng lắm là sợi buồn(Sợi buồn con nhện giăng mau – Huy Cận). Kết hợp cọng buồn biến danh từ trừu tượng nỗi buồn thành một thực thể có thể nắm bắt được, đếm được. Nói cách khác, nỗi buồn đã hiện hình và mang cảm giác mong manh, vấn vương, phôi phai, lạc loài.

1.2. Dùng danh từ đơn vị mang tính chất “lạ hóa”

Trong hệ thống các danh từ đơn vị mà Trịnh Công Sơn sử dụng, chúng tôi nhận thấy ông rất hay dùng từ vùng và từ phiến:

– Tay măng trôi trên vùng tóc dài (Còn tuổi nào cho em)

– Vùng tương lai chợt xa xôi (Gọi tên bốn mùa)

– Vùng u tối loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng (Dấu chân địa đàng)

– Tôi xin năm ngón tay em thiên thần trên vùng ăn năn qua cơn hờn dỗi (Lời buồn thánh)

– Phiến sầu là tháng ngày (Lời của dòng sông)

– Từng phiến mây hồng / từng phiến băng dài (Tuổi đá buồn)

– Ru mãi ngàn năm từng phiến môi mềm (Ru em từng ngón xuân nồng)

Nếu so với khoảng, lát, miếng,… thì vùng và phiến là những không gian vừa xác định, vừa không định và có độ mở nhiều chiều, nhất là chiều sâu, độ dày nên dễ gợi liên tưởng đến chiều, độ của cảm xúc, tâm hồn. Trịnh Công Sơn thực sự đã “không gian hóa” tất cả những sự vật cụ thể cũng như trừu tượng. Ta có cảm giác sự vật, thực thể nào đối với ông cũng có thể khuôn lại được, sờ nắn được.

Người ta nói nỗi sầu thì ông nói giọt sầu (Còn tuổi nào cho em), làm ta liên tưởng tới Sầu đong càng lắc càng đầy của cụ Nguyễn Du; rồi bãi sầu (Lời của dòng sông), nghe đầy nhức nhối; và cả trái sầu (Như một vết thương), phiến sầu (Lời của dòng sông) nữa. Người ta nói bản tình ca thì ông nói ngọn tình ca (Góp lá mùa xuân), nghe đã thấy dâng đầy sức sống, cảm xúc. Người ta nói mái tóc thì ông nói dòng tóc (Ru em từng ngón xuân nồng), làm ta cảm thấy ngay được độ miên man, mềm mại, vương vít của nó. Người ta nói chuyến xe, chuyến đò thì ông nói chuyến mưa(Diễm xưa); đúng là một tâm trạng đợi chờ khắc khoải, chờ mưa như nó vốn đến và đi theo chuyến, tức là theo luật lệ nhất định. Rồi người ta nói chân mây hay cuối ngày thì ông nói chân ngày (Cỏ xót xa đưa), gợi bước đi thời gian trong những ngẫm ngợi xót xa. Người ta nói ngón tay hay màn sương, búp xuân hồng thì ông nói ngón sương mù (Gọi tên bốn mùa), ngón xuân nồng (Ru em từng ngón xuân nồng), cho những không gian, âm thanh, cảm xúc hiện hình, trinh nguyên, nuột nà, thánh thiện. Người ta nói sự hoang vu thì ông nói nhánh hoang vu (Cỏ xót xa đưa), nhánh vốn là danh từ đơn vị thường đi với cỏ, nỗi cô đơn được định hình đầy mong manh… Người ta nói đôi mắt thì ông nói vườn mắt (Nắng thủy tinh), làm ta thấy như mình đang lạc vào một không gian chan chứa nắng, trong veo, đong đầy cặp mắt người tình.

Những khác lạ ấy làm nên một Trịnh Công Sơn hết sức tinh tế trong cảm nhận sự vật và cũng đầy ưu tư, trăn trở với đời. Người thi sĩ trong âm nhạc này đã cảm nhận cuộc sống sinh động bằng tất cả các giác quan, bằng trực giác và linh giác. Về điểm này, Trịnh Công Sơn cũng giống như các thi sĩ có mẫn cảm nhạy bén, như Xuân Diệu chẳng hạn.

Như vậy, điểm độc đáo của Trịnh Công Sơn là ghép những danh từ sự vật cụ thể với danh từ đơn vị trừu tượng; và ngược lại, ông lại ghép danh từ sự vật trừu tượng với những danh từ đơn vị cụ thể. Chính điều này làm cho những sự vật hữu hình trở nên bớt trần trụi, lung linh hơn, huyền ảo hơn; còn những sự vật vô hình, trừu tượng thì lại được định hình, đến mức dường như chúng ta giơ tay ra là có thể nắm bắt được. Tất cả làm cho thế giới sự vật trong ca từ của ông trở thành một thế giới vừa thực vừa ảo.

1.3. Dùng các định ngữ bất thường

Cách dùng danh từ đơn vị của Trịnh đã độc đáo, cách ông đưa ra các định ngữ đi kèm với các danh từ của mình còn độc đáo hơn. Dễ dàng tìm thấy trong ca khúc của ông những định ngữ hoàn toàn bất ngờ với suy nghĩ của người Việt. Đặc biệt là những định ngữ gắn với tình, thôi thì đủ trọng lượng, đủ chiều kích: tình dài (Bay đi thầm lặng), tình đầy (Đời cho ta thế), tình vơi (Lặng lẽ nơi này)tình sâu (Xin trả nợ người)… Ông rất quan tâm đến sự đầy vơi, hư hao, cho nên mới có ngày tháng vơi (Phúc âm buồn), nắng đầy (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vuicơn đau dài (Mưa hồng), những chen đua lâu dài (Một lần thoáng có)… Hãy đọc thật chậm các kết hợp từ của Trịnh:

– Những dấu chân ngoan, hố tuyệt vọng (Có những con đường)

– Ngọn gió hư hao (Có một ngày như thế)

– Chiều bạc mệnh, phút cao giờ sâu (Đóa hoa vô thường)

– Cành thênh thang, cành bão bùng (Gọi tên bốn mùa)

– Ngày yêu dấu, mây vô danh (Hãy cứ vui như mọi ngày)

– Mây hoang đường (Hai mươi mùa nắng lạ)

– Nắng vô thường / Chút hương nhân từ (Mưa mùa hạ)

– Hạnh phúc ngu ngơ (Ngày nay không còn bé)

– Màu lá thanh xuân, ngày tháng hoang vu (Người về bỗng nhớ)

– Màu sương thương nhớ (Nhớ mùa thu Hà Nội)

– Đá ngây ngô (Rồi như đá ngây ngô)

Vậy là với Trịnh Công Sơn, những sự vật vốn vô tri vô giác bỗng mang tình cảm, tâm trạng con người. Cho nên ta mới gặp phố hoang mang, nhịp chân bơ vơ, cát bụi mệt nhoài… Đến với Trịnh, ta còn nghe thấy lời tà dương, lời mộ địa, lời bể sông(Một cõi đi về), như là vật gì trên đời này cũng có thể cất lên tiếng nói; Từng lời bể sông là lời mộ địa chính là tiếng hấp hối của một ngày. Danh từ thời gian tháng, ngày thì hay gắn với các tính từ hoang vu, âm u… bởi cảm giác cô đơn lúc nào cũng bủa vây Trịnh. Con người Trịnh luôn sống với thiên nhiên, hòa nhập với nhiên nhiên, coi đó như người bạn, như người tình nên sỏi, đá, nắng, phố, cát bụi… cũng nhuốm đầy tâm trạng. Những hình ảnh này xuất hiện dày đặc trong ca từ của người nhạc sĩ lãng du cũng là bởi trong tiềm thức của ông luôn chịu sự ảnh hưởng của triết lí tôn giáo: vũ trụ nguyên sơ, vạn vật hữu tình. Bàn tay xanh xao thì nhiều người nói nhưng bàn tay đói (Cuối cùng cho một tình yêu) thì thật lạ. Nắng vàng mong manh chúng ta cũng đã từng nghe nhưng nắng vàng nghèo hay nắng vàng lạc trên lối đi (Em còn nhớ hay em đã quên) thì chỉ có ở Trịnh mà thôi. Có cái gì man mác buồn trong cách nhìn sự vật ở Trịnh. Đúng là ông chịu lực hút chủ đạo không phải từ sự sinh trưởng – khoẻ khoắn – ấm áp – tươi vui, mà là từ những gì tàn lụi – héo úa – mòn mỏi – u sầu – lạnh lẽo. Nhưng những thứ mà người trần coi là buồn đau thì ông lại nhìn một cách lạc quan, cho nên mới có vết thương hồn nhiên (Tưởng rằng đã quên), trái sầu rực rỡ (Như một vết thương), niềm đau ngọt ngào (Tình xót xa vừa)… Với con mắt trần gian thì các kết hợp ấy thật ngược đời. Song với Trịnh, cảm xúc, tinh thần này có được ở ông bởi ý niệm siêu thoát ảnh hưởng từ tư tưởng tôn giáo. Nhìn xa hơn, những cặp đối lập luôn luôn xuất hiện trong tư tưởng Trịnh, như ông vẫn xem cuộc đời nhị nguyên này vốn bao gồm những cặp phạm trù đối lập nhau, khó dung nạp song cũng khó phân ly. Ông ôm tất cả và không bao giờ tìm cách chia tách chúng. Cho nên ca từ của ông mới tràn ngập các kết hợp sống – chết, nhật – nguyệt, đêm – ngày, buồn – vui, sum họp – chia phôi, khổ đau – hạnh phúc, hay niềm đau – ngọt ngào

 2. Những kết hợp bất thường trong cấu trúc cụm động từ

Trong cấu trúc cụm động từ của Trịnh, những bổ ngữ xuất hiện cũng đầy khác lạ, đặc biệt là các bổ ngữ đối tượng. Người ta tìm anh, tình em thì Trịnh đi tìm tình (Bống không là bống). Người ta tặng hoa, tặng quà thì Trịnh lại tặng một phố chờ (Đoản khúc thu Hà Nội). Người ta phơi áo thì Trịnh phơi cuộc tình (Ru ta ngậm ngùi), thậm chí là phơi tình cho nắng khô mau / treo tình trên chiếc đinh không (Tình xót xa vừa). Người ta chọn rau, chọn quả thì Trịnh chọn một niềm vui, chọn ngồi thật yên, chọn nắng đầy (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui). Người ta nhặt lá, nhặt thóc thì Trịnh lại nhặt gió trời (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui). Người ta đi trong mưa thì Trịnh đi trong chuyện cũ ngày xưa/ đi trong hạnh phúc quê nhà (Hai mươi mùa nắng lạ). Người ta chở hàng, chở khách thì Trịnh chở ngày hấp hối (Vàng phai trước ngõ). Người ta ôm người yêu thì Trịnh ôm mịt mùng (Tình xót xa vừa). Người ta nghiêng mình thì Trịnh lại nghiêng sầu (Mưa hồng), rồi nghiêng đời xuống nhìn suốt một mối tình (Để gió cuốn đi)… Động từ đi có thể gắn với rất nhiều bổ ngữ chỉ không gian, song có lẽ chẳng ai nói đi quanh từng giọt nước mắt (Ru đời đã mất). Nghe đã thấy đời thật buồn! Bổ ngữ cách thức, bổ ngữ chỉ mục đích cũng thật đặc biệt, cho nên mới có yêu em thật thà (Hoa vàng mấy độ), gọi em cho nắng chết trên sông dài (Hạ trắng),…

Đọc các cụm động từ của Trịnh Công Sơn, ta như lạc bước vào một công cuộc thể nghiệm ngôn ngữ Việt đầy lí thú. Mỗi một kết hợp ngắn gọn là một nội dung ngữ nghĩa hết sức dày dặn mà Trịnh muốn chuyển tải. Chẳng hạn kết hợp nghiêng sầuhay nghiêng đời ở trên, vẫn là dự cảm về một cuộc đời đầy bấp bênh, xuất phát từ tư tưởng nhà Phật: Cuộc đời này vốn là cõi tạm, con người dừng chân ghé chơi. Hoặc kết hợp của động từ nghe với những thứ không phải là thanh âm thông thường: nghe sầu lên trong nắng, nghe tên mình vào quên lãng, nghe tháng ngày chết trong thu vàng (Nhìn những mùa thu đi), nghe tình đổi mùa (Những con mắt trần gian), thậm chí nghe cả im lặng thở dài (Tôi đã lắng nghe) và tiếng động nào gõ nhịp khôn nguôi (Cát bụi)… Ít có nghệ sĩ nào có thính lực kỳ lạ như Trịnh Công Sơn, ông nghe được âm thanh vô thanh và rỗng nghĩa trong bước đi của thời gian, nghe được sự chết dần của đời người, nghe được tiếng chuông gọi hồn đều đều nhẫn nại… Tất cả mọi thanh âm qua thính giác của Trịnh đều gắn với sự cô đơn tận cùng của một con người lúc nào cũng mang trong mình ý nghĩ sinh ra đã là một kẻ thua cuộc… Môtíp quen thuộc của Trịnh là gắn những động từ chỉ hoạt động thông thường với những bổ ngữ trừu tượng. Tất cả thống nhất trong cái nhìn sự vật luôn luôn động, luôn luôn biến đổi của ông.

3. Những bất thường trong cấu trúc cụm tính từ

3.1. Kết hợp so sánh

Vẫn rất xứng đáng là “kẻ du ca về tình yêu”, Trịnh Công Sơn có những so sánh thật lạ với đối tượng tìnhtình xa như trời, tình gần như khói mây, tình trầm như bóng cây, tình reo vui như nắng… rồi tình mềm trong tay (Tình sầu). Ngoài ra còn hàng loạt các kết hợp so sánh bất ngờ với các tính từ hết sức quen thuộc: xanh, trắng, buồn, mong manh, ngoan,…:

– Có những bạn bè xanh như người bệnh (Bay đi thầm lặng)

– Rồi một chiều tóc trắng như vôi (Cát bụi)

– Buồn như giọt máu lặng lẽ nơi này (Lặng lẽ nơi này)

– Thân mong manh như lau sậy hiền (Níu tay nghìn trùng)

– Mặt đường bình yên nằm ngoan như con suối (Thành phố mùa xuân)

– Nắng có hồng bằng đôi môi em/ Mưa có buồn bằng đôi mắt em (Như cánh vạc bay)…

Đứng ở góc độ phong cách học, tất cả những kết hợp nói trên đều thuộc phép so sánh tu từ. So sánh để làm rõ hơn đối tượng, song đồng thời cũng mang tới những đặc trưng mới cho đối tượng. Điều đáng quan tâm ở đây là Trịnh Công Sơn có những so sánh hết sức táo bạo, gây bất ngờ và tạo được những rung động mạnh cho xúc cảm thẩm mĩ ở người nghe.

Trịnh Công Sơn khá nhạy cảm với một số tính từ nhất định như: lênh đênh, tiều tụy, hư hao, thênh thang, bão bùng… Đặc biệt, ông rất hay sử dụng tính từ mong manh, (gió mong manh, cỏ lá mong manh, sống chết mong manh, tay gối mong manh, tình mong manh, thân mong manh…). Với Trịnh Công Sơn, cuộc này thật mà hư ảo. Theo Bửu Ý, dường như đây là một ám ảnh lớn trong vũ trụ quan và nhân sinh quan của nhạc sĩ.

3.2. Sắc màu của Trịnh

Màu sắc của Trịnh cũng thật lạ, nó lại gắn với những sự vật mà người ta không ngờ tới.

Trước hết là màu hồng. Màu hồng nhạthồng đậm,… thì bình thường nhưng hồng vừa thì chưa ai nói. (Đấy là ta chưa bàn tới các kết hợp giấc ngủ vừa (Dấu chân địa đàng); tình xót xa vừa (Tình xót xa vừa). Màu hồng xuất hiện trong câu cũng thật đặc biệt: Em hồng một thuở xuân xanhMê man trời hồng vượt đồi lên non (Ra đồng giữa ngọ)…

Màu xanh lại càng lạ:

– Chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa (Diễm xưa);

– Nhìn lại mình đời đã xanh rêu (Tình xa);

– Thuở hồng hoang đã thấy đã xanh ngời liêu trai (Xin mặt trời ngủ yên)

– Xanh yếu làn da, xanh mướt hồng nhan (Góp lá mùa xuân)

– Tiếng hát xanh xao (Lời buồn thánh)

– Em mướt xanh như ngọc mà tôi có đâu ngờ (Hoa xuân ca)

– Tuổi mười sáu xanh cho mọi người (Môi hồng đào)

Màu tím thì có: Chiều tím loang vỉa hè (Nhìn những mùa thu đi). Màu vàng là vàng phai (Vàng phai trước ngõ). Rồi xanh đi với hồng đến khó hiểu song đầy ám ảnh: Hai mươi giấc mộng xanh hồng quá (Hai mươi màu nắng lạ)…

Ngoài ra, một số từ ngữ đóng vai trò là bổ ngữ trong cụm tính từ của Trịnh Công Sơn cũng làm người nghe bất ngờ. Hình như ông chiêm nghiệm cuộc đời bằng quá nhiều những nhạy cảm: Tóc em dài đêm thần thoại (Gọi tên bốn mùa); Lá khô vì đợi chờ (Như cánh vạc bay)… Ông đã so sánh cái mướt dài, huyền diệu của tóc với đêm thần thoại. Ngoài ẩn dụ lá… đợi chờ, bổ ngữ nguyên nhân ở đây thật lạ với cách lý giải khô vì đợi chờ.

4. Sự chuyển hóa từ loại trong ca từ Trịnh Công Sơn

Sự chuyển hóa từ loại diễn ra trong tiếng Việt không phải hiếm và quá đặc biệt, nhưng khi nghe ca từ nhạc Trịnh, người ta vẫn cảm thấy ông đã phù phép cho những từ ngữ của mình. Một số danh từ được dùng như tính từ, chẳng hạn: Ôi tóc em dài đêm thần thoại (Gọi tên bốn mùa); hay Em đi biền biệt muôn trùng quá (Còn ai với ai). Và cũng không ít những tính từ lại được dùng như danh từ: Vàng phai sẽ cuốn đi mịt mù (Vàng phai trước ngõ); Và tôi đứng bên âu lo này (Này em có nhớ); Ta cười với âm u (Những con mắt trần gian); Đôi tay vẫn còn ôm mịt mùng (Tình xót xa vừa); Bàn tay xôn xao đón ưu phiền (Nắng thủy tinh)…

Thậm chí tính từ chỉ màu sắc vốn không kết hợp với phụ từ mệnh lệnh đi nhé nhưng kết hợp này vẫn xuất hiện trong ca từ Trịnh Công Sơn: Hồng đi nhé xin hồng với nụ (Vàng phai trước ngõ). Đây là trường hợp tính từ được dùng như động từ. Cảm giác rằng ông đã hòa nhập tận cùng với thiên nhiên, nên có thể sai khiến, dụ dỗ cả một nụ hoa. Rồi có động từ được dùng như danh từ: Nghe những tàn phai (tên một bài hát). Như đã nói, bằng một thính lực kỳ lạ, ông đã nghe được bước đi của thời gian trong sự biến chuyển của tạo vật.

5. Những kết hợp bất thường trong cấu trúc câu

5.1. Những cấu trúc dưới dạng định nghĩa

Xét từ góc độ ngôn ngữ, chúng tôi cho rằng Trịnh Công Sơn là một nhà Từ điển họctinh tế, bởi ông đã đưa ra những định nghĩa mới, thú vị cho những sự vật quen thuộc:

– Con sông là thuyền, mây xa là buồm (Bốn mùa thay lá)

– Con sông là quán trọ và trăng tên lãng du (Biết đâu nguồn cội)

– Tên em là vết thương khô (Khói trời mênh mông)

– Tôi thấy tôi là chút vết mực nhòe (Ngày nay không còn bé)

– Đời mình là những chuyến xe/ Đời mình là những đám đông/ Đời mình là những quán không/ Đời mình là con nước trôi (Nghe những tàn phai)

– Có khi mưa ngoài trời là giọt nước mắt em/ Ngoài phố mùa đông, đôi môi em là đốm lửa hồng (Ru đời đi nhé!)

Từ góc độ phong cách học, có thể xem đây là những so sánh tu từ. Trịnh Công Sơn đã đem đối chiếu, quy hệ những đối tượng thuộc các phạm trù quá cách biệt nhau để tạo nên những hiệu quả biểu đạt, tri nhận sự vật và xúc cảm thẩm mĩ hết sức sâu sắc, gợi nhiều liên tưởng phong phú nơi người nghe. Cho nên nhìn mưa ngoài trời, ông lại thấy đó là những giọt nước mắt của người tình, hình như nỗi sầu đang dâng đầy trong ông. Đi trong đêm lạnh mùa đông, ông tưởng tượng môi em là đốm lửa hồng, sửa ấm lòng người, xua tan băng giá. Với một người khát sống như Trịnh Công Sơn, ngồi nơi này, nhớ nơi kia, lúc nào cũng sợ không đủ thời giờ cho kiếp người, ngoảnh lại đã thấy đời xanh rêu, nên ông luôn luôn thích sự xê dịch, cho nên mới có Đời mình là những chuyến xe, đời mình là con nước trôi… Với quan niệm cuộc đời là một vấn nạn, bấp bênh và tình yêu thì mù lòa, Trịnh Công Sơn hay nói tới danh từ vết thương, và vì vậy mới có Tên em là vết thương khô,

Không sao có thể diễn tả hết được những ý nghĩa mà Trịnh Công Sơn muốn khoác cho các sự vật, hiện tượng thông qua các định nghĩa của mình. Chỉ có thể nói rằng bởi cách nhìn cuộc đời của ông quá độc đáo, quá tinh tế nên những người đã yêu nhạc Trịnh thì bao giờ cũng yêu cả phần lời ca của ông.

5.2. Những quan hệ bất thường về nghĩa giữa chủ ngữ và vị ngữ

Quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ trong câu tiếng Việt luôn là mối quan hệ ràng buộc, hai chiều. Thông thường, vị ngữ phải nêu những đặc trưng vốn có ở chủ ngữ, phù hợp với chủ ngữ. Song với Trịnh, vị ngữ luôn nêu những đặc trưng bất ngờ, tự ông gán cho sự vật. Do vậy mới có những lời ca kỳ diệu như ở dưới đây:

– Đêm chờ ánh sáng, mưa đòi cơn nắng. / Những giọt mưa, những nụ hoa hẹn hò gặp nhau trước sân nhà. (Bốn mùa thay lá)

– Trăng muôn đời thiếu nợ mà sông không nhớ ra. (Biết đâu nguồn cội)

– Mùa xuân quá vội, mười năm tắm gội, giật mình ôi chiếc lá thu phai. (Chiếc lá thu phai)

– Về bên núi đợi ngậm ngùi ôi đá cũng thương thay. (Chiếc lá thu phai)

– Đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ, sỏi đá trông em từng giờ (Biển nhớ)

– Bờ vai như giấy mới sợ nghiêng hết tình tôi (Thương một người)

– Gió đêm nay hát lời tù tội quanh đời (Này em có nhớ)

– Mùa xuân vừa đến xin mãi ăn năn mà thôi (Ru em từng ngón xuân nồng)

– Đám rong rêu xếp hàng. (Một ngày như mọi ngày)

– Xin mây xe thêm màu áo lụa. (Còn tuổi nào cho em)

– Một ngày như mọi ngày từng chiều lên hấp hối (Một ngày như mọi ngày)

– Bàn tay xôn xao đón ưu phiền (Nắng thủy tinh)

Phép nhân hóa là một biện pháp tu từ thường thấy trong ca từ nhạc Trịnh. Rất nhiều những sự vật vô tri, vô giác mang tâm trạng con người: cỏ lá biết buồn, biển biết nhớ, gió biết hát, đêm biết đợi chờ, mưa biết đòi cơn nắng, rong rêu biết xếp hàng… Bởi chính nhạc sĩ đã hóa thân vào những sự vật bình thường và tầm thường nhất. Dường như ông muốn trốn chạy khỏi cõi đời mà lúc nào ông cũng thấy chênh vênh, mất mát, bấp bênh. Song khi ông đã yêu thì mọi vật xung quanh ông cũng biết yêu. Đôi khi, trong Trịnh, dòng chảy tâm tư quá nhanh, quá ồ ạt đã khiến lời ca của ông bị dồn nén, các từ bị rút ngắn đến độ khó mà có thể hiểu trọn vẹn từng câu. Đành phải hiểu cảm xúc chung của cả bài. Như trong bài Có nghe đời nghiêng, cả bài hát giống như tâm sự của người ở lại khi tất cả bỗng dưng trống vắng: Ngày thu đông phố xưa nằm bệnh, đàn chim non réo bên vườn hoang, người ra đi bến sông nằm lạnh, này nhân gian có nghe đời nghiêng. Hoặc trong bài Chiếc lá thu phai có câu: Chiều hôm thức dậy, ngồi ôm tóc dài, chập chờn lau trắng trong tay, Trịnh Công Sơn muốn chuyển tải những thông điệp: Cuộc đời thật ngắn ngủi, thật buồn; ngoảnh đi ngoảnh lại, ta đã già; hãy cố gắng để quên đi những ám ảnh về tuổi tác. Cũng phải là một con người trải nghiệm trên đường đời nhiều lắm thì mới có thể viết: Có con đường chở mưa nắng đi (Em còn nhớ hay em đã quên)… Ngôn từ của Trịnh đã kết tinh đến độ đơn khiết, cô đọng nhất.

5.3. Đảo trật tự cú pháp (đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ)

Hãy đọc những ca từ sau đây và sắp xếp lại theo trật tự của chúng ta – những người nhìn cuộc đời bằng con mắt trần gian:

– Vừa tàn mùa xuân rồi tàn mùa hạ (Một cõi đi về)-> Mùa xuân vừa tàn, rồi mùa hạ cũng tàn.

– Xôn xao con đường, xôn xao lá (Đoản khúc thu Hà Nội) -> Con đường xôn xao, lá cũng xôn xao.

– Hồng má môi em hồng sóng xa (Đoản khúc thu Hà Nội) -> Má môi em hồng, sóng xa hồng.

– Mệt quá đôi chân này/ Mệt quá thân ta này (Ngẫu nhiên) -> Đôi chân này mệt quá / Thân ta này mệt quá.

– Đừng phai nhé một tấm lòng son (Vườn xưa) -> Một tấm lòng son đừng phai nhé!

– Đã về trên sông những cánh bèo xanh (Khói trời mênh mông) -> Những cánh bèo xanh đã về trên sông.

– Hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người. (Để gió cuốn đi) -> Hãy yêu ngày tới dù kiếp người quá mệt …

Cách chúng ta đảo lại như vậy có thể làm ta dễ hiểu hơn, song hình như nó sẽ làm hỏng nhạc Trịnh.

Còn một kiểu sắp xếp nữa mà ta cũng thường gặp trong ca từ của Trịnh. Nó không phải là bất thường, mà là đặc biệt. Đó là việc Trịnh sử dụng kiểu câu đảo bổ ngữ lên trước làm đề ngữ. Cũng có khi thành phần phía trước được xem là trạng ngữ; tuy nhiên, trạng ngữ này lại quan hệ rất chặt với động từ trong câu. Câu thường kết thúc bằng một động từ, nghe khá đột ngột. Thí dụ:

– Vườn khuya đóa hoa nào mới nở / Đời ta có ai vừa qua / Rồi bên vết thương tôi quỳ. / Từ những phố kia tôi về. (Đêm thấy ta là thác đổ)

– Sáng cho em vòm lá me xanh. / Phố em qua gạch ngói quen tên (Em còn nhớ hay em đã quên)

– Im lặng của đêm tôi đã lắng nghe. (Tôi đang lắng nghe)

– Về trong phố xưa tôi nằm (Lời thiên thu gọi)

– Tuổi buồn em mang đi trong hư vô (Tuổi đá buồn)

Thường thì ta sẽ nói: Đóa hoa nào mới nở trong vườn khuya/ Có ai vừa qua đời tôi/ Tôi quỳ bên vết thương./ Tôi về từ những phố kia./ Gạch ngói quen tên phố em qua./ Tôi đã lắng nghe im lặng của đêm./ Em mang tuổi buồn đi trong hư vô… Kiểu câu không kết thúc bằng thành phần bổ ngữ mà kết thúc bằng chính động từ trung tâm, như đã nói, luôn khiến người nghe có cảm giác đột ngột. Song chính điều đó lại làm nên sức hấp dẫn của nhạc Trịnh; để khi nghe nhạc Trịnh, người ta luôn cảm thấy thiếu, muốn kiếm tìm, muốn nghe mãi…

Còn có những kết hợp khó có thể sắp xếp lại theo thứ tự thông thường, cũng khó mà gọi đó là cụm từ hay là câu nữa. Chẳng hạn như: Tuổi nào vừa thoáng buồn áo gầy vai hay Cuồng phong cánh mỏi hoặc Cỏ xót xa đưa… Điều này càng làm cho ta thấy nhạc sĩ nhìn sự vật, nhìn cuộc đời bằng con mắt khác với chúng ta. Lời ca của Trịnh, nói theo Bửu Ý, đã được đặc cách hóa thành Kinh. Kinh là những lời ước nguyện nhằm chuyển hóa thực tại. Kinh của Trịnh Công Sơn là do chính ông phát nguyện, dóng tiếng và gởi gắm trở lại cho chính mình.

Mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại nghĩa trang Gò Dưa (Thủ Đức-TPHCM)
Mộ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại nghĩa trang Gò Dưa (Thủ Đức-TPHCM)

Đọc Trịnh Công Sơn dưới góc độ ngữ pháp, chúng tôi không dám nói nó có giúp ta nhiều không trong việc hiểu nhạc Trịnh. Song chúng tôi ghi nhận ở người nhạc sĩ tài hoa này một mẫn cảm ngôn ngữ tuyệt diệu. Bằng những kết hợp lạ lẫm, những so sánh bất ngờ, những sắp xếp độc đáo, thông qua một tri giác bén nhạy, nhiều tầng, đa chiều kích, và với một tâm hồn lãng mạn của một thi sĩ, Trịnh Công Sơn đã làm phong phú thêm kho tàng ngôn ngữ Việt. Trịnh Công Sơn đã sống và đã yêu hết mình, dù cho ông yêu cuộc đời này bằng nỗi lòng của một tên tuyệt vọng. Mỗi ca từ ông để lại cho đời đều thấm đẫm giá trị nhân bản. Hãy sống và yêu đi, như ông đã từng viết: Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ! (Mưa hồng)…

Theo Tạp Chí Ngôn Ngữ