Danh ca Lệ Thu với “Hạ Trắng”

Khi nhắc đến Trịnh Công Sơn, người ta nghĩ ngay đến giọng hát Khánh Ly. Cô không phải là người đầu tiên hát nhạc Trịnh nhưng lại là người có công mang những giai điệu của nhạc Trịnh đến gần với công chúng.

Bên cạnh Khánh Ly người ta còn nghe Hà Thanh, Thái Thanh, Duy Trác, Anh Ngọc hay Uyên Phương hát nhạc của Trịnh Công Sơn. Lệ Thu cũng có hát nhiều bài nhạc của Trịnh Công Sơn và đã tạo được nhiều dấu ấn trong lòng công chúng qua một số ca khúc của ông. Bài hát thành công nhất có lẽ phải kể đến “Hạ Trắng”.

“Hạ Trắng” được Trịnh Công Sơn sáng tác năm 1961 khi tên tuổi vẫn còn là một ánh sao lu mờ. Ca sĩ Lệ Thu ghi âm ca khúc này lần đầu vào năm 1971 trong album Lệ Thu 01, chủ đề “Nước Mắt Mùa Thu”. Bài hát nhanh chóng được công chúng đón nhận. Nó luôn có mặt trong các chương trình nhạc chuyển mục, nhạc yêu cầu hay nhạc chọn lọc và được phát thường xuyên trên các làn sóng điện của đài phát thanh Sài Gòn, Quân Đội và Mẹ Việt Nam. Tại các phòng trà và đại nhạc hội, “Hạ Trắng” do Lệ Thu hát, thường xuyên là một trong những bài hát được khán giả yêu cầu.

Hạ Trắng là một bài tình ca. Nhưng nó không có một câu chuyện tình để kể. Trong các sáng tác của mình, Trịnh Công Sơn thường hay sử dụng Phép Ứớc Lệ để xây dựng hình tượng của người con gái, đẹp-mảnh khảnh-thướt tha. Trong Hạ Trắng đó là “vai gầy”, là “tay dài”, là “tóc em dài” .. Một người đẹp liệu trai mà tác giả nghĩ đến trong giấc mơ và tình yêu trong “Hạ Trắng”có lẽ vì vậy mà tràn ngập sự da diết, mong chờ và đầy khao khát. Đó là thứ tình yêu mong cho thành bất diệt để:
“Áo xưa dù nhàu ,
Cũng xin bạc đầu ,
Gọi mãi tên nhau”.

Ngoài Trịnh Công Sơn ra, không ai biết chắc chắn hoàn cảnh sáng tác thật sự của “Hạ Trắng”. Cảm nhận của người nghe, phần nhiều dựa vào lời của ca khúc và cách diễn tả của ca sĩ. Có lẽ tác giả phải trong tâm trạng cô đơn đến tột cùng mới cất lên những tiếng gọi trong giấc mơ như vậy. Trong giấc mơ của mình, Trịnh Công Sơn gọi nắng, gọi đời, gọi yêu thương rồi cũng chỉ dừng ở “Gọi tên em mãi, Suốt cơn mê này…”

Giọng hát của ca sĩ Lệ thu có nét trầm buồn. Cô hát bằng cảm xúc tự nhiên có thề có được để chuyên chở đến người nghe một tâm trạng cô đơn, xa vắng nhưng lại tiềm ẩn khao khát yêu thương. Lệ Thu không cường điệu hóa cảm xúc của mình nên làm người nghe cảm thấy dễ chịu-buồn nhưng dễ chịu. Họ như bị mê hoặc trong dòng cảm xúc đó và ngoan ngoãn theo giọng hát của cô đi vào giấc mơ của “Hạ Trắng”.

Lệ Thu không phải là ca sĩ chuyên hát nhạc Trịnh Công Sơn nhưng bài hát nào của Trịnh Công Sơn được cô chọn trình bày cũng thường là một ca khúc thành công. Người ta còn nghe Lệ Thu hát “Cát Bụi”, “Tình Xa”, “Rồi Như Đá Ngây Ngô”, “Tuổi Đá Buồn” hay “Vết Lăn Trầm” … Điều thích thú là cả hai ca sĩ Lệ Thu và Khánh Ly đều có giọng hát trầm nhưng lại trình bày nhạc Trịnh Công Sơn bằng hai cách hoàn toàn khác nhau. Điều này giúp mang cho ca khúc của Trịnh Công Sơn nhiều màu sắc cảm xúc thật phong phú và đa dạng.

Cho đến nay, ca sĩ Lệ Thu đã trình bày “Hạ Trắng” rất nhiều lần. Cô cũng đã cho ghi âm lại “Hạ Trắng” với cách hòa âm tân kỳ. Nhưng “Hạ Trắng” do Lệ Thu hát năm 1971 mãi mãi có một dấu ấn đặc biệt trong lòng người nghe. Đó là cuộc phiêu lưu của những tâm hồn cô đơn đi vào giấc mơ của yêu thương và khao khát.

(vanchus)

Dáng hình phụ nữ ‘mờ nhân ảnh’ trong nhạc Trịnh

Có nhiều bóng hồng xuất hiện trong ca khúc của Trịnh Công Sơn, chung dáng vẻ mong manh, gần gụi mà xa xôi, thực mà hư ảo.

Trong một lần được hỏi về những phụ nữ bên đời Trịnh Công Sơn, Khánh Ly tâm sự: “Trịnh Công Sơn vốn rất thích phụ nữ để tóc dài, có bờ vai gầy… Nhạc sĩ từng kể với tôi rằng ca khúc Như cánh vạc bay được sáng tác khi ông đi chơi với người yêu – một cô gái để tóc dài – bên bờ suối ở Cam Ly (Đà Lạt)”. Có lần Khánh Ly giận chồng mà cắt tóc ngắn, khi gặp nhau, Trịnh Công Sơn hờn trách: “Anh không muốn gặp người điên”.

Đời cũng như nhạc. Những cô gái tóc dài, có bờ vai gầy trở đi trở lại trong nhiều ca khúc của họ Trịnh: “Gọi nắng/ Trên vai em gầy đường xa áo bay” (Hạ trắng), “Vai em gầy guộc nhỏ như cánh vạc về chốn xa xôi” (Như cánh vạc bay)… Phụ nữ trong âm nhạc Trịnh Công Sơn như một bức họa với những đường nét phác thảo đầy mảnh mai, phóng khoáng. Họ không hiển hiện cụ thể mà chỉ ở một nét dáng hình, mái tóc, bờ vai, ngón tay, mùi thơm, bước đi: “Tìm em tôi tìm mình hạc xương mai/ Tìm trên non ngàn một cành hoa khôi/ Nụ cười mong manh, một hồn yếu đuối/ Một bờ môi thơm, một hồn giấy mới” (Đóa hoa vô thường)…

* Khánh Ly hát “Diễm xưa” trong băng “Sơn ca 7” năm 1974

Họ cũng không có tên gọi. Một trong số người hiếm hoi được gọi tên là Diễm trong Diễm xưa (bên cạnh Bống). Ca khúc được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết năm 1960, phát hành trong băng nhạc Sơn ca 7. Nguyên mẫu là bà Ngô Thị Bích Diễm, nữ sinh trường Đồng Khánh (Huế). Thế nhưng, nếu Diễm có thể là một định danh thì tính từ “xưa” lại khiến cho Diễm trở nên hư ảo. “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ/ Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao (…) Trên bước chân em âm thầm lá đổ/ Chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa”. Làm sao biết được Diễm có thực hay chỉ là một ảnh hình trong mường tượng. Chính Trịnh Công Sơn cũng từng ví cuộc tình với Diễm ở ngoài đời đầy liêu trai, nửa thực nửa mơ.

Những người phụ nữ của Trịnh Công Sơn cũng như tự nhiên. Là nắng, mưa, mùi hương, dòng suối, áng mây, đốm lửa, cơn gió… tưởng như trước mắt đó mà không thể nào nắm bắt, không thể nào lưu giữ. Nhạc sĩ không ít lần so sánh phụ nữ với bông hoa, mùi hương… “Ta mang cho em một đóa quỳnh/ Quỳnh thơm hay môi em thơm/ Ta mang cho em một chút tình/ Miệng cười khúc khích trên lưng” (Quỳnh hương), “Màu nắng hay là màu mắt em/ Mùa thu mưa bay cho tay mềm” (Nắng thủy tinh), “Nắng có hồng bằng đôi môi em?/ Mưa có buồn bằng đôi mắt em?/ Tóc em từng sợi nhỏ/ Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh” (Như cánh vạc bay), “Ngoài phố mùa đông, đôi môi em là đốm lửa hồng” (Ru đời đi nhé), “Em đến bên đời hoa vàng một đóa/ Một thoáng hương bay bên trời phố hạ/ Nào có ai hay ta gặp tình cờ/ Nhưng là cơn gió em còn cứ mãi bay đi” (Hoa vàng mấy độ)…

* Khánh Ly hát “Hoa vàng mấy độ”

Phụ nữ với thiên nhiên trong ca khúc của Trịnh Công Sơn như hòa làm một. Nếu coi thiên nhiên là khởi thủy của sự sống muôn loài thì phụ nữ trong nhạc Trịnh cũng được ông xem như khởi thủy của sự sống, tình yêu, buồn vui, hờn giận của cõi người. “Nắng có còn hờn ghen môi em?/ Mưa có còn buồn trong mắt trong?/ Từ lúc đưa em về là biết xa nghìn trùng” (Như cánh vạc bay), “Em đến bên đời hoa vàng rực rỡ/ Nào dễ chóng phai trong lòng nỗi nhớ/ Ngày tháng trôi qua cơn đau mịt mù” (Hoa vàng mấy độ)…

Những cô gái của Trịnh Công Sơn cũng như một bài thơ. Đọc thì hay mà đố sờ vào, chạm vào, cắt nghĩa được rõ ràng chứ đừng nói túm cái tay hay chạm mái tóc. Trong Đóa hoa vô thường, ông viết: “Tôi mời em về đêm gội mưa trăng/Em ngồi bốn bề thơm ngát hương trầm”… Dường như chẳng chút nhục dục, trần thế nào vướng bận trong con mắt của kẻ si tình. Nên thi nhân vẫn tha thiết: “Làm sao có nhau/ Hằn lên nỗi đau/ Bước chân em xin về mau” (Diễm xưa). “Em” vẫn là một hình bóng mờ nhân ảnh: “Ôi áo xưa em là/ Một chút mây phù du/ Đã thoáng qua đời ta” (Đóa hoa vô thường), “Một cõi bao la ta về ngậm ngùi/ Em cười đâu đó trong lòng phố xá đông vui” (Hoa vàng mấy độ)…

* “Đóa hoa vô thường”

Trịnh Công Sơn yêu và thương phụ nữ. Ông trân trọng, nâng niu họ như nâng niu cánh hoa, mùi hương – những thứ mong manh nhất trên đời. Ông dùng nhiều tính từ chỉ sắc thái nhẹ nhàng: “hồng”, “thơm”, “mềm”, “xanh”, “nhỏ”… dành cho họ. Trước những điều như thế, ai mà chẳng muốn cẩn trọng, muốn yêu thương. Ông đếm thời gian trên tuổi người phụ nữ trong ca khúc Còn tuổi nào cho em bằng những nét phác tinh tế. Qua tuổi hồn nhiên “tay măng trôi trên vùng tóc dài”, qua tuổi “vừa thoáng buồn áo gầy vai” là dáng hình của một con người ngồi khóc khi đi hết thời gian của đời người: “(…) Bàn tay che dấu lệ nhòa/ Ôi buồn/ Tuổi nào ngồi khóc tình đã nghìn thu”. Rõ ràng, có gì đó như là xót xa, như là thương.

Không chỉ viết về phụ nữ, ca từ của Trịnh Công Sơn giàu tính nữ: suối, nước, mây, gió, dòng sông… Tất cả đều mang tính mềm mại, uyển chuyển, khó nắm bắt. Có lẽ với nhạc Trịnh, nữ là khởi thủy, là mạch nguồn chảy dọc suốt hai bờ thân phận và tình yêu, “nuôi dưỡng tình yêu để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời” – như ông từng mong mỏi.

Theo VnExpress

Em còn nhớ hay em đã quên

Một buổi sáng Hà Nội rất sớm, đầu tháng trước, trên giường bệnh, Văn Cao vui vẻ trao cho tôi tập tình khúc Trịnh Công Sơn Em còn nhớ hay em đã quên vừa in ở Nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh tháng 4-1991, mà anh viết một lời bạt (lời thứ hai là của nhà văn Sơn Nam).

Lời bạt của Văn Cao tôi đã được đọc từ năm ngoái, khi còn là bản thảo. Còn bài hát Em còn nhớ hay em đã quên của Trịnh Công Sơn thì tôi còn giữ một kỷ niệm, đã mười năm.

Có lẽ đó là mùa hè 1982. Tôi được nghe chính Trịnh Công Sơn hát tại một gia đình Sài Gòn, quanh nhiều khuôn mặt một thời tăm tiếng. Ví dụ đó là bà thi nhân Mộng Tuyết, vợ cố thi sĩ Đông Hồ, là nhà thơ đã già Bàng Bá Lân… và bữa cơm là do đôi tay văn hiến Hà Nội của bà Vũ Hoàng Chương điều khiển. Hôm ấy có một người phản ứng bài hát của Sơn khá mạnh (người ấy trước kia chuyên ngâm thơ trên đài Sài Gòn cũ), nói sỗ sàng : “Sài Gòn đã sa sút, không còn gì như xưa nữa, đừng nói dối những người di tản !”.

Trịnh Công Sơn vẫn hiền hậu mỉm cười, không đáp, và bấm đàn tiếp : “… Em ra đi nơi này vẫn thế, vẫn có Em trong tim của Mẹ. Thành phố vẫn có những giấc mơ, vẫn sống thiết tha, vẫn lấp lánh hoa trên đường đi… Em còn nhớ hay em đã quên…”

Một lần nữa tôi thấy ngọn nến lung linh, xanh ngát trong mọi ca khúc của anh dịu dàng hắt lên khuôn mặt quê hương thứ ánh sáng ám ảnh, huyền thoại, như trên hội hoạ của một Giooc-dơ đờ la Tua (1593 – 1652) mà mãi đầu thế kỷ XX người ta mới nhận ra.

***

Tập Em còn nhớ hay em đã quên của Trịnh Công Sơn gồm 50 tình khúc (trong số 500) anh viết từ 1958 đến nay. Tôi có nhận xét rằng hơi nhạc có ma lực xa xăm, sâu kín của anh trước, sau là một. Chưa bao giờ nó hạn hẹp, chia lìa. Một hơi nhạc đằm thắm và siêu hình, như phấp phỏng hoang vắng về những nỗi đau con người trước ý nghĩa của cuộc đời và hy vọng. Nhưng tài năng của anh lại làm ta an tâm, rằng cái thế giới bàng hoàng thao thức kia không có cách nào khác để bày tỏ, ngoài cách của nghệ thuật. Bởi thế, mà cả nghệ thuật lẫn chúng ta đều có thể biết ơn anh.

Trinh Công Sơn tự coi mình “chỉ là tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo”. Nhưng, chỗ lớn lao và bất dịch của “tên hát rong” đó là bao giờ hắn cũng ý thức được sự có mặt của tâm thức mình, và, trước những giấc mơ đời hư ảo hắn đã mềm mại nắm chắc sự sinh khởi hay hủy diệt của tấm lòng. Như một người tu Thiền đạt đạo.

Trong bộ Bách khoa Le Million, viết về tất cả mọi đất nước trên trái đất này, người ta viết về Trịnh Công Sơn (tập VIII, trang 122, Genève, 1973) như sau: “… Nhiều thi nhân miền Nam Việt Nam ngày nay đã tìm hơi thở hùng ca của tổ tiên ngày trước để hát nỗi đau của mình. Trịnh Công Sơn nổi bật giữa những tài năng trẻ đó. Bài hát của anh tràn ngập thành phố và thôn quê. Trịnh Công Sơn cất cao tiếng hát thi nhân, mà đạn bom không bao giờ dập tắt được…”. Có lẽ người viết đã nghĩ đến những bài ca phản chiến của anh ngày đó : Ngày dài trên quê hương, Đại bác ru đêm, Hãy nói giùm tôi, Đi tìm quê hương, Nối vòng tay lớn…

Quê hương với những chữ Mẹ, chữ Em, chữ Bạn bè viết hoa là cái nền màu mỡ, bao la mà trên đó ươm nở những giai điệu nồng nàn, những lời ca bất ngờ, thơm thảo của Trịnh Công Sơn. Anh nhìn quê hương với đôi mắt nợ nần, và nghe quê hương trong từng tiếng tri âm. Cái mà ngày nào anh gọi tên là Chiếc lá thu phai, là Cát bụi, là Nắng thủy tinh, là Biển nhớ… và bây giờ anh gọi nó là Vẫn có em bên đời, là Huyền thoại mẹ, là Bốn mùa thay lá, là Tình khúc Ơ bai…, thảy là những vết sẹo âu yếm, giông bão trong lòng Việt Nam. Mỗi cử chỉ âm nhạc của Trịnh Công Sơn là một lễ nghi.

***

Rồi con cháu chúng ta sẽ không thể hiểu được có một phần tư thế kỷ XX đất nước mình chia cắt làm đôi. Không một ai bên này được biết một cái gì bên kia giới tuyến. Bấy giờ, ở các thư viện Hà Nội hình như mãi sau Tết Mậu Thân 1968 mới lác đác một vài sách báo miền Nam, và muốn đọc nó phải là hạng cán bộ nào, cùng với giấy giới thiệu đặc biệt nào mới được.

Bởi vậy, Hà Nội biết Trịnh Công Sơn có muộn.

Riêng tôi mãi sau khi miền Nam giải phóng, nhờ những chuyến đi dạy học ở Huế, tôi mới được gần Trịnh Công Sơn trên căn gác nhỏ đường Nguyễn Trường Tộ đầy kỷ niệm với bạn bè trong đó.

Niềm vui ấy là của hàng triệu người đã khuất dành cho chúng tôi, mà mỗi lần nhớ lại chúng tôi đều thầm rơi nước mắt.

Thái Bá Vân
T.P. Hồ Chí Minh – Hà Nội, tháng 6 – 1991

Mưa trong nhạc Trịnh

MƯA, luôn mang lại nguồn cảm xúc khó diễn tả cho bất kỳ ai, đặc biệt với những nghệ sĩ luôn nhạy cảm với vạn vật. Nó khơi nguồn cho nhiều bài hát nổi tiếng của các nhạc sĩ từ thời tiền chiến cho đến hiện đại, trong đó có Trịnh Công Sơn.

“Diễm xưa”, một tình khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, mà phần lớn người Huế đều yêu thích; cũng được người Nhật yêu thích, chuyển ngữ với tựa đề “Utsukushii Mukashi”, rồi lại được Đại học Kansai Gakuin chọn làm nhạc phẩm đưa vào chương trình giảng dạy trong bộ môn Văn hóa và Âm nhạc; bắt đầu bằng những ca từ:

“Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ,
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao,
Nghe lá thu mưa, reo mòn gót nhỏ,
Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu…”

>>> Nghe thêm các bài nhạc MƯA khác của Trịnh Công Sơn <<<

Trong ký ức “Diễm của những ngày xưa”, Trịnh Công Sơn kể lại: “Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến trường Đại học Văn khoa ở Huế. Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua… Mùa mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhoà nhạt trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt…”

Để giải thích hiện tượng một tâm hồn “buổi chiều ngồi ngóng, những chuyến mưa qua”, rồi thắc mắc “chiều này còn mưa, sao em không lại?”, có thể hiểu tương tự như cơ chế hình thành phản xạ có điều kiện của Pavlov trong y học. Đó là sự lập đi lập lại của một sự việc (những “buổi chiều… em… lại”) trong một điều kiện tự nhiên nhất định (“những chuyến mưa qua”), tạo nên một phản xạ có điều kiện trong… tâm thức. Và khi điều kiện tự nhiên ấy xảy ra (“chiều này còn mưa”), lập tức có phản xạ liên đới là “ngồi ngóng” hiện tượng kèm theo (“em… lại”), nhưng nếu hiện tượng kèm theo không có, sẽ gây trong tâm tư một thắc mắc “sao em không lại”? !

Nói về sinh thái học nhân văn, giáo sư Trần Quốc Vượng bảo rằng văn hóa – nhân văn Huế đã “dựa theo và thích nghi với hệ sinh thái tự nhiên”.

Đường vô xứ Huế loanh quanh, phần lớn diện tích của Thừa Thiên – Huế có địa hình đồi núi tạo thành một vòng cung từ phía tây xuống phía nam. Các dãy núi cao của Trường Sơn Bắc ăn lan ra sát biển và đột ngột chấm dứt ở phía nam của tỉnh bằng một mạch núi cao lên đến trên 1000m đâm thẳng ra biển và kết thúc bằng hòn Sơn Trà ở phía đông núi Hải Vân như một bức tường thành đồ sộ chắn gió mùa đông bắc, nên các đợt gió mùa hầu như không còn đủ sức vượt qua dãy núi cao này.

Do vậy, bao nhiêu lượng hơi nước trong không khí của gió mùa đều tích đọng ở Huế gây nên mưa và rét, và đây là vùng có lượng mưa vào loại nhiều nhất nước ta. Đặc biệt mưa Huế là loại mưa lệch pha: ở hai miền bắc nam thì có hai mùa mưa và khô gần như trùng nhau trong hai nửa thời gian của năm với hai mốc khoảng tháng 4 và tháng 10 dương lịch, còn ở Huế mùa mưa lại trùng với mùa đông lạnh.

Vào những lúc thời tiết đông lạnh mưa như vậy, người Huế ít ra khỏi nhà, thường nhìn mưa mà hồi ức với những kỷ niệm xưa… Từ đó hình thành nên một trong những nét của phong cách người Huế là thường trầm tư mặc tưởng, sống hướng nội hơn hướng ngoại, thích sâu lắng, không thích khoa trương ồn ào…

…Kiểu mưa Huế ấy, đã được mô tả rất đặc sắc: “trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang / thênh thang…”, hoặc “mưa kéo dài lê thê những đêm khuya lạnh ướt mi”, hoặc:

“Chiều chủ nhật buồn,
Nằm trong căn gác đìu hiu,
Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều,
Trời mưa trời mưa không dứt,
Ô hay mình vẫn cô liêu…”

Và so sánh với mưa các xứ khác, nhạc sĩ đã cho thấy rõ:

“Em còn nhớ hay em đã quên,
Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng…”

Trịnh Công Sơn tâm sự: “…Thường thường, con người có thói quen sống bằng kỷ niệm, và khi một tác phẩm được gắn liền với kỷ niệm thì tác phẩm ấy đã sẵn có bề dày của sự ưu ái rồi!”.

Hãy theo dõi tiến trình xao xuyến của nhạc sĩ về kỷ niệm “yêu nhau yêu cả đường đi” trong không gian mưa… Với sự tả thực, khi thì “nghe lá thu mưa, reo mòn gót nhỏ…”, khi thì “mưa thì thầm, dưới chân ngà...”; nhưng khi những hình ảnh ấy chỉ còn là ký ức thì nhạc sĩ lại xót xa “…trên bước chân em, âm thầm lá đổ…”. Cho nên, phản xạ Pavlov “…bước chân em xin về mau…” vẫn tiếp diễn mãi như hiệu ứng domino:

“Người ngồi xuống, mây ngang đầu,
Mong em qua, bao nhiêu chiều…”

Một lối tu từ được nhạc sĩ sử dụng để ẩn dụ “còn mưa xuống như hôm nào, em đến thăm…”, mà “người ngồi đó, trong mưa nguồn, ôi yêu thương, nghe đã buồn…”, thì tính chất cơn mưa lại là một đối trọng được đặt ra để so sánh:

“Mưa có buồn bằng đôi mắt em?…
Mưa có còn buồn trong mắt trong?”

Là người Huế, các điệu hò mái nhì, mái đẩy man mác nước sông Hương chính là một biểu hiện rõ nét tính cách sâu lắng trong tâm hồn; cho nên những tiếng rơi của cơn mưa lại được ẩn dụ qua điệu ru “thôi ngủ đi em, mưa ru em ngủ...” là điều rất kỳ lạ:

“Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang…
Lời ru miệt mài, ngàn năm ngàn năm,
Ru em nồng nàn, ru em nồng nàn…”

Đó là những cơn mưa thực thể, nhưng ở nhạc sĩ họ Trịnh lại còn có những cơn mưa trong tâm thức:

“Nghe mưa nơi này, lại nhớ mưa xa,
Mưa bay trong ta, bay từng hạt nhỏ…”

Hoặc:

“Đôi khi, trên mái tình ta, nghe những giọt mưa,
Tình réo tình âm thầm, sầu réo sầu, bên bờ vực sâu…”

Giải thích ý nghĩa tác phẩm của mình, Trịnh Công Sơn nói: “Âm nhạc của tôi, nói cho cùng chỉ là những kỷ niệm của tôi và rồi sẽ là kỷ niệm của người nghe…”. Vì thế, giáo sư Cao Huy Thuần nhận xét: “Cảnh, tình và người trong Trịnh Công Sơn là cảnh Huế, tình Huế, người Huế… Sau này Sơn rời Huế và Sài Gòn, chất thơ trong nhạc của Trịnh Công Sơn vẫn là chất Huế, nguồn thơ vẫn chảy từ Huế. Vô số những bài hát của Sơn đều ướt và mưa. Vì Huế là xứ của mưa dầm. Mưa mùa đông, mưa mùa hè, mưa sợi nhỏ, mưa sợi to, mưa tỉ tê, mưa ray rứt, cảnh mưa trong Trịnh Công Sơn buồn nhưng rất đẹp…”.

Cuối cùng, nhạc sĩ bộc bạch, cho dù suối nguồn tạo cảm hứng trong tình ca của mình xuất phát như thế nào, vẫn không thể thiếu được một điều kiện tự nhiên:

“Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ,
Ôi! những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề… là những cơn mưa…”

Và đó chỉ là một tiền đề, một tiền đề để người nghệ sĩ ước mong được tiếp tục cuộc hành trình của mình:

“Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng,
Để người phiêu lãng, quên mình lãng du…”

Anh Huy

Có một nhà thơ tên Trịnh Công Sơn

Người ta vẫn gọi Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ chứ chưa mấy ai gọi anh là nhà thơ, dù anh cũng đã in dăm ba bài thơ lẻ. Cũng có người gọi anh là “người thơ ca” hay “người hát thơ”, nghĩa là, anh là người tác hợp giữa thơ và nhạc. Nhưng với tư cách là một nhà thơ, tôi đã khảo sát ca từ của Trịnh Công Sơn, và tôi dám khẳng định rằng, anh chính là một nhà thơ đích thực.

Cho dù khi sáng tác ca khúc, Trịnh Công Sơn có thể viết lời và nhạc cùng một lúc, hoặc có đoạn lời viết sau khi đã có nhạc, hay trước khi “phổ nhạc” thì mỗi lời ca của anh đều là những bài thơ hoàn chỉnh kể cả về ý, tứ, cấu trúc, ngôn từ và cảm xúc. Mà Trịnh Công Sơn không phải là một nhà thơ bình thường, anh là nhà thơ rất độc đáo ôm chứa tư tưởng nhân sinh và thời cuộc với một thi pháp khá riêng biệt trong thơ Việt.

Trịnh Công Sơn rất nhuần nhuyễn trong các thể thơ truyền thống như lục bát, đồng dao. Ngay từ lần nghe đầu tiên ca khúc Ở trọ, tôi đã phát hiện ra đấy là một bài thơ lục bát rất tài hoa. Từ cái chuyện ở trọ bình thường trong đời, anh đã đẩy liên tưởng tới cái “cõi tạm” chốn trần gian trong triết lý của Đạo Phật với một cách nói thoải mái, thông minh và hóm. Anh nhìn thấy con chim ở trọ trên cành cây, con cá ở trọ dưới nước, cơn gió ở trọ giữa đất trời, rồi đẩy tới một khái quát bất ngờ:

Trăm năm ở đậu ngàn năm
Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn

Có những liên tưởng còn bất ngờ hơn khi nói tới vẻ đẹp ở trọ trong thân thể, hay tâm hồn của người nữ:

Môi xinh ở đậu người xinh
Đi đứng ở trọ đôi chân Thúy Kiều

Vì thế mà có câu:

Xin cho về trọ gần nhau
Mai kia dù có ra sao cũng đành

Và khi con người đã ở trọ vào nhau bằng tình yêu thì dù có phải xa rời cõi tạm, vẫn mãi mãi khăng khít cùng nhau:

Tim em người trọ là tôi
Mai kia về chốn xa xôi cũng gần

Nhiều bài thơ phỏng theo nhịp đồng dao (bốn chữ) khá thành công nhờ cách lập tứ và chọn từ như Em đi qua chiều/ Cũng sẽ chìm trôi / Nhật Nguyệt trên cao – Ta ngồi dưới thấp, nhưng có lẽ Ngụ ngôn mùa đông mới là một bài thơ bốn chữ gây ấn tượng khó phai mờ trong lòng người đọc. Bài thơ nói về “Một người Việt Nam – Đi ra dòng sông – Nhớ về cội nguồn… Đi lên đồi non – Nhớ về cội nguồn” thật tươi đẹp, thật máu thịt, rồi bỗng:

Một ngày mùa đông
Trên con đường mòn
Một chiếc xe tang
Trái mìn nổ chậm

Người chết hai lần
Thịt da nát tan…

Người Việt ấy chết rồi lại còn phải chết thêm một lần nữa vì “trái mìn nổ chậm” của chiến tranh. Cái tứ thơ này không chỉ chia xẻ với cái chết đau thương tang tóc của con người mà còn có sức mạnh tố cáo chiến tranh thật sâu sắc:

Súng từ thị thành
Súng từ ruộng làng
Nổ xé da non

Phố chợ thật buồn
Cuộn giây gai chắn
Chắc mẹ hiền lành
Rồi cũng tủi thân

Nhịp thơ năm chữ trong thơ Trịnh Công Sơn cũng xuất hiện không ít, và lặng lẽ tuôn chảy trong veo buồn thương, ngơ ngác. Khi thì khao khát hồn nhiên: “Môi nào hãy còn thơm – Cho ta phơi cuộc tình – Tóc nào hãy còn xanh – Cho ta chút hồn nhiên”, khi thì hoang vắng, lạnh câm: “Như đồng lúa gặt xong – Như rừng núi bỏ hoang – Người về soi bóng mình – Giữa tường trắng lặng câm”, khi thì tuyệt vọng ngậm ngùi: “Không còn, không còn ai – Ta trôi trong cuộc đời – Không chờ, không chờ ai” (Ru ta ngậm ngùi), và có lúc đầy mộng mơ khao khát giữa ưu phiền: “Tôi con chim thanh bình – Mơ được sống hồn nhiên – Như hoa trên đồng xanh – Một sớm kia rất hồng” (Như chim ưu phiền). Nhịp thơ năm chữ vốn rất phổ biến trong đối đáp dân gian, nhưng với Trịnh Công Sơn, nó trở nên lồng lộng, thênh thang và quý phái:

Người ngỡ đã xa xăm
Bỗng về quá thênh thang
Ôi áo xưa lồng lộng
Đã xô dạt trời chiều
(Tình nhớ)

Cùng với những ý thơ bất ngờ đến từ trong vô thức:

Trăng muôn đời thiếu nợ
Mà sông không nhớ ra

Hoặc:

Cây trưa thu bóng dài
Và tôi thu bóng tôi
Tôi thu tôi bé lại
Làm mưa tan giữa trời…
(Biết đâu nguồn cội)

Ít thấy nhịp thơ sáu chữ ở Trịnh Công Sơn, nhưng không phải là không có. Câu thơ sáu chữ xuất hiện đan xen trong nhiều bài thơ của anh thường tạo được hiệu quả lạ, như một dấu nhấn của cảm xúc và ý tưởng. Ví dụ như trong bài Nhìn những mùa thu đi, sau mỗi câu năm chữ là câu sáu chữ khá hay: “… Em nghe sầu lên trong nắng… Nghe tên mình vào quên lãng… Tay trơn buồn ôm nuối tiếc”.

Bài Ru em là một bài thơ lục ngôn từ đầu đến cuối:

Ru em ngủ những đêm khuya
Ru em ngủ những âm u
Ru em cùng những u mê
Ru em dù đã chia xa…

Nhân nói đến thơ lục ngôn; bỗng nhớ đến một bài thơ nhịp 3 hết sức đặc biệt của Trịnh Công Sơn. Đó là bài Mưa hồng:

Trời ươm nắng
Cho mây hồng
Mây qua mau
Em nghiêng sầu

Còn mưa xuống
Như hôm nào
Em đến thăm
Mây âm thầm
Mang gió lên…

Điều đó nói lên sự đa dạng và tài hoa của Trịnh Công Sơn khi sử dụng thi điệu, bởi thơ nhịp 3 thường tươi vui nhí nhảnh, mà ở đây lại tả cái tâm trạng thương nhớ xa xăm: “Người ngồi xuống/Xin mưa đầy/Trên hai tay/Cơn đau dài”…).

Nhịp thơ thất ngôn là một sở trường của Trịnh Công Sơn. Dường như anh thẩm thấu Đường thi, nhưng hơi thở thì đã khác. Những câu thơ bảy chữ vào bài hát của anh rất tự nhiên. Nhiều bài thơ (bài hát) đã mở đầu bằng câu thơ bảy chữ thật nhẹ nhàng như chẳng có một cố ý nào. Có thể dẫn ra nhiều những trường hợp như vậy: “Một đêm bước chân về gác nhỏ”, “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi”, “Trên đời người trổ nhánh hoang vu”, “Người đi quanh thân thế của người”, “Vẫn thấy bên đời còn có em”…

Cũng là thơ thất ngôn, nhưng cách gieo nhiều vần bằng liên tiếp theo cảm hứng âm nhạc, đã khiến cho thơ anh không bị gò ép vào khuôn thước cổ thi, mà thoát ra, phong quang và mềm mại hẳn lên. Có những đoạn thơ chỉ gieo toàn vần bằng:

Màu nắng hay là màu mắt em
Mùa thu mưa bay cho tay mềm
Chiều nghiêng nghiêng bóng nắng qua thềm
Rồi có hôm nào mây bay lên

Lùa nắng cho buồn vào tóc em
Bàn tay xôn xao đón ưu phiền
Ngày xưa sao lá thu không vàng
Và nắng chưa vào trong mắt em

Cũng có khi, thơ thất ngôn của anh được gieo vần trắc:

Em đi biền biệt muôn trùng quá
Từng cơn gió và từng cơn gió
Em đi gió lạnh bến xa bờ
Từng nỗi nhớ trùng trùng nỗi nhớ

Lại có khi thơ thất ngôn được tổ chức theo từng khổ ba câu với những hình ảnh thật đẹp, thật lạ như: “lòng như khăn mới thêu”, “lòng như nắng qua đèo”, chỉ đọc một lần là bâng khuâng xao xuyến mãi:

Mười năm xưa đứng bên bờ dậu
Đường xanh hoa muối bay rì rào
Có người lòng như khăn mới thêu

Mười năm sau áo bay đường chiều
Bàn chân trong phố xa lạ nhiều
Có người lòng như nắng qua đèo

Các thi ảnh vừa tươi mới vừa lạ lùng cứ nối tiếp nhau hiện lên trong thơ Trịnh Công Sơn để đẩy tứ thơ đến tận cùng bất ngờ: “Có một dòng sông đã qua đời”. Tại sao dòng sông lại qua đời? Phải chăng, đấy chính là dòng sông biểu tượng cho tình yêu đã cạn!
Trịnh Công Sơn thuộc thế hệ những người mê đắm Thơ Mới, và thể thơ tám chữ mà các thi sĩ của phong trào Thơ Mới đã có công cải hóa và Việt hóa từ thơ Pháp có một nhịp điệu dễ mê hoặc lòng người. Trịnh Công Sơn tiếp thu nhịp điệu này, và chính âm nhạc đã thêm một lần nữa làm thơ tám chữ:

Một lần chợt nghe quê quán tôi xưa
Giọng người gọi tôi nghe (tiếng) rất nhu mì
Lòng thật bình yên mà sao buồn thế
Giật mình nhìn tôi ngồi hát bao giờ
(Bên đời hiu quạnh)

Hoặc dùng lại đúng cái nhịp Thơ Mới vẫn thường dùng, nhưng tinh thần thì đã khác:

Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng
Lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông
Đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng
Em là tôi và tôi cũng là em
(Tôi ơi đừng tuyệt vọng)

Một thi sĩ với rất nhiều cung bậc trong điệu nhạc tâm hồn, Trịnh Công Sơn thả sức bay lượn trong các nhịp thơ tự do đầy phóng túng. Những câu thơ dài ngắn khác nhau cứ tung tẩy trong các bài thơ tự do của anh. Khi thì triết lý: “Tình yêu như trái phá con tim mù lòa”, khi thì lộng lẫy: “Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay”, khi thì trùng điệp: “Bốn mùa thay lá thay hoa thay mãi đời ta”, “Rừng núi dang tay nối liền biển xa – Ta đi, vòng tay lớn mãi để nối sơn hà”, khi thì gập ghềnh mệt mỏi: “Ngựa buông vó/ Người đi chùng chân đã bao lần/ Nửa đêm đó/ Lời ca dạ lan như ngại ngùng/ Vùng u tối/ Loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng”, và có khi nhịp điệu trôi xa như sông bỗng quay về gần gũi như mưa:

Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ
Ôi những dòng sông nhỏ
Lời hẹn thề là những cơn mưa

Dù là phóng túng trong thơ tự do, nhưng vần điệu và ý tưởng lạ và đẹp ở thơ anh giống như chiếc neo thuyền, neo vào lòng người để nó chẳng bao giờ trôi đi vô vọng.
Có lẽ Trịnh Công Sơn là nhà thơ được người ta thuộc nhiều nhất. Điều đó không lạ, bởi thơ anh luôn có sự truyền tải diệu vợi bằng âm nhạc của chính anh. Nhưng cũng có thể nói ngược lại, âm nhạc của Trịnh Công Sơn luôn được thơ nâng cánh. Trong ca từ của anh có rất nhiều những câu thơ thật hay như:

– Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì em, biết không?
Để gió cuốn đi!

– Làm sao em biết bia đá không đau
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau

– Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi

– Mùa xanh lá
Loài sâu ngủ quên trong tóc chiều

– Mây che trên đầu và nắng trên vai
Đôi chân ta đi sông còn ở lại
Con tim yêu thương vô tình chợt gọi
Lại thấy trong ta hiện bóng con người

– Chiều nay em ra phố về
Thấy đời mình là những quán không
Bàn im hơi bên ghế ngồi
Ngày đi đêm tới đã vắng bóng người

– Bàn chân ai rất nhẹ
Tựa hồn những năm xưa

– Áo xưa dù nhầu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau

– Mẹ là nước chứa chan
Trôi giùm con phiền muộn
Cho đời mãi trong lành
Mẹ chìm dưới gian nan

– Hà Nội mùa thu
Cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ
Nằm kề bên nhau
Phố xưa nhà cổ mái ngói thâm nâu

Nhớ đến một người để nhớ mọi người…

Có một tập ca khúc thời trẻ của Trịnh Công Sơn mang tên là Kinh Việt Nam. Phải chăng, trong sâu thẳm lòng mình, anh khao khát sáng tạo ra những bài kinh cầu cho dân tộc, cho tình yêu và cho thân phận? Đây chính là bài kinh cầu bên bờ vực linh hồn cần được cứu rỗi. Những bài kinh ấy chính là những bài thơ còn lại của Trịnh Công Sơn với một niềm yêu tin “gần như là tuyệt vọng” đã vượt lên số phận chia sẻ với đương thời và hậu thế, đấy là lòng tin vào con người khởi nguồn từ dòng cảm xúc tự nhiên, vượt qua cả tôn giáo và định kiến, bởi vì hương thơm đã sẵn đốt trong hồn (chữ của Chế Lan Viên). Cũng với một lòng tin như vậy, tôi xin mạn phép đổi một chữ trong câu thơ của anh để tạm kết thúc bài viết này:
Ngày sau sỏi đá cũng cần có THƠ!

Nguyễn Trọng Tạo
Báo Văn Nghệ 23-08-2002

Một bài thơ hay của Trịnh Công Sơn

Một nhóm những người yêu thơ mời tôi tham gia chọn một chùm những bài thơ tình hay của thế kỷ. Tôi tiến cử một bài, đó là ca từ bài hát “Đêm thấy ta là thác đổ” của Trịnh Công Sơn.

Một đêm bước chân về gác nhỏ
Chợt thấy đoá hoa tường vi
Bàn tay ngắt hoa từ phố nọ
Giờ đây đã quên vườn xưa

Một hôm bước qua thành phố lạ
Thành phố đã đi ngủ trưa
Đời ta có khi tựa lá cỏ
Ngồi hát ca rất tự do

Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà
Từ những phố kia tôi về
Ngày xuân bước chân người rất nhẹ
Mùa xuân đã qua bao giờ

Nhiều đêm thấy ta là thác đổ
Tỉnh ra có khi còn nghe

****

Một hôm bước chân về giữa chợ
Chợt thấy vui như trẻ thơ
Đời ta có khi là đốm lửa
Một hôm nhóm trong vườn khuya

Vườn khuya đoá hoa nào mới nở
Đời ta có ai vừa qua
Nhiều khi thấy trăm nghìn nấm mộ
Tôi thấy quanh đây hồ như

Đời ta hết mang điều mới lạ
Tôi đã sống rất ơ hờ
Lòng tôi có đôi lần khép cửa
Rồi bên vết thương tôi quì

Vì em đã mang lời khấn nhỏ
Bỏ tôi đứng bên đời kia.

Ca từ bài này (tách khỏi nhạc) hoàn toàn đứng được như một bài thơ. Một bài thơ hay.
Đọc bài thơ ta đi vào thế giới mơ mơ của gác nhỏ và đốm lửa, của lá cỏ và lời khấn nhỏ, của đoá hoa mới nở và bước chân người rất nhẹ… Trong thế giới nhỏ nhẹ này có thác đổ. Sự mãnh liệt của tình yêu thường được so sánh với bão táp (Cơn bão tới rồi, tiếng rì rầm nước, lửa…, Maiacopxki). Cơn bão nào rồi cũng tan. Trận bão nào cũng để lại tan hoang, phá phách. Thác đổ cũng mãnh liệt. Nhưng đây là sự mãnh liệt vĩnh cửu và không hề có sự phá phách. Thác đổ là “tình yêu vô cùng”.

Không thể không nói đến không gian thành phố trong bài thơ này.

Một hôm bước qua thành phố lạ
Thành phố đã đi ngủ trưa…

Dễ từ Nguyễn Bính, phố đã vào thơ. Và tiếp theo phố tỉnh là phố huỵện, phố nhỏ, phố buồn, phố cảng, phố núi… Nhưng chưa có thành phố. Trịnh Công Sơn phát hiện chất thơ của thành phố: những giấc mơ và những chiều lộng gió, không gian màu áo bay lên và những con đường nằm nghe nắng mưa… (hẳn là thành phố biết ơn người nghệ sĩ đã dốc hết tinh hoa để nhân loại hoá nó). Đồng thời cảm nhận sâu sắc âm hưởng bi kịch của thành phố “hoang vu” , thành phố “không hồn”.

Vì em đã mang lời khấn nhỏ
Bỏ tôi đứng bên đời kia.

Rất có thể bên đời kia là “sa mạc thành phố”, nỗi ám ảnh không riêng gì của người nghệ sĩ du ca.

Tình yêu không bao giờ cũ và hình như cũng không bao giờ mới. Ấn tượng tính hiện đại trong thơ Trịnh Công Sơn là ở cảm quan thành phố của tác giả.

Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát và nhạc sĩ Văn Cao hết sức coi trọng ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn. Nguyễn Xuân Khoát: “Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra”. Văn Cao: “với những lời,ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ, ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ”. Thơ Việt hiện đại không thể thiếu những bài thơ hay trong ca khúc Trịnh Công Sơn.

“Tài hoa, tinh tuý đã cất cánh từ những ca khúc đầu tay và độc chiếm một đường bay ngoạn mục, sầu muộn của văn chương lãng mạn thế kỷ này” (lời của Kim Ngọc, nhạc sĩ Hà nội trả lời bài phỏng vấn của Hoàng Ngọc Hiến về ca khúc Trịnh Công Sơn).

Hoàng Ngọc Hiến
Báo Người Đẹp Việt Nam số Tết năm 2000

Sự “bình đẳng” trong những tiếng hát Nhạc Trịnh

Những ca khúc Trịnh Công Sơn đã là một phần tuổi trẻ chúng tôi. Thật tự nhiên, bởi vì thế hệ chúng tôi đã cùng cảm nhận và chia sẻ bằng cả trái tim đầy u uẩn của mình những bài hát ấy. Nó là nỗi đau từ bên trong, sâu trong máu thịt, suốt tuổi ấu thơ và tuổi trẻ chiến tranh tang chế. Nó là lời than van, là câu kinh, là tiếng kêu khi con người đớn đau, thống khổ, hoạn nạn… Nó cũng là điều giải tỏa, sự thoát lên, làm nhẹ đi nhiều thứ… Cho dù có thể ta chỉ nghe để đến mà không cần hiểu, không cần lời đáp, không muốn gọi tên.

Tiếng guitar rơi rơi, thống thiết, lời hát như có như không, cứ ngấm vào bên trong người nghe không cần một gắng sức nào. Đó là lời mách bảo, là lối đi không tên ngắn nhất từ trái tim đến trái tim, từ sự huyền nhiệm đến sự mầu nhiệm. Nó đánh thức trong ta điều gì đó chưa bao giờ được gọi dậy, có thể từ vô thức, từ tiền kiếp, mà cũng có thể ở tương lai.

Có vẻ như tình yêu đang lên tiếng. Tình yêu nam – nữ, tình yêu người – người. Gần và xa. Hư huyễn. Sắc không – không sắc. Rất đời, rất chói ngời kề cận nhưng cũng có thể chẳng có gì, chẳng là gì.

“Tình như nắng vội tắt chiều hôm/ tình không xa nhưng không thật gần/ Tình như đá hoài những chờ mong/ Tình vu vơ sao ta muộn phiền/ Tiếng thì thầm từng đêm nhớ lại/ ngỡ chỉ là cơn say/ Đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời/ như một lời chia tay…” (Như một lời chia tay). “Có khi mưa ngoài trời/ là giọt nước mắt em/ Đã nương theo vào đời/ làm từng nỗi ưu phiền/ Ngoài phố mùa đông/ Đôi môi em là đốm lửa hồng/ Ru đời đi nhé/ cho ta nương nhờ lúc thở than/ Chân đi nằng nặng hoang mang/ Ta nghe tịch lặng rơi nhanh/ dưới khe im lìm…” (Ru đời đi nhé).

Thật lạ lùng khi lần đầu tôi nghe những bài hát ấy, trên chuyến xe đang băng băng trên quốc lộ 1, quãng địa đầu tỉnh Phú Yên chỉ núi đồi và cây cỏ. Tiếng guitar quá đầy, rơi từng giọt như mưa nặng hạt. Tiếng hát trầm ấm, thao thiết, tinh tế, như thoát ra từ bên trong một nỗi niềm rất đẹp rất buồn, nhưng lại khiến người ta thấy yêu nỗi buồn ấy thay vì trốn chạy, khước bỏ.

Tất cả nhóm bạn trên xe đều hết sức bất ngờ khi người sở hữu chiếc đĩa CD tự thu cho biết, chủ nhân của giọng hát và tiếng đàn lạ thường ấy không phải ca sĩ, cũng chẳng phải một người bình thường mà là một tu sĩ tuổi bốn mươi, đã xuống tóc từ buổi hoa niên và đang trú trong một ngôi cốc nhỏ ở gần Ngã ba Thành – Ninh Hòa, đường dẫn vào thành phố Nha Trang.

Tôi đã nghe bao nhiêu người hát nhạc Trịnh Công Sơn, cả giọng nam lẫn giọng nữ, cả ca sĩ chuyên nghiệp lẫn người hát bản năng bất chợt…, nhưng hát “đến” được thế này thì đúng là chẳng có bao nhiêu.

Từng có những ca sĩ nổi tiếng hát nhạc Trịnh rất giỏi, nhưng thực ra họ chỉ phô diễn kỹ thuật qua giọng hát nhạc viện điêu luyện của mình chứ chưa hề chạm tới được tâm cảm của người viết nhạc. Khoảng cách giữa nhạc sĩ và ca sĩ vẫn là cả một chiều sâu văn hóa – tâm linh với nhân sinh quan, vũ trụ quan không thể chuyển đổi. Người ta không thể cố “trình diễn” cho hay những bài hát Trịnh Công Sơn, kể cả khi được hỗ trợ bằng những hòa âm phối khí sang trọng hay những danh hiệu phù du.

Nhạc Trịnh Công Sơn dành cho những nỗi buồn có thật, những khoảnh khắc con người tự khám phá mình, tự hiểu về mình, tự biết rõ những giới hạn của chính mình và của chung loài người. Nó thuộc về bản thể nội tại, không phải thứ tô vẽ hời hợt bên ngoài, là những gì thật nhất trong ta chứ không thể vay mượn của ai khác.

Phải chăng đó chính là sự “bình đẳng” của mọi người trước nhạc Trịnh Công Sơn? Sự bình đẳng không khước từ bất cứ ai có giọng hát và tâm hồn bắt được “tần số sóng” của người viết nhạc, để hát như thể chính mình ở trong bài hát. Sự bình đẳng cho phép tiếng hát của một nhà sư cũng “vô tội” như mọi con người thế tục khác trước cái đẹp của âm nhạc và ngôn từ.

Xin cảm ơn một tiếng hát lại nối dài thêm cuộc sống Trịnh Công Sơn.

Theo Ngô Thị Kim Cúc (Thanh Niên)

Nhìn lại những bài hát nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn

Nhân kỷ niệm 17 năm ngày mất Trịnh Công Sơn (1/4/2001 -1/4/2018), cùng điểm lại những điều thú vị nhất xung quanh các ca khúc nổi tiếng của ông.

Cát bụi

Bài hát được bắt nguồn từ một thoáng buồn không nguyên cớ là một đoạn phim, một cuốn truyện chưa ưng ý. Trong hồi ký của Trịnh Công Sơn viết: “Có một cái gì đó thật trùng hợp trong cùng một buổi chiều. Một nỗi buồn hay một điều gì đó gần với sự rời xa ly biệt đang cựa mình thức dậy trong tôi. Tôi lại ra đường tìm một góc quán quen thuộc ngồi. Trên đường trở về nhà, trong đầu bỗng vang lên một tiếng hát. Tôi lặp đi lặp lại nhiều lần trong đầu, hát thành tiếng khe khẽ”.

Biển nhớ

Ca khúc được viết cho Tôn Nữ Bích Khê học trường Sư phạm Quy Nhơn vào hè 1962. “Chúng tôi đã ngồi uống cà phê với nhau dưới mái quán thấp ven biển lợp bằng lá kè. Biển nhớ là cảm hứng từ muôn vàn đợt sóng lấp lánh trong những đêm khuya, Sơn đã kéo cao cổ áo, chợt rùng mình rồi có một ngày sẽ xa những dấu chân trên cát, có còn ‘trời cao níu bước Sơn Khê'”, Đinh Cường chia sẻ.

Diễm xưa

Bài hát do Khánh Ly thể hiện, đã trở thành top hit ở Nhật năm 1970. Ngữ nghĩa của Diễm xưa được Trịnh Công Sơn lý giải: “Diễm là đẹp, xưa là ngày xưa”. Nhân vật được nhắc tới trong ca khúc là nữ sinh Ngô Thị Bích Diễm của Đại học Văn khoa Huế. Nhà Bích Diễm ở bên kia sông qua cầu Phú Cam, rẽ tay phải về phía đường Phan Chu Trinh, hàng ngày cô gái vẫn đi qua nơi Trịnh Công Sơn ở.

“Ngày xưa, cây cầu Phủ Cam tuy ngắn nhưng đầy duyên nợ. Trịnh Công Sơn ở căn gác tầng 2, số nhà 11/03 đường Nguyễn Trường Tộ. Hàng ngày, chàng cứ đứng lấp ló sau cây cột, lén nhìn một người đẹp. Nàng đi bộ từ bên kia sông, qua cầu Phủ Cam, dạo gót hồng dưới hàng long não, ngang qua chỗ Sơn ở là chàng cứ sướng ran cả người. Một tình yêu ‘hương hoa’ kéo dài cho đến cuối đời chàng. Sau này, mỗi một mối tình tiếp theo của Sơn đều có hình ảnh cô gái đó”, giáo sư Bửu Ý nói.

Một cõi đi về

Ca khúc được viết vào khoảng 1974 đầu năm 1975 nhưng từ năm 1980 mới phổ biến. “Đây là một bài hát rất lạ, thực sự không dễ hiểu vì có những câu trong bài hát bản thân tôi cũng thấy khó giải thích. Viết thì viết vậy nhưng để giải thích thật rõ ràng thật khó. Khi tôi gặp không ít người dù họ học ít nhưng họ lại thích, hỏi họ có hiểu không, họ trả lời là không hiểu nhưng cảm nhận được có một cái gì đó ở bên trong. Khi nghe, khi hát lên có một điều gì đó chạm đến trái tim mình. Tôi nghĩ trong nghệ thuật điều quan trọng nhất là làm thế nào để mở ra một con đường ngắn nhất đi từ trái tim đến trái tim của người khác mà không cần cắt nghĩa gì thêm”, Trịnh Công Sơn từng nói.

Hạ trắng

Hạ trắng là một ca khúc trữ tình do Trịnh Công Sơn sáng tác năm 1961 (sau bài Diễm xưa). Bài hát được bắt nguồn cảm xúc từ nỗi ám ảnh của một mùa hè nóng bỏng tại Huế, cộng với một câu truyện về cái chết của cha mẹ một người bạn.

“Sau đó tôi kết hợp giấc mơ hoa trắng mùa hạ với mối tình già keo sơn này như áo xưa dù nhầu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau để viết nên bài Hạ trắng” – trích hồi ký Trịnh Công Sơn.

Nhớ mùa thu Hà Nội

Trịnh Công Sơn kể: “Mình rất yêu Hà Nội. Năm 1985 mình cùng ba đồng nghiệp được Bộ Văn hóa Liên Xô mời thăm Liên Xô, khi trở về, mình ở lại Hà Nội luôn một tháng. Mỗi sáng, mình và Thái Bá Vân đi loanh quanh Hà Nội gặp bạn bè. Chiều nào cả hai cũng lên Hồ Tây, nằm bên hồ với chai Ararat, uống lai rai và nhìn bầy sâm cầm đáp xuống bay lên”.

Nhin lai 9 bai hat noi tieng nhat cua Trinh Cong Son hinh anh 2

Tôi ơi đừng tuyệt vọng

Trên báo Thanh Niên từng viết: “Nhạc sĩ của những bản tình ca Trịnh Công Sơn đã buồn tha thiết khi từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. Dường như trong các ca khúc của anh luôn thấp thoáng những mối tình, khi như nắng như mưa, khi như sương như khói, khi lại hư ảo đến nao lòng. Hiểu tường tận những mối tình ấy, có lẽ là Trịnh Xuân Tịnh, người em từng theo anh đi tận cùng trời cuối đất, rong ruổi trên những nẻo đường giang hồ phiêu bạt.

Anh kể: ‘Hôm ấy, giữa phòng triển lãm tranh, có người con gái tha thướt trong chiếc áo lụa màu ve chai. Một thoáng ngỡ ngàng bởi anh Sơn rất quen. Đôi mắt, đôi môi, nụ cười ấy tỏa sáng và tinh khiết. Khoảnh khắc đó tôi đã thực sự bùng cháy’.

Thế rồi, căn nhà 47C Phạm Ngọc Thạch, quận 1, TP/HCM đã có thêm một dáng người. Không gian, thời gian ở đó chợt tình tứ, rộn ràng. Anh em, bạn bè rất mừng khi hay tin con người suốt mười mấy năm chưa lấy vợ, nay sắp sửa bước vào vườn địa đàng của trần gian. Người đó là á hậu V.A. Từ đó, mỗi sáng, anh Sơn thường ngồi uống một chút gì ở quán cà phê 81 Nguyễn Văn Trỗi cùng bạn bè. Câu chuyện tùy hứng, lúc là chuyện đời, chuyện người, có khi là chuyện tiếu lâm nhưng ít nói chuyện âm nhạc.

Lúc đó, trong anh đang có niềm hạnh phúc thật thanh thản, thật nhẹ nhàng. Người ấy cũng ghiền những món anh thường dùng như cá nục kho khô, thịt luộc, mắm ruốc, tôm chua, canh mít, mồng tơi, mướp đắng.

Những ngày ấy, anh còn mẹ. Bà thương và rất cưng hai người. Bà cũng mong có cháu nội. Đây cũng là lúc anh có dự định cưới vợ mãnh liệt nhất bởi trong anh tình yêu đang là thác đổ. Một ngày, căn phòng đầy ắp cây cọ, bức tranh, sách vở, đàn và rượu đã không còn bóng dáng thanh thanh, dong dỏng của người tình. Người ấy đã ra đi như những dòng sông nhỏ. Cả nhà, bạn bè biết anh buồn lắm. Nỗi buồn không chùng xuống vực sâu mà bay vút lên rằng ‘đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng’.

Dặn dò với lòng mình như thế, nhưng làm sao không đau khi ‘lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông’, làm sao khỏi hoang mang khi trước đó ’em là tôi và tôi cũng là em’, còn giờ ‘tôi là ai, là ai, là ai!’. Anh ngồi đó, nhìn nắng tàn phai như một nỗi đời riêng. Với người tình, anh vẫn độ lượng ’em hồn nhiên, rồi em sẽ bình minh’. Có thể ở một nơi nào đó, có người đang thầm thì ‘đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng…'”.

Như cánh vạc bay

Nhân vật của Như cánh vạc bay là một cô gái Huế đã định cư ở nơi xa. Không được ở bên nhau, sống với nhau, anh vẫn luôn mong người ấy hạnh phúc, dù anh âm thầm đau khổ: “Ta nghe từng giọt lệ. Rớt xuống thành hồ nước long lanh” – trích lời Trần Long ẩn.

“Người con gái trong bài là một thiếu nữ tên P.T.L, người gầy và cao, rất đẹp, sinh trưởng trong một gia đình nề nếp, gia phong nổi tiếng. Sau này cô cư ngụ tại Ottawa và từng gặp lại Trịnh Công Sơn trong dịp anh sang Montréal thăm gia đình lần duy nhất vào dịp Phục Sinh năm 1992” – trích Trường Kỳ.

Có rất nhiều giai nhân bước qua cuộc đời của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn nhưng cô gái Huế Dao Ánh luôn chiếm một vị trí đặc biệt. Bà chính là nguồn cảm hứng để ông viết nên những ca khúc nổi tiếng như Còn tuổi nào cho em, Lặng lẽ nơi này, Mưa hồng, Tuổi đá buồn…

Nhin lai 9 bai hat noi tieng nhat cua Trinh Cong Son hinh anh 3

Theo chia sẻ của bà Trịnh Vĩnh Trinh – em gái của Trịnh Công Sơn – thì Dao Ánh là “người gốc Bắc, đẹp, cao, duyên dáng, sang trọng và tính tình rất dịu dàng. Chị không thích ồn ào, không thích đám đông và sống nội tâm, kín đáo, rất hợp với anh Sơn”.

Dao Ánh là em gái của Ngô Vũ Bích Diễm – nhân vật chính trong ca khúc Diễm xưa. Khi mối tình Trịnh – Diễm không thành, Dao Ánh đã viết thư động viên Trịnh Công Sơn. Tình cảm chân thành của cô gái 15 tuổi đã khiến cho chàng nhạc sỹ 24 tuổi rung động. Trịnh Công Sơn đã viết thư lại và đó là khởi đầu cho một mối tình kéo dài gần 4 năm giữa họ (từ 1964 – 1967)

Khi yêu nhau, Dao Ánh còn đang là cô nữ sinh của trường Đồng Khánh còn Trịnh Công Sơn vừa mới tốt nghiệp trường Sư phạm Quy Nhơn và đang giảng dạy tại thành phố B’lao (nay là Bảo Lộc – Lâm Đồng). Trong thời gian này, Trịnh Công Sơn đã gửi khoảng 300 trăm bức thư tình gửi cho Dao Ánh. Những bức thư tình này lần đầu được công bố vào năm 2013 trong cuốn sách Thư tình gửi một người mà gia đình Trịnh Công Sơn thực hiện nhân kỷ niệm 10 ngày mất của ông.

Trong những bức thư gửi cho Dao Ánh, Trịnh Công Sơn luôn thể hiện nỗi nhớ thương da diết dành cho người yêu bé nhỏ: “Anh nhớ Ánh, nhớ Ánh , nhớ Ánh mà không nói được với ai. Như tiếng kêu của một loài kiến nhỏ. Làm thế nào Ánh nghe thấy… Ánh ơi, Ánh ơi, Ánh ơi, Ánh trở về buổi trưa mắt buồn, áo trắng… Rất mong thư Ánh mỗi ngày mỗi giờ mỗi tháng mỗi năm…” (trích bức thư Trịnh Công Sơn gửi cho Dao Ánh ngày 16/2/1965).

“Anh bây giờ đang có một điều cần nhất là: Yêu Ánh vô cùng. Anh đang nhớ lắm đây. Tình yêu đó bỗng đổi dạng như một phép lạ…” (thư gửi ngày 16/9/1966).

Cũng giống như những mối tình khác, Trịnh Công Sơn và Dao Ánh cũng có những khoảng thời gian giận hờn, trách móc. Dao Ánh đã từng dùng lời một bài hát tiếng Pháp để gửi cho Trịnh: “Em sẽ đợi giông tố và gió mưa về để khóc. Em mãi yêu anh nhưng anh chẳng màng gì tới nỗi buồn của em. Và em sẽ khóc dưới mưa đây”.

Khi nhận lời trách móc đầy yêu thương của người tình bé nhỏ, nhạc sỹ Trịnh Công Sơn cũng trích dẫn một câu nói tiếng Pháp trong cuốn Khung cửa hẹp của Andre Gide: “Ngày ngày ngọn gió đời vẫn thổi nhưng chưa bao giờ thổi tắt được tình yêu”.

Tuy vậy, sau gần 4 năm gắn bó, Trịnh Công Sơn biết rằng không thể cho Dao Ánh cái cô muốn là một mái ấm gia đình nên ông chủ động chia tay và nhận hết tội lỗi về mình. Trong bức thư chia tay, vị nhạc sỹ họ Trịnh viết: “Anh xin cảm ơn bốn năm ròng rã nâng niu tình yêu đó. Cũng xin cảm ơn những buổi đợi chờ thật dịu dàng không bao giờ còn có được…”

Sau cuộc tình đẹp nhưng cũng đầy xót xa với Trịnh Công Sơn, Dao Ánh đã sang Mỹ và lập gia đình. Bà vẫn giữ liên lạc với gia đình người nhạc sỹ này. Vào năm 1989, khi Trịnh Công Sơn đã bước sang tuổi 50 tuổi, ông viết thư gửi người tình cũ với những lời trách nhẹ: “Dao Ánh ơi, lâu lắm mới viết lại tên Ánh trên tờ thư (…) Anh nhớ Ánh như những ngày xưa (…) Những kỷ niệm xưa đã nằm trong những bài hát của anh. Ánh thì chẳng giữ lại gì cả. Thế mà cũng hay. Hãy để một người khác giữ và mình thì đã lãng quên hoặc nhớ trên một văn bản không bao giờ có thực”.

Tuy nhiên, trái ngược với suy đoán của Trịnh Công Sơn, Dao Ánh vẫn giữ từng bức thư mà ông gửi, giữ lại cả những bông lau trên đồi B’lao, những bông hồng còn e ấp mà 45 năm trước Trịnh Công Sơn đã ép và gửi tặng bà.

Vào năm 1993, Dao Ánh trở về Việt Nam và tìm gặp lại người cũ. Trịnh Công Sơn cũng đã viết ca khúc Xin trả nợ người để tặng bà. Sau cuộc tái ngộ này, Dao Ánh đã ly dị chồng.

Những ngày cuối đời nhạc sỹ Trịnh Công Sơn bị ốm nặng, Dao Ánh cũng trở về Việt Nam chăm sóc ông. Bà cũng đã gửi tặng lại gia đình nhạc sỹ này hơn 300 bức thư tình mà ông đã gửi cho bà thuở còn yêu nhau.

Theo Giáo dục, khampha