Vĩnh biệt ca sĩ Đoàn Chính – Trưởng nam của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn

Ca sĩ Đoàn Chính là con trai trưởng của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, vừa qua đời ở thành phố Montreal, Canada vào ngày 10 tháng 9 năm 2019, hưởng thọ 74 tuổi. Người chị cả Phương Mai và người em trai út Đoàn Nghiêm của ông cũng đã qua đời trước đây.

Những người em của ca sĩ Đoàn Chính còn lại là nhạc sĩ Hạ Uy Cầm Đoàn Đính, Đoàn Liêm và người em gái Phương Nga.

Đoàn Chính sinh năm 1945, học nhạc với tài tử Ngọc Bảo ở Hà Nội và có một giọng ca tenor thiên phú. Sau khi nhập ngũ, vào chiê’n trường miền Nam (đi B), ông đã quyết định ở lại luôn ở Sài Gòn năm 1968. Từ đó, khán giả miền Nam đã được nghe tiếng hát của Đoàn Chính trên các đài phát thanh và truyền hình Sài Gòn. Trong thời gian này, ông cũng dạy âm nhạc tại Đại Học Minh Đức và Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn. Năm 1972, Đoàn Chính kết hôn với Mộng Hương, ái nữ một người bạn của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn ở Sài Gòn. Sau 1975, vợ chồng của ông đã định cư tại Canada cho đến nay.

Gia đình Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn bên trái và 3 người con thời ấy: Đoàn Đính, Đoàn Chính, Phương Mai (chụp với gia đình người anh ruột của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn phía bên phải).

Sinh sau một người chị, Đoàn Chính là trưởng nam trong gia đình có 6 người con của cố nhạc sĩ nổi tiếng Đoàn Chuẩn. Đoàn Chính sinh ngày 27 tháng 8 năm 1945 tại Hải Phòng, được cha mẹ đưa lên Hà Nội khi đến tuổi đi học. Làm quen với âm nhạc lúc bắt đầu vào bậc trung học, Đoàn Chính theo học tải tử Ngọc Bảo. Năm lớp 8, ông gia nhập Hợp Xướng của đoàn thanh niên Hà Nội. Sau hiệp định Geneve năm 1954, cả gia đình nhạc sĩ Đoàn Chuẩn ở lại để chờ đoàn tụ cùng người anh trai đi theo kháng chiê’n nên không di cư vào Nam.

Năm 1964, Đoàn Chính tốt nghiệp phổ thông nhưng không được tiếp tục học vì lý lịch con nhà tư sản, phải đi lao động kinh tế ở công trường Phú Thọ. Cũng tại đây, năm 1966, Đoàn Chính theo học về điện, đang tiếp tục làm việc thì nhận giấy báo gọi nhập ngũ năm 1967.

Sau năm 1968, khi quyết định ở lại Sài Gòn, ngoài việc dạy âm nhạc tại Đại Học Minh Đức và trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, Đoàn Chính còn cộng tác với các chương trình của đài phát thanh Sài Gòn, đài Mẹ Việt Nam và đài truyền hình Việt Nam. Cùng trong những ngày tháng này, Đoàn Chính được một người bạn cũ của cha là nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, đã di cư vào Nam trước đó, đến thăm, đưa về nhà chơi để rồi duyên gặp gỡ nảy mầm tình yêu với người con gái của ông cụ. Sau những ngày tháng quen biết, tìm hiểu, năm 1972, Đoàn Chính kết hôn cùng người bạn đời của mình là Mộng Hương.

Ông bà Đoàn Chính có 3 người con, 2 gái, 1 trai đều đã thành danh ở Canada. Măm 1990, gia đình Đoàn Chính đã có cơ hội đón cha mẹ là ông bà Đoàn Chuẩn sang chơi 3 tháng qua giấy xin phép của một người em.

Nguồn: thoibao, jimmy Nhựt Hà

Cựu binh Mỹ thực hiện lời hứa 50 năm với bạn gái Việt

Ngày chia tay năm 1969, Ken mua 50 bì thư và hứa khi Lan viết hết cái cuối cùng ông sẽ quay lại Việt Nam, nhưng rồi không thể.

Những ngày cuối tháng 8, ông Ken Ressing, ở quận Medina, bang Ohio, Mỹ, vừa bận rộn với việc nhà cửa vừa lo chuẩn bị mọi thứ cho chuyến thăm Việt Nam trong tâm trạng khó tả.

“Tôi không ngủ được, cũng không muốn ăn”, người đàn ông 71 tuổi chia sẻ với VnExpress về nỗi háo hức. “Thật tuyệt vời! Chỉ ít ngày nữa tôi sẽ có mặt ở Việt Nam để hoàn thành lời hứa của mình sao?”

Chuyến đi này sẽ là lần trở lại Việt Nam đầu tiên của ông Ken sau 50 năm kể từ ngày về Mỹ. Nhưng nó còn có một ý nghĩa đặc biệt hơn nữa, bởi đó là chuyến đi để ông thực hiện lời hứa với mối tình đầu của mình, Thúy Lan, rằng sẽ quay lại Việt Nam để gặp bà.

Ông Ken Reesing, 71 tuổi, hiện sống ở bang Ohio, Mỹ.

Tháng 12/1968, hai năm sau khi nhập ngũ, ông Ken được điều tới Việt Nam làm việc ở trung tâm dịch vụ dữ liệu của quân đội Mỹ đóng tại căn cứ Long Bình, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Tối tối, ông thường đi bộ tới quán bar EM Club (Enlisted Men’s Club) trong khuôn viên doanh trại, nơi có phòng trò chơi, quầy nước và một sân khấu nhỏ để thư giãn. Đó là nơi chàng lính Mỹ 22 tuổi đã gặp Lan vào một ngày sát Tết năm 1969 và say mê cô ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Nhắm mắt lại, ông Ken vẫn nhớ rõ ngày ấy như mới hôm qua. “Tôi chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ gì giống như cô ấy. Mái tóc đen dài óng ả, nét mặt với nước da ngăm tuyệt đẹp và một nụ cười quyến rũ nhất mà bạn có thể tưởng tượng được”, ông kể.

Lan phục vụ đồ uống ở một quầy nhỏ trong góc quán bar và sau khi phát hiện ra cô, ông không thể rời mắt khỏi người con gái này nhưng luôn cố gắng để không bị cô bắt gặp đang nhìn trộm. Sau đêm ấy, Ken ngồi sát hơn chỗ Lan, dù đây là vị trí cách xa sân khấu và chẳng ai thích ngồi. Từ đó, ông chỉ cần đánh mắt sang trái một chút là thấy cô, với nụ cười luôn nở trên môi. Thi thoảng, Ken ngắm Lan khá lâu và cô cũng nhìn lại rồi cười. Hai người dần dần bắt chuyện và trở thành một cặp.

Giữa những chàng trai luôn cố gắng thu hút sự chú ý của cô gái người Việt, Ken cảm thấy may mắn khi ông được cô để mắt tới. “Tôi tự hỏi sao mình lại không nhìn thấy cô ấy trước đó. Tôi yêu mái tóc dài ấy thật nhiều”, ông nói.

Tình yêu của họ là những cuộc hẹn hò vào cuối tuần ở gần doanh trại của Ken sau khi Lan đi nhà thờ hay nấu bữa trưa cùng bạn bè. Ken không thể ra khỏi doanh trại buổi tối và Lan cũng không được phép vào bên trong khu vực quân đội, vì thế họ chỉ quan tâm làm thế nào để ở bên nhau thật nhiều.

Bà Thúy Lan khi còn là nhân viên tại EM Club ở Đồng Nai năm 1969

Ken và Lan thậm chí không biết sinh nhật của người kia là ngày nào, gia cảnh ra sao. Đôi khi họ chỉ gặp nhau và chẳng nói gì nhưng vẫn cảm nhận được một thứ cảm xúc ngọt ngào đang tan chảy bên trong mình. Ken cứ nghĩ rằng hai người còn nhiều thời gian để trò chuyện, cho đến khi ông nhận được lệnh rời quân ngũ sớm để quay lại trường đại học.

“Theo kế hoạch, tôi sẽ rời Việt Nam về Mỹ vào tháng 9/1969, sớm trước thời hạn 3 tháng”, ông nói. “Vì Lan mà khi tháng 9 càng cận kề, tôi càng ước mình không phải làm điều đó”, ông nói.

Những ngày chủ nhật trôi qua căng thẳng hơn, hai người trở nên kiệm lời và dành thời gian cho những cái ôm. Ken cố gắng quan tâm Lan nhiều hơn và họ đều hy vọng sẽ sớm gặp lại nhau. Có một ngày, Ken đã hỏi bạn gái rằng cô có muốn rời Việt Nam hay không. Cô lắc đầu. Đó là lần duy nhất ông hỏi câu này.

“Tôi nghĩ những cuộc trò chuyện cuối cùng của chúng tôi sẽ khác nếu cô ấy trả lời là ‘có’ “, Ken nói. “Tôi đã nghĩ đến việc sẽ tuyệt vời như thế nào nếu mình cưới cô ấy, nhưng tôi đã không hỏi. Tôi cứ nghĩ rằng sẽ không phải chờ quá lâu để gặp lại nhau”.

Một ngày trước cuộc gặp cuối cùng của đôi tình nhân, Ken đến bưu điện mua một hộp bì thư và đánh số từ 1-50 ở góc trái bên dưới, sau đó cất chúng lại vào hộp. Ông trao nó cho Lan và bảo rằng khi nào cô gửi cho ông lá thư cuối cùng trong số này, đó là lúc ông trên đường trở lại tìm cô.

“Tôi đã hứa”, Ken nói. “Ngày hôm ấy khá khó khăn đối với tôi. Tôi nhớ mình đã ôm cô ấy chặt nhất có thể. Tôi hôn cô ấy, sau đó lại cố ôm cô ấy chặt hơn nữa. Tôi nghe thấy tiếng cô ấy thì thầm vào tai mình bằng tiếng Việt. Đến bây giờ nhắm mắt lại, tôi vẫn có thể nghe thấy những lời thì thầm ấy”.

Khoảnh khắc đó in sâu vào tâm trí của Ken suốt 50 năm qua, dù ông chưa bao giờ hiểu Lan nói gì. Cho tới cách đây vài tháng, Ken mới biết đến công cụ dịch lời nói của Google và kinh ngạc khi biết ngày ấy, cô gái Việt Nam đã thì thầm gì với mình. Tuy nhiên, ông từ chối tiết lộ điều này.

Những lá thư trở thành cầu nối duy nhất giữa hai người yêu nhau cách nửa vòng Trái đất suốt một năm sau đó. Khi mua 50 bì thư, Ken đã nghĩ rằng Lan sẽ viết thư khoảng một tuần một lần nhưng hóa ra, ngày nào cô cũng viết. Trước khi năm 1969 kết thúc, số bì thư đã không còn cái nào nhưng Lan vẫn tiếp tục viết.

Một lá thư bà Lan viết gửi ông Ken

Mỗi cuối tuần, từ trường trở về nhà, Ken lại nhận những lá thư được gửi từ phương xa thông qua một người bạn đóng quân ở Việt Nam. “Khoảng thời gian ấy đối với tôi vừa hạnh phúc lại vừa lo lắng”, ông nói.

Ken đã cân nhắc đến việc tái nhập ngũ nhưng không có gì đảm bảo rằng ông sẽ được quay lại Việt Nam trong bối cảnh quân đội Mỹ đang rục rịch rút quân. Ông muốn kể cho mọi người nghe về Lan nhưng không ai muốn biết gì thêm về Việt Nam nữa. Báo chí Mỹ liên tục đưa tin về cuộc chiến và đều là những thông tin đáng buồn.

“Không ai muốn tôi trở lại, nhất là cha tôi. Mọi người ở Mỹ phản đối gay gắt cuộc chiến này và họ thù ghét những người lính trở về từ Việt Nam”, Ken kể. “Lời hứa với Lan đè nặng lên tâm trí tôi nhưng việc quay trở lại vô cùng khó khăn”.

Khi cuộc chiến tranh dần đi đến hồi kết, quân đội Mỹ vội vã rút khỏi miền nam Việt Nam, căn cứ Long Bình cũng biến mất và hai người không còn liên lạc với nhau nữa. Ken đã gửi vài bức thư trực tiếp tới EM Club nhưng không nhận được phản hồi.

“Tôi đã thất hứa và việc này gần như khiến tôi tan nát. Tôi thật ngu ngốc. Không còn cách nào cả”, Ken nói.

Ken Reesing sau khi trở về Mỹ năm 1969. 

Từ năm 1973 đến nay, Ken vẫn không ngừng lo lắng về Lan. Ông thực sự không dám nghĩ cô sống sót qua cuộc chiến tranh nhưng luôn giữ chút hy vọng nhỏ nhoi bởi “cô ấy còn trẻ, xinh đẹp, chăm chỉ và đầy sức sống”.

Ken vẫn cố gắng tìm hỏi thông tin về Lan nhưng sau năm 2000, khi mạng Internet phát triển mạnh, ông mới thực sự đẩy mạnh cuộc tìm kiếm. Ken từng thuê các công ty, trong đó có một công ty quốc tế với chi nhánh tại Sài Gòn, tìm kiếm Lan.

Trong quá trình này, Ken cũng vô tình quen một người sống ở Biên Hoà qua mạng và được người này giúp đỡ tìm kiếm Lan suốt hai năm bằng các cuộc điện thoại, thậm chí những chuyến đi tới Long Bình, nhưng không có kết quả.

Việc tìm kiếm diễn ra trong bí mật bởi Ken không muốn gây ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của Lan. “Tôi chỉ muốn an tâm rằng người bạn gái năm nào vẫn mạnh khỏe và an toàn”, ông nói.

Ken luôn hối hận khi ngày đó đã không hỏi bất cứ thông tin gì để sau này có thể tìm ra Lan dễ dàng hơn, như địa chỉ cụ thể của cô ở Biên Hòa. Ông cũng không rõ họ của cô chính xác là Võ Thị hay Vũ Thị.

Một ngày đầu tháng 6, Robert, một người con lai đang sống ở Sài Gòn, bất ngờ liên lạc với ông Ken qua một nhóm cựu binh Mỹ trên mạng, sau khi biết ông đang tìm kiếm một phụ nữ Việt Nam thất lạc trong chiến tranh. Sau một lúc trò chuyện và tìm hiểu thông tin giữa hai bên, ông Ken đồng ý gửi những bức ảnh của Lan cho Robert. Chỉ hai ngày sau, ông và Lan lần đầu trò chuyện với nhau qua điện thoại.

“Khi nghe Robert nói rằng cậu ấy đã tìm thấy Lan, tôi không thể tin nổi”, ông Ken kể. “Robert đã làm việc ấy quá nhanh và hiệu quả”.

Robert cho hay để tìm kiếm người phụ nữ tên là Thúy Lan, anh đã đăng thông tin mà ông Ken cung cấp kèm ảnh lên một nhóm người Đồng Nai trên Facebook và nhờ sức lan truyền của mạng xã hội, chỉ trong chưa đầy một ngày, họ đã giúp tìm ra người con gái năm xưa.

Tấm ảnh cũ của bà Thúy Lan được ông Ken nhờ đăng tìm trên facebook

Ngày 9/6, Robert tìm về địa chỉ của bà Thúy Lan ở phường Thanh Bình, thành phố Biên Hòa, để xác minh. Theo lời dặn của ông Ken, Robert cẩn trọng đặt ra cho người phụ nữ này một số câu hỏi vừa để đảm bảo đó là bà Lan, vừa không gây tổn thương cho bất kỳ ai liên quan.

Khi người phụ nữ đã 67 tuổi không trả lời đúng bất kỳ câu hỏi nào, Robert và Ken đã rất thất vọng và nghĩ họ tìm nhầm người. Sau đó, Robert gửi cho Ken xem bức ảnh thời trẻ mà bà Lan cung cấp, còn bà đề nghị ông cho xem một bức ảnh nào đó chụp ở căn cứ Long Bình.

Ken vội vã đi tìm và chỉ có duy nhất một bức ảnh chụp cùng đồng đội năm 1969. Bà Lan lập tức nhận ra người bạn trai cũ trong bức ảnh nhưng cho hay chưa bao giờ thấy bộ đồng phục mà ông mặc.

“Đó chính là Lan, không nghi ngờ gì nữa”, Ken nói. “Cô ấy không trả lời được câu hỏi nào vì không còn nhớ gì. Nhưng bức ảnh của cô ấy, cùng với việc cô ấy không biết bộ quân phục của tôi vì tôi chưa bao giờ mặc bộ đồ này đi gặp cô ấy, thế là đủ”.

Bà Thúy Lan hiện nay.

Ken như trút bỏ được tảng đá đè nặng lên trái tim suốt 50 năm qua. Ông ước mình có thể diễn tả cảm xúc này thành lời. Robert cho hay khi được anh kết nối để nói chuyện với bà Lan, ông Ken đã rất xúc động và câu đầu tiên ông nói là “xin lỗi vì đã không giữ lời hứa”.

Trải qua một cuộc hôn nhân ngắn ngủi và không có con cái, ông Ken lựa chọn cuộc sống độc thân cùng một chú mèo trong ngôi nhà ở ngoại ô Ohio rộng hơn 700 m2 và thi thoảng hội hè cùng bạn bè. Sau khi câu chuyện về ông và bà Lan được báo chí đăng tải, cuộc sống của ông trở nên sôi động hơn với hàng chục lời mời kết bạn trên Facebook từ Việt Nam.

Những gì nhìn thấy qua Internet khiến ông sửng sốt bởi hoàn toàn khác so với một Việt Nam mà ông từng biết vào năm 1969. Ken đang vô cùng háo hức chờ tới ngày 12/9 tới để được quay lại đất nước này, và người con gái ông từng thương nhớ sẽ ra đón ông ở sân bay.

Cũng trải qua một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, mấy chục năm nay bà Lan một mình mở quán cháo trắng nuôi con gái ăn học. Mối tình xưa đã lui vào dĩ vãng nên bà rất sửng sốt khi biết có người đàn ông Mỹ tìm mình.

Lần này quay lại Việt Nam, ngoài trở về căn cứ Long Bình năm xưa, ông Ken cũng muốn dành thời gian gặp gỡ cả gia đình bà Lan và phụ giúp công việc bán hàng với bà. Có một điều mà đến bây giờ Ken cũng mới biết đó là bà tên thật là Vũ Thị Vinh, còn Thúy Lan chỉ là tên mà bà tự đặt.

“Lúc chia sẻ câu chuyện về Lan, tôi đã từ bỏ ý nghĩ rằng cô ấy còn sống và dự định sẽ quay lại Long Bình một mình để hoàn thành lời hứa. Tôi nghĩ mình sẽ về thăm một ngôi mộ”, cựu binh Mỹ nói. “Thế nhưng cô ấy vẫn còn sống và đến bây giờ vẫn giữ nụ cười tuyệt vời ấy”.

Sau tất cả những cung bậc cảm xúc đã trải qua trong đời, Ken muốn mượn lời một bài hát “Loving her was easier than anything I’ll ever do again” …của ca sĩ người Mỹ Kris Kristofferson, bài hát luôn gợi nhắc ông về mối tình 50 năm trước.

“Yêu Lan dễ dàng hơn bất cứ điều gì tôi từng làm”, ông Ken nói.

Theo Anh Ngọc (VnExpress.net)

Hôm nay Tôi Đi Học

Tôi Đi Học là khúc ca cảm xúc trong trẻo của ngày đầu đến trường. Tác giả Thanh Tịnh đã viết một cách sâu sắc từng cung bậc cảm xúc, từng dòng chảy cảm xúc cứ len lỏi, nhẹ nhàng lan tỏa bồi hồi, bỡ ngỡ, rạo rực… trên từng dòng chữ…

Bao nhiêu năm qua, truyện ngắn Tôi Đi Học của Thanh Tịnh luôn gợi lại nỗi niềm không thể gọi thành tên đối với tất cả những ai đã từng có những bước chập chững đầu tiên trên con đường đến lớp.

Mời bạn đọc lại toàn vẹn Tôi Đi Học của Thanh Tịnh được viết từ gần 80 năm trước:

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa.

Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn.

Dọc đường tôi thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng chì ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước o sách vở thiệt nhiều lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết.

Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi:

– Mẹ đưa bút thước cho con cầm.

Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm:

– Thôi để mẹ nắm cũng được.

Tôi có ngay cái ý kiến vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước.

Ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi.

Trước sân trường làng Mỹ Lý đầy đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa.

Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé trường một lần.

Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng gì khác là nhà trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng.

Nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ.

Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bở ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nữa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ.

Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Chung quanh những cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa. Vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả banh tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp.

Ông đốc trường Mỹ Lý cho gọi mấy cậu học trò mới đứng lên trước lớp ba. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông đọc tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đang đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ:

– Thế là các em đã vào lớp năm. Các em phải cố gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy chúng em được sung sướng. Các em đã nghe chưa? (Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có tiếng dạ rang của phụ huynh đáp lại).

Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút giây này chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy đã lúng túng chúng tôi càng lúng túng hơn.

Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói:

– Thôi, các em đứng đây sắp hàng để vào lớp học.

Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước. Nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cáng tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp. Các cậu lủng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi.

Ông đốc nhẫn nại chờ chúng tôi.

– Các em đừng khóc. Trưa này các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai các em lại được nghỉ cả ngày nữa.

Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt hiền từ, đang đón chúng tôi vào cửa lớp. Trong thời thơ ấu tôi chưa bao giờ xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ vì có nhũng hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lệ Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết.

Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá đến tôi cũng không dám tin là có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao.

Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa bay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi.

Nhưng những tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc:

Bài tập viết: Tôi đi học!

Thanh Tịnh

Câu chuyện cảm động về lời hứa 40 năm của người lính Mỹ với 1 em bé Hội An

Phil Seymour là trung sĩ của Đại đội C, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn TQLC, Sư đoàn TQLC 1 của Hoa Kỳ, ông đến Việt Nam vào tháng 12 năm 1966 và đã bị thương chỉ 1 tháng sau đó.

Căn cứ Mỹ, nơi Phil đóng quân

Tháng 6 năm 1967, Phil đóng quân ở một đảo nhỏ gần Hội An – Đà Nẵng, nhưng thường xuyên vào đất liền và tham quan ở Hội An. Trong những chuyến đi như vậy, Phil thường mang theo một chú chó nhỏ đằng sau balo của mình. Chú chó này tên là Boot, được ông cứu trong một lần hành quân ở trong rừng. Lúc đó Boot còn chưa dứt sữa.

Phil cõng chó Boot trên lưng

Mỗi khi Phil và đồng đội chèo thuyền ghé vào đất liền, những đứa trẻ trong làng chạy ùa tới để hỏi xin các loại “đồ Mỹ” như kẹo, đồ hộp và cả thuốc lá. Thường thì toán lính Mỹ này sẽ chia cho bọn trẻ những thứ này trong khẩu phần của họ.

Trong số những đứa trẻ đó có một người tên Cam (có thể là Cẩm, Cầm…), luôn mặc đồ ngủ màu xanh và đi chân không. Cam không nhao nhao lên như những đứa trẻ khác mà đứng lùi về sau một chút. Ban đầu toán lính Mỹ tưởng Cam nhút nhát, tuy nhiên sau đó họ mới nhận ra là Cam rất khôn ngoan: Cậu không đến xin bằng tay không, mà mang đến những thực phẩm địa phương như dừa, chuối, chanh… để trao đổi. Vì vậy Cam rất được lính Mỹ yêu mến.

Phil và Cam năm 1967

Một ngày của tháng 6 năm 1967, cậu bé Cam – 9 tuổi – tặng một quả chuối cho Phil. Trung sĩ Phil Seymour lúc này chuẩn bị rời vùng đất miền Trung này để đi nghỉ 1 tuần ở Thái Lan. Phil hỏi Cam rằng cậu muốn ông tặng quà gì. Thật ra một cậu bé nghèo ở làng quê heo hút này không thể biết là Thái Lan là ở đâu, có món gì để mà đòi hỏi. Cậu cũng không nói tiếng Anh được tốt lắm, suy nghĩ 1 chút rồi cậu chỉ vào cái đồng hồ mà Phil đang đeo. Trung sĩ Phil đồng ý.

Khi ở Thái Lan, Phil quên bén mất lời hứa về cái đồng hồ. Thật ra một anh lính đi du lịch nghỉ phép thì chỉ nghĩ đến việc ăn chơi, không có nhu cầu đi mua sắm. Hết kỳ nghỉ phép, trở lại Hội An, rồi gặp lại Cam, ông mới chợt nhớ tới vụ cái đồng hồ. Khi thấy Phil về, Cam chạy ùa tới, hớn hở.

Nhưng không có cái đồng hồ nào cả.

Ngay sau đó, đơn vị của Phil rời vùng đất này để về vùng phi quân sự, rồi đến tháng 1 năm 1968 thì ông rời Việt Nam.

Phil cho biết rằng cuộc sống của ông rất bình lặng, không có nhiều thứ làm ông hối tiếc, ngoại trừ lời hứa không thực hiện được với một cậu bé ở vùng quê nghèo miền Trung Việt Nam này. Đó thực sự là niềm hối hận lớn nhất trong đời của ông. Ông cũng đã từng nghĩ rằng sẽ phải mang niềm ân hận này theo cho đến khi lìa đời.

Phil Seymour là một người gốc Brookline, Massachusetts, ở trong quân ngũ thêm 27 năm, sau đó lấy bằng Master về luật và trở thành luật sư ở Lầu Năm Góc, sau đó là trưởng công tố viên trước khi nghỉ hưu năm 1995. Ông đã nghĩ rằng mình không thể trở lại Việt Nam một lần nào nữa.

Tuy nhiên vào năm 2007, vợ của Phil là Lynne cho ông biết là nhóm du lịch chung mà ông bà thường tham gia sẽ có một chuyến đến vùng Đông Nam Á và có dừng chân ở Hội An. Bà Lynne nói ông cân nhắc việc tham gia chuyến đi này, cũng là cơ hội để tìm lại Cam và thực hiện lời hứa 40 năm trước đó.

Đến khi ông Phil quay trở lại thì Hội An đã trở thành một thành phố du lịch nổi tiếng, được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vì kiến trúc của nó hầu như không thay đổi so với thời điểm thành lập hồi thế kỷ 15, là nơi giao thương nhộn nhịp của người Việt với người Hoa, Nhật và Châu Âu sau này.

Phil nghĩ rằng cơ hội để tìm lại được Cam gần như là số 0. Không thể biết được rằng Cam có thể sống sót qua được chiến tranh hay không, vì vùng đất này xưa kia rất ác liệt. Tuy nhiên Phil vẫn mang theo một cái đồng hồ trong chuyến du lịch này.

Hướng dẫn viên đoàn du lịch của Phil là một người Hà Nội, nói rằng anh biết rất nhiều người ở Hội An nên sẽ giúp tìm Cam. Thật bất ngờ là sau ngần ấy năm, ông Phil vẫn còn giữ một số tấm hình gia đình của Cam để có thể mang đi hỏi thăm.

Sau khi đến Hội An, nhận phòng khách sạn xong thì cũng là lúc anh hướng dẫn viên người Việt gọi Phil xuống và qua bên kia đường. Không biết bằng cách nào, người hướng dẫn viên này đã tìm được một người đàn ông đội nón màu xanh, người này nhìn tấm ảnh của Phil và nói trong hình là cha của anh chụp chung với 3 người con, người con trai út trong hình chính là người đội nón xanh này, và Cam chính là anh trai của anh. Ngay lúc đó, anh điện thoại để gọi Cam tới.

Phil lật đật chạy lên phòng khách sạn để lấy máy ảnh và đồng hồ, rồi chạy ngay xuống. Ngay khi băng lại qua đường, Phil cũng vừa thấy Cam tới, lúc này Cam đã là một người đàn ông 49 tuổi, làm nghề thợ mộc.

Hướng dẫn viên giải thích cho Cam hiểu câu chuyện. Anh ngơ ngác, không thể hiểu được rằng có người vừa đi nửa vòng trái đất chỉ để gặp anh và đưa chiếc đồng hồ.

Hướng dẫn viên chỉ ông Phil rồi hỏi Cam là có nhớ người đàn ông này không, Cam trả lời: “Có, ổng thường cõng con chó nhỏ trên lưng”. Hướng dẫn viên hỏi về lời hứa chiếc đồng hồ 40 năm trước, Cam trả lời: “Có, lúc đó tui mới 9 tuổi, nói tiếng Mỹ bập bẹ, nên nghĩ rằng đã có sự hiểu lầm nào đó”.

Ông Phil và hướng dẫn viên đã giải thích cho Cam hiểu là không có sự hiểu lầm nào cả, chỉ là do Phil đã thất hứa.

Phil đưa cho Cam chiếc đồng hồ. Anh Cam rơi nước mắt. Họ cùng ôm nhau khóc.

Hôm sau anh Cam mời ông Phil đến nhà ăn tối. Vợ anh tên là Nở, cùng cô con gái tên Vy chuẩn bị cho bữa ăn, còn vợ chồng Phil – Lynne và anh hướng dẫn viên ngồi ăn. Phong tục của Việt Nam là khách đến nhà chỉ có việc ăn, và ăn, sau đó là đi về.

Vy – con gái đầu của anh Cam – lúc đó 28 tuổi, vừa mới kết hôn, nói rằng cô muốn được học đại học như 4 người em trai của mình, nhưng ở vùng quê này thì phụ nữ thường thiệt thòi, ít được học lên đại học.

Trên đường về khách sạn, Lynne – vợ của Phil – suy nghĩ và ngỏ ý muốn cố giúp Vy được học đại học. Với sự liên lạc, giúp đỡ của anh hướng dẫn viên, Vy đã được đi học ở Sài Gòn cùng với 4 người em trai đã đi học hồi trước đó. Vy nhận bằng liên thông năm 2010 và bằng cử nhân năm 2012.

Phil trở lại Việt Nam – có lẽ là lần cuối cùng – vào năm 2012 để dự lễ tốt nghiệp của Vy. Họ cũng mua vé máy bay cho vợ chồng Cam – Nở vào Sài Gòn. Đó cũng là lần đầu tiên Cam được đi máy bay, anh mang theo vô số quà quê để mở một bữa tiệc mừng tại nhà trọ của Vy. Lynne và Phil còn tặng cho Nở một lò vi sóng để giúp cô nấu ăn thuận tiện.

Hiện tại Vy đang làm việc ở Sài Gòn, vẫn thường xuyên gọi điện cho vợ chồng Seymours.

Lynne và Vy (con gái của Cam)

Một lời hứa tưởng như rất nhỏ, vô thưởng vô phạt, nhưng đã ám ảnh anh lính tên Phil trong 40 năm, khơi gợi lại cho ông những ký ức buồn về một vùng quê đau khổ, tan tác. Ông quyết chí tìm lại cậu bé năm xưa để xua đi nỗi đau đáu trong lòng. Phil cho biết:

“Nếu tôi thất hứa với một người lớn nào đó thì tôi sẽ không bị mang một nỗi ân hận dai dẳng đến như vậy. Đằng này tôi đã hứa với một đứa trẻ tốt bụng, ngây thơ. Nó không thề thốt hay cầu xin gì cả, trên khuôn mặt lúc nào cũng có một nụ cười”.

Chiến tranh mang lại những tổn thương khó lành trong tâm khảm những người lính tham chiến. Chính sự ngây thơ của Cam và những đứa trẻ xin kẹo khác đã làm dịu bớt những trăn trở không yên trong lòng người lính viễn chinh, giúp họ bình thản hơn để vượt qua được những hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc chiến.

Đông Kha (dịch từ wttw.com)
Nguồn: nhacxua.vn

Những bài thơ không tựa của Trịnh Công Sơn

Đường xa mỏng mộng vô thường
Trái tim chợt tỉnh tôi nhường nhịn tôi
Montreal 1992

Đưa em một nửa lên đường
Nửa kia còn lại nỗi buồn quẩn quanh
Mùa Xuân phố bội bạc tình
Bước chân phiền não một mình ta hay
Montreal 21 Avril,1992

Em đi tuyết đổ
Bàng hoàng tuyết rơi
Mùa xuân tuyết khổ
Lá cỏ ngậm ngùi
Em đi nho nhỏ
Giữa mùa tuyết bay
Ta đi vô độ
Giữa mùa tuyết say
Tim ta vò võ
Tuyết trở mặt rồi
Mùa xuân năm ấy
Mùa xuân năm này
Hồn ta bỏ ngỏ
Ai nào ai hay
Montreal 11.4.1992

Chỗ em ngồi ngày xưa còn ấm lắm
Anh gối lên và ngủ một giấc dài
Em có hiểu đời cho em là mộng
Để anh về cứ tưởng một là hai
Montreal 1992

Ở đây nếu ở trăm năm
Xa em tôi có hằng trăm nỗi buồn
Ở đây nếu ở đây luôn
Xa em tôi sẽ hồn nhiên ngậm ngùi
Chiều 22 Avril 1992 ở Montreal với bạn
Nắng trở, mưa trở, trời trở tuyết
Ngày ấy xa rồi em đi đâu
Đi đâu về đâu em hời hỡi
Ơi hởi em là giọt tuyết đau
Giọt tuyết đau ơi hỡi em là mộng
Là mộng bây giờ cho mãi sau
Giọt tuyết mai sau em là khói
Là khói nhưng là là mãi mãi
Em là khói ấy mà chưa phải
Một đốm nhang đèn thức đêm sâu
Montreal 11 Avril 1999

Mặc đời ô trược vừa qua
Tấm thân nhỏ nhặt người la mắng người
Buồn phiền vỡ mộng đường dài
Ta xin một góc ta ngồi với ta
Montreal 1992

Tình khúc

Trịnh Công Sơn
1967

1. Dòng sông là chứng nhận già nua nhất của địa cầu. Hãy thử một lần nương vào cơn mộng du nào đó tìm về những cành san hô cũ kỹ để đọc xem dòng sông đã ghi những gì về tình yêu. Tôi đã hơn một lần trở về từ cơn mộng du đó để rồi làm người đãng trí buồn bã. Từ đấy, tôi cũng đã biết tình yêu thường mở ra những cơn địa chấn kinh hoàng và đã đôi lần quay về xác xơ làm con quạ già kể hoài một chuyện tình chết như loài quạ vẫn thường về kêu ngậm ngùi trên nóc nhà một người hấp hối.

2. Có những cơn hạn hán về thiêu đốt địa cầu, tình yêu bốc lửa và phơi khô. Từ đó, tình yêu chỉ còn là những vết tích chết được con người manh nha nguỵ trang để lừa dối nhau. Môi đã khô từ ngày hạn hán, nước miếng được ve tròn như những hạt kim cương đục ngầu. Trái tim là quả ổi đen trên cành cằn cỗi trụi lá. Lời yêu thương như lên men từ cõi chết ù lì. Bây giờ nhớ về tình yêu cũng như hoài niệm về một cổ tích huyễn hoặc. Người ta không còn có thể nói với nhau, chỉ nói với riêng mình. Và tiếng nói được trả về từ cõi chết làm trung gian thường trực giữa hai kẻ đối diện.

3. Thành phố của tình yêu đóng cửa từ dạo đó. Mỗi người về tự xây cho mình một nhà nguyện. Hằng đêm, lời nguyện cầu vang lên như thánh ca. Những lời nguyện cầu lên cao, lên cao mãi kết tinh thành một vương miện mầu ngọc đen. Vương miện là di chúc quý báu dành cho kẻ chân tình về sau.

4. Cũng từ đó, lời gọi vào tình yêu là lời vô vọng. Những thiết tha tìm đến tình yêu là những chớp loé biến vào cơn giông. Không ai lừa dối ai, chỉ có mình phỉnh phờ lấy mình. Bởi cái chết đã dựng hình tượng trong cõi sống. Con tim đã quen xúc động, tiếng nói đã quen gởi đi. Từ bao giờ tới bây giờ. Sự quen thuộc gây ảo tưởng mới lạ để đánh lừa con mắt. Cảm xúc của con người chỉ là một kẻ trung gian đần độn. Chúng ta dùng ánh sáng để thăng hoa tình yêu nhưng rồi những con đom đóm đã chết. Ta lại được trả về trước một khoảng không đen. Thảm kịch sẽ được dựng lên mãi mãi bao giờ còn loài người.  Trong cõi riêng ta có một con chim bé nhỏ đứng nhìn và hót hoài điệp khúc buồn bã đó. Con người chỉ là một loài thiêu thân vô tội bay mãi vào ảo tưởng tình yêu.

5. Chỉ có trong tình yêu ta mới bắt gặp được cái chết của chính mình. Tình yêu cũng mở ngỏ cho những lần hoá kiếp. Hãy thử bước vào thế giới đó để khởi đầu bằng một cái chết thật vô cùng yêu dấu.

 

Hồi ký Trịnh Công Sơn: Tôi đã mơ thấy chuyến đi của mình

Càng sống nhiều ta càng thấy cái chết dễ dàng đến với bất cứ một ai. Chết quá dễ mà sống thì quá khó. Hôm qua gặp nhau đấy, ngày mai lại mất nhau. Sống thì có hẹn hò hôm nay hôm mai. Chết thì chẳng bao giờ có một cuộc hẹn hò nào trước. Một buổi sáng cách đây bốn năm, lúc tôi đang ngồi uống rượu với bạn, mẹ tôi bảo: “Mạ đi chơi chút nghe”.  Thế rồi một giờ sau tôi được điện thoại báo tin mẹ tôi đã mất tại nhà người bạn.

Nhạc sĩ Xuân Hồng cũng đã từ biệt chúng tôi như thế. Không kịp nói một lời, không kịp đưa tay vẫy chào bạn bè, vẫy chào cuộc sống. Thế kỷ 21 thế mà cũng khó đến được dù chỉ còn mấy năm.

Càng yêu ta càng thấy: có tình yêu thì khó mà mất tình thì quá dễ. Hôm qua mới yêu nhau đấy, hôm nay đã mất rồi.  Mất sạch như người đi buôn mất hết vốn liếng. Cứ tự an ủi mình khi nghĩ rằng mình đau khổ thì có một kẻ khác đang hạnh phúc. Và biết đâu cái thời gian mình được yêu thì một người khác cũng đang đau khổ vô cùng. Nghĩ thế thì thấy cuộc đời bỗng nhẹ nhàng hơn và cũng dễ tha thứ cho nhau. Sống mà giữ mãi trong lòng những hờn oán thì cũng nặng nề.

Có người bỏ cuộc đời mà đi như một giấc ngủ quên. Có người bỏ cuộc tình mà đi như người đãng trí. Dù sao cũng đã lãng quên một nơi này để đi về một chốn khác. Phụ đời và phụ người hình như cũng vậy mà thôi. Người ở lại bao giờ cũng nhớ thương một hình bóng mình đã mất. Khó mà quên nhanh, khó mà xóa đi trong lòng một nỗi  ngậm ngùi.

Tưởng rằng có thể quên dễ dàng một cuộc tình nhưng hóa ra chẳng bao giờ quên được. Mượn cuộc tình này để xóa cuộc tình kia chỉ là một sự vá víu cho tâm hồn. Những mảnh vá ấy chỉ đủ để làm phẳng lặng bên ngoài mà thôi. Mỗi một con người vì ngại chết mà muốn sống. Mỗi một con người vì sợ mất tình mà giữ mãi một lòng nhớ nhung.

Cuối cùng thì lòng yêu thương cuộc sống cũng không giữ lại đời người. Cuối cùng thì tình yêu không giữ được người mình yêu…

Trịnh Công Sơn (1996)

Mở lời theo giai điệu

Bao la là tiếng nói của độ lượng. Đời không thấy tha thứ cho nhau mà vẫn mơ ước bao la. Ai cũng thích những cánh đồng mênh mông, những chân trời rộng mở. Sao mà lắt léo thế? Con người luôn luôn sẵn sàng tham dự những chuyến đi bồng bềnh, sảng khói với những chân trời không thấy. Thèm gió bể khơi. Thèm núi đồi trùng điệp. Hân hoan reo ca cùng chim chóc. Nâng niu những hoa đồng cỏ nội. Ai cũng thế. Không riêng ai. Đến với đất trời như những đứa con của vũ trụ, mà tấm lòng thì đóng kín tối tăm. Sao mà biển lận với trời đất quá vậy?

Đời đã mở cho ta những cõi rộng. Mà lòng nhân gian thì quá hẹp hòi. Có cái gì bất trắc mà nẩy sinh như thế. Đã vậy thì không nên sàm sỡ thốt tiếng bao la, mở lời rộng rãi. Đánh lừa thiên hạ còn khả thứ. Đừng bất kính với đất trời. Chưa bao giờ đóa sen, đóa hồng nở một cách gian dối. Lòng không nở được một điều gì tốt đẹp thì thôi. Đừng ép gượng.

Con người ta cũng hay đấy chứ. Dễ quên có phải là cái vốn liếng ở đời? Sống với người thì hẹp. Hẹp quá! Mai đây ra đứng trước cõi bao la thì nói chuyện phiêu bồng. Vả chăng, trời đất cũng dễ tính. Làm gì có chuyện trời đất ganh đua với người. Có chăng, chỉ là ganh với hồng nhan, với tài mệnh.

Thế ra, ông Trời cũng khéo lắm. Cũng bày ra những cuộc chơi riêng. Chơi với kẻ tương xứng. Hiểu ra như thế thì những định mệnh nổi trôi mới khỏi buồn.

Thời nào cũng có những hồng nhan đa truân. Bất cứ ở đâu. Kiều năm xưa hay Kiều nay thì cũng vậy. Gặp được người đồng điệu thì nói ngay tiếng nặng tình. Tinh lắm. Đã gặp được thì không bao giờ gieo lời mắc mỏ. Làm vậy, không những xấu mặc, mà xấu lòng.

Hình như có sự xếp đặt của ai đây. Bàn tay ghép gán quả là tài tình lắm. Tài tình và tài tử. Tài tử trong cái nghĩ ẩn báu lộng ngọc của cuộc đời. Bởi khi ta chạm đến tấm lòng quí giá kia của Kiều thì lập tức ta gặp cái bao la của trời đất. Hay lắm! Quỷ quyệt đến thế thì hết sức.

Và – cái bao la kia là gì vậy? Là gì mà ai nấy đều nặng lòng với? Có kẻ đứng trước bao la mà không thấy được bao la. Có kẻ ở buổi bình minh, nghe tiếng chim hót đã chạm mặt với cõi vô lượng. Biết được vô lượng là cùng lúc đến với vô biên. Hay đôi khi gắn bó, hòa lẫn với nhau trong một cuộc hôn phối son sắt. Qua tay kẻ phàm nhân, cái vô biên được ví von đối chiếu nghịch lý với cuộc đời hữu hạn của con người. Nhưng nếu rảnh rỗi một chút hãy ra nhìn sông nước thử. Cái vô biên nằm đâu đó trên cánh vạc chở hoàng hôn về núi mỗi chiều.

Chạm đến vô biên là nhắc nhở cái lý sinh tử ở đời. Là muốn tầm tích con đường vô định của sự sống chết. Thường khi nó gây nên sự buồn bã không nguôi trong kiếp nhân sinh. Trái lại, đi vào cõi bao la người ta nhận ra được nỗi hân hoan trong lòng. Khi bắt được cái nhịp của trời đất, lòng ta bỗng reo ca, nhảy múa trong một hòa âm thuận chiều. Một cái gì đó soi tỏ đời ta như đạo đạt. Đó là cái bước nhảy hân hoan, nối liền trời với đất, của Zorba trên bờ biển. Cái hạnh phúc đó không đến với mọi người. Cái sự hòa nhịp kia cũng không thể có nếu lòng ta không được trang bị vẻ thênh thang của vũ trụ. Có thực sự chạm đến cõi vĩnh phúc vô hình, mới hý lộng, mới nhảy múa say sưa đến thế được.

Cho nên, nói đến chuyện riêng chung của trời đất là nói trong cái lý đó vậy. Cũng không dễ gì tập tành sự độ lượng. Muốn có được phải làm cả một cuộc đổi đời. Thay cái nhìn. Thay trí óc. Và tuyệt đối phải có một con tim đẹp đẽ.

Nếu không, cái tình với cõi bao la kia chỉ là cái tình gian lận. Và còn thú vị gì một cuộc chơi thiếu hào hứng như thế. Trời đất nương ta, nhưng ta vốn như con bệnh, thủy chung không phát giác được gì. Con mắt rêu phong đã đóng kín ta lại với thế giới ích kỷ, hẹp hòi, riêng tư. Làm sao còn nghe ra tiếng hoan ca của thế giới bên ngoài. Nếu bảo là nghe, thì sao lại có thể thiếu hòa điệu đến thế được. Chân tay trì trệ. Đời sống như đóng đinh, xa cách. Đừng mưu toan với trời đất. Hạnh phúc xa lạ kia chỉ dành cho người có lòng. Kẻ hời hợt dễ đàm tiếu, thị phi về cái hạnh phúc đó lắm. Bởi nhìn gần, hạnh phúc đó có vẻ phù du quá. Không mang lại áo cơm. Đến thế thì còn nói thêm được một lời nào nữa. Hãy ôm lấy cái phần của mình. Kẻ nổi trôi gặp người trôi nổi. Cứ theo trời xa đất rộng kia mà rong chơi vui thú một đời vậy.

1973 tháng 9
Trịnh Công Sơn