Những mối tình ngang trái của kỳ nữ Kim Cương

Cuộc đời đã cho kỳ nữ Kim Cương tất cả mọi thứ nhưng lại lấy đi của bà một người yêu thương thật lòng.

Ly kỳ từ cái tên Kim Cương

Năm 1937, nghệ sĩ Bảy Nam mang thai đứa con đầu lòng. Trong một lần ăn tiệc, nghệ sĩ Bảy Nam ăn đúng con hàu ngậm viên ngọc trai màu trắng sáng tròn xoe ở trong bụng. Cho rằng đây là điềm lành nên ông bầu Cương quyết định, nếu con gái thì đặt tên Kim Cương, còn con trai lấy tên Ngọc Trai. Và cái tên Kim Cương ra đời từ đó.

Nghệ sĩ Kim Cương và mẹ – nghệ sĩ Bảy Nam

Sinh ra trong cái nôi nghệ thuật, từ nhỏ, Kim Cương đã phiêu dạt theo đoàn hát từ Nam ra Bắc, từ nơi phồn hoa đô thị đến các vùng quê nghèo khó. Cũng chính vì vậy, “máu” nghệ thuật ngấm vào bà lúc nào không hay.

Thế nhưng, vì không muốn con gái vất vả, mẹ bà đã quyết không cho con theo nghệ thuật. Phải đến năm 17 tuổi, Kim Cương thi rớt tú tài, bà mới thực sự quay trở lại nghệ thuật.

Bà nhanh chóng trở thành một diễn viên thành công vang dội trên sân khấu với các vở kịch nói như Lá sầu riêng, Dưới hai màu áo, Huyền thoại Mẹ, Lan và Điệp… một nghệ sỹ đa tài, đóng tới hơn 50 phim và được nhận 2 giải thưởng diễn viên xuất sắc nhất, đối thoại xuất sắc nhất của giải Điện ảnh Á châu (năm 1974).

Ngẫm lại, Kim Cương bảo giờ đời của bà đã thấm và thấu hiểu, mẹ cấm chỉ vì không muốn con gái phải chịu khổ. “Nếu có kiếp sau thì tôi vẫn chọn làm nghệ sỹ nhưng nếu tôi có con gái thì tôi cũng cấm không cho theo nghề bởi cái giá phải trả cho danh vọng là rất đắt, nhất là đối với đàn bà”, Kim Cương chia sẻ.

Yêu đam mê – đau tận cùng…

Thế nhưng, ông trời cho bà rất nhiều thứ nhưng lại lấy đi của bà một người đàn ông yêu thương thật lòng.

Cũng như rất nhiều cô gái trẻ ở thời kỳ đó, Kim Cương được cha mẹ hứa gả cho con trai của một Đốc Phủ Sứ ở Mỹ Tho làm trong ngành tư pháp. Hai người thương nhau từ cái nhìn đầu tiên nhưng rồi cuộc tình ấy cũng buộc phải kết thúc. Bởi lẽ, với Kim Cương sân khấu là lẽ sống còn người đó không chịu được cảnh vợ mình “tối tối lên sân khấu ôm người này, tình tứ người kia” – dù đó chỉ là những vai diễn.

Sau cuộc tình này, Kim Cương quen và yêu một nhà báo. Thế nhưng, mẹ bà lại phản đối quyết liệt. Bà cho rằng, việc con gái từ hôn với một người quyền cao chức trọng để quen một ký giả là điều không thể chấp nhận được.

Ở tận cùng tuyệt vọng, chàng rủ nàng đi trốn, bỏ lại tất cả sau lưng nhưng tình yêu với sân khấu quá lớn và đạo hiếu của người con đã không cho phép Kim Cương làm vậy. Kim Cương hiểu rằng, cuộc đời mẹ đã khổ quá nhiều, cô không thể để mẹ khổ thêm nữa vì mình… Vậy là cuộc tình phải kết thúc. Một tháng sau, người cô yêu lấy vợ. Trái tim Kim Cương như tan ra từng mảnh.

Cuộc tình thứ ba của Kim Cương là một nhạc sĩ nổi tiếng, một sĩ quan đẹp trai và được rất nhiều phụ nữ ái mộ. Tiếc rằng, đó không phải là người đàn ông chung thủy. Trong khi Kim Cương đau đớn tận cùng vì hư tha1 thì người đó lại đang vui vẻ với một cô ca sĩ khác.

Và phải rất rất lâu sau cuộc tình đầy nước mắt này, Kim Cương mới đón nhận một người đàn ông khác cũng là cha của con trai cô. Năm đó Kim Cương đã 35 tuổi.

15 năm chung sống, họ chưa một lần cãi vã, cũng không biết đến giận hờn, ghen tuông ngay cả khi có người chạy tới nhà van xin chồng cô hãy đánh mình vì trót thương Kim Cương quá rồi.

Tuy nhiên cuộc hôn nhân này rồi cũng tan vỡ, nghệ sĩ Kim Cương giải thích lý do:

“Tôi không làm tròn bổn phận làm vợ bởi tôi không lo gì được cho anh ấy mà cứ lo cho đoàn hát, lo diễn kịch. Tôi là trưởng đoàn, là Kim Cương mà, làm sao tôi lo rót nước, nấu ăn cho ảnh được? Mà người đàn ông họ cần những thứ đó. Đó cũng là thiên chức của người phụ nữ.

Từ đó giờ tôi lãnh đạo không, bao nhiêu đoàn hát tôi cũng làm lãnh đạo chứ không làm công. Có lẽ trời đã định cho tôi cái vai tuồng khó, có những chuyện tôi giải quyết được nên lúc nào cũng làm chị Hai.

Không có gì khổ bằng người đàn bà mà phải làm người đàn ông. Cái hạnh phúc của đàn bà là làm sợi dây leo chứ không phải là cây cổ thụ che chở cho người ta. Sau này, tôi tìm đến đạo Phật tôi hiểu đó cũng là quy luật nhân quả, duyên đủ thì hợp, duyên hết thì tan”.

Theo Kim Cương, chính sự nổi tiếng quá lớn trên sân khấu là nguyên nhân chính dẫn đến sự đổ vỡ hôn nhân của bà. Vì vậy, bà luôn cho rằng cái giá phải trả cho danh vọng là rất đắt:

“Ai nổi tiếng quá sớm và lên đỉnh cao danh vọng cũng đều có những cái giá phải trả, chỉ có điều, với người phụ nữ cái giá ấy đắt hơn. Tôi chỉ nói một chuyện nhỏ như ngay cả chuyện giờ giấc của mình đã đánh mất hạnh phúc của gia đình mình rồi. Không có ông chồng nào mà mười mấy năm trời có vợ nhưng không bao giờ vợ có mặt ở nhà ngủ cùng lúc 11 giờ khuya đâu!

Trong đó, còn bao nhiêu chuyện sâu xa, nhất là vợ nổi tiếng chừng nào thì càng dễ mất chồng chừng đó. Lòng tự trọng của đàn ông không cho phép họ đứng sau vợ. Cũng nhiều người ban đầu khoái tôi lắm nhưng sau họ khó chịu vì ‘đi với em thì người ta biết em chứ đâu biết anh là ai đâu’. Còn những việc khác nữa mà khó có người phụ nữ nào vừa nổi tiếng trong hoạt động xã hội, vừa bảo vệ được hạnh phúc gia đình”.

Kim Cương và tài tử La Thoại Tân

Chia tay chồng, Kim Cương tin rằng mình sẽ không bao giờ yêu được nữa. Thế rồi ở cái tuổi ngoài 50, một lần nữa, Kim Cương lại yêu như chưa yêu bao giờ. Thế nhưng, khi thấy sự thay đổi của người thương, bà đã buông tay mà không truy vấn lý do. Và đó cũng là cuộc tình cuối của kỳ nữ Kim Cương.

Đã mấy chục năm nay, bà chọn cuộc sống an vui bên con cháu. “Cũng có lúc tôi chạnh lòng. Điều đó cũng dễ hiểu vì phụ nữ ai chẳng mong có một người đàn ông để tựa vào nhưng ở tuổi này, tôi bằng lòng với cuộc sống mình đang có”.

Từng “sống dở chê’t dở” vì con trai bị bắt co’c

Còn nhớ vào năm 1977 bọn tội phạm đã bắt co’c con trai duy nhất của nghệ sĩ Kim Cương là bé Toro Trần Trọng Gia Vinh tại nhà trẻ Vườn Hồng. Sau đó có một gã lạ mặt nói giọng Nam Bộ, xưng tên là Hải Phong gọi điện thoại tới nhà yêu cầu gặp nghệ sĩ Kim Cương ra giá tiền chuộc 100 cây vàng.

Nghệ sĩ Kim Cương và con trai

Sau nhiều lần thương lượng, bọn bắt co’c đồng ý nhận 20 cây vàng tại địa điểm chúng chọn và đe dọa sẽ giê’t bọn trẻ nếu báo cho công an biết. Đáp ứng yêu cầu của chúng, nghệ sĩ Kim Cương phải đi vay nợ bạn bè người thân đủ số vàng giao nộp cho bọn bắt co’c. Ngay sau đó, bọn bắt co’c trả bé Toro tại bãi cỏ trước nhà thờ Đức Bà, quận 1. Sau này, Công an quận Tân Bình đã phá án và giải cứu tất cả các bé trả về gia đình.

Nghệ sĩ Kim Cương và con cháu

Cuối đời miệt mài với những chuyến từ thiện

Rời xa sân khấu hơn 15 năm và chính thức nói lời tạm biệt khán giả trong liveshow Tạ ơn đời vào năm 2012, nhưng nghệ sĩ Kim Cương vẫn bận chạy sô. Tuy nhiên, đây không phải là những sô diễn mà là những sô từ thiện.

Kim Cương sẵn sàng đi làm từ thiện sung sức mấy ngày trời, ngay cả khi biết là về nhà nằm bẹp trên giường không ăn uống được mấy ngày sau đó. Việc giúp đỡ những trẻ em khuyết tật, bất hạnh cũng là công việc chính của Kim Cương (với cương vị Phó chủ tịch Hội Bảo trợ người tàn tật, trẻ em khiếm thị, trẻ em mồ côi TP HCM), bà coi đó là niềm vui sau khi rời xa ánh đèn sân khấu.

Trong những đại mỹ nhân của Sài Gòn xưa, có lẽ, nghệ sĩ Kim Cương là nghệ sĩ hiếm hoi có cuộc sống khá êm đềm đến cuối đời.

Theo An Nguyên (giadinhvietnam.com)

Đại ca giang hồ được người Sài Gòn thờ như Thành Hoàng

Là cậu ấm con quan lãnh binh, được ban phát nhiều đặc quyền song phẫn uất trước sự tàn a’c của cha và chính quyền thực dân, cậu Hai Miên đã vứt bỏ chức tước trở về làm đại ca giang hồ, sống hào hiệp trượng nghĩa, bênh vực những người cô thế, trừng trị bọn ác bá cường hào khiến người Sài Gòn cảm phục thờ cậu như Thành Hoàng…

Nam Kỳ có cậu Hai Miên…

Cố nhà văn Sơn Nam lúc sinh thời có lần rỉ tai: “Có một ngôi đình làng giữa đất Sài Gòn thờ một đại ca giang hồ như Thành Hoàng. Nếu muốn tìm hiểu, chú em cứ đến chợ Cầu Muối (quận 1) hỏi những người lớn tuổi về cậu Hai Miên, ai cũng biết…”.

Đình Nhơn Hòa (số 27 Cô Giang, phường Cầu Ông Lãnh, quận 1) nằm đối diện với chợ Cầu Muối cũ nên còn được bà con ở đây gọi là đình Cầu Muối. Đình thờ Thành Hoàng và nhiều chư thần, được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp Thành phố. Theo một số cụ hương thân, đình Nhơn Hòa được vua Tự Đức sắc phong năm 1852.

Trước năm 1945, đình được trùng tu thành rạp hát cải lương Hồ Quảng. Trong nhà túc của đình thờ tổ sư của nghệ thuật sân khấu cùng với các vị Tiền Vãng, Hậu Vãng. Đặc biệt, chính giữa nhà túc thờ một bài vị sơn son thếp vàng ở vị trí rất trang trọng.

Bài vị chạm trổ ba con rồng thể hiện sự tôn kính, trên bài vị có ba dòng chữ Nho, tạm dịch: “Bài vị của cậu hai Huỳnh Công Miên mất năm 38 tuổi, vào ngày 6 tháng 12 năm Kỷ Hợi (tức năm 1899) trước sống ở Gò Công, chết gửi thân tại xã Tân Hòa”.

Xã Tân Hòa là phạm vi hai phường Cầu Kho và Nguyễn Cư Trinh (quận 1) bây giờ. Tra cứu các tài liệu cũ, chúng tôi tìm thấy bài “Vè cậu Hai Miên” được viết theo thể thơ lục bát gần 7.000 chữ ca ngợi khí phách và những hành động trượng nghĩa của cậu Hai Miên. Một số nhà nghiên cứu cho biết bài “Vè cậu Hai Miên” được nhân dân Nam Kỳ sáng tác, truyền miệng cùng với “vè Sáu Trọng” và “vè Thông Chánh” ngày trước bị chính quyền thuộc địa Pháp cấm phổ biến, lưu hành.

Nhà nghiên cứu Huỳnh Minh, trong sách “Gò Công xưa” cho biết: “Trước năm 1975, mộ của Cậu Hai Miên nằm trong vuông đất ở đường Phát Diệm, Sài Gòn (nay là đường Trần Đình Xu). Mộ được xây bằng đá xanh, có dựng bia, nhưng vì lâu ngày đã bị rêu phong cỏ mọc, đọc không rõ”. Chúng tôi quyết định đi tìm nơi an nghỉ của cậu Hai Miên. Một số cụ cao niên ở chợ Cầu Muối chỉ nhớ mang máng ngôi mộ trước kia ở gần kênh Tàu Hũ, nhộn nhịp trên bến dưới thuyền…

Cậu Hai Miên lúc nhỏ và bố mẹ (vợ chồng lãnh binh Huỳnh Công Tấn), người hầu

Hơn một trăm năm bể dâu, bến xưa giờ đã thành những khu phố sầm uất bậc nhất của trung tâm Sài Thành. Đất ở đây đúng nghĩa là “tấc đất tấc vàng”, thật khó để bố trí cho người cõi âm. Không rõ di thể của cậu Hai Miên đang ở nơi nào song có một điều chắc chắn khí phách và những việc làm trượng nghĩa của cậu mãi khắc sâu trong tình cảm người Sài Gòn xưa và nay.

Giữa đường thấy chuyện bất bằng chẳng tha…

Theo một số tài liệu, Huỳnh Công Miên (1862 – 1899) là con đầu của Lãnh binh Huỳnh Công Tấn khét tiếng tàn ác. 17 tuổi, Huỳnh Công Miên được Pháp cho đi du học 4 năm tại trường La Seyne (gần Toulouse, Pháp). Về nước, cậu Hai Miên được Pháp bố trí làm thông ngôn, sau thăng làm quan Phán, hàm tri huyện phục vụ dưới trướng Tổng đốc Trần Bá Lộc.

Trong lần ra miền Trung, chứng kiến cảnh Trần Bá Lộc bắt mẹ của lãnh tụ nghĩa quân Mai Xuân Thưởng treo lên cây uy hiếp, bắt ông phải đầu hàng, cậu Hai Miên phẫn uất trả lại chức quan về sống kiếp lãng tử giang hồ.

Quyết định đó của Cậu Hai Miên đã để lại những ấn tượng đẹp trong dân gian. Vè “cậu Hai Miên” còn kể chuyện ba tên Bảy Danh, Tám Hổ, Ba Ngà đến nhà than phiền với cậu Hai Miên vừa thua bạc số tiền rất lớn ở nhà Chệt Lù (người Hoa) và nhờ gỡ gạc giùm. Cậu Hai liền cho người gọi Chệt Lù đến “gầy sòng” và lấy tiền cậu thắng bạc trả lại cho ba gã kia.

Chuyện cậu Hai Miên “tống tiền” tên quan tham biện tỉnh Mỹ Tho (người Pháp) cũng được lan truyền đến hôm nay. Biết cậu Hai có “lưu linh miễn tử”, đi đâu cũng không bị hỏi giấy tờ, tên quan Tây xuống nước, năn nỉ: “Cậu hai, cậu chớ có lo/Hết tiền, cậu cứ xuống kho lấy xài”.

Một lần về Gò Công (Tiền Giang), chứng kiến hàng trăm dân phu phải làm việc quần quật để đào ao trường đua và thường bị cạp rằn (cai người Pháp) đánh đập tàn nhẫn, cậu Hai Miên nổi giận. Cậu túm cổ tên cai đánh cho một trận, sau đó bắt đám giám thị đứng xếp hàng và giáng cho mỗi tên vài cái bạt tai rồi bắt bọn này lội xuống đào đất đắp đường như dân phu. Nhờ cậu, các dân phu bớt bị hà hiếp, đánh đập.

Không chỉ quan Tây, cậu Hai Miên còn trừng trị những tên cường hào ác bá, trong số đó có gã Hương Quản hễ gặp chuyện không vừa ý là cầm roi cá đuối đánh đập dân làng, kể cả phụ nữ, trẻ con, người già. Bất bình, cậu Hai quyết định chơi “tay bo” và bằng mấy thế võ đã hạ gục tên ác ôn này khiến gã phải bỏ xứ (Hương Quản đã trốn bỏ làng/Còn ai đâu nữa nghinh ngang ỷ quyền).

“Nam Kỳ có cậu Hai Miên
Con quan lớn Tấn ở miền Gò Công
Cậu hai là bực anh hùng
Ăn chơi đúng bực vô cùng liệt oanh

Nam Kỳ lục tỉnh nổi danh
Thật là một bực hùng anh trên đời
Tuổi nay gần mới ba mươi
Tánh tình hào hiệp ít người dám đương”.

(Trích Vè cậu Hai Miên)

Bài vè kể lại câu chuyện một cô gái cô thế bị gã ma cô tên Tám Hổ hà hiếp được cậu Hai Miên bênh vực. Cậu đánh gục tên côn đồ đòi lại công bằng cho người phụ nữ. Khi Tám Hổ xin tha mạng, cậu không ngần ngại tha cho y theo đúng phong cách của một đại ca giang hồ mã thượng.

Bài vị của cậu Hai Miên thờ trong đình Nhơn Hòa

Một lần, cậu Hai Miên rong ruổi đến đất Bạc Liêu, xứ sở của các đại gia giàu sụ lúc bấy giờ. Ghe (thuyền) của cậu ngang qua bến của anh em chủ Thời, chủ Vận, hai địa chủ giàu có, thế lực và cũng là nỗi khiếp sợ của các tá điền, bà con nông dân trong vùng. Nghe giọng hách dịch của ông chủ Thời vọng xuống: “Ghe ai đi dưới sông đó bây?”, cậu Hai Miên sôi ma’u ghé vào và ra lệnh cho đàn em bắt cô Hai Sáng, con ông chủ Thời lên ghe trói lại.

Việc cậu Hai bắt cô Hai Sáng cũng có nguyên do. Cô gái này còn ác ôn hơn cả cha và chú. Dân chúng trong vùng khiếp sợ cô, không ai dám nói đến chữ “Sáng” như “buổi sáng”; “hồi sáng mai” mà phải nói chệch đi là “buổi sớm”; “hồi sớm mơi”. Nghe kể về chủ Thời, chủ Vận và cô Hai Sáng bạo ngược như vậy, cậu Hai Miên tức giận vô cùng.

Biết đụng phải cậu Hai Miên, ông chủ Thời toát mồ hôi hột vội xuống nước năn nỉ cậu tha mạng cho con gái và hứa không hiếp đáp dân nghèo. Cậu Hai Miên đồng ý thả cô Hai Sáng.

Không ngờ hành động mã thượng này đã khiến cậu phải bỏ mạng. Rời Bạc Liêu, sau một thời gian dài lang bạt, cậu Hai Miên thèm chén cơm nhà nên quyết định quay về thăm vợ vốn là một tiểu thư khuê các văn hay chữ tốt là em gái của cai tổng Lê Quang Chiểu (Phong Điền, Cần Thơ).

Ghe cậu Hai vừa cập bến Cầu Kho (nay thuộc phường Cầu Kho, quận 1) thì cô Hai Sáng xuất hiện cùng với hàng chục tên sa’t thủ chuyên nghiệp. Dù giỏi võ nghệ song một mình cậu Hai Miên không thể đấu lại với cả đám côn đồ. Bị che’m nhiều nha’t dao chí mạng, cậu Hai Miên gục chê’t ngay trước cửa nhà mình. Năm ấy cậu mới 38 tuổi.

Cảm kích tấm lòng trượng nghĩa, không khuất phục trước cường quyền, sẵn sàng ra tay diệt trừ cường hào ác bá, bênh vực kẻ yếu, người dân vùng Cầu Kho đã chôn cất cậu Hai Miên và lập bài vị thờ cậu ở đình Nhơn Hòa.

Đám tang của cậu còn lớn hơn của nhiều viên quan ở địa phương và người đưa tiễn cậu về nơi an nghỉ hầu hết là các tầng lớp dân nghèo, giới bình dân, trong số đó không ít người đã từng được cậu bênh vực, che chở, cưu mang…

Theo Hồng Hạnh (tienphong.vn)

Tên gọi của các trường Đại học ở miền Nam trước năm 1975

Nói về bậc Đại học ở Sài Gòn thì ngày xưa có Viện Đại học Sài Gòn với 8 phân khoa cho 8 trường Đại học khác nhau trong đó có Đại học Y khoa hay còn được gọi là Y khoa đại học đường.

Sau 1975 thì trường bị đổi tên thành Đại học Y Dược Tp HCM. Một cái tên rất dễ nhầm lẫn vì nếu có 1 người học Y Dược lại phải hỏi họ học bên Y hay bên Dược hay bên Nha, xét về góc độ khoa học thì đây là 3 mảng riêng.

Vời thời điểm mới thành lập năm 1957, Viện Đại học Sài Gòn có 8 phân khoa là:

  • Văn khoa
  • Luật khoa
  • Y khoa
  • Dược khoa
  • Nha khoa
  • Khoa học
  • Sư phạm
  • Cao đẳng kiến trúc.

Và bậc Đại học hồi đó còn có thêm Học viện kỹ thuật quốc gia, sau đó là Đại học Kỹ thuật, sau 1975 đổi tên thành Đại học Bách Khoa Tp HCM.

Trường Văn khoa trường Khoa học sau 1975 bị sáp nhập lại thành Đại học Tổng Hợp, sau đó lại tách ra, Văn khoa đổi tên thành ĐH Khoa học xã hội nhân văn, Khoa học đổi tên thành ĐH Khoa học Tự nhiên.

Nhân câu chuyện lùm xùm về bà bộ trưởng muốn đổi tên Đại học Y Dược thành Đại học Sức Khỏe, xin nói qua về các tên gọi của bậc Đại học, Cao đẳng ở miền Nam khi xưa.

Miền Nam Việt Nam có 3 Viện Đại Học công lập. Ngoài Viện Đại Học Sài Gòn như đã nơi ở trên thì còn có Viện Đại Học Huế và Viện Đại Học Cần Thơ. Đến năm 1973 có thêm Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức (tiền thân của 3 trường Đại học Bách Khoa, Đại học Sư phạm kỹ thuật, Đại học Nông Lâm sau năm 75).

Ngoài các viện đại học công, miền Nam còn có các viện đại học tư gồm Viện Đại Học Đà Lạt, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Viện Đại Học Hòa Hảo và Viện Đại Học Minh Đức. Ngoài ra, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt cũng là nơi đào tạo các sĩ quan ưu tú với trình độ học vấn tương đương với văn bằng Cử Nhân. Trong niên khóa cuối cùng 1974-1975 trước khi Miền Nam Việt Nam mất, toàn thể miền Nam có 150.000 sinh viên đại học gồm 120.000 sinh viên đại học công lập và 30.000 sinh viên đại học tư, trong số đó 10.000 sinh viên học ở Miền Trung, 140.000 sinh viên theo học ở trong Nam.

Điều kiện để thi vào các công lập đều áp dụng cho mọi thí sinh. Hệ thống trung học cũng như đại học công lập hoàn toàn miễn phí. Dưới đây là hệ thống đại học công lập miền Nam trước 1975.

Viện Đại Học Sài Gòn

Sau Hiệp Định Genève, Đại Học Đông Dương di chuyển từ Hà Nội vào Sài Gòn năm 1954. Từ 1955 các trường Cao Đẳng và Đại Học Sài Gòn được cải tổ sâu rộng với danh xưng mới là Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam, đến niên khóa 1956-1957 đổi thành Viện Đại Học Sài Gòn. Cho đến tháng 4, 1975, Viện Đại Học Sài Gòn có 8 Phân Khoa Đại Học như sau:

1. Trường Đại Học Sư Phạm

Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn nguyên là Trường Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương (École Supérieure de Pédagogie) thành lập tại Hà Nội do nghị định ngày 15/10/1917 của Toàn Quyền Albert Sarraut. Năm 1950 trường trở thành một Khoa thuộc Viện Đại Học Hà Nội. Sau 1954 trường di chuyển vào Sài Gòn. Đến 1958, Tổng Thống Ngô Đình Diệm ký nghị định đổi thành Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn trực thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Lúc đầu trường có nhiệm vụ đào tạo giáo sư Trung Học Đệ Nhất Cấp, sau nhằm đào tạo giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp. Học trình thời gian đầu là 3 năm, đến 1961 đổi thành 4 năm.

2. Trường Đại Học Y Khoa

Trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn là hậu thân của Trường Y Khoa Đông Dương (École de Médecine de l’Indochine) được thành lập ngày 08/01/1902. Trường này được đổi thành Trường Y Dược Đông Dương (École de Médecine et de Pharmacie de l’Indochine) ngày 29/12/1913. Từ 1948 trường có 2 Trung Tâm: một tại Hà Nội và một ở Sài Gòn. Sau 1954, Trung Tâm Hà Nội di chuyển vào Nam và sát nhập vào Trung Tâm Sài Gòn trở thành Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa gồm 3 trường: Y Khoa Đại Học Đường, Dược Khoa Đại Học Đường và Nha Khoa Đại Học Đường thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Từ 1948 đến1961 muốn nhập học phải có chứng chỉ PCB (Lý, Hóa, Sinh Hóa) của trường Đại Học Khoa Học và qua kỳ thi tuyển. Sau 1961 chỉ cần có bằng Tú Tài 2 ban A hoặc B và đậu kỳ thi tuyển vào năm Dự Bị Y Khoa cùng với 6 năm học nữa (học trình 7 năm). Trước 1966, Đại Học Y Khoa Sài Gòn giảng dạy bằng tiếng Pháp, nhưng sau năm này các giáo sư có thể giảng bằng một trong ba thứ tiếng: Việt, Anh, Pháp. Cuối năm thứ 5, sinh viên thi tốt nghiệp và sau đó phải soạn và trình luận án viết bằng Pháp hoặc Anh Văn. Từ sau 1967 sinh viên mới được chọn thêm tiếng Việt. Cứ cuối mỗi năm phải thi lên lớp, nếu vắng mặt 3 buổi học, kể cả thực tập, sẽ bị cấm thi. Riêng năm thứ nhất vắng mặt 2 buổi là đã bị cấm thi. Cuối năm thứ 6 sinh viên được coi như y sĩ, nhưng phải soạn và đệ trình luận án mới được chính thức công nhận là Tiến Sĩ Y Khoa (quen gọi là Bác Sĩ). Sau khi tốt nghiệp, các Bác Sĩ phải làm tại các bệnh viện công 2 năm mới có quyền hành nghề tư.

3. Đại Học Dược Khoa

Trường Đại Học Dược Khoa là một Ban của Trường Y Dược Đông Dương (École de Médecine et de Pharmacie de l’Indochine) được thành lập bằng nghị định ngày 29/12/1913 (cải tổ Trường Y Khoa Đông Dương thành Trường Y Dược Đông Dương). Năm 1954 sau khi dời từ Hà Nội vào Sài Gòn và sát nhập vào Trung Tâm Sài Gòn, Ban Dược trở thành Trường Đại Học Dược Khoa Sài Gòn từ 1962. Muốn nhập học phải có bằng Tú Tài 2 ban A hoặc B, học trình 5 năm. Mỗi cuối năm nếu đủ giờ lý thuyết và thực tập sẽ được thi lên lớp. Cuối năm thứ 5 thi tốt nghiệp, trúng tuyển được cấp bằng Dược Sĩ Quốc Gia (Diplôme de Pharmacien d’État).

4. Trường Đại Học Nha Khoa

Trường Đại Học Nha Khoa nguyên là một ban của Trường Y Dược Đông Dương (École de Médecine et de Pharmacie de l’Indochine), sau 1954 dời vào Nam. Đến 1963 ban này được chính thức nâng lên thành một phân khoa và trở thành Trường Đại Học Nha Khoa thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Muốn nhập học phải có chứng chỉ SPCN (Lý, Hóa, Vạn Vật) hoặc PCB (Lý, Hóa, Sinh Hóa) của trường Đại Học Khoa Học và học thêm 4 năm trường Nha. Sau 1966 thí sinh có Tú Tài 2 trực tiếp thi vào thì học trình là 5 năm. Sinh viên vừa học lý thuyết vừa thực tập tại phòng thí nghiệm ở trường và tại các phòng giải phẫu của bệnh viện, tốt nghiệp qua kỳ thi cuối năm thứ 5 được cấp bằng Nha Sĩ Quốc Gia.

5. Trường Đại Học Kiến Trúc

Trường Đại Học Kiến Trúc nguyên là một ngành của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (École des Beaux Arts de l’Indochine) thành lập tại Hà Nội do nghị định của Toàn Quyền Merlin ngày 27/10/1924. Đến niên khóa 1926-1927 mới có ngành Kiến Trúc. Từ 1928 trường dời vào Đà Lạt. Niên khóa 1948-1949 trường trở thành một phân khoa của Viện Đại Học Hà Nội. Sau 1954 trường dời về Sài Gòn trực thuộc Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam. Kể từ niên khóa 1957-1958 trường thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Trường Đại Học Kiến Trúc đao tạo Kiến Trúc Sư, chuyên viên ngành thiết kế đô thị và Cán Sự Kiến Trúc phục vụ công tác xây dựng nhà cửa, cao ốc. Trước 1950 trường thuộc hệ Cao Đẳng, từ 1958 được nâng lên hệ Đại Học, học trình 6 năm, có 3 ban: Kiến Trúc, Thiết Kế Đô Thị và Cán Sự Kiến Trúc. Muốn nhập học phải có bằng Tú Tài 2 ban B (Toán) và qua kỳ thi tuyển về Toán và vẽ. Mỗi năm phải thi lên lớp và hội đủ một số giờ thực tập về thiết kế và họa đồ. Năm cuối cùng nếu đầy đủ giờ thực tập và đồ án xây dựng sẽ được phép thi tốt nghiệp, trúng tuyển được cấp văn bằng Kiến Trúc Sư.

6. Trường Đại Học Khoa Học

Trường Đại Học Khoa Học nguyên là Trường Cao Đẳng Khoa Học Đông Dương (École Supérieure des Sciences). Trường này được thành lập ở Hà Nội năm 1941 và có một chi nhánh ở Sài Gòn. Năm 1949 Trường được cải danh là Khoa Học Đại Học Đường thuộc Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam. Sau 1954, Trung Tâm Hà Nội dọn vào Sài Gòn và sát nhập thành Trường Đại Học Khoa Học thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Trường có nhiều ban, mỗi ban có nhiều chứng chỉ. gồm Toán, Vật Lý (điện, điện tử), Hóa Học, Sinh Vật Học, Địa Chất. Muốn nhập học chỉ cần có bằng Tú Tài 2 ban A hoặc B, không phải thi tuyển. Học ban nào khi tốt nghiệp được cấp phát văn bằng Cử Nhân ban đó như: Cử Nhân Toán, Cử Nhân Vật Lý, Cử Nhân Hóa Học. Năm đầu sinh viên có thể chọn một trong 4 chứng chỉ dự bị sau:

1. MGP (Mathématiques Générales et Physiques) Toán Đại Cương và Vật Lý để học Cử Nhân Toán.
2. MPC (Mathématiques, Physique et Chimie) Toán, Lý, Hóa để học Cử Nhân Vật Lý hoặc Cử Nhân Hóa Học.
3. SPCN (Sciences Physique, Chimie et Naturelles) Lý, Hóa, Vạn Vật để học Cử Nhân Vạn Vật.
4. PCB (Physique, Chimie, Biologie) Lý, Hóa, Sinh Hóa để học Cử Nhân Sinh Vật hoặc Cử Nhân Địa Chất.

Nếu theo đúng 6 chứng chỉ chuyên khoa bắt buộc sẽ được cấp phát văn bằng Cử Nhân Giáo Khoa về ban đã học. Nếu chọn 6 chứng chỉ không bắt buộc thì được cấp phát văn bằng Cử Nhân Tự Do. Có bằng Cử Nhân được ghi danh Cao Học hoặc Chứng Chỉ Khoa Học Đệ Tam Cấp. Nếu đỗ chứng chỉ Thâm Cứu, sinh viên phải tìm một giáo sư bảo trợ để soạn luận án Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp. Nếu Hội Đồng Giám Khảo thông qua luận án, sinh viên được cấp văn bằng này. Với bằng Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp sinh viên có thể nghiên cứu, soạn và trình luận án Tiến Sĩ Quốc Gia. Học trình Tiến Sĩ Quốc Gia dài từ 5 đến 7 năm. Trường Đại Học Khoa Học Sài Gòn tổ chức các kỳ thi Tiến Sĩ Quốc Gia bằng cách trình luận án ở Pháp.

7. Trường Đại Học Luật Khoa

Trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn là hậu thân của Trường Pháp Chính Đông Dương (École de Droit et d’Administration). Trường này được thành lập tai Hà Nội ngày 15/10/1917. Do sắc lệnh của Tổng Thống Pháp ngày 11/09/1931 Trường đổi tên là Trường Cao Đẳng Luật Khoa Đông Dương (École Supérieure de Droit de l’Indochine), đến 1941 đổi thành Trường Đại Học Luật Khoa (Faculté de Droit). Năm 1954 Trường chuyển vào Sài Gòn và thuộc Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam, sau 1957 thuộc Viện Đại Học Sài Gòn. Trường cấp học vị từ Cử Nhân đến Tiến Sĩ, nhằm đào tạo các chuyên viên luật cho ngành Tư Pháp, Kinh Tế, Ngân Hàng. Muốn nhập học chỉ cần có bằng Tú Tài 2 không kể ban, không phải qua kỳ thi tuyển. Học trình có 3 cấp:

1. Cử Nhân: học trình lúc đầu là 3 năm, đến giữa thập niên 60 đổi thành 4 năm. Từ khi tăng lên 4 năm, 2 năm đầu giảng dạy các vấn đề tổng quát luật học, 2 năm sau đi vào chuyên khoa của từng bộ môn gồm kinh tế, công pháp, tư pháp. Cuối mỗi năm sinh viên phải qua một kỳ thi lên lớp. Với học trình 3 năm, khi tốt nghiệp đươc cấp văn bằng Cử Nhân Luật Khoa. Kể từ khi học trình tăng lên 4 năm, khi tốt nghiệp được cấp bằng Cử Nhân theo các bộ môn Kinh Tế, Tư Pháp, Công Pháp.
2. Cao Học: Cao Học có 3 ban giống như Cử Nhân, học trình 2 năm. Nếu đỗ năm thứ nhất được cấp chứng chỉ Cao Học Đệ Nhất Cấp, đỗ năm thứ 2 được cấp chứng chỉ Cao Học Đệ Nhị Cấp.
3. Tiến Sĩ: nếu có 2 chứng chỉ Cao Học được theo học chương trình Tiến Sĩ nhưng cần có giáo sư thực thụ bảo trợ để soạn luận án. Nếu luận án được Hội Đồng Giám Khảo thông qua được cấp học vị Tiến Sĩ Luật Khoa có ghi rõ từng ban.

8. Trường Đại Học Văn Khoa

Trường Đại Học Văn Khoa lúc đầu chỉ là lớp Dự Bị Văn Chương Pháp, thuộc Viện Đại Học Hà Nội có từ trước 1945. Niên khóa 1948-1949 trường mở cửa lại, có 2 trung tâm Hà Nội và Sài Gòn. Sau 1954 trung tâm Hà Nội sát nhập với trung tâm Sài Gòn và đươc nâng lên thành một phân khoa Đại Học (Faculté). Muốn nhập học chỉ cần có bằng Tú Tài 2 không kể ban. Trường có các ban cho các bằng Cử Nhân tương ứng: Việt Văn, Việt Hán, Pháp Văn, Anh Văn, Sử Học, Địa Lý, Triết Học, Nhân Văn. Sinh viên theo học ban nào thì phải học một môn chính bắt buộc, một môn phụ bắt buộc. Thí dụ: ban Pháp Văn, môn chính bắt buộc là Pháp Văn, môn phụ bắt buộc là Việt Văn, các môn khác là Anh Văn, Triết và Sử, Địa.

Cuối năm thứ nhất sinh viên thi lấy chứng chỉ Dự Bị Văn Khoa, nếu đỗ, được theo học các chứng chỉ thuộc ban đã chọn từ đầu. Chứng chỉ Dự Bị là cửa ngõ duy nhất, nhưng khi tốt nghiệp Cử Nhân chứng chỉ này không được ghi vào văn bằng. Nếu sinh viên đỗ 4 chứng chỉ trong đó có một chứng chỉ Văn Chương thuộc ngành đã chọn thì được cấp phát văn bằng Cử Nhân Tự Do (Licence Libre). Muốn lấy văn bằng Cử Nhân Giáo Khoa (Licence d’Enseignement) sinh viên phải đỗ đủ 4 chứng chỉ bắt buộc.

Thí dụ 1: Cử Nhân Giáo Khoa Việt Văn phải có các chứng chỉ Văn Chương Việt Nam, Văn Chuơng Việt Hán, Ngữ Học và một trong các chứng chỉ Văn Hóa Pháp, Pháp Văn Thực Hành, Văn Hóa Anh Mỹ, Anh Văn Thực Hành.

Thí dụ 2: Cử Nhân Giáo Khoa Pháp Văn phải có các chứng chỉ Văn Chương Pháp, Ngữ Học Pháp, Văn Hóa Pháp và một trong 2 chứng chỉ Văn Chương Quốc Âm, Văn Chương Việt Hán.

Nếu đỗ Cử Nhân Giáo Khoa trong đó có 2 chứng chỉ hạng Bình Thứ trở lên và được một giáo sư bảo trợ sẽ đủ điều kiện ghi danh Cao học (Diplôme d’Études Supérieure). Sinh viên phải soạn tiểu luận tối thiểu 100 trang đánh máy. Nếu tiểu luận được Hội Đồng Giám Khảo, gồm 1 chủ tịch, 2 giám khảo (một vị là giáo sư bảo trợ), sau khi Hội Đồng đánh giá và thảo luận chấp thuận thì được cấp văn bằng Cao Học Văn Chương của từng ban. Từ niên khóa 1971-1972 bắt đầu có chương trình Tiến Sĩ Chuyên Khoa.

Ngoài ra, ở thành đô Sài Gòn còn có các trường cao đẳng, học viện, trung tâm khác như sau:

Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ

Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ được thành lập do Sắc Lệnh năm 1957 của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Trung Tâm gồm các Trường Cao Đẳng Chuyên Nghiệp. Muốn nhập học phải có Tú Tài 2 ban A hoặc B, thời gian học cho Kỹ Sư từ 4 đến 5 năm tùy theo ngành, ban Cán Sự 2 năm. Trung Tâm gồm 3 trường:

1. Trường Cao Đẳng Công Chánh: đào tạo Kỹ Sư Cầu Cống, Cán Sự Công Chánh, Địa Chánh.
2. Trường Cao Đẳng Điện Học: đào tạo Kỹ Sư Điện, Cán Sự Điện, Điện Tử.
Trường Kỹ Sư Công Nghệ: đào tạo Kỹ Sư Công Nghiệp.
3. Trường Cao Đẳng Hóa Học: đào tạo Kỹ Sư Hóa Học, Cán Sự Hóa Học.
Trường Việt Nam Hàng Hải: đào tạo Thuyền Trưởng Viễn Duyên, Sĩ Quan Cơ Khí Hàng Hải.

Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật

Trường Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật thành lập do Nghị Định số 1082/GD ngày 05/10/1962 của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Trụ sở ở Thủ Đức, Trường đào tạo các giáo chức dạy các môn kỹ thuật cho các trường Sư Phạm Kỹ Thuật Trung Cấp. Trường có các ngành về Khoa Học Ứng Dụng, Khoa Học Chuyên Nghiệp, Kỹ Nghệ Họa, Thương Mại, Tiểu Công Nghệ. Đến niên khóa 1973-1974 trường được kết hợp với một số trường Cao Đẳng và Khoa của Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ để trở thành Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức dưới sự điều khiển trực tiếp của Bộ Văn Hóa Giáo Dục.

Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp

Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp là hậu thân của Trường Chuyên Nghiệp Nông Lâm Đông Dương (École Spécial d’Agriculture et de Sylviculture) tại Hà Nội do nghị định ngày 15/08/1938 của Toàn Quyền Đông Dương. Sau 1954 trường dời vào Nam. Năm 1959 trường được tái lập tại Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, trực thuộc Bộ Canh Nông, nhằm đào tạo kỹ sư Nông Lâm Súc. Sau vì mất an ninh trường dời về Sài Gòn. Năm 1963 trường đổi tên thành Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp trực thuộc Bộ Văn Hóa Giáo Dục và trở thành viên của Viện Đại Học Sài Gòn.

Học Viện Quốc Gia Hành Chánh

Tiền thân của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh là Trường Pháp Chính Đông Dương (École de Droit et d’Administration) thành lập ở Hà Nội ngày 15/10/1917, sau đổi thành Trường Đại Học Luật Khoa Hà Nội (Faculté de Droit) vào năm 1941. Ngày 01/01/1953 một bộ phận của Trường Đại Học Luật Khoa Hà Nội được thành lập ở Đà Lạt mang tên Trường Quốc Gia Hành Chánh Đà Lạt, trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục, nhằm đào tạo các viên chức hành chánh cao cấp. Đến 1954 trường được cải tổ sâu rộng và đặt trực thuộc Phủ Thủ Tướng. Năm 1955 Trường dời về Sài Gòn và đổi thành Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

Trần Bích San

Người con Việt 70 năm đi tìm cha Nhật

Bị tai biến 5 lần, lần nào ông Đỗ Mẫn cũng ‘tai qua nạn khỏi’, vợ ông bảo ‘chắc chưa tìm được bố nên ông ấy cố gượng’.

Trong phòng khách ở tầng hai trên phố Nguyễn An Ninh, Hà Nội, ông Đỗ Mẫn ngồi lặng lẽ, mắt ướt đẫm, hướng về phía bức tranh vẽ một người đàn ông Nhật, tên Sato Masao, bố đẻ của ông.

“Từ ngày trẻ đến giờ, chồng tôi vẫn ngồi hàng giờ nhìn ảnh bố như thế”, bà Trần Thị Thái, vợ ông Mẫn nói. Lần tai biến sau cùng đã khiến ông họa sĩ già nói chuyện rất khó khăn hai năm nay.

Ông Sato Masao, sinh năm 1909, là lính Nhật sang Việt Nam tham chiến. Năm 1942, Sato yêu và lấy bà Đỗ Thị Phụng, một công nhân may vá xinh đẹp ở Hà Nội. Một năm sau, họ sinh con trai đầu, đặt tên Đỗ Mẫn, tên Nhật là Sato Thu Si Phu My, năm 1949, sinh con gái thứ hai là Đỗ Lan Anh, tên Nhật là Sato Co Lan.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông Sato Masao không về nước mà ở lại Việt Nam. Có thời điểm gia đình ông sống Hà Nội, có lúc tản cư về làng Đanh Xá, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1950, ông Sato bị người Pháp ép phải về nước, không kịp nói lời từ biệt vợ và các con.

Chỉ 7 năm sống cùng, nhưng những ký ức về cha lúc nào cũng sâu đậm với Mẫn. “Bố rất yêu vợ con, hay làm kẹo mạch nha cho ăn. Có lần bố với mẹ giận nhau, bố cõng Mẫn lên cổ bỏ đi, nhưng tối lại cõng về, rồi xúi ‘con ơi, con gọi mẹ mở cửa cho hai bố con mình đi”, ông Mẫn từng kể với vợ.

Giai đoạn 1950 – 1952, về nước, ông Sato Masao vẫn thường xuyên gửi thư, ảnh và sách báo về cho vợ con. “Mẹ nói lá thư nào bố cũng bảo nhớ vợ, nhớ con, nên cứ hướng mắt về phương Đông. Bố dặn mẹ cuộc sống khó khăn quá thì đi ăn xin, đừng ăn cắp, đừng bán thân”, bà Đỗ Lan Anh, 70 tuổi, nhớ lại.

Sato Masao cũng nhiều lần khuyên vợ đưa hai con sang Nhật sống cùng, nhưng bà chọn ở lại Việt Nam. Một phần vì bên đó, ông Sato Masao đã có gia đình riêng từ trước, một phần vì bà Phụng thương mẹ chỉ có hai người con gái, không nỡ xa.

Bức ảnh ông Sato Masao gửi về cho vợ con trong giai đoạn 1950 -1952. 

Sau 1952, do biến cố chính trị, mẹ con bà Phụng không nhận được lá thư nào từ Nhật nữa. Những thư từ trước đây, họ đều phải đốt hết. Không biết tiếng Nhật, nhưng ông Mẫn vẫn cố gắng chép lại địa chỉ ở cuối thư, hy vọng sau này tìm lại.

Kỷ vật còn lại là bức chân dung ngày trẻ của Sato Masao và tấm ảnh gia đình riêng của ông – có vợ, 3 con. Từ đó đến nay, anh em ông Mẫn bặt tin cha.

Năm 1965, Mẫn chuyển về Hà Nội học, sau đó đón mẹ lên sống cùng, trong lòng khôn nguôi muốn tìm cha. Ảnh ông Sato, Mẫn rửa thành hàng chục tấm, gửi bạn bè, người quen nhờ tìm. Ông cũng nhiều lần viết thư mang đến đại sứ quán Nhật hỏi tin, nhưng không thành công.

“Năm 1980, ông ấy ngồi lỳ trong phòng hai ngày liền để vẽ lại chân dung bố, vừa vẽ, vừa khóc”, vợ ông Mẫn kể.

Chị Đỗ Anh Thư, 45 tuổi, con gái út của ông Mẫn vẫn nhớ, tầm 12 tuổi, tuần nào chị cũng được bố đèo đến nhà một người quen lấy chồng Nhật, để dò hỏi tung tích ông nội. Mong ước của bố và bà nội đã thôi thúc Anh Thư học chuyên ngành tiếng Nhật, tốt nghiệp loại xuất sắc, hy vọng có ngày dùng đến.

“Trước khi mất, bà nội nắm tay tôi dặn ‘cố tìm bằng được ông giúp bà’, chưa tìm được, nên mỗi lần nghĩ đến bà, tôi thêm day dứt”, chị Thư nói.

Bức ảnh gia đình riêng của ông Sato Masao ở Nhật Bản. Ông Sato Masao đứng ngoài cùng bên trái. 

Hàng chục năm nay, gia đình ông Mẫn kết nối với hội con lai Việt – Nhật, hy vọng lần tìm tung tích cha đẻ. Hai kênh truyền hình Nhật đã làm phóng sự về nỗi đau chia ly của gia đình họ.

Lần duy nhất ông Mẫn sang Nhật là vào năm 2008, theo visa du lịch. Khi bày tỏ nguyện vọng tách đoàn để đi tìm cha, ông bị từ chối. Ông Mẫn buồn rầu, bảo với con gái: “Thôi cuối đời, không tìm được ông nội nhưng được một lần sang đất nước ông sinh ra cũng là hạnh phúc”.

Hai tháng nay, cháu ngoại ông Mẫn bắt đầu làm quen với cuộc sống du học ở Nhật. Cô bé dự định thay mẹ, thay ông bà để tìm được tổ tiên.

Chiều muộn, khách đến chơi sắp về, thử hỏi “Ông còn muốn tìm cha không?”, ông lặng lẽ gật đầu.

“Có lẽ giờ này cha tôi cũng đã khuất núi. Nhưng qua thư từ ông gửi về, anh em tôi biết mình còn có những người thân khác, có nguồn cội. Nếu bố còn sống, chúng tôi ước được ôm cha một lần, nếu ông đã mất, cũng được thắp nén nhang cho ông”, bà Lan Anh vừa nói, vừa xích lại, lau nước mắt cho anh trai.

Theo Phạm Nga (VnExpress.net)

Hành trình tìm người yêu của cựu binh Mỹ: Gặp nhau rồi cố nhân ơi!

Lòng họ đã “cuồng điên vì nhớ”. Người con gái tuổi 16 và chàng lính Mỹ tuổi 22. 50 năm và 50 lá thư… Cho một cuộc hội ngộ ở Tân Sơn Nhất ngập tràn trong nước mắt…

Từ 22h ngày 12-9, người phụ nữ mặc áo dài xanh dõi mắt nhìn tấm bảng thông tin các chuyến bay đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Một người nhà hướng về phía bà nói lớn “ông ấy tới rồi” từ khoảng cách rất xa.

Đợi nhưng vẫn bất ngờ với giây phút này, bà đưa hai tay ôm mặt, tiếng khóc và nước mắt cứ thế tuôn ra. Người đàn ông tóc trắng như cước 73 tuổi tiến về phía bà Thúy Lan (tên thật là Vũ Thị Vinh), 67 tuổi.

Lần cuối họ ôm nhau đã cách đây 50 năm…

50 lá thư và duyên hội ngộ

Họ gặp nhau năm 1968, khi ông Ken Reesing 22 tuổi và bà Thúy Lan 16 tuổi. Ông làm việc ở trung tâm dịch vụ dữ liệu của quân đội Mỹ đóng tại căn cứ Long Bình, Biên Hòa (Đồng Nai), còn bà phục vụ trong quầy bar của câu lạc bộ EM Club (Enlisted Men’s Club) trong khuôn viên doanh trại.

Họ hẹn hò và yêu nhau cho tới khi ông Ken phải trở về Mỹ vào tháng 9-1969.

Từng hỏi Lan có muốn rời Việt Nam không nhưng bà lắc đầu, ông Ken không dám hỏi thêm lần nào nữa.

Nhiều năm sau, ông luôn nghĩ cuộc đời hai người sẽ khác nếu bà nói đồng ý hoặc ông ngỏ lời cầu hôn thời điểm đó. Nhưng 50 năm trước, họ đều quá trẻ và không nghĩ sẽ phải chờ quá lâu để gặp lại nhau.

Trước cuộc hẹn cuối cùng ở Biên Hòa, Ken đến bưu điện mua một xấp 50 bao thư, đánh số từ 1-50 đưa cho Lan với lời hẹn: khi gửi lá thư cuối cùng, anh sẽ trở về tìm em.

Ken không thể ngờ Lan viết thư cho mình mỗi ngày. 50 lá thư được gửi hết khi mùa xuân năm 1970 chưa đến và Lan vẫn tiếp tục viết, để hỏi thăm công việc của Ken và trả lời câu hỏi “Em có nhớ anh không?”.

Cả hai mất liên lạc không lâu sau khi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam. Khi hòa bình lập lại, gia đình Lan đốt bỏ mọi đồ vật liên quan đến chế độ cũ, cả những kỷ vật cá nhân.

Ken luôn day dứt vì đã không thực hiện được lời hứa của mình. Ông liên tục tìm kiếm thông tin về Lan nhưng không có kết quả vì không biết tên thật cũng như năm sinh của bà.

Trong một nhóm liên lạc online có các cựu binh ở Mỹ, một người từng chiến đấu ở Việt Nam năm 1968 chia sẻ chuyện mình từng yêu một cô gái Việt Nam nhưng khi quay trở lại sau cuộc chiến, ông phát hiện cô đã chết còn mình thì đến quá trễ.

Câu chuyện khiến Ken vô cùng xúc động vì nó rất giống với hoàn cảnh của ông. Ông trả lời người cựu binh: “Tôi chưa bao giờ quay lại Việt Nam, tôi thậm chí còn không biết cô ấy có còn sống không”.

Từ đây, ông Ken nhận được liên lạc từ một người tên Robert, là con lai đang sinh sống ở TP.HCM. Robert đề nghị Ken cung cấp thêm thông tin để hỗ trợ tìm Lan. Sau một thời gian trao đổi và tin tưởng Robert, ông Ken kể cho Robert câu chuyện của mình.

Giây phút hội ngộ xúc động giữa ông Ken Reesing và bà Thúy Lan tại sân bay Tân Sơn Nhất tối 12-9 – Ảnh: QUANG ĐỊNH

Thấy nhau nhờ… Facebook

Robert sau đó rao thông tin tìm bà Lan trên trang Facebook Người Đồng Nai vào năm 2019. Thông tin từ cộng đồng nhanh chóng chỉ ra bà Lan gắn với các địa điểm trên trong giai đoạn lịch sử này.

Ngày 9-6, ông Ken và bà Lan có cuộc trò chuyện đầu tiên qua Facebook messenger nhờ sự kết nối của Robert.

Để thận trọng, ông Ken và Robert chuẩn bị một số hình ảnh và câu hỏi chung chung với hi vọng nếu trả lời đúng, bà chính là người phụ nữ nhiều năm qua ông tìm kiếm.

Ken gửi cho Robert tấm ảnh về khu vực doanh trại, dặn Robert hỏi bà Lan chỉ giúp đâu là EM Club, đâu là căn cứ quân nhân. Ông cũng dặn Robert hỏi về những bao thư. Tuy nhiên, bà Lan không trả lời đúng câu hỏi nào.

Chia sẻ với Tuổi Trẻ, ông Ken kể: “Lúc đó tôi nghĩ, ôi Chúa ơi, đó có thể không phải là cô ấy. Chuyện này mới kinh khủng làm sao”.

Về phía bà Lan, cuộc nói chuyện này cũng khiến bà hồi hộp không kém. Nhiều năm trôi qua, mọi kỷ vật đều đã mất, cuộc sống một mình nuôi con khiến bà không nghĩ đến chuyện xưa.

Bà đề nghị Ken gửi một tấm ảnh hiện nay nhưng nhìn tấm ảnh, bà trả lời: “Tui không có biết ông này. Coi chừng nhận lộn mất công ổng thất dzọng”.

Nhiều năm đã trôi qua, bà đề nghị nếu có thể, hãy cho bà xem hình ảnh thời hồi trẻ. Để thận trọng, thay vì gửi duy nhất một tấm hình của mình, ông Ken gửi 4, 5 tấm ảnh, trong đó có hai tấm ảnh của ông, một trong quân phục màu xanh và một trong trang phục bình thường.

Nói đến đây, ông Ken nghẹn ngào bật khóc. Ông quay sang bà Lan giấu khuôn mặt đầy nước mắt.

“Bà ấy chỉ đúng. Bà ấy đã chỉ vào tấm hình của tôi” – kể lại những gì đã xảy ra, ông vẫn rất hồi hộp như sống lại giây phút ấy của ngày 9-6. “Đó chính là bà ấy”, Ken khẳng định.

Nhưng Robert không khỏi ngạc nhiên: “Tại sao bà ấy không nhận ra bộ quân phục”. Điều này càng khẳng định chắc chắn với Ken bởi ông chưa bao giờ mặc bộ quân phục trong ảnh khi gặp bà.

“Thế là đủ”, ông Ken khẳng định.

Giữ lại cho riêng mình

Họ đã nhìn nhau, khóc, cười và nói chuyện rất lâu ngay ở sân bay Tân Sơn Nhất đêm 12-9. Chúng tôi tò mò muốn biết Ken đã nói điều gì đầu tiên với bà sau nhiều năm xa cách nhưng ông muốn giữ lại điều đó cho riêng mình.

Còn trong cuộc nói chuyện đầu tiên qua messenger với bà Lan vào tháng 6-2019, câu đầu tiên và là nỗi niềm sau 50 năm của ông là: “xin lỗi vì đã không giữ lời hứa”.

Ông cho biết đã cố gắng học tiếng Việt để nói với bà điều đó.

Gia đình bà Lan mời ông làm khách của gia đình trong hai tuần ở lại Việt Nam. Bà Lan và con gái bán cháo trắng, cháo đậu ở Biên Hòa.

12h hằng ngày. họ bắc bếp nấu cháo, bà phụ giữ cháu ngoại, bán đến 21h30 thì đóng cửa. Trong những ngày sắp tới, cửa hàng sẽ có người phụ giúp mới là vị khách đặc biệt của gia đình.

Chia sẻ với báo Tuổi Trẻ trước giây phút hội ngộ sau 50 năm, bà Lan cho biết: “Cả gia đình tui đều vui. Vui cho tui vì ở tuổi này tìm lại được một người bạn đặc biệt. Người ta nhớ tới mình, người ta mới kiếm mình. Tui có nhớ ông ấy cũng không có điều kiện đi tìm.

Chuyện này rất bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của bất kỳ ai. Không ngờ 50 năm mà còn được gặp lại người xưa. Cũng không ngờ ổng còn giữ được mấy tấm ảnh của tui mà ngày xưa tui tặng ổng”.

Ông Ken xúc động quay về phía bà Lan, vừa rớm nước mắt vừa cười với bà: “Trước khi gặp Lan, tôi đã nghĩ có thể nhân dịp này về thăm nơi từng là căn cứ cũ, chụp vài bức ảnh ngày này – nơi ấy, không phải cho bản thân mà cho các đồng đội… Nhưng chuyện đó giờ không quan trọng nữa”.

Ông cũng muốn thử đi xe máy và có thể cùng bà đi biển, sao cũng được, quan trọng là trong hai tuần ở Việt Nam, ông sẽ là khách trong gia đình bà, phụ bà bán cháo trắng ở Biên Hòa.

Năm 1967, không lâu trước khi Lan và Ken gặp nhau, bài hát có tên What a wonderful world (Một thế giới tuyệt vời) do Bob Thiele và George David Weiss viết đi vào lòng người.

Bài hát ca ngợi cuộc sống, từ cái cây xanh, đóa hoa hồng, bầu trời xanh, làn mây trắng… Dù nhỏ nhưng chúng cũng đủ làm ta phải thốt lên “Ôi cuộc đời thật đẹp!”.

Cuộc hội ngộ của ông Ken và bà Lan là điều gì đó thật đặc biệt, xảy ra với những người bình thường và ngay giữa mọi người.

Quán cháo của bà Lan những ngày tới có thể sẽ có nhiều người dưng ghé qua chỉ để chia sẻ một nụ cười với bà vì cuộc đời dẫu có đắng cay nhưng có lúc đẹp hơn một giấc mơ.

Thu hút ngay từ ánh nhìn đầu tiên

Tháng 12-1968, hai năm sau khi nhập ngũ, ông Ken Reesing được điều tới Việt Nam. Tối tối, ông thường đi bộ tới quán bar EM Club và gặp Lan. Ken cho biết mình bị Lan thu hút ngay từ cái nhìn đầu tiên bởi mái tóc đen, làn da ngăm và nụ cười quyến rũ nhất “mà bạn có thể tưởng tượng được”.

Ken thường tìm cách ngồi gần khu vực cô phục vụ đồ uống. Ông thường trộm nhìn cô nhưng luôn cố gắng để không bị bắt gặp. Hai người dần bắt chuyện và trở thành một đôi. Trong số nhiều quân nhân Mỹ cũng để ý đến Lan, Ken cảm thấy may mắn vì cô đáp lại tình cảm của ông.

Họ hẹn hò khi có thể nhưng không có nhiều cơ hội. Nhiều cuộc gặp trôi qua rất bình yên, cả hai đều nghĩ mình sẽ có nhiều thời gian nên đã không hỏi nhiều về nhau, họ không biết ngày sinh của nhau, gia cảnh người kia thế nào…

Khi trở về Mỹ, ông Ken từng kết hôn nhưng không có con cái và sống độc thân với một chú mèo ở tiểu bang Ohio. Bà Lan cũng từng trải qua một cuộc hôn nhân. Nhiều năm nay, bà sống một mình, mở quán bán cháo trắng, cháo đậu cùng con gái ở Biên Hòa (Đồng Nai).

Thông báo trên Facebook Người Đồng Nai


Ken Reesing khi còn trẻ (ảnh trái) và bà Thúy Lan khi còn làm việc cho câu lạc bộ EM Club

Xin chào, tôi là Ken Reesing (cựu binh Mỹ) từng đóng quân tại căn cứ Long Bình (Biên Hòa) năm 1969. Tại đây, tôi đã quen và yêu một cô gái tên là Thúy Lan. Khi đó, cô ấy làm việc tại EM Club trong căn cứ Long Bình (cô ấy giờ có lẽ khoảng 70 tuổi).

Tôi chưa bao giờ ngừng nghĩ về cô ấy. Tôi đã hứa với cô ấy sẽ quay trở lại nhưng vì nhiều lý do tôi đã không; tôi muốn tìm lại cô gái ấy, người luôn hiện hữu trong trái tim tôi, chỉ để mong muốn biết rằng cô ấy có còn sống và hạnh phúc không thôi, và tôi sẽ không xen vào cuộc sống của cô ấy.

Tôi đã rất vui vì biết có Fanpage cộng đồng ở Đồng Nai, tôi chợt lóe lên cơ hội gặp lại. Cảm ơn rất nhiều.

Bà Lan và gia đình có mặt ở sân bay Tân Sơn Nhất trước lúc chuyến bay của ông Ken hạ cánh. Gia đình để bà được riêng tư với cảm xúc của mình – Ảnh: QUANG ĐỊNH

Sau 50 năm, ông Ken và bà Lan may mắn gặp lại nhau. Họ không cảm thấy có gì xa cách. Thay vào đó là niềm hạnh phúc không thể che giấu – Ảnh: QUANG ĐỊNH

Theo tuoitre.vn

Cuộc hội ngộ sau 50 năm của cựu binh Mỹ và bạn gái Việt – Cuối cùng họ cũng đã gặp được nhau

12/9 là ngày hiếm hoi bà Lan đóng cửa hàng cháo ở Biên Hòa. Bà ăn tối sớm và ra sân bay Tân Sơn Nhất đón người đàn ông mình yêu 50 năm trước.

Gần 22h, khi cả gia đình chờ ở cửa ra dành cho hành khách quốc tế đáp chuyến bay đến TP HCM, bà Lan, tên thật là Vũ Thị Vinh, 67 tuổi, kiên quyết đứng ở cột số 12, mặc cho mọi người nói rằng bà nên tìm một chỗ ngồi để đỡ mệt.

Hai tháng trước, khi ông Ken Reesing chia sẻ ý định qua Việt Nam gặp, bà Lan từng từ chối.

“Cô không muốn ông ấy phải đi một mình, xa xôi quá. Cô có người em gái ở Mỹ, Tết này sẽ về chơi, vì vậy cô có đề xuất Ken là đợi đến Tết để về cùng em gái cô. Ông ấy không đồng ý, nhất quyết muốn qua vào tháng 9”, bà Lan kể lại với người viết.

Hơn một tiếng sau khi chuyến bay quá cảnh từ Nhật Bản hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, cựu binh Mỹ vẫn chưa xuất hiện. Bà Lan vẫn đứng, hồi hộp chờ đợi nhưng không quên nở nụ cười tươi rói mỗi khi nhắc tới người đàn ông nói chuyện qua điện thoại với bà hàng ngày trong vài tháng gần đây.

“Cô hồi hộp lắm, lúc nãy ông ấy mới nhắn tin nói là đang quá cảnh ở Nhật, cuối cùng thì cũng sắp gặp được nhau rồi”, bà nói.

Cái ôm đầu tiên giữa ông Ken và bà Lan tại sân bay Tân Sơn Nhất, TPHCM, ngày 12/9 sau 50 năm xa cách. Ảnh: Hiền Đức.

Ông Ken cuối cùng cũng bước ra trong chiếc áo sơ mi xanh kiểu quân đội và không giấu nổi sự háo hức trước khi tìm đến cột số 12, nơi ông có hẹn với người phụ nữ Việt Nam đang đợi trong tà áo dài.

“Tôi cần đến cột số 12”, ông nói trong lúc kéo hành lý. Người đàn ông ở tuổi 71 dẫu mệt mỏi sau hành trình hơn 14.000 km nhưng vẫn tươi cười khi thấy bóng dáng bà Lan từ phía xa.

Thấy người mình từng yêu bước tới với bó hoa trên tay, bà Lan bật khóc và dang rộng vòng tay chào đón ông. Họ vỡ òa trong những giọt nước mắt hạnh phúc và lời thì thầm yêu thương.

Ông Ken thỉnh thoảng dùng tay lau nước mắt cho người phụ nữ đang ôm mình. Ông cũng bật khóc.

Bà Lan khóc khi lần đầu gặp lại ông Ken sau 50 năm tại sân bay Tân Sơn Nhất đêm 12/9. Ảnh: Hiền Đức.

“Điều đầu tiên tôi nói với Lan là lời xin lỗi, xin lỗi vì tôi đã không thể thực hiện lời hứa quay lại sớm hơn… Tôi đang mặc chiếc áo kiểu quân đội giống trong bức ảnh 50 năm trước, để Lan nhận ra tôi”, ông Ken chia sẻ với VnExpress tại sân bay.

Khác với lần đến Việt Nam vào năm 1969, chuyến đi lần này được ông Ken miêu tả “tuyệt vời và kỳ diệu”. Sự hồi hộp khiến ông chẳng thể chợp mắt trong suốt chuyến bay.

Họ cùng nhau về Biên Hoà, nơi bà Lan đang sống trong căn nhà cấp bốn và bán cháo trắng để mưu sinh. Họ sẽ dành thời gian đi du lịch và tổ chức sinh nhật 3 tuổi cho cháu ngoại của bà Lan. Ông Ken đề xuất đi biển và nhận được cái gật đầu ngay sau đó từ người phụ nữ đứng bên cạnh.

Cả hai muốn “cuộc hội ngộ như một giấc mơ đẹp” này diễn ra tự nhiên, không gượng ép.

“Tôi còn muốn thuê xe máy để chở Lan và học tiếng Việt để nói chuyện với mọi người trong gia đình cô ấy”, cựu binh Mỹ nói trong những giọt nước mắt.

Bà Lan không quên giới thiệu từng thành viên trong gia đình mình với ông Ken. Họ trò chuyện hàng ngày qua màn hình điện thoại và coi ông như người trong nhà. Em trai của bà Lan cho biết cả gia đình thường xuyên gửi ông Ken hình ảnh về hoạt động thường ngày của họ.

Ông Ken và các thành viên trong đại gia đình của bà Lan tại sân bay Tân Sơn Nhất ngày 12/9. Ảnh: Hiền Đức.

Ông Ken gặp bà Lan tại một bán bar dành cho binh lính Mỹ trong căn cứ Long Bình vào năm 1969 khi ông đến Việt Nam tham chiến. Nhưng cả hai bị chia cách vài tháng sau đó khi Ken trở về Mỹ. Những lá thư trở thành cầu nối duy nhất giữa hai người yêu nhau cách nửa vòng Trái đất. Trước khi chia tay, chàng thanh niên Ken khi đó mua 50 chiếc phong bì đưa Lan và hứa khi chiếc phong bì cuối cùng được gửi đi, ông sẽ quay lại tìm mối tình đầu của mình. Nhưng lời hứa đã không thực hiện và hai người mất liên lạc.

Ông Ken sau đó nhiều lần tìm kiếm người con gái Việt Nam ông từng yêu năm xưa nhưng không thành công. Ông đã nghĩ rằng Lan có thể đã qua đời.

50 năm sau, dẫu muộn màng, lời hứa về cuộc hội ngộ đã được thực hiện.

Theo Long Nguyễn (VnExpress.net)

Bài viết của Trịnh Công Sơn trên báo Tuổi Trẻ 40 năm trước: Giòng tình cảm ấy vẫn liên tục chảy…

Bài viết này của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 27/4/1979, cách đây tròn 40 năm. Bài viết này phản ánh cái nhìn, quan điểm của nhạc sĩ họ Trịnh trong một khúc quanh lịch sử quan trọng…

Đã bốn năm kể từ ngày đất nước hoàn toàn được giải phóng. Trên đất nước độc lập và thống nhất của chúng ta, thời gian ấy tuy chưa dài nhưng cũng tạm đủ để những gì còn xa lạ trở nên gần gũi, những nhớ nhung được đền bù, những ngộ nhận bị xoá tan và những vết thương được hàn gắn.

Con người vốn có nhiều khả năng nhưng có một khả năng lớn lao nhất, ấy là nó có và nó biết nó có một tâm hồn. Nhờ có tâm hồn, con người biết chọn cái đẹp để yêu và lọc cái xấu để lìa bỏ. Và cũng nhờ có tâm hồn, con người đã biết thiết lập cho mình một thế giới riêng tư, ở đó có không gian và thời gian riêng của nó.

Vào những năm đất nước còn mang trên mình cái vết chém ngang vĩ tuyến thứ 17, chính nhờ thế giới riêng tư đó mà tuổi trẻ miền Nam đã thoát ra khỏi mọi ranh giới, vượt ra khỏi mọi bức bách của đời sống thực tế để tìm về với miền Bắc bằng ý nghĩ.

Khi Bác Hồ nói: “Miền Nam trong trái tim tôi” thì mọi người ở miền Nam đều có quyền nghĩ rằng mình đang có một vị trí tình cảm trong trái tim của Bác. Câu nói đó không loại trừ một ai ngoài những kẻ cố tình phản bội. Câu nói còn bao hàm tính chất địa lý nguyên vẹn của miền Nam là có cả núi non, sông biển, đồng bằng, ruộng làng và cả đô thị miền Nam nữa.

Chúng tôi lớn lên ở các đô thị miền Nam và xuyên qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng tôi có điều kiện để tin rằng tuổi trẻ các đô thị miền Nam xứng đáng sống trong tình cảm đẹp đẽ đó. Cái tuổi trẻ mà tôi đã may mắn gặp gỡ ở các giảng đường đại học, trong những buổi hội thảo, những đêm không ngủ, những ngày xuống đường, những giờ phút lo âu trốn tránh, những buổi in lậu những bài báo kêu gọi… Tuổi trẻ ấy không phải là toàn thể nhưng nó đại diện được cho lứa tuổi thanh niên vào những năm chống Mỹ.

Vào những năm ấy, miền Bắc thường xuyên có mặt trong nỗi lòng của mỗi người. Một tình yêu tự nhiên, trong sáng, không cần phải cổ động. Điều ấy không đáng ngạc nhiên bởi lẽ, dù phải sống trong hoàn cảnh của đất nước tạm thời bị chia cắt lúc bấy giờ, mỗi đứa trẻ Việt Nam khi lớn lên, thông qua bài học lịch sử và địa lý đầu tiên đều biết rằng mình là con cháu Hùng Vương không phải một nửa hình chữ S. Đã biến thành nụ cười mỉa mai hình ảnh cái thời bị ngộ độc bởi thứ tư tưởng nô lệ rằng có một Nam kỳ quốc và một Bắc kỳ quốc. Tôi nhớ lại cái thuở chân ướt chân ráo bước vào thành phố Sài Gòn hồi năm 1949, vào lớp nói giọng Huế không ai hiểu cả, kể cả thầy lẫn bạn. Và sau đó không lâu, ông thầy dạy toán hỏi tôi: “Em không phải là người Việt à?” Tôi ngạc nhiên trả lời: “Thưa thầy em là người Việt” – Ông hỏi tiếp: “Sao em nói ‘tiếng’ khác ‘qua’?” Dạo ấy tôi chưa có một khái niệm rõ ràng về tính khôi hài trong những câu chuyện dân gian nên chỉ sửng sốt mà không cười được.

Đã từ lâu, qua tuổi trẻ đó mà tôi biết được ý nghĩ phân biệt người Bắc, người Nam không còn nữa. Cho nên nỗi nhớ mong những anh em của mình ở nửa đất nước bên kia vĩ tuyến là một tình cảm có thật và tình cảm ấy có tự đáy lòng. Chính vì tình yêu và nỗi nhớ mong đó mà tuổi trẻ đô thị đã sống tốt hơn và đẹp hơn. Trong đời sống tinh thần và tình cảm, lứa tuổi thanh niên ấy cảm thấy có một quê nội và mình không về thăm được. Cái quê nội bị cắt lìa ngoài ý thức và sự tham dự của tuổi trẻ. Và từ đó, như những trẻ con theo bố mẹ làm ăn xa, chúng chỉ còn biết quê nội qua lời kể chuyện. Sự thiệt thòi đó làm nảy sinh trong lòng tuổi trẻ miền Nam những tình cảm càng lúc càng sâu sắc hơn. Tình cảm ấy đã biến thành hành động ở một số người này và trở nên lời thở than ở một số người khác. Nhưng cho dù bằng hành động hoặc bằng lời thở than thì cả hai cũng đều xuất phát từ một tình yêu chân thật. Tình yêu ấy hình như không cần phải giáo dục mới có được mà nó nảy mầm tự nhiên trong lòng mỗi người. Cái hạt giống yêu thương đã có sẵn trong trái tim của tuổi trẻ miền Nam nên chỉ cần một chút mặt trời, hạt mầm đã tự lớn dậy. Chút mặt trời ấy chính là tiếng gọi vừa xa xôi vừa gần gũi của một nửa quê hương chưa hề gặp mặt. Chưa bao giờ gặp mặt nhưng nỗi nhớ nhung thì quá lớn. Nỗi nhớ chuyền nhau như lối văn chương truyền khẩu. Nhớ Hà Nội ba mươi sáu phố phường, nhớ Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Trúc Bạch, Hồ Tây, nhớ chùa Hương, chùa Tây Phương, chùa Thầy, nhớ những tình bạn chưa có, nhớ những người yêu chưa thành.

Tôi nhớ lại rất nhiều đêm chúng tôi ngồi nghe đài Hà Nội rồi nói chuyện với nhau về miền Bắc như những kẻ đã từng sống ở đó. Nói say sưa đến độ nhiều lúc tưởng chừng ít phút sau có thể bước lên tàu lửa ra Hà Nội được ngay. Lòng mỗi người chứa chan hình ảnh miền Bắc, hình ảnh Hà Nội để rồi cái hình ảnh ấy cứ lớn dần thêm mỗi ngày, hóa thành một giấc mơ vừa hân hoan thúc giục vừa phiền muộn khôn nguôi. Phiền muộn bởi vì đường về lại chốn quê hương kia còn bao nhiêu là khó khăn mà tuổi trẻ không lường hết được. Chúng tôi đã cùng nhau phác hoạ những cuộc hành hương tưởng tượng về lại quê hương khi đất nước hòa bình. Một quê hương trong một quê hương. Nhưng cái quê hương vắng mặt kia là một nhu cầu tình cảm không thể thiếu được trong đời sống của tuổi trẻ miền Nam. Trong thế giới riêng tư của mỗi người có một miền Bắc, có một Hà Nội theo kiểu mình nghĩ. Dĩ nhiên là không ai giống ai và cũng không ai muốn bắt chước kẻ khác để hình ảnh xa xôi kia của quê hương càng đa dạng, càng phong phú thêm mãi.

Mỗi người tự vẽ lấy cái Hà Nội của mình bằng tình cảm riêng tư – Miền Bắc được đồng hoá với hà Nội. Nói đến Hà Nội là nghĩ đến miền Bắc. Và từ đó, bên lề cuộc sống hàng ngày, giữa lòng đô thị miền Nam, mỗi con người trẻ trung nhưng nhiều thao thức ấy, đã biết chia lòng mình để vui theo những tin vui từ Hà Nội, để buồn theo những tai ương mà Hà Nôi gặp phải. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng nhìn thấy một số hình ảnh về Hà Nội trên các trang báo nước ngoài. Nhưng những hình ảnh rời rạc đó không đủ tạo nên một toàn cảnh cụ thể trong đầu óc chúng tôi. Chỉ thấy, con người trong những hình ảnh kia rất gần gũi thân thuộc với mình và cũng đang cùng mình gánh chung một thân phận quê hương trong những điều kiện khác. Chúng tôi cũng cố gắng tìm hiểu những gì Hà Nội có và những gì Hà Nội chưa có. Biết được cái có để làm niềm tự hào cho mình, biết cái chưa có để hiểu thêm những khó khăn khi miền Bắc còn phải chia cơm xẻ áo cho miền Nam chiê’n đấu.

Có thể có người vội nghĩ rằng những tình cảm này không có gì lớn lao cả nhưng thường khi, qua kinh nghiệm mà đời sống mang đến, chính cái thứ tình cảm nho nhỏ mà bền bỉ ấy đã làm cơ sở cho phẩm hạnh con người đứng vững. Nói về tình cảm có thật trong lòng tuổi trẻ miền Nam dạo ấy đối với miền Bắc có lẽ khó mà nói đầy đủ được.

Từ ngày 30 tháng 4 miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, nỗi nhớ về một nửa quê hương kia không còn nữa vì mọi nẻo về quê nội đã được khai thông. Con người miền Nam được trả về nguyên vẹn với hình hài tinh thần và tình cảm của mình. Nỗi nhớ riêng tư đã có dịp hoà lẫn trong cái chung hạnh phúc. Cái gián đoạn biến thành liên tục. Muốn về thăm quê nội chỉ cần lên đường là đến chốn.

Ai cũng háo hức như nhau, ai cũng dọn sẵn lòng mình để yêu thương cho thoả. Nhưng riêng tôi chưa kịp lên đường mà đã gặp đông đảo anh em về thăm hỏi quanh rồi. Như đã từng gắn bó, tri ngộ tự bao giờ. Trong những ngày đầu tiên ấy tôi đã không có đủ tay để cầm lấy những bàn tay, không có một trái tim to lớn hơn để chứa đủ những tình cảm. Những gì mình cần phải bày tỏ thì đã có hết ở bạn bè, anh em. Hóa ra những tình cảm bấy lâu được nuôi dưỡng trong tôi không có gì độc đáo cả. Từ lâu, rõ ràng chúng tôi ở hai miền Nam Bắc đã nghĩ về nhau, đã yêu mến nhau bằng một thứ tình cảm không có gì khác nhau. Miền Nam chính là quê ngoại và anh em của tôi đã nhanh chân trở về quê ngoại quá sớm. Bao nhiêu lời cũng không đủ để bày tỏ, bao nhiêu cái bắt tay cũng không đủ chuyền cho nhau hết tinh thần để bao nhiêu cái ôm chầm lấy nhau cũng không đủ để truyền đạt hết tình cảm của mình. Có một cái gì còn sâu đậm hơn, ý nghĩa hơn nằm lặng lẽ đằng sau những sự bày tỏ ấy. Phút chốc, trong thế giới riêng tư của tuổi trẻ miền Nam bỗng đầy đặn thêm những hình ảnh mới. Cánh cổng hơn hai mươi năm bị khép kín im lìm đã được phá tan để cho dòng tâm tưởng đứt đoạn của anh em hai miền được nối liền lại. Mỗi người ở nơi đây có dịp soi lại mình trong lòng anh em ở miền Bắc và thấy rõ hình bóng mình ở trong ấy. Cái tình yêu ra khơi ngày trước đã tìm đúng bến đậu. Không nghi ngờ gì nữa, chúng ta đã từng nhận ra nhau khi chưa gặp mặt và phút giây này, nhắc lại tình cảm anh em kia cũng chỉ để xác định thêm một lần nữa cho những ai còn có lúc hoang mang, hoài nghi về tấm lòng của mình.

Tôi là kẻ may mắn trong những người may mắn nhất bởi giờ đây tôi đã giàu có hơn xưa nhiều lắm. Tôi không có một quà tặng nào quí báu hơn tấm lòng của mình. Tôi thử gửi nó đi và tôi đã nhận lại được nhiều hơn những gì mình chờ đợi. Nếu mỗi người bạn chân tình, mỗi tình yêu đằm thắm là một quà tặng thì bên cạnh những quà tặng từng có ở miền Nam, tôi đã được quê hương vừa mở ra thêm cho tôi một kho tàng đầy những tặng phẩm quí giá như thế nữa. Trong thế giới riêng tư của tôi, cái không gian xưa đã bề thế hơn thêm. Đã có thêm nhiều khuôn mặt mới, những tâm sự mới, những phát biểu mới và những vốn sống đặc thù mà tôi và tuổi trẻ nơi đây chưa từng biết đến – kỷ niệm, giờ đây, không chỉ dừng lại ở miền Nam mà còn muốn nối dài ra tận miền Bắc.

Nếu có người bạn trẻ nào chưa sống được trong tình cảm thắm thiết này thì hãy vội lên đường thể nghiệm ngay đi. Bốn năm có thể đã đủ cho một số người này kiểm chứng lại cái vốn tình cảm anh em của mình nhưng biết đâu lại có không ít những người giờ đây vẫn còn loay hoay chưa tìm thấy hoặc chưa được sống trong những tình tự mới mẻ đó. Đất nước độc lập, thống nhất, không chỉ mở ra cho ta một thời điểm lịch sử mới, một hoàn cảnh xã hội mới, mà còn tạo cơ hội cho chúng ta tìm thấy ý nghĩa của những tình cảm mới nữa. Tôi đã tìm được cho tôi những tình bạn hiếm hoi lạ kỳ và tôi mong mọi người cũng được như thế. Có một cái gì đó khác lạ hơn những tình bạn mà ta vẫn gặp từ trước. Một thứ tình bạn nồng nàn, hiểu biết và đầy cảm thông. Tôi nghĩ rằng có thể chính vì cơn hoạn nạn quá dài lâu nên đã làm nảy sinh trên đất nước này một thứ tình tự mới. Hai mươi năm, cái thời gian xa cách ấy quả là một cơn ác mộng. Chính vì biết thế nên mỗi một chúng ta quyết không thể nào để một sự kiện tương tự như vậy tái diễn nữa.

Chúng tôi đã từng nhớ nhung, đã từng vọng tưởng đến miền Bắc trong thời kỳ chống Mỹ. Giờ đây, chính chúng ta đang trực tiếp lo âu nỗi âu lo của cha mẹ, anh chị em chúng ta ở miền Bắc trước cuộc xâm lược của bọn bành trướng Trung Quốc. Máu xương đổ ở biên giới phía Bắc của những người thân thuộc phải được khắc ghi trong tim của mỗi người miền Nam và nhất là của tuổi trẻ miền Nam. Chúng ta đã từng bị chia lìa gia đình, cha mẹ, anh em và chúng ta đã hiểu hơn ai hết cái giá đau thương của những con người có một xứ sở không nguyên vẹn. Đối với quân xâm lược, chỉ còn lòng căm thù và sự đoàn kết ruột thịt để diệt kẻ thù đó.

Xin vui lòng xem lại bài viết gốc trên báo Tuổi Trẻ 40 năm trước tại link sau:

http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=Gi19790427.2.8&e=——-vi-20–1–img-txIN——&fbclid=IwAR399pxtptk6rFwuQrESZh-pkPL3gXbcoskJc-xVWAJPNwcShNaUsq22Tsg#

Trang số 4

Xem hình kích thước lớn: https://nhactrinh.vn/trinh-baotuoitre.jpg

Nguồn: Báo Tuổi Trẻ/Thư viện quốc gia

 

Vĩnh biệt ca sĩ Đoàn Chính – Trưởng nam của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn

Ca sĩ Đoàn Chính là con trai trưởng của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, vừa qua đời ở thành phố Montreal, Canada vào ngày 10 tháng 9 năm 2019, hưởng thọ 74 tuổi. Người chị cả Phương Mai và người em trai út Đoàn Nghiêm của ông cũng đã qua đời trước đây.

Những người em của ca sĩ Đoàn Chính còn lại là nhạc sĩ Hạ Uy Cầm Đoàn Đính, Đoàn Liêm và người em gái Phương Nga.

Đoàn Chính sinh năm 1945, học nhạc với tài tử Ngọc Bảo ở Hà Nội và có một giọng ca tenor thiên phú. Sau khi nhập ngũ, vào chiê’n trường miền Nam (đi B), ông đã quyết định ở lại luôn ở Sài Gòn năm 1968. Từ đó, khán giả miền Nam đã được nghe tiếng hát của Đoàn Chính trên các đài phát thanh và truyền hình Sài Gòn. Trong thời gian này, ông cũng dạy âm nhạc tại Đại Học Minh Đức và Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn. Năm 1972, Đoàn Chính kết hôn với Mộng Hương, ái nữ một người bạn của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn ở Sài Gòn. Sau 1975, vợ chồng của ông đã định cư tại Canada cho đến nay.

Gia đình Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn bên trái và 3 người con thời ấy: Đoàn Đính, Đoàn Chính, Phương Mai (chụp với gia đình người anh ruột của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn phía bên phải).

Sinh sau một người chị, Đoàn Chính là trưởng nam trong gia đình có 6 người con của cố nhạc sĩ nổi tiếng Đoàn Chuẩn. Đoàn Chính sinh ngày 27 tháng 8 năm 1945 tại Hải Phòng, được cha mẹ đưa lên Hà Nội khi đến tuổi đi học. Làm quen với âm nhạc lúc bắt đầu vào bậc trung học, Đoàn Chính theo học tải tử Ngọc Bảo. Năm lớp 8, ông gia nhập Hợp Xướng của đoàn thanh niên Hà Nội. Sau hiệp định Geneve năm 1954, cả gia đình nhạc sĩ Đoàn Chuẩn ở lại để chờ đoàn tụ cùng người anh trai đi theo kháng chiê’n nên không di cư vào Nam.

Năm 1964, Đoàn Chính tốt nghiệp phổ thông nhưng không được tiếp tục học vì lý lịch con nhà tư sản, phải đi lao động kinh tế ở công trường Phú Thọ. Cũng tại đây, năm 1966, Đoàn Chính theo học về điện, đang tiếp tục làm việc thì nhận giấy báo gọi nhập ngũ năm 1967.

Sau năm 1968, khi quyết định ở lại Sài Gòn, ngoài việc dạy âm nhạc tại Đại Học Minh Đức và trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, Đoàn Chính còn cộng tác với các chương trình của đài phát thanh Sài Gòn, đài Mẹ Việt Nam và đài truyền hình Việt Nam. Cùng trong những ngày tháng này, Đoàn Chính được một người bạn cũ của cha là nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, đã di cư vào Nam trước đó, đến thăm, đưa về nhà chơi để rồi duyên gặp gỡ nảy mầm tình yêu với người con gái của ông cụ. Sau những ngày tháng quen biết, tìm hiểu, năm 1972, Đoàn Chính kết hôn cùng người bạn đời của mình là Mộng Hương.

Ông bà Đoàn Chính có 3 người con, 2 gái, 1 trai đều đã thành danh ở Canada. Măm 1990, gia đình Đoàn Chính đã có cơ hội đón cha mẹ là ông bà Đoàn Chuẩn sang chơi 3 tháng qua giấy xin phép của một người em.

Nguồn: thoibao, jimmy Nhựt Hà

Cựu binh Mỹ thực hiện lời hứa 50 năm với bạn gái Việt

Ngày chia tay năm 1969, Ken mua 50 bì thư và hứa khi Lan viết hết cái cuối cùng ông sẽ quay lại Việt Nam, nhưng rồi không thể.

Những ngày cuối tháng 8, ông Ken Ressing, ở quận Medina, bang Ohio, Mỹ, vừa bận rộn với việc nhà cửa vừa lo chuẩn bị mọi thứ cho chuyến thăm Việt Nam trong tâm trạng khó tả.

“Tôi không ngủ được, cũng không muốn ăn”, người đàn ông 71 tuổi chia sẻ với VnExpress về nỗi háo hức. “Thật tuyệt vời! Chỉ ít ngày nữa tôi sẽ có mặt ở Việt Nam để hoàn thành lời hứa của mình sao?”

Chuyến đi này sẽ là lần trở lại Việt Nam đầu tiên của ông Ken sau 50 năm kể từ ngày về Mỹ. Nhưng nó còn có một ý nghĩa đặc biệt hơn nữa, bởi đó là chuyến đi để ông thực hiện lời hứa với mối tình đầu của mình, Thúy Lan, rằng sẽ quay lại Việt Nam để gặp bà.

Ông Ken Reesing, 71 tuổi, hiện sống ở bang Ohio, Mỹ.

Tháng 12/1968, hai năm sau khi nhập ngũ, ông Ken được điều tới Việt Nam làm việc ở trung tâm dịch vụ dữ liệu của quân đội Mỹ đóng tại căn cứ Long Bình, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Tối tối, ông thường đi bộ tới quán bar EM Club (Enlisted Men’s Club) trong khuôn viên doanh trại, nơi có phòng trò chơi, quầy nước và một sân khấu nhỏ để thư giãn. Đó là nơi chàng lính Mỹ 22 tuổi đã gặp Lan vào một ngày sát Tết năm 1969 và say mê cô ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Nhắm mắt lại, ông Ken vẫn nhớ rõ ngày ấy như mới hôm qua. “Tôi chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ gì giống như cô ấy. Mái tóc đen dài óng ả, nét mặt với nước da ngăm tuyệt đẹp và một nụ cười quyến rũ nhất mà bạn có thể tưởng tượng được”, ông kể.

Lan phục vụ đồ uống ở một quầy nhỏ trong góc quán bar và sau khi phát hiện ra cô, ông không thể rời mắt khỏi người con gái này nhưng luôn cố gắng để không bị cô bắt gặp đang nhìn trộm. Sau đêm ấy, Ken ngồi sát hơn chỗ Lan, dù đây là vị trí cách xa sân khấu và chẳng ai thích ngồi. Từ đó, ông chỉ cần đánh mắt sang trái một chút là thấy cô, với nụ cười luôn nở trên môi. Thi thoảng, Ken ngắm Lan khá lâu và cô cũng nhìn lại rồi cười. Hai người dần dần bắt chuyện và trở thành một cặp.

Giữa những chàng trai luôn cố gắng thu hút sự chú ý của cô gái người Việt, Ken cảm thấy may mắn khi ông được cô để mắt tới. “Tôi tự hỏi sao mình lại không nhìn thấy cô ấy trước đó. Tôi yêu mái tóc dài ấy thật nhiều”, ông nói.

Tình yêu của họ là những cuộc hẹn hò vào cuối tuần ở gần doanh trại của Ken sau khi Lan đi nhà thờ hay nấu bữa trưa cùng bạn bè. Ken không thể ra khỏi doanh trại buổi tối và Lan cũng không được phép vào bên trong khu vực quân đội, vì thế họ chỉ quan tâm làm thế nào để ở bên nhau thật nhiều.

Bà Thúy Lan khi còn là nhân viên tại EM Club ở Đồng Nai năm 1969

Ken và Lan thậm chí không biết sinh nhật của người kia là ngày nào, gia cảnh ra sao. Đôi khi họ chỉ gặp nhau và chẳng nói gì nhưng vẫn cảm nhận được một thứ cảm xúc ngọt ngào đang tan chảy bên trong mình. Ken cứ nghĩ rằng hai người còn nhiều thời gian để trò chuyện, cho đến khi ông nhận được lệnh rời quân ngũ sớm để quay lại trường đại học.

“Theo kế hoạch, tôi sẽ rời Việt Nam về Mỹ vào tháng 9/1969, sớm trước thời hạn 3 tháng”, ông nói. “Vì Lan mà khi tháng 9 càng cận kề, tôi càng ước mình không phải làm điều đó”, ông nói.

Những ngày chủ nhật trôi qua căng thẳng hơn, hai người trở nên kiệm lời và dành thời gian cho những cái ôm. Ken cố gắng quan tâm Lan nhiều hơn và họ đều hy vọng sẽ sớm gặp lại nhau. Có một ngày, Ken đã hỏi bạn gái rằng cô có muốn rời Việt Nam hay không. Cô lắc đầu. Đó là lần duy nhất ông hỏi câu này.

“Tôi nghĩ những cuộc trò chuyện cuối cùng của chúng tôi sẽ khác nếu cô ấy trả lời là ‘có’ “, Ken nói. “Tôi đã nghĩ đến việc sẽ tuyệt vời như thế nào nếu mình cưới cô ấy, nhưng tôi đã không hỏi. Tôi cứ nghĩ rằng sẽ không phải chờ quá lâu để gặp lại nhau”.

Một ngày trước cuộc gặp cuối cùng của đôi tình nhân, Ken đến bưu điện mua một hộp bì thư và đánh số từ 1-50 ở góc trái bên dưới, sau đó cất chúng lại vào hộp. Ông trao nó cho Lan và bảo rằng khi nào cô gửi cho ông lá thư cuối cùng trong số này, đó là lúc ông trên đường trở lại tìm cô.

“Tôi đã hứa”, Ken nói. “Ngày hôm ấy khá khó khăn đối với tôi. Tôi nhớ mình đã ôm cô ấy chặt nhất có thể. Tôi hôn cô ấy, sau đó lại cố ôm cô ấy chặt hơn nữa. Tôi nghe thấy tiếng cô ấy thì thầm vào tai mình bằng tiếng Việt. Đến bây giờ nhắm mắt lại, tôi vẫn có thể nghe thấy những lời thì thầm ấy”.

Khoảnh khắc đó in sâu vào tâm trí của Ken suốt 50 năm qua, dù ông chưa bao giờ hiểu Lan nói gì. Cho tới cách đây vài tháng, Ken mới biết đến công cụ dịch lời nói của Google và kinh ngạc khi biết ngày ấy, cô gái Việt Nam đã thì thầm gì với mình. Tuy nhiên, ông từ chối tiết lộ điều này.

Những lá thư trở thành cầu nối duy nhất giữa hai người yêu nhau cách nửa vòng Trái đất suốt một năm sau đó. Khi mua 50 bì thư, Ken đã nghĩ rằng Lan sẽ viết thư khoảng một tuần một lần nhưng hóa ra, ngày nào cô cũng viết. Trước khi năm 1969 kết thúc, số bì thư đã không còn cái nào nhưng Lan vẫn tiếp tục viết.

Một lá thư bà Lan viết gửi ông Ken

Mỗi cuối tuần, từ trường trở về nhà, Ken lại nhận những lá thư được gửi từ phương xa thông qua một người bạn đóng quân ở Việt Nam. “Khoảng thời gian ấy đối với tôi vừa hạnh phúc lại vừa lo lắng”, ông nói.

Ken đã cân nhắc đến việc tái nhập ngũ nhưng không có gì đảm bảo rằng ông sẽ được quay lại Việt Nam trong bối cảnh quân đội Mỹ đang rục rịch rút quân. Ông muốn kể cho mọi người nghe về Lan nhưng không ai muốn biết gì thêm về Việt Nam nữa. Báo chí Mỹ liên tục đưa tin về cuộc chiến và đều là những thông tin đáng buồn.

“Không ai muốn tôi trở lại, nhất là cha tôi. Mọi người ở Mỹ phản đối gay gắt cuộc chiến này và họ thù ghét những người lính trở về từ Việt Nam”, Ken kể. “Lời hứa với Lan đè nặng lên tâm trí tôi nhưng việc quay trở lại vô cùng khó khăn”.

Khi cuộc chiến tranh dần đi đến hồi kết, quân đội Mỹ vội vã rút khỏi miền nam Việt Nam, căn cứ Long Bình cũng biến mất và hai người không còn liên lạc với nhau nữa. Ken đã gửi vài bức thư trực tiếp tới EM Club nhưng không nhận được phản hồi.

“Tôi đã thất hứa và việc này gần như khiến tôi tan nát. Tôi thật ngu ngốc. Không còn cách nào cả”, Ken nói.

Ken Reesing sau khi trở về Mỹ năm 1969. 

Từ năm 1973 đến nay, Ken vẫn không ngừng lo lắng về Lan. Ông thực sự không dám nghĩ cô sống sót qua cuộc chiến tranh nhưng luôn giữ chút hy vọng nhỏ nhoi bởi “cô ấy còn trẻ, xinh đẹp, chăm chỉ và đầy sức sống”.

Ken vẫn cố gắng tìm hỏi thông tin về Lan nhưng sau năm 2000, khi mạng Internet phát triển mạnh, ông mới thực sự đẩy mạnh cuộc tìm kiếm. Ken từng thuê các công ty, trong đó có một công ty quốc tế với chi nhánh tại Sài Gòn, tìm kiếm Lan.

Trong quá trình này, Ken cũng vô tình quen một người sống ở Biên Hoà qua mạng và được người này giúp đỡ tìm kiếm Lan suốt hai năm bằng các cuộc điện thoại, thậm chí những chuyến đi tới Long Bình, nhưng không có kết quả.

Việc tìm kiếm diễn ra trong bí mật bởi Ken không muốn gây ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của Lan. “Tôi chỉ muốn an tâm rằng người bạn gái năm nào vẫn mạnh khỏe và an toàn”, ông nói.

Ken luôn hối hận khi ngày đó đã không hỏi bất cứ thông tin gì để sau này có thể tìm ra Lan dễ dàng hơn, như địa chỉ cụ thể của cô ở Biên Hòa. Ông cũng không rõ họ của cô chính xác là Võ Thị hay Vũ Thị.

Một ngày đầu tháng 6, Robert, một người con lai đang sống ở Sài Gòn, bất ngờ liên lạc với ông Ken qua một nhóm cựu binh Mỹ trên mạng, sau khi biết ông đang tìm kiếm một phụ nữ Việt Nam thất lạc trong chiến tranh. Sau một lúc trò chuyện và tìm hiểu thông tin giữa hai bên, ông Ken đồng ý gửi những bức ảnh của Lan cho Robert. Chỉ hai ngày sau, ông và Lan lần đầu trò chuyện với nhau qua điện thoại.

“Khi nghe Robert nói rằng cậu ấy đã tìm thấy Lan, tôi không thể tin nổi”, ông Ken kể. “Robert đã làm việc ấy quá nhanh và hiệu quả”.

Robert cho hay để tìm kiếm người phụ nữ tên là Thúy Lan, anh đã đăng thông tin mà ông Ken cung cấp kèm ảnh lên một nhóm người Đồng Nai trên Facebook và nhờ sức lan truyền của mạng xã hội, chỉ trong chưa đầy một ngày, họ đã giúp tìm ra người con gái năm xưa.

Tấm ảnh cũ của bà Thúy Lan được ông Ken nhờ đăng tìm trên facebook

Ngày 9/6, Robert tìm về địa chỉ của bà Thúy Lan ở phường Thanh Bình, thành phố Biên Hòa, để xác minh. Theo lời dặn của ông Ken, Robert cẩn trọng đặt ra cho người phụ nữ này một số câu hỏi vừa để đảm bảo đó là bà Lan, vừa không gây tổn thương cho bất kỳ ai liên quan.

Khi người phụ nữ đã 67 tuổi không trả lời đúng bất kỳ câu hỏi nào, Robert và Ken đã rất thất vọng và nghĩ họ tìm nhầm người. Sau đó, Robert gửi cho Ken xem bức ảnh thời trẻ mà bà Lan cung cấp, còn bà đề nghị ông cho xem một bức ảnh nào đó chụp ở căn cứ Long Bình.

Ken vội vã đi tìm và chỉ có duy nhất một bức ảnh chụp cùng đồng đội năm 1969. Bà Lan lập tức nhận ra người bạn trai cũ trong bức ảnh nhưng cho hay chưa bao giờ thấy bộ đồng phục mà ông mặc.

“Đó chính là Lan, không nghi ngờ gì nữa”, Ken nói. “Cô ấy không trả lời được câu hỏi nào vì không còn nhớ gì. Nhưng bức ảnh của cô ấy, cùng với việc cô ấy không biết bộ quân phục của tôi vì tôi chưa bao giờ mặc bộ đồ này đi gặp cô ấy, thế là đủ”.

Bà Thúy Lan hiện nay.

Ken như trút bỏ được tảng đá đè nặng lên trái tim suốt 50 năm qua. Ông ước mình có thể diễn tả cảm xúc này thành lời. Robert cho hay khi được anh kết nối để nói chuyện với bà Lan, ông Ken đã rất xúc động và câu đầu tiên ông nói là “xin lỗi vì đã không giữ lời hứa”.

Trải qua một cuộc hôn nhân ngắn ngủi và không có con cái, ông Ken lựa chọn cuộc sống độc thân cùng một chú mèo trong ngôi nhà ở ngoại ô Ohio rộng hơn 700 m2 và thi thoảng hội hè cùng bạn bè. Sau khi câu chuyện về ông và bà Lan được báo chí đăng tải, cuộc sống của ông trở nên sôi động hơn với hàng chục lời mời kết bạn trên Facebook từ Việt Nam.

Những gì nhìn thấy qua Internet khiến ông sửng sốt bởi hoàn toàn khác so với một Việt Nam mà ông từng biết vào năm 1969. Ken đang vô cùng háo hức chờ tới ngày 12/9 tới để được quay lại đất nước này, và người con gái ông từng thương nhớ sẽ ra đón ông ở sân bay.

Cũng trải qua một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, mấy chục năm nay bà Lan một mình mở quán cháo trắng nuôi con gái ăn học. Mối tình xưa đã lui vào dĩ vãng nên bà rất sửng sốt khi biết có người đàn ông Mỹ tìm mình.

Lần này quay lại Việt Nam, ngoài trở về căn cứ Long Bình năm xưa, ông Ken cũng muốn dành thời gian gặp gỡ cả gia đình bà Lan và phụ giúp công việc bán hàng với bà. Có một điều mà đến bây giờ Ken cũng mới biết đó là bà tên thật là Vũ Thị Vinh, còn Thúy Lan chỉ là tên mà bà tự đặt.

“Lúc chia sẻ câu chuyện về Lan, tôi đã từ bỏ ý nghĩ rằng cô ấy còn sống và dự định sẽ quay lại Long Bình một mình để hoàn thành lời hứa. Tôi nghĩ mình sẽ về thăm một ngôi mộ”, cựu binh Mỹ nói. “Thế nhưng cô ấy vẫn còn sống và đến bây giờ vẫn giữ nụ cười tuyệt vời ấy”.

Sau tất cả những cung bậc cảm xúc đã trải qua trong đời, Ken muốn mượn lời một bài hát “Loving her was easier than anything I’ll ever do again” …của ca sĩ người Mỹ Kris Kristofferson, bài hát luôn gợi nhắc ông về mối tình 50 năm trước.

“Yêu Lan dễ dàng hơn bất cứ điều gì tôi từng làm”, ông Ken nói.

Theo Anh Ngọc (VnExpress.net)

Hôm nay Tôi Đi Học

Tôi Đi Học là khúc ca cảm xúc trong trẻo của ngày đầu đến trường. Tác giả Thanh Tịnh đã viết một cách sâu sắc từng cung bậc cảm xúc, từng dòng chảy cảm xúc cứ len lỏi, nhẹ nhàng lan tỏa bồi hồi, bỡ ngỡ, rạo rực… trên từng dòng chữ…

Bao nhiêu năm qua, truyện ngắn Tôi Đi Học của Thanh Tịnh luôn gợi lại nỗi niềm không thể gọi thành tên đối với tất cả những ai đã từng có những bước chập chững đầu tiên trên con đường đến lớp.

Mời bạn đọc lại toàn vẹn Tôi Đi Học của Thanh Tịnh được viết từ gần 80 năm trước:

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa.

Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn.

Dọc đường tôi thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng chì ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước o sách vở thiệt nhiều lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết.

Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi:

– Mẹ đưa bút thước cho con cầm.

Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm:

– Thôi để mẹ nắm cũng được.

Tôi có ngay cái ý kiến vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước.

Ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi.

Trước sân trường làng Mỹ Lý đầy đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa.

Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé trường một lần.

Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng gì khác là nhà trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng.

Nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ.

Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bở ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nữa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ.

Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Chung quanh những cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa. Vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả banh tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp.

Ông đốc trường Mỹ Lý cho gọi mấy cậu học trò mới đứng lên trước lớp ba. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông đọc tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đang đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ:

– Thế là các em đã vào lớp năm. Các em phải cố gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy chúng em được sung sướng. Các em đã nghe chưa? (Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có tiếng dạ rang của phụ huynh đáp lại).

Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút giây này chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy đã lúng túng chúng tôi càng lúng túng hơn.

Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói:

– Thôi, các em đứng đây sắp hàng để vào lớp học.

Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước. Nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cáng tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp. Các cậu lủng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi.

Ông đốc nhẫn nại chờ chúng tôi.

– Các em đừng khóc. Trưa này các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai các em lại được nghỉ cả ngày nữa.

Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt hiền từ, đang đón chúng tôi vào cửa lớp. Trong thời thơ ấu tôi chưa bao giờ xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ vì có nhũng hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lệ Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết.

Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá đến tôi cũng không dám tin là có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao.

Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa bay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi.

Nhưng những tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc:

Bài tập viết: Tôi đi học!

Thanh Tịnh