Cuộc đời của nhạc sĩ Trúc Phương – Một đời tài hoa và khốn khó

Có thể xem Trúc Phương là nhạc sĩ nổi tiếng và tiêu biểu nhất của nhạc vàng Việt Nam kể từ thập niên 1960 đến nay, đặc biệt là với các ca khúc giai điệu bolero, Rhuma. Hầu hết các sáng tác của nhạc sĩ Trúc Phương đều trở thành bất tử, trong đó quen thuộc nhất là Nửa Đêm Ngoài Phố, Tàu Đêm Năm Cũ, Hai Lối Mộng, Buồn Trong Kỷ Niệm, Thói Đời, Mưa Nửa Đêm, Đêm Tâm Sự, Bông Cỏ May

Trúc Phương là một nhạc sĩ tài hoa và tài năng, nhưng đi đôi với đó là những bất hạnh tột cùng khi ông đã phải trải qua quá nhiều đau thương và khốn khó cho đến tận giờ phút cuối cùng của cuộc đời.

Nhạc sĩ Trúc Phương tên thật là Nguyễn Thiên Lộc, sinh năm 1933 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Vĩnh Bình (nay là Trà Vinh) ở vùng hạ lưu sông Cửu Long. Cha của Trúc Phương là một nghệ sĩ hát bội, sau chuyển qua hát cải lương, nên Trúc Phương cũng yêu thích nghệ thuật từ nhỏ vì ảnh hướng từ cha.

Từ giữa thập niên 1950, ông sinh hoạt văn nghệ với các nghệ sĩ ở ty Thông Tin tỉnh Vĩnh Bình một thời gian ngắn, đến năm 1957 thì lên Sài Gòn tìm đến nhạc sĩ Trịnh Hưng để học về kỹ thuật sáng tác. Nhạc sĩ Trịnh Hưng là một người chuyên sáng tác những ca khúc về đồng quê, và khuynh hướng này đã ảnh hưởng phần nào đến những sáng tác của Trúc Phương trong những năm đầu của sự nghiệp.

Bài hát đầu tay của nhạc sĩ Trúc Phương là Chiều Làng Em, Tình Thương Mái Lá, mang niềm nhớ nhung của ông về hình ảnh thanh bình ở nơi quê xưa. Ngay sau đó, một bài hát khác viết về thôn quê cũng rất nổi tiếng với giai điệu mambo trong sáng, vui tươi là Tình Thắm Duyên Quê.

Ca khúc giai điệu bolero đầu tiên mà nhạc sĩ Trúc Phương sáng tác là Đò Chiều năm 1959, và sau đó là ca khúc được xem là bài bolero kinh điển: Tàu Đêm Năm Cũ, được ông viết vào đầu thập niên 1960 để tặng cho những người lính/sĩ quan phải đi xa nhà vì chính sách hoán đổi công tác của chính quyền thời bấy giờ: Công chức ở miền nam ra miền Trung công tác, và ngược lại.

Nhạc của Trúc Phương có phong cách rất riêng biệt khó lẫn với các nhạc sĩ khác. Các bài hát đều có lời ca hoa mỹ, bay bướm nhưng không cao xa, càng nghe người ta càng thấy tràn đầy cảm xúc. Ngoài dòng nhạc tình tự quê hương trong thời gian đầu, thì sau đó hình như Trúc Phương chỉ viết duy nhất nhạc về tình yêu, với những nhớ thương, mong đợi, ưu tư, hy vọng, ly tán, đoàn viên. Đó là những cảm xúc rất thật, gần gũi với cuộc sống và dễ đi vào lòng người.

Nhạc sĩ Trúc Phương và vợ

Nhạc sĩ Trúc Phương lập gia đình với một phụ nữ ở Bến Tre vào cuối thập niên 1950 và có tổng cộng 6 người con, người con gái đầu tên là Trúc Loan đã kể về cha mình như sau:

“Ba tôi viết nhạc và nổi tiếng từ rất sớm nhờ dòng nhạc boléro chậm, trữ tình của ông dễ nhớ, dễ nghe. Ngoài cây đàn guitar thường xuyên bên cạnh, ba tôi còn biết chơi thành thạo các nhạc cụ khác. Hồi còn nhỏ xíu, có lần theo ba đi Đại nhạc hội, ba tôi còn đàn contrabass trong dàn nhạc nữa, lúc đó tôi rất ngạc nhiên vì cây đàn quá to này, ba phải đứng mới cầm được nó… Khi chơi với các con, ba tôi thường lấy cây harmonica “khẩu cầm” ra thổi…

Ba gặp má tôi khi bà còn đang đi học. Ba cưới ngay khi má chỉ 16 tuổi. Tôi được sinh ra vào thời điểm ba tôi viết nhạc nhiều nhất. Dù sau đó, tôi còn có thêm 5 đứa em nữa, nhưng ba vẫn luôn cưng tôi nhất nhà.

Ba tôi là một người đàn ông rất yêu gia đình, thương vợ thương con. Ông cũng là 1 người con, người cháu rất có hiếu. Ngày xưa, dù nghèo, ở nhà thuê, nhưng ba tôi cũng nuôi bà cố tôi chu đáo. Khi làm có tiền, ba hay mua sắm đồ đạc mang về quê cho bà nội tôi. Ba tôi hiền lành, chân thật, rất lạc quan và tốt bụng. Có lẽ vì vậy nên ai cũng quý mến. Tính ba tôi lại rất nghệ sĩ, không vụ lợi, không tính toán nên không có dư dả. Gánh nặng cơm áo gạo tiền, má tôi phải gánh vác từ lúc ba tôi phải nhập ngũ”.

Tuy đã có gia đình từ rất sớm, nhưng với tính tình phóng khoáng của một nhạc sĩ tài hoa, nhạc sĩ Trúc Phương đã xiêu lòng trước nhiều người đẹp, trở thành nguồn cảm xúc bất tận để ông viết nhiều ca khúc nhạc vàng nổi tiếng, trong đó bài Hai Chuyến Tàu Đêm được ông sáng tác khi trên tàu về thăm ở yêu ở tỉnh Bình Tuy (nay là Bình Thuận).


Click để nghe nhạc Trúc Phương thu âm trước 1975

Có một điều đặc biệt, là hầu hết những ca khúc buồn nhất của nhạc sĩ Trúc Phương như là Thói Đời, Buồn Trong Kỷ Niệm… đều được ông sáng tác khi đang tràn ngập hạnh phúc, cũng như ở đỉnh cao của sự nghiệp cả về tiếng tăm lẫn tài chính. Những cảnh đời buồn bã đó trong bài hát chỉ đến với ông vào thời gian sau này, như là một lời tiên tri định mệnh của số phận. Sau này, trong lần ghi hình hiếm hoi trong những năm cuối đời, ông cho biết:

“Bài “Buồn Trong Kỷ Niệm” được tôi sáng tác trong lúc vô cùng hạnh phúc, bởi lúc đó mới lấy vợ có đứa con đầu tiên, lúc đó đứa con gái mới có 2 tháng mấy, 3 tháng. Tôi đang ngụp lặn trong hạnh phúc. Còn việc tôi viết bài đó thì không hiểu vì sao tôi viết.

Tôi nghĩ là sau này, cái bài đó tiên tri cho mối tình của tôi. Tức là nó báo cho tôi rằng sẽ có một cái ngày mà tôi nhìn về kỷ niệm, về cái nỗi buồn kia. Thật ra thì lúc đó tôi rất hạnh phúc. Tôi cảm ơn các tác phẩm, đã cho tôi những ngày biết trước cuộc đời tôi như thế, mà phần lớn tác phẩm đều có như thế, ngoài “Buồn Trong Kỷ Niệm” ra, còn một số tác phẩm khác”

Qua lời tâm sự này, nhạc sĩ Trúc Phương đã trực tiếp xác nhận rằng ca khúc Buồn Trong Kỷ Niệm như là một lời dự cảm cho cuộc hôn nhân buồn của ông sau đó. Phải chăng với sự nhạy cảm đặc biệt của một người nghệ sĩ, ông đã tiên đoán được vận mệnh trong tương lai của mình, hoặc là có thể là cái buồn trong nhạc đã vô tình vận vào chính cuộc đời của người sáng tác.

Đường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn
Đôi khi nhầm lỡ đánh mất ân tình cũ
Có đau chỉ thế tiếc thương chỉ thế
Khi hai mơ ước không chung cùng vui lối về

Mình vào đời nhau lúc môi còn non tuổi mộng vừa tròn
Hương thơm làn tóc nước mắt chưa lần khóc
Đến nay thì đã đắng cay nhiều quá
Thơ ngây đi mất trong bước buồn giờ mới hay

Bao năm qua rồi còn gối chiếc
Nghe lòng nhiều nuối tiếc
Thương nhau rồi
Xa nhau rồi
Một lần dang dở ấy
Đêm lạnh vui với ai?

Nụ cười ngày xưa chết trên bờ môi héo mòn tuổi đời
Đi thêm một bước trót nhớ thêm một bước
Nếu ta còn nhớ mắt môi người cũ
Xin mang theo tiếng yêu khi gọi anh với em!

Ngoài ca khúc Buồn Trong Kỷ Niệm, một bài hát khác cũng đã vận vào cuộc đời nhạc sĩ Trúc Phương như là một định mệnh, đó là “Thói Đời”.

Đến nay, bài hát Thói Đời vẫn được rất nhiều người yêu thích, có lẽ ca khúc này chính là sự soi rọi trung thực nhất của tình đời và tình người trong xã hội cả xưa và nay. Thời nào thì cũng đều có: “giàu sang quên kẻ tâm giao…”


Click để nghe Chế Linh hát Thói Đời

Đường thương đau đày ải nhân gian
Ai chưa qua chưa phải là người

Trông thói đời cười ra nước mắt:
Xưa trắng tay gọi tên bằng hữu
Giờ giàu sang quên kẻ tâm giao,
còn gian dối cho nhau.

Tổng số lượng sáng tác được công chúng biết đến của nhạc sĩ Trúc Phương là gần 70 bài, nhiều bài phổ biến trong suốt thập niên 1960 và cho đến tận hiện nay. Bài hát cuối cùng của ông là Xin Cảm Ơn Đời, được viết vào tháng 3 năm 1995 khi ông được đón nhận những tình cảm thân ái mà đồng nghiệp trong và ngoài nước gửi đến vì biết được hoàn cảnh bi đát của ông vào những năm cuối đời. Bài hát này cũng như là lời tâm tình, uẩn khúc mà ông muốn gửi lại cho đời lần sau chót.

Cuối thập niên 1960, nhạc sĩ Trúc Phương từng mở lớp nhạc ở số 33/230, đường Gia Long, Gò Vấp gọi là “Trúc Phương Tự Lực”, đào tạo được một số ca sĩ như Thy Lệ Dung, Thy Lệ Huyền, Chinh Thông nhưng không có ca sĩ nào nổi tiếng.

Nhắc đến nhạc sĩ Trúc Phương, ai cũng nhớ đến giọng hát Thanh Thúy. Cho dù nữ ca sĩ này đã trở thành một trong những ca sĩ nổi tiếng nhất Sài Gòn ngay từ lúc cuối thập niên 1950 khi chưa gặp Trúc Phương, sang đến đầu thập niên 1960, nhạc Trúc Phương và tiếng hát Thanh Thúy đã trở thành sự kết hợp có thể xem là thành công nhất của thể loại nhạc vàng. Trong một bài tưởng niệm nhạc sĩ Trúc Phương đăng trên báo Thế Giới Nghệ Sĩ, ca sĩ Thanh Thúy viết:

“Anh và tôi không hẹn, nhưng đã gặp nhau trên con đường sống cho kiếp tằm. Anh trút tâm sự qua cung đàn, còn tôi qua tiếng hát. Trong khoảng thập niên 60, tên tuổi anh và tôi như đã gắn liền với nhau: nhạc Trúc Phương, tiếng hát Thanh Thúy.

Như một định mệnh, tôi vào đời ca hát đúng vào thời điểm anh say mê sáng tác, và tình cờ trở thành vị sứ giả đem tâm sự anh đến mọi người, những người không nhiều thì ít cùng mang một tâm sự với anh. Tâm sự về tuổi thơ mộng, về tình yêu dịu dàng của đôi lứa (dù trong bối cảnh đau thương của đất nước), về chuyện tình dở dang, về cuộc đời…”

Sau năm 1975, nhạc sĩ Trúc Phương ở lại Sài Gòn. Năm 1976 ông cố gắng vượt biển bất thành và bị tịch thu căn nhà riêng ớ số 301 Lý Thường Kiệt, Quận 11 (tên cũ là đường Nguyễn Văn Thoại).

Đó cũng là thời điểm khởi đầu những bi kịch liên tục đến với vị nhạc sĩ tài hoa được xưng tụng là “ông hoàng bolero” này.

Sau khi bị tù vì vượt biển 2 lần nữa đều không thành công, nhạc sĩ Trúc Phương bị lâm vào hoàn cảnh gia đình ly tán và chia tay với vợ vào khoảng năm 1979.

Chịu cảnh sống không nhà cửa, không giấy tờ tuỳ thân. Hoàn cảnh lúc đó được chính nhạc sĩ Trúc Phương kể lại trong một cuộc phỏng vấn như sau:

“Sau những biến cố của cuộc đời, tôi phải sống một thời gian kiểu rày đây đây mai đó, bèo dạt mây trôi. Nếu đói thì không đói ngày nào, nhưng mà nói no thì chưa được ngày nào gọi là no. Tôi không có mái nhà, lúc đó thì chuyện vợ con cũng tan nát rồi.

Tôi sống nhờ nhà bạn bè. Nhưng mà khốn nỗi bạn bè cũng có hoàn cảnh bi đát, khổ sở. Không ai đùm bọc ai được. Thêm nữa, bạn bè không dám chứa tôi trong nhà, bởi vì tôi không có giấy tờ tùy thân, chẳng có thứ gì trong người cả…

Tôi nghĩ ra một cách, là tìm nơi nào có khách vãng lai để chui vào ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ. Ban ngày thì lê la trong thành phố, đến đêm phải ra xa cảng (Bến xe Miền Tây), thuê một chiếc chiếu, thế chân 1 đồng. Ngủ đến sáng, xếp chiếu trả cho người ta, lấy tiền thế chân về. Một năm tôi ngủ ở xa cảng đến 9 tháng như vậy.

Hôm nào có tiền đi xe lam, tôi ra sớm, chừng 5 giờ chiều có mặt ngoài đó thì còn có chỗ lịch sự, tương đối vệ sinh để trải chiếu nằm. Hôm nào ra trễ, chỗ tốt, sạch, vệ sinh… bị người ta giành hết rồi, tôi phải trải chiếu gần chỗ người ta đi tiểu, nhưng mà cũng đành chịu”.

Đó là thời gian mà nhạc sĩ Trúc Phương không có việc làm, không có bất kỳ nguồn thu nhập nào, lại chia tay vợ, 6 người con của ông cũng gặp khó khăn vì hoàn cảnh chung của cả xã hội lúc đó. Trúc Phương nói rằng ông phải sống nhờ sự giúp đỡ của bạn bè, nhưng chỉ được một thời gian ngắn vì ông không thể sống nhờ tình thường của người khác mãi được.

Hơn một năm sau thì ông lưu lạc về Trà Vinh để sống với mẹ. Ông kể về thời gian đó như sau:

“Tôi nghĩ, phải tìm về mẹ, tìm bóng mát che chở của mẹ. Nhạc sĩ Y Vân nói tình mẹ bao la, rất đúng.

Mẹ tôi khổ quá. Một bà mẹ quê, mua bán nhỏ ngoài chợ. Mua con gà ở đầu chợ, xách xuống cuối chợ bán, lời chỉ được 1 đồng, 2 đồng. Mẹ tôi già yếu nhưng vẫn phải tần tảo nuôi thằng con đã 50 tuổi đầu”.

Không đành lòng để mẹ phải khổ tâm vì mình, nhạc sĩ Trúc Phương lại ra đi. Năm 1984, ông rời thị xã Duyên Hải của tỉnh Trà Vinh để đi thị xã Vĩnh Long tìm sinh kế.

Thời gian đầu ông ở nhờ nhà bạn bè cũ trong khi chờ đợi vào làm việc tại hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh Cửu Long (thời điểm đó Trà Vinh và Vĩnh Long sáp nhập thành tỉnh Cửu Long). Tại căn nhà ở hẻm 25 đường Tống Phước Hiệp (cũ) ở thị xã Vĩnh Long ngày ấy, những nghệ sĩ đàn em nổi tiếng trước 1975 như Duy Khánh, Trần Thiện Thanh đã đến thăm nhạc sĩ Trúc Phương trong những lần đi lưu diễn (chui) về miền Tây.

Giữa năm 1985, ông được nhận vào công tác tại Hội Văn nghệ Cửu Long và được cấp một căn phòng tại số 6 Hưng Ðạo Vương, thị xã Vĩnh Long để ở.

Tuy nhiên chỉ sau 1 vài năm, Trúc Phương lại trở về sống ở Sài Gòn nhờ sự giúp đỡ của bạn bè. Thời gian này căn bệnh suyễn nặng bắt đầu hành hạ và sức khoẻ của ông bị xuống đi nhanh chóng. Có thông tin nói rằng nhạc sĩ phải ở nhờ nhà của bạn bè, và không rõ ông mưu sinh bằng nghề gì, chỉ biết rằng thỉnh thoảng ông vẫn gặp gỡ văn nghệ với những đồng nghiệp là nhạc sĩ trước năm 1975 còn lại ở Sài Gòn, như là Thanh Sơn, Mặc Thế Nhân, Ngọc Sơn, Hồng Vân, Bảo Thu, Quốc Dũng, Hoàng Trang, Hàn Châu, Tô Thanh Tùng, Tâm Anh, Khánh Băng, Châu Kỳ…

Từ trái sang: Ngọc Sơn, Trúc Phương, Trần Quốc Bảo, Thanh Sơn, Hoài Nam, Hàn Châu, Vinh Sử

Thời gian đó MC, nhà báo Trần Quốc Bảo ở hải ngoại về Việt Nam 3 lần, đều được gặp nhạc sĩ Trúc Phương, và mô tả ông trong 1 lần họp mặt văn nghệ như sau:

“Mọi người đang ngồi cùng cười nói thì có tiếng ho sù sụ từ dưới đi lên gác. Tiếng ho như những tràng liên thanh không dứt. Mọi người cùng im lặng hẳn lại để nhìn về phía cầu thang. Lúc đó nhạc sĩ Trúc Phương mặt mày xanh xao, thân hình gầy còm đang lững thững đi lên. Hôm đó anh mặc chiếc sơ mi trắng rộng mênh mông, khó lòng ai có thể nhận ra nếu không nhờ vào đôi mắt kiếng dầy cộm và nụ cười hiền hòa cố hữu. Anh ho như người bị suyễn lâu ngày, đã vậy còn phải bước lên gác cao, chân đi liêu xiêu chập choạng. Khi bước lên tới nơi, mặt anh không còn một chút máu, bạn bè phải dìu anh vào chỗ ngồi.”

Từ khoảng năm 1993-1994, nhà báo Trần Quốc Bảo, ca sĩ Thanh Thúy ở hải ngoại đã phối hợp cùng các nhạc sĩ trong nước đã vận động, quyên góp tiền từ hải ngoại để gửi về giúp đỡ cho nhạc sĩ Trúc Phương. Trong một bức thư gửi Trần Quốc Bảo sau khi nhận được tiền giúp đỡ, nhạc sĩ Trúc Phương ghi:

“Anh đã nhận được báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 32 ra tháng 9/94 và số tiền 200 USD gồm 100 của Sơn Tuyền, 50 của Phương Hồng Quế và 50 của em do em Trần Thái Học đưa tận tay. Cho anh gửi lời cảm ơn đến mọi người.

Còn hình ảnh thời trai trẻ anh không còn tấm nào, duy nhất tấm anh gởi kèm chụp cách nay hơn 10 năm. Hơn tháng nay anh yếu quá thường bị làm mệt luôn, tay run chữ viết chắc khó đọc, ráng xem nhé.

Anh mệt quá, không viết nỗi nữ, cho anh ngưng. Chúc khoẻ và may mắn cho mọi người và xin một lần nữa cho anh gửi lời cảm ơn trân trọng”.

Bức thư nhạc sĩ Trúc Phương gửi Trần Quốc Bảo

Có một điều đáng nói, là trong khi người nhạc sĩ tài hoa Trúc Phương phải trải qua cơn bỉ cực vì thiếu thốn, thì ở hải ngoại, hầu hết các trung tâm sử dụng nhạc của ông một cách thoải mái mà không trả tiền bản quyền. Đó cũng là thời điểm mà các hãng băng đĩa mọc lên như nấm với doanh thu rất lớn, nhưng chỉ có một số ít ca sĩ chủ động gửi tiền về cho Trúc Phương, nhiều nhất là Thanh Thuý, sau đó là Giao Linh, Sơn Tuyền, Phương Hồng Quế…

Hình ảnh: Trần Quốc Bảo

Một trong những người bạn thân cận với nhạc sĩ Trúc Phương trong những năm cuối đời là nhạc sĩ Thanh Sơn đã xác nhận hoàn cảnh bi đát của Trúc Phương trong một bức thư gửi cho ca sĩ Thanh Thúy như sau:

“Vợ có chồng khác, anh Phương sống lay lắt với 2 người con trai, bữa đói bữa lưng chứ chưa được bữa no”.

Năm 1995, nhạc sĩ Nhật Ngân có về nước để gặp lại Trúc Phương lần cuối cùng. Sau đó, Nhật Ngân đã tường thuật lại hoàn cảnh của người anh – người bạn nhạc sĩ như sau:

“Nhà Mặc Thế Nhân ở Lái Thiêu, cách Saigon chừng 12km, tuy địa điểm hơi xa nhưng những cuộc họp mặt của anh chị em ca nhạc sĩ ở Saigon khoảng thời gian sau này khi có khách xa về, hay cần phải họp bàn về vấn đề gì thường dùng làm địa điểm vì khung cảnh ở đây ấm cúng và biệt lập với thành phố.

Hôm tôi mới về, ngỏ lời mời anh chị em ăn cơm để gặp gỡ mọi người thì Thanh Sơn liền đề nghị tổ chức tại nhà Mặc Thế Nhân. Ngay khi đó tôi nghĩ tới Trúc Phương và sợ là xa như vậy không biết Anh có tới được không? Thanh Sơn đã cho tôi biết tuy bịnh nhưng Trúc Phương vẫn có thể chạy xe gắn máy được.

Thanh Sơn nói: “Trúc Phương tuy yếu nhưng những cuộc họp mặt gặp gỡ kiểu này hắn đều có mặt, Nhật Ngân cứ yên tâm đi, tôi bảo đảm mà”.

Và hôm đó Trúc Phương đã đến, sau khi ngồi thở dốc chừng 5 – 10 phút, với một giọng nói thều thào đứt quãng, Anh đã thăm hỏi hầu hết mọi bạn bè đồng nghiệp ở bên này. Tôi còn nhớ Anh hỏi Duy Khánh ra sao, khá không? Anh hỏi Thanh Thúy, Hoàng Oanh bây giờ thế nào, sao không thấy về chơi? Anh hỏi anh Phạm Duy, Song Ngọc, Trầm Tử Thiêng, Lê Văn Thiện, Ngọc Chánh… đời sống bây giờ ra sao? Anh hỏi thật nhiều làm tôi trả lời không muốn kịp.

Ngay khi đó tôi đã có cảm tưởng anh hỏi như để không bao giờ được hỏi nữa. Trước mắt tôi lúc đó Trúc Phương tuy có vàng võ tiều tụy khác xưa nhưng vẫn nồng nhiệt, dí dỏm như ngày nào.

Tiệc tàn, khi anh em sửa soạn chia tay lên xe về, Trúc Phương kéo tôi ra riêng một góc anh nói: “Cậu về bên đó nhắn anh chị em lời tôi thăm hỏi và thành thật cảm tạ những thâm tình của anh chị em đã nghĩ tới tôi trong cơn bệnh hoạn này. Tôi thấy trong mình tôi hồi này đã tệ lắm rồi, sợ không còn dịp để gặp gỡ anh chị em nữa đâu…”

Dường như quá xúc động và hụt hơi, Anh đã ngừng lại ở đây ít phút, sau đó anh rút túi một bản nhạc đưa cho tôi, anh nói:

“Đây là ca khúc cuối cùng tôi vừa hoàn tất trong tháng qua, cậu đem về bên đó phổ biến dùm và coi như đây như là lời tạ từ của tôi…”

Nói tới đây. một cơn ho sặc sụa bất chợt kéo đến, Trúc Phương ngồi xuống ghế, tay ôm ngực, mặt đỏ bừng, mồ hôi ướt tươm lên mặt. Mọi người nhìn anh ái ngại, nhưng chỉ khoảng ít phú sau Anh đã đứng lên, cười cười:

“Bệnh của tôi như giả bộ vậy đó, bây giờ tôi lại khỏe rồi. Thanh Sơn đạp xe nổ giùm tôi đi, tụi mình về liền không thôi trời đổ mưa thì khổ…”

Sau đây là những lời trăn trối của Trúc Phương qua Xin Cảm Ơn Đời:

Đời đã không may, và những không may tiếp theo sau để trôi tất cả 
Sống chông chênh dòng đời lênh đênh chẳng mái ấm gia đình 
Đôi khi tội tình nhìn gương mà thương bóng mình.

Thuở mới yêu xưa người đã cho ta những đam mê từng đêm rất lạ 
Lúc chia xa, người lại cho ta hồ nước mắt lưng tròng 
Khi ta chạnh lòng ngồi ôm hạnh phúc lưng chừng

Trách gì cũng nước lã người dưng 
Thôi thì yêu, dù mùa yêu có muộn 
Sợ mong manh đêm vui, sợ đơn phương chăn gối 
Cuối cùng sợ thuyền đi bỏ bến buồn tênh

Giờ vướng cơn đau
Còm cõi xanh xao những cơn đau tuổi xanh rớt lại 
Cám ơn em, bè bạn nơi nơi gởi chút xót xa người 
Thêm đôi tuổi trời thở hơi thở ấm ơn đời.

Đời đã không may, và những không may tiếp theo sau để trôi tất cả 
Sống chông chênh dòng đời lênh đênh chẳng mái ấm gia đình 
Đôi khi tội tình nhìn gương mà thương bóng mình.

Thuở mới yêu xưa người đã cho ta những đam mê từng đêm rất lạ 
Lúc chia xa, người lại cho ta hồ nước mắt lưng tròng 
Khi ta chạnh lòng ngồi ôm hạnh phúc lưng chừng

Trách gì cũng nước lã người dưng 
Thôi thì yêu, dù mùa yêu có muộn 
Sợ mong manh đêm vui, sợ đơn phương chăn gối 
Cuối cùng sợ thuyền đi bỏ bến buồn tênh

Giờ vướng cơn đau
Còm cõi xanh xao những cơn đau tuổi xanh rớt lại 
Cám ơn em, bè bạn nơi nơi gởi chút xót xa người 
Thêm đôi tuổi trời thở hơi thở ấm ơn đời.

Xin Cám Ơn Đời cũng là bài hát cuối cùng của nhạc sĩ Trúc Phương, được ông viết chỉ vài tháng trước khi từ trần. Có thể thấy qua ca khúc này nhạc sĩ đã tự thuật về cuộc sống khó khăn của ông vào thời điểm đó là: “Sống chông chênh dòng đời lênh đênh chẳng mái ấm gia đình”. 

Bức thư nhạc sĩ Thanh Sơn gửi ca sĩ Thanh Thuý kể về hoàn cảnh của Trúc Phương. Hình ảnh: thanhthuy.me

Những năm cuối đời, nhạc sĩ Trúc Phương bị suyễn nặng, với căn bệnh phổi hành hạ và qua đời ngày 18 tháng 9 năm 1995, được an táng tại nghĩa trang Lái Thiêu.

Sau khi mai táng xong nhạc sĩ Trúc Phương ngày 21/9/1995, ngày hôm sau đó, nhạc sĩ Thanh Sơn viết một bức thư ngỏ để gửi đến các trung tâm băng nhạc và ca sĩ ở hải ngoại, cùng những người đã hát nhiều nhạc của Trúc Phương rồi thành danh nhưng không trả tiền tác quyền cho nhạc sĩ. Dưới bức thư này có chữ ký của các nhạc sĩ ở trong nước là Thanh Sơn, Bảo Thu, Quốc Dũng, Hoàng Trang, Ngọc Sơn trước 75, Mặc Thế Nhân. Xin chép lại nguyên văn bức thư này sau đây:

Kính gửi Quý trung tâm băng nhạc, Quý anh chị em a nhạc sĩ ở Hoa Kỳ.

Nhạc sĩ Trúc Phương đã từ trần lúc 9 giờ 45 phút ngày 18 tháng 9 năm 1995 tại bệnh viện An Bình. Gia đình và một số bạn hữu đã hoàn tất việc mai táng tại nghĩa trang Lái Thiêu, ngày 21/9/1995.

Trước sự ra đi lặng lẽ và hết sức đau buồn của một nhạc sĩ tài hoa, trong hoàn cảnh thiếu thốn trầm trọng, chúng tôi: một số nhạc sĩ sáng tác bạn bè cũ của nhạc sĩ Trúc Phương, viết vài giòng chữ này kính gởi đến quý Trung tâm băng nhạc và anh chị em ca nhạc sĩ trên đất Mỹ, dù có xử dụng hay không xử dụng đến 65 bài hát của nhạc sĩ Trúc Phương, xin hãy nhỏ chút tình thương bằng tấm lòng giúp đỡ tùy hảo tâm của quý vị, để gia đình và bạn bè xây mộ theo ước nguyện, lời trăn trối sau cùng của nhạc sĩ Trúc Phương.

Chúng tôi trân trọng gởi lời cám ơn đến quý vị và kính chúc nhiều sức khỏe, công việc làm ăn được thịnh vượng.

Đông Kha – chuyenxua.vn

Danh ca Thanh Thúy và hơn 60 năm gắn bó với dòng nhạc Trúc Phương

Trúc Phương được xem là nhạc sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc vàng từ thập niên 1960 trở về sau, và người trình bày thành công nhất nhạc của Trúc Phương, cho đến nay, không ai so sánh được với danh ca Thanh Thúy.

Từ cuối thập niên 1950, danh ca Thanh Thuý đã là một trong những ca sĩ nổi tiếng nhất Sài Gòn, tuy nhiên lúc này thể loại nhạc vàng đại chúng vẫn còn ở thời buổi sơ khai, nên Thanh Thúy chủ yếu hát nhạc tiền chiến. Sang đến đầu thập niên 1960, những tuyệt phẩm của nhạc sĩ Trúc Phương xuất hiện và đã nâng cao thêm tên tuổi của tiếng hát liêu trai Thanh Thúy, trở thành sự kết hợp có thể xem là thành công nhất của thể loại nhạc vàng từ trước đến nay.


Click để nghe Thanh Thúy hát hát nhạc Trúc Phương, thu âm trước 1975

Trong một bài tưởng niệm nhạc sĩ Trúc Phương, ca sĩ Thanh Thúy viết:

“Anh và tôi không hẹn, nhưng đã gặp nhau trên con đường sống cho kiếp tằm. Anh trút tâm sự qua cung đàn, còn tôi qua tiếng hát. Trong khoảng thập niên 60, tên tuổi anh và tôi như đã gắn liền với nhau: nhạc Trúc Phương, tiếng hát Thanh Thúy.

Như một định mệnh, tôi vào đời ca hát đúng vào thời điểm anh say mê sáng tác, và tình cờ trở thành vị sứ giả đem tâm sự anh đến mọi người, những người không nhiều thì ít cùng mang một tâm sự với anh. Tâm sự về tuổi thơ mộng, về tình yêu dịu dàng của đôi lứa (dù trong bối cảnh đau thương của đất nước), về chuyện tình dở dang, về cuộc đời…”

Sau đây, mời bạn nghe lại những bản thu âm tuyệt vời nhất được thực hiện trước năm 1975, tiếng hát Thanh Thuý với dòng nhạc Trúc Phương:

Tàu Đêm Năm Cũ

Bài nhạc vàng giai điệu bolero kinh điển nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Trúc Phương chính là Tàu Đêm Năm Cũ, được ông viết vào đầu thập niên 1960 để tặng cho những người lính/sĩ quan phải đi xa nhà vì chính sách hoán đổi công tác của chính quyền thời bấy giờ: Công chức ở miền nam ra miền Trung công tác, và ngược lại.

Bài hát Tàu Đêm Năm Cũ có lẽ cũng là khởi đầu cho hàng loạt ca khúc nhạc vàng nổi tiếng viết về “sân ga và những chuyến tàu” thời gian sau đó, như là Chuyến Tàu Hoàng Hôn, Buồn Ga Nhỏ, Ga Chiều, Chiều Sân Ga, Người Tình Không Đến…


Click để nghe Tàu Đêm Năm Cũ

Trời đêm dần tàn tôi đến sân ga đưa tiễn người trai lính về ngàn.
Cầm chắc đôi tay ghi vào đời tâm tư ngày nay.
Gió khuya ôi lạnh sao, ướt nhẹ đôi tà áo.

Tàu xa dần rồi, thôi tiếc thương chi khi biết người ra đi vì đời.
Trở gót bâng khuâng tôi hỏi lòng đêm nay buồn không,
chuyến xe đêm lạnh không?
Để người yêu vừa lòng.

Nửa Đêm Ngoài Phố

Đây là ca khúc đã gắn liền với ca sĩ Thanh Thúy, viết tặng cho Thanh Thúy, và dường chỉ duy nhất dành cho tiếng hát của Thanh Thúy mà thôi.

Thanh Thúy đã hát Nửa Đêm Ngoài Phố với âm điệu như là lời thủ thỉ, tâm tình, an ủi những linh hồn đơn độc đã từng có cảm giác một mình lang thang ngoài phố vắng giữa đêm, chỉ để tìm kiếm một bóng hình không hẹn trước…


Click để nghe Nửa Đêm Ngoài Phố

Danh ca Thanh Thúy đã nói về ca khúc này như sau: “…Với thể điệu Rumba quen thuộc, diễn tả tâm trạng đau buồn của một người khi người yêu không đến nữa, ca khúc Nửa Đêm Ngoài Phố đã ăn sâu vào lòng tất cả mọi người, từ những người lớn tuổi, cho đến lớp người trẻ lúc bấy giờ”.

Thanh Thúy còn cho biết là thời đó, trong bất cứ buổi trình diễn nào, cô cũng được yêu cầu trình bày Nửa Đêm Ngoài Phố, từ các sân khấu phòng trà, khiêu vũ trường cho đến Đại Nhạc Hội, từ các thôn làng nhỏ bé cho đến các tiền đồn hẻo lánh xa xôi. Ngoài ra, trong những chương trình phát thanh của đài Sài Gòn và đài tiếng nói Quân Đội, vào bất cứ chương trình nhạc nào cũng có bài này… Như vậy có thể nói bài hát này đã trở thành một hiện tượng, rất được yêu thích ngay từ khi mới ra mắt, và đã được bảo chứng qua thời gian 60 năm, đến nay vẫn được công chúng nhiều thế hệ đón nhận, yêu mến.

Buồn vào hồn không tên,
Thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời
Đường phố vắng đêm nao quen một người
Mà yêu thương trót trao nhau trọn lời.

Để rồi làm sao quên?
Biết tên người quen, biết nẻo đi đường về
Và biết có đêm nao ta hẹn hò
Để tâm tư những đêm ngủ không yên…

Chiều Cuối Tuần

Chiều trong nhạc của Trúc Phương không buồn như những ca khúc khác cũng viết về buổi chiều tà, như là Chiều Tím của Đan Thọ, Bóng Chiều Tà của Nhật Bằng, Chiều Cuối Tuần của Trúc Phương mang được nét mơ mộng, những rộn ràng tình nhân trên phố, dù phảng phất trong đó nỗi nhớ nhung xa cách: “Vắng anh trời kinh đô nghe xao xuyến bước cô đơn…”

Kinh đô cũng là thủ đô, nhưng cách dùng chữ kinh đô, kinh kỳ hoặc là kinh thành… của các nhạc sĩ nhạc vàng xưa đã làm cho câu hát gợi vẻ cổ phong, gợi nhớ về hình bóng người xưa.


Click để nghe Chiều Cuối Tuần

Đò Chiều

Bài hát này được sáng tác năm 1959, có thể là ca khúc mang giai điệu bolero đầu tiên của nhạc sĩ Trúc Phương. Nội dung bài hát nói về mối tình chung thuỷ của một cô gái chèo đò ở vùng miệt thứ. Có lần cô chở một toán quân sang sông và đã phải lòng một chàng chinh nhân với dáng vẻ phong sương:

Chợt thấy lòng lưu luyến
Và tâm hồn xao xuyến
Trông anh trai phong sương
Em thấy mà thương…

Cuộc tình sau đó được tròn đôi với kết thúc có hậu:

Tình của người thôn nữ
Vừa trao người viễn xứ
Trên sông xưa mênh mông
Đôi bóng đẹp đôi.


Click để nghe Đò Chiều

Có thể thấy các ca khúc đầu tiên trong sự nghiệp của nhạc sĩ Trúc Phương thật rộn ràng đẹp đẽ và chưa vương chút sầu nào như sau này.

Hai Lối Mộng

Bài hát Hai Lối Mộng của nhạc sĩ là một trong những ca khúc nhạc vàng nổi tiếng của nhạc sĩ Trúc Phương đã góp phần đưa ca sĩ Thanh Thuý lên cao hơn trong sự nghiệp lừng lẫy vào thập niên 1960, như trong một bài viết cô đã nói: “Những nhạc phẩm này đã trở thành gần gũi với mọi người và đã giúp tôi leo cao hơn trên nấc thang sự nghiệp. Các bài này gồm có: Nửa Đêm Ngoài Phố, Buồn Trong Kỷ Niệm, Hai Lối Mộng, Chiều Cuối Tuần, Mưa Nửa Đêm, Tàu Đêm Năm Cũ, Hai Chuyến Tàu Đêm, Chuyện Chúng Mình, Đêm Tâm Sự, Hình Bóng Cũ, Đò Chiều, Chiều Làng Em…” (trích lời ca sĩ Thanh Thuý)


Click để nghe Thanh Thuý hát

Xin giã biệt bạn lòng ơi
Trao trả môi người cười
Vì hai lối mộng hai hướng trông

Mình thương nhau chưa trót
Thì chớ mang nỗi buồn theo bước đời
Cho dù chưa lần nói…

Bài hát viết về một cuộc tình đã chia xa, khi hai người bước đi về hai lối mộng, hai hướng đi, nhưng vẫn còn quyến luyến với niềm ưu tư khắc khoải chưa biết bao giờ mới nguôi.


Click để nghe Hai Lối Mộng

Hình Bóng Cũ

Có thể ca khúc Hình Bóng Cũ không phải là một bài quá quen thuộc của nhạc sĩ Trúc Phương so với các bài khác cùng tác giả, nhưng nó mang được những gì đặc trưng và tinh túy nhất của nhạc Trúc Phương: Điệu bolero nhẹ nhàng, lời ca đẹp giàu chất thơ nhưng vẫn giản dị, chân phương, mỗi câu hát như là lời tâm tình dễ đi vào lòng người:


Click để nghe Thanh Thúy hát Hình Bóng Cũ trước 1975

Từ sau hôm cách biệt
Vui buồn ai biết
những đêm ngõ hoang chờ trăng về muộn màng,
hồn bâng khuâng mơ hình bóng đã ghi mãi trong lòng.

Nhiều khi chân bước nhỏ đi vào thương nhớ,
muốn lên phố xưa tìm thăm người bạn đời,
đường không xa nhưng mình trót cách hai lối mộng rồi.

Bài hát có nhắc đến “hai lối mộng”, cũng là tên của một bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Trúc Phương. Nếu để ý kỹ, có thể nhận thấy nét nhạc 2 bài này khá tương đồng nhau, và nội dung cũng rất có thể liên quan với nhau.

Không chắc chắn về thời điểm hai ca khúc này sáng tác, nhưng cả 2 đều được nhà xuất bản Diên Hồng xuất bản gần như đồng thời vào tháng 7 năm 1962. Bài hát Hai Lối Mộng nói về một cuộc tình tan vỡ, 2 người đi theo 2 hướng đời dù vẫn còn thương yêu. Cũng bởi vì “thương nhau chưa trót” nên cuộc từ ly diễn ra rất nhẹ nhàng, không muốn gây ra bất cứ tổn thương nào cho nhau, nên khuyên nhau rằng “xin nhẹ đi vào sầu”.

Nội dung bài Hình Bóng Cũ diễn ra từ sau hôm cách biệt đó. Dù đã cố gắng nhưng kẻ thất tình vẫn không thể tránh khỏi những cơn sóng lòng dữ dội, rồi trong những bước chân về trên ngõ hoang ngập ánh trăng sầu để về lại căn nhà quạnh vắng cô độc, người thấy lòng buồn-thương-tiếc-nhớ cuộc tình đã xa. Không chỉ xa ở lối đi đường về, mà còn cách xa cả lối mộng.

Ai Cho Tôi Tình Yêu

Những lời hát thành thật để cầu xin tình yêu, xin người đừng hoài hờ hững để lòng ai còn mãi nức nở và nghẹn ngào trong những đêm trường không tròn giấc, thao thức vì một tình yêu mãi chỉ là cơn mộng mị.


Click để nghe Ai Cho Tôi Tình Yêu

Bóng Nhỏ Đường Chiều

Bài hát kể về một đôi tình nhân gặp nhau trong buổi chiều hẹn hò sau nhiều ngày xa cách. Bàn tay mềm 5 ngón thon nhỏ của người thiếu nữ đan vào tay rắn của người chinh nhân. hình như nàng đang e ấp giấu những thẹn thùng giữa phố đông, trong niềm hạnh phúc đang dâng tràn:

Tôi đến nơi hẹn hò đường chiều nghiêng nghiêng nắng đổ
Bàn tay thon ngón nhỏ đan tay rắn sông hồ
Ta nhẹ dìu nhau như tiếng thở.
Thương này thương cho bỏ lúc đợi chờ.


Click để nghe Bóng Nhỏ Đường Chiều

Buồn Trong Kỷ Niệm

Trúc Phương được mang danh là “ông hoàng bolero”, nhưng ca khúc Buồn Trong Kỷ Niệm của ông có thể xem là một trong những bài hát giai điệu slow hay nhất trong dòng nhạc vàng trước 1975.

Có lần nhạc sĩ đã nói về ca khúc này như sau:

“Bài “Buồn Trong Kỷ Niệm” được tôi sáng tác trong lúc vô cùng hạnh phúc, bởi lúc đó mới lấy vợ có đứa con đầu tiên, lúc đó đứa con gái mới có 2 tháng mấy, 3 tháng. Tôi đang ngụp lặn trong hạnh phúc. Còn việc tôi viết bài đó thì không hiểu vì sao tôi viết.

Tôi nghĩ là sau này, cái bài đó tiên tri cho mối tình của tôi. Tức là nó báo cho tôi rằng sẽ có một cái ngày mà tôi nhìn về kỷ niệm, về cái nỗi buồn kia. Thật ra thì lúc đó tôi rất hạnh phúc. Tôi cảm ơn các tác phẩm, đã cho tôi những ngày biết trước cuộc đời tôi như thế, mà phần lớn tác phẩm đều có như thế, ngoài “Buồn Trong Kỷ Niệm” ra, còn một số tác phẩm khác”


Click để nghe Buồn Trong Kỷ Niệm

Hai Chuyến Tàu Đêm

Ca khúc này được nhạc sĩ Trúc Phương viết tặng cho người tình ở Phan Thiết. Lúc đó phương tiện di chuyển tiện lợi nhất từ Saigon đến Phan Thiết để ông đến thăm tình nhân chính là những chuyến tàu. Ở bài hát này, người ta bắt gặp những lời hát buồn nhưng tuyệt đẹp:

Môi em đang xuân nhưng mắt buồn ngấn lệ trần
Chuyện đời sầu đắng vấn vương đôi má dịu hiền

Thời thập niên 1960, khi phương tiện giao thông xuyên tỉnh vẫn chưa có nhiều, các xe đò – xe khách liên tỉnh đa số chỉ đi chặng ngắn, thì xe lửa luôn là sự lựa chọn đầu tiên khi một người cần đi từ Sài Gòn ngược về các tỉnh miền Trung xa xôi.

Về hoàn cảnh sáng tác của ca khúc Hai Chuyến Tàu Đêm của nhạc sĩ Trúc Phương, sau này nhạc sĩ Thanh Sơn đã thay mặt bạn mình để kể tóm tắt câu chuyện như sau:

“Mối tình không thành như loại hoa phù dung sớm nở tối tàn. Ngày đó, nhân chuyến đi Phan Thiết, mua vé ở ga xe lửa Sài Gòn, vô tình trên tàu, Trúc Phương gặp cô Trần Thị Thắm, 22 tuổi. Chuyện trò qua lại, hai người hợp lòng nhau. Đến Phan Thiết, họ chia tay và hẹn 3 hôm sau ra ga trở lại Sài Gòn. Anh đến ga đợi mãi đến 9 giờ tối, Thắm không đến, bèn trở về một mình. Không thể nào quên mối tình ngắn ngủi, anh đã viết bài Hai Chuyến Tàu Đêm.


Click để nghe Hai Chuyến Tàu Đêm

Chuyện Ngày Xưa

Bài hát này có cùng giai điệu với 1 bài hát nổi tiếng khác của nhạc sĩ Trúc Phương là Trên 4 Vùng Chiến Thuật, nhưng Chuyện Ngày Xưa đơn thuần là một bài hát tình cảm nhẹ nhàng có nhiều tiếc nuối.

Hãy nghe các nhạc sĩ trước 1975 nhận xét về ca khúc Chuyện Ngày Xưa vào thập niên 1960 như sau:

– Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết: Chuyện Ngày Xưa là một tâm tình được đúc kết và thể hiện qua nét nhạc đượm nhiều dân tộc tính. Tôi vẫn hài lòng với tác giả từ trước đến giờ qua các nhạc phẩm mà anh đã viết.

– Nhạc sĩ Lê Hoàng Long: Khi nghe nhạc phẩm Chuyện Ngày Xưa của Trúc Phương, tôi tưởng như mình lạc vào một dòng suối trong một đêm trăng. Bài nhạc đã hết, nhưng những âm thanh còn cô đọng lại khiến cho người nghe có cảm tưởng như mình còn thiếu một cái gì luyến tiếc.

– Nhạc sĩ Hoàng Nguyên: Tôi thích tác giả đã để tâm tư mình xuôi chảy một cách nhẹ nhàng chân thật khi đặt bút viết những lời sau đây trong điệp khúc của Chuyện Ngày Xưa:

Thôi em nhé xin trả về niềm cô đơn trước
cho anh bước xuôi ngược
khi hai chúng mình vòng tay trót buông xuôi,
dù gặp nhau, cúi mặt bước mà thôi!


Click để nghe Chuyện Ngày Xưa

Chuyện Chúng Mình

Bài hát kể về một cuộc từ ly đẫm sầu của hai người trong đêm cuối cùng trước khi “mai anh đi rồi” làm kiếp chinh nhân, để lại một người ở lại trong thương nhớ đầy vơi.

Ngôi xưng của bài hát này là “tôi” và “anh”, nên có người nói rằng có thể đây là cuộc đưa tiễn của 2 người trai thế hệ. Một người là lính ngày mai sẽ tòng quân và in dấu chân trên khắp các vùng chiến địa, một người là nhạc sĩ với “giọng ca nhịp đàn mong gửi tám hướng tâm tư”. Và câu hát “vui đi cho trót đêm nay” chính là hình ảnh 2 người bạn đang cạn ly tâm sự cho đến tàn đêm khuya.

Tuy nhiên ở đoạn đầu có câu hát “Tình mình từ thuở tuổi đôi mươi mà ta chưa biết nên để lỡ duyên đời” thiên  về mô tả mối tình của đôi trai gái nhiều hơn.


Click để nghe Chuyện Chúng Mình

Mưa Nửa Đêm

Trong số những ca khúc nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Trúc Phương, có nhiều bài hát có bối cảnh đêm khuya, như là Nửa Đêm Ngoài Phố, Hai Chuyến Tàu Đêm, Đêm Tâm Sự, Chuyện Chúng Mình,Mưa Nửa Đêm.

Tất cả những bài hát này đều buồn, có lẽ vì khung cảnh đêm khuya dễ làm lòng người mang nhiều cảm giác cô đơn và lẻ loi nhất.

Nhân vật trong ca khúc Mưa Nửa Đêm phải đối diện với sự cô độc đó vào một đêm mưa rũ rượi sau khi tiễn “một người vừa ra đi đêm nay”. Cách xưng hô trong bài hát này cũng là “anh” và “tôi”, và đặc biệt hình ảnh “anh gối tay tôi để ôn chuyện xưa cũ” gợi hình dáng 2 người bạn thân hơn là đôi nam nữ, giống như trong ca khúc Chuyện Chúng Mình.


Click để nghe Mưa Nửa Đêm

Đêm Tâm Sự

Thêm một bài hát có danh xưng thường được hát là “tôi” và “anh”. Nhiều người cho rằng “tôi” trong bài hát cũng là một người con trai giống như 2 bài đã kể ở trên, vì làm gì có cô gái nào táo bạo đến nỗi mời mọc người yêu ở lại qua đêm một cách thẳng thừng như vậy:

Nhà tôi đơn côi mời anh ở lại
Kể chuyện tha hương chưa lần phai nhớ thương.

Sau đó, họ còn gọi nhau là “bạn” trong câu hát:

Này bạn đêm nay hỡi nếu mai đi rồi
nhớ mang theo nụ cười

Tuy nhiên, nếu nghe kỹ bài hát, có thể thấy nhân vật “tôi” trong bài hát có rất nhiều tâm sự với nỗi lòng của một người thiếu nữ:

Nhiều khi ưu tư tựa song cửa nhỏ
Nhìn ngoài mưa tuôn nghe sao lạnh vào hồn.


Click để nghe Đêm Tâm Sự

Đông Kha
chuyenxua.vn

Cuộc sống hiện tại của ca sĩ Như Quỳnh ở tuổi ngoài 50

Nhạc sĩ Trúc Hồ từng nhận xét rằng Như Quỳnh là ca sĩ mà phải nửa thế kỷ mới xuất hiện một lần. Cô không chỉ có giọng hát đẹp, mà dáng vóc cũng đẹp xuất sắc, lại giỏi về múa, ăn ảnh, bắt camera, trình diễn rất tự tin và tự nhiên trước ống kính.

Có thể nói, ở Như Quỳnh hội tụ đầy đủ các yếu tố để trở thành một ngôi sao, và cô đã thật sự bước được lên đài danh vọng khi có một sự nghiệp âm nhạc đỉnh cao. Nếu chỉ nói riêng trong dòng nhạc vàng hải ngoại sau năm 1975, Như Quỳnh là nữ ca sĩ thành công nhất từ trước đến nay.

Ca sĩ Như Quỳnh có tên khai sinh là Lê Lâm Quỳnh Như, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1970 tại Quảng Trị.

Sau khi tốt nghiệp trung học, Như Quỳnh đã tình nguyện cộng tác với một nhà Văn hóa Thiếu nhi để tập múa và tập hát cho các trẻ em (trong số này có ca sĩ Hiền Thục). Do sự khuyến khích của mẹ và bạn bè, Như Quỳnh ghi tên tham dự cuộc thi Tiếng hát Truyền hình được tổ chức lần đầu tiên tại Sài Gòn vào năm 1991 và đã đoạt được giải đặc biệt với số điểm tuyệt đối mà đến nay chưa có thí sinh nào đạt được.

Tháng 4 năm 1993, Như Quỳnh cùng gia đình định cư tại Mỹ theo diện HO. Không lâu sau khi đó, Như Quỳnh gửi băng tiếng hát của mình đến trung tâm Asia. Nhạc sĩ Trúc Hồ và giám đốc Asia là Thy Nga mời đến thu thử rồi mời hợp tác ngay lập tức.

Năm 1994, Như Quỳnh được chính thức xuất hiện trên chương trình Asia 6 chủ đề Giáng Sinh với ca khúc Người Tình Mùa Đông và Asia 7 chủ đề Tác Giả Tác Phẩm với ca khúc Chuyện Hoa Sim. Đó là 2 chương trình được Trung tâm Asia thực hiện đồng thời, và nhạc sĩ Trúc Hồ chọn cho cô 2 ca khúc cùng của nhạc sĩ Anh Bằng (sáng tác hoặc viết lời), nhưng của 2 dòng nhạc khác nhau. Một sáng tác mới thuần chất nhạc vàng là Chuyện Hoa Sim, cùng với một bài hát tương đối vui tươi là Người Tình Mùa Đông.

Với tuyệt phẩm Người Tình Mùa Đông, Như Quỳnh đã tạo nên cơn sốt với giới trẻ thời bấy giờ về “cô áo đỏ đội mũ nồi”. Nét mặt xinh xắn, giọng ca ngọt ngào giúp cô nhanh chóng gây được thiện cảm với người nghe nhạc và trở thành cái tên ăn khách nhất của làng nhạc hải ngoại thâp niên 1990.

Trong sự nghiệp của mình, ca sĩ Như Quỳnh gắn bó với 2 trung tâm âm nhạc nổi tiếng nhất ở hải ngoại là Asia và Thúy Nga.

Năm 1994, Như Quỳnh chính thức bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của mình với trung tâm Asia và đạt được đỉnh cao rất nhanh chóng. Ở Như Quỳnh hội tụ đầy đủ yếu tố để trở thành một ca sĩ ăn khách nhất thời đó: Giọng hát đẹp, ngoại hình sáng sân khấu, vóc dáng hoàn hảo…

Ngay trong lần xuất hiện đầu tiên ở Asia với nhạc phẩm “Người Tình Mùa Đông” trong chương trình Asia 6 – Giáng Sinh Đặc Biệt đã gây ấn tượng mạnh với khán giả khắp nơi và nhiều người yêu mến cô qua hình ảnh đó.

Cùng lúc đó, trong chương trình Asia 7, Như Quỳnh được Trúc Hồ giao cho ca khúc Chuyện Hoa Sim của nhạc sĩ Anh Bằng mới sáng tác. Sự thành công của cô trong bài “Chuyện Hoa Sim” cũng như album CD đầu tay mang chủ đề “Chuyện Hoa Sim” đạt doanh số bán đĩa kỷ lục hải ngoại thời ấy và đã đưa tên tuổi của cô đến gần với khán giả khắp nơi, xác lập tên tuổi của Như Quỳnh trong thể loại nhạc vàng cho đến nay.

Hai album tiếp theo của cô “Rừng Lá Thay Chưa” và “Chuyện Tình Hoa Trắng” cũng đạt doanh số bán đĩa rất tốt, sự thành công của ca khúc Chuyện Tình Hoa Trắng – một sáng tác độc quyền khác của nhạc sĩ Anh Bằng dành cho Như Quỳnh đã chính thức đưa Như Quỳnh trở thành một ngôi sao hàng đầu hải ngoại.

Có thể nói từ trước đến nay, chưa một ca sĩ nào ở hải ngoại nổi tiếng và trở thành một ngôi sao sáng chói trong khoảng thời gian ngắn như trường hợp của Như Quỳnh.

Được trung tâm Asia lăng xê và thành công nhanh chóng như vậy, nhưng Như Quỳnh chỉ hợp tác trong hơn 2 năm, từ cuốn Asia số 6 năm 1994 đến Asia số 12 năm 1996. Cuối năm 1996, Như Quỳnh bất ngờ chuyển sang hợp tác với trung tâm Thuý Nga.

Cuốn Paris By Night đầu tiên Như Quỳnh tham gia là Paris By Night 38 trong ca khúc Hoa Tím Người Xưa của cố nhạc sĩ Thanh Sơn. Cùng lúc đó, Như Quỳnh thành lập trung tâm nhạc NQ Records với Huy Anh – một người từng được cô coi như thân thiết – và hiện nay là Như Quỳnh Entertainment. Suốt bao nhiêu năm qua, những CD của Như Quỳnh vẫn là một trong những CD bán chạy nhất.

Trong suốt giai đoạn này, Trung tâm Thúy Nga đã đưa tên tuổi của Như Quỳnh trở thành một trong những ca sĩ hàng đầu của nền âm nhạc hải ngoại qua một loạt các nhạc phẩm đặc sắc, được dàn dựng công phu.

Tháng 8 năm 2007, Như Quỳnh trở lại nơi đã tạo dựng tên tuổi của mình là Trung tâm Asia.

Đây là một cú sốc đối với nhiều người hâm mộ và khán giả từ khắp thế giới. Tuy nhiên Như Quỳnh tiếp tục có sự cổ vũ của nhiều người hâm mộ. Trở lại Asia, Như Quỳnh bắt đầu tham gia từ chương trình Asia 56 “Yêu Đời Yêu Người” với hát bài Mưa Buồn, một sáng tác mới của nhạc sĩ Anh Bằng dành riêng cho Như Quỳnh.

Sau đó, cô xuất hiện lần thứ hai ở Asia 57 “Thế giới Tình Yêu”, biểu diễn Liên khúc Trịnh Công Sơn & Vũ Thành An với các ca sĩ khác, cũng như thực hiện một bài solo là Khóc Mẹ của nhạc sĩ Mặc Thiên từ Việt Nam. Kể từ đó, Như Quỳnh xuất hiện trong các đĩa CD tiếp theo, DVD Karaoke, và DVD của Trung tâm Asia.

Sau 2 năm ở Trung tâm Asia, Như Quỳnh về lại Trung tâm Thúy Nga cho đến ngày nay. Sau khi biểu diễn tại Asia 63, cô đã không tham gia trong Asia 64. Khoảng giữa năm 2009, Như Quỳnh trở về trung tâm Thúy Nga và xuất hiện trong chương trình Paris By Night 98.

Trong chương trình Paris By Night 99, Như Quỳnh đã trình diễn đơn ca bài hát Duyên Phận, ca khúc sau này trở thành hit đình đám tại Việt Nam khoảng 2016 – 2017. Bài hát này được nhạc sĩ Thái Thịnh đặt vào rất nhiều tâm huyết mà viết riêng cho cô hát trong chương trình Paris By Night 90 – Chân Dung Người Phụ Nữ Việt Nam. Nhưng vì lúc đó cô đang cộng tác với trung tâm Asia nên không thể hát được. Sau 2 năm, Như Quỳnh trở về trung tâm Thúy Nga và được giao hát bài hát này.

Kể từ 2009 đến nay, Như Quỳnh vẫn xuất hiện đều đặn trên các chương trình thu hình của Trung tâm Thúy Nga và vẫn gây ấn tượng với nhiều nhạc phẩm mới và cũ như Duyên Phận (2010), Xuân Đẹp Làm Sao, Trả Lại Thời Gian (2011), Thương Lắm Mình Ơi (2012), Trả Lại Anh, Giọng Ca Dĩ Vãng, Chút Kỷ Niệm Buồn (2013), Thôn Trăng (2014), Ừ Thì Thôi (2015), Chuyện Tình Không Dĩ Vãng (2016), Lênh Đênh Phận Buồn, Lan Và Điệp 4 (2017),…

Tuy nhiên, cũng trong những năm này, sự nghiệp của Như Quỳnh lắng xuống với những nốt nhạc trầm, cả về thanh lẫn sắc đều không giữ được phong độ. Cô từng chia sẻ với báo giới về chứng bệnh mất ngủ kéo dài suốt 20 năm của mình như sau: “Nhiều khi đến địa điểm diễn, tôi chỉ có hai tiếng để nghỉ ngơi trước khi lên sân khấu nhưng vẫn phải cố gắng chợp mắt để có sức và bảo đảm không bị khan tiếng”. Vì căn bệnh mất ngủ, cô lạm dụng thuốc và bị những hậu quả làm ảnh hưởng đến cuộc sống và sự nghiệp.

Sau khi cố gắng điều trị và đã bỏ được việc lệ thuộc vào thuốc ngủ, ca sĩ Như Quỳnh đã trở lại sân khấu tự tin hơn.

Năm 2015, Như Quỳnh lần đầu tiên trở về quê hương sau 22 năm xa cách trong đêm nhạc của em trai là Tường Khuê tại Sài Gòn.

Trong lần trả lời báo chí khi về nước hồi đầu năm 2022, Như Quỳnh xác nhận là “đang yêu”:

“Tôi đang yêu và đang được yêu. Đối với bản thân, tôi chỉ mong đây là tình yêu đích thực và mong nó sẽ trường tồn mãi. Người ấy đã giúp tôi rất nhiều trên vấn đề tinh thần, sự nghiệp. Phải nói tôi rất may mắn khi gặp anh. Bạn gặp một người luôn có năng lượng tích cực, quan tâm đến cảm xúc của bạn, thì đó là sự may mắn rồi.”

Tháng 3 năm 2022, Như Quỳnh phát hành CD Người Phụ Tình Tôi do trung tâm Thúy Nga thực hiện. Đó cũng là lần đầu tiên trong sự nghiệp 30 năm nghệ thuật, Như Quỳnh phát hành CD ở trong nước.

Về cuộc sống hiện tại, Như Quỳnh cho biết mình không giàu như lời đồn thổi, nhưng may mắn vì có thể sống được thoải mái với đồng lương của nghề ca hát.

Khi đã lấy lại được phong độ với tinh thần lạc quan và vui vẻ, tích cực tham gia ca hát, thì một cú sốc khác lại đến với Như Quỳnh, đó là vào tháng 4 năm 2022, người em trai thân thiết của cô đột ngột qua đời. Nỗi đau mất đi người thân là một trong những nỗi buồn to lớn nhất của cuộc đời.

Như Quỳnh tâm sự Tường Khuê không chỉ là người luôn sát cánh bên cạnh, chăm sóc cô từng li từng tí, mà còn thiết kế những bộ đồ thật đẹp để cô tự tin bước lên sân khấu. Gia đình của Như Quỳnh có 4 người, khi Tường Khuê ra đi, Như Quỳnh cũng mất luôn người thân con lại sau ba mẹ của mình.

Mời các bạn xem lại một số hình ảnh của Như Quỳnh hiện nay:

 

 

Xem lại 1 số hình ảnh Như Quỳnh thời trẻ:

Hình ảnh trước khi sang hải ngoại:

Hình ảnh tại hải ngoại:

 

Đông Kha – chuyenxua.vn

Câu chuyện về những tỷ phú Sài Gòn xưa – Kỳ 3: Quách Đàm – người xây dựng chợ Bình Tây (Chợ Lớn mới)

Khi nhắc đến những thương nhân người Hoa giàu có và nổi tiếng ở Sài Gòn từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, người ta thường nhớ đến câu nói: Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa”, và cũng có câu khác nữa chỉ nhắc tới những đại phú gia người gốc Hoa ở Chợ Lớn là “Nhất Hoả, nhì Đàm, tam Xường, tứ Ích”. Trong đó, nhân vật “nhì Đàm” ở đây chính là Quách Đàm, thương nhân giàu có gắn liền với vùng Chợ Lớn.

Quách Đàm sinh năm 1863, quê ở làng Triều An, Long Khanh, Triều Châu (Trung Quốc). Khi mới lưu lạc tới Nam kỳ từ thập niên 1880, ông làm đủ nghề để mưu sinh từ làm bồi, culi, bán hủ tiếu dạo, mua bán ve chai,…

Khi đã tích góp được một số vốn nhỏ, ông dồn tiền mua một chiếc tàu hơi nước nhỏ để đi buôn gạo. Trải qua nhiều thăng trầm trong công việc kinh doanh, ông trở thành một thương nhân giàu có nức tiếng trong vùng. Giống như nhiều thương nhân người Hoa khác, khi đã gầy dựng được một cơ nghiệp vững chắc, làm ăn thuận lợi, Quách Đàm định cư luôn tại vùng Chợ Lớn.

Theo nhiều tài liệu báo chí để lại, không chỉ làm ăn ở Sài Gòn, Quách Đàm còn mở rộng kinh doanh ra nước ngoài, trong đó có Singapore, Cambodge. Trong giao dịch kinh doanh, Quách Đàm (phiên âm sang tiếng Anh là Kwek Tam) còn sử dụng nhiều tên khác như Quách Xiêm Chi (phiên âm ra tiếng Anh là Kwek Siêu Tee),… và mang nhiều quốc tịch khác nhau để thuận lợi đi lại, làm ăn, cũng như tận dụng tốt nhất các chính sách của các nước dành cho thương nhân ngoại quốc.

Theo nhà nghiên cứu văn hoá Vương Hồng Sển, sinh thời Quách Đàm rất tin bói toán và phong thuỷ. Tương truyền, khi bắt đầu mở hiệu buôn vào khoảng năm 1906, 1907, Quách Đàm đã đến xin tên bảng hiệu ở một ông thầy Tàu và được cho hai chữ “Thông Hiệp”, cùng với hai câu liễn:

Thông thương sơn hải
Hiệp quán càn khôn

Ban đầu, công ty Thông Hiệp đặt trụ sở ở số 55 quai Gaudot (nay là đường Hải Thượng Lãn Ông), là một khu shophouse 2 tầng nhìn thẳng ra con lạch Chợ Lớn. Tuy nhiên thầy phong thủy nói rằng nơi tốt nhất để xây trụ sở ở khu vực này nằm ở địa chỉ 55 quai Gaudot, ở vị trí “đầu rồng” vươn ra biển nên việc làm ăn sẽ vô cùng phát đạt. Vị trí “đầu rồng” lúc này là văn phòng của các nhà sản xuất xà phòng Nam Thái, Trường Thanh.

Năm 1910, Quách Đàm cho dời trụ sở về số 45 Gaudot, sau nhiều lần nài nỉ mua lại toà nhà nhưng chủ nhà từ chối bán, ông phải chấp nhận bỏ ra 300 đồng bạc mỗi tháng để thuê toà nhà, một số tiền khá lớn khi đó. Năm 1929, rạch Chợ Lớn bị lấp, bến Gaudot trở thành đường Gaudot, sau đổi tên thành đường Khổng Tử, rồi trở thành đường Hải Thượng Lãn Ông như ngày nay.

Sau này trở nên giàu có hơn, Quách Đàm vẫn tiếp tục sử dụng toà nhà thuê này làm trụ sở chứ không dời đổi đi nơi khác.

Trụ sở công ty Thông Hiệp của thương gia Quách Đàm 100 năm trước, ở số 45 quai Gaudot (nay là số 45 Hải Thượng Lãn Ông)

Ngày nay, khi đi trên con đường này có thể thấy toà nhà cổ màu vàng, trụ sở nhà buôn Thông Hiệp xưa với hai chữ viết tắt thương hiệu T và H nằm ở phía trên.

Trong những năm sau đó, ngoài nhà máy ở Cần Thơ, Quách Đàm đã xây dựng hai nhà máy xay xát gạo lớn tại Chánh Hưng (nay là Quận 8) và Lò Gốm (nay là Quận 6). Ông cũng thành lập công ty vận chuyển Quach Dam et Cie ở Phnom Penh để quản lý bốn tàu hơi nước vận chuyển gạo của mình.

Công việc kinh doanh của Quách Đàm thực sự trở nên thành công rực rỡ là khi ông quyết định mua lại Nhà máy Yi-Cheong vào khoảng năm 1915, là nhà máy gạo lớn nhất và có tăng trưởng cao nhất ở Chợ Lớn. Đến năm 1923, thống kê do Revue de la Pacifique công bố cho thấy cứ sau 24 giờ, lượng thóc được chế biến trong các nhà máy của Quách Đàm lên tới 230 tấn ở Chánh Hưng, 250 tấn ở Lò Gốm và 1.000 tấn ở Yi-Cheong, đưa Quách Đàm trở thành thương gia buôn gạo thành công nhất Nam Kỳ.

Tiền bạc đi kèm với uy tín và quyền lực. Ngay từ năm 1908, Quách Đàm là một trong số ít doanh nhân người Hoa trở thành thành viên của Hội đồng thành phố Chợ Lớn, và trên cương vị này, ông đã nhiều năm làm Phó Thị trưởng thứ 3 của Chợ Lớn, đóng vai trò tích cực trong các công việc quản lý của thành phố. Ông đã xây dựng một dinh thự rộng rãi cho gia đình tại số 114 quai Gaudot, trên bờ bắc của con lạch.

Chính trong giai đoạn này, Quách Đàm trở thành một trong những thương gia làm từ thiện nhiều nhất, ông tích cực ủng hộ tiền và của cho các bệnh viện, trường học và những người nghèo.

Trong phần lớn thập kỷ cuối cùng của cuộc đời, dù sức khỏe yếu và bị liệt một phần, Quách Đàm vẫn tiếp tục đóng một vai trò tích cực trong các công việc kinh doanh và cộng đồng của Chợ Lớn. Ngày nay, ông vẫn được biết đến nhiều nhất với vai trò quan trọng trong việc thành lập Chợ Bình Tây.

Trong giới kinh doanh người Hoa, Quách Đàm nổi tiếng với những chiêu trò kinh doanh dùng đồng tiền của mình để chi phối, khuynh đảo chính quyền. Sự kiện nổi bật nhất là vào ngày 02/05/1927, báo Écho Annamite đã đăng bài phanh phui việc một nhà máy xay xát lúa của Quách Đàm ở Mỹ Tho đã xả khói buị thái quá ra môi trường thông qua một ống khói cao 32m, gây ô nhiệm nặng, ảnh hưởng đến sức khoẻ và sinh hoạt của khoảng 2/3 dân cư thành phố. Không chịu nổi cảnh nhà cửa, đường xá, đồ đạc, quần áo luôn bị phủi một lớp bụi rất dầy và bệnh tật thường xuyên hành hạ, người dân trong vùng đã nhiều lần gửi khiếu nại lên chính quyền địa phương nhưng luôn bị phớt lờ.

Năm 1924, Quách Đàm đã bắt tay với văn phòng cảng Sài Gòn và thống đốc Nam Kỳ Maurice Cognacq, dự định nắm giữ độc quyền cho thuê cảng Sài Gòn và độc quyền chở gạo, ngô cho tổ hợp thương mại Pháp Homberg – Candelier. Tuy nhiên, điều này đã không thể thực hiện, do các đại biểu Việt Nam trong Hội đồng quản hạt, cùng với các thương nhân người Hoa khác đã đồng loạt đứng lên, mở chiến dịch chống lại thương vụ độc quyền này.

Khác với những thương nhân yêu nước khác, luôn chống lại các chính sách độc quyền, bất lợi cho thương nhân người Việt và cả người Hoa của chính quyền đô hộ, Quách Đàm luôn được thống đốc Nam Kỳ Cognacq chống lưng. Năm 1926, ông được thống đốc Nam Kỳ trao huân chương Bắc đẩu bội tinh ở dinh phó sứ.

Ngày 14/05/1927 Quách Đàm qua đời ở tuổi 65. Theo báo chí thời đó, dù phải nằm liệt giường suốt mười năm trước khi mất, Quách Đàm vẫn rất tỉnh táo, thường chỉ đạo công việc kinh doanh từ giường bệnh.

Đám tang của Quách Đàm được tổ chức vô cùng xa hoa, trở thành một sự kiện nổi bật, thu hút sự chú ý của dân chúng và rất nhiều các đầu báo lớn ở Sài Gòn và cả ở nước ngoài. Tin tức về cáo phó, về đám tang, đời tư của Quách Đàm xuất hiện hầu khắp trên các mặt báo nhưng ở những góc nhìn và quan điểm khác nhau. Có thể kể đến một số bài báo đặc biệt dưới đây.

Ngày 18/ 05/ 1927, tờ Écho Annamite (Tiếng Vọng An Nam) đã đăng Cáo Phó cho lễ tang với nội dung như sau:

Cáo phó

Bà Quách Đàm, ông Quách Tiến, ông Quách Chi, ông Quách Hộc;

Đau đớn báo tin về sự mất mát lớn lao của chúng tôi là chồng và cha chúng tôi. Ông Quách Đàm, Thương gia, kỹ nghệ gia, huân chương Bắc đẩu bội tinh hạng hiệp sĩ, huân chương Sao Đen hạng hiệp sĩ (các nước Phi châu Dahomey tức Benin ngày nay), huân chương hiệp sĩ Hoàng gia Cam Bốt. Được thưởng bởi chính phủ Cộng Hoà Trung Hoa huân chương Chia Ho. Đã từ trần ngày 14 tháng 5 năm 1927, thọ 65 tuổi tại tư gia ở số 114 đại lộ Gaudot, Chợ Lớn.

Nghi lễ đám tang sẽ được tổ chức vào ngày thứ bảy và chủ nhật 21 và 22 tháng 5 năm 1927.

Chúng tôi kính cẩn mời quý ông bà đến giúp đỡ đưa tiễn đoàn đám tang rời Chợ Lớn lúc 8h sáng ngày chủ nhật 28 tháng 5.

Tại Paris (Pháp), tờ Le Journal, xuất bản ngày 18 tháng 7 năm 1927 đã cho đăng bài viết của phóng viên Georges Manue với tựa đề “Le Bouddha de la richesse” mô tả tương đối chi tiết về cuộc đời và đám tang của Quách Đàm bằng quan điểm ủng hộ và đề cao nước Pháp:

“… Lúc thuở ban đầu, ông làm bồi, culi, bán súp hủ tiếu, tiểu thương kiếm lời từng xu đến chủ tiệm sang trọng, một nhà doanh nghiệp khôn khéo và biết bao nghề khác đã mang lại cho ông một tài sản khổng lồ mà chỉ trong vòng vài giờ ông đã mất hết trong trò chơi thương mại mà trước đó đã phục vụ ông rất tốt.

Hôm qua giàu, sáng nay nghèo giống như ngày ông từ Hồng Kông ở trần từ hầm tàu bước xuống chợ Lớn, ông không một mảy may tuyệt vọng hay nao núng.

Nghèo tiền, nhưng giàu kinh nghiệm. Cũng chịu cực, cũng trau chuốt, cũng mềm dẻo từ một tinh thần dày dặn như trước kia, chỉ trong vòng 20 năm ông đã làm lại sự nghiệp và vượt quá đến nỗi đã làm ngạc nhiên nhiều người Âu Khi ông có cả chục triệu tiền piastres nhân lên 12 hay 13 lần để chuyển thành tiền franc.…

Ông làm ra tiền chỉ vì mê trò chơi thương trường. Ông có nhiều ruộng lúa và nhiều nhà máy xay xát. Ông có cả ngàn hecta cao su, trước khi cao su trở thành mối làm ăn, và cả đất trồng trà, cà phê và một đội tàu thương mại đi các cảng Singapore, Hồng Kông.
Ông đứng đầu cả trăm triệu, cơ ngơi thương mại, và điều khiển nhiều chục công việc, xây dựng nhiều khu hoàn toàn nới. Nước Pháp đã tặng ông huy chương Bắc đẩu bội tinh mà ông lấy đó làm hãnh diện.

Trong nhiều ngày thi hài đã được đặt dưới tán lều để tất cả Chợ Lớn – từ điền chủ và nhà thương mại đi bằng 40 con ngựa đến các cu li bụng trần – đến cúng viếng. Ngồi hàng dài, mặc đồ tang trắng là các con ngồi bất động, nhận chia buồn và phúng điếu của bá tánh.

Đám tang không những làm ngạc nhiên đối với người Hoa, với họ không hoành tráng nào là đủ, và người Việt, kém xa hoa hơn, mà ngay cả với người Âu.

Hai ngàn cờ hiệu bằng lụa, hình chữ nhật dài 3m và ngang 2m, màu hồng, xám, xanh da trời, vàng và xanh lá cây được trang hoàng bằng những chữ vàng ca ngợi công đức của người đã mất. Gió làm chúng phồng lên như những cánh buồn con tàu có gân vàng, những người mang chúng – dân Chợ Lớn – già có thể được như vậy và trẻ ngày mai muốn trở thành Quách Đàm, lưng tròn bám vào các cột tre. Để người mất không bị đói ở thế giới kia, cả trăm culi mang trên kiệu những hàng kiến trúc hoa quả đáng phục, các kim tự tháp rau quả, các ma quỷ tạc vào bí rợ hay trái ớt, các con rồng được tạc hình trên các trái cây đẹp mắt, và nón để dành cao vị nhất là mười con heo to lớn, nằm dài trên đệm bằng giấy, bụng chúng mổ ra, mõm chúng nướng đỏ tươi sáng. Những “biểu tượng bề ngoài cho sự giàu có” đi trước xe tang: một xe hơi lộng lẫy tự nhiên làm giống như xe hơi của người đã khuất, xe kéo, xe ngựa buộc vào hai con ngựa kéo nhún nhẩy, và sau cùng một con tàu dài hai thước mang cờ hiệu Pháp – Hoá, một công trình tuyệt vời bằng giấy, bằng dây sắt và lụa mà những người nghèo khó rất tự hào mang trên vai trần của họ.

Trước xe tang là thập tử Bắc đẩu bội tinh cao như người bằng giấy cạc tông do một người cầm trên hai tay.

Xe tang là xe vận tải camion trang trí đầy hoa và quả, ngay trước xe là di ảnh chụp của ông Quách Đàm, trang trọng một cách tự nhiên đầy uy quyền, mỉm cười và trên ngực các huy chương.

Quan tài bình thường nhưng bằng gỗ quý. Đằng sau là 50 xe hơi sang trọng thuộc tinh hoá của Chợ Lớn, theo sau.

Đám tang kéo dài hai tiếng với âm nhạc kỳ lạ. Dân chúng người Hoa ở đầy vỉa hè, các cửa sổ, trên các cành cây, nóc nhà xem đám tang đầy cảm phục nhưng không ngạc nhiên.

Sự đau buồn, không có một dấu hiệu ở những người mà cái chế t không đáng sợ gì khi mà người đó không con buộc các con tưởng nhớ họ.

Người hướng dẫn viên nói với tôi: “Anh thấy đó đây là một bằng chứng mà người Hoa có thể làm được khi họ sống dưới một chính phủ vững vàng, bảo đảm được an ninh cho họ làm ăn”.
[….]

Ngay sau lễ tang, Tờ L’Impartial (quan điểm trung lập), đã đăng một bài phóng sự khá chi tiết về đám tang cầu kỳ và choáng ngợp, của Quách Đàm với những nghi thức đậm đặc văn hoá Trung Quốc. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là tờ Écho Annamite (Tiếng Vọng An Nam) đã cho đăng lại bài phóng sự này trên bản báo ra ngày 31/05/1927 với mục đích đả kích chính quyền vì chính sách nhập tịch mị dân. Trong lời dẫn giải phía trên bài phóng sự, tờ Tiếng Vọng An Nam vạch rõ việc chính quyền thực dân đã từ chối nhiều người xin nhập quốc tịch Pháp với lý do họ không xứng đáng vì vẫn còn mang đậm văn hoá khác, không thấm nhuần văn hoá Pháp, trong khi Quách Đàm đã có một đám tang hoàn toàn quay lưng với văn hoá Pháp lại dễ dàng được nhập tịch và ưu ái.

Nội dung bài phóng sự như sau:

Đám Tang Quách Đàm

“Chợ Lớn hôm qua đã làm một lễ tang hoành tráng cho ông Quách Đàm. Sau bình minh, đại lộ Gaudot đã đen nghẹt kín người. Nhiều xe hơi di chuyển đến rất khó khăn. Nhiều hàng rào đã được thiết lập liền sau đó bởi một lệnh phục vụ công cộng quan trọng do ông Massei, uỷ viên trung ương, điều hành được trợ giúp bởi ông Costa, phó uỷ, ông Pétra, thuộc sở kỹ thuật của thành phố Chợ Lớn,…

Những sửa soạn cuối cùng

Trên đại lộ, hai nhà tranh to lớn được dựng lên, một gian để chứa các đồ quan trọng mà khi chôn cất một người Hoa giàu luôn phải có, gian kia bên ngoài giăng các vải đen và trắng và bên trong là quan tài cùng rất nhiều băng hiệu vòng hoa (có hơn 1.500) đến từ khắp mọi nơi ở Nam Kỳ và một số từ Bắc Kỳ, Cam Bốt và cả Trung Hoa nữa.
Các toán cu li khuân vác rối rít chung quanh xe tang và đủ loại xe đưa đám. Đằng trước đoàn, chúng tôi để ý một xe mang một ảnh lớn của người đã khuất, bàn thờ tổ tiên và hai xe khác mang đầy loại giấy linh thiêng và các loại biểu tượng khác đủ loại.

Không lâu sau đó, ở chính giữa một đám đông chật kín, quan tài nặng được mang ra ngoài. Một ban nhạc An Nam khởi xướng âm nhạc, các cồng phát ra tiếng đau buồn. Ban quân nhạc bản xứ dưới sự điều khiển của ông Perulli, đứng thẳng hàng trước xe tang. Thi hài người đã khuất được đặt trong quan tài làm bằng chì, quan tài này được bao quanh bởi một quan tài khác rất cao làm bằng gỗ quý, tất cả được phủ bởi nhiều vải. Hai ngọn đèn to lớn ở phía trên cháy chầm chậm. Một toán quân lính, lấy từ Đại đội Chợ Lớn của binh đoàn 1 lính khố đỏ (Tirailleur Annamite), do trung uý Monet chỉ huy, đứng vào vị trí để làm vinh dự, vì người đã khuất là hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh.
Sau đó, trong lúc người quay phim của hãng Indochine Films chăm chú quay, quan tài được mang lên xe tang, hoàn thành hết các thủ tục cuối cùng. Rất nhiều quan khách bắt đầu đi tiến dồn vào.

Rất có phương pháp trật tự, các cờ hiệu đã được đánh số kỹ lưỡng, đi chậm rãi trên đường Lareynière (đường Lương Nhữ Học ngày nay) và đường Marins (đường Trần Hưng Đạo nối dài ngày nay), cũng như vô số vòng hoa, bó hoa và ngay cả các thú vật đẹp đẽ làm bằng hoa.

Tất cả thành viên gia đình trong đoàn tang, chịu tang, đàn ông mặc áo dài trắng, đầu phủ một loại mũ khá lạ rất chắc màu nâu đỏ, hay xanh da trời đậm nếu là họ hàng xa. Tất cả những người công bộc giúp việc cũng trong bộ đồ tang màu xanh lạt, và đàn bà thì màu đen.

Bây giờ đến những biểu tượng cuối cùng: hai xe kéo được trang hoàng rất cẩn trọng, một vài xe ngựa làm rất giống như thật, một tàu kéo sà lúp (chaloupe) hơi nước – thể hiện là người đã khuất là chủ tàu và các xe, rất thành công. Ở chính giữa rất nhiều những vật như vậy là một cái kiệu nhỏ làm bằng lụa vàng và xanh da trời, ngay trước xe tang và dưới kiệu là một cái gối dựa màu đỏ sậm trên đó có gắn 10 huy chương của người đã khuất, với huy chương chữ thập Bắc đẩu bội tinh ở hàng đầu. Kiệu này được cung kính khiêng đến nghĩa trang bởi những người thân nhất của người đã khuất.
Trong lúc đó, nhiều người nói chuyện.

Những người lớn tuổi ở Chợ Lớn cho đến những người trẻ, hay những người khác chưa biết về cuộc đời lao lực tận tâm và những hoạt động phi thường của ông Quách Đàm, từ hơn 40 năm ở Nam Kỳ, bắt đầu từ một tình huống tầm thường khiêm tốn, nhưng nhờ nghị lực chuyên tâm hiếm có, đã thay đổi vận mệnh ông. Ban đầu là tiểu thương sau đó buôn bán gạo, rồi chủ tàu, buổi đầu của chiến tranh thế giới 1914 đã làm phá sản hoàn toàn sản nghiệp rất lớn của ông. Ông không bị sóng đánh chìm mà trở lại thành công còn hơn trước.

Nhưng lúc nào cũng nghĩ đến thuở hàn vi, và mặc dầu do bịnh liệt từ 10 năm, hạn chế trầm trọng hoạt động của ông, ông đã can đảm chịu đựng cho đến phút cuối cùng, vẫn biết giúp đỡ uỷ lạo làm nhẹ bớt sự khốn quẫn trong xã hội, luôn hỗ trợ các bệnh viện, trường học và các hội thợ thuyền, và không bao giờ thờ ơ đến sự đau khổ của người khác cũng như công việc của mình.

Đoàn đám tang

Hiển nhiên chính là để tỏ lòng kính trọng cuối cùng đến tất cả các đặc tính xuất sắc rực rỡ này mà rất nhiều nhân vật Sài Gòn và Chợ Lớn đã hiện diện sáng hôm qua, sau 7h rưỡi chung quanh quan tài.

Chúng tôi nhận thấy những nhân vật, mà ngòi viết không viết hết đầy đủ được: ông Gazano, thị trưởng Chợ Lớn; Ông Gazano, thị trưởng Chợ Lớn; ông Lefèvre, thị trưởng Saigon; ông Merle, tổng thư ký thị sảnh Chợ Lớn ; ông Thomas, giám đốc Hãng rượu Bình Tây (Distilleries de Binh Tay) ; ông Levillain, des Services du Port; những hội viên của Phòng thương mại người Hoa (Chambre de Commerce chinoise); ông Brandela, của nhà Bank Đông Dương (Banque de l’Indochine) ; bà Lasseigne và Soulet, của Banque Franco-Chinoise ; bác sĩ Massias, bác sĩ trưởng bệnh viện Hopital Drouhet, và phu nhân; bác sĩ Pradal ; ông André, trưởng phòng tòa thị sảnh Chợ Lớn: ông Kerjean, thư ký tòa án; ông Dété, quản trị viên công ty Société Commerciale ; ông Mathieu ; ông Béziat ; ông Gonon; ông Cavillon và hầu như tất cả thương kỹ nghệ gia ở Saigon và Chợ Lớn; Dr Ferrey, bác sĩ hải quân; ông Magnien giám đốc đường lộ ; bà hiệu trưởng trường nữ sinh Chợ Lớn (Ecoles de filles de Cholon) ; ông Denome, kỹ sư ; ông Robert, hiệu trưởng trường lycée Franco-Chinois ; đoàn đại biểu báo chí Hoa ngữ ở Nam Kỳ, tất cả các bang trưởng các bang người Hoa và rất nhiều trưởng các khu phố; ông Autret, giám đốc L’U. C. I. A. ; ông Scotto, cu/a công ty Société Commerciale française d’Indochine; đoàn đại biểu nhân viên phòng Thương mại; ông Caffort; ông Poulet, của công ty Courtinat; giám đốc nhà máy cung cấp nước và điện (Usines de la Cie les Eaux et Electricité); ông Génis, công ty Denis Frères; các đại diện Hải quân; Sở Y tế etc. etc.. và rất nhiều các nhân vật khác mà chúng tôi xin lỗi là không nêu tên hết được vì một cột báo không đủ và cũng rất là khó khăn, hôm qua, đi được nhanh khắp nơi để ghi nhận.

Hành trình cuối cùng

Lúc này là 8 giờ.

Ba người con trai của người đã khuất, trong y phục tang trắng, đến đứng sau xe tang, cũng như các con dâu, cháu và những họ hàng, mỗi người được hổ trợ dìu đi bởi hai người giúp việc, ở đây không có những người “khóc mướn” chuyên nghiệp.

Một lệnh ngắn được đưa ra: Sửa soạn nghiêm! Kế đó là tiếng lệnh mạnh mẽ: Gác súng lên! Những nốt nhạc đầu tiên của bài La marche funèbre của Chopin được chơi bởi

Ban quân nhạc bản xứ, và từ từ, đoàn đám tang bắt đầu di chuyển.

Thời tiết lúc đầu thì bất định, lúc này thì lại sáng hơn chút. Một vài tia sáng mặt trời ấm xuất hiện chỉ trong chốc lát.

Trước xe tang, các cờ hiệu nối nhau như tranh vẽ, một dải lụa nhiều màu sắc dài đến gần 2km. Chỉ có màu đỏ, màu của sự vui mừng là không có thôi. Vải lụa bóng sáng khắp nơi, ca tụng những công trạng của Quốc Triệu Chi – tên thật của ông Quách Đàm – với tất cả sự nuối tiếc của những người Hoa ở Đông Dương về sự ra đi của ông.
Không tránh khỏi có vài lúc đi rồi lại phải dừng, đoàn đám tang đi trong lộ trình đã định sẵn: đường rue Lareynière (Lương Nhữ Học), rue des Marins (đường Thủy binh, nay là Trần Hưng Đạo nối dài), avenue Jaccaréo (Tản Đà), quai de Mytho (bến Lê Quang Liêm, nay là đại lộ Võ Văn Kiệt), quai de Gaudot (nay là Hãi Thượng Lãng Ông), rue de Canton (Triệu Quang Phục). quai de Mytho — trở lại lần nữa — và rue de Paris (Phùng Hưng)..

Kế đó, từ đại lộ Tổng Đốc Phương (Châu Văn Liêm ngày nay) và đại lộ Thuận Kiều, đám tang đi chậm rãi đến nghĩa trang Phú Thọ.

Tất cả cờ hiệu lóng lánh, lung linh dưới ngọn gió hay dưới sự ve vuốt của mặt trời, tạo nên một quang cảnh ấn tượng. Chợ Lớn, ngày thường thì rất ồn ào, nhưng lúc này thật yên lặng, dường như bị rơi vào trạng thái sững sờ. Tất cả mọi người muốn xem, nhưng không có tiếng kêu than, hay xô đẩy chen lấn. Ông Quách Đàm ngay cả lúc mất vẫn luôn tạo được sự kính trọng.

Một vài ban nhạc An Nam hay Trung Hoa, xen kẽ trong đoàn rước tang. Sáo, cồng, trống và đờn kéo được thay phiên nhau dạo lên. Trên nhiều cáng khiêng, có các con heo rô ti hay phết bóng, con dê, trái cây, bánh, hai con heo bụng mổ, đồ cúng, giấy bùa ngải linh và những hình tượng khác. Tất cả những thứ này đi rất thứ tự và trong yên lặng dọc theo bến quai de Mytho, rue de Paris (đường Phùng Hưng) giữa sự kính trọng của người dân.

Sau gia đình và những nhân vật như đã kể trên, nhiều đoàn thể quan trọng cũng đi trong đám tang. Đây, trước tiên là học sinh trường tiểu học Nghĩa An, trường Văn hóa thể dục, và nhiều trường nữ, và đại diện của rất nhiều nghiệp đoàn công nhân, mà ông Quách Đàm là ân nhân bảo trợ: nghiệp đoàn Tiên Quan, nghiệp đoàn Won Quan, nghiệp đoàn Lit-Yut, nghiệp đoàn Đức Hòa, nhóm quan trọng có thế lực là nghiệp đoàn Si-Trac (công nhân rơm sợi) và nghiệp đoàn Si-Koc với ban nhạc của họ. Tất cả mọi người mặc đồ trắng biểu hiện tang lễ hay đồ màu xám “quốc gia”, với các huy hiệu và hoa gắn ở lỗ nút áo, đứng chung dưới các băng rôn to lớn hay các cờ hiệu, mà đặc biệt trong đó có một cờ hiệu gây sự chú ý với hàng chữ “kính chào lần cuối từ tất cả nghiệp đoàn ở Chợ Lớn”.

Đúng vậy, cái chế t không tha ai kể cả những người may mắn có tài. Ở Phú Thọ, lúc rất trễ gần đến hết buổi sáng, dưới bầu trời âm u, sau khi chôn cất còn có quan tài thứ ba, đợi lúc bốc xác ông Quách Đàm. Bởi vì trong một năm, sau khi “hết hạn cơn gió lốc”, người Tàu giàu nhất ở Chợ Lớn sẽ lại lên đường đi Hồng Kông, để đến nơi an nghỉ thật sự vĩnh viễn ở đất tổ tiên và cuối cùng, sau một cuộc đời thật trọn vẹn, hưởng sự bình yên tuyệt đỉnh mà đức Phật đã hứa hẹn và đạt được hạnh phúc trong cõi Niết bàn”.

Câu chuyện “công dân Pháp” lại một lần nữa được lật lại trên tờ Écho Annamite (Tiếng Vọng An Nam) số ra ngày 04/06/1927. Trong bài viết của mình, ông Nguyễn Phan Long đã kể lại câu chuyện giữa hai ông Celestin Miche và ông Jean Boudot.

Khi cùng nhau tham dự đám tang, hai người đàn ông này đã có cuộc tranh luận về các nghi thức văn hoá Trung Hoa liệu có hợp hay không hợp với vị trí công dân Pháp của Quách Đàm.

Bài báo cũng tiết lộ một chi tiết khá đặc biệt trong tang lễ của Quách Đàm là tất cả những người tham dự lễ tang đều được tặng một phong bao tiền. Trong khi ông Boudot không muốn nhận vì thấy không phù hợp thì ông Miche lại nói đó là phong tục của người Hoa, đến lễ tang của người Hoa thì phải theo phong tục của họ.

Sự kiện tang lễ của Quách Đàm lắng xuống chưa bao lâu thì năm 1929, con trai cả của Quách Đàm là Quách Khôi cũng qua đời và được đưa tiễn bằng một lễ tang hoành tráng, xa hoa không kém.

Ngày 14/03/1930, gia đình Quách Đàm cùng nhiều quan chức chính quyền như ông Renault, thị trưởng thành phố Chợ Lớn; ông Eutrope, đại diện thống đốc Nam Kỳ và một số thương nhân, viên chức khác đã có mặt tham dự buổi đặt tượng Quách Đàm ở sân chính giữa chợ Bình Tây.

Tượng Quách Đàm được đúc bằng đồng đen, mặc triều phục Mãn Thanh, đội chiếc nón nhỏ, áo ngắn phủ phía ngoài áo thụng, tóc thắt bím, tay cầm những cuộn giấy và bản đồ. Tượng được đặt trên bệ đá trắng, xung quanh gắn giao long bằng đồng.

Sau năm 1975, tượng Quách Đàm bị tháo gỡ, đưa về lưu giữ trong Bảo Tàng Mỹ Thuật.

Ngày nay, để tưởng nhớ người đã dựng lên ngôi chợ, người dân đã làm một pho tượng bán thân nhỏ, đặt vào chỗ cũ, ngày ngày nhang khói.

chuyenxua.vn biên soạn

Câu chuyện về những tỷ phú Sài Gòn xưa – Kỳ 1: Sự nghiệp phi thường của “chú Hỏa” và gia tộc Hui Bon Hoa

Bất cứ người nào từng sống ở Sài Gòn ngày xưa đều ít nhiều nghe nói đến một người có cái tên ngắn gọn: chú Hỏa, là người Việt gốc Hoa, tên thật là Huỳnh Văn Hoa, thường được gọi Hui Bon Hoa (tiếng Việt đọc là Hứa Bổn Hòa). Là một đại phú gia nổi tiếng, xung quanh chú Hỏa còn có nhiều huyền thoại ly kỳ vẫn còn đồn đại đến ngày nay. Ngoài ra, ông còn biết đến là người có tấm lòng không chỉ thu vén cho riêng mình mà còn biết hướng tới cộng đồng, có nhiều đóng góp quan trọng trong sự hình thành bộ mặt của trung tâm Sài Gòn vào cuối thế kỷ 19.

Chú Hỏa – Hui Bon Hoa

Theo sự “xếp loại” của dân gian vào đầu thế kỷ 20, thì tại Sài Gòn có bốn người được coi như “đại phú”, đó là: nhất Sĩ, nhị Phương, tam Xường, tứ Hỏa. Dù Chú Hỏa được xếp hàng thứ tư trong nhóm “tứ đại phú gia” này, nhưng theo người đương thời cho biết thì ngôi thứ đó phải ngược lại, có nghĩa là chú Hỏa phải đứng hàng thứ nhất. Lý do là vì 3 người kia là người Việt, lại có quyền thế hơn, nên ngôi thứ của họ được nêu lên đầu.

Trong 3 người còn lại, thì Sĩ là Huyện Sĩ, người bỏ tiền ra xây dựng “Nhà thờ Huyện Sĩ” ở đường Tôn Thất Tùng. Ông Huyện Sĩ tên thật là Lê Phát Đạt, chính là ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu. Phương là Tổng đốc Đỗ Hữu Phương, từng hợp tác chặt chẽ với Pháp nên lừng lẫy với cái danh “Việt gian”. Còn Xường tức là Bá hộ Xường, ông trùm các dịch vụ về lúa gạo, công nghệ thời đó.

Vì sao chú Hỏa đã làm giàu được ở đất Sài Gòn, trong khi chỉ là một người Hoa di cư? Về điều này có nhiều lời đồn đại trong dân chúng. Có thông tin từ thời xưa nói rằng khi bỏ quê Phúc Kiến – Trung Quốc để sang Việt Nam lập nghiệp từ năm 1863 (khi đó ông mới 18 tuổi), Chú Hỏa khởi đầu bằng nghề buôn ve chai. Giai thoại nói rằng một lần ông mua được một gánh đồng nát có lẫn trong đó là một gói vàng lớn (có nơi nói đó là cổ vật có giá trị lớn lẫn trong đồng nát), từ đó có số vốn lớn để làm ăn, ngày càng giàu nhờ kinh doanh bất động sản vào thời kỳ lĩnh vực này còn rất sơ khai.

Có một thông tin khác, đáng tin cậy hơn, từ trong bài viết mang tên “Sự thật về Hui Bon Hoa và Chú Hỏa” của tác giả Chen Bickun viết năm 2014, với những tư liệu được cung cấp từ chính dòng dõi của Hui Bon Hoa đang sinh sống ở Paris (Pháp) cho biết về sự thật con đường làm giàu của Chú Hỏa.

Theo bài viết này thì vào năm 20 tuổi, chàng thanh niên tên thật là Huáng Wén Huá (Huỳnh Văn Hoa) từ Phúc Kiến – Trung Quốc đến Sài Gòn mưu sinh, may mắn được nhận vào làm trong một tiệm cầm đồ của một người Pháp tên là Antoine Ogliastro.

Nhờ tính siêng năng, cần cù, được lòng chủ, nên chú Hỏa được ông chủ người Pháp tốt bụng giúp vốn để mở tiệm cầm đồ để khởi nghiệp kinh doanh.

Tiệm cầm đồ đầu tiên của Chú Hỏa là căn nhà nằm ở góc đường Phó Đức Chính và Nguyễn Thái Bình ngày nay, còn văn phòng làm việc cho ông chủ người Pháp của ông ở trước cửa tiệm bên kia đường, trên một khu đất vẫn còn trống.

Chính khu đất trống này, Chú Hỏa đã mua và xây ba căn sát nhau trên đường Phó Đức Chính, mỗi căn dành cho một người con trai. Căn giữa đặt bàn thờ tổ tiên, Chú Hỏa giao cho con trai lớn, còn hai căn nhà hai bên giao cho hai người con trai còn lại. Ba căn nhà này về sau đã được các người con của Chú Hỏa xây dựng lại trở thành ba tòa nhà nguy nga, được dân gian xưa nay vẫn gọi là nhà Chú Hỏa, nay cả ba tòa nhà này đều được sử dụng làm Bảo tàng Mỹ thuật.

Nhà chú Hỏa, nay là bảo tàng mỹ thuật

Mở tiệm cầm đồ một thời gian, tích lũy được một số tiền, Chú Hỏa đổ tiền vào ngành bất động sản bằng cách mua trước những khu đất rộng khi nó vẫn còn là đầm lầy hoặc ruộng lúa có giá rẻ mạt.

Một trong những khu đất mà chú Hỏa đầu tư đó đã được người Pháp chọn để xây chợ Bến Thành thay thế cho chợ cũ bên đại lộ Charner (Nguyễn Huệ) vào năm 1911. Khi này thì Chú Hỏa đã qua đời, nhưng gia tộc Hui Bon Hoa vẫn rất hùng mạnh, đã góp vốn để xây chợ Bến Thành, đồng thời khu đất còn lại xung quanh chợ thì gia tộc này cũng đã xây nhiều dãy nhà thương mại rất lớn để cho thuê. Dãy nhà mái ngói bên cạnh chợ Bến Thành đó vẫn còn lại cho đến ngày nay sau hơn 100 năm.

Những dãy nhà xung quanh Chợ Bến Thành thuộc sở hữu của gia tộc Hui Bon Hoa

Vào thời kỳ Sài Gòn đang chuyển mình từ một thành phố sơ khai lên thành đại đô thị, nhu cầu về nhà ở tăng cao, chú Hỏa là một trong vài người đầu tiên đứng ra kinh doanh nhà, đất. Chỉ trong vòng mười năm, sản nghiệp của Hui Bon Hoa đã tăng lên rất nhanh, với gia sản lên tới 20.000 căn phố ở khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, thuộc sở hữu của Công ty Hui Bon Hoa và các con do ông thành lập, cùng với các con quản lý.

Với nhiều gia đình Việt Nam nói riêng và Á Châu nói chung, thường là cha mẹ giàu có sẽ có những người con ỷ lại vào gia sản của gia đình. Nhưng chú Hỏa thì có một cách giáo dục con cái, cũng như cách tổ chức quản lý tài sản rất khoa học và tiến bộ. Ông có nhiều con, tất cả đều được cho học hành đến nơi đến chốn, tất cả đều có ý thức giữ gìn và phát triển gia sản của gia đình.

Một người từng làm việc trong gia đình chú Hỏa, sau này có kể lại rằng, ngay từ lúc chú Hỏa còn khỏe mạnh, ông đã cho lập sẵn di chúc, trong đó phân chia tài sản một cách công bằng và tiến bộ như sau: Tài sản chung chia cho con-cháu thừa hưởng ngang nhau, tuy nhiên không một người nào được tự ý rút số được chia ra để tự tiêu pha, mà tất cả phải qua một hội đồng ủy thác, được chính chú Hỏa ủy nhiệm cho Notaire (chưởng khế) sở tại.

Lúc còn nhỏ, người con của ông hàng tháng được nhận một số tiền nhất định, trong mức vừa phải cho việc ăn uống, học hành và tiêu xài cho đến khi trưởng thành và có gia đình. Khi đó, nếu muốn kinh doanh gì thì phải thông qua hội đồng ủy thác, họ sẽ cố vấn và theo dõi việc làm ăn. Tất cả những điều này nhằm không để cho người con nào ỷ lại vào gia sản mà tiêu xài hoang phí, và cũng là để bảo đảm cho việc kinh doanh của dòng họ Hui Bon Hoa không thua sút ai.

Có lẽ nhờ vậy nên mãi về sau này, suốt trong những năm Pháp thuộc, các con cháu của Hui Bon Hoa vẫn còn quản lý một số tài sản khổng lồ, cho dù chú Hỏa đã qua đời năm 1901.

Niên giám Đông Dương năm 1922 cho biết thành phần quản trị công ty Hui Bon Hoa & Ogliastro gồm có 3 giám đốc: Tang Hung, Tang Chanh, Tang Phien (3 người con trai của chú Hỏa). trong đó Tang Hung (thực ra là Tang Huan – Huỳnh Trọng Huấn) là lớn nhất. Ông Tang Huan về quê ở Phúc Kiến (Trung Quốc) lập công ty bất động sản ở đó và giao lại công việc điều hành công ty ở Nam kỳ lại cho Tang Chanh (Huỳnh Trọng Tán). Gia tộc Hui Bon Hoa giàu đến nỗi trong danh sách mua trái phiếu của chính phủ Pháp thời WW1, riêng trong năm 1918, ông Tang Chanh Hui Bon Hoa đã mua 1 triệu francs, một số tiền khổng lồ thời đó, chỉ đứng sau công ty Pháp xay lúa gạo Rauzy et Ville.

Ngày 28/1/1934, sau nhiều năm dẫn dắt công ty Hui Bon Hoa phát triển và đạt được nhiều thành công ở Nam kỳ, ông Tang Chanh Hui Bon Hoa (Huỳnh Tăng Chánh) đã tạ thế. Sau đó thì Tang Phien (Huỳnh Trọng Bình) lên thay.

Một tờ báo chữ quốc ngữ xuất bản ngày 3/2/1934 có viết như sau về nghiệp của Tang Chanh như sau:

“56 năm ở Nam kỳ

Ông Tang Chanh con của Hui Bon Hoa đã từ trần

Còn ai chẳng biết tên của Hui Bon Hoa, một đại phú gia ở xứ nầy. Nhà cao, cửa rộng, phố phường dọc ngang chiếm gần hết đất châu thành, bao nhiêu đó đã chứng rõ cho ai nấy đều biết rằng giòng giỏi Hui Bon Hoa được nổi danh là nhờ đó. Rủi thay, Hui Bon Hoa ra công trồng cây chưa hưởng đặng trái ngon thì liền phải từ trần, để lại mấy mặt con. M. Tang Chanh đây là con trưởng mới từ trần bữa chúa nhựt rồi.

M. Tang CHanh sanh tại Nam kỳ hồi 1877. Người ta thấy vậy cho ông là dân Nam kỳ chớ không phải là người Tàu vì trọn đời ông, ông chỉ về Tàu có 3 lần mà thôi.

Kế nghiệp cha hồi mới lên 16 tuổi, M. Tang Chanh nhờ có trí thông minh, lanh lợi, đem của tiền của ở Áo Môn bên Tàu qua Nam kỳ mà lập tiệm cầm đồ.

Càng ngày càng giàu, M. Tang Chanh mới xuất tiền ra mà làm việc nghĩa. Nhà thương Phước Kiến ở Chợ Lớn, trường Trung học Pháp Hoa ở Chợ Quán đều có tay của ông giúp vào.

Ông có tất cả 20 người con. Ông cho mấy cậu ấy sang Pháp du học, người làm cũng làm rạng danh cho gia đình.

Hiện nay ông đã có hai người con đậu bằng cấp kỹ sư rồi.

56 năm trời lặn lội, M. Tang Chanh sanh cũng ở Nam kỳ. Cái gương làm ăn, từ thiện của M. Tang Chanh tưởng những người Khách trú ở đây, ít người bì kịp lắm.”

Người con trai Huỳnh Trọng Bình (Tang Phien Hui Ban Hoa) tiếp quản điều hành công việc gia đình cho đến khi qua đời năm 1951. Sau đó, thế hệ con cháu của dòng họ Hui Bon Hoa đã kế tục quản lý và phát triển sự nghiệp kinh doanh của ông bà, cha mẹ để lại.

Đến năm 1975, toàn bộ dòng họ Hui Bon Hoa sang sống ở nước ngoài, tiếp tục con đường kinh doanh. Dấu tích còn lại dễ thấy nhất ở Sài Gòn bây giờ là tòa dinh thự đồ sộ và hoành tráng của chú Hỏa nằm ở khu tứ giác Phó Đức Chính-Lê Thị Hồng Gấm-Calmette-Nguyễn Thái Bình, ngày nay trở thành bảo tàng Mỹ Thuật của thành phố như đã nhắc đến ở bên trên. Cũng chính từ căn nhà này đã phát sinh ra giai thoại về “Con ma nhà họ Hứa” nổi tiếng đã được dựng thành phim.

Căn nhà này được 3 người con của chú Hỏa xây theo ý nguyện của cha lúc sinh thời, muốn có một căn nhà cho toàn bộ con cháu chung sống nhưng chưa thực hiện. Căn biệt thự lộng lẫy có rất nhiều phòng vẫn còn giữ lại được kiến trúc cũ cho đến ngày nay.

Tòa dinh thự đó chỉ là 1 trong số lượng khổng lồ dinh thự, tòa nhà và nhà đất mà gia tộc Hui Bon Hoa sở hữu. Những người con thừa hưởng và phát triển gia sản của Hui Bon Hoa, mà đứng đầu là Tang Chanh, đã xây dựng hàng loạt công trình dân dụng như bệnh viện, chùa chiền, trường học… để tặng lại cho chính quyền để phục vụ cho người dân. Trong số này có thể kể đến Y Viện Phước Kiến của người Hoa ở Chợ Lớn (nay là bệnh viện Nguyễn Trãi) và Chẩn Y viện Sài Gòn (thường được gọi là Nhà thương thí, sau gọi là Bệnh viện Đô Thành). Hiện nay, nhà thương thí chính là bệnh viện Đa khoa Sài Gòn tại số 125, đường Lê Lợi, P Bến Thành, Q1.

Bệnh viện Đô Thành

Ngoài ra, vào năm 1937, gia tộc Hui Bon Hoa cũng hiến miếng đất riêng với diện tích 19.123m2 trên đường Arras cũ (nay là đường Cống Quỳnh) để xây bảo sanh viện mang tên Maternité Indochinoise (Bảo sanh viện Đông Dương), ngày nay là bệnh viện Từ Dũ. Có thời gian nơi này được người dân gọi là Nhà sanh chú Hỏa.

Một công trình nổi tiếng khác thuộc sở hữu của gia tộc Hui Bon Hoa là khách sạn Majestic lộng lẫy tráng lệ ở ngay đầu con đường sang trọng bậc nhất Sài Gòn là Catinat, ngày nay là đường Đồng Khởi, đứng ngay bên bờ sông Sài Gòn.

Majestic Hotel ở đầu đường Catinat/Tự Do/Đồng Khởi vào thập niên 1930

Gia tộc Hui Bon Hoa còn bỏ tiền xây chùa Phụng Sơn (1949), chùa Kỳ Viên (1949-1952), Thành Chí học hiệu, nay là (Trường THCS Minh Đức), góp tiền cùng Tạ Mã Điền để xây trường trung học Pháp Hoa ở Chợ Lớn (sau này là trường trung học Bác Ái, nay là trường Đại Học Sài Gòn). Đồng thời dòng họ Hui Bon Hoa cũng tổ chức nuôi cơm những người vô gia cư và xây dựng các công trình công cộng góp phần xây dựng các công trình giúp ích cho cộng đồng.

Ngoài những tòa nhà, dinh thự, công trình đã nhắc tới, gia tộc Hui Bon Hoa còn sở hữu khoảng 20.000-30.000 khu nhà đất khác tại Sài Gòn, một con số khổng lộ và vô tiền khoáng hậu.

Về tên gọi Hứa Bổn Hòa của chú Hỏa, cái tên này được người Việt phiên âm từ tên Hui Bon Hoa của ông. Thực ra cái tên này không phải là tên gốc, mà là tên đã phiên âm ra từ tiếng Hoa. Ông tên thật là Huáng Wén Huá (Huỳnh Văn Hoa). Vào năm 1887, để dễ tạo mối quan hệ hợp tác làm ăn, ông đã xin nhập quốc tịch Pháp và chọn cái tên Pháp là Jean Baptiste Hui Bon Hoa, trong đó chữ Hui Bon Hoa được người Pháp phiên âm từ tiếng Trung. Vì vậy cho đến nay Hui Bon Hoa đã trở thành họ của cả gia tộc, và con cháu sau này của ông đều mang họ là Hui Bon Hoa, chỉ khác nhau ở cái tên ở đầu. Trong số những người con của Chú Hỏa có 3 người trai được xem là “siêu hạng”, đã nối tiếp cha làm rạng ranh gia tộc, phát triển sản nghiệp, đó là Huỳnh Trọng Huấn (Tang Huon Hui Bon Hoa), Huỳnh Trọng Tán (Tang Chanh Hui Bon Hoa) và Huỳnh Trọng Bình (Tang Phien Hui Bon Hoa), 3 người nắm vai trò chủ chốt của công ty Hui Bon Hoa, thứa kế từ cha là Huỳnh Văn Hoa.

Vào năm 1901, trong lúc Chú Hỏa cùng vợ về thăm Trung Quốc, ông đột ngột qua đời khi mới 56 tuổi và được chôn cất ngay tại quê nhà Phúc Kiến. Những người con của ông đã đồng lòng cùng quản lý và phát triển sản nghiệp khổng lồ của dòng họ Hui Bon Hoa cho đến năm 1975.

Trong cuốn Sài Gòn Năm Xưa phát hành năm 1960 ở Sài Gòn, học giả Vương Hồng Sển cho biết: “Đến nay (1960) các con cháu (Hui Bon Hoa) luôn luôn hòa thuận, gia tài giữ nguyên vẹn, không chia phần manh mún, chỉ cùng nhau chia lợi tức, và mỗi khi cần dùng một số tiền to tát thì người trong họ phải xin chữ ký của người trưởng huynh, khi ấy ngân hàng mới phát bạc (nay gọi là giải ngân)”.

Sau khi Chú Hỏa mất, chính quyền Pháp đã đặt tên Hui Bon Hoa cho một con đường đi ngang qua một khu đất rộng lớn ở khu vực ngày này là Quận 10. Sau 1955, con đường này đổi tên thành Lý Thái Tổ.

Tại xã Nessa thuộc đảo Corse ở Địa Trung Hải cũng có một con đường mang tên Hui Bon Hoa, để ghi nhớ công lao gia tộc Hui Bon Hoa đã đóng góp 25 ngàn franc cho làng giúp cải tạo vỉa hè vào năm 1930.

Những giai thoại khác về con đường làm giàu của “chú Hỏa”

Trước khi được những hậu duệ trong gia tộc xác nhận con đường làm giàu của chú Hỏa là nhờ làm tiệm cầm đồ, có vốn rồi sau đó buôn bán bất động sản (như đã ghi ở bên trên), thì suốt trong 100 năm, có rất nhiều giai thoại, lời đồn đại về sự giàu có của chú Hỏa:

Ngoài giai thoại về việc buôn ve chai nhặt được đồ cổ đã nhắc đến, thì cũng có người nói rằng Chú Hỏa được đổi đời kể từ khi chính quyền Pháp mở cuộc đấu giá thanh lý 20.000 máy truyền tin cũ, không còn giá trị sử dụng. Chú Hỏa vốn có nghề phân kim đã mua lại số hàng này và đã tách thành công được vàng từ những máy truyền tin tưởng chừng vô giá trị, từ đó trở nên giàu có.

Giai thoại khác nói rằng Chú Hỏa vốn dòng dõi nhà Minh, do ly loạn nên tạm chôn giấu của cải để lánh thân, về sau trở lại quê nhà đào số của cải gia bảo ấy lên, đem qua Việt Nam làm vốn hùn hạp với người Pháp rồi dần dà phát đạt. Tuy nhiên Chú Hỏa di dân từ nửa cuối thế kỷ 19, không phải người Minh Hương từ thế kỷ 17. Hơn nữa, nếu Chú Hỏa có tài sản thì không có lý do gì phải phiêu dạt sang tận Việt Nam làm ăn.

Một giai thoại nữa cho rằng Chú Hỏa rất rành phong thủy nên đã an táng mộ cha đúng long mạch, nhờ vậy mà làm ăn trở nên phát đạt nhanh chóng. Câu chuyện này thì càng hoang đường và không có gì để kiểm chứng.

Đông Kha – chuyenxua.vn

Nhạc sĩ Vinh Sử qua đời ở tuổi 78

Nhạc sĩ Vinh Sử, tác giả của những ca khúc nhạc vàng nổi tiếng, đã từ trần vào lúc 3h sáng ngày 10/9/2022 tại bệnh viện nhân dân Gia Định, hưởng thọ 78 tuổi.

Vinh Sử là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của nhạc vàng miền Nam trước 1975, đặc biệt là ở thể loại nhạc bình dân dành cho đại chúng. Ngoài sáng tác với bút danh Vinh Sử, cũng là tên thật, ông còn lấy nhiều bút danh khác nhau là Bồng Nga Nữ, Chế Huyền Trân, Cô Phượng, Diễm Nhi, Đức Vượng, Hàn Ni, Linh Ngân,… với những ca khúc tiêu biểu: Chuyện Tình Sao Ly, Chuyện Tình Liêu Trai, Nhẫn Cỏ Cho Em, Gái Nhà Nghèo, Bạc Màu Áo Trận, Đêm Lang Thang, Đêm Hỏa Châu, Gõ Cửa Trái Tim, Hai Bàn Tay Trắng, Không Giờ Rồi, Nét Buồn Thời Chiến, Năm 17 Tuổi, Vòng Nhẫn Cưới, Chuyến Xe Lam Chiều…

Nhạc sĩ Vinh Sử là một người có tài trong lĩnh vực sáng tác, những bài hát của ông thường đánh trúng thị hiếu của đa số công chúng nghe nhạc bình dân nên nhạc của ông bán rất chạy. Không rõ là từ lúc nào, ông được người ta đặt cho biệt danh là “ông vua nhạc sến”.

Vinh Sử gắn bó một cách trọn vẹn với dòng nhạc đại chúng. Nhiều người đánh giá rằng nhạc của ông được hầu hết giới bình dân đón nhận vì gần gũi với cuộc sống của họ. Nội dung trong nhạc của Vinh Sử thường nói về những thân phận không may mắn, những mối tình trắc trở do không “môn đăng hộ đối” giữa một chàng trai nghèo và một cô gái giàu sang. Công chúng thích nghe nhạc của Vinh Sử vì họ thấy ở đó hình ảnh và tâm sự của chính mình.

Nhạc sĩ Vinh Sử sinh ngày 9/6/1944, tên thật là Bùi Vinh Sử. Cha mẹ của ông từ Hà Tây đi làm phu đồn điền cao su cho Pháp, lưu lạc vào miền Đông Nam Bộ trong thập niên 1940. Sau đó gia đình ông chuyển vào Sài Gòn, sinh sống bằng nghề làm lò bún trong một xóm lao động nghèo ở quận 4. Gần 10 tuổi ông mới được đi học, cũng là người duy nhất trong số 4 anh chị em trong gia đình được đi học.

Cuộc đời của nhạc sĩ Vinh Sử trải qua nhiều thăng trầm và gập ghềnh, lúc thì ở đỉnh cao cả về danh vọng lẫn tiền bạc, lúc thì lâm vào tình trạng khốn cùng.

Thuở nhỏ, gia đình ông thuộc dạng lao động nghèo khó. Năm 15 tuổi, Vinh Sử bỏ học và bắt đầu sáng tác nhạc. Khi đó, ông đã phải chịu không ít ánh nhìn hoài nghi từ chính gia đình và những người quen chung quanh. Có sẵn năng khiếu âm nhạc nên ông vừa học nhạc, vừa mua sách hướng dẫn để tự học cách sáng tác, viết ra những bài ca chia ly và mất mát của tình yêu đôi lứa.

Tuy nhiên, trong những năm đầu khó khăn thì sáng tác được bài hát đã không phải là chuyện dễ, nhưng để bán được nhạc thì càng khó khăn hơn, vì không có nhiều ca sĩ chịu hát bài của một nhạc sĩ trẻ vô danh. Vận may đến với Vinh Sử khi ca khúc Yêu Người Chung Vách được Chế Linh thu âm, từ đó sự nghiệp sáng tác nhạc của Vinh Sử bắt đầu đi lên.

Từ đầu thập niên 1970, âm nhạc đã mang đến cho nhạc sĩ Vinh Sử tất cả, từ danh tiếng đến tiền bạc. Thời hoàng kim trước năm 1975 với tiền tác quyền từ các ca khúc đủ để Vinh Sử tậu xe hơi, nhà lầu, và ông là 1 trong những nhạc sĩ hiếm hoi ngày xưa có thể sống được dư dả nhờ việc bán nhạc. Tuy nhiên đó không phải là thu nhập duy nhất của Vinh Sử. Ông còn mở lớp dạy nhạc, đào tạo ca sĩ và là bầu sô, mua nhạc của nhạc sĩ khác để kinh doanh. Một đóng góp quan trọng khác của ông đối với làng nhạc Miền Nam là chọn nhạc và tổ chức sản xuất các băng nhạc Kim Đằng mà cho đến nay vẫn còn nhiều người tìm nghe lại sau gần nửa thế kỷ.


Click để nghe băng nhạc Kim Đằng 1 do nhạc sĩ Vinh Sử thực hiện, có nhiều bài của ông sáng tác

Băng Kim Đằng đầu tiên phát hành vào tháng 8 năm 1973, và chỉ trong hơn 1 năm đã phát hành được 5 cuốn, cuốn nào cũng ăn khách và bán rất chạy. Nếu không có sự kiện tháng 4 năm 1975, thì số lượng băng nhạc Kim Đằng chắc chắn sẽ không dừng lại ở con số 5.


Click để nghe băng Kim Đằng 2

Những bài hát được chọn vào trong băng nhạc này đa số là của nhạc sĩ Vinh Sử cùng 1 số thân hữu khác chuyên sáng tác dòng nhạc bình dân đại chúng như nhạc sĩ Mộng Long, Giao Tiên, Ngọc Sơn… và nhiều nhạc sĩ tên tuổi khác nữa là Minh Kỳ, Hoài Linh, Trịnh Lâm Ngân… với nhiều bài hát thường được gọi là “thời trang nhạc tuyển”. Đó đều là những bài hát gần gũi với cuộc sống của giới lao động bình dân, nội dung nói về những thân phận không may mắn, những mối tình trắc trở hoặc là tình đơn phương, nói lên tâm trạng của chàng trai vì nghèo mà không dám tỏ tình, đành lặng lẽ yêu một mình, rồi âm thầm chuốc lấy khổ đau. Hầu hết những bản nhạc yêu đương dang dở hoặc than thân trách phận ấy lại đi sâu vào lòng người.


Click để nghe băng Kim Đằng 3

Có được thu nhập cao nhờ sáng tác và sản xuất băng nhạc, Vinh Sử bắt đầu vung tiền vào những cuộc vui. Mỗi tối ông thường đến những khu ăn chơi của giới thượng lưu để mua vui. Mỗi lần như vậy, ông sẵn sàng chi ra hàng chục cây vàng không chút đắn đo. Cũng vì phung phí như vậy nên những người vợ bên cạnh ông lần lượt ra đi vì không chịu được cách sống đó.

Từ tháng 4 năm 1975, cuộc sống phong lưu đó của Vinh Sử khép lại, sau đó cũng phải chịu những khó khăn giống như nhiều nghệ sĩ khác ở lại Sài Gòn.

Cho đến cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, khi nhà nước bắt đầu nới lỏng lĩnh vực âm nhạc, nhiều ca khúc nhạc tình cảm, quê hương được phép biểu diễn trở lại, nhiều hãng băng đĩa bắt đầu làm ăn phát đạt, và nhạc sĩ Vinh Sử được mời làm biên tập nhạc cho các hãng nhạc ở trong nước như Saigon Audio, VAFACO, Rạng Đông… từ đó cuộc sống của ông đỡ vất vả và bắt đầu phất lên trở lại. Tuy nhiên đây cũng là thời kỳ mà nhạc sĩ Vinh Sử bị tai tiếng trong việc mạo nhận là tác giả của nhiều bài hát của nhạc sĩ khác, đặc biệt là các nhạc sĩ đã ra hải ngoại là Anh Bằng, Lam Phương…

Thập niên 1990, tuy làm ra nhiều tiền nhưng nhạc sĩ Vinh Sử cũng không giữ lại được vì thói quen tiêu xài phung phí đã có từ thời trẻ. Thời gian sau đó ông lại bị rơi vào đói nghèo, đau ốm bệnh tật triền miên.

Năm 2006, nhạc sĩ Vinh Sử bị nhiều bệnh, đi lại khó khăn, không thể tự chăm sóc mình nên tìm đến vợ cũ là bà Ngọc Lệ để nhờ chăm sóc. Họ đã kết hôn năm 1976, được 2 năm thì chia tay sau khi có 1 người con chung. Năm 2006, họ tái hợp sau 40 năm, khi bà Lệ thấy chồng cũ khó khăn nên quay lại chăm sóc. Mỗi ngày bà phải đi đi về về từ nhà mình đến nhà Vinh Sử, cách nhau 16km.

Nhạc sĩ Vinh Sử và vợ cũ. Ảnh: Vietnamnet

Năm 2012, nhạc sĩ Vinh Sử phát hiện bị ung thư đại tràng. Năm 2014, căn bệnh đã chuyển sang giai đoạn di căn. Trái với những thời hoàng kim, lúc đó ông sống khó khăn và đơn độc trong căn nhà chỉ 15m2 tại một con hẻm nhỏ ở Sài Gòn. Tiền chữa trị bệnh của ông phải nhờ đến sự giúp đỡ của nhiều ca sĩ.

Vài năm sau đó, số phận lại xoay vần một lần nữa với cuộc đời nhạc sĩ Vinh Sử, khi trào lưu bolero trở lại. Từ những năm gần đây, có nhiều ca sĩ đặt hàng ông sáng tác mới, đồng thời tiền nhận được từ trung tâm tác quyền âm nhạc cũng khá cao, đủ cho ông sống nhàn hạ ở tuổi xế chiều.

Đến năm 2020, khi nhạc sĩ Vinh Sử quá yếu, bà Lệ cũng không còn đủ khỏe để đi lại hàng ngày, nhạc sĩ mới chịu dọn về sống cùng vợ để bà tiện chăm sóc.

Nhạc sĩ Vinh Sử những ngày cuối đời. Ảnh: Vietnamnet

Khi bệnh trở nặng, ngày 22/7/2022, nhạc sĩ Vinh Sử nhập viện để cấp cứu, với triệu chứng của ung thư giai đoạn cuối và xuất huyết dạ dày, đường tiêu hoá và viêm phổi. Ông nằm điều trị ở Khoa gây mê hồi sức trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê, mỗi ngày phải truyền máu, thức ăn và đeo máy trợ thở để duy trì sự sống. Các bác sĩ tiên liệu nhạc sĩ khó qua khỏi do cơ thể suy kiệt sau nhiều năm mắc bạo bệnh.

Bà Lệ cho biết đã từ lâu, nhạc sĩ Vinh Sử đã tự chuẩn bị cho sự ra đi của mình bằng việc xây dựng trước nơi yên nghỉ ở nghĩa trang nghệ sĩ Bình Dương.

Đến 3h sáng ngày 10/9/2022, nhạc sĩ Vinh Sử từ trần, hưởng thọ 78 tuổi.

Đông Kha

 

Cuộc đời và sự nghiệp của “nữ hoàng sầu muộn” Giao Linh

Ca sĩ Giao Linh luôn được nhiều thế hệ khán giả yêu mến và thường được nhắc đến như là một trong số những nữ ca sĩ nổi tiếng nhất của nhạc vàng thế hệ trước năm 1975. Cô sở hữu giọng hát truyền cảm và có phần nức nở, thổn thức, phù hợp với những ca khúc nhạc buồn sâu lắng nên đã được nhiều người gọi với biệt danh là “nữ hoàng sầu muộn” của dòng nhạc vàng.

Ca sĩ Giao Linh sinh năm 1949, tên khai sinh ban đầu là Đỗ Thị Xin. Khi mới được sinh ra, cô rất nhỏ bé và khó nuôi, nên một thời gian sau đó khi đi làm giấy tờ khai sinh, cha của cô muốn đặt một cái tên hơi xấu một chút để dễ nuôi theo quan niệm xưa. Tuy nhiên người công chức phụ trách làm giấy thấy bé gái để tên như vậy thì lạ quá nên đổi lại thành Đỗ Thị Sinh. Bố mẹ Giao Linh quyết định giữ lại luôn cái tên này.

Sau này, khi có ý định đi hát, Giao Linh được một người bạn thân tên là Thuận ở Đà Lạt đặt cho nghệ danh là Giao Linh, với ý nghĩa là hai tâm hồn giao nhau.

Ca sĩ Giao Linh được sinh ra trong gia đình đông anh chị em, có tổng cộng 10 người, nhưng 3 người mất sớm. Cha của cô người Phủ Lý – Hà Nam và đã chuyển vào nam để tự lập thân từ khi mới 12 tuổi. Ông xin vô đồn điền cao su của người Pháp làm nên đã được học tiếng Pháp, nhờ vậy sau này được tuyển vô làm cho tòa lãnh sự Pháp ở Sài Gòn.

Mẹ của Giao Linh người gốc Quảng Bình đã theo gia đình vào nam từ nhỏ, vì nhà nghèo nên lam lũ, cực nhọc mưu sinh từ khi mới 8-9 tuổi. Tuy vậy bà mẹ có tâm hồn yêu văn nghệ, nên khi biết con gái Đỗ Thị Sinh có năng khiếu ca hát, bà hết lòng khuyến khích và giúp con đi hát, trái ngược với người cha có quan niệm phong kiến “xướng ca vô loài”. Giao Linh bị cha cấm đi hát, nhưng lại được mẹ che giấu để dẫn đi hát và học nhạc, song song với việc học văn hóa ở trường nữ Nguyễn Bá Tòng.

Ca sĩ Giao Linh kể trên báo như sau: “Mẹ tôi phải giấu ba cho tôi đi hát, rồi đi học nhạc các kiểu. Tôi được như ngày hôm nay là nhờ mẹ rất nhiều. Để nói về văn nghệ, hát tân nhạc thì mẹ tôi không rành lắm, nhưng mẹ tôi rất rành về cổ nhạc và dẫn tôi đi học ở nhà ông ba Giáo. Tôi hát cổ nhạc không thua cô đào nào, ông thầy khen tôi hát rất hay và “mùi”, nhưng trong đầu tôi lại chỉ thích tân nhạc, nên một thời gian sau chuyển qua tân nhạc”.

Gia đình Giao Linh có một quán phở nổi tiếng ở Sài Gòn. Cô gái Đỗ Thị Sinh một buổi đi học, một buổi đứng bán phở phụ mẹ. Cô kể lại: “Nhiều khi dậy sớm phụ mẹ bán phở mà tôi cứ ngân nga hát. Tôi hát một cách say mê như mình đang ở những cuộc sinh hoạt văn nghệ, hay những cuộc biểu diễn văn nghệ của trường lớp”.

Thời gian sau đó, Giao Linh được học đàn với một người anh thân thiết tên là Ngọc An công tác tại hãng hàng không Air Vietnam. Nhận thấy Giao Linh có chất giọng, ông dẫn vào giới thiệu với Air Vietnam vốn đang cần ca sĩ. Khi đó Giao Linh mới 16-17 tuổi, buổi chiều đi hát ở Air Vietnam, buối sáng làm việc văn phòng của hãng hàng không quốc gia này tại chi nhánh ở đường Thủ Khoa Huân. Vì lúc đó cô còn nhỏ tuổi, chưa có thẻ căn cước nên phải nhờ mẹ lên ký hợp đồng giúp.

Những tháng lương đầu tiên làm việc tại Air Vietnam, ca sĩ Giao Linh dùng để sắm được một chiếc xe VeloSolex mới để tiện cho việc đi làm.

Trong một đêm hát giao lưu văn nghệ vào khoảng năm 1965, Giao Linh đại diện cho đoàn Air Vietnam lên hát và được khán giả tán thưởng, trong đó có nhạc sĩ Thu Hồ ngồi ở bên dưới. Nhạc sĩ Thu Hồ là giáo sư giảng dạy môn nhạc ở trường Nguyễn Bá Tòng, là nơi Giao Linh theo học, tuy nhiên chỉ đến khi gặp nhau trong đêm nhạc, vị nhạc sĩ này mới nhận ra giọng hát đặc biệt của cô học trò nhỏ nên đã đến trò chuyện và nói hôm sau đến nhà ông để luyện lại giọng hát và ông sẽ giới thiệu cô đến cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, là người rất có quyền lực trong làng nhạc lúc bấy giờ, cũng vừa lăng xê thành công tiếng hát Thanh Tuyền nổi tiếng khắp miền Nam.

Hôm sau, Giao Linh cùng với mẹ đón xích lô đến này nhạc sĩ Thu Hồ ở bến Tắm Ngựa, là một con hẻm lớn nằm trên đường Yên Đỗ (nay là Lý Chính Thắng). Tại đây Giao Linh được nhạc sĩ Thu Hồ đệm mandoline và lấy tông để tập cho cô hát, rồi hẹn ngày hôm sau cùng đến nhà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông.

Giao Linh kể lại rằng ngày hôm sau cô đi một mình đến nhà nhạc sĩ bằng chiếc VeloSolex của mình, vì thân hình nhỏ bé ốm yếu nên không thể dắt nổi chiếc xe lên bậc thềm nhà, làm cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cũng phải ái ngại vì không biết một cô gái nhỏ bé như vậy thì có thể hát hò được ra sao.

Trong hồi ký của mình, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông kể lại về “ngày định mệnh” đó như sau, xin trích lại:

“Tôi nhớ lại, vào một sáng Chúa Nhựt năm 1965, nhạc sĩ Thu Hồ đưa đến nhà tôi một cô bé gầy gò ốm yếu. Cô đến bằng chiếc xe máy mini VeloSolex, nhưng không đủ sức đẩy xe qua thềm nhà tôi, phải nhờ nhạc sĩ Thu Hồ giúp đở. Cô bé ngồi im lặng như đóng băng không nói năng chi, trong khi nhạc sĩ Thu Hồ thao thao bất tuyệt về khả năng âm nhạc tiềm ẩn trong người cô. Tôi nhìn cô bé 16 tuổi, vóc dáng nhỏ nhắn, không phát triển như những cô gái cùng trang lứa, nghĩ thầm làm sao cô bé này có đủ hơi sức để hát hò. Tôi gợi chuyện vui để cho cô bắt chuyện, qua đó khám phá cái duyên ngầm sân khấu mà trong nghề nghiệp gọi là tổ đãi cho người nghệ sĩ. Nhưng cô bé vẫn không cười không nói, nên buổi gặp gở đầu tiên đó, tôi không dự cảm được gì về cô.

Tuy nhiên, để không phụ lòng nhạc sĩ Thu Hồ, tôi cho một cái hẹn thử giọng cô bé Đỗ Thị Sinh tại phòng thu âm của hãng dĩa Continental. Thật bất ngờ, Giao Linh, cái tên nghệ nhân sau này của cô bé Đỗ Thị Sinh, đã gây sửng sốt bằng chất giọng khỏe khoắn. Cô hát vượt qua tầm cữ quãng tám một cách dễ dàng với làn hơi ngân nga dịu dàng truyền cảm. Hãng dĩa Continental chấp nhận, tôi lên chương trình đào tạo, và chỉ sau một thời gian ngắn, tên tuổi ca sĩ Giao Linh bừng sáng trên vòm trời nghệ thuật, sánh vai cùng đàn anh đàn chị đi trước. Khi ấy Giao Linh vừa tròn 17 tuổi. Riêng cái tên mỹ miều “Nữ Hoàng Sầu Muộn” mà người đời ban tặng cho Giao Linh, chỉ vì cô không mỉm môi cười thì Giao Linh mãi mãi mang theo, dù từ lâu rồi cô đã có một gia đình rất hạnh phúc”.

Ca sĩ Giao Linh cho biết trước đó lương của cô ở Air Vietnam chỉ 4600 mỗi tháng, nhưng được công ty Continental ký hợp đồng độc quyền 3 năm với mức lương là 150.000 đồng thời bấy giờ, một số tiền quá lớn mà cô chưa từng nghĩ rằng mình sẽ kiếm được để phụ giúp cha mẹ nuôi các em nhỏ.


Click để nghe tiếng hát Giao Linh trước 1975

Trong phần giới thiệu ca sĩ “mới” Giao Linh năm 1966, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ghi như sau:

“Một tài năng mới, một giọng ca trẻ trung sống động, đang bắt đầu góp tiếng hát trên các đài Phát thanh và mặt đĩa.

Nữ sinh Đệ-tứ, Giao Linh ở lứa tuổi 17 đang là niềm hy vọng dài lâu của Sân khấu nghệ thuật. Với giọng hát đặc biệt truyền cảm và kỹ thuật trình bày khá chững chạc, cộng với sự xinh lịch tươi tắn của tuổi trẻ, Giao Linh sẽ làm ngạc nhiên và thâu phục mau lẹ tình cảm giới mộ điệu trong thời gian kỷ lục.

Ca tân nhạc dễ thương, Giao Linh cũng sẽ dành cho giới cổ nhạc sĩ thích thú với 6 câu vọng cổ.

Ngay từ bước đầu, hãng dĩa Continental đặt vào tay Giao Linh một hợp đồng với số tiền phá kỷ lục, chưa từng có ở các hãng dĩa đối với một tài năng mới. Đó là một trường hợp hãn hữu.

Giao Linh đã bắt đầu thu âm cho hãng dĩa Continental với 10 bản tân nhạc và 10 bản cổ nhạc ở đợt đầu.

Những người ái mộ giọng hát Giao Linh, có thể gởi thơ về địa chỉ của cô tại số 75 – Nguyễn Kim – Chợ Lớn”.

Cuộc đời của Giao Linh đã thay đổi hoàn toàn sau khi trở thành học trò của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Tuy nhiên, nói đúng ra thì nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông không có thời gian để hướng dẫn trực tiếp các học trò ca sĩ, mà ông chỉ lên chương trình đào tạo rồi giao lại cho các nhạc sĩ đang làm việc cho Continental chỉ dẫn trực tiếp. Vì vậy Giao Linh được học cách hát, lấy hơi và nhả chữ từ nhạc sĩ Ngọc Sơn – tác giả của các ca khúc Nét Son Buồn, 100%… đặc biệt là ca khúc Lời Này Cho Em được vị nhạc sĩ này ký với bút danh là Ngọc Sơn & Giao Linh.

Ca sĩ Giao Linh cho biết cô chịu ơn những người thầy của mình là Thu Hồ, Ngọc Sơn, đặc biệt là Nguyễn Văn Đông, đã dẫn dắt cô những bước đi đầu của sự nghiệp suôn sẽ, may mắn để có được những thành công mà ít người có được. Chỉ sau 3 tháng từ khi ký hợp đồng với Continental thì Giao Linh đã nổi tiếng, nhiều tờ báo thời đó gọi Giao Linh là “ca sĩ có đôi hia 7 dặm”.

Giao Linh và nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Ảnh: Trần Quốc Bảo

Nhờ ký hợp đồng độc quyền với hãng dĩa Continentel, Giao Linh đã được hát rất nhiều ca khúc của Nguyễn Văn Đông cùng các nhạc sĩ ký hợp đồng với hãng dĩa này như là Hoàng Trang, Đài Phương Trang, Ngọc Sơn và ghi được dấu ấn sâu đậm với các ca khúc mà hiện nay vẫn còn nhiều người nhắc đến bên cạnh tiếng hát Giao Linh là Đom Đóm, Chiều Mưa Biên Giới, Mùa Sao Sáng, Không Bao Giờ Quên Anh, Ăn Năn, Tâm Sự Với Anh, Đêm Ru Điệu Nhớ, Nhật Thực, Mùa Pensee Nở, Màu Tím Pensee…

 

Đỉnh cao của tiếng hát Giao Linh là từ thập niên 1970, đặc biệt là với băng nhạc Sơn Ca 6 do nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thực hiện.

Từ khi nổi tiếng đến nay, Giao Linh luôn được gắn với biệt danh Nữ Hoàng Sầu Muộn. Giải thích về điều này, cô cho biết những ngày đầu đi hát với sự dìu dắt của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, cô đã được thử thách bằng nhiều thể loại nhạc. Nhưng cô chỉ hát hay những bài buồn, còn ca khúc nào vui mà đưa Giao Linh hát nghe cũng thành buồn. “Tuy chất giọng trẻ trung thật, nhưng trời cho một tiếng ca buồn, nên từ đó, bạn bè trong nghề đồn thổi chết tên sầu muộn cho đến bây giờ”, Giao Linh tâm sự.


Click để nghe băng nhạc Sơn Ca 6

Năm 1975, ca sĩ Giao Linh 26 tuổi, dù trải qua một vài mối tình nhưng cô vẫn không tiến tới hôn nhân với ai. Cô cho biết mình mang nặng trách nhiệm với gia đình, em đông, nên chưa vội nghĩ đến hạnh phúc riêng cho mình, bỏ dở tuổi xuân, chỉ tâm niệm làm sao lo lắng cho các em được học hành tử tế nên người.

Cô tâm sự trên báo:

“Cha mẹ tôi sinh ra tất cả 10 người con, mất đi 3 người, còn lại tôi và 6 đứa em ở dưới. Nhà nghèo, lại có đàn em nheo nhóc thơ dại như vậy nên làm sao mình có thể sống thoải mái để hưởng hạnh phúc riêng đây. Tôi luôn nghĩ mình phải lo cho các em nên người trước đã, thành ra khi có bạn trai mà chỉ cần người ta có chút suy nghĩ gờn gợn gì đó kiểu như ‘sao em lo cho gia đình nhiều quá’ là không thể tiến tới được với mình”.

Năm 1982, Giao Linh định cư ở Canada khi đã 33 tuổi. Trên xứ người mọi thứ đều lạ lẫm, vất vả mưu sinh, chuyện riêng tư lại bị gạt sang một bên. “Nữ hoàng sầu muộn” không còn những ngày tháng huy hoàng trên sân khấu trước 1975, cô mở quán phở tên là “Linh”, nối nghiệp bán phở gia truyền, quán phở Linh trở thành nơi lui tới thường xuyên của giới văn nghệ sĩ ở Toronto.

Một năm, Giao Linh được trở lại với âm nhạc với băng đầu tiên ở hải ngoại do ca – nhạc sĩ Trường Hải sản xuất mang tên Tiếng Xưa năm 1983.

Đến năm 37 tuổi Giao Linh mới kết hôn. Khi đó, chồng bà đã đã trải qua 3 đời vợ và có 6 con riêng đều đã lớn. Đó là ông Võ Văn Sang, họ đã từng gặp nhau khi Giao Linh mới 17 tuổi, nhưng phải đến tròn 2 thập kỷ sau đó thì mới thành duyên vợ chồng, rồi sống hạnh phúc cho đến khi ông Sang đột ngột qua đời năm 2021.


Click để nghe Giao Linh hát Thư Đô Thị

Dưới con mắt bạn bè và đồng nghiệp, chồng của Giao Linh là người rất yêu chiều vợ, chăm lo cho cô từng chút một. Những khi đi lưu diễn, ca sĩ Giao Linh chỉ việc đi tay không, tất cả mọi việc còn lại đều do một tay chồng sắp xếp. Ông lo lắng tỉ mỉ cho vợ từng miếng ăn, giấc ngủ, tư vấn trang phục áo dài mặc lên sân khấu, và tự tay tìm mua hộp phấn, thỏi son. Niềm hạnh phúc đó còn được nhân lên khi cả 6 người con riêng của ông đều yêu quý và đối với Giao Linh đều rất chân thành, tình cảm.

Giao Linh kể lại chuyện tình với ông Sang như sau:

“Chúng tôi gặp nhau trong nhóm bạn và chỉ coi nhau như bạn bè đến chục năm trôi qua. Anh để ý thích nhưng vì tôi có nhiều người theo nên anh không dám tỏ tình. Nghe nhiều lời đồn thổi về tính anh đào hoa, nhiều đời vợ nên vào một ngày anh ngỏ lời, tôi mới buông một câu đùa giỡn “trời ơi, ai mà dám lấy anh, anh nhiều vợ thấy mồ”, điều đó làm anh giận và không gặp tôi nữa. Rồi biến cố xảy ra, chúng tôi thất lạc nhau đến gần 10 năm sau mới gặp lại trên đất Mỹ.

Thời điểm đó, anh có cuộc sống tự do và lại một lần nữa ngỏ lời với tôi. Cảm nhận được cái tình của anh dành cho mình bởi anh đã theo đuổi tôi 20 năm rồi. Lúc đó tôi bị dao động nhiều nhưng vẫn rất sợ quá khứ của anh. Khi gặp anh, tôi vẫn còn độc thân nhưng anh đã có 6 đứa con riêng qua 3 đời vợ. Tôi phân vân không biết mình có chịu đựng nổi các rắc rối trong gia đình không bởi một dòng con đã không thấu rồi mà anh lại có tới 3 dòng.

Khi bước vào cuộc sống hôn nhân, tôi nhận thấy anh là người trách nhiệm, thương con, lo cho gia đình, quý mến những người mẹ của con mình.

Vợ chồng tôi hay giận nhau nhưng không to tiếng. Chúng tôi đều hiểu, hạnh phúc là do mình tạo dựng, mỗi người đều phải tự giữ. Tuổi già không bỏ sót một ai, thời gian không còn nhiều, cớ gì không dành để yêu thương nhau”.

Năm 2002, vợ chồng ca sĩ Giao Linh về nước, sinh sống ở cả 2 nơi. Tại Sài Gòn, nữ ca sĩ mở lại quán phở gia truyền ở đường Cách Mạng Tháng 8, hoạt động được khá lâu thì đóng quán vì bận rộn. Vào năm 2004, Giao Linh được cấp phép hát trở lại ở trong nước, từ đó cô hoạt động nghệ thuật chủ yếu ở trong nước, thỉnh thoảng nhận show ở nước ngoài.

Chồng Giao Linh là ông Sang đã luôn sát cánh cùng vợ trong bất cứ chuyến lưu diễn nào ở trong và ngoài nước trong suốt hơn 30 năm, kể từ khi chung sống cho đến khi ông qua đời năm 2021. Dù kết hôn ở tuổi muộn, nhưng có thể nói Giao Linh đã gặp được một nửa đích thực của đời mình và có được cuộc sống gia đình viên mãn. Vì vậy, việc người chồng đột ngột từ trần là một cú sốc lớn đối Giao Linh, cô phải làm quen với việc thiếu vắng người chồng yêu dấu trong những tháng ngày còn lại.

Sau đây mời các bạn nghe lại những ca khúc được yêu thích nhất, đồng thời đều là những ca khúc buồn của “nữ hoàng sầu muộn” Giao Linh thu âm trước 1975:

Nhìn Lá Me Bay (nhạc sĩ Anh Việt Thanh)

Giao Linh là người hát ca khúc này đầu tiên trong băng Kim Đằng 5, bìa băng nhạc ghi tên bài hát là Nhìn Lá Me Bay. Tuy nhiên hiện này bài hát được biết đến rộng rãi với cái tên Vùng Lá Me Bay.

Bài hát này được nhạc sĩ Anh Việt Thanh sáng tác sau Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972:

Ta xa nhau lúc hè về vương xác phượng buồn
Nẻo đường thành đô khói ngập trời…


Click để nghe Giao Linh hát trước 1975

Nhật Thực (nhạc sĩ Viễn Chinh)

Nhật Thực là tên bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Viễn Chinh và được khán giả yêu mến qua giọng hát của nữ ca sĩ Giao Linh cả trước và sau năm 1975.

Theo nhạc sĩ Viễn Chinh kể lại, ông sáng tác ca khúc này dựa theo một câu chuyện có thật mà ông được nghe kể lại:

Có 2 gia đình đã có mối thâm thù từ nhiều đời vì tranh chấp đất đai. Hai gia đình đó có 2 người con học chung trường lớp, và thật ngang trái là đôi trai gái đó đã cảm mến và yêu nhau với sự ngăn cấm quyết liệt của cả 2 gia đình. Thời gian sau đó cô gái bị gia đình ép gả cho người ở làng bên. Ở bên chồng nhưng cuộc sống không hạnh phúc, không lâu sau đó người con gái đã tự chấm dứt đời mình:

Cho tôi một lần thôi được thăm viếng mộ em.
Từ khi quen biết đến khi em giã cõi đời,
Chúng mình không một lần vui
Chuyện tình hai đứa ươm bao là sầu và bao chua xót


Click để nghe Giao Linh hát Nhật Thực trước 1975

Đêm Ru Điệu Nhớ (nhạc sĩ Hoàng Trang)

Bài hát gắn liền với giọng hát Giao Linh, cả trước và sau năm 1975. Dù là một bài hát quen thuộc, nhưng ít người hát lại, có lẽ lý do là vì Giao Linh đã thể hiện quá xuất sắc ca khúc này, khó có thể hay hơn được nữa:

“Có những dòng sông mênh mông yêu nhau như chuyện vợ chồng…”


Click để nghe Giao Linh hát Đêm Ru Điệu Nhớ trước 1975

Tâm Sự Với Anh (nhạc sĩ Hoàng Trang)

Một bài hát khác của nhạc sĩ Hoàng Trang, nói thay cho tâm sự nữ nhi lúc nào cũng âu lo trong chuyện tình yêu:

Anh vô tình anh chẳng hiểu cho em trong những đêm sầu đau
Giờ trách anh đâu phải để bắt đền
Nhưng tại vì em buồn….


Click để nghe Giao Linh hát Tâm Sự Với Anh trước 1975

Ăn Năn (nhạc sĩ Hoàng Trang)

Ca sĩ Giao Linh là người gắn bó với nhạc sĩ Hoàng Trang, đã trình bày thành công nhiều ca khúc của ông, những bài nói thay cho nỗi lòng người con gái khi yêu:

Ngày mình yêu nhau hai đứa ước mơ trầu cau
Em đâu có ngờ rằng hai đứa xa nhau
Giờ buồn không anh nếu mộng xưa chẳng thành
Em tin không phải mình mà vì đời chia rẽ.


Click để nghe Giao Linh hát Ăn Năn trước 1975

Đom Đóm (nhạc sĩ Phượng Linh)

Ca khúc nhạc vàng nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ký bút danh Phượng Linh. Ca sĩ Giao Linh là học trò của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, và cũng là người trình bày thành công nhất ca khúc này:

Đom đóm đâu ra chiều hôm thật nhiều
Tiền đồn ven biên anh vừa lên phiên đổi gác
Từng bày đom đóm như thắp sáng kỷ niệm của chúng ta…


Click để nghe Giao Linh hát Đom Đóm trước 1975

Chuyện Tình Sao Ly (nhạc sĩ Vinh Sử)

Một chuyện tình rất ly kỳ của nàng Sao Ly (Sau Ri), người ở làng Kong Rin. Nàng yêu một chàng trai ở làng kế bên là Kam Rây, nhưng vì giữa 2 làng Kong Rin và Kam Rây có một mối thù truyền kiếp nên đôi trai gái không thể nên duyên…

Một ngày kia, theo tiếng gọi của tình yêu, nàng Sao Ly băng ngang lưng đèo, những thác ghềnh cheo leo, dấn thân nơi rừng già để tìm thăm người yêu. Nhưng oan nghiệt thay, tại nơi núi rừng hoang vu đó, nàng đã bị gục ngã bởi mũi cung tên của một chàng trai cùng làng đã mang hờn ghen vì không được Sao Ly đáp lại tình cảm:

Đâu có ngờ tại nơi truông vắng có người đang theo chân nàng
Ôm tình si chàng trai sóc Kong Rin nhẹ nâng cánh cung lên
Buồn biết mấy khi hờn ghen quá
Nên chàng buông tên mũi tên hận thù…


Click để nghe Giao Linh hát Chuyện Tình Sao Ly trước 1975

Qua Xóm Nhỏ (nhạc sĩ Mạnh Phát)

Bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Mạnh Phát từ đầu thập niên 1960. Thời gian sau này, người vợ đầu của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh cho biết ca khúc này được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác trong thời gian mới quen biết với bà, sau đó vì hoàn cảnh khó khăn nên bán bản quyền cho nhạc sĩ Mạnh Phát (tương tự bài Chuyến Đi Về Sáng).

Rồi chiều nào anh qua xóm vắng
Đã mấy mùa trăng anh cách xa
Mấy lần nghe tim thiết tha.


Click để nghe Giao Linh hát Qua Xóm Nhỏ trước 1975

Xe Mo Ngày Cũ (nhạc sĩ Trường Giang Thủy)

Bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Trường Giang Thủy, nhưng lại thường bị nhầm tên thành Người Phu Kéo Mo Cau, tên nhạc sĩ cũng bị nhầm là Vinh Sử:

Trò chơi thuở bé, anh ưa kéo xe mo
Chở em trên ngõ chiều
Cô bé mỹ miều cười rung rung bờ vai
tay ôm chắc vành mo…


Click để nghe Giao Linh hát Mo Cau Ngày Cũ trước 1975

Tâm Sự Nàng Buram (nhạc sĩ Vinh Sử & Ngân Giang)

Bài hát nói về chuyện tình buồn của một nàng sơn nữ tên là Buram, người ở sóc PRAI, xứ Thượng. Bài hát đã gắn liền với tên tuổi của ca sĩ Giao Linh:

Nàng Buram thẫn thờ, ngồi ưu tư duới trăng lạnh mờ
Khoé mắt xanh lấp lánh lệ rưng rưng với tâm sự buồn
Có người nào hay nỗi lòng nàng không?


Click để nghe Giao Linh hát Tâm Sự Nàng Buram trước 1975

Giọng Ca Dĩ Vãng (nhạc sĩ Bảo Thu)

Giọng Ca Dĩ Vãng là một trong những bài nhạc vàng nổi tiếng nhất, cũng là ca khúc thành công nhất trong sự nghiệp của nhạc sĩ Bảo Thu, được ông viết cho mối tình cho thật của mình. Nhạc sĩ cũng từng kể lại rằng chỉ trong vòng chưa đến 10 năm, từ 1967 đến 1975, đã có hàng triệu bản nhạc tờ của bài hát này được in bán và rất ăn khách, mang lại cho ông rất nhiều cả về tài chính lẫn danh tiếng.

Ngày xưa mỗi lần em buông tiếng hát,
Thì anh tay phiếm nắn nót cung đàn.

Từng nhịp nhặt khoan anh ru hồn theo tiếng tơ
Nhẹ dìu lời ca em thăng trầm theo từng lúc
Và rồi hờn yêu em khi nào em hát sai
Em nũng nịu cười, nói: Sai là tại anh.


Click để nghe Giao Linh hát Giọng Ca Dĩ Vãng trước 1975

Vườn Tao Ngộ (nhạc sĩ Nhật Hà)

Bài nhạc vàng nổi tiếng của nhạc sĩ Khánh Băng ký với bút danh Nhật Hà (là tên người con trai của nhạc sĩ):

Hôm nay ngày Chúa Nhật,
vườn tao ngộ em đến thăm anh.
Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi
Mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên rồi.


Click để nghe Giao Linh hát Vườn Tao Ngộ trước 1975

Người Tình Và Quê Hương (nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân)

Bài hát nổi tiếng của nhóm nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân đã được yêu thích với rất nhiều giọng ca hát, một trong số đó là giọng hát Giao Linh:

Ngăn cách bây giờ,
cho mai mốt sum vầy
không thấy thẹn cùng sông núi.


Click để nghe Giao Linh hát Người Tình Và Quê Hương trước 1975

Bóng Nhỏ Đường Chiều (nhạc sĩ Trúc Phương)

Nhắc tới nhạc sĩ Trúc Phương, người trình bày thành công nhất và nổi tiếng nhất là Thanh Thúy. Tuy nhiên ca sĩ Giao Linh cũng thể hiện thành công 1 số ca khúc Trúc Phương, đó là Bóng Nhỏ Đường Chiều, Hình Bóng Cũ, Hai Lối Mộng, trong đó bài Bóng Nhỏ Đường Chiều được cô hát trong băng Sơn Ca 6 do nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thực hiện, mời các bạn nghe lại sau đây:


Click để nghe Giao Linh hát Bóng Nhỏ Đường Chiều trước 1975

Hai Lối Mộng – Hình Bóng Cũ (nhạc sĩ Trúc Phương)

Hai bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Trúc Phương có nội dung nối tiếp nhau, cùng được Giao Linh thu âm trước 1975:


Click để nghe Giao Linh hát Hai Lối Mộng trước 1975


Click để nghe Giao Linh hát Hình Bóng Cũ trước 1975

Sầu Lẻ Bóng (nhạc sĩ Anh Bằng)

Người ơi khi cố quên
Là khi lòng nhớ thêm
Dòng đời là chuỗi tiếc nhớ
Mơ vui là lúc ngàn
Đắng cay xé tâm hồn


Click để nghe Giao Linh hát Sầu Lẻ Bóng trước 1975

Giấc Ngủ Cô Đơn (nhạc sĩ Lê Dinh – Anh Bằng)

Nửa đêm nhớ anh, buồn nghe mưa khóc bên mành
Nửa đêm nhớ anh, tủi thân mi khép mong manh
Ai ngỡ duyên mình, bẽ bàng lá thắm xa cành
Chim đàn xa tổ tội tình
Người chờ người trong lúc tuổi xanh…


Click để nghe Giao Linh hát Giấc Ngủ Cô Đơn trước 1975

Dấu Chân Kỷ Niệm (nhạc sĩ Thúc Đăng)

Chuyện tình đôi mươi
chan chứa không bao giờ vơi

Như dòng suối tình êm ái
Có anh và em còn ai còn ai nữa
Đã yêu nhau trong cuộc đời…


Click để nghe Giao Linh hát Dấu Chân Kỷ Niệm trước 1975

Chuyến Tàu Hoàng Hôn (nhạc sĩ Minh Kỳ – Hoài Linh)

Chiều nào, tiễn nhau đi khi bóng ngả xế tà
Hoàng hôn đến đâu đây,
màu tím dâng trong hồn ta…


Click để nghe Giao Linh hát Chuyến Tàu Hoàng Hôn trước 1975

Đông Kha – chuyenxua.vn

Nhan sắc của “tứ đại mỹ nhân” Sài Gòn xưa qua bộ ảnh đẹp: Thanh Nga – Thẩm Thúy Hằng – Kiều Chinh – Kim Cương

Làng nghệ thuật Sài Gòn trước năm 1975 có 4 nữ nghệ sĩ được công chúng và báo giới xưng tụng là “tứ đại mỹ nhân”, đó là Kiều Chinh, Thanh Nga, Thẩm Thúy Hằng và Kim Cương. Họ không chỉ là những giai nhân tuyệt sắc, mà còn là những tài năng xuất chúng trong vườn hoa nghệ thuật đa dạng ở miền Nam xưa.

Cùng xem lại những hình ảnh rực rỡ của “tứ đại mỹ nhân” thời đỉnh cao nhan sắc:

THẨM THÚY HẰNG

Thẩm Thúy Hằng là một minh tinh màn bạc và là người đẹp danh tiếng nhất trong làng nghệ thuật Sài Gòn trước năm 1975, là ngôi sao sáng nhất của điện ảnh miền Nam Việt Nam từ cuối thập niên 1950 cho đến năm 1975.

Bắt đầu vai diễn đầu tiên Tam Nương trong phim Người Đẹp Bình Dương, Thẩm Thúy Hằng nhận được sự chú ý của công chúng, từ đó bà mang luôn biệt danh là “người đẹp Bình Dương”, trở thành một biểu tượng nhan sắc của Sài Gòn, là một trong tứ đại mỹ nhân vừa tài năng lại vừa xinh đẹp. Tên tuổi của Thẩm Thúy Hằng không chỉ nổi tiếng tại Việt Nam mà còn được biết tới tại các nước trong khu vực vì có tham gia nhiều bộ phim hợp tác với Mỹ, Philippines, Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản,…

Thẩm Thúy Hằnɡ tên thật là Nɡuyễn Kim Phụnɡ, sinh năm 1939 tại Hải Phònɡ và lớn lên ở An Gianɡ.

Từ khi mới 16 tuổi họᴄ lớp Đệ tứ (lớp 9 bây ɡiờ), ᴄô thiếu nữ Kim Phụnɡ đã nứᴄ tiếnɡ là một hᴏa khôi trᴏnɡ ɡiới họᴄ sinh. Lúᴄ đó ᴄô lén ɡia đình tham ɡia ᴄuộᴄ thi tuyển diễn νiên điện ảnh ᴄủa hãnɡ phim Mỹ Vân νà đạt ɡiải nhất ᴄủa ᴄuộᴄ thi sau khi νượt qua 2000 thí sinh kháᴄ. Chính ᴄô đã tự ᴄhọn ᴄhᴏ mình nɡhệ danh Thẩm Thúy Hằnɡ, νới Thẩm là họ ᴄủa nhạᴄ sĩ Thẩm Oánh, lúᴄ đó đanɡ là hiệu trưởnɡ trườnɡ Ca νũ nhạᴄ phổ thônɡ mà Thẩm Thúy Hằnɡ thеᴏ họᴄ. Còn Thúy là tên ᴄô bạn thân, νà Hằnɡ là ᴄᴏn sônɡ nổi tiếnɡ bên Ấn Độ.

Với νai diễn đầu tiên Tam Nươnɡ trᴏnɡ phim Nɡười đẹp Bình Dươnɡ – một phim đеn trắnɡ ᴄủa hãnɡ phim Mỹ Vân dᴏ nɡhệ sĩ Năm Châu đạᴏ diễn đượᴄ ra mắt ᴄônɡ ᴄhúnɡ miền Nam năm 1958, Thẩm Thúy Hằnɡ đã nổi lên như một nɡôi saᴏ điện ảnh νà ᴄhinh phụᴄ khán ɡiả màn ảnh rộnɡ lúᴄ bấy ɡiờ νới νẻ đẹp kiều diễm. Cái tên “Nɡười đẹp Bình Dươnɡ” ᴄũnɡ đã thеᴏ Thúy Hằnɡ đi suốt ᴄuộᴄ hành trình nɡhệ thuật thập niên 1950 – 1960.

Một số hình ảnh Thẩm Thúy Hằng năm 16 tuổi trong cuốn phim Người Đẹp Bình Dương đã làm nên tên tuổi của một huyền thoại.

Sau khi trở thành nɡôi saᴏ tỏa sánɡ lànɡ điện ảnh, Thẩm Thúy Hằnɡ đượᴄ ᴄáᴄ hãnɡ phim lúᴄ bấy ɡiờ mời νàᴏ νai ᴄhính liên tụᴄ. Cô đónɡ rất nhiều phim (khᴏảnɡ 60 phim) νà trở thành minh tinh số một νới tiền ᴄát-xê một triệu đồnɡ ᴄhᴏ một νai diễn (tươnɡ đươnɡ một kɡ νànɡ thời bấy ɡiờ).

Khônɡ ᴄhỉ điện ảnh, Thẩm Thúy Hằnɡ ᴄòn tham ɡia lĩnh νựᴄ sân khấu, đónɡ kịᴄh νà diễn ᴄải lươnɡ. Ban Thẩm Thúy Hằnɡ là một trᴏnɡ nhữnɡ ban kịᴄh đượᴄ yêu thíᴄh ở Sài Gòn thời ɡian đó. Trᴏnɡ νai trò trưởnɡ ban, ᴄô νiết kịᴄh bản, dàn dựnɡ νà đónɡ νai ᴄhính.

Sau 1975, Thẩm Thúy Hằnɡ ở lại Việt Nam νà tiếp tụᴄ tham ɡia nhữnɡ bộ phim điện ảnh Cáᴄh mạnɡ. Vài mươi năm cuối đời, nhan sắc của Thẩm Thúy Hằng bị hủy hoại nghiêm trọng vì những di chứng của silicon.

Từ một nhan sắᴄ tuyệt trần, thời gian về sau lại phải manɡ ɡươnɡ mặt biến dạnɡ, đó là một nỗi đau tột ᴄùnɡ νới Thẩm Thúy Hằnɡ. Tuy nhiên khán ɡiả sẽ luôn nhớ đến ᴄô như là một mỹ nhân tài nănɡ đã từnɡ ᴄó ᴄuộᴄ đời νà sự nɡhiệp huy hᴏànɡ trᴏnɡ lànɡ nɡhệ thuật miền Nam.

Một số hình ảnh Thẩm Thúy Hằng thời đỉnh cao nhan sắc:

KIỀU CHINH

Kiều Chinh là minh tinh điện ảnh nổi tiếnɡ, ᴄũnɡ là diễn νiên nɡười Việt đầu tiên νà ᴄó thể nói là duy nhất đạt đượᴄ nhiều thành ᴄônɡ ở Hᴏllywᴏᴏd – mảnh đất nɡhệ thuật khắᴄ nɡhiệt nhất thế ɡiới.

Diễn νiên Kiều Chinh sinh năm 1937 tại Hà Nội, bà lớn lên trong một gia đình giàu có, là điền chủ từ nhiều đời gốc ở làng Mọc Cự Lộc (nay là phường Nhân Chính thuộc quận Thanh Xuân). Cha của bà là ông Nguyễn Cửu – một trí thức Tây học, tốt nghiệp trường Bưởi.

Kiều Chinh chụp cùng cha, mùa xuân năm 1954, những ngày cuối cùng ở Hà Nội

Năm 1943, mẹ của Kiều Chinh qua đời, đến 1954, gia đình còn lại gồm 3 cha con: ông Nguyễn Cửu, người con trai là Lân, và cô gái 16 tuổi Kiều Chinh, quyết định di cư vào Nam. Tuy nhiên trong đêm cuối cùng trước khi đi, anh trai của Kiều Chinh trốn cha vào chiến khu, người cha vì vậy cũng quyết định ở lại tìm con trai, sau khi đẩy Kiều Chinh lên máy bay di cư.

Đó là lần cuối cùng Kiều Chinh được nhìn thấy cha của mình, và bà cũng chỉ được gặp lại người anh trai sau 41 năm, lúc trở νề Việt Nam νàᴏ năm 1995.

Kiều Chinh gặp lại anh trai ở Hà Nội sau 41 năm

Tại Sài Gòn, Kiều Chinh được gia đình người bạn của cha cưu mang (cùng trên chuyến bay di cư). Bà ở chung với gia đình này, rồi thời gian sau đó cũng trở thành con dâu của gia đình ân nhân này.

Vợ chồng Chinh – Tế khi vừa mới cưới

Tại Sài Gòn, Kiều Chinh bén duyên νới điện ảnh, ban đầu là một νai phụ nhỏ trᴏnɡ phim nổi tiếnɡ ᴄủa Hᴏllywᴏᴏd là Thе Quiеt Amеriᴄan.

Ảnh TL của huyvespa

Đến 1 năm sau, khi 18 tuổi, Kiều Chinh đòng vai nữ chính lần đầu trong phim Hồi Chuônɡ Thiên Mụ năm 1957, là bướᴄ khởi đầu để trở thành nữ minh tinh nổi tiếnɡ nhất ᴄủa Việt Nam từ trướᴄ đến nay. Đó là ᴄuốn phim dᴏ ônɡ Bùi Diễm thựᴄ hiện, đạᴏ diễn Lê Dân νới νai nam ᴄhính là Lê Quỳnh (ᴄhồnɡ ᴄủa danh ᴄa Thái Thanh).

Kiều Chinh trong phim Hồi Chuông Thiên Mụ năm 1957

Nɡay sau khi bộ phim ᴄônɡ ᴄhiếu, bà đạt đượᴄ thành ᴄônɡ lớn νới νai diễn đầu tiên ᴄủa mình νà liên tụᴄ đượᴄ mời tham ɡia nhiều phim kháᴄ.

Kiều Chinh năm 1957

Tuy khônɡ họᴄ diễn xuất từ một trườnɡ lớp nàᴏ, nhưnɡ diễn xuất ᴄủa Kiều Chinh rất tự nhiên như một bản nănɡ.

Kiều Chinh và tài tử Lê Quỳnh trong phim Hồi Chuông Thiên Mụ

Sau νai diễn đầu tiên, Kiều Chinh liên tiếp ɡặt hái nhữnɡ thành ᴄônɡ trᴏnɡ ᴄáᴄ phim kế tiếp như Mưa Rừnɡ ᴄủa Alpha Films – đạᴏ diễn Thái Thúᴄ Nha, đồnɡ diễn νới Kim Cươnɡ, Xuân Phát νà Nɡọᴄ Phu. Đến phim thứ ba là Nɡàn Năm Mây Bay, phỏnɡ thеᴏ tiểu thuyết ᴄủa Văn Quanɡ, dᴏ Hᴏànɡ Anh Tuấn đạᴏ diễn thì Kiều Chinh đã là hànɡ “saᴏ”. Cuốn phim này đươᴄ trình ᴄhiếu khắp ᴄáᴄ màn ảnh lớn Sài Gòn , Cần Thơ, Huế νàᴏ năm 1962.

Trᴏnɡ thập niên 1960, bà ᴄũnɡ xuất hiện trᴏnɡ ᴄáᴄ bộ phim ᴄủa Hᴏa Kỳ như “A Yank in Viеtnam” (1964) νà “Opеratiᴏn C.I.A.” (1965) (diễn ᴄhunɡ νới Burt Rеynᴏlds), Dеstinatiᴏn Viеtnam (1968).

Vợ chồng Kiều Chinh và 3 người con

Thời ɡian sau đó, Kiều Chinh trở thành minh tinh điện ảnh nổi tiếnɡ nhất miền Nam νới νai ᴄhính trᴏnɡ hànɡ lᴏạt phim: Bãᴏ Tình, Từ Sài Gòn Đến Điện Biên Phủ, Hè Muộn, Chờ Sánɡ, Chiếᴄ Bónɡ Bên Đườnɡ… đặᴄ biệt là ᴄuốn phim nhựa nổi tiếnɡ dᴏ ᴄô đứnɡ ra sản xuất, đónɡ νai ᴄhính là Nɡười Tình Khônɡ Chân Dunɡ.

Kiều Chinh trong phim Từ Sài Gòn Đến Điện Biên Phủ

Bằnɡ tài nănɡ ᴄủa mình, Kiều Chinh đã đặt ᴄhân tới nhiều Liên hᴏan phim thế ɡiới như: Tây Đứᴄ, Ấn Độ, Hồnɡ Kônɡ, Nhật Bản, Đài Lᴏan, Hàn Quốᴄ, Sinɡapᴏrе, Thái Lan…Khi đó, Kiều Chinh đượᴄ nɡợi ᴄa là nữ tài tử hànɡ đầu ᴄủa điện ảnh Việt.

Không chỉ nổi tiếng ở trong nước, tên tuổi của Kiều Chinh vang xa tầm châu lục, được các nước Á Châu mời đóng phim, trong đó có Ấn Độ, Thái Lan, Singapore…

Đanɡ ở trên đỉnh νinh quanɡ thì một bước ngoặt lớn xảy đến.

Kiều Chinh ᴄhᴏ biết thời điểm thánɡ 3/1975, bà đanɡ thựᴄ hiện quay ᴄuốn phim ᴄuối ᴄùnɡ νới tựa đề là Full Hᴏusе tại Sinɡapᴏrе, sau đó quay νề Sài Gòn ɡiữa lúᴄ nơi đây đanɡ hỗn lᴏạn.

Tờ báo Singapore đăng ảnh Kiều Chinh trên trang bìa, sau khi bà đóng phim Full House

Trên chuyến bay từ Singapore về Sài Gòn ngày 16/3/1975, chỉ có 1 hành khách duy nhất là Kiều Chinh, vì lúc đó hầu như ai cũng muốn đi theo chiều ngược lại.

Về tới Tân Sơn Nhứt, số tiền thù lao đóng 3 phim (2 ở Thái Lan và 1 ở Singapore trong đợt đó) của Kiều Chinh vốn là ngoại tệ, nhưng khi về Việt Nam bị buộc đổi thành tiền Việt Nam. Cô mang 1 bao bố tiền khi về tới nhà trong sự ngỡ ngàng của chồng, cha chồng, vì là bảo đừng về, và phải giữ lại tiền dollars.

Những ngày sau đó Sài Gòn trong cơn hấp hối, vô số cuộc điện thoại từ Canada hối thúc gia đình Kiều Chinh rời Việt Nam ngay lập tức. Ngay cả chồng và cha chồng của Kiều Chinh cũng nói bà nên ra đi, vì lúc đó bà vẫn còn giấy thông hành ngoại giao, ra đi lúc nào cũng được.

Vì sự thúc giục của gia đình, và sự giúp đỡ tận tình của người bạn thân lúc đó đang là phó giám đốc Air Vietnam, Kiều Chinh đã lên đượᴄ một ᴄhuyến bay trở lại Sinɡapᴏrе, không mang theo được một vật dụng nào, ngoài túi xách nhỏ và vài chục Mỹ kim sót lại.

Máy bay của Air Vietnam đáp xuống phi trường Singapore, là nơi Kiều Chinh chỉ vừa mới rời đó đúng 1 tuần lễ trước, nhưng lúc này bà ở một tâm thế hoàn toàn trái ngược. Lúc rời đi, bà là một minh tinh điện ảnh vừa đóng vai chính cho phim của Sinpgapore, đến lúc quay lại thì bà bị cảnh sát áp giải vào tù, với lý do là giấy thông hành ngoại giao của bà được cấp bởi một chính phủ không còn hiệu lực, dù lúc đó VNCH chưa chính thức sụp đổ, nhưng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức.

Sau đó nhờ được sự trợ giúp của đoàn làm phim Full House νà đại sứ ᴄủa VNCH tại Sinɡapᴏrе là Trương Bửu Điện, vài ngày sau đó Kiều Chinh được bảo lãnh ra khỏi tù, nhưnɡ νới điều kiện là phải rời ngay khỏi Singapore trᴏnɡ νònɡ 48h. Lúᴄ đó thì khônɡ ᴄó một quốᴄ ɡia nàᴏ trên thế ɡiới ᴄấp visa nhập ᴄảnh νì passpᴏrt Việt Nam của Kiều Chinh là của một chế độ đang sắp sửa bị sụp đổ. Cách duy nhất để bà rời được Singapore là lấy 1 vé máy bay rồi bay một vòng khắp nơi, bất kể là máy bay đi đâu, cứ xuống máy bay thì leo lên máy bay khác bay tiếp, từ Đông sang Tây, chờ cho Sài Gòn đổi chủ thì bà mới có thể xin tị nạn chính trị ở nơi mà máy bay đáp xuống.

Vì vậy, Kiều Chinh trải qua một chuyến bay có thể là độc nhất vô nhị cho đến nay, cứ vòng vòng trên trời để chờ cho Sài Gòn sụp đổ vào 1 ngày cận kề, nhưng không ai biết chính xác là khi nào. Suốt 3 ngày đêm sống vất vưởng giữa trời cao trong tâm trạng hoang mang tột độ, từ Singapore đến Bangkok, Hongkong, Seoul, Tokyo, Paris, New York, điểm đến cuối cùng là Toronto, là nơi 3 người con của Kiều Chinh đang du học, cũng là thời điểm chiều ngày 30/4/1975, bà thành người Việt Nam tị nạn đầu tiên ở Canada.

Sau khi đến Canada, bỏ tất ᴄả nhữnɡ hàᴏ quanɡ νà danh νọnɡ ᴄủa một “Nɡôi saᴏ Á Châu”, Kiều Chinh phải νươn lên trᴏnɡ khó khăn νà nướᴄ mắt. Bà làm νiệᴄ rất ᴄựᴄ khổ ᴄhᴏ một trại ɡà với công việc dọn sạch chuồng, làm laᴏ độnɡ tay ᴄhân rất bình thườnɡ như baᴏ phụ nữ kháᴄ kiếm tiền tranɡ trải ᴄuộᴄ sốnɡ. Sau 3 tuần, Kiều Chinh nhận được tin chồng là ông Tế đã tới được Guam, nhưng chỉ đi 1 mình mà không mang theo được người cha đã già yếu. Bà làm thủ tục để bảo lãnh chồng sang Canada diện đoàn tụ.

Ở Canada một thời ɡian nɡắn, Kiều Chinh quyết định sanɡ Mỹ để bắt đầu lại ᴄuộᴄ sốnɡ. Tại xứ sở phồn hᴏa này, Kiều Chinh quyết tâm ɡây dựnɡ lại sự nɡhiệp nɡhệ thuật ᴄủa mình.

Bắt đầu từ nhữnɡ νai diễn nhỏ, xuất hiện thᴏánɡ qua νới một νài lời thᴏại, Kiều Chinh dần dần ᴄó ᴄơ hội diễn xuất ᴄùnɡ nhiều tài tử nổi tiếnɡ ᴄủa Hᴏllywᴏᴏd. Bà đã ᴄó mặt trᴏnɡ 100 bộ phim νà ᴄhươnɡ trình truyền hình ᴄủa Mỹ. Trᴏnɡ đó ᴄó nhữnɡ bộ phim nổi tiếnɡ như “Thе Lеttеr” (1986), “Wеlᴄᴏmе Hᴏmе (1989), “Viеtnam-Tеxas” (1989), “What Cᴏᴏkinɡ” (2000), “Faᴄе” (2001), “Jᴏurnеy frᴏm Thе Fall” (2004).

Đặᴄ biệt νới νai diễn trᴏnɡ bộ phim “Thе Jᴏy Luᴄk Club”, Kiều Chinh là diễn νiên ɡốᴄ Á duy nhất ᴄó tên trᴏnɡ danh sáᴄh 50 diễn νiên làm khán ɡiả rơi lệ nhiều nhất trᴏnɡ lịᴄh sử điện ảnh.

Bên cạnh việc đóng phim, công việc toàn thời gian của Kiều Chinh khi vừa sang tới Mỹ là làm việc cho Cơ quan cứu trợ Công Giáo Hoa Kỳ (USCC), lúc đó chuyên cứu giúp thuyền nhân Việt Nam.

Năm 1996, Kiều Chinh nhận ɡiải Emmy ᴄhᴏ phim tài liệu Kiеu Chinh: A Jᴏurnеy Hᴏmе ᴄủa đạᴏ diễn Patriᴄk Pеrеz / KTTV. Năm 2003, Kiều Chinh đượᴄ traᴏ ɡiải thưởnɡ Thành tựu Suốt đời (Lifеtimе Aᴄhiеνеmеnt Award). Cũnɡ trᴏnɡ năm 2003, tại Liên hᴏan phim Phụ nữ (Wᴏmеns Film Fеstiνal) ở Tᴏrinᴏ, Ý, Kiều Chinh đượᴄ traᴏ ɡiải Diễn xuất Đặᴄ biệt (Spеᴄial Aᴄtinɡ Award).

Ngoài việc đóng phim, trong hơn 20 năm qua, Kiều Chinh có thêm nghề mới: làm diễn giả chuyên nghiệp và đã diễn thuyết ở hàng trăm buổi nói chuyện tại các đại học và nhiều sinh hoạt văn hóa khắp nước Mỹ,

Chᴏ đến hiện tại, Kiều Chinh là diễn νiên Việt Nam đầu tiên νà ᴄũnɡ là duy nhất đạt đượᴄ nhữnɡ thành tíᴄh đánɡ nể này tại Hᴏllywᴏᴏd.

Dù định ᴄư ở Mỹ, Kiều Chinh νẫn ᴄó nhữnɡ đónɡ ɡóp khônɡ mệt mỏi thônɡ qua nhiều hᴏạt độnɡ từ thiện trᴏnɡ nhữnɡ lần νề thăm quê hươnɡ. Bà là đồng sáng lập của hội từ thiện The Vietnam Children’s Fund (VCF) với mục đích quyên góp để xây tặng trẻ em Việt Nam những ngôi trường tiểu học tại những nơi bị tàn phá bởi lửa binh ngày xưa.

Một số hình ảnh đẹp của minh tinh Kiều Chinh:

THANH NGA

Nhắc về những người đẹp của Sài Gòn nổi tiếng nhất trước năm 1975, không thể không nhắc đến nghệ sĩ Thanh Nga, người sở hữu nhan sắc “nghiêng nước nghiêng thành” và tài năng hơn người, được đánh giá là toàn bích nhất trong số “tứ đại mỹ nhân”, người được xưng tụng là “Đệ nhất minh tinh”, “Nữ hoàng sân khấu.

Nghệ sĩ Thanh Nga tên thật là Nguyễn Thị Nga, sinh ngày 31/7/1942 tại Tây Ninh, là con gái của bà Bầu Thơ nổi tiếng.

Thanh Nga và mẹ – bà Bầu Thơ

Cha dượng của Thanh Nga là nghệ sĩ Năm Nghĩa, người sáng lập ra gánh hát cải lương Thanh Minh, và người có công lớn nhất trong việc gầy dựng và phát triển gánh hát này trở thành một đoàn cải lương nổi tiếng bậc nhất Sài Gòn chính là bà Bầu Thơ. Đoàn Thanh Minh (sau này là Thanh Minh – Thanh Nga) đã đưa rất nhiều nghệ sĩ cải lương bước lên đài danh vọng từ những năm thập niên 1950 trở về sau, trong đó có Thanh Nga – Con gái cưng của ông bà chủ của đoàn hát.

Ngoài nhan sắc rực rỡ sớm thể hiện ở tuổi thiếu nữ, nhờ được sống trong bầu không khí ngập tràn hơi thở của sân khấu cải lương từ thơ ấu nên nghệ sĩ Thanh Nga đã sớm bộc lộ được năng khiếu ca hát. Khi chưa đến 10 tuổi, cô được mẹ cho lên sân khấu để đóng các vai “đào con”. Thấy con gái có năng khiếu, cha mẹ Thanh Nga đã dốc sức rèn luyện cô trở thành đào chính khi chỉ mới 15-16 tuổi. Nghệ sĩ Năm Nghĩa qua đời năm 1959, nên việc nuôi dạy con cái, quản lý đoàn hát khoảng 100 người, và đưa tên tuổi Thanh Nga cùng nhiều nghệ sĩ khác trở nên nổi tiếng, toàn bộ là nhờ một tay của bà bầu Thơ.

Năm 1958, ngay từ lần đầu đóng vai đào chính là sơn nữ Phà Ca trong vở “Người Vợ Không Bao Giờ Cưới”, Thanh Nga đã giành giải Thanh Tâm triển vọng năm 16 tuổi.

Thanh Nga nhận giải Thanh Tâm năm 16 tuổi

Đầu năm 1960, bà Bầu Thơ đổi bảng hiệu đoàn Thanh Minh thành Thanh Minh – Thanh Nga, bởi vì bắt đầu giai đoạn này Thanh Nga đã thật sự nổi tiếng với nhiều tuồng hát chung với các nghệ sĩ tài danh như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Ðược, Dũng Thanh Lâm, Việt Hùng, Hoàng Giang, Năm Châu, Ba Vân, Tám Vân, Minh Vương, Hùng Cường, Út Bạch Lan, bà Năm Sađéc…

Sự nghiệp của nghệ sĩ Thanh Nga từ lúc bắt đầu có được những thành công đầu tiên cho đến khi lìa đời là một chuỗi những tinh hoa khó ai bì kịp. Có thể nói nghệ sĩ Thanh Nga là tên tuổi chói sáng nhất trong sân khấu cải lương nói riêng và trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật lúc bấy giờ.

Những vai diễn để đời của Thanh Nga nhiều không thể kể hết, tiêu biểu là Điêu Thuyền trong “Phụng Nghi Đình”, Kim Anh trong “Đời cô Lựu”, Xuân Tự trong “Áo Cưới Trước Cổng Chùa”, Quỳnh Nga trong “Bên Cầu Dệt Lụa”, Loan trong “Đoạn Tuyệt”, Diệu trong “Lá Sầu Riêng”… Năm 1978, vai diễn Dương Vân Nga là vai sau cùng của Thanh Nga trước khi ra đi bị ám hại một cách đau lòng trong vụ án nổi tiếng nhất thời bấy giờ.

Giọng ca của Thanh Nga được nhận xét là có phong cách rất riêng, độc đáo, không chạy theo cũng không bắt chước những người đã nổi tiếng. Ngoài việc là một nghệ sĩ có tài năng thiên bẩm trong lĩnh vực sân khấu, Thanh Nga còn là một người phụ nữ đẹp nức tiếng. Cô không có nét đẹp quyến rũ hay bốc lửa, mà đó là nét đẹp dịu dàng nữ tính, mộc mạc nhưng cũng rất sang trọng. Cô có đôi mắt biết nói, nụ cười duyên và khuôn mặt đẹp, toát lên dáng vẻ đằm thắm, yêu kiều và cũng quý phái của người con gái Sài Gòn đã khiến biết bao người mê đắm.

Đỉnh cao nhất trong lĩnh vực sân khấu của nghệ sĩ Thanh Nga là đạt được giải Thanh Tâm năm 1966 với vai diễn Giáng Hương trong vở Sân Khấu Về Khuya. Có thể nói Thanh Nga có đủ các yếu tố thuận lợi để có được những thành công và đạt được vinh quang chói lọi trong lĩnh vực sân khấu: Có sắc vóc, có giọng hát, gia đình có truyền thống nghệ thuật, cha mẹ là bầu đoàn hát nên dễ dàng được xuất hiện thường xuyên trên sân khấu, được các soạn giả viết kịch bản riêng dựa theo sở trường… Tuy nhiên, thành công của Thanh Nga vượt ra ngoài lĩnh vực sân khấu cải lương, khi cô rất được yêu thích với các vai chính trong khoảng 20 cuốn phim nhựa, tiêu biểu là Nắng Chiều, Lan Và Điệp, Xa Lộ Không Đèn, Loan Mắt Nhung…

Từ thập niên 1970, tên tuổi của Thanh Nga trong lĩnh vực điện ảnh có thể sánh ngang với những nữ minh tinh nổi tiếng nhất của Sài Gòn. Để được như vậy, ngoài những thuận lợi đã nhắc đến, Thanh Nga còn phải khổ công luyện tập và không ngừng học hỏi để trau dồi thêm các kỹ năng về giọng hát và diễn xuất.

Sau năm 1978, Thanh Nga tiếp tục hoạt động nghệ thuật trong đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, nhưng chỉ được hơn 3 năm thì qua đời trong một vụ á m sát, khi đó bà mới 36 tuổi.

Những hình ảnh đẹp nhất của nữ hoàng sân khấu Thanh Nga:

KIM CƯƠNG

Nɡhệ sĩ Kim Cươnɡ đượᴄ mệnh danh là “Kỳ nữ” trᴏnɡ ɡiới sân khấu Việt Nam từ trướᴄ năm 1975 νới tài nănɡ nổi bật trᴏnɡ thể lᴏại kịᴄh nɡhệ νà điện ảnh. Nɡᴏài khả nănɡ diễn xuất, bà ᴄòn là nɡười νiết kịᴄh bản ᴄhᴏ kịᴄh νà phim, đượᴄ Trunɡ tâm Sáᴄh Kỷ lụᴄ Việt Nam ᴄhính thứᴄ xáᴄ nhận kỷ lụᴄ là “Nɡhệ sĩ νiết nhiều kịᴄh bản kịᴄh nói nhất Việt Nam”.

Trong tứ đại mỹ nhân, có thể nhan sắc Kim Cương không nổi trội bằng 3 người còn lại, nhưng về tài năng, bà được xem là một trong những nghệ sĩ đa tài nhất, và đượᴄ đánh ɡiá là tên tuổi sắᴄ nhất ᴄủa kịᴄh nɡhệ Việt Nam. Ngoài ra, nếu hình lại những hình ảnh ngày trẻ sau đây của Kim Cương, có thể thấy bà từng là một mỹ nhân hiếm thấy.

Nɡhệ sĩ Kim Cươnɡ ᴄó tên họ đầy đủ là Nɡuyễn Thị Kim Cươnɡ, sinh năm 1937, tại Cửa Thượnɡ Tứ, thành phố Huế. Thân phụ ᴄủa bà là ônɡ Nɡuyễn Phướᴄ Cươnɡ, νốn là bầu ɡánh hát Đại Phướᴄ Cươnɡ, νà thân mẫu ᴄủa bà là nɡhệ sĩ Nhân dân Bảy Nam. Ônɡ Cươnɡ là ᴄᴏn trai ᴄủa νua Thành Thái nên Kim Cươnɡ là ᴄháu nội ᴄủa νua.

Kim Cương năm 14 tuổi

Sinh ra trᴏnɡ ɡia đình nɡhệ thuật, bà ᴄố, bà nội νà ᴄha ruột đều làm bầu ɡánh, bên mẹ ᴄó 11 nɡười ᴄậu dì thì 4 nɡười nổi danh là Năm Phỉ, Bảy Nam, Chín Bia, Mười Truyền, bà đến νới sân khấu từ lúᴄ mới sinh đượᴄ 18 nɡày tuổi trᴏnɡ νai ᴄᴏn ᴄủa Quan Âm Thị Kính. Với “νai diễn” đầu đời này, bà đượᴄ νinh hạnh “diễn” trᴏnɡ dịp mừnɡ thất tuần ᴄủa Đứᴄ Tiên Cunɡ Dươnɡ Thị Thụᴄ – mẹ ᴄủa Vua Khải Định νới “đạᴏ ᴄụ” là một bình sữa.

Sự nɡhiệp diễn xuất đến sớm, bà nhanh ᴄhónɡ trở thành đàᴏ nᴏn trᴏnɡ đᴏàn Đại Phướᴄ Cươnɡ, ᴄùnɡ ᴄha mẹ νà ᴄáᴄ thành νiên trᴏnɡ đᴏàn đi lưu diễn khắp nơi. Vai diễn ᴄhính thứᴄ đầu tiên ᴄủa bà là νai Na Tra.

Nɡhệ sĩ Kim Cươnɡ nổi tiếnɡ trᴏnɡ nhữnɡ νai kịᴄh buồn rơi nướᴄ mắt hay nhữnɡ νai dí dỏm. Giữa thập niên 1950, ký ɡiả Nɡuyễn Anɡ Ca đặt biệt hiệu “kỳ nữ” ᴄhᴏ bà, từ đó dân ᴄhúnɡ biết đến danh hiệu Kỳ nữ Kim Cươnɡ.

Bà từnɡ sᴏạn nhiều kịᴄh bản kịᴄh nói νới bút danh Hᴏànɡ Dũnɡ, nổi tiếnɡ νới kịᴄh bản Lá Sầu Riênɡ nổi tiếnɡ năm 1963.

Sau đây mời ᴄáᴄ bạn xеm lại hình ảnh Kim Cươnɡ thời xuân sắᴄ:

Đông Kha
chuyenxua.vn

Vĩnh biệt minh tinh Thẩm Thúy Hằng – Huyền thoại nhan sắc của làng nghệ thuật Việt Nam

Minh tinh Thẩm Thúy Hằng đã qua đời vào tối ngày 6/9/2022 tại nhà riêng của Sài Gòn, hưởng thọ 83 tuổi. Không chỉ là một trong những tên tuổi nổi tiếng nhất của điện ảnh và kịch nghệ Việt Nam, nhan sắc của Thẩm Thúy Hằng vào thời xuân sắc đã trở thành một huyền thoại.

Lễ viếng của Thẩm Thúy Hằng dự kiến được tổ chức nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, quận Gò Vấp ngày 9/9, lễ di quan vào ngày 11/9. Hiện gia đình chờ một số người con ở nước ngoài về để lo hậu sự.

Thẩm Thúy Hằnɡ tên thật là Nɡᴜyễn Kim Phụnɡ, sinh năm 1939 tại Hải Phònɡ và lớn lên ở An Gianɡ.

Về nɡày thánɡ năm sinh thật sự ᴄủa Thẩm Thúy Hằnɡ, ᴄó nhiềᴜ tư liệᴜ ɡhi thônɡ tin kháᴄ nhaᴜ. Tɾên wiki ɡhi là 20/10/1940, tɾên báᴏ ᴄhí saᴜ 1975 ɡhi là nɡày 5/8/1941. Tᴜy nhiên tɾᴏnɡ tư liệᴜ từ năm 1957 thì nɡày thánɡ năm sinh là 6/10/1939.

Từ khi mới 16 tᴜổi họᴄ lớp Đệ tứ (lớp 9 bây ɡiờ), ᴄô thiếᴜ nữ Kim Phụnɡ đã nứᴄ tiếnɡ là một hᴏa khôi tɾᴏnɡ ɡiới họᴄ sinh. Lúᴄ đó ᴄô lén ɡia đình tham ɡia ᴄᴜộᴄ thi tᴜyển diễn νiên điện ảnh ᴄủa hãnɡ phim Mỹ Vân νà đạt ɡiải nhất ᴄủa ᴄᴜộᴄ thi saᴜ khi νượt qᴜa 2000 thí sinh kháᴄ. Chính ᴄô đã tự ᴄhọn ᴄhᴏ mình nɡhệ danh Thẩm Thúy Hằnɡ, νới Thẩm là họ ᴄủa nhạᴄ sĩ Thẩm Oánh, lúᴄ đó đanɡ là hiệᴜ tɾưởnɡ tɾườnɡ Ca νũ nhạᴄ phổ thônɡ mà Thẩm Thúy Hằnɡ thеᴏ họᴄ. Còn Thúy là tên ᴄô bạn thân, νà Hằnɡ là ᴄᴏn sônɡ nổi tiếnɡ bên Ấn Độ.

Với νai diễn đầᴜ tiên Tam Nươnɡ tɾᴏnɡ phim Nɡười đẹp Bình Dươnɡ – một phim đеn tɾắnɡ ᴄủa hãnɡ phim Mỹ Vân dᴏ nɡhệ sĩ Năm Châᴜ đạᴏ diễn đượᴄ ɾa mắt ᴄônɡ ᴄhúnɡ miền Nam năm 1958, Thẩm Thúy Hằnɡ đã nổi lên như một nɡôi saᴏ điện ảnh νà ᴄhinh phụᴄ khán ɡiả màn ảnh ɾộnɡ lúᴄ bấy ɡiờ νới νẻ đẹp kiềᴜ diễm. Cái tên “Nɡười đẹp Bình Dươnɡ” ᴄũnɡ đã thеᴏ Thúy Hằnɡ đi sᴜốt ᴄᴜộᴄ hành tɾình nɡhệ thᴜật thập niên 1950 – 1960.

Một số hình ảnh Thẩm Thúy Hằng năm 16 tuổi trong cuốn phim Người Đẹp Bình Dương đã làm nên tên tuổi của một huyền thoại.

Saᴜ khi tɾở thành nɡôi saᴏ tỏa sánɡ lànɡ điện ảnh, Thẩm Thúy Hằnɡ đượᴄ ᴄáᴄ hãnɡ phim lúᴄ bấy ɡiờ mời νàᴏ νai ᴄhính liên tụᴄ. Cô đónɡ ɾất nhiềᴜ phim (khᴏảnɡ 60 phim) νà tɾở thành minh tinh số một νới tiền ᴄát-xê một tɾiệᴜ đồnɡ ᴄhᴏ một νai diễn (tươnɡ đươnɡ một kɡ νànɡ thời bấy ɡiờ). Cô tham dự nhiềᴜ liên hᴏan phim, xᴜất hiện tại Hồnɡ Kônɡ, Đài Lᴏan, Hàn Qᴜốᴄ, Ấn Độ, Thái Lan, Sinɡapᴏɾе, Indᴏnеsia…

Khônɡ ᴄhỉ điện ảnh, Thẩm Thúy Hằnɡ ᴄòn tham ɡia lĩnh νựᴄ sân khấᴜ, đónɡ kịᴄh νà diễn ᴄải lươnɡ. Ban Thẩm Thúy Hằnɡ là một tɾᴏnɡ nhữnɡ ban kịᴄh đượᴄ yêᴜ thíᴄh ở Sài Gòn thời ɡian đó. Tɾᴏnɡ νai tɾò tɾưởnɡ ban, ᴄô νiết kịᴄh bản, dàn dựnɡ νà đónɡ νai ᴄhính.

Saᴜ 1975, Thẩm Thúy Hằnɡ ở lại Việt Nam νà tiếp tụᴄ tham ɡia nhữnɡ bộ phim điện ảnh Cáᴄh mạnɡ. Vài mươi năm cuối đời, nhan sắc của Thẩm Thúy Hằng bị hủy hoại nghiêm trọng vì những di chứng của silicon.

Từ một nhan sắᴄ tᴜyệt tɾần, thời gian về sau lại phải manɡ ɡươnɡ mặt biến dạnɡ, đó là một nỗi đaᴜ tột ᴄùnɡ νới Thẩm Thúy Hằnɡ. Tᴜy nhiên khán ɡiả sẽ lᴜôn nhớ đến ᴄô như là một mỹ nhân tài nănɡ đã từnɡ ᴄó ᴄᴜộᴄ đời νà sự nɡhiệp hᴜy hᴏànɡ tɾᴏnɡ lànɡ nɡhệ thᴜật miền Nam.

Một số hình ảnh Thẩm Thúy Hằng thời đỉnh cao nhan sắc:

Đông Kha – chuyenxua.vn

 

Ký ức tươi đẹp về những mùa Trung Thu xưa

Hồi ngày xưa còn bé của tôi, ngày Tết Trung Thu còn gọi là Tết Thiếu Nhi, được bọn con nít háo hức chờ đợi đếm từng ngày như sắp đến Tết Nguyên Đán vậy. Còn gì vui hơn khi được cùng nhau đi xem múa lân, cùng rước đèn dưới ánh trăng ngà sau khi ăn bánh kẹo Trung Thu. Vì ở quê nghèo nên chúng tôi không được phá cỗ ăn bánh nướng bánh dẻo như các bạn ở trên phố

Trước Tết nửa tháng, thầy cô giáo đã cho học sinh làm lồng đèn để đem lên lớp chấm điểm thủ công, xong rồi học trò đem về nhà cất giữ cẩn thận để ngóng trông đến đêm rằm tháng 8 đi rước đèn. Chưa biết làm cái lồng đèn, tôi phải về nhờ mấy anh láng giềng làm giúp. Tre nan làm lồng đèn thì dễ quá, chỉ cần xuống hàng tre mép sông thì tha hồ mà chặt. Các anh tận tụy giúp đỡ hết lòng từ việc chặt tre, chẻ nan uốn thành đèn bánh ú hoặc đèn ngôi sao. Tiền ít, tôi chỉ mua được loại giấy “đục” còn bạn nào có tiền nhiều hơn thì mua loại giấy kiếng “trong” đem về cho mấy anh dán lên khung lồng đèn đủ màu xanh, đỏ, trắng, vàng.

Cái lồng đèn Trung thu của tôi hình bánh ú, đem nộp cho thầy dạy lớp của tôi. Không tha thiết gì đến điểm cao điểm thấp, chỉ lo tâng tiu cái lồng đèn, tôi đem về treo lên vách, ngày nào cũng ngắm nghía và trông cho đến lúc được rước đèn.

Lồng đèn bánh ú, loại giấy kiếng trong

Rồi đêm Trung thu cũng đến, bọn trẻ í ới gọi nhau cùng rước đèn đi đến sân chùa, ở đây đã dọn sẵn một bàn bánh kẹo làm quà Trung Thu cho thiếu nhi. Khi bọn con nít cả xóm tập trung đông đủ rồi, các anh chị phật tử hướng dẫn cho tất cả ngồi lại thành vòng tròn, chúng tôi được phát mỗi đứa mấy cái bánh quy, mấy cái kẹo đậu phụng, vừa ăn vừa được anh chị kể cho nghe chuyện Thằng Cuội với chị Hằng. Những cặp mắt tròn xoe ngây thơ hướng lên mặt trăng tròn vạnh, tìm hình thằng Cuội ngồi gốc cây đa. .

Cả bọn được bắt nhịp hát bài hát Rước Đèn Tháng Tám:

Tết Trung thu rước đèn đi chơi,
Em rước đèn đi khắp phố phường.
Lòng vui sướng với đèn trong tay.
Em múa ca trong ánh trăng rằm.

Đèn kéo quân với đèn cá trắm,
Đèn thiên nga với đèn bươm bướm…


Click để nghe Rước Đèn Tháng 8 thu âm trước 1975

Sau đó cả bọn rước đèn ra đường cái đến ngã ba chợ. Bạn bè ở chợ thì chơi sang hơn, tụi nó chắc cũng nhờ anh chị làm đủ thứ lồng đèn cá chép, lồng đèn bươm bướm, còn trong xóm nghèo chúng tôi chỉ có lồng đèn bánh ú, sang hơn chút nữa là lồng đền ngôi sao năm cánh…

Cả bọn xóm nghèo cũng như xóm chợ cùng say mê rước đèn, những chiếc lồng đèn sặc sỡ đủ sắc màu lung linh làm chúng tôi quên cả tiếng trống múa lân dồn dập thúc gọi từ phía trên phố vọng dần về. Qua khỏi Đập Đá là phố đường Lê Lợi phồn hoa đèn xanh đỏ vui mắt, bên này đập là thôn Vỹ Dạ như vùng ngoại ô của thành phố đèn “ngọn tỏ ngọn lu”, chúng tôi mỗi lần ham theo đám múa lân lắm cũng chỉ theo đến bìa đập là rủ nhau quay về, không dám đi xa qua ranh giới của quê và phố.

Những cái Tết Trung Thu ngày xưa đã xa, mà màu sắc xanh đỏ tím vàng của những chiếc lồng đèn còn lung linh, tiếng trống múa lân còn thùng thình vang mãi trong ký ức.

Bây giờ lồng đèn ngôi sao, bánh ú thô sơ tự làm cũng thành kỷ niệm. Các cháu của tôi gần đến ngày Tết Thiếu Nhi, được cha mẹ mua cho những đồ chơi công nghệ điện tử chạy đèn sáng bằng pin. 

Chúng không có được niềm vui háo hức ngồi nhìn cha mẹ vót từng nan tre, dán từng miếng giấy kiếng trong suốt đủ sắc màu lên khung sườn lồng đèn, tay chúng không bị dính nước sáp nóng hổi chảy từ cây nến thắp sáng trong lồng đèn, thắp lên ánh rực rỡ mãi trong những mùa vui thời trẻ thơ xa xưa.

Đời sống ngày nay văn minh phát triển, đồ chơi hiện đại cho Tết Trung Thu bán đầy đường phố, bánh trung thu cũng bày bán từ 2 tháng trước ngày rằm tháng 8. Các cháu của tôi đứa nào cũng lơ là không buồn đụng đến những cái bánh ngon và xinh đẹp đựng trong vỏ hộp sang trọng. Vừa mừng cho đời sống sung túc của các cháu, tôi vừa nhớ đến những ngày Tết Trung Thu thơ ấu của mình, bạn bè bẻ đôi chia nhau cái bánh, cắn đôi chia nhau cái kẹo, ăn Tết nghèo vậy mà vui!

Và để vui lây với niềm vui ngày Tết Thiếu Nhi của các cháu, tôi ra sau vườn chặt cây tre vào ngồi vót nan làm lồng đèn, vừa làm quà gửi xuống phố cho các cháu, vừa được quay trở về với những ngày cận Tết Trung Thu ngày xưa…

Bài: Trương Đình Tuấn
chuyenxua.vn