Lịch sử môn banh tròn ở Việt Nam, từ đội Ngôi sao Gia Định đầu thế kỷ 20 đến chức vô địch SEAP Games đầu tiên năm 1959

Cho đến nay, đội bóng đá của Việt Nam đã 2 lần giành huy chương vàng môn bóng đá nam ở các kỳ SEA Games (Southeast Asian Games), đó là SEA Games 30 năm 2019 tại Philippines, và lần tiếp theo là SEA Games 31 ngay trên sân nhà, trong trận đấu vừa kết thúc lúc tối 22/5/2022.

Tên gọi SEA Games bắt đầu từ kỳ đại hội thể thao Đông Nam Á lần thứ 9 tại Malaysia năm 1977. Tám lần tổ chức trước đó, đại hội này tên là SEAP Games (Southeast Asian Peninsular Games), lần đầu diễn ra tại Thái Lan năm 1959, và đội giành ngôi vô địch ở môn túc cầu nam (tên gọi môn bóng đá nam thời đó) ở SEAP Games lần đầu tiên là đội banh của miền Nam Việt Nam (VNCH)

Đội hình của hội banh Việt Nam vô địch SEAP Games 1959:
Tỷ – Rạng – Cụt
Thanh – Hiếu (c) – Myo
Nhung – Vinh – Há – Thách – Tư
Ảnh: Trần Khiêm

Đội banh tròn (tên gọi khác của môn túc cầu) đại diện cho Việt Nam được thành lập để thi đấu quốc tế từ năm 1949 cho đến năm 1975. Ở SEAP Games 1 năm 1959, đội bóng đá của VNCH tham dự và thắng chủ nhà Thái Lan 3-1 để giành huy chương vàng.

Trong 2 thập niên 1950, 1960, đội bóng VNCH được đánh giá là khá mạnh so với khu vực Đông Nam Á, với các thành tích khác như: Vô địch Giải bóng đá Merdeka lần thứ 10 năm 1966, Vô địch giải quân đội tại Thái Lan năm 1971, vào Bán Kết giải Châu Á năm 1962.

Tuy nhiên ở các giải SEAP Games được tổ chức sau đó, đội banh quốc gia Việt Nam không vô địch được thêm lần nào nữa. Đặc biệt từ thập niên 1970, do ảnh hưởng của thời cuộc nên đội banh VNCH không còn mạnh và nhiều lần thất bại trước các đội bóng trong khu vực Đông Nam Á.

Lâu nay vẫn có thông tin cho rằng trước năm 1975, đội bóng VNCH vươn tầm châu lục, vượt xa các đội bóng Nhật, Hàn… Tuy nhiên công bằng mà nói, đội bóng VNCH chỉ thực sự mạnh vào khoảng thập niên 1960 với 2 chức vô địch như đã nói ở trên. Ngoài ra, khi đối đầu với đội bóng Nhật Bản, VNCH đã thắng 3 trận nhưng cũng để thua 4 trận, và chưa bao giờ thắng được đội Hàn Quốc. Ngoài trận thắng Miến Điện năm 1966 để giành chức vô địch Merdeka, các trận khác thì VNCH đều bại dưới tay đội Miến Điện. Cụ thể là:

SEAP Games 1961, thua Miến Điện 1-2 ở bán kết.
SEAP Games 1967, thua Miến Điện 1-2 ở chung kết.
SEAP Games 1973, thua miến Điện 2-3 ở chung kết

Ngoài chức vô địch SEAP Games năm 1959, đội VNCH vẫn tham dự SEAP Games ở các năm tiếp theo nhưng không thể lên ngôi lần nữa, điều đó cho thấy là đội bóng VNCH không thể hiện được sự vượt trội so với các đối thủ trong khu vực.

Tuy nhiên, đã có thời điểm đội bóng VNCH sở hữu những tài năng bóng đá kiệt xuất và được vinh danh trong các đội hình tiêu biểu của Châu Á. Điển hình là:

Phạm Huỳnh Tam Lang:

Tring vệ đội trưởng đội banh VNCH Tam Lang là cầu thủ xuất sắc trong các thập niên 1960-1970, đã bắt đầu sự nghiệp banh tròn khi từ Gò Công lên sống ở Sài Gòn – Chợ Lớn, đầu tiên là vô đội banh Ngôi sao Chợ Lớn, rồi sau đó là đội AJS (Association de la Jeunesse Sportive). Ông được bầu là thủ quân của đội tuyển quốc gia miền Nam Việt Nam và năm 1966 đã cùng đội quốc gia Việt Nam giành được cúp Merdeka. Trong năm này, ông và cựu danh thủ Đỗ Thới Vinh đã được mời vào đội tuyển “Ngôi sao châu Á”.

Ba ngày trước khi đội banh Việt Nam lên đường sang Malaysia đá cúp Merdeka 1966, đoàn cải lương Dạ Lý Hương đã mời đoàn đội tuyển đến xem cải lương ở rạp Quốc Thanh trên đường Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi). Trong lời phi lộ, đoàn Dạ Lý Hương đã chúc đội banh thành công, đem chuông đi đánh xứ người tốt đẹp. Đây cũng là khởi đầu cho mối tình giữa nghệ sĩ Bạch Tuyết và Tam Lang.

Phạm Huỳnh Tam Lang và Bạch Tuyết trong ngày cưới

Phạm Văn Rạng

Được đánh giá là một trong những thủ môn xuất sắc nhất trong lịch sử bóng đá Việt Nam Cộng Hòa. Thời còn thi đấu, cái tên Phạm Văn Rạng đã lan rộng ra khắp châu Á. Báo chí nước ngoài từng ca ngợi và tôn vinh ông là “Đệ nhất thủ môn Á châu” cùng với biệt danh “Lưỡng thủ vạn năng”.

Ông bắt đầu sự nghiệp năm 17 tuổi trong màu áo đội Ngôi sao Bà Chiểu. Hai năm sau, ông được chọn làm thủ môn cho đội tuyển Thanh Niên. Năm 1953, ở tuổi 19 ông được tuyển vào đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Cùng với đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng Hòa ông đoạt Huy chương vàng môn bóng đá tại SEAP Games lần I (1959) tại Thái Lan.

Các thiếu nữ Nhật vây quanh thủ môn Phạm Văn Rặng để xin chữ ký

Năm 1964, ông chia tay đội tuyển miền Nam Việt, sau 12 năm trấn giữ khung thành. Nhưng, năm 1966, ở 32 tuổi, ông vẫn được mời vào đội tuyển Ngôi sao châu Á thi đấu với CLB Chelsea của Anh. Trận đấu kết thúc với chiến thắng 2 – 1 dành cho đội tuyển Ngôi sao châu Á. Các báo Malaysia và khu vực đã cùng bình luận rằng: người có công lớn nhất cho chiến thắng của đội tuyển châu Á chính là tay thủ môn đến từ Việt Nam có tên Phạm Văn Rạng.

Một trong những giải túc cầu mà đội banh tròn VNCH có nhiều kỷ niệm đáng nhớ nhất là giải Merdeka, được tổ chức dịp Lễ Độc Lập Malaysia. Giải Merdeka thường mời nhiều anh hào Á Đông, gần như một giải Á Đông thường niên thu nhỏ.

Tại giải Merdeka 1961, VNCH thắng Nhật Bản 3-2, đến năm 1964, một lần nữa VNCH lại hạ Nhật Bản 2-0. Đặc biệt tại Merdeka Cup năm 1966, với 12 nước tham dự, đội banh VNCH đã giật cúp vô địch. Trên sân cỏ Malaysia năm đó, VNCH với các hảo thủ như thủ thành Lâm Hồng Châu, Lại Văn Ngôn, Tam Lang, Nguyễn Văn Ngôn, Đỗ Thới Vinh… lần lượt hạ New Zealand 5-0, Nhật Bản 3-0, Mã Lai Á 5-2, Đài Loan 6-1. Trận chung kết, các chân sút VNCH oanh liệt khuất phục Miến Điện (Burma) 1-0.

Đội trưởng Tam Lang và cúp vô địch Merdeka 1966

Dân Sài Gòn đã vui mừng đón tiếp trọng thể đội banh vô địch trở về, hành trình đón diễn ra từ phi trường Tân Sơn Nhứt cho tới tận Tòa Đô Chánh. Theo lời ông Tam Lang kể lại:

“Chúng tôi mỗi người đứng trên một xe jeep mui trần diễu hành từ sân bay Tân Sơn Nhứt qua các phố về Tòa Đô Chánh, với sự hoan nghênh chào đón của hàng ngàn người. Các cầu thủ còn được các mạnh thường quân và Tổng cuộc Túc cầu tặng mỗi người một tấm lắc vàng ròng để kỷ niệm và ghi nhận thành tích lớn”.

Phạm Huỳnh Tam Lang nâng cao cúp Vàng Merdeka, tổ chức tại Malaysia năm 1966

Một điều đặc biệt là Huấn luyện viên của đội tuyển VNCH vô địch giải này là ông Karl-Heinz Weigang người Đức, khi đó mới 31 tuổi.

29 năm sau, vào năm 1995, lần thứ 3 đội tuyển bóng đá của Việt Nam thống nhất tái gia nhập SEA Games, và cũng chính ông Weigang đã trở lại và giúp đội Việt Nam giành huy chương bạc SEA Games Chiang Mai năm 1995 – Một giải đấu rất đáng nhớ với người Việt Nam, trong lần đầu tiên đội banh Việt Nam trở lại với đấu trường Đông Nam Á sau tròn 20 năm (1975-1995)

Đội bóng VNCH đoạt cúp quân đội Thái Lan năm 1974

Đặc biệt, ở giải đấu quân đội Thái Lan năm 1974, độ VNCH đã vô địch với sự chứng kiến của vua bóng đá Pele.

2 cầu thủ Nguyễn Quốc Bảo và Quang Đức Vĩnh chụp cùng Pele tại Thái Lan năm 1974

Nguyên thủy, môn túc cầu (đá banh) được du nhập vô Việt Nam từ người Pháp vào cuối thế kỷ 19 và được phát triển mạnh tại Nam Kỳ, dần dần lan rộng ra Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Những người Việt đầu tiên đá banh ở Sài Gòn gồm giới công chức, thương gia…

Ở Sài Gòn, các sân banh thời đó còn thô sơ: ở công viên thành phố – sau này là sân Tao Đàn; sân Citadelle – tức sân Hoa Lư về sau; sân Renault – trở thành sân Cộng Hoà rồi sân Thống Nhất sau này…

Về tổ chức, có đội Cercle Sportif Saigonnais đầu tiên được tổ chức bài bản nhất, liên tiếp vô địch các giải đấu giữa các câu lạc bộ vào 2 thập niên đầu thế kỷ 20. Đây là đội banh gồm toàn bộ là cầu thủ người Pháp do ông Breton thành lập. Đội banh người Việt đầu tiên được thành lập là Gia Định Sport vào năm 1908, do ông Ba Vẽ thành lập. Sau đó không lâu, Gia Định Sport sáp nhập với hội banh Étoile Bleue (Ngôi sao xanh) của ông huyện Nguyễn Đình Trị thành hội Étoile de Giadinh (Ngôi sao Gia Định).

Hội banh Ngôi sao Gia Định có sân vận động Fourrieres trước Lăng Ông Lê Văn Duyệt. Đội banh này có phong cách đá banh kỷ luật và chuộng tinh thần thể thao. Mùa giải các hội banh năm 1917, Ngôi sao Gia Định đã vượt qua hội banh số 1 Cercle Sportif Saigonnais 1-0. Năm 1923, Ngôi sao Gia Định đoạt chức vô địch giải vô địch Nam kỳ (Championnat de Cochinchine). Đây là lần đầu tiên một đội banh Việt Nam đoạt giải này, vượt lên trên các đội người Pháp.

Từ đó Ngôi sao Gia Định được coi là một trong “tứ hùng” ở Nam kỳ gồm 2 đội Việt Nam và 2 đội Pháp: Cercle Sportif Saigonnais, Saigon Sport, Stade Millitaire và Ngôi sao Gia Định.

Đội banh Ngôi sao Gia Định lên đến đỉnh cao trong thập niên 1930, nổi tiếng khắp Nam kỳ lục tỉnh, đá ở đâu cũng có người đến xem, đoạt chức vô địch Nam kỳ trong các năm 1932, 1933, 1935, 1936. Lúc này có rất nhiều hội đá banh hoạt động và mạnh như Cercle Sportif Saigonnais, Commerce, Sport Govap, Union Sportive Cholonaise, Sport Khánh Hội, Hiệp Hòa Victoria.

Đầu thập niên 1950, thời hoàng kim của Ngôi sao Gia Định đã qua, hội banh giải tán năm 1954, các cầu thủ gia nhập các hội AJS và Cảnh sát.

Cuối thập niên 1950, nhiều đội banh nổi tiếng trước đó ở Sài Gòn – Chợ Lớn dần biến mất hoặc sáp nhập với các đội banh có tài chính mạnh hơn thuộc các cơ sở thương mại hay cơ quan chính quyền như đội Tổng tham mưu, Việt Nam thương tín, Cảng Sài Gòn, Cảnh sát, Quan thuế.

Trong thời gian này, môn thể thao đá banh có nhiều đội và cầu thủ ưu tú. Các trận đá được tổ chức thường xuyên mỗi mùa ở sân vận động Cộng Hòa (nay là sân Thống Nhất). Sân được nâng cấp với đèn để có thể đá banh vào buổi tối thu hút rất đông khán giả đến xem. Sân Cộng Hòa trở thành sân banh lớn nhất và đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế. Nhiều trận đá quốc tế đã được tổ chức ở đây và cho đến nay vẫn là sân banh tốt nhất ở Sài Gòn.

Nguồn tham khảo: Nguyễn Đức Hiệp (Sài Gòn – Chợ Lớn, Thể thao và báo chí trước 1945)

Hình ảnh đẹp đời thường trước chợ Bến Thành xưa

Hầu như tất cả mọi người, dù có phải là người Sài Gòn hay không thì đều biết đến ngôi chợ nổi tiếng nhất của Sài Gòn từ hàng trăm năm qua, đó là Chợ Bến Thành.

Chợ Bến Thành được xem là một biểu tượng của Sài Gòn tư nhiều năm qua, là ngôi chợ đã được xây dựng từ năm 1912, khánh thành năm 1914.

Chợ được xây dựng trên khu đất vốn là của ông Hui Bon Hoa – Huỳnh Văn Hoa (tức chú Hỏa), với sự góp vốn của công ty Hui Bon Hoa (lúc xây chợ thì “Chú Hỏa” đã qua đời nên công ty Hui Bon Hoa do những người con của ông điều hành). Xung quanh chợ Bến Thành ngày nay vẫn còn những dãy nhà cũ xây cùng lúc với chợ Bến Thành, do công ty Hui Bon Hoa xây dựng để cho thuê.

Dãy nhà bên cạnh chợ Bến Thành là tài sản của “Chú Hỏa” năm xưa

Chợ Bến Thành được xây năm 1912, lúc đó được gọi là Chợ Mới, còn Chợ Cũ là ở bên đại lộ Charner (nay là Nguyên Huệ) đã bị giải tỏa, nhưng vẫn còn hoạt động một cách không chính thức đến tận năm 2022.

Khu vực Chợ Cũ

Dù cái tên Chợ Bến Thành rất quen thuộc với người Sài Gòn suốt hơn 200 năm qua, đã được nhắc đến trong nhiều câu ca dao, nhưng cho đến năm 1975, cái tên này không được sử dụng chính thức trong văn bản.

Xem lại các tấm bưu ảnh, bưu thiếp cùng các văn bản xưa của người Pháp, không có chỗ nào ghi tên chợ Bến Thành cho ngôi chợ hiện nay lẫn ngôi chợ cũ trên đường Nguyễn Huệ.

Trước khi Chợ Mới được xây, trên bưu tiếp cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Chợ Cũ được người Pháp gọi là chợ trung tâm, chợ chính (marché central). Thậm chí chỉ ghi chợ, thỉnh thoảng là Chợ Sài Gòn (Le marché de SAIGON).

Nhìn lại các tấm ảnh xưa, cả Chợ Cũ lẫn Chợ Mới, cho đến năm 1975, chưa bao giờ có tấm biển hiệu ghi tên chợ Bến Thành, ngoại trừ một giai đoạn ngắn sau năm 1963 có bảng ghi tên chợ Quách Thị Trang, nhưng sau đó cũng bị gỡ xuống. Chỉ đến sau năm 1975 thì bảng tên Chợ Bến Thành mới được dựng lên.

Ngay sau khi chợ Bến Thành được xây dựng thời thập niên 1910, một bùng binh trước chợ cũng được hình thành, mang tên là quảng trường Eugène Cuniac (Place d’Eugène Cuniac), đặt theo tên thị trưởng người Pháp đầu tiên của thành phố Sài Gòn.

Tàu điện tuyến Bến Thành – Hóc Môn đi ngang qua bùng binh trước chợ Sài Gòn vào thập niên 1920

Đến năm 1955, chính quyền đệ nhất cộng hòa đổi tên nơi này thành thành quảng trường Diên Hồng, đến năm 1963 được mang thêm tên mới là quảng trường Quách Thị Trang, là tên một nữ sinh 15 tuổi chống chính quyền Ngô Đình Diệm.

Tượng đài Quách Thị Trang (lúc này chưa có tượng đài Trần Nguyên Hãn

Chính giữa bùng binh cũng có bức tượng của Quách Thị Trang được xây dựng năm 1963 và tồn tại suốt 50 năm trước khi được dời về công viên Bách Tùng Diệp (đằng trước dinh Gia Long) vào năm 2014.

Từ năm 1965, ngay bên cạnh tượng Quách Thị Trang, binh chủng truyền tin đã dựng tượng danh tướng Trần Nguyên Hãn (người được suy tôn là thánh tổ của binh chủng này) cưỡi ngựa và phóng bồ câu đứng trên một bệ đá cao ngay chính giữa bùng binh.

Bên cạnh công trường có một bến xe buýt công quản ở trong hình bên dưới:

Dãy nhà trong hình được xây cùng lúc với Chợ Bến Thành

Năm 1914, cùng với chợ Bến Thành và nhà ga xe lửa Sài Gòn, người Pháp cũng cho xây dựng một tòa nhà trụ sở công ty Hỏa Xa ngay chợ Bến Thành. Tòa nhà này đến nay vẫn còn ở số 136 Hàm Nghi, trở thành trụ sở của ngành đường sắt.

Đối diện với chợ Bến Thành và trụ sở Hỏa Xa là nhà ga xe lửa được chuyển về đây từ nhà ga trước đó bên đường Krantz (nay là Hàm Nghi).

Nhà ga ở bên trái hình. Bên phải là đường Lê Lai

Ở liền kề với ga xe lửa và chợ Bến Thành còn có 1 bến xe ngựa, phục vụ cho người dân đi chợ và đi buôn từ vùng ven, hoặc là để trung chuyển hành khách đi xe lửa:

Chợ Bến Thành năm 1954, trong hình là đường Viénot, năm1955 đổi tên thành đường Phan Bội Châu, cửa Đông chợ Bến Thành

Trước chợ Bến Thành cũng đã từng có một cầu bộ hành dành cho người đi bộ có thể tránh khỏi dòng xe cộ đông đúc ở trước chợ:

Từ cầu bộ hành nhìn về đại lộ Trần Hưng Đạo:

Sau đây, mời các bạn xem lại những hình ảnh xưa của chợ Bến Thành.

Hình ảnh đời thường ở chợ Bến Thành năm 1938:

Một số ảnh xe cộ đông đúc trước chợ Bến Thành thời thập niên 1960:

Một số hình ảnh đời thường khác ở chợ Bến Thành thời kỳ thập niên 1960-1970:

Cửa chính Chợ Bến Thành

Đường Phan Châu Trinh, cửa tây Chợ Bến Thành

Đường Phan Châu Trinh, phía Cửa Tây chợ Bến Thành

Đường Lê Thánh Tôn, phía cửa bắc chợ Bến Thành

Đường Thủ Khoa Huân, nhìn từ ngã ba Lê Thánh Tôn – Thủ Khoa Huân, đằng trước Cửa Bắc chợ Bến Thành

Dãy phố trên đường Lê Thánh Tôn, cửa Bắc chợ Bến Thành

khu bán trái cây trong chợ Bến Thành

Chợ Bến Thành thập niên 1920 và thập niên 1960
Quầy bánh kẹo trước chợ Bến Thành

Bên trong chợ Bến Thành

Góc Phan Bội Châu-Lê Lợi, bìa trái là chợ Bến Thành

Đường Phan Châu Trinh, phía bên trái chợ Bến Thành

Góc Phan Châu Trinh – Nguyễn An Ninh, đối diện cửa Tây chợ Bến Thành

Những quầy bán trái cây phía sau chợ Bến Thành

Dãy phố trên đường Lê Thánh Tôn, cửa Bắc chợ Bến Thành

Hình ảnh hiếm hoi chụp bên trong chợ Bến Thành

Đông Kha – chuyenxua.vn
Hình ảnh: manhhai flickr

Hình ảnh hiếm về Hà Nội 100 năm trước (Kỳ 2)

Bài thứ 2 của loạt bài về những hình ảnh được chụp tròn 100 năm trước ở Hà Nội (thập niên 1910 và 1920). Lúc này toàn bộ Bắc và Trung kỳ nằm dưới sự đô hộ của Pháp quốc.

Xe điện trên La rue de la Soie, nay là phố Hàng Đào ở khu phố cổ Hà Nội. Tên đường tiếng Pháp được dịch từ tên tiếng Việt, de la Soie nghĩa là Lụa (Hồng Đào).

Ngôi nhà ở bìa phải hình là nhà của Lương Văn Can (số 4 Phố Hàng Đào). Ngôi nhà màu trắng (số 10 Phố Hàng Đào) là nơi ông mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục để khai trí cho dân, dạy học không lấy tiền.

Phố Hàng Đào từng được xem là con đường tơ lụa. Từ thế kỷ 15, 16 người dân ở nhiều nơi, đặc biệt từ Đan Loan Hải Dương, tới Hà Nội đã lập nên phường Đại Lợi chuyên nghề nhuộm tơ lụa. Hàng Đào lúc bấy giờ trở thành một trung tâm tơ lụa sầm uất của kinh thành Thăng Long.

Ga Hàng Cỏ nằm trên đường Mandarine (đường cái quan), nay là đường Lê Duẩn.

Năm 1902, ga Hàng Cỏ được khánh thành và đưa vào khai thác cùng với cầu Long Biên, là nhà ga xuất phát của con đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn thuở ban đầu, rồi đường sắt Hà Nội – Hải Phòng (1903), đường sắt Hà Nội – Lào Cai (1905) và đến năm 1936 là đường sắt xuyên Việt (1936).

Ban đầu, ga xe lửa này mang tên là ga Trung tâm Hà Nội, nhưng vì tên quá dài và dân chúng gọi là ga Hàng Cỏ (nay là ga Hà Nội). Cái tên này xuất xứ từ vùng đất này từ cuối thời Hậu Lê là nơi những người làm nghề cắt cỏ quanh vùng mang ra đây bán cho các chủ ngựa và người nuôi bò trong thành, nên gọi là Hàng Cỏ.

Từ thời vua Tự Đức, vì đoạn đường gần Cửa Nam nằm trên đường Cái Quan (từ Huế ra thành Hà Nội) có nghề làm lọng nên con đường Lê Duẩn ngày nay con được gọi là Hàng Lọng. Khi người Pháp chiếm Hà Nội, họ đổi tên Hàng Lọng thành đường Cái Quan (Route Mandarine). Năm 1947, sau khi Pháp tái chiếm Hà Nội, họ đổi tên đường thành Delatte Sir. Sau năm 1954, chính quyền thành phố Hà Nội của VNDCCH đổi thành đường Nam Bộ. Năm 1986, đường đổi tên thành Lê Duẩn cho tới nay.

Đại lộ Puginier, nay là đường Điện Biên Phủ ở Ba Đình và Hoàn Kiếm.

Năm 1909, đường được mở rộng và đặt tên là đại lộ Puginier, theo tên của giám mục địa phận Tây Đàng Ngoài, thành viên của Hội Thừa sai Paris, người – thành lập xứ đạo Hạnh Thông Tây ở Gò Vấp.

Năm 1945, sau cách mạng tháng 8, đại lộ Puginier đổi thành phố Dân Chủ Cộng Hòa, đến năm 1949 thì đổi thành đại lộ Nguyễn Tri Phương. Dù vậy, nhưng dân chúng vẫn quen gọi là đường Cột Cờ vì Cột Cờ Hà Nội nằm trong khu vực này. Đến ngày 7/5/1964, kỷ niệm chiến thắng Điên Biên Phủ, chính quyền thành phố Hà Nội đổi tên thành Điện Biên Phủ cho đến nay.

Rue Paul Bert 100 năm trước. Trước khi Pháp chiếm Hà Nội, con phố này mang tên Tràng Tiền, và ngày nay cũng mang tên nguyên thủy là Tràng Tiền.

Đây là con phố nổi tiếng nằm ở khu trung tâm, có từ lâu đời, chạy từ đông sang tây.

Phố Tràng Tiền xưa kia là một con đường dài, phía tây giáp phủ Chúa Trịnh, phía đông giáp với cửa ô Tây Long, tức là Nhà hát Lớn Hà Nội ngày nay, thông ra căn cứ Đồn Thủy và bến sông Hồn.

Khoảng năm 1808, một xưởng đúc tiền được vua Gia Long nhà Nguyễn cho lập ra ở đây, tên chữ là Bảo Tuyền Cục, dân quen gọi là Tràng Tiền, từ đó xuất xứ tên gọi cho tên của phố này suốt 200 năm qua

Thời thuộc Pháp phố này có tên là rue Paul Bert, đặt tên theo Thống sứ Bắc kỳ Paul Bert, bắt đầu từ khu vực Hồ Hoàn Kiếm ở phía tây, nối với phố Hàng Khay. Còn phía đối diện là phía đông kéo dài tới Nhà hát Lớn Hà Nội.

Phố Tràng Tiền (rue Paul Bert) nhìn từ Nhà Hát Lớn

Bên trái là rue Paul Bert (phố Tràng Tiền), bên phải là Grands Magasins Reunis, nay là Tràng Tiền Plaza. Được người Pháp xây dựng lần đầu vào năm 1901 với tên gọi Maison Godard, tòa nhà này được xem là bước ngoặt cho thương mại Hà Nội vốn trước đó chỉ có các chợ truyền thống. Sau khi đi vào hoạt động, trung tâm thương mại đầu tiên của Sài Gòn này phục vụ các khách hàng người Pháp và người Việt giàu có. Đến năm 1960, tòa nhà được đổi tên thành Bách hóa Tổng hợp và trở thành cửa hàng lớn nhất miền Bắc thời bao cấp. Sau đó, tòa nhà được xây dựng lại và đổi tên thành Tràng Tiền Plaza vào năm 2002.

Trụ sở đồn cảnh sát quận 1 thời Pháp thuộc hơn 100 năm trước, nằm ở góc đường Borgnis Desbordes, Jules Ferry, Gia Long và Paul Bert. Ngày nay tòa nhà này vẫn còn, là trụ sở công an quận Hoàn Kiếm, nằm ở góc phố tương ứng là Tràng Thi, Lý Thái Tổ, Bà Triệu và Hàng Khay, ngay bên cạnh hồ Hoàn Kiếm.

Thư viện Pierre Pasquier ở đường Borgnis Desbordes, được xây dựng vào năm 1917, ngày nay là Thư viện Quốc gia Việt Nam, nằm trên đường Tràng Thi.

Con đường này ban đầu tên là Tràng Thi, xuất phát từ việc nó nằm trên nền đất xưa là nơi thi Hương, gọi là Trường Thi, sau nói thành Tràng Thi. Ở đây ngày xưa là nơi sĩ tử của các tỉnh từ Thanh Hoá trở ra đến thi Hương.

Khi Pháp chiếm Hà Nội, họ đặt tên đường là rue du Camp des Lettres, rồi đổi nên rue Borgnis Desbordes, đến thời bị tạm chiếm thì đổi tên nên United States of America street (phố Mỹ quốc). Sau này đường lấy lại tên xưa là Tràng Thi cho đến nay.

Tháp nước Hàng Đậu xây năm 1894 nằm trên đường des Graines, nay là đường Hàng Đậu. Ngày nay, tháp nước này vẫn còn nằm giữa khu đất nhỏ nằm lọt thỏm giữa 4 con phố Hàng Đậu, Hàng Cót, Hàng Than và Quán Thánh.

Sở dĩ có tên Hàng Đậu là xưa kia có nhiều cửa hàng bán các thứ đậu hột như đậu xanh, đậu nành, đậu đen… Người Pháp gọi tên phố này là rue des Graines, dịch nghĩa là các hạt (hạt đậu), cũng là dịch thì tên nguyên thủy là Hàng Đậu.

Đông Kha – chuyenxua.vn
Hình ảnh: manhhai flickr

Lịch sử 100 năm phi trường Tân Sơn Nhứt và quá trình thành lập hãng hàng không Air Vietnam

Sân bay Tân Sơn Nhất (tên trước 1975 là Phi trường Tân Sơn Nhứt) được xây dựng từ thập niên 1920 ở làng Tân Sơn Nhứt, thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Ngôi làng này vốn nằm trên gò đất cao ráo phía Bắc Sài Gòn có từ thời Nguyễn Hữu Cảnh vào khai phá, lập nên đất Sài Gòn – Gia Định.

Hiện nay, Tân Sơn Nhất là sân bay lớn nhứt Việt Nam về mặt diện tích cũng như công suất nhà ga. Ngoài ra, theo thông tin từ một bài từ báo Tuổi Trẻ thì trước 1975, Tân Sơn Nhứt là phi trường nhộn nhịp hàng đầu thế giới, “Cứ trung bình mỗi phút có một máy bay cất hay hạ cánh ở Tân Sơn Nhất. Những lúc cao điểm khoảng cách này chỉ vỏn vẹn 30 giây”. Sở dĩ như vậy là bởi vì thời điểm đó phi trường Tân Sơn Nhứt không chỉ có những chuyến bay dân dụng, mà nơi đây còn là căn cứ không quân của quân sự lúc nào cũng tấp nập. Vì vậy công việc điều phối phi cơ cất cánh và hạ cánh của những kiểm soát viên không lưu ở phi trường Tân Sơn Nhứt luôn luôn bận rộn.

Mã ký hiệu IATA của sân bay Tân Sơn Nhất ngày nay là SGN, là viết tắt của Sài Gòn – Tân Sơn Nhứt. Mã ký hiệu này đã có từ trước năm 1975 dành cho phi trường Tân Sơn Nhứt, sau này sân bay Tân Sơn Nhất tiếp tục được kế thừa.

Sau khi được hoàn thành và đưa vào sử dụng vào thập niên 1920, phi trường Tân Sơn Nhứt thuở ban đầu chỉ có một đường băng, nền đất trồng cỏ, và chỉ dùng cho quân sự. Đến năm 1930, một số nhà cửa ở sân bay mới phục vụ duy nhất cho hãng hàng không Air Orient của Pháp.

Một chuyến bay của Pháp vừa hạ cánh

_

Phi cơ của vua Bảo Đại đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt lúc này vẫn là sân cỏ

Ngày 21/12/1933, chuyến bay đầu tiên của hãng hàng không Pháp (Air France) bay tuyến Paris – Sài Gòn – Paris bay trong 50 giờ (lúc đó chưa thể bay ban đêm được), mất vừa đúng một tuần lễ mới đến Sài Gòn vào ngày 28/12/1933. Một năm sau đó (1934), đường băng Tân Sơn Nhứt mới được trải nhựa.

Từ sau khi phi trường Tân Sơn Nhứt bắt đầu có nhiều chuyến bay thương mại thì sân bay Tân Sơn Nhứt trở nên quá chật chội, chính quyền Pháp muốn mở rộng sân bay, nhưng giá cả bồi thường ruộng đất ở xung quanh cho các chủ tư nhân quá cao, vì không thỏa thuận được nên chính quyền Pháp ở Nam Kỳ buộc phải nhờ đến Tòa án can thiệp. Sau đó, phán quyết của Tòa ngày 19/6/1937 đã truất hữu 1 số đất của 3 chủ đất người Pháp để mở rộng sân bay.

Cùng trong năm 1937, Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định thành lập Sở Hàng không Dân dụng Đông Dương (Service de l’Aréonautique de l’Indochine) thay thế cho Sở Hàng không Dân sự, để lo việc khai thác các chuyến bay, nhưng lúc này các phi trường ở Việt Nam vẫn chỉ do các hãng hàng không nước ngoài khai thác. Như là tuyến Đông Dương – Pháp mỗi tuần một chuyến do các hãng hàng không Pháp đảm trách, tuyến Sài Gòn – Singapore – Indonésia do hãng hàng không Hà Lan đảm trách, Hà Nội – Hồng Kông – Pénang do hãng hàng không Anh đảm trách, Hà Nội – Vân Nam do hãng hàng không Âu – Á (Eurasia) đảm trách, Hà Nội – Hồng Kông – Trùng Khánh do hãng hàng không Trung Hoa (China National Corporation) đảm trách.

Đến năm 1951 thì chính quyền Quốc Gia Việt Nam của quốc trưởng Bảo Đại mới chính thức thành lập hãng hàng không dân dụng đầu tiên của Việt Nam mang tên Air Vietnam. Hãng này hoạt động liên tục cho đến năm 1975 thì bàn giao cơ sở vật chất cho Tổng cục Hàng không Dân dụng thuộc quản lý của chính quyền mới.

Từ năm 1955, Pháp hoàn toàn rút khỏi Việt Nam, người Mỹ thế chân vào, và theo tác giả Quốc Việt cho biết trong cuốn 100 Năm Phi trường Tân Sơn Nhứt, thì sự có mặt của người Mỹ đã nhanh chóng biến Tân Sơn Nhứt thành phi trường hiện đại nhất khu vực, vượt xa các phi trường ở Singapore hay Bangkok trước 1975. Từ đường băng ngắn do người Pháp xây dựng chỉ đáp ứng các loại máy bay cánh quạt thế hệ cũ, Tân Sơn Nhứt đã được nâng cấp lớn để trở thành phi trường hạng A, mở ra kỷ nguyên phản lực ở miền Nam Việt Nam.

Từ lưu lượng khoảng 30 ngàn chuyến bay mỗi năm vào nửa cuối thập niên 1950, số máy bay cất – hạ cánh ở Tân Sơn Nhứt đã tăng lên đến 30 lần chỉ ít năm sau đó, trong đó đa phần là máy bay quân sự vì tình hình thời cuộc.

Về tên gọi Tân Sơn Nhứt hay là Tân Sơn Nhất, thì trước năm 1975, tên gọi chính thức của phi trường (sân bay) là Tân Sơn Nhứt, lấy theo tên ngôi làng Tân Sơn Nhứt nơi phi trường được xây dựng.

Ngoài làng Tân Sơn Nhứt thì còn có làng Tân Sơn Nhì, đều thuộc tổng Dương Hòa Thượng, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Nhứt ở đây nghĩa là Nhứt, Nhì theo cách nói của người miền Nam. Sau năm 1975, tên gọi này được đổi thành sân bay Tân Sơn Nhất.

Hãng hàng không Air Vietnam, hay còn gọi là Việt Nam Hàng không, là hãng bay nội địa chính thức duy nhất ở miền Nam trước 1975. Hãng khai thác đường bay Sài Gòn đi tỉnh, sau đó mở rộng ra Bangkok, Singapore, Nhật Bản.

Air Vietnam được thành lập từ năm 1951 với 50% số vốn của chính quyền Quốc Gia Việt Nam, còn lại là các công ty Pháp góp cổ phần, trong đó có Air France với 33.5% vốn.

Ban đầu, sự hợp tác với Air France đem đến nhiều lợi ích cho Air Vietnam trong việc thuê và mua máy bay, đào tạo phi công, quản lý, kỹ thuật, khai thác đường bay quốc tế… Nhưng về sau cũng có nhiều thiệt thòi cho phía Việt Nam.

Bắt đầu từ khoảng giữa thập niên 1960, Air Vietnam đã nghiên cứu kế hoạch mua lại cổ phần của Air France. Có hai lý do đưa ra là vì còn vốn Pháp, nên Air Vietnam không được Hoa Kỳ viện trợ nhiều như các lĩnh vực khác. Thứ hai là dù góp vốn vào công ty hàng không của Việt Nam, nhưng Air France vẫn khai thác và cạnh tranh các đường bay quốc tế chung.

Thời gian gian đầu, Air Vietnam chỉ có vài chiếc máy bay cánh quạt loại nhỏ như DC3, DC4, Cessna, Bristol, nhưng từ thập niên 1960 thì dần dần đã được trang bị thêm các cỡ máy bay hành khách lớn hơn như DC6, Caravelle, B707, và đặc biệt là Boeing 727 – loại phi cơ cỡ lớn tân tiến.

Trước năm 1975, ngoài các chuyến bay kết nối hầu hết tỉnh, thành từ vĩ tuyến 17 trở vào, Air Vietnam dần dần đã mở rộng được nhiều đường bay quốc tế như Bangkok, Vientiane, Phnom Penh, Hồng Kông, Singapore, Manila, Nhật Bản.

Sau đây mời các bạn xem lại những hình ảnh xưa theo thời gian của phi trường Tân Sơn Nhứt:

Đường vào Tân Sơn Nhứt

_

Trại Davis của quân đội Mỹ bên trong phi trường Tân Sơn Nhứt

_

Máy bay quân sự đang bay bên trên phi trường

_

2 chiếc Boeing 707 đang ở giữa đường băng Tân Sơn Nhứt

_

Không ảnh đường băng Tân Sơn Nhứt

_

Máy bay đang chuẩn bị đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt. Bên dưới là đường Trường Chinh ngày nay

Một số hình ảnh bên trong sảnh của phi trường Tân Sơn Nhứt ngày xưa:

_

_

_

_

Quầy soát vé, cân hành lý

_

Hành khách đang làm thủ tục (check-in) tại nhà ga Tân Sơn Nhứt

Một số hình ảnh phía trước phi trường:

_

Một số hình ảnh bên trong phi trường và đường băng:

Phi trường trực thăng Tân Sơn Nhứt, cạnh đường Cộng Hòa


Một số hình ảnh của những cô chiêu đãi viên hàng không xinh đẹp (nay gọi là tiếp viên hàng không) tại phi trường:

Một số hình ảnh của phóng viên người Mỹ Bill Eppridge đã ghi lại về một chuyến bay dân sự ở phi trường Tân Sơn Nhứt ngày 14/7/1965:

Xe bus chở khách vào sân bay

Tại quầy làm thủ tục:

Sau khi làm thủ tục thì hành khách chuẩn bị ra phi cơ:

Trên đường ra tàu bay:

Ngược dòng lịch sử, những chuyến bay đầu tiên ở Sài Gòn

Lần đầu tiên người Sài Gòn được chứng kiến cảnh một cỗ máy biết bay là 10/12/1910, trong tuần lễ Hàng không Nam Kỳ (Grande semaine d’Aviation de Cochinchine) do chính quyền thành phố tổ chức tại trường đua ngựa ở vùng đồng Mã Ngụy.

Trường đua ngựa cũ ở Sài Gòn (Champ de Courses) nằm cạnh góc đường Rue du General Lize (trước 1975 là đường Trần Quốc Toản, nay là 3 Tháng 2) và đường Verdun (trước 1975 là Lê Văn Duyệt, nay là CMT8), kế bên doanh trại Pháo binh Thuộc địa của Pháp (trước 1975 là Trại Lê Văn Duyệt, nơi đặt Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ Đô Saigon).

Van den Born bay ở trường đua ngựa cũ Sài Gòn

Khi đó phi công người Bỉ – Pháp là Van den Born đã điều khiển chiếc Farman II cất cánh bay lượn trên bầu trời Sài Gòn và vùng lân cận trước 150.000 người (con số của báo chí đương thời) chứng kiến, chiếm phần lớn dân số Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó.

Trước ngày tổ chức sự kiện lịch sử này, chính quyền thành phố Sài Gòn đã bố cáo cho dân chúng biết sắp có một sự kiện chưa từng thấy trên bầu trời, người dân được mời đến bãi quần ngựa để chiêm ngưỡng “con chim sắt” có động cơ chong chóng đằng trước do một người Lang Sa điều khiển.

Ngay sau khi màn trình diễn này kết thúc, báo chí ở châu Âu đã coi đây là sự kiện mở ra trang sử hàng không ở châu Á. Vì cho đến lúc đó, chưa có một sự kiện tương tự nào được ghi nhận trên lãnh thổ các quốc gia châu Á. Nước Nhật hùng cường nhất châu Á khi đó đã xây dựng đội bay nhưng thời điểm cất cánh đầu tiên lại chậm hơn một vài giờ trong cùng ngày 10/12/1910.

Từ năm 1919, các máy bay bắt đầu được sử dụng phổ biến để chụp không ảnh, hiện nay vẫn còn lại những tấm ảnh chụp Sài Gòn và các thành phố lớn khác từ máy bay vào thập niên 1920, sau đây là một số tấm ảnh chụp ở Sài Gòn (một số tấm có thể thấy một phần của cánh máy bay):

Đây cũng là thời gian các kỹ sư công chánh và công binh Pháp bắt đầu khảo thám, nghiên cứu xây dựng một phi trường trung tâm cho Sài Gòn để thay thế cho các bãi đáp tạm trước đó.

Từ cuối thập niên 1920, phi trường Tân Sơn Nhứt được đẩy nhanh tiến độ xây dựng để kịp thời đáp ứng nhu cầu bay ngày càng tăng của phi đội Nam kỳ. Như đã nhắc đến ở trên, tên chính thức của phi trường lúc này là Tân Sơn Nhứt (sau 1975 đổi thành Nhất), đặt theo tên ngôi làng ở phía Bắc Sài Gòn – Gia Định, là vùng đất gò cao cách trung tâm Sài Gòn khoảng 10km, không bị ngập nước, có nền địa chất cứng hiếm hoi ở Sài Gòn.

Trong thập niên 1920, máy bay Pháp đã cất – hạ cánh xuống phi đạo Tân Sơn Nhứt, nhưng lúc này vẫn chưa hoàn chỉnh, mới chỉ có một phi đạo ngắn trên nền đất nện chủ yếu phục vụ phi cơ quân sự.

Sang thập niên 1930, các công trình nhà ga dịch vụ hành khách và cơ sở hỗ trợ hoạt động bay được dần xây dựng để phục vụ cho hãng hàng không Air Orient.

Phi trường Tân Sơn Nứt cơ bản được xây dựng xong từ đầu thập niên 1930, sau đó thì bắt đầu có đường băng hướng Bắc – Nam dài 1.500m bằng nền đất đỏ. Ban đầu, phi trình Sài Gòn – Hà Nội được thực hiện theo 2 đường bay dọc sông Mekong qua Campuchia và Lào để đến Hà Nội, hoặc bay ven biển dọc theo đường cái quan (nay là quốc lộ 1). Từ khoảng giữa thập niên 1930, cả 2 đường bay này đều khá thuận lợi vì đã hình thành hệ thống phi trường, bãi đáp khẩn cấp dọc đường bay. Bắt đầu từ nửa cuối thập niên 1930, từ Sài Gòn và Hà Nội đã kết nối nhiều đường bay quốc tế. Đó là tuyến Sài Gòn – Jakarta năm 1938, tuyến Hà Nội – Paris năm 1940, sau đó là Sài Gòn – Singapore, Hà Nội – Vân Nam, Hà Nội – Hongkong – Penang…

Thời kỳ giữa thập niên 1950, phi trường Tân Sơn Nhứt được chứng kiến một sự kiện quan trọng, đó là những chuyến bay chở đồng bào di cư. Phần lớn trong số hàng triệu người di cư bằng tàu há mồm, còn lại là đi bằng đường hàng không từ phi trường Gia Lâm đến Tân Sơn Nhứt, mỗi ngày có 100 người. Xin trích nguyên văn một đoạn trong cuốn 100 Năm Phi Trường Tân Sơn Nhứt nói về sự kiện này:

“Tại Tân Sơn Nhứt có 30 cán bộ, nhân viên phụ trách việc đón tiếp, giúp đỡ đồng bào, trong đó có các bác sĩ và y tá chăm sóc sức khỏe. Một số lều tạm cũng tiếp tục được duy trì để đồng bào có chỗ trú an trong lúc chờ chuyển về các trại trung tâm Sài Gòn – Gia Định. Riêng xe ô tô thì lúc nào cũng túc trực ba xe đảm bảo giúp đồng bào được di chuyển miễn phí, an toàn. Ông Nguyễn Văn Năm, người quê Phủ Lý, Hà Nam, hành khách của chuyến bay đặc biệt này, kể lại kỷ niệm khó quên:

Gia đình tôi tập trung chờ chuyến bay ở phi trường Gia Lâm. Còn đa số bà con họ hàng đi đường bộ xuống cảng Hải Phòng để lên các con tàu há mồm của hải quân Mỹ. Chuyến bay của gia đình tôi cất cánh vào một buổi sáng đầu tháng 1-1955. Ba tôi rất buồn, còn mẹ tôi cứ khóc mãi vì phải xa quê hương. Các cô tiếp viên người Pháp phải đến nắm tay an ủi mẹ tôi. Lúc ấy, ba anh em tôi mới từ 6 đến 14 tuổi, và tôi là anh cả trong nhà. Tôi nhớ tâm trạng mình ngày ấy chẳng hề buồn vui vì chưa hiểu nổi thời thế đất nước phân ly là gì, nhưng lại rất háo hức lần đầu được đi máy bay. Tôi còn nhớ mãi những viên kẹo bọc giấy kiếng rất đẹp mà cô tiếp viên phát cho bọn trẻ. Những đứa trẻ sợ hãi, khóc thét khi máy bay cất – hạ cánh cũng được cô tiếp viên giúp bố mẹ dỗ dành.

Khi hạ cánh xuống Sài Gòn, có người mặc áo trắng bác sĩ ra khám sơ cho cả nhà chúng tôi. Ai có khai mắc bệnh gì đấy, ông ta mới giữ lại để khám kỹ hơn. Sau đó chúng tôi được mời ăn chung một bữa cơm rất ngon với những dãy bàn đặt ngay trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Tất cả hành khách từ miền Bắc vào, ai cũng được mời an, rồi mới lên xe về những trại ở thành phố để chờ các linh mục đến đón. Nhà tôi về giáo xứ Tân Chí Linh ở chợ Ông Tạ…”

Khi sau phi trường Tân Sơn Nhứt thuộc về quản lý của người Việt, nó được nâng cấp để thành phi trường quốc tế có thể vận hành các loại máy bay thương mại hiện đại nhất lúc bấy giờ. Việc nâng cấp này được thực hiện liên tục từ năm 1955 đến 1960 với sự hỗ trợ và viện trợ của Mỹ.

Đầu tháng 9 năm 1962, tổng thống Ngô Đình Diệm đọc diễn văn ở sân bay Tân Sơn Nhứt để khánh thành đường bay hạng A dài nhất Đông Nam Á, nơi có thể thể nhận máy bay phản lực của Boeing lớn và hiện đại nhất thời bấy giờ.

Từ thời điểm này, số lượng máy bay đến và xuất phát từ Tân Sơn Nhứt tăng nhanh. Theo tài liệu của ông Tạ Huyến – giám đốc Nha căn cứ hàng không Tân Sơn Nhứt, từ 30.000 chuyến bay vào năm 1959, lên 40.000 chuyến vào năm 1960, 56.000 chuyến bay năm 1961, và 89.000 chuyến trong năm 1962. Số lượng chuyến bay trong 3 năm đã tăng với tỷ lệ gần 300%. Mỗi ngày cao điểm, trung bình cứ khoảng 2 phút rưỡi lại có một máy bay cất – hạ cánh và Tân Sơn Nhứt đã trở thành phi trường nhộn nhịp nhất Đông Nam Á thời điểm đó.

Tháng 11 năm 1963, dự án nâng cấp quy mô nhà ga hành khách Tân Sơn Nhứt (lần thứ 3 tính từ năm 1954) được khởi công và kéo dài 8 tháng. Tổng diện tích nhà ga từ 2.822m2 được mở rộng thành 6.402m2. Ngoài ra sau đó một nhà ga mới quy mô lớn hơn cũng được xây dựng.

Đến năm 1965, vì sự tham gia trực tiếp của quân đội Mỹ ở Việt Nam, phi trường Tân Sơn Nhứt càng trở nên quá tải. Số lượng máy bay sử dụng phi trường này lên đến con số 270.500 chuyến trong năm 1965, được xếp vào 1 trong 5 phi trường có hoạt động cao nhất toàn cầu, chỉ xếp sau Los Angeles, New York, Chicago, và bỏ xa Paris, Tokyo.

Đường băng hạng A đầu tiên ở Tân Sơn Nhứt vừa được sử dụng từ giữa năm 1962 đã nhanh chóng bị quá tải nghiêm trọng. Suốt từ 1962-1966, nó phải chịu đựng gần 2000 chuyến bay mỗi ngày, dẫn đến tình trạng bị xuống cấp nghiêm trọng. Giữa năm 1966, đường băng hạng A thứ hai cũng được khẩn cấp xây mới để giải quyết tình trạng quá tải ở đường băng hiện hữu. Cuối tháng 5 năm 1967, công trình hoàn tất, khi đó toàn bộ Đông Nam Á tới thời điểm này vẫn chưa có nước nào có đường băng kép hạng lớn.

Ngày 2/4/1967, tờ Sài Gòn báo số 134 giật tít lớn: “45.000 phi cơ lên xuống Tân Sơn Nhứt trong một tháng”, có nghĩa là con số này 1 năm đã lên tới 540.000, gấp đôi năm 1965.

Để so sánh, ngày cao điểm nhiều chuyến bay nhất của Tết Âm lịch năm 2017 là 807 chuyến bay cất – hạ cánh ở phi trường Tân Sơn Nhất, trong khi đó có ngày năm 1967, Tân Sơn Nhứt đã hoạt động lên đến mức kỷ lục: 1.800 chuyến bay. Thời điểm là cách nhau 50 năm, và hạ tầng phi trường năm 1967 không thể so sánh với hiện nay được.

Ngày 3/7/1971, chuyến bay thương mại lớn nhất thế giới thời điểm đó là Boeing Jumbo Yet mang ký hiệu B747 của hãng hàng không Pan Am chở gần 400 khách đã hạ cánh xuống phi đạo Tân Sơn Nhứt, nơi này vinh dự trở thành sân bay hiện đại có thể tiếp đón được loại máy bay khổng lồ này.

Nguồn tư liệu: Sách 100 năm phi trường Tân Sơn Nhứt – Quốc Việt

Hình ảnh hiếm về Hà Nội 100 năm trước

Mời các bạn xem lại những hình ảnh được chụp tròn 100 năm trước ở Hà Nội (thập niên 1920). Lúc này toàn bộ Bắc và Trung kỳ nằm dưới sự đô hộ của Pháp quốc. Qua những tấm ảnh đặc biệt này, bánh xe thời gian như là được xoay ngược lại để chúng ta có thể nhìn được về quá khứ một thế kỷ trước…

Xe điện đang đi trên rue Francis Garnier, nay là phố Đinh Tiên Hoàng. Trước đó, đây là phố Hàng Chè, nối liền với phố Hàng Bài (chỗ người chụp hình đang đứng, lúc này mang tên phố Đồng Khánh). Bên trái hình này là Hồ Hoàn Kiếm, bên phải là rue Paul Bert (nay là phố Tràng Tiền). Tòa nhà trong hình ngày nay vẫn còn, là trụ sở của Tổng cục quản lý thị trường

Rạp cine Palace nằm ở rue Paul Bert (nay là phố Tràng Tiền), là một trong những rạp chiếu phim lâu đời nhất Việt Nam được người Pháp khởi công xây dựng năm 1917 và hoàn thành năm 1920. Rạp được thiết kế theo phong cách kiến trúc cổ điển của Pháp, với mục đích trở thành một rạp chiếu phim sang trọng bậc nhất của vùng Đông Dương.

Sau khi Pháp tái chiếm Hà Nội năm 1947, rạp đổi tên thành Eden. Sau khi chính quyền VNDCCH tiếp quản Hà Nội năm 1954, rạp đổi tên thành Công Nhân cho đến nay, ngày nay không còn là rạp chiếu phim nữa mà trở thành Nhà hát kịch.

Khu vực vườn hoa Bách Việt (thường được gọi với tên khác là vườn hoa Cửa Nam. Xe điện đang đi trên rue Borgnis Desbordes (nay là phố Tràng Thi) sang phía rue Duvillier (nay là phố Nguyễn Thái Học). Vườn hoa Cửa Nam nằm bên phải hình, lúc này bên trong có tượng Nữ Thần Tự Do cao 2.85m, là bản sao tỉ lệ 1/16 của phiên bản chính ở New York. Tượng được đặt ở Vườn hoa Cửa Nam từ 1897 đến 1945, vườn hoa lúc này được gọi là La Place Neyret.

Vườn hoa Cửa Nam vốn là Quảng Văn Đình được vua Lê Thánh Tông cho xây dựng vào năm 1491, là nơi niêm yết các pháp lệnh, cáo thị của triều đình.

Tòa nhà trụ sở Công Chánh (Les Travaux Publics), ngày nay tòa nhà này vẫn còn, là trụ sở của Ban Quản Lý Trung Ương các Dự Án Thủy Lợi.

Tòa nhà này nằm 3 mặt phố: rue Albert Pouyanne (nay là phố Lò Sũ), rue des Bambous (nay là phố Hàng Tre) và Quai Clémenceau (nay là đường Trần Quang Khải).

Trường Lycée Albert Sarraut trên Boulevard Rollandes, nay là trường THPT Trần Phú trên phố Hai Bà Trưng. Đây là ngôi trường có kiến trúc Pháp đặc trưng, đã trải qua hàng thế kỷ, từng đào tạo rất nhiều nhân vật nổi tiếng của Hà Nội.

Những hình ảnh 100 năm trước của ngôi chợ lớn và lâu đời nhất Hà Nội nằm trong phố cổ, đó là Chợ Đồng Xuân:

Trong thời gian xây dựng lại thành Thăng Long vào năm 1804, Tổng trấn Nguyễn Văn Thành dưới triều vua Gia Long đã cho đặt ngôi chợ lớn ở cửa chính đông, hay còn gọi là chợ Đồng Xuân ngày nay.

Kiến trúc chợ trong hình này là đã có từ năm 1890, được người Pháp xây dựng lại, với năm vòm cửa và năm nhà dài 52m, cao 19m, mặt tiền theo kiến trúc Pháp, gồm năm phần hình tam giác có trổ lỗ như tổ ong, lợp mái tôn.

Người xe chen chúc ra vào khu chợ chính

Tòa nhà trụ sở công ty Hỏa xa Đông Dương – Vân Nam (Chemins de Fer de l’Indochine et de Yunam – CIY), nằm ở góc đường Gambetta – Richaud, nay là trụ sở Tổng liên đoàn Việt Nam ở góc phố Quán Sứ – Trần Hưng Đạo, trước mặt tòa nhà ngày nay là quảng trường 1/5.

Công ty Hỏa xa Vân Nam (CIY) này được thành lập từ năm 1901. Khi Toàn quyền Paul Doumer lên nắm quyền ở Đông Dương từ cuối thế kỷ 19, ông có tham vọng thực hiện chính sách bành trướng của nước Pháp đối với Trung Quốc, cụ thể là làm tuyến đường sắt “xâm nhập”, đi ngược lưu vực sông Hồng để vào đến Trung Quốc ở phía Nam, đó là tỉnh Vân Nam. Đây chỉ là tính toán ban đầu của Doumer, thực tế kế hoạch lớn hơn là dự định xây dựng 1700km đường sắt đi qua Tây Tạng, Quảng Tây, đưa các vùng này vào trong cộng đồng kinh tế Pháp, để rồi chuyển những vùng đó thành những thuộc địa một cách đơn thuần và đơn giản.

Tiền đề của những tham vọng đó của người Pháp được bắt đầu từ Hòa ước Pháp – Hoa năm 1885, chấm dứt xung đột giữa 2 nước này, đồng thời phía nhà Thanh của Trung Quốc cũng xác nhận quyền của Pháp về việc xây dựng một tuyến đường sắt giữa Bắc Kỳ đến các tỉnh miền Nam Trung Hoa. Đó là lý do mà công ty Hỏa xa Vân Nam được thành lập và xây tòa nhà trụ sở đồ sộ của Hà Nội, đến nay vẫn là một trong những tòa nhà lâu đời nhất còn lại kiến trúc nguyên thủy.

Cảnh mua bán trên lề phố rue Paul Bert, nay là phố Hàng Khay ở ven hồ Hoàn Kiếm, nối liền với phố Tràng Tiền.

Trước khi Pháp đô hộ Việt Nam thì đây được gọi là phố Thợ Khảm nằm ở ven hồ Hoàn Kiếm. Phố nghề này do thợ khảm trai gốc làng Chuôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây) đã tới đây lập cửa hàng chuyên sản xuất và kinh doanh đồ gỗ khảm xà cừ như hoành phi, câu đối, tủ, bàn, ghế, sập, mâm, khay…

Người Pháp chuyển ngữ phố Thợ Khảm thành rue des Inscrusteurs, sau đó nối phố Tràng Tiền với rue des Inscrusteurs rồi đặt tên đường là Paul Bert.

Sau 1954 đến hay, phố Paul Bert tách ra lại thành 2 tên đường khác nhau là phố Tràng Tiền và phố Hàng Khay.

Xe điện trên La rue de la Soie, nay là Phố Hàng Đào. Bên trên là đường dây cấp điện cho điện nội thành, được truyền qua một cái cần nằm trên nóc xe.

Các nhà máy trên đường Larrivée, nay là phố Nguyễn Công Trứ. Hình ảnh được chụp từ đường Armand Rousseau, nay là phố Lò Đúc.

Bến xe điện Hà Đông – điểm cuối của tuyến xe điện Bờ Hồ (hồ Hoàn Kiếm) – Hà Đông dài 12 km.

Đông Kha – chuyenxua.vn
Hình ảnh: manhhai flickr

Những bức ảnh Sài Gòn được chụp cách nhau 100 năm tại cùng một vị trí (Phần 2)

Phần thứ 2 của loạt bài về những tấm hình thú vị được chụp để so sánh góc ảnh tại cùng 1 vị trí của Sài Gòn, tại 2 thời điểm cách nhau tròn 100 năm, đó là hình xưa thập niên 1920, và hình ngày nay được chụp năm 2022.

Qua những bức ảnh này, có thể thấy rằng những công trình xưa của Sài Gòn vẫn đứng vững qua thời gian, xóa nhòa đi ranh giới của khoảng cách trăm năm.

Đây là tòa nhà Trụ sở Hiến Binh Thuộc Địa (La Gendarmerie Coloniale) nằm trên đường Rue de La Grandière (đường Gia Long, nay là đường Lý Tự Trọng), gần đối diện với Dinh Thượng Thơ.

Lực lượng hiến binh này ở Đông Dương thời thuộc địa Pháp là một tổ chức an ninh quân sự, có nhiệm vụ kiểm soát quân đội, kiểm soát dân sự về hành chính và tư pháp.

Sau 1955, khi VNCH tiếp quản lại chính quyền, tòa nhà này là trụ sở của Quân Cảnh (cảnh sát quân đội), một lực lượng gần giống với lực lượng hiến binh thời thuộc địa. Sau năm 1975, nơi này trở thành Doanh trại QĐND của “lực lượng kiểm soát quân sự”, tên gọi khác của “quân cảnh” thời trước 1975.

Hiến binh, quân cảnh, hay là lực lượng kiểm soát quân sự, đều có chức năng gần giống nhau, thường là đơn vị chấp pháp của quân đội, có chức năng giúp người chỉ huy duy trì kỷ luật quân đội, Pháp luật của Nhà nước, quy tắc trật tự an toàn xã hội đối với mọi quân nhân và các phương tiện giao thông quân sự ở ngoài doanh trại.

Con đường này khi mới xây dựng mang tên là du Gouveneur, tiếng Pháp nghĩa là Thống đốc. Sở dĩ mang tên này vì con đường đi ngang qua Dinh Thống Đốc Nam Kỳ (tức dinh Gia Long, nay là bảo tàng thành phố). Sau đó con đường này đổi tên thành  Grandière (theo tên của một thống soái Nam Kỳ vào thế kỷ 19). Từ năm 1952, dinh Thống Đốc Nam Kỳ được quốc trưởng Bảo Đại đổi tên thành dinh Gia Long, và con đường mang tên Grandière cũng được đặt tên là đường Gia Long. Từ năm 1955-1976, con đường này vẫn mang tên này, trước khi đổi tên thành Lý Tự Trọng cho đến nay.

Tòa nhà bên phải hình là ở số 229 – Catinat, là trụ sở của Enregistrement et Domaines (Sở Trước bạ và Nhà đất). Thời kỳ 1955-1975, tòa nhà này vẫn giữ chức năng cũ, là Sở Trước Bạ của VNCH, vẫn ở số 229, tên đường đổi thành đường Tự Do. Ngày nay, tòa nhà này vẫn còn, là trụ sở của Chi cục bảo vệ môi trường ở địa chỉ 227 – Đồng Khởi.

Bên trái hình là Dinh Thượng Thơ, là tòa nhà sẽ được nói đến chi tiết hơn ở bên dưới.

Hình ảnh Dinh Thượng Thơ (Hôtel de L’Interieur) 100 năm trước và hiện nay. Tòa nhà này là một công trình được kiến trúc sư nổi tiếng Marie-Alfred Foulhoux (1840-1892) thiết kế. Ông cũng là tác giả của những công trình vẫn còn tồn tại đến hiện nay là Bưu Điện Sài Gòn, Dinh Gia Long, Tòa Pháp Đình (Tòa Án trên đường NKKN ngày nay), Tòa nhà Quan Thuế (được sửa lại từ nhà ông Wang Tai, đầu đường Hàm Nghi ngày nay).

Dinh Thượng Thơ được xây vào năm 1864 (5 năm sau khi Pháp chiếm được Nam Kỳ), ban đầu là trụ sở Nha giám đốc Nội vụ, có vai trò điều hành trực tiếp của các thanh tra sự vụ bản xứ về toàn bộ vấn đề dân sự, tư pháp và tài chính của thuộc địa.

Đến năm 1888, chức năng của cơ quan này được nhập vào Thơ Ký Thống đốc Nam kỳ ở góc đường Catinat – d’Espagne (nay là Lê Thánh Tôn) sát bên Dinh xã Tây (Tòa Đô Chánh), bản đồ năm 1890 cho thấy một tòa nhà quy mô lớn hơn được xây dựng như hiện nay, thành một khối nhà liền kề với Dinh Xã Tây. Vào đầu thế kỷ 20, cơ quan này còn có tên là Văn phòng Chính phủ.

Khi mới được xây dựng, Dinh Thượng Thơ chỉ là một công trình khiêm tốn, và được được xây dựng thêm trong nhiều năm sau đó, đến năm 1881 mới mang kiến trúc hình dạng chữ U vẫn còn cho đến ngày nay.

Từ sau năm 1955, nơi này là trụ sở Bộ Kinh tế của chính quyền VNCH. Ngày nay, tòa nhà này nằm ở địa chỉ số 59-61 Lý Tự Trọng, trụ sở của Sở Thông Tin – Truyền Thông.

Ảnh xưa là thành Ông Dèm, đọc trại từ chữ Pháp onzième (nghĩa là thứ 11). Sở dĩ có tên gọi như vậy là do thành này là nơi đồn trú của Trung đoàn bộ binh thuộc địa thứ 11 của Pháp, được xây dựng trên nền cũ của 2 thành Quy, thành Phụng đã có từ thời nhà Nguyễn.

Từ năm 1955 đến 1963, thành Ông Dèm đổi thành thành Cộng Hòa, là nơi đồn trú của Tiểu đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống (sau thành Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống).

Ngày nay, 2 khối nhà 2 bên từng là thành Ông Dèm (thành Cộng Hòa) này là một phần của các trường đại học Y Dược và KHXH&NV.

Ở hình cũ, chúng ta có thể thấy chính giữa là cổng đi vào trại lính chứ không có đường đi xuyên qua 2 khối nhà như ngày nay (đường Đinh Tiên Hoàng). Con đường từ Cường Để (nay là Tôn Đức Thắng) nối liền với Đinh Tiên Hoàng chỉ có kể từ năm 1963, sau khi thành Cộng Hòa được cải tạo thành các cơ sở trường đại học từ giữa thập niên 1960 cho đến nay.

Trụ sở Hỏa Xa, ban đầu là trụ sở công ty Chemins de fer de l’Indochine (CFI – Công ty đường sắt Đông Dương), được xây dựng từ năm 1910 và khánh thành năm 1914, cùng thời điểm với Chợ Bến Thành, dùng để làm văn phòng điều hành mạng lưới xe lửa ở phía Nam.

Tháng 5 năm 1952, tòa nhà trở thành trụ sở Hỏa Xa Việt Nam nằm dưới sự quản lý của bộ công trình công cộng và vận tải.

Từ sau năm 1975, tòa nhà thuộc quyền quản lý của Tổng Công Ty Đường Sắt Việt Nam, hiện nay là nơi làm việc của Công ty cổ phần Vận tải đường sắt Sài Gòn; phòng điều hành vận tải đường sắt Sài Gòn; phân ban quản lý kết cấu hạ tầng đường sắt khu vực 3; Ban quản lý đường sắt khu vực 3.

Hình ảnh xưa Dinh Xã Tây được xây dựng năm 1898 hoàn thành vào năm 1909, tại vị trí đắc địa và nhộn nhịp nhất của Sài Gòn, ở phia cuối đường Charner (Nguyễn Huệ) nhìn ra sông Sài Gòn.

Thiết kế của tòa nhà này được mô phỏng theo kiểu những lầu chuông ở miền Bắc nước Pháp. Có thể thấy trước tòa nhà ghi chữ Hotel de Ville, dịch sang tiếng Anh có nghĩa là City Hall, trong tiếng Việt gọi là Tòa Thị Chính.

Thời VNCH thì dinh này được gọi là Tòa Đô Chánh, là nơi làm việc và hội họp của chính quyền thủ đô. Hiện nay, đây là trụ sở UBND thành phố.

Toà nhà ban đầu mang tên Chambre de Commerce (Phòng Thương Mại), được Pháp xây năm 1928 trên đường Quai de Belgique, góc ngã 3 với đường Mac Mahon. Góc đường này sau năm 1955 đổi tên thành Bến Chương Dương – Công Lý. Hiện nay đổi thành Võ Văn Kiệt – Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Toà nhà này được thiết kế theo phong cách tân cổ điển, có chút ảnh hưởng từ cả kiến trúc Chăm và Khơ Me.

Năm 1955, khi quân đội Pháp đã rời Đông Dương, toà nhà này trở thành một trung tâm Hội Nghị và được đặt tên là Hội Trường Diên Hồng, trở thành nơi tổ chức những phiên họp quan trọng thời đệ nhất cộng hoà.

Thời đệ nhị cộng hoà, sau sự thay đổi hiến pháp năm 1967, Quốc Hội chia làm 2 viện, khi Hạ Nghị Viện được đặt ở trụ sở Quốc Hội cũ thì Hội trường Diên Hồng đã trở thành trụ sở Thượng Nghị Viện cho đến năm 1975.

Sau 1975, có một thời gian nơi này trở thành trụ sở của công ty thương mại Imexco. Đến năm 1996, toà nhà được Ủy ban chứng khoán nhà nước tiếp quản.

Palais de Justice (Tòa công lý, nay là Tòa Án thành phố) là tòa nhà lớn thứ 2 do kiến trúc sư người Pháp là Marie-Alfred Foulhoux thiết kế. Ông cũng là người thiết kế Bưu Điện Sài Gòn, Dinh Thượng Thơ, Dinh Gia Long, Tòa nhà Quan Thuế (được sửa lại từ nhà ông Wang Tai, nằm đầu đường Hàm Nghi ngày nay), đều là những công trình đã có từ hơn trăm năm và còn lại đến nay.

Palais de Justice mang phong cách tân cổ điển được xây dựng từ năm 1881 đến 1885, có 2 tầng với hành lang 2 bên và hầm bên dưới, nằm ở góc đường Mac Mahon và la Grandiere (nay là NKKN và Lý Tự Trọng). Cũng vì Tòa Công Lý nằm ở đường này nên sau năm 1955, con đường đi ngang qua được đặt tên là Công Lý, trước khi đổi lại thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa từ năm 1975.

Điểm nổi bật của công trình này là các bức phù điều được kiến trúc sư Jules Bourard thực hiện (Jules Bourard cũng là người xây Nhà Thờ Đức Bà).

Sau năm 1954, Tòa Công Lý trở thành Tòa Án Quốc Gia, sau năm 1975 là Tòa Án Thành Phố.

Tòa nhà có tuổi đời trên 100 năm này nằm trên đại lộ Norodom (đại lộ Thống Nhứt, nay là đường Lê Duẩn), sát bên Nhà Thờ và Bưu Điện, đối diện với Diamond Plaza ngày nay.

Thời Pháp, đây là Cercle des Officiers – Câu lạc bộ Sĩ Quan, thời VNCH, tòa nhà trở thành Trụ sở của Bộ tư pháp. Ngày nay, đây là trụ sở của UBND Quận 1.

Đông Kha – chuyenxua.vn

Lịch sử hình thành và hình ảnh ngày xưa của tỉnh Châu Đốc

Vùng đất Châu Đốc nguyên là đất thuộc Chân Lạp, gọi là Tầm Phong Long (Kompong Long). Năm 1757, vua Chân Lạp là Nặc Tôn (Ang Ton) nhượng đất này cho chúa Nguyễn Phúc Khoát, chúa Nguyễn giao cho Nguyễn Cư Trinh vào và thành lập đạo Châu Đốc cùng với đạo Tân Châu và đạo Đông Khẩu (Sa Đéc).

Châu Đốc mùa lụt

Sau khi vua Gia Long lên ngôi, năm 1805 niên hiệu Gia Long thứ 3, đã đặt lại địa giới hành chính Châu Đốc thuộc trấn Hà Tiên, Châu Đốc lúc này gọi là Châu Đốc Tân Cương. Năm 1808, Châu Đốc thuộc huyện Vĩnh Định, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh, thuộc Gia Định thành. Năm 1815, triều Nguyễn cho xây thành Châu Đốc. Đến 1825, Châu Đốc tách riêng thành Châu Đốc trấn.

Năm 1832, vua Minh Mạng đổi trấn thành tỉnh, phủ Gia Định chia thành Nam Kỳ lục tỉnh, đó là: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, Hà Tiên và An Giang. Như vậy trấn Châu Đốc trước đó đổi thành tỉnh An Giang, lỵ sở đặt tại thành Châu Đốc (nay là thành phố Châu Đốc).

Địa bàn tỉnh An Giang dưới thời nhà Nguyễn rất rộng, bao gồm các phần đất mà nay là các tỉnh thành An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, một phần của các tỉnh Đồng Tháp, Bạc Liêu của Việt Nam, và một phần của tỉnh Takeo – Campuchia.

Năm 1867, Pháp chiếm trọn 6 tỉnh Nam kỳ, chia thành 24 hạt thanh tra, trong đó tỉnh An Giang đổi thành hạt thanh tra Châu Đốc.

Trại lính khố đỏ ở Châu Đốc khoảng 1895

Nghị định ngày 5/1/1876 của Thống đốc Nam kỳ chia địa bàn Nam kỳ thành 4 khu vực hành chính, mỗi khu vực có một số tiểu khu hay hạt tham biện, từ đó hạt thanh tra Châu Đốc đổi thành hạt tham biện Châu Đốc.

Rạp hát và chiếu bóng ở Châu Đốc

Nghị định ngày 20/12/1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tên gọi hạt tham biện trên quản hạt Nam kỳ thành tỉnh (province), từ đó hạt thanh biện Châu Đốc thành tỉnh Châu Đốc, tỉnh này tồn tại suốt thời Pháp thuộc.

Nguồn gốc của tên gọi Châu Đốc cho đến ngày nay vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi. Theo chuyên khảo về tỉnh Châu Đốc do Hội nghiên cứu Đông Dương thực hiện năm 1902, có nhiều người cho rằng tên gọi này chỉ là cách nói trại ra từ một tiếng Cam Bốt là Meàth Chruk, có nghĩa là mõm heo, là tên gọi trước đây của cù lao được hình thành bởi Sông Tiền và Sông Hậu, sông Naréa và Sông Vàm Nao. Người Khmer cũng gọi cù lao này là SlaKét (cây cau dại).

Một số người khác cho rằng tên Châu Đốc là ghép từ họ Châu của bà Châu Thị Tế (vợ của Nguyễn Văn Thoại, tức Thoại Ngọc Hầu, người đã cho đào kinh Vĩnh Tế ở An Giang), với chữ Đốc là danh hiệu nhà vua ban cho vị quan đầu tỉnh.

Cũng có ý kiến khác nói rằng theo những ký tự dùng để viết chữ Châu Đốc, thì nguồn gốc thực sự có thể là (Châu), có nghĩa là tỉnh và (Đốc), có nghĩa là bất diệt,…

Một lớp học ở Châu Đốc thập niên 1930

Ngày 22/10/1956, tổng thống VNCH quyết định sáp nhập tỉnh Châu Đốc với tỉnh Long Xuyên để thành lập tỉnh An Giang, tỉnh lỵ đặt tại Long Xuyên, chứ không phải là ở Châu Đốc như tỉnh An Giang thời nhà Nguyễn nữa.

Châu Đốc năm 1965

Châu Đốc thập niên 1960

Châu Đốc năm 1969

Ngày 8/9/1964, Thủ tướng chính quyền mới của VNCH ký Sắc lệnh tái lập tỉnh Châu Đốc kể từ 1/10/1964, trên cơ sở các quận Châu Phú, Tân Châu, An Phú, Tri Tôn và Tịnh Biên của tỉnh An Giang trước đó. Lúc bấy giờ, xã Châu Phú thuộc quận Châu Phú vừa đóng vai trò là quận lỵ quận Châu Phú, đồng thời cũng là tỉnh lỵ tỉnh Châu Đốc trong giai đoạn 1964-1975. Tuy nhiên chính quyền MTDTGPMNVN (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) không công nhận việc tái lập tỉnh Châu Đốc, mà vẫn xem thị xã Châu Đốc trực thuộc tỉnh An Giang.

Khu chợ gia súc họp ở trước chùa Tây An, Châu Đốc năm 1970
Châu Đốc 1973, đường đến biên giới Campuchia

Tịnh Biên, giáp biên giới Campuchia

Chùa Tây An (Núi Sam) năm 1973

Từ sau năm 1975, Châu Đốc vẫn là thị xã của tỉnh An Giang, nhưng tỉnh lỵ của tỉnh An Giang vẫn đặt ở thị xã Long Xuyên (sau đó là thành phố Long Xuyên) từ năm 1956 cho đến nay.

Từ năm 2015, thị xã Châu Đốc trở thành thành phố, là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang.

Sau đây là những hình ảnh xưa của tỉnh Châu Đốc từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20:

Tháp mộ

Chùa Khmer ở Tri Tôn

Chợ Tịnh Biên tỉnh Châu Đốc thâp niên 1920

Những người bán nồi đất ở chợ Châu Đốc

Trường của người Chăm ở Châu Đốc

Trường Pháp Việt ở Châu Đốc

Một số “nhà làng” ở Châu Đốc, thường gọi tên khác là “nhà việc”, đây có thể là trụ sở hành chính cấp làng.

Nhà làng Long Phú thuộc tổng An Thành

Thời Pháp thuộc, tỉnh Châu Đốc có 10 tổng, dưới tổng chia thành các làng.

Nhà làng An Thạnh thuộc tổng Qui Đức

Nhà làng Châu Phú thuộc tổng Châu Phú

Hình khác của Nhà làng Châu Phú

Tượng Phật tại Bạch Vân tịnh xá, Núi Sam

Đền Hồi giáo trong làng Chăm

Học trò tại quận Tịnh Biên, Châu Đốc

Dệt xà rông
Nhà Lê Công ở Châu Đốc

Ngày nay, đây là phủ thờ của dòng họ Lê Công, nằm trên đường Lê Lợi – Châu Đốc, mặt quay ra ngã ba sông về hướng Tân Châu.

Bên trong nhà Lê Công

Theo ghi chép của gia tộc Lê Công thì dòng họ này đã có mặt tại trấn Châu Đốc (nay là thị xã thuộc tỉnh An Giang) từ những ngày đầu khẩn hoang mở đất (từ khoảng năm 1785-1837). Qua nhiều đời tiếp nối khai phá khẩn hoang đất Châu Đốc, họ Lê Công đã có nhiều công lao đáng kể trong việc hiến đất, xây dựng trường học, chợ và nhà thương từ khi còn là trấn Châu Đốc cho đến thời Pháp thuộc.

Ngôi nhà thờ họ Lê Công được khởi công từ năm 1908 và hoàn thành sau bốn năm xây dựng (1912) trong khuôn viên khoảng một mẫu. Bao quanh khu đất là hàng rào song sắt, với hai cổng chính nằm phía trước sân. Phía trước có sân trồng cây kiểng quý và hoa phong lan. Dáng vẻ kiến trúc bên ngoài ngôi nhà trông tựa như những tòa nhà của người Pháp xây dựng ở Việt Nam thời ấy, nhưng bên trong mang đậm kiến trúc thuần Nam bộ.

Khu lăng mộ Thoại Ngọc Hầu ở Châu Đốc

Khu lăng mộ của ông quan Nguyễn Văn Thoại, tức Thoại Ngọc Hầu, trấn thủ Định Tường từ năm 1808. Từ năm 1813, ông lãnh chức bảo hộ Cao Miên, nên sau này cũng được gọi là Bảo hộ Thoại. Năm 1813, ông nhậm chức trấn thủ Vĩnh Thanh, rồi 1821 là thống chế bảo hộ Cao Miên, kiêm án thủ Châu Đốc đồn, kiên quản trấn Hà Tiên.

Khu lăng mộ Thoại Ngọc Hầu ở Châu Đốc

Thoại Ngọc Hầu là người đã tập hợp lưu dân, khai sơn khẩn đất, phát triển nông nghiệp trong vùng ông cai quản. Nhờ vậy những vùng hoang hóa, rừng rậm không người lui tới trở thành những vùng ruộng đất tốt tươi, con người tập trung sinh sống hòa bình, sung túc.

Đặc biệt, ông là người tổ chức đào 2 kênh Thoại Hà và Vĩnh Tế, có ý nghĩa quan trọng về giao thông và thương mại, góp phần phát triển vùng đất An Giang suốt 200 năm qua.

Khu lăng mộ này gồm có mộ Thoại Ngọc Hầu và người vợ cả Châu Thị Tế, vợ thứ Trương Thị Miệt, cùng các gia nhân. Khu mộ được chính quyền thuộc địa trùng tu năm 1888.

Khu lăng mộ Thoại Ngọc Hầu ở Châu Đốc

Ngày nay, khu lăng mộ này vẫn còn và được chăm sóc chu đáo.

Nhà bảo sanh ở Châu Đốc

Cầu qua kinh ở Tri Tôn

Trường tiểu học nam sinh Châu Đốc

Hình ảnh Châu Đốc thời điểm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 (được chụp trong khoảng thời gian 1895-1905, đa số là vào năm 1902):

Một số hình ảnh khác của Châu Đốc thập niên 1920:

Một dãy nhà trong bệnh viện Châu Đốc thập niên 1920

Nhân viên trong bệnh viện Châu Đốc 100 năm trước

Đông Kha – chuyenxua.vn
Hình ảnh: manhhai flickr

Lịch sử hình thành và hình ảnh ngày xưa của Vĩnh Long

Vùng đất Vĩnh Long có một vị thế đặc biệt của vùng đồng bằng Sông Cửu Long, nằm ngay chính giữa hai nhánh sông chính của sông Cửu Long là sông Tiền và sông Hậu, là nơi khởi nguồn của sông Cổ Chiên – một nhánh của Mekong.

Phía Bắc của Vĩnh Long giáp với Mỹ Tho, Đông giáp Bến Tre, phía Nam giáp với Trà Vinh và Cần Thơ, còn phía tây là tỉnh Sa Đéc xưa, nay thuộc Đồng Tháp. Từ tỉnh lỵ của Vĩnh Long đến Sài Gòn là khoảng cách 128km.

Tỉnh Vĩnh Long có 3 nguồn nước chính từ 3 con sông lớn đi qua, đó là sông Tiền, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên, ngoài ra còn có vô số rạch và kinh đào xẻ ngang xẻ dọc khắp tỉnh. Những con rạch chính là Mang Thít, Sông Ngang, Long Hồ, Bà Kè, Vũng Liêm, Bà Phong, Cái Cá, Cái Cau. Sau khi Vĩnh Long là là thuộc địa của Pháp, chính quyền tỉnh đã cho đào nhiều con kinh để nối liền các con rạch với nhau, như là Kinh Cái Cau, kinh Chà Và, kinh Bocquet, kinh Ông Me, kinh Bưng Trường, Trà Ngoa, Huyên Thuyền… Những kinh rạch này đóng vai trò quan trọng trong việc tháo nước và dẫn nước để canh tác.

Về khí hậu của vùng đất Vĩnh Long xưa, trong cuốn chuyên khảo về tỉnh Vĩnh Long do hội nghiên cứu Đông Dương thực hiện năm 1911 đã ghi lại như sau:

“…một năm có 2 mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa, theo các đợt gió mùa xen kẽ. Gió mùa Đông – Bắc, tương ứng với mùa khô, kéo dài từ tháng 11 đến tháng tư. Mùa mưa bắt đầu với gió mùa Tây – Nam vào tháng 5 và kết thúc vào giữa tháng 11. Nhiệt độ cao và thay đổi từ 20 tới 30-32 độ C, nhiệt độ thấp nhất là vào đầu mùa khô, tháng 12 và tháng giêng, giao thời giữa gió mùa Đông – Bắc và gió mùa Tây – Nam là thời gian nóng nhất trong năm.

Tỉnh Vĩnh Long là vùng đất đặc biệt thấp và ẩm, nên đất canh tác chỉ thích hợp với việc trồng lúa. Sản lượng gạo trồng tại đây lớn và không ngừng gia tăng, chất lượng gạo cũng khá được ưa chuộng”.

Về địa hình, phần chuyên khảo này cũng cho biết Vĩnh Long không có rừng và núi, tuy nhiên về hướng Trà Vinh, người ta thấy có một số giồng (đất cát và cao hơn ruộng một chút), như giồng An Nhơn, giồng Thủ Bá, giồng Gòn, giồng Cô Hon.

Lịch sử vùng đất Vĩnh Long gắn liền với sự hình thành của phương Nam. Năm 1698, khi Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược, toàn bộ vùng đất mới phương Nam chính thức trở thành một đơn vị hành chính mang tên phủ Gia Định.

Năm 1714, đời chúa Nguyễn Phúc Chu, lúc này Vĩnh Long là trung tâm của châu Định Viễn, bao gồm một phần của Bến Tre ở mạn trên và Trà Vinh ở mạn dưới thuộc Long Hồ Dinh.

Năm 1732, chúa Nguyễn đã lập ở phía nam dinh Phiên Trấn đơn vị hành chính mới là Dinh Long Hồ, Châu Định Viễn, đất Vĩnh Long thuộc Dinh Long Hồ.

Năm 1779, đổi tên thành Hoằng Trấn dinh. Giai đoạn từ năm 1780 đến năm 1805, đổi thành Vĩnh Trấn, năm 1806, Vĩnh Trấn được đổi thành Trấn Vĩnh Thanh.

Cái tên Vĩnh Long chính thức xuất hiện từ năm 1832, khi vua Minh Mạng đổi tên Vĩnh Thanh thành Vĩnh Long.

Về ý nghĩa của tên gọi Vĩnh Long, đó là chữ Vĩnh trong chữ vĩnh viễn, vĩnh hằng, nghĩa là “mãi mãi”; Long có nghĩa là long trọng, nghĩa là “thịnh vượng, giàu có”. Tên Vĩnh Long thể hiện mong muốn nơi đây luôn luôn được thịnh vượng.

Từ thời điểm năm 1832 trở về sau, Vĩnh Long là một trong 6 tỉnh Nam kỳ, được gọi là Nam kỳ lục tỉnh dưới triều Nguyễn, cho đến khi tất cả 6 tỉnh này trở thành thuộc địa của Pháp từ năm 1867.

Cũng vào giai đoạn này, có một nhân vật lịch sử gắn liền với đất Vĩnh Long và có ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh của “Nam kỳ lục tỉnh”, đó là cụ Phan Thanh Giản, người được Hội nghiên cứu Đông Dương (vào đầu thế kỷ 20) mô tả là cương trực và tính khí mạnh mẽ.

Phan Thanh Giản sinh năm 1796 ở Vĩnh Long, đỗ tiến sĩ đầu tiên ở Nam kỳ, làm thị lang bộ Hộ, rồi thị lang bộ Binh, thượng thư bộ Hình, thượng thư bộ Lại, thượng thư bộ Binh. Năm 1862, Phan Thanh Giản được triều đình Huế cử làm Chánh sứ nghị hòa với Pháp ở Gia Định, ký hiệp ước nhượng 3 tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa cho Pháp. Vì việc này, ông bị giáng làm Tổng đốc Vĩnh Long, và cũng vì vậy mà cho đến nay công – tội của ông vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Sau đó Phan Thanh Giản được phụ chức để làm chánh sứ sang Pháp, thăng Thượng thu bộ Hộ, sau đó làm Kinh lược đại thần đến trông coi 3 tỉnh còn lại của Nam kỳ là Hà Tiên, Vĩnh Long, An Giang. Năm 1867, Pháp lại kéo đến đòi 3 tỉnh này, Phan Thanh Giản không cản được, chọn cách quyên sinh để tỏ lòng trung liệt.

Hình vẽ mô tả sự kiện ở Vĩnh Long năm 1867, năm Pháp chiếm được Vĩnh Long và trọn vẹn 5 tỉnh Nam kỳ khác

Vĩnh Long 1867

Trong cuốn chuyên khảo về Vĩnh Long của hội nghiên cứu Đông Dương thực hiện năm 1911, Nhà xuất bản Trẻ tái bản năm 2017, đã nói về cụ Phan Thanh Giản như sau:

“Khi 3 tỉnh miền Tây bị chiếm đóng (năm 1867), Phan Thanh Giản đã là một cụ già ngoài 70 tuổi. Trong suốt cuộc đời dài làm quan, ông đã luôn phục vụ đất nước của mình với một lòng tận tụy và vô tư lợi tuyệt đối. Biến cố định mệnh chấm dứt cuộc đời của cụ là một trong những bất công của số mệnh mà chỉ có những tâm hồn lớn mới có thể chịu đựng không suy suyển. Cụ nhìn tương lai, những khiển trách của nhà vua về những lỗi lầm tuy không thuộc trách nhiệm của cụ và cụ vẫn muốn tránh, những chỉ trích và lên án đầy ác tâm của các kẻ thù chánh trị của cụ, nguy cơ đánh mất danh dự của mình, tất cả những thứ này, cụ đã nhìn với một tâm hồn kiên cường và bình tĩnh. Cụ đã bước ra khỏi đó, vĩ đại như người xưa. Sau khi chuẩn bị quan tài cho mình và sau khi viết một bức thư dài và cảm động gửi đô đốc de Lagrandiere, cụ cho gọi gia đình đã được cụ triệu tập về Vĩnh Long, long trọng khuyên nhủ các con không được phụ vụ Pháp, mà là sống an bình tại làng của họ, và ra lệnh phải giáo dục các cháu như người Pháp, đoạn, trước mắt mọi người trong gia đình, cụ uống một liều thuốc cực mạnh.

Đô đốc de Lagrandiere đã viết cho người con trai cả của cụ một bức thư phân ưu và ra lệnh đặt quan tài trên một chiếc ghe lớn, được thuyền kéo tới tận nơi cụ sinh ra ở làng Bảo Thạnh, gần cửa Ba Lai ở Bến Tre. Một đơn vị quân đội Pháp làm lễ mặc niệm cụ trước sự hiện diện của đông đảo dân chúng. Mộ của cụ, thật giản dị, mang tấm bia khắc chữ: Lương Khê Phan Tao nông chi mộ, nghĩa là “Tại nơi Lương Khê này, có mộ của cụ nông dân họ Phan”.

Sau khi Vĩnh Long thuộc về Pháp, hạt thanh tra Định Viễn được thành lập, lỵ sở đặt ở Vĩnh Long. Quyết định ngày 16/8/1867 đổi tên hạt thành tra Định Viễn thành hạt thanh tra Vĩnh Long.

Vĩnh Long 100 năm trước

Nghị định ngày 5/1/1876 của Thống đốc Nam kỳ chia địa bàn Nam kỳ thành 4 khu vực hành chính, mỗi khu vực có có một số tiểu khu hay hạt tham biện, hạt thanh tra Vĩnh Long đổi tên thành hạt tham biện Vĩnh Long.

Tòa tham biện Vĩnh Long

Nghị định ngày 20/12/1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tên gọi hạt tham biện trên quản hạt Nam kỳ là Tỉnh (Province) kể từ ngày 1/1/1900, từ đó hạt tham biện Vĩnh Long đổi thành tỉnh Vĩnh Long.

Bungalow Vĩnh Long năm 1930, nay là khách sạn Cửu Long

Từ năm 1951, tỉnh Vĩnh Long có thời gian ngắn đổi tên thành tỉnh Vĩnh Trà, đến 1954 thì chính quyền VNCH đổi lại thành Vĩnh Long như cũ.

Đầu năm 1976, Vĩnh Long đã sáp nhập với Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long, nhưng đến ngày 26 tháng 12 năm 1991 lại tách ra thành hai tỉnh riêng như cũ. Khi tách ra, tỉnh Vĩnh Long, gồm thị xã Vĩnh Long và 5 huyện: Bình Minh, Long Hồ, Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm.

Ngày 10 tháng 4 năm 2009, thành lập thành phố Vĩnh Long trực thuộc tỉnh Vĩnh Long, trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính thuộc thị xã Vĩnh Long cũ.

Một số hình ảnh Vĩnh Long xưa:

Tháp Phan Thanh Giản ở ngã 3 Cần Thơ, là cửa ngõ của Vĩnh Long

Trước năm 1975 khi bắt đầu vào trung tâm Vĩnh Long sẽ bắt gặp ngay ngọn tháp nằm sừng sững ở ngã ba Nguyễn Huệ (tên gọi khác là ngã ba Cần Thơ). Trên ngọn tháp bốn mặt này có một hàng chữ Hán, dịch nghĩa là: “Tiền Triều Đại Thần Phan Thanh Giản”.

Ngọn tháp này mang tên tháp Phan Thanh Giản.

Phan Thanh Giản là vị quan Kinh Lược Sứ đất Nam Kỳ của triều Nguyễn, luôn luôn trung thành với chủ nghĩa: “Trung Thần Bất Sự Nhị Quân”.

Trước đó ở vi trí ngã tư đường Phan Thanh Giản (nối liền với đường Lê Thái Tổ) và đường Lê Lai, ngay phía trước mặt Tòa Hành Chánh tỉnh Vĩnh Long (nay là UBND tỉnh Vĩnh Long) có một bức tượng bán thân của Phan Thanh Giản bằng đồng đen.

Đường nằm ngang là Lê Lai, đi về bên phải khoảng 100m là Tòa Hành Chánh tỉnh Vĩnh Long (nay là UBND tỉnh Vĩnh Long)

Sau Tết Mậu Thân, bức tượng được mang về thờ tại Văn Thánh Miếu, nằm trên đường từ Vĩnh Long sang Vĩnh Bình. Thay vào đó thì ngọn tháp Phan Thanh Giản được dựng lên tại ngã ba Nguyễn Huệ – Lê Thái Tổ – QL4.

Đường Lê Thái Tổ, đi về phía ngã 3 Cần Thơ, chính giữa là tháp Phan Thanh Giản nhìn từ phía trung tâm. Bên trái là bến xe Vĩnh Long, chợ Long Châu, quẹo trái là đường Nguyễn Huệ đi Cần Thơ, đi thẳng là quốc lộ 4 đi Sa Đéc. Bên phải là khách sạn Thái Bình

Tháp Phan Thanh hình khối tháp tứ diện, đáy to đỉnh nhỏ, kiến trúc theo lối những kim tự tháp, bốn mặt đều quay ra đường lộ. Từ đàng xa phía cầu Tân Hữu, cầu Tân Bình hoặc dốc cầu Lộ mọi người đều nhìn thấy bóng dáng của ngọn tháp. Mặt tháp về phía đại lộ Nguyễn Huệ có gắn hai tấm bia bằng đá cẩm thạch vân trắng. Một tấm ghi chức tước, một tấm ghi sơ lược về tiểu sử cụ Phan Thanh Giản. Quanh ngọn tháp có một vòng rào bằng những trụ xi măng màu xám, hình những khẩu đại bác thuở xưa. Tháp Phan Thanh Giản bị đập bỏ vào tháng 5-1975.

Tháp Phan Thanh Giản nhìn từ trên cao. Bìa trái ở góc trên của hình là Nhà Thờ Vĩnh Long

Nhắc đến đất Vĩnh, không thể không nhắc đến ngôi trường Tống Phước Hiệp đã gắn bó với nhiều thế hệ. Đây là trường trung học lớn nhất tỉnh Vĩnh Long, ở địa chỉ số 106 Gia Long, gần ngã 3 sông Long Hồ – sông Cổ Chiên. Ngày nay ngôi trường này đã đổi tên thành Trường Trung học phổ thông Lưu Văn Liệt, và con đường Gia Long đằng trước trường nối dài với đường Tống Phước Hiệp cũng đổi tên thành đường 1/5 và 30/4.

Ngôi trường này đặt đặt theo tên của Tống Phước Hiệp từ năm 1961, là tên của danh tướng thời chúa Nguyễn đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Vĩnh Long.

Không ảnh nhìn về phía ngã 3 Cần Thơ. Bên trên là sông Cổ Chiên. Đường dọc hình là đại lộ Nguyễn Huệ đi về phía ngã 3 Cần Thơ, bên phải là đường Lê Thái Tổ đi về phía trung tâm Vĩnh Long. Khu nhà hình chữ nhật màu trắng ở giữa hình là trường Sư Phạm và trường Trung học Kỹ thuật Vĩnh Long, nay là trường Cao Đẳng Vĩnh Long và trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Vĩnh Long

_

Hình ảnh khác của đường Nguyễn Huệ

_

Khu vực trường Trung học Kỹ Thuật Vĩnh Long trên đường Nguyễn Huệ

_

Sân vận động nằm sát bên trường Sư Phạm

_

Một góc ảnh khác của ngã 3 Cần Thơ. Bên trái là đại lộ Nguyễn Huệ đi Cần Thơ

_

Đường Lê Thái Tổ đi về phía trung tâm Vĩnh Long bên tay trái, bên phải là ngã 3 Cần Thơ. Khối nhà màu trắng là Nhà Thờ Vĩnh Long

_

Nhà thờ Vĩnh Long trên đường Lê Thái Tổ

_

Nhà thờ Vĩnh Long

_

Chợ Long Châu ở gần ngã 3 Cần Thơ

_

Đường Lê Thái Tổ đoạn từ ngã 3 Cần Thơ về phía trung tâm Vĩnh Long. Phía cuối đường là vào cua bên trái để lên cầu Lộ để qua đường Phan Thanh Giản (nay là đường 3/2)

_

Hình này được chụp cùng 1 thời điểm với hình bên trên, người chụp đứng cùng 1 vị trí, nhìn về hướng ngược lại, tức là đường Lê Thái Tổ nhìn về phía ngã 3 Cần Thơ

_

Cầu Lộ bắt qua rạch Cái Ca, nối đường Lê Thái Tổ và Phan Thanh Giản

_

QL4, từ ngã 3 Cần Thơ đi về phía Sa Đéc và Bắc Mỹ Thuận (nay là cầu Mỹ Thuận). Phía trên hình là Cồn Chim

_

Đường ven sông Cổ Chiên, bên phải là cải huấn, nay là Viện Bảo Tàng. Bên trái hình là bến Phà An Bình trên đường Phan Bội Châu. Phía xa xa là Công Quán (Bungalow Vĩnh Long), nay là khách sạn Cửu Long

_

Công Quán, còn được gọi là Bungalow Vĩnh Long, vốn là câu lạc bộ sĩ quan Pháp. Sau năm 1954, Bungalow trở thành khách sạn sang trọng, tầng trệt mở nhà hàng restaurent, bán hải sản và thức ăn đặc sản của địa phương

_

Bên phải hình là Bungalow Vĩnh Long

_

Công Quán dịp Mậu Thân 1968

_

Đường Phan Bội Châu, tường rào phía trước trại cải huấn. Bên trái là Công viên dọc bờ sông Cổ Chiên

_

Ty cảnh sát nằm ở giữa đường Phan Bội Châu nối với Gia Long

_

Khu phố chợ Vĩnh Long sát bờ sông, đường Gia Long

_

Dãy nhà khu chợ Vĩnh Long trên đại lộ Gia Long

_

Ngã 3 đường Gia Long – Lê Văn Duyệt, đi một chút nữa sẽ gặp trường Tống Phước Hiệp ở bên tay phải. Ngày nay đoạn này đổi tên thành 30/4 – Hoàng Thái Hiếu

_

Khu vực chợ Vĩnh Long trên đường Gia Long, nằm ở giữa 2 đường Chi Lăng và Bạch Đằng

_

Bên phải là phi trường Vĩnh Long dọc theo QL4, ngày nay là đường Võ Văn Kiệt

_

Cổng vào phi trường Vĩnh Long

_

Chính giữa là trung tâm Vĩnh Long dọc sông Cổ Chiên. Bên trái là rạch Long Hồ (nay là sông Long Hồ), bên phải là rạch Cái Ca (nay gọi là sông Cầu Lộ)

_

Không ảnh khu vực Dòng nữ tu và Cô nhi viện Mục Tử Nhân Lành (Good Shepherd Convent and Orphanage)

_

Sân trong Dòng nữ tu Mục Tử Nhân Lành tại Vĩnh Long

Một số hình ảnh khác của Dòng nữ tu Mục Tử Nhân Lành:

_

_

_

_


__

_

_

_

Sông Long Hồ đổ ra sông Cổ Chiên. Đường dọc sông là Phan Bội Châu nối với Gia Long (nay là đường 1/5 và 30/4)

_

Cầu Măng Thít (Cầu Mới) trên tỉnh lộ 7A (nay là QL53) bắc qua sông Măng Thít

_

Cầu Măng Thít

_

Bến tàu Vĩnh Long

_

Khu vực gần chợ và bến tàu Vĩnh Long

_

Bắc Mỹ Thuận, này là cầu Mỹ Thuận

Một số hình ảnh sông Cổ Chiên:


_

Những hình ảnh khác ở Vĩnh Long xưa:


Một số hình ảnh Vĩnh Long 100 năm trước:

Một góc chợ buôn bán ngoài trời

Tòa án Vĩnh Long

Đường trước Tòa án

_

Trụ sở Hội đồng xã Vĩnh Phước

_

Tòa Thị chính Vĩnh Long, trên đường Tống Phước Hiệp, phía sau lưng là rạch Long Hồ. Ngày nay tòa nhà này là trụ sở UBND TP Vĩnh Long trên đường 30/4

Tòa tham biện Vĩnh Long, sau 1975 là dinh tỉnh trưởng, nay là bảo tàng Vĩnh Long

_

Cầu Thiềng Đức qua rạch Long Hồ, tòa nhòa khuất sau cầu là Dinh tỉnh trưởng

_

Đường dọc rạch Long Hồ, xa xa là cầu Thiềng Đức

_

Bungalow Vĩnh Long

_

Trường Nam tiểu học, nay là trường Tiểu học Nguyễn Du

Trường nữ tiểu học Vĩnh Long

_

Chùa Bà Thiên Hậu ở gần cầu Thiềng Đức

_

Dãy nhà nằm ở gần nhà thờ Vĩnh Long

Garage xe ở Vĩnh Long xưa

Nhà bảo sanh Vĩnh Long

Sở thuế Vĩnh Long

Đông Kha – chuyenxua.vn
Hình ảnh: manhhai flickr

Lịch sử hình thành Đà Lạt và những hình ảnh buổi đầu xây dựng 100 năm trước

Những hình ảnh sau đây được chụp ở Đà Lạt hơn 100 năm trước, vào thời điểm mà phố núi này bắt đầu được gọi bằng những mỹ danh là “thủ đô mùa hè” của Đông Dương, là “đô thị nghỉ dưỡng”, một khu nghỉ mát ở trên cao. Lúc này hàng loạt công trình lớn mới được bắt đầu xây dựng ở Đà Lạt sau khi tuyến xe lửa Đà Lạt – Phan Rang đã đi vào hoạt động được một nửa (từ Phan Rang lên đến Xóm Gòn, giáp với Lâm Đồng hiện nay), giao thông đường bộ cũng thuận tiện hơn bằng việc mở rộng con đường Phan Thiết – Di Linh – Đà Lạt.

Có một sự nhầm lẫn phổ biến khi nói về sự hình thành thành phố Đà Lạt từ thế kỷ 19, đó là hầu hết những câu chuyện về lịch sử Đà Lạt đều có điểm giống nhau, nói rằng cao nguyên Lang Bian được bác sĩ Yersin phát hiện ra vào ngày 21/6/1893. Tuy nhiên thực tế Yersin không phải là người Châu Âu đầu tiên đặt chân đến đây.

Khi vùng đất này chính thức trở thành thuộc địa của Pháp năm 1867, ý thức được sự thiếu hiểu biết về phần lớn lãnh thổ Nam kỳ thuộc quyền quản lý của mình, chính quyền Pháp ở Nam kỳ đã đưa ra hàng loạt các cuộc thám hiểm thăm dò tại Tây Nguyên vào đầu những năm 1880. Chuyến thám hiểm đầu tiên được bác sĩ Paul Neis và trung úy Albert Septans thực hiện năm 1881, họ đã đến cao nguyên Lang Bian, ngược thượng lưu sông Đồng Nai để lên tận vùng đầu nguồn. Sau đó là hàng loạt cuộc thám hiểm khác nữa rồi mới đến chuyến đi của bác sĩ Yersin.

Dù không phải là người đầu tiên, nhưng cuộc thám hiểm của Yersin lên Lang Bian vào năm 1893 có ý nghĩa đặc biệt, có thể xem là tiền đề cho việc khai sinh ra Đà Lạt. Chuyến đi của ông được Bộ giáo dục ở thuộc địa giao cho nhiệm vụ thám hiểm khoa học, đánh giá tiềm năng phát triển và các nguồn lực chưa được khai thác. Ngoài ra Toàn quyền lúc đó là De Lanessan giao cho Yersin nhiệm vụ thực tế hơn: Nghiên cứu phương án làm tuyến đường bộ đi từ Sài Gòn thâm nhập trực tiếp vào xứ sở người Thượng.

Rồi sau đó, một sự kiện quan trọng khác ảnh hưởng sâu sắc đến việc xây dựng Đà Lạt, đó là tình hình bệnh tật của lính Pháp khi phải đối mặt với thời tiết khắc nghiệt của miền nhiệt đới, nhiều bệnh nhân nặng thậm chí phải được thuyên chuyển về lại chính quốc bằng tàu biển để được sống lại trong bầu không khí ôn đới, hy vọng sức khỏe được phục hồi nhanh hơn. Tuy nhiên biện pháp này tốn rất nhiều chi phí nhưng không đạt được hiệu quả như mong muốn, thậm chí có nhiều binh lính phải bỏ mạng trên tàu trong nhiều tháng lênh đênh trên biển vượt đại dương.

Vì vậy, trong nhiệm kỳ của toàn quyền Paul Doumer vào năm 1897, ông truyền đạt đến bác sĩ Yersin về mong muốn của mình là xây dựng một trạm điều dưỡng ở trên núi, nơi các quan chức và kiều dân có thể phục hồi sức lực nhanh chóng. Bác sĩ Yersin đã phản hồi lại rằng cao nguyên Lang Bian mà ông thám hiểm vài năm trước đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện thích hợp để xây dựng một trạm điều dưỡng ở trên núi.

Vùng đất này còn nguyên sơ chưa từng được khai thác nên rất thuận lợi để người Pháp xây dựng một thành phố thực thụ mang phong cách Châu Âu đúng như ông Doumer mong muốn. Tuy nhiên để được như vậy thì có rất nhiều việc phải làm.

Thời gian sau đó, việc xây dựng nơi này thành một thành phố nghỉ dưỡng diễn ra khá chậm chạp vì phải cần một ngân sách vô cùng lớn để làm đường giao thông rồi đưa số lượng vật liệu khổng lồ vượt vài trăm ki lô mét lên nhiều quả núi. Lúc đó Đà Lạt vẫn là một vùng sơn cước bị cô lập với thế giới bên ngoài.

Cho đến năm 1910, Đà Lạt vẫn sống trong lay lắt vì ngân quỹ trống rỗng, mọi việc bị đình trệ.

Tình hình bắt đầu có tiến triển hơn kể từ năm 1913, năm mà Đà Lạt được sáp nhập vào khu Di Linh, và toàn quyền Đông Dương lúc đó là Albert Sarraut muốn biến nơi này thành địa điểm nghỉ mát trên cao số một của toàn Đông Dương.

Thời điểm này, người Pháp có mặt ở Đông Dương rất đông đúc, họ ngày càng quan tâm đến nơi nghỉ mát có khí hậu giống ở chính quốc.

Nghị định ngày 6/1/1916 đã chính thức hóa việc thành lập cùng lúc tỉnh Lang Bian và thị xã Đà Lạt, được Toàn quyền Đông Dương quản lý trực tiếp.

Giai đoạn từ thập niên 1920 trở về sau được xem là thời của sự trỗi dậy của một thành phố. Để phục vụ cho số lượng khách du lịch Châu Âu tăng mạnh đến nơi này, toàn quyền Đông Dương lúc đó là Ernest Roume đã ra lệnh xây biệt thự và một khách sạn tráng lệ chưa từng có, khách sạn mang tên Lang Bian Palace, sau này được biết với tên Dalat Palace và vẫn còn cho đến hiện nay. Diện mạo nguyên thủy của Lang Bian mang phong cách cổ điển với các trang trí kiểu nghệ thuật rococo thịnh hành vào thế kỷ 18 ở Pháp. (Diện mạo của Dalat Palace của ngày nay được chỉnh sửa lại từ năm 1943 để nó mang đường nét vuông vắn hiện đại hơn).

Mời các bạn xem lại hình ảnh Lang Bian Palace 100 năm trước:

Khuôn viên ᴄủa Lanɡbian Palaᴄе rộnɡ đến hơn 40 nɡhìn mét vuônɡ, ᴄhunɡ quanh là vườn hᴏa, thảm ᴄỏ, rừnɡ thônɡ. Có thể nói sự đồ sộ ᴄủa Lanɡbianɡ Palaᴄе hᴏàn tᴏàn áρ đảᴏ mọi ᴄônɡ trình ᴄủa Đà Lạt về sau này.

Vàᴏ thuở sơ khai ᴄủa Đà Lạt, Lanɡbianɡ đượᴄ xây dựnɡ ở νị trí quy hᴏạᴄh dành riênɡ, ᴄó rất nhiều lợi thế. Cận ᴄảnh là hồ Xuân Hươnɡ, đồi Cù,… Ở phía xa là dãy núi Lanɡ Bianɡ xanh thẳm. Kháᴄh sạn này ᴄó hệ thốnɡ bậᴄ thanɡ trải dài thеᴏ sườn đồi, từ phía Hồ Xuân Hươnɡ đến tận lối νàᴏ ᴄhính. Chi tiết này làm ᴄhᴏ kháᴄh sạn Palaᴄе thêm phần uy nɡhi, duyên dánɡ mà khônɡ kháᴄh sạn nàᴏ ᴄó đượᴄ.

Khách sạn có 3 tầnɡ với 43 phòng, đượᴄ tranɡ bị đầy đủ tiện nɡhi νà xa hᴏa nhất, như dàn nhạᴄ, rạp ᴄhớp bónɡ, phònɡ khiêu νũ, phònɡ tập thể dụᴄ, sân tеnnis, ᴄỡi nɡựa, νườn rau riênɡ νà một nhà hànɡ Pháp. Nɡᴏài ra ᴄòn 2 phònɡ họp νới sứᴄ ᴄhứa 100 nɡười.

Từ bên trên Langbiang Palace nhìn xuống

Cũng trong thời gian này (đầu thập niên 1920), chính quyền cho đào một cái hồ nhân tạo ngay giữa trung tâm thành phố, và đến nay nó vẫn là một biểu tượng của Đà Lạt, đó là Hồ Xuân Hương ngày nay.

Nhà thủy tạ trên Hồ Xuân Hương

du Lac (Hồ Xuân Hương) khi chưa được mở rộng. Đằng xa là Lang Bian Palace

Một số hình ảnh Chợ Cũ Đà Lạt ở vị trí sau này là Ấp Ánh Sáng:

Những hình ảnh khác của Đà Lạt thập niên 1920:

Nhà thờ Chánh Tòa đầu tiên của Đà Lạt, chỉ tồn tại trong khoảng 2 năm

Năm 1917, một linh mụᴄ ᴄó tên là Niᴄᴏlas Cᴏuνеur đã đến Đà Lạt để tìm kiếm một địa điểm xây dựnɡ một νiện nɡhỉ dưỡnɡ ᴄhᴏ ᴄáᴄ ɡiáᴏ sĩ νà ônɡ đã ᴄhᴏ xây dựnɡ một nhà ɡiáᴏ dưỡnɡ nɡay νị trí sau nhà thờ ᴄᴏn Gà hiện nay. Vàᴏ đầu thánɡ 5 năm 1920, ɡiám mụᴄ Quintᴏn ɡiám quản tổnɡ tòa tại Sài Gòn đã quyết định thành lập Giáᴏ Phận Đà Lạt νà bổ nhiệm linh mụᴄ Frédériᴄ Sidᴏt làm ᴄha sở đầu tiên.

Một trᴏnɡ nhữnɡ νiệᴄ làm quan trọnɡ ᴄủa Cha Sidᴏt là xây dựnɡ một nɡôi thánh đườnɡ. Kíᴄh thướᴄ ᴄủa nɡôi nhà thờ ᴄhánh tòa đầu tiên ᴄủa Đà Lạt này khá khiêm tốn: ᴄhiều dài 24m, rộnɡ 7m νà ᴄaᴏ 5m, xây bên ᴄạnh Dưỡnɡ νiện đã ᴄó trướᴄ đó. Cửa ᴄhính nhà thờ đượᴄ ᴄấu trúᴄ thеᴏ hình νònɡ ᴄunɡ nhọn (ᴏɡiνal), đượᴄ ᴄhạm trổ νà sơn sᴏn thiếp νànɡ kiểu Á Đônɡ. Trên νònɡ ᴄunɡ ᴄửa ᴄhính, ᴄó khắᴄ dònɡ ᴄhữ bằnɡ tiếnɡ La-tinh: “HIC DOMUS EST DEI” (đây là nhà ᴄủa Thiên Chúa).

Nhà thờ Chánh Tòa đầu tiên của Đà Lạt trong dịp Noel cách đây tròn 100 năm

Trên đồi dinh tỉnh trưởng

Dinh tỉnh trưởng Đà Lạt

Biệt thự nghỉ mát của Thống đốc Nam Kỳ (thập niên 1920). Trước 1975 là tòa Hành chánh tỉnh Tuyên Đức. Nay là UBND Tỉnh Lâm Đồng

Sân tennis

Đường vào Dalat từ ngả đèo Mimosa

Bưu điện

Khách sạn ở Đà Lạt 100 năm trước

Cam Ly

Thác Gougah còn có tên gọi là thác Ổ Gà ở Đức Trọng

Trường lycée Yersin

Phía xa là lycée Yersin lúc đang xây

Trường Petit lyceé, sau này là trường tiểu học Yersin

Petit lyceé

Ecole élémentaire de Dalat, nay là trường tiểu học Đoàn Thị Điểm đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa

Bên trong ga Đà Lạt
Dốc trong hình ngày nay là đường Lê Đại Hành, phía xa là đập Ông Đạo đang được xây dựng

 

Tuyến đường xe lửa nối Phan Rang đến Đà Lạt được tiến hành từ năm 1903, đến năm 1916 mới hoàn thành được một nửa và khánh thành tuyến Phan Rang đến đoạn ranh giới Ninh Thuận – Lâm Đồng hiện nay. Đến năm 1932 mới thông tuyến Phan Rang đến Đà Lạt:

Một số tòa nhà nổi tiếng ở Đà Lạt được xây vào thập niên 1930 (90 năm trước):

Khách sạn Du Parc được khánh thành vào năm 1932. Khách sạn mang lối trang trí tinh tế kiểu Pháp, trần nhà cao vợi, sàn gỗ cổ kính. Khách sạn Du Parc đóng cửa sau năm 1975 và mở lại năm 1997 với cái tên Novotel Dalat, đến năm 2010 thì đổi lại tên cũ.

Tòa nhà viện Pasteur Đà Lạt được khởi công xây dựng vào năm 1932 và hoàn thành vào tháng 6 năm 1935. Đến năm 1936, theo đề xuất của bác sĩ Alexandre Yersin, chính quyền Pháp quyết định thành lập Viện Pasteur Đà Lạt, cơ sở cuối cùng trong chuỗi các Viện Pasteur tại Đông Dương. Giống như phần lớn các công trình kiến trúc ở Đà Lạt, Viện Pasteur có bố cục tổng thể theo hình khối nằm ngang ổn định, gắn kết chặt chẽ với mặt đất. Công trình gồm hai tầng, mặt ngoài đối xứng gần như hoàn hảo, được trang trí bởi những cửa sổ kiểu cách đa dạng, một phần tường tầng trệt xây theo lối thô giáp.

Kiến trúc của Viện Pasteur Đà Lạt chịu nhiều ảnh hưởng từ trào lưu kiến trúc mới. Công trình là tổ hợp của những mảng khối hình chữ nhật, các hình khối mạnh mẽ, đường nét đơn giản và rõ ràng. Nhìn từ ngoài vào, mặt chính của viện trang trí một chân dung Louis Pasteur đắp nổi và dòng chữ Institut Pasteur ở phía trên. Mặt đứng của công trình phản ánh trung thực cấu trúc của mặt bằng. Hệ mái bằng có phần tường xây cao hơn mái hắt, một nét mới trong hình thức kiến trúc thời kỳ này. Xung quanh viện bao bọc bởi một số biệt thự, trước đây vốn là nơi ở của các bác sĩ làm việc trong viện.

Nhà ga được người Pháp xây dựng từ năm 1932 đến 1938 thì hoàn thành, là nhà ga đầu mối trên tuyến Đường sắt Phan Rang-Đà Lạt dài 84 km. Nhà ga có phong cách kiến trúc độc đáo, có ba mái hình chóp, là cách điệu ba đỉnh núi Langbiang hoặc nhà rông Tây Nguyên.

Dinh 2 được xây từ năm 1932, là nơi nghỉ dưỡng của toàn quyền Đông Dương

Đông Kha – chuyenxua.vn
Hình ảnh: mahhhai flickr

Những đôi song ca nổi tiếng nhất làng nhạc Sài Gòn trước 1975: Chế Linh – Thanh Tuyền, Hùng Cường – Mai Lệ Huyền, Nhật Trường – Thanh Lan…

Trước năm 1975, làng nhạc miền Nam có rất nhiều đôi song ca nổi tiếng mà đến tận bây giờ khán thính giả vẫn còn nhắc đến như Hùng Cường – Mai Lệ Huyền, Phương Đại – Phương Hồng Quế, Bùi Thiện – Sơn Ca, Mạnh Quỳnh – Giáng Thu, Nhật Trường – Thanh Lan, Chế Linh – Thanh Tuyền, Chế Linh – Thanh Tâm…

Hình thức hát song ca giữa nam và nữ ca sĩ đã xuất hiện từ thập niên 1940,1950 tại các phòng trà ca nhạc Sài Gòn, với những tên tuổi huyền thoại là Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết, Châu Kỳ – Mộc Lan, Mạnh Phát – Minh Diệu, Duy Khánh – Tuyết Mai, nhưng sang đến thập niên 1960 thì hình thức hát song ca mới được phổ biến hơn, thậm chí các nhạc sĩ còn sáng tác nhạc riêng cho các đôi song ca để thu thanh vào dĩa hát.

Cùng điểm lại những đôi song ca nổi tiếng nhất của làng nhạc Sài Gòn, và nghe những bản thu thanh ngày xưa vẫn còn lại.

Nhật Trường – Thanh Lan

Đôi song ca Nhật Trường – Thanh Lan rất được yêu mến với những màn kết hợp với nhau rất ăn ý trong nhiều bản thu âm trong băng dĩa cũng như trên phim ảnh trước 1975.

Ca sĩ – nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh

Nhật Trường và Thanh Lan bắt đầu hát chung với nhau từ cuối thập niên 1960, vào thời điểm mà họ như đến từ 2 thế giới riêng với những dòng nhạc tưởng như không liên qua nhiều đến nhau. Đó là lúc mà Nhật Trường – Trần Thiện Thanh đang ở đỉnh cao của sự nghiệp, có giọng hát truyền cảm chinh phục khán giả với nghệ danh Nhật Trường, cùng nhiều ca khúc nhạc vàng nổi tiếng được ký với tên thật là Trần Thiện Thanh. Trong khi đó Thanh Lan khởi đầu sự nghiệp ca hát từ đầu thập niên 1960, ban đầu là với những bài dân ca, sau đó là tình ca và nhạc tiền chiến.

Ca sĩ Thanh Lan

Tên tuổi của cô đã vụt sáng vào khoảng cuối thập niên 1960 cùng với phong trào nhạc trẻ Sài Gòn lúc bắt đầu phát triển mạnh. Vì vậy có thể nói lúc đó Thanh Lan không chuyên hát nhạc vàng, nhưng sự kết hợp của cô cùng giọng hát Nhật Trường trong nhiều ca khúc nhạc vàng vẫn rất được khán giả yêu thích, đặc biệt là với các ca khúc Trả Lại Em Yêu, Vợ Chồng Quê, Chiều Trên Phá Tam Giang…

Thanh Lan từng chia sẻ rằng cô và Nhật Trường – Trần Thiện Thanh thường xuyên hát và diễn chung trên truyền hình và băng nhạc của trung tâm Tiếng Hát 20 (trung tâm của Nhật Trường thành lập và điều hành). Khi kết hợp cùng Nhật Trường, cô cho biết là cảm thấy rất thoải mái vì đã được nhạc sĩ này soạn tất cả giọng bè cho nữ, chia sẵn câu hát để hát phối hợp. Chính vì vậy họ không cần phải tập luyện nhiều khi đi diễn mà luôn là màn tùy cơ ứng biến rất tự nhiên.

Để khai thác sự ăn khách của đôi song ca Nhật Trường – Thanh Lan, nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh còn tự viết kịch bản, dàn dựng và đạo diễn 2 cuốn phim – nhạc – kịch nổi tiếng là Trên Đỉnh Mùa ĐôngMộng Thường phát sóng trên đài truyền hình hồi đầu thập niên 1970, và 2 nhân vật chính trong các phim dĩ nhiên là Nhật Trường – Thanh Lan. Trong phim họ đã cùng song ca rất nhiều bài hát nổi tiếng như Tình Thiên Thu Nguyễn Thị Mộng Thường, Trên Đỉnh Mùa Đông, Mùa Đông Của Anh, Chiều Trên Phá Tam Giang, Người Chếƭ Trở Về, Anh Không Chếƭ Đâu Em, Kỷ Vật Cho Em…

Trong phim kịch Mộng Thường, ca sĩ Nhật Trường vào vai anh lính biệt động quân Phạm Thái, còn Thanh Lan trong vai nữ tiếp viên hàng không xinh đẹp tên là Mộng Thường. Họ đã bắt đầu một chuyện tình lãng mạn nhưng kết thúc thì rất bi thương.

Còn trong phim kịch Trên Đỉnh Mùa Đông, Nhật Trường vào vai một nhân vật có thật là đại uý mũ đỏ Nguyễn Văn Đương. Trong một lần nghỉ phép về thành đô, anh lính vô tình đụng xe vào cô sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn tên là Nguyễn Thị Lệ (do Thanh Lan đóng) tại hồ Con Rùa. Anh đã tận tình đưa cô về tận nhà cô.

Sau đó, tình cờ hai người gặp lại nhau trên một tiền đồn xa xôi khi Lệ theo đoàn hậu phương đi thăm các quân nhân. Họ phải lòng nhau, nhưng mối tình gặp trắc trở vì người cha khó tính của Lệ. Nhưng bằng tình yêu chân thành, cả hai đã vượt qua để được sống bên nhau, Lệ giã từ mái trường đại học để về làm vợ người quân nhân nghèo, sinh sống trong khu nhà binh. Nhưng định mệnh đau lòng đã cách ngăn, anh lính đã hy sinh và để lại vợ hiền cùng đứa con thơ dại.

Chuyện tình của 2 truyện phim này đều có kết thúc buồn vì sinh ly tử biệt, lấy được rất nhiều nước mắt của khán giả màn ảnh nhỏ ở Sài Gòn lúc đó. Nhật Trường và Thanh Lan không chỉ hát chung rất ăn ý, mà họ đóng phim cùng nhau cũng rất tình cảm, nên đã xuất hiện nhiều tin đồn về tình ái giữa họ. Trong phim kịch, Thanh Lan diễn vai bi nên khóc rất nhiều, và có người nói rằng khi nhìn thấy những giọt lệ đó, Trần Thiện Thanh đã sáng tác bài Người Yêu Tôi Khóc – một ca khúc rất được khán giả yêu thích qua giọng hát Sĩ Phú. Tuy nhiên sau này Thanh Lan đã nhiều lần phủ nhận các tin đồn về tình cảm với Nhật Trường. Cô cho biết:

“Trong giới nghệ sĩ chúng tôi ít khi cặp bồ với nhau lắm. Có lẽ do chúng tôi đã biết quá rõ về nhau nên không còn gì bí mật để lôi cuốn nhau. Thường thì nghệ sĩ lại hay yêu người làm nghề khác”.

Cô cũng nói đùa vui về tin đồn “cặp kè” với Nhật Trường: “Tôi với Nhật Trường không cặp với nhau, chỉ kè thôi, tức là kè nhau trong phim, còn ra đời thì đời ai nấy sống”.

Sau đây, xin mời các bạn nghe lại những bài song ca mà Thanh Lan và Nhật Trường đã hát trong những băng nhạc thu âm trước năm 1975:


Click để nghe Người Ở Lại Charlie


Click để nghe Trả Lại Em Yêu


Click để nghe Chiều Trên Phá Tam Giang


Click để nghe Vợ Chồng Quê


Click để nghe Góa Phụ Ngây Thơ


Click để nghe 


Click để nghe Chuyện Tình Ngưu Lang Chức Nữ


Click để nghe Chuyện Tình Người Làm Thơ


Click để nghe Giận Nhau

Sau năm 1975, Thanh Lan và Nhật Trường cùng ở lại trong nước. Thật trùng hợp là đến năm 1993, bằng những hình thức khác nhau, họ cùng đến Hoa Kỳ và đã tái hợp nhiều lần trên sân khấu. Mời các bạn xem lại 1 trong những tiết mục đó sau đây:


Click để nghe Trên Đỉnh Mùa Đông

Nhât Trường – Trần Thiện Thanh là một trong tứ trụ nhạc vàng, trụ thứ 2 là ca sĩ Chế Linh, rất được yêu thích khi xong ca cùng Thanh Tuyền.

Chế Linh – Thanh Tuyền

Năm 1967, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, giám đốc hãng Continental đề nghị Chế Linh song ca cùng với học trò của ông là nữ ca sĩ Thanh Tuyền nhằm tạo ra sự mới mẻ. Giọng hát trầm mềm mại của Chế Linh kết hợp với giọng ca cao vút, thanh mảnh của Thanh Tuyền đã tạo ra một đôi song ca ăn ý, hoà quyện trong các nhạc phẩm viết về tình yêu đôi lứa, được khán giả chào đón nồng nhiệt.

Bài hát đầu tiên mà đôi song ca này thể hiện là Hái Hoa Rừng Cho Em của nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân, và khi dĩa hát có bài này được tung ra thị trường đã trở nên ăn khách ngoài mong đợi. Chế Linh – Thanh Tuyền trở thành đôi song ca nhạc vàng ăn khách nhất thời đó, hàng loạt nhạc sĩ sáng tác nhạc riêng cho họ.

Hai giọng ca, một cao chót vót, một trầm ấm ngọt ngào đã hòa quyện vào nhau. Nhiều nhạc phẩm sau đó được viết để khai thác sự ăn ý của song ca vàng này, như Tình Bơ Vơ, Ngày Buồn của nhạc sĩ Lam Phương, Đừng Nói Xa Nhau, Con Đường Xưa Em Đi của nhạc sĩ Châu Kỳ.

Mặc dù sau này, Thanh Tuyền song ca với nhiều nam danh ca khác như Duy Khánh, Nhật Trường, Tuấn Vũ…, còn Chế Linh cũng song ca với nhiều nữ ca sĩ, đặc biệt là Thanh Tâm, nhưng khán giả sẽ không thể nào quên sự kết hợp Chế Linh – Thanh Tuyền đã trở thành một huyền thoại.

Chế Linh kế rằng lần đầu tiên gặp Thanh Tuyền là ở nhà của nhạc sĩ Mạnh Phát, khi đó Thanh Tuyền đang được thầy là nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông gửi ăn ở tại gia đình nhạc sĩ Mạnh Phát, được vợ chồng Mạnh Phát xem như con trong nhà. Vì vậy lần đầu tiên Chế Linh gặp nữ ca sĩ, hình ảnh ban đầu không được lung linh, Thanh Tuyền mặc đồ bộ, không sửa soạn nên trông rất nhà quê, làm cho Chế Linh thoạt đầu thấy thất vọng, nhưng khi nghe được giọng hát thì rất bất ngờ.

Thời gian sau đó, Chế Linh – Thanh Tuyền trở thành đôi song ca nhạc vàng ăn khách nhất Sài Gòn, hàng loạt nhạc sĩ sáng tác nhạc riêng cho họ. Tuy nhiên được nửa chừng thì Thanh Tuyền đi lấy chồng, là một sĩ quan bộ binh, không thích vợ đi hát, vì vậy Thanh Tuyền tạm nghỉ hát một thời gian. Vắng Thanh Tuyền, Chế Linh đành tìm các nữ ca sĩ khác để song ca những ca khúc đã được lên kế hoạch trước, như là với Ngọc Tuyền, Giáng Thu… cho đến khi tìm được người song ca ăn ý là ca sĩ Thanh Tâm. Đôi song ca Chế Linh – Thanh Tâm một thời cũng được yêu thích không kém Chế Linh – Thanh Tuyền. Thời gian sau đó thì Thanh Tuyền cũng trở lại với âm nhạc, đó là thời điểm Chế Linh có đến 2 người song ca ăn ý, trước khi Thanh Tâm lấy chồng là nhạc sĩ Bảo Thu và nghỉ hát.

Sau đây, mời các bạn nghe lại những bài hát song ca hay nhất của đôi song ca Chế Linh – Thanh Tuyền.

Nhũng bài thu âm trước 1975:

Hái Hoa Rừng Cho Em (Trương Hoàng Xuân)


Click để nghe Hái Hoa Rừng Cho Em 

Đây là bài hát đầu tiên giới thiệu đôi song ca Chế Linh – Thanh Tuyền, thường bị nhiều người nhầm tên thành Hái Trộm Hoa Rừng (là 4 chữ đầu tiên của bài hát). Sẽ có người thắc mắc rằng hoa ở nơi rừng núi, vì sao lại phải “hái trộm”? Chi tiết này được chính nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân giải thích là vì khi đó ông đang thụ huấn ở quân trường khắc nghiệt. Trong lúc tập luyện, thấy có nhiều cành hoa dại rất đẹp mọc ven quân trường, với ý định sẽ ép hoa trong thư gửi để về người yêu nên anh lính trẻ đã lén hái hoa nhân lúc sĩ quan huấn luyện không để ý. Nếu bị phát hiện không nghiêm túc tập luyện thì sẽ bị phạt nặng, vì vậy mới trở thành “hái trộm hoa rừng…”

Con Đường Xưa Em Đi (Châu kỳ – Hồ Đình Phương)


Click để nghe Con Đường Xưa Em Đi 

Về hoàn cảnh sáng tác bài hát Con Đường Xưa Em Đi, bà Kha Thị Đàng, là vợ của nhạc sĩ Châu Kỳ cho biết con đường đã làm nên cảm hứng cho nhạc sĩ cùng người bạn thân của mình là nhà thơ Hồ Đình Phương viết thành ca khúc “Con Đường Xưa Em Đi” là con một con đường đất nhỏ nằm sau Nhà máy giấy Tân Mai thuộc tỉnh Biên Hoà vào thập niên 1960 (nay là tỉnh Đồng Nai).

Đoạn Cuối Tình Yêu (Chế Linh sáng tác với bút danh Tú Nhi)


Click để nghe Đoạn Cuối Tình Yêu 

Bài hát này được Chế Linh sáng tác dựa theo 4 câu thơ nổi tiếng của thi sĩ Nhất Tuấn:

Anh biết ngày mai em lấy chồng
Ba năm thề hẹn cũng bằng không
Tập thư ngày trước xin trao lại
Để kẻ sang ngang khỏi bận lòng…

Tình Bơ Vơ (Lam Phương)


Click để nghe Tình Bơ Vơ

Thập niên 1960, nhạc sĩ Lam Phương sáng tác khá nhiều bài hát nói về mối tình đơn phương của ông dành cho danh ca Bạch Yến, bao gồm Chờ Người, Tiễn Người Đi, Tình Bơ Vơ… Lúc đó Bạch Yến đã rời Việt Nam để sang Châu Âu du học, vì vậy mà nhạc sĩ đã viết:

Trời vào thu việt Nam buồn lắm em ơi
Mây tím đang dâng cao vời
Mà tình yêu chưa lên ngôi…

Nếu Chúng Mình Cách Trở (Chế Linh sáng tác với bút danh Lưu Trần Lê)


Clìck để nghe Nếu Chúng Mình Cách Trở

Đôi song ca Chế Linh – Thanh Tuyền nổi lên không được bao lâu thì Thanh Tuyền lấy chồng và đi hát rất hạn chế. Chế Linh không còn bạn hát song ca ăn ý nữa và tìm một nữ ca sĩ khác, đó chính là ca sĩ Thanh Tâm (sau này là vợ của nhạc sĩ Bảo Thu). Lúc đó Chế Linh đã sáng tác Mai Lỡ Mình Xa Nhau (với bút danh là Lưu Trần Lê) dành cho đôi song ca Chế Linh – Thanh Tâm. Ca khúc rất ăn khách nên sau đó ông sáng tác thêm Mai Lỡ Mình Xa Nhau 2 với cái tên Nếu Chúng Mình Cách Trở. Đó cũng là thời gian Thanh Tuyền đi hát trở lại và tái hợp với Chế Linh để song ca bài hát này.

Ngày Buồn (Lam Phương)

Một sáng tác rất buồn của nhạc sĩ Lam Phương:

Còn gì nữa đâu mà khóc với sầu.
Còn gì nữa đâu mà buồn với nhớ.


Click để nghe Ngày Buồn

Nói Với Người Tình (Thăng Long – Trúc Sơn)

Bài hát nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Thăng Long bên cạnh bài hát Quen Nhau Trên Đường Về.


Click để nghe Nói Với Người Tình

Đừng Nói Xa Nhau (Châu Kỳ)


Click để nghe Đừng Nói Xa Nhau

Tình Chỉ Đẹp (Thủy Tiên)

Bài hát của nhạc sĩ Huỳnh Anh ký bút danh là Thủy Tiên, dựa theo câu thở nổi tiếng của thi sĩ Hồ Dzếnh trong bài Ngập Ngừng:

Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dở..


Click để nghe Tình Chỉ Đẹp

Tâm Sự Chúng Mình (Song Ngọc – Hồng Vân)


Click để nghe Tâm Sự Chúng Mình

Sau năm 1975 tại hải ngoại, Chế Linh – Thanh Tuyền tái hại và song ca rất nhiều bài, nổi tiếng nhất trong đó là Phút Cuối, Con Đường Mang Tên Em và Mai Lỡ Mình Xa Nhau. Mời các bạn nghe lại:


Click để nghe Phút Cuối


Click để nghe Con Đường Mang Tên Em


Click để nghe Phút Cuối

Khi đôi song ca Chế Linh – Thanh Tuyền đang hát với nhau ăn ý và rất được mến mộ thì Thanh Tuyền đột ngột đi lấy chồng. Chồng Thanh Tuyền là một sĩ quan bộ binh, không thích vợ đi hát, vì vậy Thanh Tuyền tạm nghỉ hát một thời gian. Vắng Thanh Tuyền, Chế Linh đành tìm các nữ ca sĩ khác để song ca những ca khúc đã được lên kế hoạch trước, như là với Ngọc Tuyền, Giáng Thu… cho đến khi tìm được người song ca ăn ý là ca sĩ Thanh Tâm. Đôi song ca Chế Linh – Thanh Tâm một thời cũng được yêu thích không kém Chế Linh – Thanh Tuyền.

Chế Linh – Thanh Tâm

Chế Linh kể lại rằng trong một lần đến phòng trà Nam Đô của nhạc sĩ Bảo Thu, nơi danh ca Thanh Tâm hát thì ông nghe được giọng ca này và muốn ngỏ lời song ca cùng. Chất giọng khỏe và ấm của danh ca Chế Linh rất thích hợp với làn hơi trong trẻo và tình cảm của Thanh Tâm. Trước năm 1975, đôi song ca Chế Linh – Thanh Tâm đã cùng nhau song ca các bài hát nổi tiếng: Ngày Ấy Mình Quen Nhau, Căn Nhà Dĩ Vãng, Mai Lỡ Mình Xa Nhau, Tình Yêu Cách Biệt, Tình Đầu Dang Dở, Dù Anh Nghèo,…trong các băng, dĩa nhạc của Dĩa Hát Việt Nam, băng Premier,…


Click để nghe Chế Linh – Thanh Tâm hát Ngày Ấy Mình Quen Nhau

Tuy nhiên đến năm 1973, ca sĩ Thanh Tâm kết hôn cùng nhạc sĩ Bảo Thu thì ngưng đi hát cho đến sau năm 1975. Có một sự trùng hợp là đúng vào thời điểm đó, ca sĩ Thanh Tuyền đã đi hát trở lại, rồi tái hợp để song ca cùng Chế Linh.

Nhạc sĩ Bảo Thu cho biết ông sáng tác ca khúc Cho Tôi Được Một Lần năm 1967, nội dung bài hát là mơ về một ngày được sắm vai chú rễ: “Cho tôi được một lần nhìn hoa giăng đầu ngõ. Một lần cài hoa đỏ lên tim…”, nhưng đến năm 1973, ông mới có cơ hội tặng bài hát này cho vợ mình là ca sĩ Thanh Tâm.

Đám cưới nhạc sĩ Bảo Thu và ca sĩ Thanh Tâm

Mời bạn nghe một số ca khúc khác của song ca Chế Linh – Thanh Tâm:


Click để nghe Chế Linh – Thanh Tâm hát Căn Nhà Dĩ Vãng


Click để nghe Chế Linh – Thanh Tâm hát Truyện Tình Nghèo


Click để nghe Chế Linh – Thanh Tâm hát Tình Yêu Cách Trở


Click để nghe Chế Linh – Thanh Tâm hát Mai Lỡ Mình Xa Nhau


Click để nghe Chế Linh – Thanh Tâm hát Dù Anh Nghèo


Click để nghe Chế Linh – Thanh Tâm hát Kỷ Vật Tình Yêu


Click để nghe Chế Linh – Thanh Tâm hát Ước Mộng Đôi Ta


Click để nghe Chế Linh – Thanh Tâm hát Tình Nghèo Có Nhau


Click để nghe Chế Linh – Thanh Tâm hát Tình Đầu Dang Dở


Click để nghe Chế Linh – Thanh Tâm hát Chủ Nhật Buồn

Hùng Cường – Mai Lệ Huyền

Làng nhạc Sài Gòn trước 1975 có rất nhiều đôi song ca được yêu thích, nhưng có lẽ không đôi song ca nào thành công và được mến mộ nhiều như Hùng Cường – Mai Lệ Huyền – Cặp đôi “sóng thần” của kích động nhạc.

Gọi Hùng Cường và Mai Lệ Huyền là “cặp đôi sóng thần”, đó là vì chỉ trong một thời gian ngắn, độ nổi tiếng của đôi song ca này như là một cơn lốc cuốn giới trẻ đô thành vào vòng xoáy của những bước nhảy sôi động cùng những bài nhạc thời trang mang đậm dấu ấn của thời cuộc được sáng tác riêng cho họ, như là Gặp Nhau Trên Phố, Vòng Hoa Yêu Thương, Hai Trái Tim Vàng, Mắt Xanh Con Gái, Làm Quen Với Lính…

Hùng Cường lớn hơn Mai Lệ Huyền đến 10 tuổi, có thể xem là 2 thế hệ ca sĩ. Bởi vì khi Mai Lệ Huyền được các nhạc sĩ Trần Trịnh, Nhật Ngân phát hiện từ phố núi và đưa về Sài Gòn để lăng xê, thì lúc đó Hùng Cường đã nổi tiếng vang dội không chỉ trong lĩnh vực âm nhạc, mà còn ở sân khấu cải lương, kịch nghệ và điện ảnh. Người đầu tiên có sáng kiến kết hợp Mai Lệ Huyền sonhg ca với Hùng Cường là nhạc sĩ Khánh Băng, vào lúc ban nhạc Khánh Băng – Phùng Trọng mời cả 2 hát đại nhạc hội. Ca khúc đầu tiên được nhóm sáng tác Trịnh Lâm Ngân viết riêng cho đôi song ca này là Gặp Nhau Trên Phố. Bài hát này sau đó được ban nhạc Trần Trịnh hòa âm trong bản thu của hãng đĩa Việt Nam, phát hành cùng lúc với nhạc bản có hình bìa thật khiêu gợi của Mai Lệ Huyền đã bán được hàng chục ngàn bản.


Click để nghe Hùng Cường – Mai Lệ Huyền hát Gặp Nhau Trên Phố trong dĩa nhựa

Sau Gặp Nhau Trên Phố, Trịnh Lâm Ngân viết thêm 1 loạt bài khác là Vòng Hoa Yêu Thương, Hai Trái Tim Vàng, Mắt Xanh Con Gái, Làm Quen Với Lính… đều rất được yêu thích trong giới trẻ Sài Gòn đầu thập niên 1970.

Ngoài Trịnh Lâm Ngân, nhiều nhạc sĩ khác như Khánh Băng, Y Vũ, Hoàng Thi Thơ, Tuấn Lê, Giao Tiên, Hùng Linh, Viễn Chinh… cũng sáng tác nhiều ca khúc như Say, Lính Dù Trên Điểm, Người Lính Chung Tình, Ghét Anh Lắm, Thiên Duyên Tiền Định, Túp Lều Lý Tưởng, Xây Nhà Bên Suối, Hờn Anh Giận Em… dành riêng cho cặp sóng thần Hùng Cường – Mai Lệ Huyền và đều rất thành công.

Đôi song ca Hùng Cường – Mai Lệ Huyền không phải là những người đầu tiên hát thể loại nhạc được gọi là “kích động nhạc” này, nhưng đã là người đã đưa thể loại này lên một đỉnh cao chói lọi, chinh phục các tầng lớp khán giả, từ giới trẻ đô thành trong các vũ trường cho đến các miền biên ải xa xôi, đặc biệt là được hàng trăm ngàn quân nhân miền Nam yêu mến.


Click để nghe các bài song ca của Hùng Cường – Mai Lệ Huyền

Vì đã biểu diễn ăn ý trên sân khấu trong những bài ca yêu đương rất tình cảm, có nhiều tin đồn về mối quan hệ giữa Hùng Cường và Mai Lệ Huyền, tuy nhiên trong một lần trả lời phỏng vấn, Mai Lệ Huyền nói rằng nghệ sĩ hát đôi trên sân khấu thì bắt buộc phải thật tình tứ, nhưng sau cánh gà có nhiều khi còn “cự nự” nhau, và vì quá thân thiết nên không thể trở thành tình nhân được. Cô cũng nói thêm rằng nghệ sĩ, đồng nghiệp không nên yêu nhau vì rất dễ tan vỡ.

“Anh ấy “chẳng thể có dư thời giờ để yêu tôi”, vì chung quanh anh ấy có quá nhiều người đẹp ái mộ, và chúng tôi chỉ “gần nhau” khi lên sân khấu, hát xong rồi anh ấy “dzọt lẹ”, còn tôi thì cũng “dzông” ngay. Giữa tôi và anh Hùng Cường là một mối thâm tình tốt, hiểu tính tình nhau, nên vẫn hát bên nhau cho đến lúc anh ấy nhắm mắt, chứ nếu yêu nhau thì đã “vãn tuồng” từ lâu rồi” (trích lời Mai Lệ Huyền)

Ngày 29/4 năm 1975, Mai Lệ Huyền rời Việt Nam sống cuộc đời ly hương, Hùng Cường ở lại. Tròn 5 năm sau đó họ mới được tái hợp trên sân khấu hải ngoại trong một chương trình của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ mà bạn có thể xem lại ở bên dưới:


Click để nghe Hùng Cường tài hợp Mai Lệ Huyền tại hải ngoại

Sau đây, mời các bạn nghe lại những bản song ca thu âm trước 1975 của đôi song ca được mến mộ bậc nhất này:


Click để nghe Hai Đứa Vui Xuân


Click để nghe Vòng Hoa Yêu Thương


Click để nghe Cho Anh Xin Lỗi


Click để nghe Giận Hờn Mới Vui


Click để nghe Tình Yêu Và Thân Thế


Click để nghe Làm Quen


Click để nghe Cớ Sao Em Buồn


Click để nghe Ghen Bởi Vì Yêu


Click để nghe Cưới Em

Hoàng Oanh – Trung Chỉnh

Hoàng Oanh là một trong những nữ ca sĩ nổi tiếng nhất của nhạc vàng. Ngoài ra, cô còn rất được yêu thích khi song ca cùng ca sĩ – bác sĩ quân y Trung Chỉnh.


Click để nghe song ca Hoàng Oanh – Trung Chỉnh trước 1975

Ca sĩ Trung Chỉnh tên thật là Huỳnh Văn Chỉnh, sinh năm 1943 tại Mỹ Tho, tham gia hoạt động văn nghệ từ năm 1966. Ngoài ra ông còn là bác sĩ quân y sau khi tốt nghiệp ngành y khoa năm 1971, tham gia vào TQLC cho đến năm 1975.

Ca sĩ Trung Chỉnh trước và sau 1975

Vì là một quân nhân tham gia trực tiếp ở vùng hỏa tuyến nên trước 1975 ca sĩ Trung Chỉnh hát và thu âm rất ít. Ngay cả sau năm 1975, ông cũng tiếp tục nghề bác sĩ ở trong nước cũng như khi sang đến hải ngoại nên ông cũng không đi hát chuyên nghiệp, chỉ tham gia một vài lần trên Asia, Paris By Night và là khách mời của Hoàng Oanh trong các chương trình do Hoàng Oanh Production thực hiện tại hải ngoại.

Sau đây là 1 số bản thu âm Trung Chỉnh hát song ca cùng Hoàng Oanh sau năm 1975:


Click để nghe song ca Hoàng Oanh – Trung Chỉnh

Sơn Ca – Bùi Thiện

Vào đầu thập niên 1970, nữ ca sĩ Sơn Ca được nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ nhận làm học trò, đó có thể xem là bước ngoặt lớn lao đối với sự nghiệp ca hát của Sơn Ca, đưa cô trở thành một trong những ca sĩ trẻ triển vọng nhất vào thời đó.

Vì đam mê ca hát và mong muốn có thể phát triển thêm về giọng hát cũng như kỹ năng sân khấu, Sơn Ca ghi danh để học trường Quốc Gia Âm Nhạc. Tại đây cô được học xướng âm với Bùi Thiện – một nam ca sĩ hồi chánh mà thời gian sau đó đã kết hợp cùng với Sơn Ca để trở thành đôi song ca rất được yêu thích.


Click để nghe tuyển tập song ca của Sơn Ca – Bùi Thiện thu âm trước 1975

Trong vài năm cuối của âm nhạc miền Nam trước 1975, đôi song ca Sơn Ca – Bùi Thiện rất được khán giả yêu thích với những ca khúc trữ tình, quê hương, đặc biệt là những sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ.

Sau này tại hải ngoại, họ còn tái hợp để trình diễn nhiều tiết mục đặc sắc trên Paris By Night, video Làng Văn.

Sau đây mời các bạn nghe lại những bản thu âm của đôi song ca này.

Thu âm trước 1975:


Click để nghe Xuân Và Tuổi Trẻ


Click để nghe Ngày Mai Hôm Nay Đã Tới


Click để nghe Sơn Nữ Ca


Click để nghe Bắc Một Nhịp Cầu


Click để nghe Rước Dâu Về Làng


Click để nghe Đưa Em Xuống Thuyền


Click để nghe Tình Ta Với Mình


Click để nghe Việt Nam Ơi Ngày Vui Đã Tới


Click để nghe Khúc Hát Chia Tay


Click để nghe Hòa Bình Ơi Việt Nam Ơi

Mạnh Quỳnh – Giáng Thu

Hai ca sĩ Mạnh Quỳnh và Giáng Thu cùng xuất thân từ lớp nhạc của nhóm Lê Minh Bằng. Giáng Thu nổi tiếng từ cuối thập niên 1960 rồi nhanh chóng tạo cho mình một chỗ đứng trong lòng công chúng. Cô đã có nhiều ca khúc được xuất hiện thường xuyên trên các phương tiện truyên thông đại chúng cũng như trên sân khấu đại nhạc hội.

Ca sĩ Giáng Thu

Ca sĩ Mạnh Quỳnh, tên thật là Nguyễn Đình Mạnh, sinh năm 1951 tại Hà Nội. Ông là môn sinh khóa đầu tiên của lớp nhạc Lê Minh Bằng (nhóm nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ, Anh Bằng), học chung cùng các ca sĩ Tài Lương (chị của nghệ sĩ cải lương Tài Linh), Quốc Anh (sáng tác bài Ngày Xuân Vui Cưới), Ngọc Đan Thanh (ca sĩ – MC của trung tâm Asia)… và dĩ nhiên là cả ca sĩ Giáng Thu, hai người đã cùng nhau hát song ca ăn ý nhiều ca khúc nhạc vàng nổi tiếng. Mạnh Quỳnh học lớp nhạc Lê Minh Bằng trong 3 năm, bắt đầu từ khi mới 15 tuổi (1966), sau đó ông gia nhập quân ngũ.

Thời gian nhóm Lê Minh Bằng hợp tác chặt chẽ với hãng dĩa Sóng Nhạc, và hãng này đã phát hành nhiều dĩa nhạc có các bản thu âm của Giáng Thu và Mạnh Quỳnh song ca với nhau để phát hành. Có nhiều ca khúc đã gắn liền với tên tuổi của đôi song ca Giáng Thu – Mạnh Quỳnh như: Trái Cấm,Tuyết Lạnh, Hai Đứa Giận Nhau, Hỏi Anh Hỏi Em,Chúng Mình Đừng Ngại.


Click để nghe song ca Mạnh Quỳnh – Giáng Thu trước 1975

Phương Đại – Phương Hồng Quế

Hai ca sĩ Phương Đại và Phương Hồng Quế thân thiết với nhau ngay từ khi bắt đầu nổi tiếng cho đến nay. Họ thường xuyên xuất hiện cùng với nhau để trong ca trên đài truyền hình và đại nhạc hội.


Click để nghe Phương Đại – Phương Hồng Quế hát Con Đường Xưa Em Đi trước 1975


Click để nghe Phương Đại – Phương Hồng Quế hát Điệu Ru Ca Tình Yêu trước 1975


Click để nghe Phương Đại – Phương Hồng Quế hát Đường Chân Trời trước 1975

Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết

Nếu nhắc về những đôi song ca nổi tiếng nhất của làng nhạc miền Nam trước thập niên 1950, người ta thường nhớ đến Châu Kỳ – Mộc Lan, Mạnh Phát – Minh Diệu, và đặc biệt là Nguyễn Hữu Thiết – Ngọc Cẩm, thường được gọi là “Đôi song ca miền Thùy Dương. Điều đặc biệt là các đôi song ca này đều là vợ chồng, riêng Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết không những được khán giả yêu mến vì họ song ca rất ăn ý trong nhiều ca khúc nhạc vàng bất hủ, mà còn ở tài năng, đức độ và tình vợ chồng chung thủy đến trọn đời.

Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết có dáng người dong dỏng cao, giọng trầm ấm, thường lên sân khấu với cây đàn guitar thùng bên cạnh vợ là Ngọc Cẩm có tiếng hát cao vút. Giọng Huế của nữ ca sĩ khi nói rất khó nghe đối với người miền Nam, nhưng khi giọng của cô cất lên thì thánh thót và truyền cảm.


Click để nghe Băng Nhạc Ngọc Cẩm & Nguyễn Hữu Thiết

Đôi song ca một trầm một bổng hòa quyện vào nhau và dường như là không thể tách rời, bởi vì cả hai người đều từng thu âm riêng từng người, nhưng dấu ấn để lại không thể nào đậm nét như khi hát song ca, đặc biệt là với những ca khúc của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ như Gạo Trắng Trăng Thanh, Trăng Rụng Xuống Cầu, Múc Ánh Trăng Vàng… và nhiều bài hát đã gắn liền với tên tuổi của đôi song ca này là Bến Duyên Lành, Đường Về Hai Thôn, Tình Lúa Duyên Trăng, Trăng Về Thôn Dã, Tình Mùa Hoa Nở… 

Ca sĩ Ngọc Cẩm

Theo tác giả Hà Đình Nguyên, chỉ tính 2 ca khúc Gạo Trắng Trăng Thanh và Trăng Rụng Xuống Cầu do hãng đĩa Asia phát hành trên khắp Đông Dương đã bán được hàng triệu đĩa, con số vẫn là kỷ lục cho đến nay.

Không chỉ là ca sĩ, Nguyễn Hữu Thiết còn là nhạc sĩ với nhiều ca khúc bất hủ là Ai Đi Ngoài Sương Gió, Chàng Là Ai, Tìm Mãi Thương Yêu…

Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết sinh năm 1927 ở Phan Thiết, nhưng có quê gốc ở Triệu Phong – Quảng Trị, cùng quê với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Ông gặp vợ là ca sĩ Ngọc Cẩm (sinh năm 1931) trong chiến khu ở Tuyên Hóa và làm đám cưới năm 1948.


Click để nghe băng nhạc Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết

Năm 1953, cả hai bỏ về Huế hoạt động âm nhạc, thường xuyên xuất hiện trên đài phát thanh Huế, đến năm 1955 chuyển vào Sài Gòn và trở thành đôi song ca rất ăn khách.  Tại đây Nguyễn Hữu Thiết thành lập ban dân ca Nguyễn Hữu Thiết quy tụ nhiều ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng. Ông cũng phát hành 4 băng nhạc Nguyễn Hữu Thiết mà bạn có thể nghe lại ở bên dưới. Những băng nhạc này có lối hòa âm rất đặc trưng, đa số là những bài hát ca ngợi quê hương và tình yêu đôi lứa.


Click để nghe băng nhạc Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết 1


Click để nghe băng nhạc Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết 2


Click để nghe băng nhạc Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết 3


Click để nghe băng nhạc Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết 4

Sau năm 1975, Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết thành lập Đoàn ca múa nhạc tổng hợp Hương Miền Nam để đi diễn ở khắp các miền quê.

Khác với nhiều đôi nghệ sĩ hợp rồi tan, vợ chồng Nguyễn Hữu Thiết gắn bó với nhau trọn cả đời cho đến lúc nhạc sĩ qua đời vào ngày 31/10/2002. Họ có với nhau 8 người con, trong đó có ca sĩ Hồng Hạnh.

Sau đây mời các bạn nghe lại những ca khúc hay nhất của đôi song ca Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết được thu âm trước năm 1975:


Click để nghe Gạo Trắng Trăng Thanh


Click để nghe Trăng Rụng Xuống Cầu


Click để nghe Đường Về Hai Thôn


Click để nghe Vợ Chồng Quê


Click để nghe Lời Người Ra Đi


Click để nghe Bến Duyên Lành

 


Click để nghe Trăng Về Thôn Dã


Click để nghe Tình Mùa Hoa Nở


Click để nghe Múc Ánh Trăng Vàng


Click để nghe Tình Sầu Biên Giới


Click để nghe Các Anh Về


Click để nghe Thương Tà Áo Bay


Click để nghe Duyên Quê


Click để nghe Tình Lúa Duyên Trăng


Click để nghe Tiếng Hai Đêm

Đông Kha – chuyenxua.vn