Danh ca Thái Hằng – Người vợ mẫu mực và thầm lặng sau ánh hào quang của nhạc sĩ Phạm Duy

Ca sĩ Thái Hằng tên thật là Phạm Thị Quang Thái, sinh năm 1927 tại Hà Nội. Ngoài vai trò là ca sĩ tân nhạc nổi tiếng từ cuối thập niên 1940, bà còn là vợ của nhạc sĩ Phạm Duy, cũng chị ruột của danh ca Thái Thanh cùng nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

Ngoài ra, Thái Hằng còn là thân mẫu của các ca sĩ nổi tiếng Duy Quang, Thái Hiền, Thái Thảo và nhạc sĩ Duy Cường. Tên tuổi nữ danh ca Thái Hằng gắn bó với Phạm Duy và ban hợp ca Thăng Long thành một gia đình nghệ sĩ hàng đầu đã có những đóng góp lớn lao cho âm nhạc Việt Nam.

Ca sĩ Thái Hằng

Danh ca Thái Hằng bắt đầu sự nghiệp ca hát trong những năm chống Pháp. Trong những năm ấy, bà cùng các anh em là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, ca sĩ Thái Thanh… theo các đoàn văn công đi khắp các chĭến khu. Năm 1949, ca sĩ Thái Hằng kết hôn với nhạc sĩ Phạm Duy. Sau này bà còn hát trên các đài phát thanh Sài Gòn và tham gia Ban Hoa Xuân hát trường ca Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam.

Cha của Thái Hằng là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được 4 người con trai: Phạm Đình Trung, Phạm Đình Chính, Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.

Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có ba người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.

Thái Thanh – Phạm Đình Chương – Thái Hằng

Việc những anh chị em Thái Hằng đều trở thành những nghệ sĩ tên tuổi không phải là một điều lạ vì bởi song thân của họ là hai người rất sành nhạc cổ: Cha của bà đánh đàn nguyệt, trong khi thân mẫu thì đánh đàn tranh và đàn tỳ bà nổi tiếng ở đất Bắc. Bà còn là chị em bạn dì ruột với giọng ngâm tên tuổi Hồ Điệp. Hầu như tất cả anh em của Thái Hằng đều thấm nhuần văn nghệ từ lúc còn trẻ.

Ngày 12 tháng 9 năm 1946, tức là ngày toàn quốc kháng chĭến, gia đình ông bà Phạm đình Phụng tản cư ra Sơn Tây. Ông bà đưa các con chạy xuống vùng xuôi, mở một quán phở đặt tên là Thăng Long. Tại quán Thăng Long, các văn nghệ sĩ kháng chĭến thường dừng chân, ăn phở và nghe nhạc. Từ đó cái tên Ban Hợp Ca Thăng Long ra đời. Phạm Thị Quang Thái tức Thái Hằng còn là cháu của nữ kịch sĩ Song Kim, được Thế Lữ (là chồng của bà Song Kim) có ý định cho vào hoạt động trong đoàn kịch Thế Lữ. Nhà thơ kiêm kịch tác gia này đặt cho cô Thái cái tên sân khấu là Thái Hằng.

Đầu năm 1949 anh chị em Thăng Long gia nhập các ban văn nghệ quân đội của liên khu IV. Quán Thăng Long dời về chợ Neo (Thanh Hóa). Cũng tại quán Thăng Long này, nhan sắc và tiếng hát của Thái Hằng trở nên nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ kháng chĭến. Nhiều người nổi tiếng đã “trồng cây si” Thái Hằng, trong đó có thi sĩ Đinh Hùng, họa sĩ Bùi Xuân Phái, nhạc sĩ Ngọc Bích. Có thông tin cho rằng ca khúc Cô Hàng Cà Phê của nhạc sĩ Canh Thân với nhân vật chính là Thái Hằng, cô con gái của hàng cafe Thăng Long.

Phạm Duy – Thái Hằng vào thập niên 1940

Trong hồi ký Phạm Duy, đoạn ghi lại những năm đầu đi kháng chĭến, “tạm trú” ở ngay quán Thăng Long, nhạc sĩ Phạm Duy viết về sự gặp gỡ định mệnh với Thái Hằng như sau:

“Vào đầu năm 1949, sau khi tất cả mấy anh em Phạm Đình Viêm (tức Hoài Trung), Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Băng Thanh (tức Thái Thanh) đã gia nhập các ban văn nghệ quân đội của Liên Khu IV rồi thì hai ông bà Thăng Long cũng rời Chợ Đại di cư vào Thanh Hoá để được sống gần gũi các con.

Hai ông bà tới một nơi gọi là Chợ Neo, cách làng Ngò khoảng vài cây số, thuê lại căn nhà lá của một nông dân tên là Cò Mại và mở một quán phở vẫn lấy tên là Quán Thăng Long.

Chợ Neo là một chợ quê rất bé, trước kia chỉ có lèo tèo vài gian nhà trống dùng làm nơi họp chợ của dân điạ phương, bây giờ thì có thêm khoảng trên hai chục cửa hàng là những túp nhà lá do dân di cư dựng lên. Quán Thăng Long nằm ở ngay trước mặt một ngôi chùa nhỏ, chung quanh chùa có đào nhiều hố tránh máy bay.

Phạm Duy và Thái Hằng (thứ 2,3) từ bên trái sang

Vì cùng là đội viên của đoàn văn nghệ quân đội và vì không có ai là người quyến thuộc cho nên vào những ngày nghỉ, tôi thường hay theo Phạm Đình Viêm và Thái Hằng về chơi quán Thăng Long.

Đã quen biết hai ông bà từ ngày ở Chợ Đại cho nên tôi được ưu đãi. Tôi được ăn uống, nghỉ ngơi và ngủ luôn tại quán, giường ngủ là hai cái bàn trong quán ăn kê xát lại nhau. Cùng với Viêm, Chương, Thái Hằng, Băng Thanh, chúng tôi ngồi đàn hát với nhau suốt ngày hoặc cùng với đội viên của đoàn văn nghệ đóng quân ở gần đây, kéo nhau ra sông máng để tắm táp, bơi lội.

Khi nhìn thấy mấy cô trong đoàn mặc maillot de bain nhảy plongeon xuống nông giang thì bộ đội đi hành quân trên bờ đê đã… điên lên.

Khi còn ở Chợ Đại, tôi cũng thoáng biết tới cô con gái lớn của Quán Thăng Long, được nghe cô đánh đàn guitare hawaiwenne và hát chung với mấy người anh, nhưng lúc đó tôi không năng tới quán ăn này để tán tỉnh nàng – như thường lệ mỗi khi gặp bất cứ người đẹp nào – bởi vì tôi còn đang quá bận bịu với những chuyện vui chơi của tôi.

Vả lại lúc bấy giờ cũng có khá nhiều cây si được trồng tại quán Thăng Long. Các chàng si này, nếu phải mài kiếm dưới trăng để so kiếm, lại toàn là những tình địch trong nghề như Đinh Hùng, Huyền Kiêu, Bùi Xuân Phái, Ngọc Bích…

Thái Hằng (ngoài cùng bên trái)

Vào tới Khu IV, tuy cùng hoạt động chung với nhau trong đoàn văn nghệ, nhưng tôi và Thái Hằng chỉ là hai người bạn đồng đội và sống riêng biệt. Mới đầu tôi chỉ thấy Thái Hằng là người hiền lành, xinh xắn, dễ thương nhưng ít vui và rất hà tiện trong sự biểu lộ tình cảm. Nay được ở gần nàng luôn luôn và vì tôi là người lém lỉnh cho nên nàng không thể im hơi lặng tiếng được nữa. Thế là chuyện này chuyện nọ được trao đi đổi lại như giữa bất cứ một đôi trai gái nào.

(…)

Sau gần sáu tháng đi chung với nhau trong đoàn văn nghệ cũng như ở chung với nhau tại Quán Thăng Long và sau khi đã ôm được nàng vào lòng rồi, tôi chính thức hỏi Thái Hằng làm vợ…”

Sau khi họ kết hôn với nhau – như lời Phạm Duy tự sự bên trên – hành trình âm nhạc của gia đình họ từ đó sinh sôi thêm những tài năng mới, với Duy Quang là con đầu lòng sinh năm 1950, và các em Duy Cường, Thái Hiền, Thái Thảo.

Từ cuối thập niên 1940, tại Khu IV thời kháng chĭến, Thái Hằng nổi tiếng cùng với ban hợp ca Thăng Long, với các anh em là nữ ca sĩ Thái Thanh, ca sĩ Hoài Trung, Hoài Bắc.

Đại gia đình Thăng Long: hàng trên: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Hoài Trung, hàng dưới: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh

Ban Thăng Long đã trình diễn trên các đài phát thanh và sân khấu khắp ba miền Việt Nam từ thập niên 1950. Thái Hằng cũng được thính giả đài phát thanh Sài Gòn rất hâm mộ khi ngâm thơ trong chương trình Tao Đàn do cố thi sĩ Đinh Hùng phụ trách. Bà cũng thường song ca cùng em gái là ca sĩ Thái Thanh.

2 chị em Thái Hằng – Thái Thanh

Cho đến nay giới thưởng ngoạn âm nhạc Việt Nam còn nhớ giọng ca của bà qua những bản Tiếng Sáo Thiên Thai, Tình Hoài Hương, Tình Ca… của Phạm Duỵ. Thái Hằng, ngoài địa vị một người mẹ hiền, một người vợ thảo, nuôi nấng 8 người con, bà còn là một giọng ca không thể thiếu được trong ban hợp ca Thăng Long. Cùng với nhạc sĩ Phạm Duy, ban hợp ca cùng với Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc, đã góp phần dựng lên một thời, thời cực thịnh của âm nhạc Việt Nam.

Từ đầu thập niên 1970, khi các con đã lớn, bà ngưng hoạt động trình diễn. Sau khi qua Mỹ năm 1975 gia đình bà đã trở lại sân khấu, cùng Phạm Duy, Thái Hiền và Thái Thảo đi lưu diễn khắp thế giới đến năm 1978, khi các con trai từ Việt Nam qua Mỹ thì bà cũng ngưng hoạt động âm nhạc.

Thái Hằng được bạn bè nhìn như một người vợ thảo, mẹ hiền kiểu mẫu theo lối Việt Nam cổ truyền. Khi ở Việt Nam cũng như khi qua Mỹ, gia đình đều sống quây quần, trong một mái nhà hay ở nhà bên cạnh. Ngoài bổn phận làm vợ và làm mẹ thì Thái Hằng coi sự nghiệp ca nhạc chỉ là phụ, suốt đời không bao giờ phải lo lắng về cuộc sống, ngoài những bổn phận trong gia đình.

Nhạc sĩ Phạm Duy nói rằng trong 52 năm sống chung, hai người không bao giờ phải lớn tiếng với nhau.

Thái Hằng có những đức tính không phải người vợ nào cũng có, đó nhiều lần tha thứ cho bản tính bay bướm của chồng, hoặc là bà đã chấp nhận số phận đó khi quyết định đồng ý lấy chồng là một nhạc sĩ tài hoa bậc nhất của âm nhạc Việt Nam.

Lúc sinh thời, nhạc sĩ Phạm Duy nói trên một tạp chí như sau: “Khi tôi không còn, các con tôi sẽ kể lại cho nghe tôi có bao nhiêu cuộc tình. Các con tôi biết hết, vợ tôi cũng biết. Trước khi ra đi, bà ấy còn nói với các con: ‘Chuyện của bố mày tao biết hết, tao để cho bố mày làm vì nghệ thuật'”.

Về tính cách của bà Thái Hằng, được nhà văn Văn Quang (hàng xóm của gia đình Phạm Duy) kể lại như sau:

“Thái Hằng là người rất bình dị. Chưa bao giờ chị chứng tỏ mình là “một cái gì”, ít ra cũng là vợ một nhạc sĩ có tên tuổi. Nói khác đi, chị không phải là bà Phạm Duy nổi tiếng và cũng chẳng phải là một nữ danh ca thượng thặng trong ban hợp ca Thăng Long. 

Chị sống chan hòa như một người chị mẫu mực, hiền hậu. Đối với mọi người trong xóm, chị sống hết sức bình dị, không se sua, không làm dáng.

Mỗi buổi sáng, quần ta, áo cánh xách giỏ đi chợ như mọi bà nội trợ bình thường khác. Chị thân thiện chân thành chứ không phải sự “nhún mình” để che giấu một thứ hào quang sau gáy.

Suốt hơn 10 năm, sống gần gia đình chị, từ khi Duy Quang, Duy Cường, Duy Minh còn rất nhỏ cho tới khi các cháu lớn lên, tôi chưa hề thấy chị to tiếng với bất kỳ cháu nào và chị cũng chưa từng làm mất lòng ai trong xóm. Sự khoan hòa dung dị của chị có thể là một tấm gương lớn cho nữ giới.”


Click để nghe Thái Hằng hát bài Bà Mẹ Quê của nhạc sĩ Phạm Duy

Vào mùng 1 Tết Âm lịch năm 1999, nhạc sĩ Phạm Duy thấy vợ mình ho mãi không dứt nên gia đình liền đưa bà đi bệnh viện và phát hiện bà bị ung thư phổi giai đoạn cuối. Bà sống được thêm 7 tháng thì qua đời vào thứ Bảy, 14 tháng 8 năm 1999 tại nhà riêng, thị trấn Midway City, miền Nam tiểu bang California. Trong suốt thời gian đó nhạc sĩ Phạm Duy hầu như không bước ra khỏi nhà, từ chối mọi cuộc gặp gỡ bên ngoài. Nhạc sĩ luôn ở bên cạnh giường bệnh của vợ. Những ngày cuối cùng bà sống rất bình an và hạnh phúc bên chồng với các người con đã trưởng thành, và thân quyến, bạn bè luôn đến thăm hỏi.

Sau khi Thái Hằng qua đời, có rất nhiều lời thương tiếc gửi đến từ khắp nơi trên thế giới. Nhạc sĩ Phạm Duy đã gửi lại một thư cám ơn, trong đó ông ca tụng người vợ quá cố của mình là một “Thần Hộ Mệnh” trong cuộc đời ông. Mời bạn đọc nguyên văn đoạn thư này:

Midway City, ngày 16 tháng 8 1999

Cám ơn các bạn đã có những lời phân ưu đến với gia đình tôi vào những ngày tang tóc này, như những lời an ủi huyền diệu.

Nhà tôi ra đi rất êm ái như đã êm ái đến với cuộc đời quá huyên náo này. Êm ái lớn lên trong bóng mát của cha mẹ, êm ái đi vào cuộc chĭến, đi vào hai cuộc tình rồi êm êm đi vào hôn nhân. Thành người vợ, người mẹ một triệu lần êm ái, rồi cùng chồng con và biết bao nhiêu tổ ấm khác, êm đềm ruổi rong di tản trong nước rồi lưu vong trên thế giới. Êm ả và âm thầm ngay cả trong cuộc hẹn hò với bạo bệnh và tử thần từ nhiều năm qua…

Giữa năm nay, sau khi từ bệnh viện về nhà và biết rõ số phận mình, nhà tôi có đủ thời gian để ôn lại chuyện đời, chuyện nhà và trối trăn với chồng con, với anh em ruột, và cùng dăm ba người bạn vong niên…

Bà đã có may mắn là trong 50 năm nước nhà tan tác, dù cũng như nhiều người khác, phải ba bốn lần bỏ nhà bỏ cửa ra đi nhưng bà chưa hề phải xa chồng một ngày, chỉ bị xa con vài năm rồi lại đoàn tụ. Bà luôn luôn được sống chung dưới một mái nhà với chồng, với con, với cháu cho tới ngày tận số. Là chủ gia đình nhưng chưa bao giờ bà phải lo lắng hay vất vả vì sinh kế, bà chỉ sống để làm người vợ đại lượng và hiền lành nhất vùng, người mẹ bao dung và hiền hậu nhất xóm với nhiệm vụ là bà TIÊN NỮ của các con và trách nhiệm là vị THẦN HỘ MỆNH (hay BÀ CHÚA NGỤC) của chồng. Bà là người mẹ không biết dùng roi với con. Bà là người vợ trong 50 năm chung sống với chồng không một lời nói nặng. Bà là sự nâng đỡ của tôi trong phen sa ngã, là sự thanh bình của tôi trong nhiều sóng gió, là sự thành công của tôi trong cơn vật vã với đời, là nụ cười của nàng Mona Lisa kín đáo, đậm đà của gia đình này. Nhà tôi ra đi với nụ cười lặng lẽ đó…

Về phần tôi, vào đúng ngày Tết Nguyên Ðán năm nay, khi bác sĩ khám phá ra nhà tôi bị ung thư phổi và không thể sống quá một năm, tôi bị chấn động tinh thần, mất ăn, mất ngủ, sụt 13 pounds và phải đi khám tổng quát tim, phổi, gan, dạ dầy… xem có bị ung thư hay không? Kết quả là cơ thể không hề hấn gì nhưng tinh thần thì suy sụt. Tôi đã phải đình chỉ mọi hoạt động văn nghệ dù có những ”shows” đã ”booking” từ lâu. Suốt nửa năm trời cùng với các con lo việc chữa bệnh cho nhà tôi, thay phiên nhau trông nom bà ấy trong bệnh viện hay khi đưa bà về nhà điều trị, tôi cũng dần dần lấy lại được sự thăng bằng trong đời sống, dù lúc nào cũng có một tảng đá lớn đè trên ngực mình.

Bây giờ thì nhà tôi đã nhẹ nhàng ra đi, tảng đá kia đã cũng nặng nề đổ xuống, lo xong việc chôn cất cho vợ là tôi có thể thành một người tự do hơn trước, vì đã làm xong bổn phận người chồng. Các con tôi cũng đã quá khôn lớn, bây giờ tôi sắp sửa được trở về cái cõi cô đơn truyền kiếp của người nghệ sĩ muôn đời. Tôi lại được tự do thênh thang vác đàn ngao du như trong một thuở xa xưa nào, hoa cài trên phím, tiếng cười trong dây… Xin được cám ơn mọi người bằng nụ cười cô đơn đó. (Phạm Duy)

Vào ngày 27 tháng 1 năm 2013, nhạc sĩ Phạm Duy qua đời ở Sài Gòn. Gần 1 năm sau, vào ngày 8 tháng 1 năm 2014, hài cốt của ca sĩ Thái Hằng đã được đưa về quê hương và an táng vĩnh viễn bên cạnh nhạc sĩ Phạm Duy và con trai cả Duy Quang tại “Khu vườn Phạm Duy” ở Hoa viên nghĩa trang Bình Dương.

Tuy được xưng tụng là danh ca, nhưng có lẽ là không có nhiều người được thưởng thức giọng hát của Thái Hằng, bởi vì những bản thu âm của bà còn lưu lại đến nay rất hiếm. Sở dĩ như vậy là bởi vì sau khi kết hôn với nhạc sĩ Phạm Duy năm 1948, danh ca Thái Hằng không còn hoạt động ca hát nhiều nữa, điều này khác với cô em nổi tiếng của Thái Hằng là danh ca Thái Thanh.


Click để nghe bản thu thanh hiếm: Phạm Duy & Thái Hằng & Thái Thanh cùng hát bài Viễn Du của Phạm Duy

Những năm ca hát sôi nổi nhất của Thái Hằng chủ yếu là trong ᴄhιến khu ở các vùng phía Bắc. Dù tham gia trong đoàn văn nghệ của Việt Minh nhưng tiếng hát của bà vẫn được phát trên đài phát thanh của Pháp và vang xa đi khắp nơi. Dù vậy thời kỳ này tân nhạc Việt Nam vẫn chưa được thu thanh vào đĩa hát, nên giọng hát của Thái Hằng và nhiều ca sĩ tân nhạc cùng thời hoặc trước đó không được lưu lại. Những bản thu âm ít ỏi của Thái Hằng mà chúng ta có thể nghe được hiện này là thu trong các năm đầu thập niên 1950. Lúc này thì bà đã lập gia đình và lần lượt có 8 người con nên không thể hoạt động nghệ thuật thường xuyên, nếu có thì cũng chỉ tham gia đóng thoại kịch trên đài phát thanh, thỉnh thoảng cũng có hát tân nhạc trong ban Thăng Long nhưng rất ít.

Sau đây mời các bạn nghe lại những bản thu âm hiếm của Thái Hằng vào thập niên 1950:


Click để nghe Thái Hằng hát bài Bà Mẹ Quê của nhạc sĩ Phạm Duy


Click để nghe Thái Hằng hát bài Chú Cuội của nhạc sĩ Phạm Duy

Trong số hàng ngàn ca khúc trong sự nghiệp nhạc sĩ Phạm Duy, ông đã sáng tác nhiều bài tình ca cho những người tình trong đời mình, và ông cũng sáng tác cho vợ của mình nhiều ca khúc, trong đó có 2 bài đã được Thái Hằng thu âm và còn lưu lại cho đến ngày nay, đó là Đêm XuânChú Cuội.

Bài hát Đêm Xuân được nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác năm 1948, ngay sau khi cưới Thái Hằng. Có thể hiểu rằng đêm xuân đó chính là đêm tân hôn của đôi trai tài gái sắc, và đây cũng là ca khúc đầu tiên mà nhạc sĩ Phạm Duy viết về mùa xuân, một mùa xuân của hạnh phúc. Ông nói về ca khúc này như sau:

“Tôi soạn bài xuân ca đầu tiên là ĐÊM XUÂN để tặng cho người vợ yêu quý vừa kết hôn là Thái Hằng. Bài này đậm đà, thắm thiết, chứa chan hạnh phúc. Trong sáng tác, đây là lần thứ sáu tôi nói tới cây đàn. Bây giờ là tiếng đàn báo tin Xuân đã về và hạnh phúc đã tới”


Click để nghe Thái Hằng hát bài Đêm Xuân của nhạc sĩ Phạm Duy

Sau ca khúc Đêm Xuân, nhạc sĩ Phạm Duy có Hoa Xuân:


Click để nghe Thái Hằng hát bài Hoa Xuân của nhạc sĩ Phạm Duy

Tiếp sau đó là một ca khúc xuân nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Duy – Xuân Ca:


Click để nghe Thái Hằng – Thái Thanh – Kim Tước hát Xuân Ca của Phạm Duy

Một số bài hát Thái Hằng song ca với Thái Thanh:


Click để nghe Thái Hằng hát Tiếng Sông Hương của Phạm Đình Chương – Ban Thăng Long hát bè


Click để nghe Thái Hằng – Thái Thanh song ca Dòng Sông Xanh, lời Việt của Phạm Duy


Click để nghe Thái Hằng – Thái Thanh song ca Tiếng Sáo Thiên Thai của Phạm Duy


Click để nghe Thái Hằng – Thái Thanh song ca Ngày Mùa của Văn Cao


Click để nghe Thái Hằng – Thái Thanh song ca Reo Vang Bình Minh của Lưu Hữu Phước

2 chị em Thái Hằng – Thái Thanh

Một số bài hát khác:


Click để nghe Thái Hằng hát bài Nỗi Lòng Chinh Phu của nhạc sĩ Ngọc Bích


Click để nghe 2 danh ca Thái Hằng và Minh Trang hát Gánh Lúa của Phạm Duy


Click để nghe 2 danh ca Thái Hằng và Ánh Tuyết hát Tôi Yêu của Trịnh Hưng


Click để nghe 2 danh ca Thái Hằng – Ánh Tuyết cùng vợ chồng Duy Khánh – Tuyết Mai hát Hò Lơ của Phạm Duy


Click để nghe 3 anh em: Hoài Trung – Thái Hằng – Thái Thanh hát Nhạc Đường Xa của Phạm Duy Nghĩa

Sau đây là một bài báo năm 1957 về danh ca Thái Hằng, được viết với hình thức khá thú vị, như là một buổi tán gẫu thân tình giữa những người rất thân thiết với nhau. Qua buổi trò chuyện, chúng ta có thể thấy được phẩm chất của một danh ca, và sự điềm đạm, duyên dáng của một phụ nữ đang ở độ tuổi chín của cuộc đời…

Tư liệu của Leminh Saigon

Nhắc đến nữ danh ca Thái Hằng thì chắc hẳn các bạn yêu nhạc không quên được nét mặt dịu hiền của cô trong ban Thăng Long, một ban hợp ca đã từng làm sôi nổi khắp miền Trung Nam Bắc. Và chắc các bạn cũng còn nhớ mãi được tiếng hát “giọng hai” của cô đã quấn quyện với tiếng ca của Thái Thanh trong nhạc phẩm Giòng Sông Xanh, một bản nhạc ngoại quốc lời Việt rất khó hát, khó diễn tả nổi nếu như người hát không giổi về kỹ thuật hát xướng.

Sau mỗi lần: “…và đây, hai cô Thái trong nhạc phẩm Giòng Sông Xanh…” – Lời giới thiệu vừa dứt, thì khán giả lại được hơn một lần nữa say sưa với khúc hát điêu luyện của hai chị em Thái Hằng, Thái Thanh.

“Sóng nước biếc biếc…” được dâng lên cùng tiếng ca ngọt ngào, với nụ cười và nét mặt đoan trang, Thái Hằng đã diễn tả đúng mức để có thể đưa tâm hồn người lâng lâng về miền xa lạ của xứ có giòng sông Danube.

Nghĩa là ban hợp ca Thăng Long đã thành công rực rỡ, và cũng như thiên hạ hoan nghênh khúc hát sau khi song ca với Thái Thanh, thì chính Thái Hằng đã là một cột trụ để tạo nên được những phút vẻ vang huy hoàng đó.

Trong những buổi hội họp, trong những khi toàn ban hân hoan nhận lời khích lệ của bao người mến chuộng thì Thái Hằng lúc nào cũng giữ một nụ cười khiêm nhượng, nhưng rất kẻ cả của bậc đàn chị, mà người ta tưởng rằng sẽ lẫn vào trong đám đông đó. Thái Hằng ít nói, và cô sợ người ta quên mình đi chăng? Nhưng không, đấy lại là tính tình đáng quý nhất của một nghệ sĩ vì những người hiểu biết thì không ai phủ nhận được công trình vun vén của Thái Hằng lúc nào cũng mong đi đến kết quả cho tập thể, và tác phong e ấp đó là do bẩm tính, mà cặp mắt của Thái Hằng đã nói được rất nhiều rồi.

Hiện bây giờ đôi nghệ sĩ Phạm Duy – Thái Hằng đang sống êm đẹp như thuở ban đầu trong một căn nhà xinh xinh ở dưới đường Chi Lăng – Phú Nhuận.

Ngoài những giờ đi hát, và đóng kịch ở Đài phát thanh, Thái Hằng chỉ còn biết làm tròn bổn phận cho chồng và cho bốn cậu con trai còn bé tí teo.

Gia đình Thái Hằng, vào thời điểm 1957 của bài báo này

Sự dịu dàng của Thái Hằng và tính tình khéo cư xử đã làm cho những cô bạn thân, chẳng hạn như Tâm Vấn phải mê. Và những cô em gái nuôi mến Thái Hằng không chịu được:

– Chị ơi chị, cho chúng em ảnh nào mới nhất của chị đi.

– Chị ơi chị, chị đang tập hát bài gì thế?

– Chị ơi chị, chị đang làm cơm đấy à? CHúng em đỡ cho chị một tay nhá…

Đấy là những câu nói của hai cô em gái nuôi thân nhất của Thái Hằng, hai cô nữ sinh Trưng Vương đã vì mến tài và mến luôn cả đức hạnh của Thái Hằng mà thỉnh thoảng đến thăm và “quấy quả” chị như vậy.

Đã có một hôm các cô tò mò:

– Chị ơi chị, ngoài những buổi hát, có phải hiện bây giờ chị còn đóng kịch trong ban Tin Yêu ở đài phát thanh nữa không ạ?

– Em biết rồi cơ. Giọng nói của chị thì lẫn thế nào được.

– Mà chị lấy tên là Thái Hiền, có phải không nào?

– Mấy con bạn em nó cũng nghe chị đóng kịch. Chúng nó khen chị đóng kéo khéo là ấy. Chúng nó khen thật đấy chị ạ. Em thì chẳng thèm khen chị đâu.

– Xì, cậu không biết gì cả. Có một dạo chị Hằng cũng ngâm thơ cơ. Hay đáo để. Có phải không hả chị?

– Thật đấy! Mấy con bạn em nó cũng mê chị kinh khủng. Chúng nó thấy em có ảnh mới nhất của chị cho, chúng nó ghen ghen là ấy.

Ấy đấy, 2 cô nữ khán giả, nữ thính giả trung thành và bây giờ là 2 cô em nuôi thân mến nhất của Thái Hằng mỗi lần đến nhà là ríu ra ríu rít cứ như chim vành khuyên ấy thôi.

Thì đã bảo Thái Hằng chẳng bao giờ muốn làm mất lòng ai cả mà. Cho nên cả đến những kỷ niệm nho nhỏ xinh xinh của cuộc đời Thái Hằng cũng phải kể lại cho những cô em ranh mãnh.

– Thế chị đóng kịch từ hồi nào ạ?

– Lâu lắm rồi, từ năm 1948. Và sang năm 1949 chị mới hát cơ mà.

– Thế chị đóng vở kịch gì thế?

– Lần đầu tiên lên sân khấu chị có sợ không ạ. Chắc là chị phải run lên ấy nhỉ.

– Để nhớ xem nào. À… à chị đóng đầu tiên là vở kịch Thử Thách, rồi đến vở Cái Võng. Lẽ dĩ nhiên lần đầu tiên lên sân khấu thì ai mà chẳng run. Nói thì có câu nọ tương vào câu kia. Cuống cà kê cả người. Nhưng cũng may chỉ có lúc đầu thôi rồi sau đó kịch biến sôi nổi hơn. Người ra người vào làm thay đổi hẳn phút trầm lặng của đoạn đầu vở kịch, nên dần dần chị bình tĩnh lại được như cũ.

Phút ban đầu ấy khi màn vừa kéo lên, chị không dám nhìn xuống khán giả và người chị bừng bừng như vừa mới uống một ly rươu mạnh.

Ấy là có cảm tưởng như vậy chớ sự thực thì chưa bao giờ chị uống cả.

– Hay quá nhỉ. Chắc hẳn là thuở ban đầu ấy có nhiều kỷ niệm lắm thì phải.

– Kỷ niệm của kịch thì cũng có nhiều nhưng chị quên hết cả rồi. Chị chỉ còn nhớ mãi một kỷ niệm này nhất. Nghĩa là vở kịch thứ hai tạm gọi là bạo dạn. Chị đóng… đại khái làm tròn nhiệm vụ trong vở Cái Võng.

Sự hoan nghênh nồng nhiệt của khán giả phải nói là kết quả của chung. Nhưng riêng chị cũng thấy vui vui. Và nhất là sau khi màn vừa khép, chị đang hí hửng bước vào hậu trường thì bị một ông đứng chặn ngang lối đi…, làm cho chị hơi luống cuống. Và câu đầu tiên ông ta nói với chị là ông ta khen chị đóng kịch hay.

– Thú vị nhỉ. Nghe người ta khen, chị có làm sao không? Mà khen như thế nào?

– Thì cũng như những câu nói thông thường nhưng riêng chị thấy phút ấy nó làm sao ấy. Chị cũng có cảm giác như lần đầu tiên chị ra trước khán giả.

Người chị cũng nón bừng bừng. Cũng may là vừa mới đóng kịch xong, má còn phấn hồng chứ không mà ông ta thấy mặt chị “xí hổ” đỏ nhừ như gấc chín thì có lẽ chị phải độn thổ mất.

– Thế chị trả lời với ông ta như thế nào?

– Thì ai mà còn biết trả lời thế nào nữa. Lẽ dĩ nhiên là chị phải bỏ chạy. Rồi bắt đầu từ đó ông ta nói với chị rất nhiều.

– Chắc là những câu tương tự, khen và khuyến khích chị.

– Vâng, dạo ấy vào năm 1948 và cho đến bây giờ đã mười năm qua rồi. Chị đã có 4 con mà thỉnh thoảng có dịp ông ta vẫn nhắc lại chuyện cũ và vẫn khen chị như xưa. Mỗi lần như vậy, chị vẫn có cảm giác như lúc ban đầu, cũng thấy thích thích…

– Ớ… ông nào mà “hỗn” thế hả chị? Mười năm qua rồi mà ông ta còn lẽo đẽo theo nói vớ vẩn với chị à? Anh Duy không ghen à?

– Ô hay! Việc gì mà ghen, tại sao lại hỗn? Thì ông ta là anh Duy chứ còn ai vào đây nữa.

– Ứ ừ, chị lại đóng kịch vớ vẩn với lại em rồi…

Hai cô nữ sinh rũ ra mà cười với nhau như nắc nẻ. Hai cô lại đấm vào lưng nhau thùm thụp, như ra cái điều vừa nghe được một mẩu chuyện dí dỏm của bà chị Thái Hằng.

Sau đây, mời các bạn xem lại hình ảnh Thái Hằng theo thời gian

Phạm Duy và Thái Hằng thời mới cưới

Sinh con đầu lòng – ca sĩ Duy Quang

Hình chụp cùng gia đình ông Phạm Đình Phụng. Duy Quang đang được bế trên tay

Phạm Duy – Thái Hằng và Duy Quang

Phạm Duy – Thái Hằng và Duy Quang

Phạm Duy – Thái Hằng và Duy Quang – Duy Minh

Phạm Duy – Thái Hằng và Duy Quang – Duy Minh – Duy Hùng

Phạm Duy – Thái Hằng và Duy Quang – Duy Minh – Duy Hùng – Duy Cường

Phạm Duy – Thái Hằng và Duy Quang – Duy Minh – Duy Hùng – Duy Cường. Lúc này đã có thêm cô con gái Thái Hiền

Phạm Duy – Thái Hằng và Duy Quang – Duy Minh – Duy Hùng – Duy Cường. Lúc này đã có thêm 2 cô con gái Thái Hiền – Thái Thảo

Lúc này đã có 7 người con: Quang – Minh – Hùng – Cường – Hiền – Thảo – Đức

Gia đình Phạm Duy – Thái Hằng với đầy đủ 8 người con: Quang – Minh – Hùng – Cường – Hiền – Thảo – Đức – Hạnh

Trong hình này có thêm Julie – vợ đầu của Duy Quang và Phạm Ly Lan – con gái của họ

Hình khoảng năm 1977, khi đi lưu diễn khắp nước Mỹ

Thập niên 1980, tại Paris

Thập niên 1990, hình chụp tại nhà

Thái Hằng những năm cuối đời

 

Đông Kha – nhacxua.vn (biên soạn) 

Tư liệu về cuộc đời “vua vọng cổ” Út Trà Ôn đăng trên tạp chí năm 1957

Út Trà Ôn được xem là một trong những nghệ sĩ tài danh nhất của sân khấu cải lương, từng ghi dấu ấn với vô số vở kinh điển của cải lương Việt Nma như Đời Cô Lựu, Ngao Sò Ốc Hến, Lưu Bình Dương Lễ, Thuyền Ra Cửa Biển…

Bằng giọng hát ấm và ngọt, nghệ sĩ Út Trà Ôn còn nổi tiếng với rất nhiều bài vọng cổ cho đến ngày nay vẫn còn đọng lại ít nhiều ký ức và tình cảm trong lòng người mộ điệu.


Click để nghe giọng ca Út Trà Ôn

Nghệ sĩ Út Trà Ôn tên thật là Nguyễn Thành Út, quê quán ở Trà Ôn, xưa thuộc tỉnh Cần Thơ (nay thuộc Vĩnh Long), nên ông lấy nghệ danh là Út Trà Ôn.

Là một nghệ sĩ nổi tiếng được đông đảo khán giả yêu thích, cuộc đời của Út Trà Ôn được nhiều người quan tâm, từ đó có nhiều giai thoại khác nhau về ông. Trong bài viết này, mời các bạn đọc lại một bài báo được xuất bản từ năm 1957 (cách đây hơn 60 năm) đăng trên tờ Kịch Ảnh, tóm lược một cách trung thực và chính xác về cuộc đời nghệ sĩ Út Trà Ôn.

Út Trà Ôn với giọng ca vàng

Tác giả Xuân Sinh

Tư liệu của Leminh Saigon

Tôi gặp anh, con người có giọng ca thiên phú làm mê mệt hầu hết khách mộ điệu giới ca cải lương. Hơi của anh vừa dài vừa quyến rũ, có sức truyền cảm mạnh mẽ. Với cử chỉ thật bình dị, chân thành, anh tiếp chúng tôi qua những câu tâm sự thật gọn, tuy ngắn ngủi nhưng chứa đựng sự thật của đời anh. Nhìn khuôn mặt, nhìn dáng hình anh, tôi nhận thấy rằng: Một nghệ sĩ nổi danh không phải chỉ cần yếu tố sắc đẹp. Trông anh không có vẻ nào hoạt động sân khấu vì anh lặng lẽ đến lì lợm, nét chân phương, mộc mạc thể hiện trong nụ cười.

Sự chua cay, bội bạc, tàn nhẫn của cuộc sống khiến anh thu hình lại, không muốn gặp ai, không mong giao tiếp cùng ai nữa. Anh muốn được sống yên ổn với gia đình đầm ấm, hòa mình trong ánh sáng hý trường. Anh chán ngán cuộc sống bên ngoài vì tình bạn, tình yêu giữa xã hội ngày nay chỉ xây dựng trên cơ sở lợi dụng và buôn bán. Người ta tìm tới anh chỉ để khai thác, khi thấy không thể khai thác được nữa, thì kéo nhau đi hết. Đã nhiều lần anh “bừng con mắt dậy thấy mình nằm không” nên anh muốn tránh xa hẳn cuộc sống bên ngoài. Chỉ có gia đình mới chính là noi gương tựa lý tưởng của con người trước bão tố liên hồi trên hè phố.

Qua giây phút, anh hồi tưởng lại thuở thiếu thời, sống bình thản trong khuôn mẫu gia đình nhưng tâm hồn sớm chớm nở tình yêu nghệ thuật, say mê sân khấu, thích sống tự do. Gia đình đối xử cùng anh khá khắt khe, luôn luôn rầy la vì tật ham mê sân khấu. Dù cơ cực anh vẫn cố công theo đuổi học hỏi. Thời gian gia anh am hiểu dần dần về sân khấu, kèm thêm năng khiếu thiên bẩm, anh quyết định lìa bỏ gia đình lên Sài Gòn nhờ người quen tiến dẫn để hát cho hãng dĩa Asia và ca cho đài phát thanh Saigon. Nhờ sự may mắn đó, anh bắt đầu nổi tiếng vì giọng ca mùi mẫn. Lần đầu tiên bước vào ngành ca hát để nhận thấy một điều chua xót rằng người đời đua nhau lợi dụng mình và tìm đủ mọi cách dìm tài năng.

Ý nghĩ bị lợi dụng, chèn chế ăn sâu vào đầu óc anh để cấu tạo nên ý tưởng giải nghệ. Ý tưởng đó cũng chỉ đến cùng anh trong một vài phút giây yếu mềm rồi tình yêu nghệ thuật lại bùng lên sôi nổi. trấn át tình cảm mềm yếu kia đi. Anh đành chịu đựng cảnh cơ cực suốt mấy năm trường và bắt đầu thực thụ lên sân khấu. Buổi đầu hoạt động, anh vào gánh Hề Lập, sau ba tháng thấy không có cơ tiến phát vì thiếu sự nâng đỡ, dìu dắt nên anh rời khỏi gánh Hề Lập, xin gia nhập gánh Thăng Long. Vào gánh Thăng Long đã tưởng cuộc đời thay đổi, nếp sống nghệ thuật sẽ chuyển hướng. Nhưng không, ác thay cuộc đời tiếp tục đi dần xuống dốc một cách thậm tệ, cay đắng ngay giữa thời anh ca sung sức nhất.

Sở dĩ không thể tiến bước nổi trên con đường nghệ thuật cũng chỉ vì không được thủ vai chính trong những vở có tiếng. Anh chỉ được đóng một thứ tuồng và chỉ một màn chót mà thôi. Chán nản quá, thêm một lần nữa anh định giải nghệ nhưng nghiệp dĩ hầu như buộc anh vào ánh đèn sân khấu, anh gặp Trúc Viên, một ký giả, chủ gánh hát Tiến Hóa. Ông khuyên can, tâm sự cùng anh rồi mời anh vào gánh. Đầu tiên anh còn do dự, nhưng sau buổi nói chuyện anh nhận thấy ông không giống như những người khác mà anh đã gặp, ông biết cách xử thế, biết dùng người, nâng đỡ và xây dựng cho bạn bè. Anh quyết định vào đoàn Tiến Hóa, cộng tác trong thời gian khá lâu, tăm tiếng trỗi lên theo ngày tháng. Anh không thể quên được chuỗi thời gian sống trong đoàn Tiến Hoa, hòa mình trong bầu không khí tươi vui, mọi người chỉ nghĩ đến việc dìu dắt, nâng đỡ nhau tiến bước trên đường dài nghệ thuật.

Thế rồi bất ngờ ông lại vắng mặt, giao cho bà vợ coi sóc đoàn. Một người đàn bà bước vào, không khí đổi thay ngay, anh thấy mất dần niềm hoan hỉ để đến một ngày buộc lòng xa gánh Tiến Hóa, lưu lại trong tâm khảm một dĩ vãng êm đềm. Nghỉ ít lâu, anh nhập đoàn Mộng Vân, hoạt động cầm chừng để không bao lâu rời khỏi đoàn Mộng Vân sang đoàn Sao Mai, sau đó lại trở về Mộng Vân một thời gian, nhập đoàn Thanh Minh một thời gian khá lâu rồi nghỉ.

Có lẽ vì cảm thấy sâu xa nổi đắng cay của người đi làm công nên anh cố gắng thành lập đoàn Kim Thanh, trình diễn ngót ba năm. Tưởng rằng có gánh hát riêng sẽ mang tới cho anh niềm an ủi, nhưng ngược lại anh thấy phiền toái, buồn rầu hơn nhiều. Anh nhận ra rằng chỉ làm công nhân sân khấu mới được an tâm, tránh khỏi tai tiếng ức hiếp, bóc lột. Vì vậy cho nên anh đã giải tán đoàn Kim Thanh để trở lại đời công nhân sân khấu. Giờ đây, sau nhiều ngày bão tố, sau biết bao sự ghen hờn đố kỵ, dằn vặt hành hạ của xã hội, anh đã đạt được địa vị ưu tú trong làng bia mão. Út Trà Ôn không mong gì hơn được sống yên ổn dưới mái gia đình để trau dồi nghệ thuật, trau dồi điệu ca vàng thiên phú, cống hiến người mộ điệu bốn phương.

Cuộc đời tình cảm của con người có giọng ca vàng kia hầu như bị thui chột quá nhiều. Anh ít để ý đến những người bạn gái đã qua đời anh, ngay cả lớp người hâm mộ giọng ca hấp dẫn. Anh hiếm cả bạn bè, đó phải chăng là số phận của lớp người tài hoa mà cuộc đời luôn bồng bềnh trôi nổi, dĩ vãng là cả bài thơ trác tuyệt, yêu vô cùng nhưng chẳng được bao nhiêu. Suốt chặng đường tăm rói nhiều hơn tươi sáng, Út Trà Ôn đã có ngày nay, sống trên tiền bạc, danh vọng. Không giống một số đông nghệ sĩ thất vọng về tương lai sân khấu cải lương, Út Trà Ôn tin tưởng chan hòa vào ngày mai vì hiện nay nếp sống tinh thần và vật chất của nghệ sĩ đang được cải thiện, căn bản diễn xuất đang được nâng cao để mỗi ngày một thêm hoàn bị.

chuyenxua.vn

Cuộc đời danh ca Phương Dung qua loạt ảnh đẹp trước 1975

Danh ca Phương Dung có biệt danh là Nhạn Trắng Gò Công, là một trong những ca sĩ nhạc vàng được yêu thích nhất suốt từ 60 năm qua, đã thể hiện thành công những ca khúc nhạc vàng nổi tiếng như Nỗi Buồn Gác Trọ, Tạ Từ Trong Đêm, Những Đồi Hoa Sim…

Nếu nói về những danh ca hát nhạc vàng nổi tiếng nhất, người ta thường nhắc đến 4 giọng ca thuộc thế hệ tiên phong hát nhạc vàng từ đầu thập niên 1960, đó là Trúc Mai, Thanh Thuý, Hoàng Oanh và Phương Dung. Từ sự thành công của những ca sĩ “đàn chị” này, sau đó mới bắt đầu xuất hiện những nữ ca sĩ mà tên tuổi cũng đã trở thành huyền thoại là Thanh Tuyền, Giao Linh, Hương Lan…


Click để nghe giọng hát Phương Dung trước năm 75

Ca sĩ Phương Dung tên thật là Nguyễn Phan Phương Dung, sinh ngày 9 tháng 8 năm 1946. Tuy nhiên có thể đó chỉ là năm sinh trên giấy tờ, một số nguồn tin cho rằng cô đã khai sinh trễ vài năm, và năm sinh thật có thể là 1943. Cụ thể là khi tham gia chương trình Ký Ức Vui Vẻ năm 2019, ca sĩ Phương Dung nói rằng mình đã 77 tuổi.

Cô Phương Dung được sinh ra trong một gia đình tương đối khá giả ở Gò Công, xung quanh có vườn tược, hoa màu cùng cửa hàng buôn bán. Gia đình cô có 4 anh chị em, bao gồm một người chị gái và 2 người anh trai đều gia nhập binh chủng Nhảy Dù.

Trong cuộc họp mặt do page Quán Nhạc Vàng tổ chức hồi năm 2012, ca sĩ Phương Dung kể lại rằng lúc nhỏ cô là một người rất khó nuôi, thường đau yếu và quấy khóc. Một hôm có một ông thầy pháp đi ngang qua, nghe tiếng khóc rất lạ nên vào nhà hỏi chuyện. Sau khi nhẩm tính dựa theo ngày, giờ sinh, ông nói với mẹ của Phương Dung: “Con nhỏ này số là con trai, nhưng sinh ra là con gái, khó nuôi”.

Sau đó ông này chỉ cách là để “em bé” Phương Dung vào một cái thúng rồi để trước nhà, tìm và nhờ một người tuổi Thân ẵm em bé vô nhà lại, giả bộ như là nhờ nuôi. Ông thầy cũng nói cha mẹ cô sẽ cực một thời gian nữa, qua đến hết 9 tuổi thì mới không còn bệnh tật. Bù lại thì ông nói Phương Dung sẽ thành danh sớm.


Click để xem ca sĩ Phương Dung tâm sự về cuộc đời trong buổi họp mặt Quán Nhạc Vàng năm 2012

Phương Dung cũng kể về sự tiếp xúc với âm nhạc của mình từ nhỏ, dù không phải là “con nhà nòi” như sau:

“Gia đình tôi quanh năm ruộng vườn, buôn bán, nhưng là nếp nhà có học. Ba má giữ lề thói xưa cũ, nhưng cũng có sự phóng khoáng và cởi mở trong nuôi dạy con cái. Ngay từ hồi biết đọc, tôi đã được ba má cho tiếp xúc với những cuốn sách, những bài hát ba má thường hay đọc, hay nghe.

Tự dưng tôi nuôi khao khát là lớn lên sẽ trở thành một ca sĩ. Biết tôi hăng hái tham gia các hoạt động văn nghệ ở trường, ba chẳng những không kỳ thị, cấm cản mà còn hết lòng ủng hộ.

Ông nói rằng đi hát là một cái nghề rất lương thiện, nhưng người dân xưa lại bảo thủ và có một cái nhìn sai lạc về những người làm nghệ thuật nói chung” – Phương Dung kể về cha của mình.

Khi còn theo học ở trường tiểu học nữ Gò Công, Phương Dung rất yêu thích ca hát và luôn có mặt trong các chương trình văn nghệ ở trường.

Sau khi học hết bậc tiểu học, gia đình cho Phương Dung lên Sài Gòn ở nhà người quen và thi vào lớp Đệ Thất (lớp 6) trường nữ trung học Gia Long niên khóa 1958 – 1959, đó cũng là lúc mà giấc mộng trở thành ca sĩ của cô bắt đầu có cơ hội trở thành hiện thực.

Năm 1959, tại Sài Gòn, ngoài các danh ca thế hệ đầu là Thái Thanh, Thu Hương, Tâm Vấn, còn xuất hiện thêm thế hệ ca sĩ Trúc Mai, Thanh Thúy, Lệ Thanh, Bạch Yến, Bích Chiêu… đã đứng trên đỉnh cao của làng nhạc, và Phương Dung nghĩ rằng con đường duy nhất trở thành ca sĩ là tham gia cuộc thi tuyển lựa ca sĩ của Đài Phát thanh Sài Gòn. Trong cuộc thi năm đó, nhạc sĩ Thanh Sơn được giải nhất, ca sĩ Nhật Thiên Lan được giải nhì. Phương Dung chỉ được giải 4 vì chưa được học nhạc lý, không biết xướng âm.

Sau cuộc thi, Phương Dung may mắn được nhạc sĩ Khánh Băng đồng ý cho về hát lót tại phòng trà Hoàng Yến ở giải trí trường Thị Nghè rất nổi tiếng trong thập niên 1950.

Thời gian sau đó, cô đi hát ở một số phòng trà, trong đó có phòng trà Tứ Hải của ông Nguyễn Cao Tăng (là giám đốc đài phát thanh Pháp Á trước năm 1955) và phòng trà Anh Vũ, là nơi trình diễn của rất nhiều nghệ sĩ như: Thanh Thúy, Khánh Ly, Trúc Mai, Bạch Yến, Bích Chiêu, Trần Văn Trạch, ban Tam Vân, Phương Lan, Quốc Thắng…

Thời kỳ hát ở Anh Vũ, Phương Dung chuyên trình bày những nhạc phẩm tiền chiến như Thiên Thai, Khối Tình Trương Chi, Trương Chi, Đàn Chim Việt, Suối Mơ, Buồn Tàn Thu…

Vào thời gian này, vì đi hát nhiều và chỉ tâp trung vào niềm đam mê ca hát nên Phương Dung đã không theo học trường Gia Long được nữa mà chuyển qua trường Đức Trí đến hết đệ nhị (lớp 11) rồi nghỉ học.

Sự nghiệp của ca sĩ Phương Dung thật sự có bước ngoặt lớn khi cô được theo học với ca sĩ Lê Xuân (sĩ quan không quân Lê Trung Xuân), là cậu của một người bạn học. Nhờ sự chỉ dẫn tận tình của “cậu Xuân”, ca sĩ Phương Dung học được nhạc lý căn bản và tiến bộ rất nhanh, chỉ 1 năm sau cô được hãng dĩa Việt Nam mời thu âm ca khúc đầu tiên là Đường Về Khuya, sau đó là Vọng Gác Đêm Sương, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi… rất được khán thính giả yêu thích.

Sau khi xuất hiện không bao lâu, Phương Dung đã được thi sĩ Kiên Giang tặng cho danh hiệu “Con Nhạn Trắng Gò Công”, là nơi cô sinh trưởng ở vùng Tiền Giang. Còn chữ Nhạn Trắng xuất phát từ việc từ buổi đầu đi hát, Phương Dung luôn mặc một bộ áo dài trắng như nữ sinh.

Phương Dung và Hoàng Oanh

Sang đến năm 1962, tên tuổi của ca sĩ Phương Dung vụt sáng thành ngôi sao hạng A với ca khúc Nỗi Buồn Gác Trọ của 2 nhạc sĩ Mạnh Phát và Hoài Linh. Hai năm sau đó, hãng đĩa Sóng Nhạc của ông Nguyễn Tất Oanh đã mời cô ký hợp đồng độc quyền cùng Trúc Mai, Minh Hiếu và Thanh Thuý. Như vậy hãng Asia Sóng Nhạc đã độc quyền cả 4 nữ ca sĩ nhạc vàng danh tiếng và được yêu thích nhất trong nửa đầu thập niên 1960.

Ngay trong năm đầu tiên ký hợp đồng với Asia Sóng Nhạc, Phương Dung đã có được thành công tột đỉnh với dĩa nhựa bán chạy nhất của hãng dĩa này, và có thể cũng là bán chạy nhất mọi thời đại của Việt Nam, đó là dĩa Sóng Nhạc có bài hát Những Đồi Hoa Sim của nhạc sĩ Dzũng Chinh do Phương Dung hát sau đây:

Cùng một thời điểm, tất cả các máy ép dĩa của Sóng nhạc phải cùng hoạt động hết công suất cả ngày lẫn đêm chỉ để in duy nhất 1 dĩa này, tạm ngưng tất cả các dĩa hát khác chỉ để tập trung cho Những Đồi Hoa Sim.


Click để nghe Phương Dung hát Những Đồi Hoa Sim trước 1975

Sang năm 1965, Phương Dung tiếp tục gặt hái được thành công lớn với ca khúc Tạ Từ Trong Đêm của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, khi được giải Bài Hát Hay Nhất của năm cùng với Huy Chương Vàng dành cho ca sĩ xuất sắc nhất do Thanh Thương Hội trao tặng qua sự bầu chọn của độc giả báo chí Sài Gòn.


Click để nghe Phương Dung hát Tạ Từ Trong Đêm trước 1975

Từ đó tên tuổi của ca sĩ Phương Dung lên đến đỉnh cao của danh vọng. Từ năm 1965 đến 1967, mỗi đêm cô cộng tác với 7 phòng trà và vũ trường, đó là Tự Do, Maxim’s, Olympia, Quốc Tế, Bồng Lai, Paramount và Văn Cảnh. Cô còn thường xuyên xuất hiện trong những chương trình truyền hình hoặc cộng tác với những chương trình phát thanh trên cả hai đài Quân Đội và Sài Gòn.

Đầu năm 1967, trong một lần sang lưu diễn ở Thái Lan và được mới đến tham dự buổi tiệc tại sứ quán VNCH ở thủ đô Bangkok, ca sĩ Phương Dung đã gặp ông Võ Doãn Ngọc từ Pháp sang Thái Lan để nghỉ tết cùng gia đình. Họ yêu nhau và kết hôn 1 năm sau đó.

Phương Dung trong đoàn văn nghệ đi lưu diễn ở Thái Lan

Trên wiki có ghi chép rằng chồng của Phương Dung là đại tá phi công, điều này là hoàn toàn không đúng. Ông Võ Doãn Ngọc đã sang Pháp từ năm 13,14 tuổi, lớn lên sang Thuỵ Sĩ làm việc, từ đó chưa về Việt Nam một lần nào nên không thể tham gia quân ngũ.

Sau lần gặp Phương Dung ở Bangkok, ông Ngọc tự ý thôi việc để về Việt Nam xin cưới người mà ông đã cảm thấy rung động ngay trong lần gặp đầu tiên, và đó cũng là lần đầu tiên ông Ngọc trở lại Việt Nam sau khi rời khỏi từ thời niên thiếu.

Sau khi lập gia đình vào đúng dịp Tết Mậu Thân, Phương Dung tạm dừng sự nghiệp ca hát lúc đang ở đỉnh cao rực rỡ để về giúp chồng kinh doanh. Họ sở hữu một trại gà và một số tàu đánh cá ở Gò Công, điều hành một công ty xuất khẩu tôm đông lạnh, cuộc sống vật chất của họ cũng rất thoải mái và có với nhau tổng cộng 8 người con.

Ca sĩ Phương Dung và chồng

Sau khi kết hôn được vài năm, Phương Dung có trở lại thu thanh cho một vài hãng băng dĩa cho đến năm 1975.

Ở lại trong nước chỉ 2 năm thì cả gia đình ông Ngọc và ca sĩ Phương Dung vượt biên bằng tàu của gia đình vào khoảng năm 1977. Họ đến được Mã Lai và được phái đoàn Mỹ nhận cho định cư ngay, nhưng lại từ chối để xin đi Úc. Phương Dung cho biết đó là quyết định không tốt cho sự nghiệp ca hát của cô, vì ở Mỹ thị trường nhạc hải ngoại sôi động hơn rất nhiều so với bên Úc.

Gia đình Phương Dung định cư ở Melbourne và bắt đầu quản lý 2 nhà hàng có trình diễn ca nhạc hàng đêm là Cửu Long và Tự Do cho đến năm 1983. Sau đó Phương Dung nhận được lời mời sang Mỹ để thu cuốn băng đầu tiên tại hải ngoại cho trung tâm Thanh Lan (hợp tác cùng Dạ Lan) mang tựa đề Kỷ Niệm Còn Đây.


Click để nghe Phương Dung hát trong băng Kỷ Niệm Còn Đây, là băng nhạc đầu tiên của Phương Dung sau 9 năm kể từ biến cố 1975

Năm 1984, Phương Dung trở lại Úc làm tổng đại lý những phim bộ Hồng Kông lồng tiếng Việt. Nhưng chỉ được một thời gian thì chuyển qua làm với một người con trong ngành may mặc. Đến năm 1989, 1990, Phương Dung hoàn tất thủ tục xin định cư tại Mỹ, hai người con gái của cô đã đã có quốc tịch Mỹ trước đó, riêng những người con trai vẫn sống tại Úc.

Từ khi sang Mỹ, Phương Dung cộng tác với trung tâm Asia, Thúy Nga với những ca khúc quen thuộc của nhạc vàng.

Sau đó ca sĩ Phương Dung đã trở về Việt Nam tham gia hoạt động văn nghệ ở trong nước từ sau năm 2010. Cô đặc biệt chú tâm vào những công tác từ thiện giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn cơ nhỡ. Hầu như tiền cát sê của cô đều dành trọn cho vấn đề thiện nguyện, giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn trong suốt dọc dải đất mà cô nói rằng từ Quảng Trị cho đến Cà Mau.

Một số ảnh khác của danh ca Phương Dung:

 

 

Hình ảnh đời thường:của danh ca Phương Dung:

Ảnh chụp vui cùng với đồng nghiệp là ca sĩ – bác sĩ quân y Trung Chỉnh
Cùng với Trung Chỉnh

Hình ảnh trên bìa băng, dĩa:

Hình bìa băng dĩa nhạc:





     

Ảnh bìa tờ nhạc:

Bài: Đông Kha – chuyenxua.vn

Lịch sử hơn 120 năm cầu Trường Tiền nối liền 2 bờ sông Hương

Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, gần như cùng một lúc, có 3 cây cầu lớn bằng sắt bắc qua 3 dòng sông lớn nhất ở 3 thành phố của 3 miền đất nước được khánh thành. Hà Nội có cầu Doumer (cầu Long Biên) bắc qua sông Hồng, ở Sài Gòn có cầu Bình Lợi bắc qua sông Sài Gòn, còn ở Huế là cầu Thành Thái (cầu Trường Tiền) bắc qua sông Huế (sông Hương).

Cầu Trường Tiền được khánh thanh ngay vào đầu thế kỷ 20 (năm 1900), nối liền con đường thiên lý Bắc – Nam cách trở đò giang suốt nhiều thế kỷ, đồng thời cũng chấm dứt sự chia cắt ngay giữa kinh đô Huế, nối liền Hoàng thành với khu dân cư mới ở bên kia sông.

Trong báo cáo về “Tình hình Đông Dương từ năm 1897 đến năm 1901”, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer ghi rõ: công trình (cầu Trường Tiền) được khởi công vào tháng 5-1899, hoàn thành vào tháng 10-1900, thông xe vào ngày 18-12-1900.

Năm 1896, trong chỉ dụ xây dựng cầu sắt, vua Thành Thái nhấn mạnh: “Chính trị nhân đức không gì quan trọng bằng gia ơn cho dân. Gần đây, phàm tiến hành làm các cầu đường là để tiện cho dân vậy. Nay theo lời Cơ Mật viện tâu nói phía trước sông Hương là quan lộ, nghĩ nên làm một chiếc cầu sắt để tiện thông hành, duy vì phí tổn rất lớn nên còn phải chờ tính toán trù biện”.

Đầu năm 1898 (năm Thành Thái thứ 10), Viện Cơ mật tấu lên vua cho biết chi phí để xây dựng cây cầu mở rộng này ước khoảng 500.000 đồng. Viện này đã chuyển cho cơ quan đại diện của Chính phủ Pháp tại Huế số tiền 190.000 đồng theo dự toán cho chiếc cầu ban đầu. Số còn lại chính phủ thuộc địa sẽ trích tiền hỗ trợ.

Khi cầu được xây xong đã được đặt tên ban đầu là Thành Thái, theo tên niên hiệu của vua lúc đó.

Có thông tin sai nhưng đã thành phố biến, nói rằng cầu Trường Tiền do hãng Eiffel xây dựng. Nhiều người truyền tụng cây cầu này cùng với tháp Eiffel nổi tiếng ở Paris là “anh em ruột” cùng “cha” là kỹ sư Gustave Eiffel. Nhưng các tài liệu lưu trữ trong văn khố nước Pháp đã cho thấy không phải như vậy.

Theo bài viết đăng trên báo Tuổi Trẻ, có 5 hồ sơ dự án tham gia đấu thầu xây dựng chiếc cầu qua sông Huế (tức sông Hương), trong đó dự án của hãng Schneider et Cie et Letellier được đánh giá là vượt trội so với các nhà thầu khác. Việc xây dựng cây cầu này đã chính thức giao cho nhà thầu này vào ngày 23-11-1897.

Thực tế, hãng Eiffel cũng có liên quan đến cây cầu này, đó là tham gia sửa chữa mà mở rộng cầu vào năm 1937. Lúc đó hãng Eiffel đã mang tên mới là Anciens Etablissements Eiffel. Có lẽ vì vậy mà nhiều người đã nhầm lẫn rằng hãng này tham gia xây dựng cầu thời kỳ ban đầu.

Chuyện một cây cầu đã nhiều lần gãy

Năm 1904, một cơn bão lớn đã làm câu hư hỏng nặng. Sách Đại Nam Thực Lục chép: “Nước dâng lên ngập hết cung điện trong Cấm thành và quan thự trong Kinh thành, nhà cửa nóc ngói bay tung… Cột cờ trên kỳ đài gãy ngang rơi xuống. Cầu sắt sông Hương cũng bị trôi đổ”.

Dân gian Huế đến nay vẫn còn truyền tụng câu chuyện giữa vua Thành Thái với quan khâm sứ Trung Kỳ J. Auvergne. Đó là khi đặt đá xây cầu qua sống Huế, nhà vua hỏi: “Cầu có vững chắc không?”. Khâm sứ Auvergne tự tin trả lời: “Khi nào cầu này gãy thì nhà nước bảo hộ sẽ trả lại nước An Nam cho bệ hạ!”.

Không ngờ chỉ 4 năm sau khi đi vào hoạt động, cơn bão khủng khiếp năm 1904 đã làm đổ cầu, vua Thành Thái mới hỏi ông quan khâm sứ của Pháp: “Hôm xây cầu, ông đã nói khi nào cái cầu này gãy thì nhà nước bảo hộ sẽ trả lại nước An Nam. Nay thì cầu đã gãy rồi đó”. Khâm sứ Auvergne tìm cách chống đỡ: “Cầu gãy là do cơn bão khủng khiếp, chứ đâu phải do tay người”.

Phải đến hai năm sau đó, cầu mới được tu sửa lại. Đến năm 1907, vua Thành Thái bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion. Chính quyền thực dân Pháp cho đổi tên là cầu Clémenceau, theo tên của Georges Clémenceau (tên của Thủ tướng Pháp khi đó).

Năm 1937, cầu Trường Tiền được trùng tu, cải tạo lớn với sự đảm nhiệm của hãng Eiffel. Cầu được mở rộng hành lang hai bên cho xe đạp và người đi bộ. Ở hành lang tại vị trí trụ cầu giữa 2 vài có các bao lơn (ban công) phình rộng ra – là nơi nghỉ chân, ngắm cảnh hay tránh nhau. Cuộc đại trùng tu này kéo dài trong 29 tháng, đến ngày 29-11-1939 thì hoàn tất.

Năm 1945 chính phủ Trần Trọng Kim đổi tên là cầu Nguyễn Hoàng – tên của vị chúa có công khai phá vùng đất Thuận Hóa.

Cuối năm 1946, cầu bị Việt Minh giật sập 3 nhịp cầu lúc thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Mãi đến năm 1953, việc tái thiết nguyên dạng cầu mới được thực hiện.

Mậu Thân năm 1968, cầu lại bị đặc công đánh sập một lần nữa.

Một năm sau đó, cầu được sửa chữa, nhưng lúc này đã bị tổn thương nặng nề nên chỉ được sửa tạm thời cho đến tận năm 1995 mới được tái thiết.

Mặc dù trải nhiều tên gọi, nhưng từ rất lâu, cái tên cầu Trường Tiền (vì chiếc cầu nằm gần một công trường đúc tiền, gọi tắt là Trường Tiền của nhà Nguyễn và phố Trường Tiền do vua Thành Thái lập năm 1899) vẫn được sử dụng rộng rãi nhất và là tên chính thức hiện nay. Sau 1975, cầu này bị gọi sai thành Tràng Tiền, nhưng thực ra Trường Tiền mới là tên gọi đúng.

Một số hình ảnh so sánh xưa và nay của cầu Trường Tiền:

chuyenxua.vn

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong và cuộc đời “vạn cổ sầu” qua ca khúc Giọt Mưa Thu

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong thuộc thế hệ tiên phong của tân nhạc Việt Nam, một trong những gương mặt tiêu biểu nhất cho giai đoạn bình binh của âm nhạc cải cách. Ông là nhạc sĩ bạc mệnh, tuổi đời vĩnh viễn dừng lại ở mốc 24 và chỉ để lại ba nhạc phẩm, đều trở thành bất hủ: Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến, và Giọt Mưa Thu.

Tiểu sử của Đặng Thế Phong in trong ấn bản Con Thuyền Không Bến do Nhà xuất bản Tinh Hoa phát hành tại Sài Gòn vào năm 1964 ghi vài dòng như sau:

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong sinh năm 1918, thứ nam của cụ Đặng Hiển Thể, Thông phán Sở Trước bạ thành phố Nam Định, là con thứ 2 của một gia đình có 6 anh em, 2 trai 4 gái.

Cha mất sớm, gia đình thiếu thốn, ông phải bỏ dở học vấn khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung (deuxième année primaire supérieure) tại trường trung học Saint Thomas d’Aquin ở Nam Định. Sau đó ông tìm lên Hà Nội vẽ cho một số tờ báo và học với tư cách dự thính tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (École supérieure des Beaux-Arts) tới năm 1939.

Thời gian sau đó Đặng Thế Phong sống cuộc đời lang bạt. Mùa xuân năm 1941, ông đi Sài Gòn rồi Nam Vang, trải qua nhiều nghề, từng mở một lớp dạy nhạc ở Nam Vang.

Đến mùa thu 1941, nhạc sĩ Đặng Thế Phong lại trở về Hà Nội. Lúc sinh thời ông là một nhạc sĩ rất nghèo nên cuộc sống khổ cực, chật vật. Ngoài tài sáng tác, ông còn là một ca sĩ, tuy chưa hẳn được là tenor nhưng giọng hát khá cao, đã nhiều lần ra sân khấu mà lần đầu tiên ông hát chính ca khúc của mình là Con Thuyền Không Bến tại Rạp chiếu bóng Olympia, phố Hàng Da, Hà Nội vào năm 1940.

Đầu 1942, nhạc sĩ tài hoa Đặng Thế Phong từ giã cõi đời tại nhà, trên một căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng vì bệnh lao, hưởng dương 24 tuổi.

Sự nghiệp âm nhạc của Đặng Thế Phong chỉ có 3 nhạc phẩm và đều rất nổi tiếng là: Đêm Thu – ca khúc viết cho lửa trại của học sinh Hà Nội 1940. Hai bài hát còn lại được xếp vào hàng kinh điển của nhạc tiền chiến, đó là Con Thuyền Không Bến, được hoàn chỉnh tại Nam Vang. Và Giọt Mưa Thu hoàn thành không lâu trước khi ông qua đời năm 1942.

Nhạc phẩm cuối cùng Giọt Mưa Thu được ông viết vào những ngày cuối đời trên giường bệnh. Ban đầu bài hát được đặt tên là Vạn Cổ Sầu, nhưng sau đó vì nghe theo lời bạn bè, ông mới đổi tên lại thành Giọt Mưa Thu.

Cho đến bây giờ, không ai biết vì sao chỉ mới ở tuổi 24 mà người nhạc sĩ tài ba (và bạc mệnh) đó lại thấu hiểu được cái “vạn cổ sầu” của kiếp nhân sinh đến như vậy. Phải chăng đó là số mệnh, là một sự báo trước cho kiếp đời buồn bã của ông, cái buồn đã được chép lại trong 3 bài nhạc mùa thu đã trở thành bất tử: Con Thuyền Không Bến, Mưa Thu, và bài hát cuối cùng chính là là Giọt Mưa Thu, được viết trước khi tác giả qua đời chỉ vài tháng.

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi
Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi
Nghe gió thoảng mơ hồ
trong mưa thu
ai khóc ai than hờ!

Vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành
như nhủ trời xanh
Gió ngừng đi
mưa buồn chi
cho cõi lòng lâm ly

Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây
Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về
Ai nức nở thương đời
châu buông mau, dương thế bao la sầu

Người mong mây tan cho gió hiu hiu lạnh
mây ngỏ trời xanh
chắc gì vui
mưa còn rơi
bao kiếp sầu ta nguôi

Gió xa xôi vẫn về
Mưa chăng mù lê thê
Đến bao năm nữa trời 
Vợ chồng Ngâu thôi khóc vì thu…


Click để nghe Thanh Thúy hát Giọt Mưa Thu

Giọt Mưa Thu được xếp vào những ca khúc hay nhất của tân nhạc Việt Nam. Nhạc sĩ Phạm Duy cho rằng Giọt Mưa Thu cùng hai nhạc phẩm khác của Đặng Thế Phong khởi đầu cho dòng “nhạc thu” Việt Nam sẽ được Văn Cao và Đoàn Chuẩn tiếp nối sau này.

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi
Trời lắng u sầu mây hắt hiu ngừng trôi
Nghe gió thoảng mơ hồ
Trong mưa thu ai khóc ai than hờ…

Thời điểm sáng tác bài này, nhạc sĩ Đặng Thế Phong đã ở giai đoạn cuối của căn bệnh lao nan y, và mùa thu đến với ông cũng như là sự chia ly tìm đến. Có phải là từ khi đó ông đã tự nhận thấy cuộc từ ly của mình đối với đời sống này đã rất gần rồi, nên trong từng giọt mưa thu của mùa Ngâu nhỏ xuống đời, ông đã nghe được lời than khóc rất mơ hồ thoảng theo làn gió lạnh, và rồi cũng nhận ra rằng thực ra đó chính là lời than khóc trong tâm linh của chính mình…

Vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành
Như nhủ trời xanh
Gió ngừng đi, mưa buồn chi
Cho cõi đời lâm ly

Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây
Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về
Ai nức nở thương đời
Châu buông mau

Dương thế bao la sầu.

Sự mong manh, yếu đuối của sinh mệnh chàng nhạc sĩ cũng không khác gì những con chim non đang run rẩy trên cành kia, chỉ biết khản mỏ gào than chiêm chiếp những lời nỉ non, như là để gửi lời van nài đến trời xanh xin đừng làm cơn mưa gió phủ xuống trần gian những nỗi sầu đau nữa.

“Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về” là câu hát gợi lên niềm thương cảm đến tột cùng. “Liếp che” là những tấm phênh nứa ngày xưa thường được làm vách nhà, nhạc sĩ mô tả cõi lòng mình là muôn bề quạnh vắng và cô đơn, với mặc sức từng cơn gió lùa giá lạnh. Nếu nhà dột nát thì có thể vẫn còn tạm trú được, nhưng cõi lòng đã bị vắng cả muôn bề thì lấy gì để mà che chắn?

Người mong mây tan cho gió hiu hiu lạnh
mây ngỏ trời xanh
chắc gì vui
mưa còn rơi
bao kiếp sầu ta nguôi

Gió xa xôi vẫn về
Mưa giăng mù lê thê
Đến bao năm nữa trời 
Vợ chồng Ngâu thôi khóc vì thu…


Click để nghe Thái Thanh hát trước 1975

Mặc cho lời người van lơn, gió xa xôi vẫn về, mưa vẫn giăng mù lê thê trong một mùa Ngâu. Người nhạc sĩ đặt bút ghi lại những tinh túy sau cùng của mình thành ca khúc Vạn Cổ Sầu trong một đêm thất tịch, để rồi không bao lâu sau đó, người vĩnh viễn rời xa khỏi trần thế đau thương này.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã nói về nhạc thuật của tuyệt tác này như sau:

“Trong bài Giọt Mưa Thu, Đặng Thế Phong dung hợp cả hai âm giai thất cung Tây Phương và ngũ cung Việt Nam để nói lên cái hắt hiu, cái lâm ly, cái xa xôi của mùa thu ngoài đời và trong đời mình. Với Giọt mưa thu, Đặng Thế Phong còn cho ta thấy sự chuyển thể khéo léo trong ca nhạc Việt Nam loại mới, xứng đáng là sự nối dài của nhạc cổ truyền. Lối hành âm từ giọng Mi mineur qua La majeur ở nhiều đoạn trong bài Giọt mưa thu chẳng khác chi lối chuyển thể trong loại hát bồng mạc, sa mạc nhưng phong phú hơn. Nếu nghiên cứu theo lối Tây Phương thì ca khúc được xây dựng trên mode dorien rất gần gũi với một dạng trong ngũ cung Á Đông. Âm vực của bài này rất rộng, nét nhạc đi từ nốt Si trầm lên tận Sol cao, cốt ý diễn tả cái sầu thiên cổ trong mùa thu, có mưa rơi không bao giờ ngừng”.


Click để nghe Lệ Thu hát Giọt Mưa Thu

Đông Kha – chuyenxua.vn

Nhan sắc khả ái của ca sĩ Băng Châu qua bộ sưu tập ảnh đẹp trước và sau 1975

Vào đầu thập niên 1970, làng văn nghệ Sài Gòn có sự xuất hiện của một khuôn mặt rất trẻ, vẫn còn mang dáng dấp một nữ sinh với những nét đẹp tươi tắn, nhu mì, rạng rỡ nhưng vẫn còn phảng phất hương lúa ngọt ngào của miền Tây trù phú. Đó là nữ ca sĩ Băng Châu, đồng thời cũng là diễn viên điện ảnh và kịch nghệ nổi tiếng.

Ca sĩ Băng Châu tên thật là Nguyễn Thị Xuân Mai, sinh ngày 1/8/1950. Nghệ danh Băng Châu được chính cô đặt khi mới chập chững vào nghề. Cô vốn học ban văn chương nên muốn đặt một cái tên thật ý nghĩa, và theo cô cho biết, Băng Châu có nghĩa là một “viên ngọc lạnh”.

Hai bên nội ngoại của ca sĩ Băng Châu đều là người gốc ở Trà Ôn thuộc Cần Thơ, năm 1945 cha mẹ cô chạy loạn đến Bà Rịa và sinh 4 người con tại đây. Gia đình Băng Châu có đến 10 anh chị em, trong đó cô là chị gái đầu, bên trên còn có 2 anh trai. Đến năm cô bé Xuân Mai được 5 tuổi thì cả nhà chuyển về lại Trà Ôn để sinh sống, lúc này thuộc tỉnh Phong Dinh. Đến năm 11 tuổi (1961), ca sĩ Băng Châu được đưa lên “Tây đô” – Cần Thơ để tiếp tục học tập.

Từ nhỏ Băng Châu đã rất thích ca hát, và theo học đàn (môn năng khiếu) ở trường từ khi học đệ thất. Sau đó ở cô tham gia những chương trình “người em gái hậu phương” và hát cho chiến sĩ nghe, cũng từ đó Băng Châu có may mắn được gặp gỡ những nghệ sĩ nổi tiếng trong làng nhạc.


Click để nghe nhạc Băng Châu trước 1975

Thời gian này, các đoàn văn nghệ cũng thường xuyên đến Cần Thơ, như ban Hoa Tình Thương, Biệt đoàn Văn Nghệ Trung Ương… Trong những buổi giao lưu văn nghệ, Băng Châu có cơ duyên được gặp một ca sĩ trong Biệt đoàn văn nghệ là Tuyết Nhung, cũng là vợ của nhạc sĩ Nguyên Thảo. Ca sĩ Tuyết Nhung thấy được tiềm năng của Băng Châu nên đã gợi ý lên Sài Gòn để phát huy được hết khả năng ca hát.

Năm 1969, vì quá đam mê ca hát, Băng Châu bỏ học lên Sài Gòn để tìm kiếm cơ hội cho sự nghiệp. Ca sĩ Tuyết Nhung đã dẫn cô đến gặp các nhạc sĩ tên tuổi trong Biệt đoàn văn nghệ, trong đó có 3 nhạc sĩ Duy Khánh, Khánh Băng và Châu Kỳ, cũng là 3 nhạc sĩ đầu tiên đã nâng đỡ Băng Châu trong những bước đầu của sự nghiệp.

Người đầu tiên giúp đỡ Băng Châu chính là ca nhạc sĩ Duy Khánh, cũng là người thầy đã nâng đỡ cô rất nhiều. Sau đó gương mặt khả ái của Băng Châu cũng lần đầu được xuất hiện trước khán giả qua chương trình truyền hình Tiếng Thùy Dương của nhạc sĩ Châu Kỳ sau khi thu dĩa ca khúc đầu tiên là Nhớ Nhau Hoài, từ đó giọng hát Băng Châu bắt đầu ghi được dấu ấn trong lòng khán giả.


Click để nghe Băng Châu hát Nhớ Nhau Hoài trước 1975

Nhưng phải đến một thời gian sau, với bài hát Qua Cơn Mê thu trong băng nhạc Trường Sơn của nhạc sĩ Duy Khánh thực hiện, tên tuổi của Băng Châu mới được chắp cánh để trở thành một ngôi sao sáng trong làng nhạc miền Nam vào đầu thập niên 1970. Đã 50 năm qua, tên tuổi của Băng Châu vẫn được người ta nhớ đến nhiều nhất với bài hát này.

Thực ra người thu âm bài này đầu tiên là Duy Khánh trong đĩa nhựa, sau đó Băng Châu thu âm lại vào băng cối, và từ đó Qua Cơn Mê với tiếng hát Băng Châu đã trở thành một hiện tượng trên khắp miền Nam, được phát gần như suốt cả ngày trên các đài phát thanh ở Sài Gòn. Thời điểm đó đang diễn ra hoà đàm Ba Lê, và bài hát này thể hiện những khát vọng lớn lao về hoà bình, đúng với tâm trạng chung của hầu hết những quân – dân miền Nam lúc đó.


Click để nghe Băng Châu hát Qua Cơn Mê trước 1975

Giữa Băng Châu và Duy Khánh không đơn thuần là thầy trò mà còn nảy sinh tình cảm với nhau, ca sĩ Băng Châu thừa nhận rằng nhạc sĩ Duy Khánh đã sáng tác ca khúc Đêm Bơ Vơ để nói về chuyện tình đó. Ngoài ra, nhạc sĩ Nhật Ngân cũng chứng kiến mối tình và sáng tác ca khúc Lời Đắng Cho Cuộc Tình để nói lên tâm trạng của Duy Khánh thời điểm đó.

Nổi tiếng trong làng nhạc Sài Gòn không lâu, Băng Châu nhanh chóng bước chân vào lĩnh vực điện ảnh. Sau khi được xuất hiện trên truyền hình trong chương trình Tiếng Thùy Dương, gương mặt xinh xắn và thuần khiết của cô đã nhanh chóng được lọt vào mắt xanh của đạo diễn Lê Dân, và Băng Châu được đạo diễn mời đóng vai chính Trần Thị Diễm Châu trong bộ phim được chuyển thể từ tiểu thuyết Châu Kool của nhà văn Duyên Anh.

Khi đạo diễn Lê Dân tìm dương mặt nữ chính cho phim này, ông đã đi tìm rất nhiều trong các nữ nghệ sĩ cải lương, các nữ minh tinh màn bạc, các nữ ca sĩ để tìm một người có thể đóng được một nhân vật đa diện, từ một thiếu nữ ngây thơ, đến một người đàn bà bụi đời giống như nhân vật Trần Thị Diễm Châu có biệt danh là Châu Kool trong tiểu thuyết.

Đóng cùng Nguyễn Chánh Tín trong phim Vĩnh Biệt Tình Hè

Sau này, đạo diễn Lê Dân kể lại là Băng Châu đã hoàn thành xuất sắc vai diễn đầu tiên trong sự nghiệp. Cô là hiện thân pha trộn của ba mẫu người khác nhau. Khi đóng vai Diễm Châu nữ sinh, cô có vẻ ngây thơ trong sáng và hành xử rất hồn nhiên. Khi đóng vai Diễm Châu thiếu phụ đa tình, cô thể hiện được mẫu người tình tứ thập phần gợi cảm. Khi đóng vai Diễm Châu nữ chúa, cô thể hiện được vẻ dữ dằn sắt đá.

Bộ phim “Trần Thị Diễm Châu” vừa trình chiếu ở Sài Gòn thì tên tuổi của Băng Châu ngay lập tức tạo được một dấu ấn lớn đối trong giới trẻ đô thành. Từ thành công đầu tiên với lãnh vực điện ảnh này, Băng Châu được mời xuất hiện trong nhiều phim khác như Vĩnh Biệt Tình Hè, Trường Tôi, Bốn Thủy Thủ Sợ Ma, Năm Vua Hề Về Làng…

Băng Châu cho biết cô rất thích đi du lịch, nhưng vì là con gái nên không có nhiều điền kiện để đi nhiều, chính nhờ đi hát, và đặt biệt là tham gia đóng phim mà cô được đi rất nhiều nơi đúng với niềm mơ ước từ lúc nhỏ của mình.

Sau năm 1975, ca sĩ Băng Châu tiếp tục sinh hoạt âm nhạc, đóng phim, đến tháng 9 năm 1979 thì cô sang Mỹ định cư ở bang Utah, được vài tháng sau thì chuyển về Cali, cộng tác với nhiều trung tâm băng đĩa hải ngoại.

Ngoài ca hát, Băng Châu còn là một MC, xướng ngôn viên truyền hình và truyền thanh được yêu thích ở hải ngoại.

Băng Châu năm 2016

Mời các bạn xem lại sắc đẹp khả ái của nữ ca sĩ Băng Châu qua thời gian.

Hình trước năm 1975 – Một thời xuân sắc:

Băng Châu là học trò của nhạc sĩ Duy Khánh, tác giả của những cuốn băng Trường Sơn nổi tiếng. Đây là hình bìa của băng Trường Sơn 1 – Hát Giữa Quê Hương

Bên cạnh Băng Châu là nghệ sĩ Tùng Lâm

Diễn xuất cùng Nguyễn Chánh Tín trong phim Vĩnh Biệt Tình Hè

Diễn xuất cùng Nguyễn Chánh Tín trong phim Vĩnh Biệt Tình Hè

Băng Châu và đoàn làm phim Vĩnh Biệt Tình Hè

Băng Châu vào vai nhân vật Châu Kool trong phim Trần Thị Diễm Châu, một vai diễn có tính cách đa dạng

Băng Châu và diễn viên Hoài Mỹ

Hình ảnh sau năm 1975

Băng Châu ở trại tị nạn

Băng Châu ở trại tị nạn

Băng Châu ở trại tị nạn

Băng Châu và con gái, khi vừa qua Mỹ được vài tháng

Băng Châu và nữ nhạc sĩ Khúc Lan

Băng Châu và Phương Hồng Quế

Băng Châu và nữ tài tử Lệ Hoa năm 1980

Hình ảnh trên bìa băng đĩa nhạc ở hải ngoại:


Về giọng hát của Băng Châu, nhà Văn Hồ Trường An đã mô tả như sau:

“Giọng hát Băng Châu mềm mại ngọt ngào. Cô được cái ưu điểm là dàn trải làn hơi đâu ra đó. Tiếng hát của Băng Châu là tiếng hát buồn man mác của người cô phụ đêm đêm chong đèn ngồi bên song cửa nhìn bóng trăng tà ngoài song và đối diện với ngọn hàn đăng trong cô phòng.

Tiếng hát cô lúc buồn theo mùi hương nguyệt quế ngào ngạt tỏa ra chung quanh khuôn viên của căn nhà kia, từ lúc đèn đêm thắp sáng cho tới lúc cửa sổ khép kín và ánh đèn trong hương khuê phụt tắt. Đó là lúc hương cau, hương bưởi và hương dạ lý thay nhau lan tỏa trong sương khuya và trong những cơn gió mỏng hiu hiu. Những mùi hương ấy ở chốn cùng thôn tuyệt tái thì ngoài nàng ra không có ai thưởng thức chúng, cho nên đó cũng chỉ là những thứ hương bị quên lãng và bị nhốt chung một phận buồn như nàng”.

Sau đây là những bài hát đã làm nên tên tuổi Băng Châu trước năm 1975:

Nhớ Nhau Hoài

Ca khúc của nhạc sĩ Anh Việt Thu phổ thơ Thiên Hà này là ca khúc đầu tiên mà Băng Châu thu thanh vào dĩa nhựa. Ngay sau đó, cô được nhạc sĩ Châu Kỳ mời xuất hiện trên chương trình Tiếng Thùy Dương phát trên đài truyền hình để hát chính ca khúc này, để rồi từ đó, khuôn mặt khả ái cùng giọng hát nhẹ nhàng của cô đã được xuất hiện lần đầu và chinh phục được các tầng lớp khán giả yêu nhạc vàng thập niên 1970.


Click để nghe Nhớ Nhau Hoài

Qua Cơn Mê

Nếu như Nhớ Nhau Hoài là ca khúc giới thiệu được tên tuổi Băng Châu với công chúng, thì Qua Cơn Mê là ca khúc đưa tên tuổi của cô vút cao trong làng nhạc. Bản thu này được “thầy Duy Khánh” giới thiệu trong băng nhạc Trường Sơn trước năm 1975, để rồi từ đó ca khúc này đóng dấu vào tên tuổi Băng Châu suốt gần 50 năm qua.


Click để nghe Qua Cơn Mê

Thực ra người thu âm bài này đầu tiên là Duy Khánh trong đĩa nhựa, sau đó Băng Châu thu âm lại vào băng cối, và từ đó Qua Cơn Mê với tiếng hát Băng Châu đã trở thành một hiện tượng trên khắp miền Nam, được phát gần như suốt cả ngày trên các đài phát thanh ở Sài Gòn. Thời điểm đó đang diễn ra hoà đàm Ba Lê, và bài hát này thể hiện những khát vọng lớn lao về hoà bình, đúng với tâm trạng chung của hầu hết những quân – dân miền Nam lúc đó.

Viết Thư Tình

Bài hát rất hay này của nhạc sĩ Trúc Phương còn có tên khác là Thư Gửi Người Miền Xa, là một trong những bài nhạc lính được yêu thích nhất.

Bài hát này được Trúc Ly thu thanh đầu tiên trong dĩa nhựa, nhưng bản thu của Băng Châu trong băng cối Trường Sơn vào thập niên 1970 mới được biết đến nhiều hơn và đến nay vẫn được nhiều người tìm nghe.


Click để nghe Viết Thư Tình

Chiều Thương Đô Thị

Ca khúc nổi tiếng của 2 nhạc sĩ Song Ngọc và Hoài Linh cùng hợp soạn này đã được rất nhiều ca sĩ hát. Giữa rất nhiều phiên bản khác nhau, bản thu của Băng Châu trước năm 1975 vẫn được nhiều người yêu thích.

Chiều Thương Đô Thị được sáng tác từ năm 1961, nhạc sĩ Song Ngọc viết phần nhạc và Hoài Linh viết lời, có nội dung là một người bạn (Hoài Linh) đưa tiễn một người lính trẻ (Song Ngọc) lên đường tòng chinh.

Thời điểm này nhạc sĩ Hoài Linh là cảnh sát thuộc Nha cảnh sát quốc gia, ở lại Sài Gòn làm việc, còn nhạc sĩ Song Ngọc đi vào quân trường Thủ Đức và được huấn luyện gian khổ ở nơi xa đô thành.


Click để nghe Chiều Thương Đô Thị

“Hôm xưa tay nắm tay nhau anh hỏi tôi rằng:
Những gì trong đời ta ghi sâu vào tâm tư
Không tan theo cùng hư vô
Không theo tháng năm phai mờ
Tình nào tha thiết anh ơi?”

Đêm Trao Kỷ Niệm

Nhiều người không biết rằng ca khúc rất tình cảm này là một sáng tác nổi tiếng của cố nghệ sĩ Hùng Cường, 1 trong tứ trụ nhạc vàng. Sau năm 1975, bài hát rất nổi tiếng với đôi song ca Duy Khánh – Hương Lan. Còn trước năm 1975, Băng Châu đã ghi dấu ấn với ca khúc này:


Click để nghe Đêm Trao Kỷ Niệm

Lời Của Mẹ

Ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng và Tấn An này còn có tên khác là Rồi 20 Năm Sau, được hầu hết các nữ ca sĩ danh tiếng nhất của nhạc vàng hát. Tuy nhiên Băng Châu – với thế mạnh là một người miền Tây, có giọng hát ngọt ngào rất phù hợp với bài hát có điệu ru hời này.


Click để nghe Lời Của Mẹ

Nhật Ký Hai Đứa Mình

Giọng hát của Băng Châu cũng được yêu thích với ca khúc của nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác:


Click để nghe Nhật Ký 2 Đứa Mình

Băng Châu là học trò của ca nhạc sĩ Duy Khánh, được đích thân danh ca huyền thoại, cũng là một nhà sản xuất âm nhạc danh tiếng này giúp đỡ và lăng xê, đặc biệt là với những bài hát do chính Duy Khánh sáng tác như Sao Không Thấy Anh Về, Mùa Chia Tay, Trường Cũ Tình Xưa…


Click để nghe Sao Không Thấy Anh Về


Click để nghe Mùa Chia Tay


Click để nghe Trường Cũ Tình Xưa

Mời bạn nghe thêm video 30 bài hát hay nhất của Băng Châu thu âm trước 1975 sau đây:


Click để nghe

Đông Kha – chuyenxua.vn

Chuyện tình nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và danh ca Minh Trang vào thuở bình minh của tân nhạc

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước sinh năm 1915, là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho tân nhạc Việt từ thập niên 1930, và danh ca Minh Trang, người bạn đời của ông trong gần 30 năm cũng là một trong những ca sĩ tiên phong hát tân nhạc. Họ trở thành cặp đôi nghệ sĩ nổi tiếng của làng văn nghệ ở Sài Gòn trước năm 1975.

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và danh ca Minh Trang, một người Hà Nội, một người sinh trưởng ở Huế, nhưng đều xuất thân từ gia đình danh gia vọng tộc chốn quan quyền và xây lập được hạnh phúc trên đất Sài Gòn.

Dương Thiệu Tước sinh quán ở Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), được xuất thân trong gia đình Nho học truyền thống. Ông là cháu nội của cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học Nam Định, là bạn đồng khoa thân thiết với Nguyễn Khuyến. Khi ông Dương Khuê mất, cụ Tam nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến đã viết bài Khóc Dương Khuê để thương tiếc.

Thân sinh Dương Thiệu Tước là ông Dương Tự Nhu làm bố chính tỉnh Hưng Yên.

Danh ca Minh Trang tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Trâm, sinh năm 1921 tại Bến Ngự, là con gái của quan Tổng đốc Bình Định Nguyễn Hy (sau này ông còn làm Tổng đốc Thanh Hóa, rồi Thượng thư Bộ Hình). Minh Trang còn là cháu ngoại của công chúa Mỹ Lương (còn gọi là Bà Chúa Nhứt) – chị ruột vua Thành Thái.

Tuy là công chúa nhưng Bà Chúa Nhứt có tính rất nghệ sĩ, trong nhà có hẳn một ban hát tới mấy chục người và có riêng một ban ca Huế. Ca sĩ Minh Trang – cháu ngoại của công chúa, từ nhỏ ít gần gũi cha vì ông phải đáo nhậm những nhiệm sở xa, nên Minh Trang có dịp được gần gũi với bên ngoại. Nhờ những âm thanh ca Huế thấm nhuần vào tâm hồn trong tuổi ấu thơ, mới bảy tám tuổi, bà đã thuộc những bài cổ nhạc, ca Huế như những khúc Nam Ai, Nam Bình, Kim Tiền, Lưu Thủy…

Năm 21 tuổi Minh Trang tốt nghiệp Tú Tài toàn phần của Pháp vào thời điểm hiếm có phụ nữ nào đỗ đạt được như vậy.

Người chồng đầu của Minh Trang là cụ Ưng Quả, là cháu nội Tuy Lý Vương Miên Trinh em của vua Thiệu Trị. Nhà giáo Ưng Quả là học giả uyên bác được giới khảo cứu Việt học của Pháp kính trọng và là bậc thầy của một thế hệ giáo sư, sau này có nhiều khoa trưởng của các đại học thời độc lập. Ưng Quả từng là Thái Tử Thiếu Bảo khi dạy học Thái Tử Bảo Long, là Hiệu trưởng trường Quốc Học tại Huế, giám đốc Nha Học Chánh Trung Phần thuộc Bộ Học của nước Việt Nam thời Pháp và tác giả của nhiều công trình biên khảo về văn hóa và mỹ thuật Việt Nam, từng phiên dịch văn chương Pháp qua Việt ngữ và văn học Việt Nam Pháp ngữ… Ngoài ra, cụ còn là người thẩm âm sành nhạc và gẩy đàn nguyệt khi tiêu khiển.

Cưới nhau được 3 năm, Minh Trang và Ưng Quả có 2 người con là Bửu Minh và Đoan Trang (tức ca sĩ Quỳnh Giao). Khi hát cho đài Pháp Á, Danh ca Minh Trang đã ghép 2 tên người con để làm nghệ danh cho mình.

Danh ca Minh Trang và 2 người con Bửu Minh – Đoan Trang

Vì tình hình đất nước loạn lạc từ năm 1946, những giáo chức như cụ Ưng Quả phải chạy ra vùng Việt Minh, họ xa nhau từ đó, ban đầu là tạm thời, về sau là mãi mãi, khi cụ Ưng Quả qua đời vì bệnh tật.

Minh Trang mang 2 con vào Sài Gòn, quyết tâm tự lập và xin được vào làm xướng ngôn viên và biên tập cho đài phát thanh Pháp Á, rồi sau đó trở thành ca sĩ của đài, nổi tiếng khắp 3 miền từ làn sóng phát thanh và có hát nhiều bài của Dương Thiệu Tước, đặc biệt là Đêm Tàn Bến Ngự.

Từ Hà Nội, Dương Thiệu Tước rất thích giọng hát Minh Trang nên sáng tác được bài nào đều gửi cho Minh Trang ở Sài Gòn.

Ca khúc Đêm Tàn Bến Ngự như là một mối duyên đầu tiên của chuyện tình Dương Thiệu Tước và Minh Trang.

Khi sáng tác bài hát này, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đang lênh đênh sông Hương và Bến Ngự, để rồi tức cảnh sinh tình mà viết thành ca khúc, nhưng mở đầu bài hát lại là nỗi lòng của một người đang ở cách xa Huế với tình lưu luyến trào dâng, chỉ có thể gửi gắm niềm thương nhớ non nước Hương Bình thông qua “Ai về bến Ngự”.

Hàng cây soi bóng nước Hương,
Thuyền xa đậu bến Tiêu Tương
Lưu luyến thay phút say hương dịu buồn.
Nhưng thoảng nghe khúc ca Nam Bình sầu than
Như nức nở khóc duyên bẽ bàng…

Thấp thoáng trăng mờ
Ai than ai thở đời vui chi trong sương gió.
Ai nhớ thương ai
Đây lúc đêm tàn tình đã lạt phai…

Thuyền ơi đưa ta tới đâu
Tìm trăng, trăng khuất đã lâu,
Sương xuống trên bến cô liêu, thêm sầu.
Bèo nước gió mây đêm ngắn tình dài.
Có ai nhớ, ai nơi giang đầu…


Click để nghe Minh Trang hát Đêm Tàn Bến Ngự

Bài hát đã gần như mượn hết những cặp hình ảnh mô tả tình yêu đôi lứa trong ca dao Việt Nam : thuyền – bến, gió – trăng, bèo – nước… Mượn hình bóng để viết thành lời ca ai oán, nức nở và than thở cho một mối tình bẽ bàng.

Khi sáng tác Đêm Tàn Bến Ngự, nhạc sĩ chưa quen biết với Minh Trang, nhưng thật trùng hợp, Minh Trang được sinh ra ở ngay trên Bến Ngự, và sau này là người đầu tiên trình bày thành công ca khúc này.

Lúc sinh thời, Minh Trang kể lại:

“Anh Tước viết bài đó sau hai tháng trời sống dưới đò trên sông Hương, nghe ca Huế. Viết xong anh gửi cho Minh Đỗ, nhưng nhạc miền Trung có một cái nét đặc thù của nó mà Minh Đỗ không quen hát, nên không hát. Sau đó anh gửi cho tôi.

Mỗi ca sĩ có một cách hát, nhưng riêng bài Đêm Tàn Bến Ngự, có thể nói là tôi hát một cách tự nhiên, vì từ nhỏ tôi đã đàn tranh, đã hát Kim Tiền – Lưu Thủy rồi, nên khi cầm bản Đêm Tàn Bến Ngự lên đọc qua đã thấy quen thuộc. Những chỗ láy cho ra Huế, nó đến với tôi một cách tự nhiên, không một chút cố gắng nào cả. Tuy tôi nói giọng Quảng nhưng vì ca Huế nó nằm sẵn trong huyết quản mình…”

Năm 1949, Dương Thiệu Tước mới lần đầu được gặp mặt nữ danh ca Minh Trang. Khi đó Thủ hiến Bắc kỳ là Nguyễn Hữu Trí vì mến mộ giọng hát Minh Trang nên đã mời bà từ Sài Gòn ra Hà Nội dự Hội chợ đấu xảo. Đây là dịp để các nhạc sĩ hào hoa xứ Bắc được chiêm ngưỡng nhan sắc của một giai nhân ở trời Nam. Tuy đã có hai con nhưng Minh Trang lúc ấy vẫn giữ được một vẻ đẹp quý phái làm say đắm nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

Sau này Minh Trang kể lại: “Mặc cho các bạn Thẩm Oánh, Nguyễn Thiện Tơ, Dzoãn Mẫn… rối rít, ông ấy (Dương Thiệu Tước) im lặng từ đầu đến cuối. Chỉ nhìn thôi. Lâu lâu mới mỉm cười. Sự xa cách, lặng lẽ này khiến tôi càng thêm chú ý. Trước khi gặp gỡ, tôi đã từng hát nhạc của ông ấy nên tôi cũng rất ao ước được gặp mặt con người tài hoa này.

Sau đó tôi về Sài Gòn, chúng tôi thư từ cho nhau, thấy hợp, rồi thành.

Khi tôi mới vào lại Sài Gòn, vì nhớ tôi mà anh Tước viết bài Sóng Lòng. Dạo ấy anh còn sáng tác Ngọc Lan là để tặng riêng cho tôi. Tuy đó là tên một loài hoa, nhưng người ta có thể thấy được trong lời ca là mô tả người thiếu nữ…”

Nếu nhìn lại tờ nhạc bản gốc của Nhà xuất bản Tinh Hoa (1953) sẽ thấy tất cả những chữ Ngọc Lan trong bài hát đều được viết hoa:

Ngọc Lan
giòng suối tơ vương
mắt thu hồ dịu ánh vàng…

Theo ca sĩ Quỳnh Giao (con gái của Minh Trang), thì Dương thiệu Tước viết bài Ngọc Lan tại đất thần kinh năm 1953, khi cùng Minh Trang về Huế thăm đại gia đình đã xa cách lâu ngày.

Bài hát tả đóa hoa để nói về tình yêu thanh khiết. Chỉ cần nghe phần nhạc có hòa âm công phu của bài này, người nghe đã cảm nhận được nét đẹp lả lướt mà không lả lơi, phóng khoáng mà không phóng túng, giai điệu cũng rất trang trọng, quý phái. Trước vẻ đẹp của hoa, người nghệ sĩ chỉ có thể trầm trồ:

Ngọc Lan
nhành liễu nghiêng nghiêng
tà mấy cánh phong
nắng thơm ngoài song.

Nét thắm tô bóng chiều,
giấc xuân yêu kiều,
nền gấm cô liêu.

Gió rung mờ suối biếc,
ý thơ phiêu diêu!


Click để nghe Lệ Thu hát Ngọc Lan trước 1975

Phần đầu tha thiết dịu dàng mở ra như một đóa hoa ngọc lan mới nở và phả ra hương thơm ngoài hiên nắng. Từ cánh hoa trắng muốt như bạch ngọc, nhạc sĩ chuyển qua phần hai, ngợi ca cả thanh lẫn sắc. Hóa ra hoa đó là người, và là người rất đẹp. Hình dáng người được mô tả là “ngón tơ mềm”, “dáng tiên nga”, và thanh âm của người tiên nga đó được mô tả là “giọng ướp men thơ” và “trầm ngát thu hương”… toàn là những mỹ từ ngây ngất thường chỉ được thấy trong văn thơ hoặc một số bài nhạc tiền chiến.

Ngón tơ mềm chờ phím ngân trùng,
mạch tương lai láng.
Dáng tiên nga giấc mơ nghê thường lỡ làng.

Ngọc Lan giọng ướp men thơ,
mát êm làng lụa bóng là.

Ngọc Lan trầm ngát thu hương.
Bờ xanh bóng dương phút giây chìm sương.

Bông hoa đời ngàn xưa tới nay.
Rung nhạc đó đây cho đời ngất ngây…

Sau năm 1975, cuộc sống của gia đình Dương Thiệu Tước, Minh Trang gặp rất nhiều khó khăn. Nhạc của ông bị cấm hoàn toàn, ông cũng không còn được cho đi dạy nhạc ở trường Quốc Gia Âm Nhạc nữa, cuộc sống trở nên túng quẫn. Năm 1978, Minh Trang dẫn các con sang Thái Lan rồi qua Mỹ, Dương Thiệu Tước ở lại cho đến khi qua đời năm 1995.

Sau này Minh Trang kể lại:

Anh Tước và tôi rất hợp, sống với nhau gần 30 năm trời, không có sóng gió gì cả. Anh Dương Thiệu Tước hiền lành lắm, timide (nhát) nữa là khác. Đương nhiên, anh có một tâm hồn rất nghệ sĩ, do đó anh cũng có bay bướm, nhưng mà tôi chấp nhận…

Trong bài báo được đăng tải vào khoảng đầu thập niên 1960 sau đây, chúng ta sẽ được nghe kể lại câu chuyện tình nổi tiếng của Dương Thiệu Tước và Minh Trang qua bài viết của nhà văn Mai Thảo sau đây:

Tư liệu của Leminh Saigon

[…]

Đó là một mối tình cực kỳ thơ mộng. Nó phảng phất cái cốt cách Tố Tâm, thấp thoáng cái không khí Tuyết Hồng Lệ Sử. Đó là sự chắp nối kỳ diệu của hai “lỡ một đường tơ” thành một chuyện điệu đàn. Đó là những nắng nắng mưa mưa, những gió gió bão bão, những chìm chìm nổi nổi của hai cuộc đời, nếu riêng biệt, có thể sẽ cô đơn và buồn thảm ngần nào, nhưng hợp lại, nắng đã lên, mùa xuân đã về, và hạnh phúc đã lại.

Mối tình đó, mối tình Minh Trang – Dương Thiệu Tước xứng đáng được mệnh danh là mối tình của Âm Nhạc và Làn Sóng Điện. Một Âm Nhạc làm bà mai. Và một Làn Sóng Điện làm gã đưa thư.

Bởi vì họ gặp nhau bằng tiếng hát
Bởi vì họ yêu nhau qua không gian.

Nàng ra đời trên bến Ngự. Tuổi nhỏ nghiêng khuôn mặt hiền từ xuống con sông Hương nghìn đời êm ả. Một tuổi nhỏ được ru trong những điệu hát cổ truyền. Chính tuổi nhỏ này làm nên Minh Trang ca sĩ. Bà ngoại nàng là bà Chúa Nhất, cô ruột của Cựu Hoàng ăn chơi. Cháu hoàng đế nào, cô Chúa Nhất thế. Cũng ăn chơi đến điều. Tóc đã bạc, da đã mồi, mà tâm hôn thật trẻ, nên bà Chúa Nhất ăn chơi đã chọn cho cái tuổi xế chiều được tắm đẫm trong âm thanh, trong đàn địch. Trong nhà bà, lúc nào cũng có mấy chục “con ca” suốt ngày múa hát, tập dượt. Minh Trang được bà chiều cho ngồi trên đùi gối, rồi bà già dậm chân gõ nhịp và cháu cũng nghiêng đầu ca hát theo. Thế cho nên người ta không ngạc nhiên khi thấy Minh Trang mới 6 tuổi, còn nhảy nhót đùa nghịch như một đứa con trai, mà đã am tường thấu đáo thế nào là hát Bội, ca Huế, thế nào là múa bài bông, Lưu Thủy, Kim Tiền. Những điệu múa, những ca khúc cổ vũ làm nên cái linh hồn xứ Huế ấy đi theo Minh Trang khi lớn lên, nàng theo cha qua hầu hết các thị trấn miền Trung, người thiếu nữ dòng dõi quyền quý này thời kỳ đến sống trong dinh Tổng Đốc Thanh Hoa đã vừa tròn mười tám tuổi. Bấy giờ Minh Trang đã hát, hát thật giỏi, thật vững. Từ Huế, nàng bay thẳng vào Sài Gòn, biến thành người nữ ca sĩ trụ cột của Đài phát thanh Pháp Á.

Tiếng hát truyền đi trên Làn Sóng Điện, qua núi sông, qua không gian, vượt Hải Vân, qua Lăng Tẩm, tới địa đầu đất Bắc, nó xuống thấp như một cánh bướm, tìm đường, nó từ miền Trong bay tới miền Ngoài, nó từ Sài Gòn bay tới Hà Nội. Và lọt đến tai chàng. Thế là sự gặp gỡ định mệnh. Sự gặp gỡ tình cờ chỉ từ một dư âm tiếng hát mong manh mà bền vững đời đời đời kiếp kiếp: Con sống Hương Minh Trang gặp con sông Đáy Dương Thiệu Tước.

Có điều là nàng hát rồi, tiếng hát của nàng đã được mến yêu, nhưng chàng còn là một soạn giả trẻ tuổi, chưa có một vốn liếng nào hơn là một tâm hồn nghệ sĩ chứa đầy tham vọng. Hà Nội bấy giờ là một Hà Nội chưa có soạn giả, chưa có âm nhạc. Một Hà Nội lãng mạn kiểu Lamarline, như một hiện tượng quá mùa. Một Hà Nội lố lố lăng lăng chạy theo phong trào vui vẻ trẻ trung, tôn thờ Tino Rossi như thần tượng, mê Greta Garbo như tuổi trẻ mê Liz Taylor bây giờ. Thanh niên Hà Nội hát Tây ông ổng, và chàng Dương Thiệu Tước bực mình lắm. Một đêm, đứng ngắm cái tháp Rùa trầm tư mặc tưởng giữa Hồ Gươm, một câu hỏi bỗng vang lên: Tại sao không có nhạc mới Việt Nam, những bản nhạc của những soạn giả Việt Nam? Nghĩ và làm. Bực mình và thực hiện. Cùng với mấy bạn Văn Chung, Lê Thương… Dương Thiệu Tước dùng tất cả sức say mê của mình, ném vào vùng nhạc Việt im lìm hoang vu như một mảnh đất chưa khai thác những âm thanh mở đường thứ nhất. Ban nhạc Myosotis như một hoạt động khai sinh cho loại nhạc cải cách, mang trong nó tham vọng lớn lao đổi thay thị hiếu một thời, ra chào đời giữa phố phường Hà Nội. Nó bị công kích dữ dội. Nhưng giá có bị công kích dữ dội gấp nghìn lần như thế, Tước cũng tiếp tục. Bởi vì lúc đó chàng sống say mê với lý tưởng. Bởi vì lúc đó chàng sống say mê với tình yêu.

Tình yêu mang hình trừu tượng của một âm thanh. Tiếng hát nghìn trùng xa cách ở đầu bên này Làn Sóng Điện, lọt đến tai chàng. Chàng ôm mối tình âm thanh trong lòng, mang chung cái tâm trạng Mỵ Nương chỉ thấy tiếng mà chưa thấy hình Trương Chi, nhưng chàng sống, sống hết mình với nó. Những bài hát hay nhất của Dương Thiệu Tước được hoàn thành trong thời kỳ này. Ngợi ca quê hương nàng, chàng làm Đêm Tàn Bến Ngự. Bản Sóng Lòng để nói lên cái biển tình đêm ngày dào dạt. Bản Ngọc Lan vì nhớ người xa như nhớ một mùi hương. Rồi là Buồn Xa Vắng, Bóng Chiều Xưa, Một Chiều Xuân… Đến bản Ước Hẹn Chiều Thu, thì đúng là một chiều Thu heo may mưa phùn Trang ra Hà Nội.

Thì ra âm nhạc có hồn. Thì ra âm nhạc thần giao cách cảm. Hai con thuyền cùng gió bão lênh đênh tự đó cắm neo trong cái bến nhạc, cột chặt số kiếp, lật ngược thời gian, biến mối tình cuối cùng thành mối tình thứ nhất. Sau lần hội ngộ ở nhà riêng của Tước trong Ngõ Hàng Kèn, Minh Trang vì bấy giờ đã vừa là ca sĩ vừa là nhân viên của đài phái đi công cán, phải trở lại Sài Gòn.

Tới 1951, Dương Thiệu Tước vào Nam. Một hôn lễ được cử hành ở Tòa Thị Chính. Một tiệc cưới được tổ chức ở nhà hàng Nguyễn Văn Đắc. Thời đại đổi khác. Thần thoại cũ không trở lại làm thảm kịch của người. Không có chuyện mối tình mang xuống tuyền đài chưa tan, mà chỉ có cái chuyện Dương Thiệu Tước yêu mà chưa gặp, giờ gặp mà vẫn yêu. Còn có triền núi Hoành Sơn nào, con sông Cửu Long nào cản được? Thế là con sống Hương lấy con sông Đáy. Cháu bà Chúa Nhất lấy cháu cụ nghè Dương Khuê. Thế là hai đơn âm lẻ loi hợp thành một bản hòa tầu. Dương Thiệu Tước và Minh Trang lấy nhau. Bà mai Làn Sóng Điện xoa tay mỉm cười. Cái duyên âm nhạc đã thành cái duyên cầm sắt.

Bao nhiêu năm qua, khuôn mặt hạnh phúc vẫn trẻ. Nhưng họ đã già. Chàng: mái đầu đã điểm những sợi bạc. Nàng: đã là mẹ của bảy đứa con. Những nhu cầu sinh kế càng ngày càng tăng, đòi hỏi cả hai phải làm việc cật lực. Tác giả của 200 bản nhạc trong số đã có trên 100 bản được phổ biến. Dương Thiệu Tước vẫn chưa có quyền “dưỡng lão”. Hiện làm giáo sư tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Hiện làm trường ban hai ban nhạc trên Đài Quốc Gia. Hiện đã 50 tuổi. Không lãng mạn không sôi nổi như thuở nào nữa. Mà hiền, chậm chạp, lặng lẽ và ít nói vô cùng. Đôi khi, hồi tưởng lại dĩ vãng cùng tuổi trẻ, chàng lại bảo với nàng là chàng nhớ những đêm trăng sáng trên Hồ Lãng Bạc bơi thuyền, đánh đàn. Nhớ hàng triệu con sóng vàng óng ánh trên mặt hồ tuổi cũ. Nhớ cái hình ảnh của dòng sông Đáy quê hương xanh mướt dưới bóng núi Hương Tích, mà chàng đã gửi vào bản Thuyền Mơ, là bản chàng yêu thích nhất ngoài những bản sáng tác vì nàng.

Còn nàng? Hiện là một người mẹ bốn mươi, không buồn bao giờ, xưa thích ngắm trời thật xanh, giờ thích nghe chiều mưa rơi, hiện làm kiểm duyệt viên Pháp Ngữ của Đài, hát trong hai ban của chồng, ban Hoàng Lan nữa, một hồi còn làm xướng ngôn viên cho rạp Eden, và xuất hiện rất nhiều lần trên sân khấu, được giải thưởng với Chiếc Tàu Thuốc Lá, được ngợi khen với Ngày Mai Trời Lại Sáng, Chúng Nó Ba Thằng…

Từ cuộc tình duyên lãng mạn ngày nào, bảy đứa con đã là bảy chiếc thuyền nhỏ vây quanh thuyền cha thuyền mẹ. Tron số ấy, đứa con trai đầu lòng đã xuất dương sang du học bên Đức. Và đứa thứ nhì, cô nữ ca sĩ Quỳnh Dao mười bảy tuổi, đã có một tiếng hát giống mẹ ở khía cạnh căn bản vững vàng, nhạc lý chắc chắn, là hai yếu tố đắc lực tạo thành một âm thanh điêu luyện.

Ở một bài viết trước tôi đã ghi nhận lại sự khen ngợi của ca sĩ Kim Tước về tiếng hát Quỳnh Dao. Đang ở tuổi vị thành niên mà đã có được chỗ đứng trong các ban Hoàng Trọng, Nguyễn Quý Lãm, ban Hợp Xướng ngoài hai ban của cha Tước không cần nói đến, là vì Quỳnh Dao đã hát từ năm lên tám tuổi. Vừa hát vừa tập đàn, nên tiếng hát chỉ cần nuôi dưỡng cho ấm, cho khỏe, cho lớn, những cái đó chắc chắn sẽ đến với tuổi, với đời, Quỳnh Dao khỏi lo nên ngày ngày đi học chữ về, đi học nhạc xong, là cô nhỏ tâm tính nghịch ngợm như mẹ ấy lại chạy phăng ra đầu ngõ đánh đáo, nhảy dây, cướp cờ, nhất định không chịu để âm nhạc cướp mất cái phần hồn nhiên tuổi trẻ.

Đó, mối tình của Minh Trang Dương Thiệu Tước. Đó, hạnh phúc, gia đình và đời sống của họ. Đó, một Minh Trang đã một nửa đời người, một Dương Thiệu Tước đã đời người một nửa, một Quỳnh Dao mà khuôn mặt, tiếng hát mới đời người có một phần tư, là ba hình ảnh nối kết đằm thắm dưới một mái nhà âm nhạc. Phần đời sôi nổi bỏ lại xa tít trong quá khứ, cặp tài từ thuở xưa đã dệt cho nhau một trong những chiếc áo tình yêu lãng mạn nhất, lãng mạn đến có thể làm thành thơ, phổ thành nhạc, viết thành truyện giờ chỉ còn là một cặp vợ chồng hòa thuận rủ nhau chạy trốn vào bóng mát của một hạnh phúc nghỉ ngơi.

Nửa tháng trước đây, đi qua một ngõ nhỏ yêu tĩnh như một con đường làng ở vùng Tân Sơn Nhất, họ đã dừng lại một căn nhà cổ, nằm nép mình dưới một bụi tre ngà. Lá tre phất nghìn ngón tay. Tiếng dương cầm của một giờ luyện nhạc thánh thót Minh Trang chợt nhớ đến cái Bến Ngự của nàng ở Huế. Dương Thiệu Tước chợt mong một ngày về Hà Nội. Nhưng họ cùng mỉm cười khi nhìn ra đầu ngõ để thấy một Quỳnh Dao đang vun vút nhảy dây trong nắng. Hiện tại ở đó, con cái đã lớn, Làn Sóng Điện làm cho Sông Hương Sông Đáy gặp nhau. Hai con sông lòng bây giờ chảy thành nhiều nhánh nhỏ. Và tiếng sóng còn hát, còn đàn, vẫn trên cái luồng âm thanh tạo thành cuộc tình của họ là Làn Sóng Điện, một làn sóng điện ngày nào đã đóng vai trò của một bà mai, một gã đưa thư cho nàng Minh Trang và chàng Dương Thiệu Tước. (Mai Thảo – Báo Kịch Ảnh) […]

Bài: Đông Kha – chuyenxua.vn

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và những ca khúc bất tử: Tiếng Xưa, Đêm Tàn Bến Ngự, Ngọc Lan

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là nhạc sĩ thế hệ đầu của tân nhạc Việt Nam với những ca khúc bất từ: Đêm Tàn Bến Ngự, Ngọc Lan, Tiếng Xưa… đặc biệt là những bài hát được viết chung với danh ca Minh Trang – là ngời bạn đời của ông: Bến Xuân Xanh, Bóng Chiều Xưa, Chiều Lữ Thứ, Khúc Nhạc Dưới Trăng… Ngoài ra còn một ca khúc viết về cha mẹ mà cho đến nay hầu như tiệc cưới nào cũng vang lên lúc làm lễ, đó là bài Ơn Nghĩa Sinh Thành.

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước sinh ngày 15 tháng 5 năm 1915 ở Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Xuất thân trong gia đình Nho học truyền thống, ông là cháu nội của cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học Nam Định, là bạn đồng khoa thân thiết với Nguyễn Khuyến. Khi ông Dương Khuê mất, cụ Tam nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến đã viết bài Khóc Dương Khuê để thương tiếc.

Thân sinh Dương Thiệu Tước là ông Dương Tự Nhu làm bố chính tỉnh Hưng Yên. Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước mê đàn từ nhỏ, 7 tuổi ông đã được học đàn nguyệt rồi đàn tranh và cổ nhạc, 14 tuổi đã học piano của giáo sư người Pháp tại Viễn Đông Âm nhạc Viện và học guitar cổ điển cùng các tiết tấu dạ vũ.


Click để nghe Thanh Thúy hát Tiếng Xưa của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (thu âm trước 1975)

Trong thập niên 1930, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis (Hoa lưu ly) gồm có các nhạc sĩ Thẩm Oánh, Lê Yên, Vũ Khánh… Ông là người có sáng kiến soạn nhạc “bài Tây theo điệu ta”, ca khúc đầu tay của ông có lời Việt là Tâm Hồn Anh Trao Em được sáng tác vào khoảng năm 1936. Nói vậy bởi vì trước đó Dương Thiệu Tước đã sáng tác một số ca khúc và đã được Thẩm Bích (bảo huynh của Thẩm Oánh) đặt lời bằng tiếng Pháp, như là hai bản nhạc mang tên Joie d’aimer và Souvenance. Mặc dù học nhạc phương Tây nhưng nhạc của ông vẫn thắm đượm hồn dân tộc.

Năm 1934, khi 19 tuổi, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước lập gia đình với bà Lương Thị Thuần, cũng xuất thân từ một dòng họ khoa bảng. Thời đó việc kết hôn thường được các cụ dàn xếp theo truyền thống “môn đăng hộ đối”. Họ có với nhau 5 người con trước khi chia tay với nhau.

Năm 1938, ông cùng nhóm Myosotis đã cho xuất bản những nhạc phẩm đầu tiên của tân nhạc Việt như Đồi Oanh Vàng, Hoa Tàn, Phút Vui Xưa… Cũng trong năm này, Myosotis đã có buổi trình diễn trước đông đảo công chúng tại rạp Olenpia (nay là rạp Hồng Hà đối diện chợ Hàng Da – số 51 Đường Thành, Hà Nội), sau đó thường xuyên được Hội Ánh Sáng của Tự Lực Văn Đoàn mời biểu diễn. Ông cũng thành lập hội khuyến nhạc cùng với nhạc sĩ Thẩm Oánh để cổ động và phổ biến cho tân nhạc Việt Nam.

Có thể nói Dương Thiệu Tước là nhạc sĩ tài hoa bậc nhất của thế hệ các nhạc sĩ tiên phong của tân nhạc. Không chỉ là nhà soạn nhạc, ông còn là một danh cầm, sử dụng được nhiều nhạc cụ khác nhau, trong đó nổi tiếng nhất và có lẽ không ai thể sánh bằng là đàn Hạ Uy cầm. Chính ông đã sáng tác một bản nhạc không lời có tựa tiếng Pháp là Tondoux souire cgo riêng nhạc cụ này. Thính giả của Đài Phát Thanh Sài Gòn năm xưa hẳn vẫn còn nhớ tiếng Hạ Uy Cầm dịu dặt ngọt ngào của ông trong hai thập niên 1950-1960, hàng đêm vẫn ru hồn người qua các tình khúc nổi tiếng như Bến Xuân, Suối Mơ của Văn Cao, và cả bản Ngọc Lan của chính ông sáng tác.

Là người chủ trương soạn nhạc theo âm điệu của Tây phương và chịu ảnh hưởng nhiều của loại nhạc khiêu vũ, nhưng Dương Thiệu Tước lại có sự hiểu biết sâu xa về cổ nhạc dân tộc, và có khả năng chơi đàn tranh, đàn bầu một cách điêu luyện. Tất cả những tinh hoa ấy đã được ông kết hợp lại để cho chúng ta những tác phẩm soạn theo cung điệu, thể điệu Tây phương nhưng lại mang âm hưởng đặc thù của nhạc dân tộc như bản Tiếng Xưa viết năm 1939, và sau đó là Đêm Tàn Bến Ngự, được xem là 2 trong số tác phẩm nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của ông.


Click để nghe Minh Trang hát Đêm Tàn Bến Ngự

Ai về bến Ngự cho ta nhắn cùng
Nhớ chăng non nước Hương Bình
Có những ngày xanh lưu luyến bao tình
Vương mối tơ mành…

Khi sáng tác bài hát này, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đang lênh đênh sông Hương và Bến Ngự, để rồi tức cảnh sinh tình mà viết thành ca khúc, nhưng mở đầu bài hát lại là nỗi lòng của một người đang ở cách xa Huế với tình lưu luyến trào dâng, chỉ có thể gửi gắm niềm thương nhớ non nước Hương Bình thông qua “Ai về bến Ngự”.

Hàng cây soi bóng nước Hương,
Thuyền xa đậu bến Tiêu Tương
Lưu luyến thay phút say hương dịu buồn.
Nhưng thoảng nghe khúc ca Nam Bình sầu than
Như nức nở khóc duyên bẽ bàng…

Thấp thoáng trăng mờ
Ai than ai thở đời vui chi trong sương gió.
Ai nhớ thương ai
Đây lúc đêm tàn tình đã lạt phai…

Thuyền ơi đưa ta tới đâu
Tìm trăng, trăng khuất đã lâu,
Sương xuống trên bến cô liêu, thêm sầu.
Bèo nước gió mây đêm ngắn tình dài.
Có ai nhớ, ai nơi giang đầu…


Click để nghe Ngọc Cẩm hát (trước 75)

Bài hát đã gần như mượn hết những cặp hình ảnh mô tả tình yêu đôi lứa trong ca dao Việt Nam : thuyền – bến, gió – trăng, bèo – nước… Mượn hình bóng để viết thành lời ca ai oán, nức nở và than thở cho một mối tình bẽ bàng.

Xứ Huế có một sự gắn bó định mệnh với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Từ thời trẻ tuổi, ông hay có những chuyến đi từ Hà Nội đến phế đô để tìm hiểu về các làn điệu dân ca. Huế với những thánh quách cổ rêu phong, từng lưu dấu bao tình này cũng là nơi xuất thân của danh ca Minh Trang, người đã cùng với Dương Thiệu Tước trở thành đôi tài tử – giai nhân nổi tiếng của làng nghệ thuật. Và bài hát Đêm Tàn Bến Ngự sáng tác vào cuối thập niên 1940 cũng đã được giọng hát Minh Trang cất lên lần đầu tiên trên đài phát thanh Pháp Á, cũng như thu thanh vào dĩa than Phillips hồi 70 năm trước.


Click để nghe bản thu của Minh Trang gần 70 năm trước

Danh ca Minh Trang và nhạc sĩ Dương Thiệu Tước

Hoàn cảnh sáng tác của ca khúc này, danh ca Minh Trang kể lại như sau:

“Anh Tước viết bài đó sau hai tháng trời sống dưới đò trên sông Hương, nghe ca Huế. Viết xong anh gửi cho Minh Đỗ, nhưng nhạc miền Trung có một cái nét đặc thù của nó mà Minh Đỗ không quen hát, nên không hát. Sau đó anh gửi cho tôi.

Mỗi ca sĩ có một cách hát, nhưng riêng bài Đêm Tàn Bến Ngự, có thể nói là tôi hát một cách tự nhiên, vì từ nhỏ tôi đã đàn tranh, đã hát Kim Tiền – Lưu Thủy rồi, nên khi cầm bản Đêm Tàn Bến Ngự lên đọc qua đã thấy quen thuộc. Những chỗ láy cho ra Huế, nó đến với tôi một cách tự nhiên, không một chút cố gắng nào cả. Tuy tôi nói giọng Quảng nhưng vì ca Huế nó nằm sẵn trong huyết quản mình…”

Mặc dù nhạc sĩ Dương Thiệu Tước theo học nhạc Tây từ thuở nhỏ, nhưng từ thời kỳ cuối thập niên 1940, nhạc của ông thấm đẫm tính dân tộc. Lúc sinh thời, ông từng nói: “Theo tôi tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền”.

Điều đó được thể hiện rõ qua các ca khúc như Ơn Nghĩa Sinh Thành, Đêm Tàn Bến Ngự, đặc biệt là Tiếng Xưa của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.


Click để nghe Thái Thanh hát Tiếng Xưa trước 1975

Ca khúc Tiếng Xưa là những tâm sự bàng bạc của một người lữ khách khi đứng trước những thành quách cũ rêu phong đã thành phế tích, cảm nhận được những oai linh uy vĩ, người nhạc sĩ chợt nhớ về câu chuyện Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị năm xưa, và nghe như khúc nghê thường vọng về từ ngàn năm trước:

Hoàng hôn lá reo bên thềm
Hoàng hôn tơi bời lá thu
Sương mờ ngậm ngùi xuân xanh
Bâng khuâng phím loan vương tình


Click để nghe Giao Linh hát Tiếng Xưa trước 1975

Khung cảnh của bài hát được giới thiệu là một buổi hoàng hôn với lá thu rụng tả tơi bên thềm, xa xa là sương mờ giăng khuất lối. Một cảnh gợi buồn và làm lòng người bâng khuâng, vương tình lên những phím loan. “Phím loan” là một từ cổ, có nghĩa là cung đàn, mà ở phần sau đó nhạc sĩ nhắc lại trong câu hát “cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương”.

Đâu bóng trăng xưa mơ khúc nghê thường
Phai tàn một thời liệt oanh
xa đưa gió may lạnh lùng…

Bài hát này được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước viết trong hoàn cảnh ông thường xuyên đi về giữa Hà Nội và Huế để tìm hiểu về những làn điệu dân nhạc và cổ nhạc xa xưa. Huế với những phế tích u buồn trầm mặc suốt trăm năm, làn gió heo may lạnh lùng như từ cõi nào xa xăm thoảng qua hồn người lữ khách, mang theo cả linh khí của những đấng quân vương đã một thời liệt oanh còn in hằn trên những rêu phong thành quách, như khúc nghê thường bàng bạc sương khói mông mênh của những ngày xưa cũ.

Trước cảm giác có vẻ rất mơ hồ, nhưng trong lòng người lại cảm nhận được sự đau xót thực sự, và 2 dòng châu đã tuôn trào niềm xót xa trong tâm khảm:

Chiều thu nhớ nhung vì đâu,
Thắm đôi giòng châu
Tiếc thay tại sao đành lỡ làng

Man mác khói hương bay dịu dàng
Như tóc mây vương
Dáng liễu mơ màng
Cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương
ai đó tri âm biết cùng.

Nhạc sĩ Phạm Duy từng có nhận xét về tân nhạc thời kỳ đầu, đại loại, ông nói rằng cả một dòng nhạc tiền chiến được “thoát thai từ Đường thi”. Và nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (rồi sau này là Đoàn Chuẩn, Cung Tiến, Nguyễn Văn Đông…) đã thường xuyên đưa những điển cố, điển tích vào trong âm nhạc.


Click để nghe Hoàng Oanh hát Tiếng Xưa trước 1975

Với bài Tiếng Xưa, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đã sử dụng nhiều hình ảnh trong bài thơ Tỳ Bà Hành của thi sĩ Bạch Cư Dị, và có thể nói rằng Tầm Dương đã vượt thoát ra khỏi một địa danh cụ thể ở bên Trung Hoa để trở thành Tầm Dương chung của muôn triệu lòng người.

Trước đó, những hình ảnh như “bóng trăng”, “khúc nghê thường”, “giòng châu” hay “ai đó tri âm” cùng đều liên quan đến bài thơ “Tỳ Bà Hành” nổi tiếng.

Bến Tầm Dương từ thơ của Bạch Cư Di với nét phong sương lãng đãng của tài tử cùng nỗi sầu của người kỹ nữ truân chuyên vì đã quá tuổi và nhan sắc tàn tạ. Trong hơi thu quạnh quẽ vào lúc đêm tàn, người kỹ nữ dáng liễu mơ màng rung lên khúc nghê thường để mong tìm chút đồng cảm tri âm của người khách qua đường.

Lần thứ nhất, tiếng tỳ bà mời khách vang lên từ xa “nghe vẳng bên sông” hòa với hơi thu, với tiếng lau lách đìu hiu.

Lần thứ hai, tiếng tỳ bà réo rắt với bao thanh âm huyền diệu nhặt khoan, sầu thương giữa tiệc hoa.

Lần thứ ba, tiếng tì bà ai oán rung lên cuối tiệc rượu.

Tiếng đàn người kỹ nữ, chén rượu tiệc hoa, giọt lệ trên chiếc áo xanh lam của quan Tư Mã trong đêm thu tượng trưng cho những phận người gian truân và chìm nổi ở trên đời. Hơn 1000 năm sau đó, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đứng giữa trời đất và thành quách xưa cũ, nghe gió thu về vọng âm như khúc nghê thường năm xưa, chính là Tiếng Xưa đã làm dâng lên bao nhiêu niềm xúc cảm.


Click để nghe Thanh Thúy hát Tiếng Xưa trước 1975

Ngoài ra, những sáng tác khác của Dương Thiệu Tước được ra đời từ cuối thập niên 1940 – 1950 và được công chúng biết đến cho đến nay gồm có: Kiếp Hoa, Áng Mây Chiều, Xuân Tươi, Dưới Nắng Hồng Thiếu Niên Xuân Khúc, Nhạc Ngày Xanh, Thuyền Mơ…


Click để nghe Minh Trang hát Áng Mây Chiều

Dù viết theo thể điệu gì, nhạc của Dương Thiệu Tước vẫn mang nét sang cả, trang trọng, vì thế mà nhạc sĩ Phạm Duy đã xếp nhạc của ông vào loại nhạc quý phái. Có người nói Dương Thiệu Tước chỉ sáng tác một bản nhạc tình là bản Bóng Chiều Xưa. Nhưng thực ra, chỉ trừ một vài ca khúc đặc biệt như Tiếng Xưa, Ơn Nghĩa Sinh Thành, thì hầu hết các ca khúc còn lại của ông đều là tình ca.

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn đã có nhận xét chi tiết như sau:

“Trong các ca khúc của Dương Thiệu Tước, tình thường lẫn với cảnh. Người ta không biết ông yêu người hay yêu cảnh hơn? Cũng có thể vì yêu người nên yêu cảnh và ngược lại”

Năm 1940, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước có mở cửa hiệu bán và sửa chữa đàn tại số 57 Hàng Gai – Hà Nội, nhưng sau đó phải đóng do tình hình đất nước.

Năm 1949, Dương Thiệu Tước lần đầu được gặp mặt nữ danh ca Minh Trang, trước đó đã rất nổi tiếng trên đài Pháp Á. Khi đó Thủ hiến Bắc kỳ là Nguyễn Hữu Trí mời Minh Trang từ Sài Gòn ra Hà Nội dự Hội chợ đấu xảo tại Hà Nội. Đây là dịp để các nhạc sĩ hào hoa xứ Bắc được chiêm ngưỡng nhan sắc của một giai nhân ở trời Nam. Tuy đã có hai con nhưng Minh Trang lúc ấy vẫn giữ được một vẻ đẹp quý phái làm say đắm nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

Danh ca Minh Trang và 2 người con (bên phải là ca sĩ Quỳnh Giao)

Sang đầu thập niên 1950, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước lập gia đình với danh ca Minh Trang. Đó cũng là cuộc hôn nhân thứ 2 của cả 2 người, chồng cũ của Minh Trang là cụ hoàng thân Ưng Quả đã qua đời năm 1951.

Để kỷ niệm cho mối tình này, Dương Thiệu Tước viết tặng cho vợ ca khúc nổi tiếng mang tên Ngọc Lan.

Bài Ngọc Lan được dựa vào tên thật là Ngọc Trâm của Minh Trang. Nếu nhìn lại tờ nhạc bản gốc của Nhà xuất bản Tinh Hoa sẽ thấy tất cả những chữ Ngọc Lan trong bài hát đều được viết hoa:

Ngọc Lan
giòng suối tơ vương
mắt thu hồ dịu ánh vàng.

Ngọc Lan
nhành liễu nghiêng nghiêng
tà mấy cánh phong
nắng thơm ngoài song.


Click để nghe Lệ Thu hát Ngọc Lan

Một ca khúc nổi tiếng khác được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước viết cho Minh Trang là Bóng Chiều Xưa. Nếu như bản Ngọc Lan là lời tỏ tình, thì Bóng Chiều Xưa chính là sự hòa điệu của đôi uyên ương đã thành đôi. Bóng Chiều Xưa không chỉ là sáng tác chung của Dương Thiệu Tước và Minh Trang, mà còn được chính hai người loan phụng họa minh trên Đài Phát Thanh Pháp Á. Cũng cần nói thêm Dương Thiệu Tước ngoài biệt tài sáng tác, ông còn có tài ca hát với nghệ danh Vân Hải.


Click để nghe Anh Ngọc hát Bóng Chiều Xưa

Năm 1954, Dương Thiệu Tước – Minh Trang di cư vào Sài Gòn sinh sống. Từ giữa thập niên 1960 qua thập niên 1970 trở đi, ông sáng tác ít dần, thay vào đó tập trung giảng dạy và điều hành. Ông làm chủ sự phòng văn nghệ tại đài phát thanh Sài Gòn, đồng thời được mời làm giáo sư dạy Lục Huyền Cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc.

Thời kỳ này, ông ấp ủ ý nguyện hội nhập cá tính và hồn Việt Nam vào tân nhạc, nên cho ra đời một chương trình có tên là “Cổ Kim Hòa Điệu”, phát thanh thường xuyên tại đài phát thanh Sài Gòn vào những năm cuối thập niên 1950. Trong chương trình này, ông sử dụng cả hai nhạc cụ Tây Phương và cổ truyền Việt Nam để trình diễn tân nhạc.

Sau năm 1975, Dương Thiệu Tước ở lại Việt Nam vì bệnh tật. Tuy nhiên nhạc lãng mạn của ông bị cấm hoàn toàn, và ông cũng không được được tiếp tục dạy nhạc ở trường Quốc Gia Âm Nhạc nữa.

Dương Thiệu Tước và Minh Trang

Năm 1978, Minh Trang cùng các con sang định cư ở nước ngoài, vài năm sau, Dương Thiệu Tước về chung sống với bà Nguyễn Thị Nga tại quận quận Bình Thạnh và được bà chăm lo lúc tuổi về chiều, cho đến lúc qua đời ngày 1/8/1995, hưởng thọ 80 tuổi.

Bài: Đông Kha – chuyenxua.vn

Cuộc đời vua Bảo Đại qua hình ảnh – Phần 2: Cựu hoàng lưu vong

Bảo Đại là hoàng đế thứ 13 và là vị vua cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn, cũng là vị hoàng đế cuối cùng của chế độ quân chủ trong lịch sử Việt Nam. Cuộc đời của ông trải qua nhiều thăng trầm giữa thời cuộc nhiều biến động, Từ là một vị vua trong thời thuộc địa, sau năm 1945 ông trở thành cố vấn của chính phủ VNDCCH, rồi sau đó là quốc trưởng của Quốc Gia Việt Nam, trước khi bị truất phế năm 1955 rồi phải lưu vong cho đến cuối đời.

Bài viết ở phần 1 đã giới thiệu bộ sưu tập hình ảnh vua Bảo Đại trước năm 1945, ở phần 2 này sẽ là bộ ảnh cựu hoàng sau năm 1945.

Quốc trưởng Bảo Đại năm 1951 trong lần về thăm lại kinh thành Huế. Ngay phía sau là Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo, người đứng đầu ở miền Trung thời Quốc Gia Việt Nam đầu thập niên 1950. Bảo Đại ghi trong hồi ký: Ngày 12/7/1951, tôi trở về Huế là cố đô của Việt Nam mà tôi rời bỏ đã bốn năm qua. Tôi đọc một diễn văn vào ngày 14 tháng 7, trước cửa Ngọ Môn, nơi đó đã tập trung rất đông dân chúng

Khi cựu hoàng đang sống ở Hongkong, người Pháp đã tiếp xúc với ông và ngỏ ý muốn mời về nước nắm quyền, được gọi là “giải pháp Bảo Đại”. Ngày 7/12/1947, tại cuộc họp trên tàu chiến Pháp ở Vịnh Hạ Long, Bảo Đại và Pháp đàm phán rồi ký kết Hiệp ước Sơ bộ Vịnh Hạ Long. Hiệp ước thể hiện sự đồng thuận của hai bên về việc thành lập Quốc gia Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc độc lập và thống nhất của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp. Tuy nhiên hiệp ước này bị các chính trị gia Việt Nam chỉ trích nên Bảo Đại chấm dứt đàm phán và đi Châu Âu du lịch. Người Pháp cử các nhà ngoại giao theo để thuyết phục ông tiếp tục đàm phán và thành lập Chính phủ.

Cựu hoàng ở London, ngày 4/1/1948
Cựu hoàng Bảo Đại ở Pháp, 24/2/1948

Tháng 1/1948, Cao ủy Pháp tại Đông Dương E. Bollaert tìm gặp Bảo Đại ở Genève, Thụy Sĩ để thuyết phục ông quay về Việt Nam tiếp tục đàm phán và thành lập Chính phủ. Bảo Đại tuyên bố nếu Hiệp ước Vịnh Hạ Long không được bổ sung ông sẽ không quay về Việt Nam. Sau đó ông đi Cannes, Paris rồi quay về Hồng Kông.

Cựu hoàng Bảo Đại rời Điện Elysee tháng 2-1948 sau một buổi họp về việc trao trả quyền tự trị cho Việt Nam

Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại đã gặp gỡ Cao ủy Pháp Bollaert ở vịnh Hạ Long, trên chiến hạm Duguay Trouin, để đàm phán về việc thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam. Kết quả của cuộc gặp này là Thông cáo chung Vịnh Hạ Long theo đó Pháp công nhận Quốc gia Việt Nam, và Việt Nam gia nhập Liên hiệp Pháp. Tháng 1 năm 1949, Bản tuyên ngôn Việt – Pháp được công bố, theo đó nước Pháp công nhận chính phủ Quốc gia Việt Nam trong khuôn khổ của khối Liên hiệp Pháp.

Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp định Élysée, thành lập một chính quyền Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam, đứng đầu là Bảo Đại. Bảo Đại yêu cầu Pháp trao Nam Kỳ cho Quốc gia Việt Nam và Pháp đã chấp nhận yêu cầu này.

Quốc trưởng trong 1 lần ra Hà Nội

Sau khoảng 4 năm sống lưu vong, cựu hoàng Bảo Đại trở về Việt Nam. Hình ảnh sau đây là hình thủ hiến Trung kỳ Phan Văn Giáo đón Bảo Đại ở Đà Lạt ngày 28/4/1949. Bên cạnh có cao ủy Pháp Leon Pigon, tướng Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu.

Trước đó 1 năm, khi Bảo Đại đang ở Hongkong thì Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu đã đến gặp và xin thành lập Chính phủ Lâm thời cho Việt Nam.

Một số hình ảnh cựu hoàng ở Hongkong tháng 6/1948:

Ngày 15 tháng 5 năm 1948, Bảo Đại gửi thông điệp cho tướng Xuân, tán thành sự thành lập Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam do tướng Xuân điều khiển “để giải quyết vấn đề Việt Nam đối với Pháp và dư luận Quốc tế”.

Bảo Đại ngày 28/8/1948

Gia đình Quốc trưởng Bảo Đại năm 1950

Quốc trưởng Bảo Đại ngày 29/12/1951, cùng với tướng Pháp Raoul Salan, trong một buổi lễ duyệt binh ở Hà Nội

Lễ mãn khóa Khóa 5 Hoàng Diệu tại trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt năm 1952

Quốc Trưởng Bảo Đại trao gươm cho Sinh viên Thủ khoa Dương Hiếu Nghĩa năm 1952, trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt

Quốc trưởng Bảo Đại 5/11/1952

Ông Letourneau (bộ Pháp quốc Hải ngoại) và quốc trưởng Bảo Đại

Hoàng đế Bảo Đại giới thiệu với ông Letourneau một trong những con voi yêu thích của mình, tháng 5 năm 1953

Quốc trưởng Bảo Đại ở Pháp, 28/8/1953

Quốc trưởng Bảo Đại và tướng Navarre ngày 6/11/1953

Bên tay phải Quốc trưởng Bảo Đại là Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, Bộ trưởng quốc phòng Phan Huy Quát. Phía sau ông Tâm là Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh, Tham mưu trưởng quân đội Quốc gia Việt Nam

Quốc trưởng Bảo Đại và nội các chính phủ của thủ tướng Bửu Lộc, ngày 17/1/1954

Quốc trưởng Bảo Đại và hoàng thân Bửu Lộc (thủ tướng Quốc Gia Việt Nam)

Thời quốc trưởng Bảo Đại lãnh đại Quốc Gia Việt Nam, trải qua 4 đời thủ tướng: Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Bửu Lộc, sau cùng là Ngô Đình Diệm. Trong hình này thủ tưởng Ngô Đình Diệm mặc áo đen

Quốc trưởng Bảo Đại tháng 3 năm 1954 tại sân bay Gia Lâm – Hà Nội

Chân dung quốc trưởng Bảo Đại thời điểm năm 1955

Ngày 16 tháng 6 năm 1954, thủ tướng Bửu Lộc từ chức. Quốc trưởng Bảo Đại mời Ngô Đình Diệm về nước, ngày 6 tháng 7, Ngô Đình Diệm thành lập chính phủ mới.

Ngày 4 tháng 10 năm 1955, Ủy ban trưng cầu dân ý thành lập đưa ý kiến đòi truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và đưa Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm Quốc trưởng.

Hình nộm Bảo Đại được chính quyền của Ngô Đình Diệm dựng lên sau khi truất phế cựu hoàng khỏi chức quốc trưởng nhân dịp vận động bầu cử, nhằm chỉ trích lối sống xa hoa của cựu quốc trưởng ở Pháp

Cựu hoàng Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu ở Paris, sau khi ông đã bị Ngô Đình Diệm truất phế khỏi chức vụ quốc trưởng. Hình chụp ngày 25/10/1955, một ngày trước khi Ngô Đình Diệm lên chức vụ tổng thống

Cựu hoàng Bảo Đại cùng công chúa Phương Mai xem đua xe thể thức 1, những ngày đầu sống lưu vong sau khi bị truất phế

Năm 1972, cựu hoàng Bảo Đại sống với Monique Baudot, một phụ nữ Pháp kém Bảo Đại hơn 30 tuổi (Monique Baudot sinh năm 1946), đến năm 1982 thì kết hôn.

Cựu hoàng Bảo Đại và người vợ sau cùng (bà Monique Baudot). Hình chụp năm 1992, năm năm trước khi Bảo Đại qua đời (1997). Trong hình này bà Monique 46 tuổi

Hình chụp ngày 20/2/1992

Cựu hoàng rất thích nuôi chó, lúc về già ông luôn có một con chó bên mình

Cựu hoàng Bảo Đại và vợ Monique Baudot. Hình chụp tại Paris năm 1996, khoảng 8 tháng trước ngày ông từ trần

Cựu hoàng Bảo Đại đã sống những năm cuối đời trong lặng lẽ tại một căn hộ nhỏ ở số 29, đường Fresnel, quận 16, Paris. Tất cả gia tài đồ sộ và quyền lực một thời đều đã không còn, ông sống dựa vào khoản trợ cấp 20.000 Franc/tháng của chính phủ Pháp. Ông qua đời vào 5 giờ sáng ngày 31 tháng 7 năm 1997 tại Quân y viện Val-de-Grâce, hưởng thọ 83 tuổi.

Mộ vua Bảo Đại trong nghĩa trang Passy ở Paris

chuyenxua.vn
Hình ảnh: manhhai flickr

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương và những ca khúc nổi tiếng: Thu Ca, Thương Hoài Ngàn Năm

Xứ Huế là một trong những nôi phát triển rực rỡ của tân nhạc Việt Nam thời kỳ thập niên 1940-1950. Xuất phát từ nhà xuất bản Tinh Hoa – Huế của ông Tăng Duyệt và đài phát thanh Huế, nhiều ca sĩ – nhạc sĩ người Huế đã được công chúng đón nhận và yêu mến cho đến ngày nay.

Những nhạc sĩ xứ Huế này sau đó đã vào Sài Gòn và trở thành thế hệ tiên phong có nhiều đóng góp để xây dựng nên làng nhạc miền Nam phong phú và đa dạng, tiêu biểu có thể kể đến là nhạc sĩ Châu Kỳ, Văn Giảng, Lê Mộng Bảo, Đỗ Kim Bảng, và Phạm Mạnh Cương.

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương là tác giả của nhiều ca khúc trữ tình bất hủ như Thu Ca, Thương Hoài Ngàn Năm, Mắt Lệ Cho Người Tình, Thung Lũng Hồng, Cho Nhau Lời Nguyện Cầu… Ngoài ra ông còn là người chủ trương thực hiện nhiều băng nhạc chủ đề Phạm Mạnh Cương có giá trị, rất được yêu thích trong những năm đầu thập niên 1970, giới thiệu được nhiều bài hát hay đến với công chúng yêu nhạc, phần lớn tác phẩm đó đều đã trở thành bất tử, sống mãi trong nửa thế kỷ qua.

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương sinh năm 1933 tại Huế, tỉnh Thừa Thiên, là con thứ 5 trong một gia đình có 9 anh em. Cha của ông là một người yêu thích cổ nhạc và biết sử dụng đàn và sáo. Từ nhỏ, Phạm Mạnh Cương đã say mê âm nhạc Tây phương, năm 12 tuổi ông bắt đầu học sáo, sau đó chuyển sang học guitar, piano, kèn…

Thời gian đầu, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương chủ yếu tự mày mò và theo học các đàn anh ở Huế là nhạc sĩ Ngô Ganh, Văn Giảng, Nguyễn Hữu Ba, Lâm Tuyền…, dần dần khi đã vững vàng, ông được tham gia chơi nhạc ở đài phát thanh Huế.

Năm 1951, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương sáng tác bài hát đầu tay mang tên Mái Trường Xưa rất phổ biến ở Huế thời kỳ đó. Bài hát mang nhiều kỷ niệm của thời học sinh khi ông đang theo học trường Khải Định (sau này là trường Quốc Học Huế) ở ngay bên cạnh trường nữ sinh Đồng Khánh.

Trong cùng thời gian đó, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương còn sáng tác một số tác phẩm khác là Nữ Sinh Ca, Nhạc Chiều Quê, Tình Mùa Phượng Thắm, Mái Tóc Thề, Em Tôi… được phổ biến trên đài phát thanh Huế.

Thời của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương chưa có trường lớp dạy nhạc bài bản, ông chủ yếu là tự học sáng tác và học lớp hàm thụ nhạc tại trường ở Pháp. “Học hàm thụ” là cách nói ngày xưa, hơi giống với hình thức đào tạo từ xa hiện nay.

Sau khi thi đậu Tú tài 2 ở Huế vào năm 1953, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương ra Hà Nội theo học Cao đẳng Sư phạm và Cử nhân văn khoa. Khi từ biệt Huế, ông đã viết ca khúc Giã Từ Cố Đô để dành tặng cho vùng đất cố đô này. Kể từ khi ra học ở Hà Nội cho đến năm 1954 thì ông vào thẳng Sài Gòn, chỉ về thăm lại Huế trong những dịp chấm thi, nên lần đi năm 1953 cũng là lần giã biệt cuối cùng với xứ Huế.


Click để nghe Hoàng Oanh hát Giã Từ Cố Đô trước 1975

Khi vừa đến Hà Nội học vào mùa Thu năm 1953, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương đi ngang qua trường Trưng Vương và được chứng kiến buổi tan trường với những tà áo dài nữ sinh xứ Bắc tung bay gợi nhiều cảm xúc, ông đã viết bài hát nổi tiếng nhất trong sự nghiệp là Thu Ca, là một bài tango kinh điển của nhạc Việt.


Click để nghe Thanh Lan hát Thu Ca trước 1975

Năm 1954, hiệp định Geneve được ký kết, hai trường cao đẳng Sư Phạm và Văn khoa được chuyển vào Sài Gòn, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương đi theo và tiếp tục học cho đến khi tốt nghiệp 2 trường này năm 1955 và bắt đầu sự nghiệp giáo sư dạy học.

Ngôi trường đầu tiên mà nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương đứng lớp giảng dạy là trường Nguyễn Đình Chiểu ở Mỹ Tho. Được 3 năm, ông chuyển về trường Petrus Ký danh tiếng ở Sài Gòn, trở thành giám sư Triết học và Quốc văn cho đến năm 1975. Song song đó, ông cũng dạy nhiều trường tư thục như Văn Học, Văn Lang, Hưng Đạo, Nguyễn Văn Khuê, Bồ Đề, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thị Ngà…

Bài hát đầu tiên nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương sáng tác ở Sài Gòn là Thương Hoài Ngàn Năm vào năm 1956. Ông cho biết đã lấy cảm hứng từ câu ca dao “Tóc mai sợi vắn sợi dài, lấy nhau chẳng được thương hoài ngàn năm”.

Đó là thời gian mà Phạm Mạnh Cương thể hiện 2 con người khác nhau. Ở nhà trường thì ông là nhà giáo rất mô phạm, chỉnh chu. Mặt khác, ông là một nghệ sĩ có tâm hồn bay bổng, đa cảm và lãng mạn trong sáng tác.

Vào năm 1961, trong một dịp ra Huế chấm thi Tú tài 2, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương gặp Như Hảo, một thí sinh từ Đà Nẵng ra Huế dự thi. Một năm sau hai người thành hôn, và Như Hảo cũng trở thành xướng ngôn viên trong những chương trình mang chủ đề đặc biệt do Phạm Mạnh Cương khởi xướng trên đài phát thanh và truyền hình.

Đám cưới nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương và cô Như Hảo
Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương, xướng ngôn viên Như Hảo khi thực hiện chương trình Hoa Thời Đại

Thăng 8 năm 1964, ông bắt đầu hợp tác với các đài phát thanh, đầu tiên là đài phát thanh Quốc Gia Sài Gòn với ban Hoa Thời Đại. Đến tháng 3 năm 1965, ông chuyển qua cộng tác với đài Quân Đội với ban Tiếng Hát Hậu Phương. Hợp tác cùng nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương trên các đài phát thanh là ban nhạc với những tên tuổi lừng danh là Nguyễn Ánh 9, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Đan Thọ, Tuấn Khanh, Đào Duy…

Về lĩnh vực Truyền Hình, năm 1966, Phạm Mạnh Cương được đạo diễn Lê Hoàng Hoa mời thực hiện chương trình ca nhạc cho đài Truyền Hình Việt Nam dưới tên Hoa Thời Đại. Đây cũng là chương trình ca nhạc phát hình đầu tiên lúc đài truyền hình ở Miền Nam vừa mới được thành lập và còn được phát từ trên máy bay trực thăng bay lòng vòng trên bầu trời Sài Gòn mỗi tối.

Xướng ngôn viên Như Hảo trong chương trình nhạc Phạm Mạnh Cương trên truyền hình vào khoảng đầu thập niên 1970

Một năm sau, chương trình này chính thức đổi thành “Chương Trình Phạm Mạnh Cương” phát hình hàng tuần vào tối thứ bảy, từ 9 đến 10 giờ và kéo dài hoạt động cho đến tháng 4 năm 1975. Trong thời kỳ đầu tiên, chương trình Phạm Mạnh Cương có sự tham gia của nhiều giọng ca tên tuổi như: Thái Thanh, Lệ Thanh, Sĩ Phú, Hoàng Oanh, Mai Hương, Lệ Thu, Khánh Ly, Thanh Lan…

Những nghệ sĩ trong chương trình Phạm Mạnh Cương trên đài truyền hình

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương còn là người sáng lập trung tâm băng nhạc Tú Quỳnh tại Sài Gòn từ năm 1966-1967 với các băng nhạc chủ đề Phạm Mạnh Cương, và ông cũng là người đầu tiên chủ trương thu thanh băng nhạc một cách quy mô (trước đó chỉ có dĩa nhựa) để kinh doanh, trung bình mỗi tháng một băng nhạc mới với sự cộng tác của hầu hết các giọng ca tên tuổi như Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Duy Trác, Thanh Tuyền, Sĩ Phú, Phương Dung, Thanh Lan, Julie Quang…

Điều đặc biệt trong các băng nhạc Phạm Mạnh Cương là thực hiện theo các chủ đề, mỗi chủ đề được ông mời các nhà văn nổi tiếng viết lời tựa, như Duyên Anh, Hoàng Hải Thuỷ, Tuý Hồng, Nhã Ca, Mai Thảo…


Click để nghe 1 băng nhạc chủ đề của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương thực hiện

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương ở lại Việt Nam. Đến tháng 3 năm 1980, ông cùng hai con vượt biển từ Cà Mau, sau đó định cư tại Montréal, Canada vào tháng 6 trong cùng năm 1980.

Xướng ngôn viên Như Hảo

Năm 1983, vợ ông là Như Hảo và hai người con gái được đoàn tụ theo diện bảo lãnh, nhưng sau đó vài năm thì cuộc hôn nhân tan vỡ.

Tại Montréal, ông thành lập ban nhạc Phạm Mạnh Cương nổi tiếng trong cộng đồng, thường tham gia trình diễn và mở phòng trà mang tên Đêm Màu Hồng. Ngoài ra ông còn lập một tờ báo văn nghệ mang tên Thẩm Mỹ.

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương trên Paris By Night 70 năm 2003

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương vẫn còn sinh sống tại Montréal cho đến nay.

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương năm 2020. Ảnh: Jimmy Show

Hoàn cảnh sáng tác 2 ca khúc nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương:

Thu Ca

Theo nhạc sĩ kể lại, sau khi đậu tú tài 2 năm 1953 tại Huế, ông ra Hà Nội theo học trường Cao đẳng sư phạm và Văn khoa. Tháng 8 trong cùng năm đó, ông đáp chuyến bay của Air Vietnam ra xứ Bắc. Chuyến xe từ sân bay về nơi trọ học có đi ngang qua trường nữ sinh Trưng Vương trên phố Hàng Bài. Đó là một chiều chớm thu trời buồn man mác, Phạm Mạnh Cương nhìn thấy được hình ảnh tan trường rất đẹp trước cổng trường nữ sinh, với các cô tiểu thư khuê các xứ Hà thành trong áo dài khăn voan nhẹ nhàng khoan thai, 2 tà áo bay theo gió heo may se lạnh của mùa thu Hà Nội, trong đầu chàng nhạc sĩ đa cảm bật lên một giai điệu:

Lạnh lùng sương rơi heo may
Buồn ngơ ngác bóng chim bay
Mây tím giăng sầu đó đây…

Đó là ngôi trường nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng của Hà Nội được thành lập từ năm 1917, là trường duy nhất của toàn miền Bắc chỉ dành tiêng cho nữ sinh tới cấp trung học. Đến năm 1948 đổi tên thành Trưng Vương và vẫn giữ tên này cho đến ngày nay.

Ngày đi chiều mang sầu tới
Làn sương chiều thu lả lơi
Tiếng mưa rơi đều trên lối

Chiều về gieo thương với nhớ
Lòng người lữ thứ bơ vơ
Nghe lá hoa rụng xác xơ

Chiều thu về đây lạnh lẽo
Mà sương chiều rơi hắt hiu
Gió xa đưa nhẹ tiếng tiêu…

Bài hát Thu Ca là nỗi niềm của một cậu học trò lần đầu tiên cách xa quê nhà, thấy lòng bơ vơ trong một khung cảnh thu buồn với lá hoa rụng xác xơ vào một buổi chiều lạnh lẽo và hiu quạnh.


Click để nghe Thanh Lan hát Thu Ca trước 1975

Thương Hoài Ngàn Năm

Trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam, có một câu ca dao nói về tình yêu thắm thiết như sau:

“Tóc mai sợi vắn sợi dài
Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm”

Từ câu ca dao này, vào năm 1956, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương mượn chỉ 4 chữ cuối cùng để viết thành ca khúc nổi tiếng mang tên Thương Hoài Ngàn Năm, cũng là ca khúc đầu tiên mà ông sáng tác tại Sài Gòn sau khi chuyển vào đây từ Hà Nội. Lúc đó ông đã là một giáo sư Quốc văn tại trường Petrus Ký, và những câu ca dao như vậy đã trở nên quen thuộc, trở thành niềm cảm hứng để ông viết thành những câu hát làm rung động nhiều thế hệ.


Click để nghe Hoàng Oanh hát Thương Hoài Ngàn Năm trước 1975

Là một giáo sư làm nghề dạy học, hẳn là nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương phải là một người rất mô phạm, nghiêm trang, ít nhất là về bề ngoài ông phải tỏ ra là như vậy trước cái nhìn vào của hàng trăm hoặc hàng ngàn học trò. Tuy nhiên mặt khác, trong vai trò là một nghệ sĩ, tâm hồn lãng mạn và bay bổng của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương thể hiện rõ nét qua những tác phẩm đã trở thành bất tử, tiêu biểu là Thương Hoài Ngàn Năm, bài hát có giai điệu và lời ca như là dòng suối tình ngọt ngào đi vào lòng người.

Ngàn năm thương hoài một bóng người thôi
Tình đã khơi rồi mộng khó nhạt phai
Trăng khuyết rồi có khi đầy
Ngăn cách rồi cũng sum vầy
Mây bay bay hoài ngàn năm

Băng nhạc Tú Quỳnh

Với những người thích nghe nhạc thu âm từ trước năm 1975, chắc chắn sẽ biết đến loạt băng nhạc Tú Quỳnh do nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương thực hiện từ khoảng cuối thập niên 1960 đến năm 1973.

Thời điểm thập niên 1960, dĩa nhựa (vinyl) vẫn đang ở thời kỳ vàng son, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương chính là một trong những người tiên phong thu âm và sản xuất băng cối (magnetic) để nghe trên đầu máy magnetophone (hiện nay thường được gọi là băng Akai).

Các băng nhạc do nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương thực hiện được đánh giá cao về giá trị nghệ thuật, có điểm đặc biệt và khác biệt là băng nhạc được làm theo từng chủ đề bài hát. Trong số 25 băng nhạc Tú Quỳnh đã phát hành, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương đã thực hiện các chủ đề như nhạc về mùa Thu (băng số 8 – Những Điệu Thu Ca), nhạc Giáng Sinh (băng số 13), những ca khúc mưa (băng số 5 – Giọt Mưa Trên Lá), những bài nhạc phổ thơ (băng số 4 – Nhạc Và Thơ), nhạc về mùa hè (băng só 18 – Những bài ca tháng hạ), dòng nhạc tiền chiến (băng số 11 – Hương Xưa), nhạc viết về Huế (băng số 17 – Những khúc tình ca xứ Huế)…

Trước mỗi băng nhạc này, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương mời các nhà văn nổi tiếng viết lời giới thiệu, như Duyên Anh, Hoàng Hải Thuỷ, Tuý Hồng, Nhã Ca, Mai Thảo… Những bài hát trong băng Tú Quỳnh được ông chọn lọc rất kỹ lưỡng, và mỗi băng nhạc đều là sự kết hợp hòa quyện giữa âm nhạc và văn chương, được trình bày bởi một thế hệ ca sĩ tài danh nhất của Sài Gòn: Thái Thanh, Hà Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Duy Trác, Thanh Tuyền, Sĩ Phú, Phương Dung, Thanh Lan…

Cái tên trung tâm băng nhạc Tú Quỳnh được nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương đặt từ tên của 2 người con của ông là Phạm Mạnh Quỳnh và Diễm Tú. Hãng băng Tú Quỳnh có mở trung tâm bày bán khá lớn ở lầu 2 cư xá Tam Đa (Crystal Palace), nơi tập trung của nhiều showroom của các hãng băng lớn nhất Sài Gòn trước năm 1975.

Băng nhạc Phạm Mạnh Cương thực hiện được khoảng 25 băng, trong đó cuốn băng riêng cho tiếng hát Thanh Lan mang tên Hát Cho Tình Yêu Tuổi Trẻ là ăn khách nhất. Ngoài ra những cuốn nhạc chủ đề cũng rất được yêu thích cho đến hiện nay, mời bạn nghe lại một số cuốn băng tiêu biểu cùng lời giới thiệu ở dưới đây:

Băng nhạc số 8 – Những Điệu Thu Ca với lời giới thiệu được nhà văn Mai Thảo viết sau đây:


Click để nghe băng nhạc

Khi mùa hè, mùa hè rực rỡ, mùa hè của áo lụa, đêm sao, sông đầy và những chùm hoa đỏ chói đã qua đi, cho một mặt hồ trong một cánh rừng kia bỗng trong suốt như gương, ấy là lúc thả mái tóc khói thành chiều màu tím, nghiêng cái bình sương thành lam màu chiều, mùa thu mênh mông, mùa thu lộng ngọc đã trở về. Thu dịu dàng về, che nửa mặt hoa. Thu tới khoan thai, hoang đường dáng liễu.

Từ một đầu đường mang tên là trí nhớ, tới một cuối đường gọi tên là hồi tưởng, những gót hài diễm lệ của mùa thu lộng ngọc tới đâu, đánh thức đồng loạt và tức khắc tới đó, những lãng quên, những kỷ niệm một đời. Thu xanh năm trước tới, thu nói gì với người? Thu nói những sân ga, những bến tầu, tay anh còn tay em, đã núi tiếp núi, mây tiếp mây, nghìn trùng cách biệt. Thu biếc năm nay về, mùa nói gì với người? Nói những kiếp bến nằm mộng những đời thuyền, lên đường trong hoàng hôn, mưa kín trời đưa tiễn, biệt ly nhớ nhung từ đây.

Đốt một lò trầm, ngồi đọc lại những tờ thư cũ, ảnh hình xưa thấp thoáng trong từng nét chữ. Đi một mình trên một con đường nhỏ, chợt một tiếng hát bay về từ quá khứ, âm thanh xưa là một im lặng lớn và đầy. Mùa thu đó ngây ngất trong thơ Xuân Diệu:

Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
lả lả cành hoang nắng trở chiều.

Thắp một điếu thuốc, che khói huyền lên thành dáng huyền của lá. Mùa thu nữa đó, mơ màng trong cõi thơ hồ Dzếnh:

ngỡ hồn mình là rừng,
ngỡ hồn mình là mây.

Nhặt những tơ vàng bay trong không gian, cho mưa xuống những lời đàn, nhạc của mùa thu thật đẹp và cũng thật buồn. Bởi ta không nói tạm biệt với tình yêu, mà vĩnh biệt.

Bằng những tiếng thầm của hạt lệ và thở dài dệt lại, những khúc hát về mùa thu và cho mùa thu, bởi vậy là những khúc đoạn trường. Vì niềm đau kia và cõi nhớ ấy, với mùa thu lộng ngọc đã về, lại chảy māu trong tâm hồn người thành những vết thương. Thôi, hãy đến với mùa thu như một thiên đường mất. Bằng huyền thoại ấy là những kỷ niệm một đời còn mãi mãi thơm hương.

Băng nhạc số 17 – Khúc Tình Ca Xứ Huế với lời giới thiệu được chính nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương viết với bút danh là N.Ch. Đoạn giới thiệu này như là chính lời tâm sự của nhạc sĩ, năm xưa ông giã từ cố đô Huế năm 1953 để đi học, và đó cũng là lần từ biệt…


Click để nghe băng nhạc

Một lần về thăm Huế là một lần du khách trở về vùng tĩnh mịch của miền thùy dương cát trắng, miền sỏi đá ngậm ngùi. Rũ nét ưu tư để làm bàng bạc với đêm dần tàn trên bến Ngự, để lắng tai nghe hồi chuông Thiên Mụ ngân dài trong chiều sương, để tầm mắt mơ mộng với dòng Hương lờ lững uốn quanh Thành Nội, với núi Ngự thông reo trên đỉnh.

Đó, Huế là của mộng mơ, của thương yêu sầu nhớ. Một mái tóc thề xõa bờ vai, một chiếc nón bài thơ che nghiêng nửa mặt, một tà áo tím thướt tha trên cầu, tất cả đã làm cho kẻ ra đi giã từ cố đô phải mang nhiều lưu luyến.

Bây giờ, mời quý vị hãy đề hồn trở về miền Trung lắng nghe trong lời ca ý nhạc một trời Huế mộng mơ của những khúc tình ca xứ Huế…

Băng nhạc số 10 – Những bài ca giã từ


Click để nghe băng nhạc

Lời giới thiệu:

Một cuộc lên đường, con tàu tách bến, đoàn xe lửa chuyển bánh chậm chạp ra khỏi sân ga, phi cơ cất cánh rời phi trường.

Biệt ly, biệt ly. Một người ra đi, gửi lại phân nửa lòng mình để cảm thấy trong tâm hồn một khoảng trống mông mênh giá lạnh, xâm chiếm bởi sầu rộng thương dài, xâm chiếm bởi niềm cô đơn không tính từ mô tả.

Biệt ly, biệt ly. Một người ở lại, đứng đó nhìn theo, đứng đó sững sờ, nghe như đổ vỡ khởi đầu, mới khởi đầu thôi mà sao tâm hồn đã rã rời, tan nát. Niềm đau trở thành nhức nhối, không bao giờ còn gặp nhau trở lại, vĩnh viễn không bao giờ còn tìm lại tiếng cười, giọng nói, mắt nhìn nhau của mới đây, của hôm qua. Gặp lại nhau mà tất cả đã đổi thay, tất cả đã thành xa lạ. Thì hết rồi, chấm dứt rồi, tình yêu đã mang màu quá khứ, tình yêu đã thành kỷ niệm, kỷ niệm buồn.

Bây giờ thì dáng người đi đã nhòe, đã mất. Bây giờ thì dáng người ở lại cũng nhỏ dần, nhỏ dần. Quay nhìn phía sau lần nữa thấy chấm nhỏ đã lẫn vào cái chung không còn phân biệt.

Biệt ly, biệt ly. Cho một kiếp người hơn một lần phải sống cảnh biệt ly, hơn một lần phải từ giã nhau nên trong kho tàng kỷ niệm một đời người, những phút giã từ là những kỷ niệm nâng niu, những kỷ niệm sầu, những kỷ niệm thảm, những kỷ niệm đẹp làm dâng cảm xúc. Do đó đối với người nghệ sĩ, là những kỷ niệm chớm điểm khởi hành cho cuộc hành trình mà đích tới là sáng tác nghệ thuật hình thành.

Và tôi mời người hãy ngồi lại để nghe kỷ niệm của lòng mình, kỷ niệm của riêng mình được nhắc nhở bằng giọng ca đẹp, những ca khúc giã từ…

Băng số 11 – Hương xưa với những bài tình ca thời tiền chiến


Click để nghe băng nhạc

Lời giới thiệu:

Vì chúng ta chỉ sống có một lần, vì ngày tháng qua mau, và tuổi trẻ không bao giờ trở lại, nên chúng ta tiếc thương dĩ vãng và quá khứ.

Nhìn qua làn sương mờ hư ảo, mơ hồi của thời gian, bao giờ cũng đẹp. Nhưng không phải vì chúng ta tưởng tượng ra đẹp mà dĩ vãng trở thành đẹp. Theo tôi, dĩ vãng đối với con người là một cái gì tự nó đã vô cùng đẹp. Ngay cả khi chúng ta khổ sở, mỗi khi tưởng nhớ, chúng ta vẫn thấy thời gian đã qua đó huy hoàng màu sắc, ngào ngạt hoa hương và ngây ngất âm thanh, chúng ta vẫn thấy đẹp, và chúng ta tiếc nuối, chúng ta thương.

Cuộc đời như một con đường dài, và chúng ta là những người lữ hành đi những chuyến đi không bao giờ trở lại. Dừng lại ở bất cứ một điểm nào đó trên đường đời, nhìn trở về những nơi ta đã đi qua, ta đều thấy chốn cũ cảnh sắc đẹp hơn nơi ta đang sống. Ngày cũ có hoa hương, có thơ nhạc, và có tuổi trẻ, có tình yêu. Em hãy cùng tôi lãng quên hiện tại trong phút giây để cho tâm hồn chúng ta là một cuộc trở về. Những tiếng hát sắp vang lên sẽ gợi cho em tưởng nhớ ngày là bông hoa em đã cài trên tóc ngày em mới yêu lần đầu. Đây là con đường hoa nắng buổi trưa nào êm vắng thời gian đôi ta mới yêu nhau. Hương xưa thơm ngát tự ngày nào đến nay vẫn làm ta ngây ngất. Em hãy yêu, và em hãy để những tiếng ca này đưa em trở về.

Băng nhạc tiếng hát Thanh Lan, Hát cho tình yêu và tuổi trẻ, với lời giới thiệu rất ngắn gọn do chính Thanh Lan đọc:

Băng nhạc này là niềm mong ước của Thanh Lan trong những ngày ca hát, bằng những nhạc phẩm do chính Thanh Lan lựa chọn với sự thực hiện công phu của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương. Thanh Lan xin gửi đến quý vị như là một kỷ niệm của đời mình đến những thân hữu đã dành cho Thanh Lan nhiều cảm mến.


Click để nghe băng nhạc

Một số băng nhạc chủ đề khác của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương:


Click để nghe băng số 16 – Màu Tím Tình Yêu


Click để nghe băng số 5 – Giọt Mưa Trên Lá


Click để nghe băng số 6 – Nhạc Chiều


Click để nghe băng số 18 – Những Bài Ca Tháng Hạ

Đông Kha – chuyenxua.vn