Nhạc sĩ Xuân Tiên – Tác giả của Hận Đồ Bàn, Khúc Hát Ân Tình… và bí quyết trường thọ trên trăm tuổi

Nhạc sĩ Xuân Tiên là tác giả của những ca khúc nổi tiếng là Hận Đồ Bàn, Khúc Hát Ân Tình, Về Dưới Mái Nhà, Duyên Tình, Chờ Một Kiếp Mai, Mong Chờ… Ông là nhạc sĩ lớn tuổi nhất của tân nhạc Việt Nam còn tại thế, mừng đại thọ 100 tuổi hồi đầu năm 2021, đặc biệt là ông vẫn rất khỏe mạnh và còn minh mẫn.

Là một người khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tâm trí như vậy, có lẽ là nhạc sĩ Xuân Tiên có những bí quyết riêng trong đời sống hàng ngày suốt hơn 100 năm qua. Dù không chính thức tiết lộ bí quyết nào, nhưng qua tập hồi ký xuất bản hồi năm 2019, có thể thấy thói quen sinh hoạt, ăn uống và rèn luyện sức khỏe là những yếu tố chính của sự trường sinh.

Nhờ giữ thói quen tập thể dục thường xuyên từ thời trẻ cho đến tận lúc bách niên, và nếu hình thân hình lực lưỡng của ông như trong tấm ảnh bên trên, không ai nghĩ đó là một cụ già ở tuổi ngoài 90.

Nhạc sĩ Xuân Tiên năm 1921, là con út trong gia đình có 6 anh em trai. Cả 6 anh em đều có thân hình thấp bé nên rất chịu khó tập luyện chuyên về tay và gân, như là leo dây, xà ngang, xà dọc, đu vòng, ngoài ra còn tự chế ra cách tập riêng. Vì sở hữu thân hình cường tráng mạnh khỏe ngay từ thuở thiếu niên cho đến tuổi già đã giúp nhạc sĩ Xuân Tiên ít bị bệnh tật và sống lâu hơn trăm tuổi.

Trong hồi ký, nhạc sĩ Xuân Tiên cho biết:

“Anh Xuân Lôi và tôi thích thể thao, nhất là chơi đu vòng, không kém ở Olympic biểu diễn. Anh em tôi cũng đi ghi tên biểu diễn với Olympic, nhưng bận công việc chơi nhạc kiếm tiền. Chúng tôi ở Hà Nội có học võ Việt Nam của học trò ông võ sư Hàn Bái, rồi anh em tôi còn học quyền anh (Box Ăng Lê). Rồi khi theo đoàn hát Tố Như vô Nam, có gặp ông Lý Ngọc Long đi mãi võ, ông giơ tạ rất giỏi và khỏe vô cùng. Anh em tôi làm quen, rồi ông dạy nội công, rồi võ Thiếu Lâm cho chúng tôi. Chúng tôi còn tập kéo tay hàng ngày, đi tới đâu cũng kéo tay với các nhà thể thao các tỉnh, đều hạ người ta. Tôi còn kéo tay cả với người Tàu, Nhật, và Mỹ, không phải dân tập thể dục mà là quân nhân ở Long Bình, tôi chưa thua lần nào”

Trong hồi ký của nhạc sĩ Xuân Lôi, anh trai của Xuân Tiên cũng kể về lần thi vật tay như sau:

“Một buổi sáng đẹp trời, anh em chúng tôi đi dạo phố buôn bán sầm uất, rồi đi đến bờ sông thì gặp anh học trò của Lý Ngọc Long ở dưới thuyền đi lên, chúng tôi bèn gọi hắn, gạ vật tay thử xem sức khỏe, hắn bằng lòng. Lý Ngọc Long ở dưới thuyền đi lên cũng đứng xem hai người bẻ tay. Xuân Tiên thắng được gã học trò đó dễ dàng. Lý Ngọc Long thấy vậy khen rồi nói để hắn thử vật tay với Xuân Tiên, nhưng Xuân Tiên thấy hắn to con mà biểu diễn võ rất khỏe, không dám thử. Thế là Lý Ngọc Long nói rằng tinh thần thượng võ thắng thua là sự thường, huống chi hắn to con mà Xuân Tiên thì nhỏ bé, nếu có thua thì cũng là bình thường.

Nghĩ vậy Xuân Tiên cũng liều để vật tay thử, khi bắt đầu vật tay lần thứ nhất, Xuân Tiên cố gắng hết sức thì thắng được. Lý Ngọc Long lấy làm lạ, không ngờ Xuân Tiên lại khoẻ đến thế.

Rồi làm lại lần hai, Lý Ngọc Long chuẩn bị lấy gân cốt, Xuân Tiên cũng cố gắng hết sức mình. Vật tay lần thứ hai thì không ai được ai, hai tay cứ đứng yên thật gay go, lâu chừng một phút thì Lý Ngọc Long giơ tay trái lên và nói hòa. Hắn nói từ bên Tàu sang mấy năm nay chưa từng có ai vật tay với hắn mà hòa, chỉ có Xuân Tiên là người độc nhất đã thủ hòa vói hắn. Hắn kể đã đi nhiều tỉnh miền Nam và gặp những tay từng khiêng những bao gạo 100 kg từ khoang thuyền ở dưới lên, hắn đã thử sức và đều thắng hết cả”.

Đọc lại hồi ký của 2 nhạc sĩ mới thấy là thời trẻ, nhạc sĩ Xuân Tiên đã là một đệ nhất ca thủ về vật tay.

Đến lúc sang tuổi lão niên, nhạc sĩ Xuân Tiên và giữ thói quen tập thể thao, giữ cho cơ thể được săn chắc và cường tráng.

Không chỉ khỏe mạnh về cơ thể, thể chất, đến nay dù đã trăm tuổi những ông vẫn rất minh mẫn, thần trí được thoải mái, đó là nhờ ông luôn lạc quan yêu đời, ít nhất là người ta có thể thấy được điều đó qua những ca khúc hầu hết là vui tươi của ông, với quan điểm sáng tác được ông thổ lộ như sau:

“Tôi thích những âm hưởng lạc quan yêu đời, tôi yêu những lời hát ca ngợi quê hương dân tộc. Tôi cũng có làm những loại nhạc tình yêu lứa đôi và nhạc buồn nhưng không có sầu thương ủy mị quá. Có buồn những cũng chỉ là chớm buồn chút thôi”.

Sự lạc quan ở tuổi già được ông ghi lại trong hồi ký:

“Dù tuổi đã nhiều, lúc nào cũng nên vui vẻ với mọi người, sống lạc quan, bỏ qua sự hờn giận, tìm sự vui tươi cho trí óc. Cố không nghĩ ngợi lung tung để cho trí óc được thanh thản. Nếu có thể, nên tập thể dục một chút cho máu huyết lưu thông, đó là sức khỏe vô giá của người nhiều tuổi.”

Ngoài ra, một yếu tố chính trong việc sống lâu là thói quen ăn uống. Nhạc sĩ Xuân Tiên cho biết ông thích ăn những thức ăn lành, như là đồ biển thì chỉ ăn các loại cá quen thuộc, ăn cua lớn và tôm lớn. Ông không bao giờ ăn các thứ mắm, vì cho rằng trong đó có thể được làm bằng cá đã ᴄhet, không ăn chao và tương vì có rất nhiều vi khuẩn, đặc biệt là không ăn quá no.

Năm 1940, ở tuổi 19, nhạc sĩ Xuân Tiên lấy vợ cùng tuổi là Hoàng Thị Hương và chung sống hạnh phúc với nhau suốt hơn 80 năm. Có thể nói vợ chồng nhạc sĩ Xuân Tiên là đôi vợ chồng cùng sống hơn trăm tuổi hiếm hoi trên thế giới. Cụ bà Hoàng Thị Hương đã qua đời ở tuổi 100 vào ngày 18/6/2021.

Đôi nét về tiểu sử nhạc sĩ Xuân Tiên:

Tuy là tác giả của nhiều bài hát nổi tiếng, nhưng nhạc sĩ Xuân Tiên tự nhận rằng đối với ông sáng tác chỉ là nghề tay trái, và nghề chính của ông là nhạc công chơi đàn trong các ban nhạc, với khả năng sử dụng nhuần nhuyễn đến 25 loại nhạc cụ khác nhau, cả nhạc cụ cổ truyền lẫn của Tây, trong đó thành thạo nhất là kèn saxophone.

Nhạc sĩ Xuân Tiên tên thật là Phạm Xuân Tiên, sinh năm 1921 ở Hà Nội trong gia đình có 6 anh em trai, người anh kế của ông chính là nhạc sĩ Xuân Lôi (sinh năm 1917) nổi tiếng với ca khúc Nhạt Nắng (viết chung với Y Vân).

Nhạc sĩ Xuân Tiên thuở ấu thơ

Cha của ông từng có thời gian qua Trung Quốc để học một số nhạc cụ cổ truyền Trung Hoa, giống với nhạc cụ của Việt Nam nhưng khác một chút về âm điệu, sau đó về lại Việt Nam dạy nhạc ở hội Khai Trí Tiến Đức của Phạm Quỳnh (cha của nhạc sĩ Phạm Tuyên) và Phạm Duy Tốn (cha của nhạc sĩ Phạm Duy). Từ năm 6 tuổi, nhạc sĩ Xuân Tiên đã được cha dạy về nhạc cụ cổ truyền, nhưng chỉ là học về âm điệu, còn lại thì đa phần là do ông mày mò tự học, đầu tiên là đàn mandoline.

Tuy biết đàn nhưng ban đầu nhạc sĩ Xuân Tiên vẫn không biết nốt, nhờ có anh cả là Xuân Thư tốt nghiệp Viễn Đông Nhạc Viện của Pháp ở Hà Nội nên đã hướng dẫn căn bản cho ông về ký âm pháp, sau đó ông mua tờ nhạc của Pháp về tự nghiên cứu thêm về ký âm.

Lớn hơn một chút, nhạc sĩ Xuân Tiên mua kèn saxo cũ về tự học, và đó trở thành nhạc cụ mà ông yêu thích và chơi thành thạo nhất. Thời điểm đó hầu như không có người Việt Nam chơi saxo, ngoại trừ một số ít người Pháp chơi trong ban nhạc. Không có người để theo học hỏi, thầy dạy người Pháp thì học phí quá đắt, nên ông lại chủ yếu tự mày mò để học.

Có một thời gian vào thập niên 1930, anh cả Xuân Thư của ông vào Huế để lấy vợ là một khuê nữ hoàng tộc, Xuân Tiên đã theo vào sống một thời gian. Nhân lúc này có gánh hát cải lương Phụng Hảo danh tiếng của miền Nam ra Hà Nội diễn đi ngang qua Huế, Xuân Tiên đi xem và thấy trong đoàn hát có một ban nhạc người Phi Luật Tân có người thổi kèn saxo, ông liền xin theo gánh hát, tham gia ban nhạc, mà chủ yếu là để theo học lỏm môn kèn saxo, chỉ bằng cách nhìn và bắt chước theo. Được một thời gian, gánh hát trở lại vào Nam, ông vào theo được ít tháng thì trở lại ra Hà Nội tham gia gánh cải lương Tố Như năm 1940.

Cuối năm 1942, nhạc sĩ Xuân Tiên cùng anh trai là nhạc sĩ Xuân Lôi theo gánh hát Tố Như vào miền Nam trình diễn ở Sài Gòn và lục tỉnh. Trong quá trình đi trình diễn nhạc và sinh sống ở nhiều miền, ông đã thu thập được kiến thức về các loại hình nhạc của các miền khác, có điều kiện tìm hiểu và nghiên cứu thêm âm nhạc cổ truyền của các vùng miền.

Từ năm 1942 đến 1946, ông trở về Hà Nội và chơi nhạc trong các ban ở vũ trường đang mọc lên rất nhiều.

Năm 1946, trong thời gian đi tản cư, Xuân Tiên và anh trai Xuân Lôi lập ban nhạc Lôi Tiên đi diễn lưu động và đàn cho gánh cải lương Bích Hợp.

Thời gian theo gánh hát của Bích Hợp

Từ năm 1949 tới 1950, hai anh em lên tận vùng Thái Nguyên nhập vào ban văn hoá vụ với trưởng ban là Hoài Thanh. Ông có dịp gặp gỡ các văn nghệ sĩ nổ tiếng như: Phan Khôi, Tố Hữu, Thế Lữ, Văn Cao, Canh Thân, Lê Hoàng Long, Quốc Vũ, Nguyễn Tuân.

Ðỗ Thế Phiệt, Xuân Khuê, Xuân Lôi, Xuân Tiên – Ðống Nam 1948.

Năm 1951 hai anh em ông đi Nam Ðịnh làm việc ở dancing Văn Hoa. Ít lâu sau với một thành phần 12 nhạc sĩ, ông cùng họ làm việc tại nhà hàng Le Coq d’Or.

Ðỗ Văn Ngọc, Xuân Tuấn, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Văn Bính, Lê Chuyên. Dancing Văn Hoa năm 1952

Năm 1952, một người bạn cũ của Xuân Tiên là nhạc sĩ Ngọc Bích vào Nam, sau đó viết thư gửi ngược lại cho Xuân Tiên mời vào Sài Gòn tham gia chung ban nhạc đang cần người ở Cinema Văn Cầm. Nhạc sĩ Xuân Tiên viết trong hồi ký:

“Tôi đã từng đi và từng sống ở mọi miền đất nước, thấy miền nam khí hậu ấm áp, dân tình hiền hòa, trong khi Hà Nội lạnh lắm không thích. Lòng tôi đã muốn đổi vào Sài Gòn làm ăn, có dịp sẽ vào làm trước để thăm thú công việc, rồi sẽ dời cả gia đình vào sau.

Thế là tôi vào Sài Gòn với Ngọc Bích. Bấy giờ thì tôi đã có thể thuê nhà, sắm sửa đồ đạc đầy đủ sẵn sàng để đón vợ con vào, tiếp đó đón anh Xuân Lôi, rồi sau đó đón cha mẹ vào. Ông bà thân sinh tôi không chịu đi vì còn bà nội già không muốn rời xa quê hương. Các anh em tôi kẻ trước người sau đều vô Sài Gòn làm nhạc và sinh sống tại đây từ năm 1952 ngoại trừ anh cả Xuân Thư. Thế là ông bà thân sinh và anh Xuân Thư ở lại miền Bắc rồi kẹt luôn ở đó sau khi chia đôi đất nước.”

Bài hát đầu tiên của nhạc sĩ Xuân Tiên được phát hành là tại Sài Gòn, đó là bài Chờ Một Kiếp Mai, do Ngọc Bích viết lời. Tuy nhiên việc viết nhạc chỉ là công việc phụ nên ông sáng tác không nhiều, mà công việc chính là tham gia trong nhiều ban nhạc và làm việc cho tất cả các đài phát thanh tại Sài Gòn, chơi nhạc cho các hãng phát hành băng và đĩa hát, đến đêm thì đến chơi nhạc tại các vũ trường cho đến năm 1975. Ông là trưởng ban nhạc tại các phòng trà – vũ trường là Kim Sơn, Văn Cảnh. Blue Diamond, Eden Rock, Mỹ Phụng, Palace Hotel, Bách hỷ, Tour d’Ivoire, Đại Kim Đô, Maxim’s.

Thời gian làm trong ban nhạc đài Tiếng Nói Quân Đội, ông có dịp theo đoàn đi trình diễn ở nhiều nước:

– Năm 1955 sang Lào dự hội chợ That Luang, cùng đi và cùng biểu diễn chung với ban nhạc của Mỹ.

– Năm 1956 sang Thái Lan trình diễn nhạc tại đài phát thanh Bangkok.

– Năm 1961 sang Phi Luật Tân biểu diễn tại trường đại học Manila.

Thời gian cuối thập niên 1960, vì tình trạng an ninh phòng trà bị chính quyền đóng cửa một thời gian, ban nhạc Xuân tiên chuyển sang chơi nhạc tại các club Mỹ.

Ban nhạc Xuân Tiên

Tuy sáng tác không nhiều nhưng các ca khúc của nhạc sĩ Xuân Tiên rất đa dạng và có nhiều bài nổi tiếng, đặc biệt là đều mang đậm tính dân tộc, được cảm hứng từ những làn điệu của quê hương của cả 3 miền. Bài hát nổi tiếng có âm điệu xứ Bắc của ông là Duyên Tình, Khúc Hát Ân Tình, còn làn điệu âm hưởng dân ca Nam Bộ có Cùng Một Mái Nhà Khúc Hát Đồng Xanh. Nhạc âm hưởng Huế có các ca khúc Mong Chờ, Tiếng Hát Trong Sương. Ngoài ra ông còn có ca khúc nổi tiếng Hận Đồ Bàn mang hơi thở của dân Chàm vùng Nam Trung Bộ.


Click để nghe Việt Ấn hát Hận Đồ Bàn. Việt Ấn cũng là một thành viên trong ban nhạc Xuân Tiên

Nói về hoàn cảnh sáng tác Hận Đồ Bàn, nhạc sĩ Xuân Tiên kể lại rằng trong thời gian theo gánh hát, ông và anh là nhạc sĩ Xuân Lôi có điều kiện đi dọc đất nước và tìm hiểu về các âm điệu nhạc dân tộc các miền. Một lần đi qua vùng Bình Định, ông ấn tượng với những tháp Chàm rêu phong đứng chơ vơ hiu quạnh. Sau nay khi đã vào Sài Gòn và làm việc trong đài phát thanh, vì muốn sáng tác một ca khúc có chủ đề khác biệt so với các nhạc sĩ đồng nghiệp đa số viết về tình yêu đôi lưa, nhạc sĩ Xuân Tiên nhớ lại Tháp Chàm năm xưa, nên quyết định ra lại miền Trung để tìm hiểu dân Chàm, nghiên cứu sâu hơn về âm điệu, về phong tục lịch sử nơi đây để viết Hận Đồ Bàn.

Riêng bài hát Mong Chờ, nhạc sĩ Xuân Tiên kể lại hoàn cảnh sáng tác như sau:

“Thời gian tham gia ban nhạc đài Tiếng Nói Quân Đội, toàn ban văn nghệ ra Huế biểu diễn một đêm. Sau khi diễn xong, có ông nhạc sĩ đàn Huế có con gái ông là ca sĩ của Đài Phát Thanh Huế vì thích bản nhạc Khúc Hát Ân Tình mà mời tôi và ông Vĩnh Phan xuống thuyền chơi với ông một đêm. Cùng đi có một ông bạn nhạc sĩ cũng chơi đàn Huế tại Đài Phát Thanh Huế, cùng xuống thuyền hòa nhạc chơi. Tôi cũng chơi nhạc Huế với các ông ấy và cô ca sĩ ca, ăn uống, có các hàng quà ở thuyền đi bán đêm.

Ăn xong chúng tôi chia nhau ngủ ở hai thuyền ghép lại với nhau. Ông Vĩnh Phan, cô ca sĩ và tôi ngủ một thuyền. Cô ca sĩ và tôi thức không ngủ nói chuyện đến sáng, rồi bố con cô ca sĩ mời tôi và Vĩnh Phan về nhà ăn quà sáng rồi tiễn chúng tôi ra máy bay để về Sài Gòn.

Tôi về Sài Gòn rồi cứ nhớ mãi buổi gặp gỡ đó với dư âm Huế và cô ca sĩ đó, nên tôi mới sáng tác ra bản nhạc Mong Chờ.”


Click để nghe Hoàng Oanh hát Mong Chờ trước 1975

Bài hát nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của nhạc sĩ Xuân Tiên phải kể đến là Khúc Hát Ân Tình, được sáng tác khoảng năm 1958, trong bối cảnh nhiều người dân miền Bắc di cư vào Nam sinh sống sau Hiệp định Genève năm 1954. Bài hát kêu gọi mọi người dù là từ miền nào thì cũng hãy sống thân ái với nhau, đồng thời cũng ngợi ca tình yêu không phân biệt Bắc-Nam.


Click để nghe Phương Dung hát Khúc Hát Ân Tình trước 1975

Nói về quan điểm sáng tác của mình, nhạc sĩ Xuân Tiên nói trong một lần trả lời phỏng vấn:

“Nói chung thì trong sáng tác, tôi rất chú trọng đến giai điệu và thể điệu của bài hát. Giai điệu được giải nghĩa một cách nôm na là cấu trúc của những câu nhạc sao cho có đầy đủ nhạc tính và phẩm chất của hòa âm, để mình nghe thấy hay, dù cho không cần lời hát, chỉ hòa tấu nbng nhạc cụ không thôi cũng thấy hay. Nếu không có giai điệu hay thì không thể có bài hát hay được.

Còn thể điệu thì ví dụ như điệu valve, tango, rumba… Nhạc Việt mình vốn nghèo về thể điệu, cho nên tôi chủ trương dùng nhiều thể điệu khác nhau cho những ca khúc để tạo những đổi mới ngay trong chính những tác phẩm của mình.

Tôi thích những âm hưởng lạc quan yêu đời, tôi yêu những lời hát ca ngợi quê hương dân tộc. Tôi cũng có làm những loại nhạc tình yêu lứa đôi và nhạc buồn nhưng không có sầu thương ủy mị quá. Có buồn những cũng chỉ là chớm buồn chút thôi.

Đối với tôi, điều quan trọng nhất trong sáng tác là mình không được lặp lại của người khác, mà mình cũng không được lặp lại chính mình, nghĩa là mỗi một tác phẩm của mình phải hoàn toàn không giống ai.”

Sau năm 1975, nhạc sĩ Xuân Tiên ở lại Việt Nam. Ông kể về thời gian khó khăn đó như sau:

“Tất cả các nghệ sĩ đều phải đi học tập 21 ngày tại nhà hát lớn. Tất cả các nghệ sĩ đều lao đao sống chật vật gượng gạo. Chúng tôi, một số nhạc sĩ giỏi họp nhau lại thành lập một ban nhạc để hợp tác với ban kịch nói Kim Cương. Trình diễn phần đầu, phần thứ 2 là kịch. Đi trình diễn khắp trong nước, rất được công chúng hoan nghênh nhưng đồng lương thì rẻ lắm. Cố gượng gạo làm để sống qua ngày. Làm nhiều mà không đủ tiền nuôi gia đình, may mà vợ tôi buôn bán tạm để nuôi gia đình. Vậy mà ban nhạc chúng tôi cũng kéo dài được 5 năm mới nghỉ được gánh Kim Cương.

Ban hát cải lương Minh Tơ thấy tôi nghỉ ở ban Kịch Nói Kim Cương, mới mời tôi về làm. Tôi cùng Lang Thoại Nguyên và Xướng người Trung Hoa về làm Minh Tơ, là ban hát cải lương Hồ Quảng.

Được hơn một năm thì tôi nghỉ về làm phòng trà tại một tụ điểm được mấy tháng thì có giấy gọi đi định cư ở Úc.”

Mười năm đầu nhạc sĩ Xuân Tiên sống tại Canberra, được ban nhạc người Úc mời chơi nhạc tại các club. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn, ông nghỉ và ở nhà nhận sửa chữa tất cả các loại kèn sáo, khách hàng là các trường học, trường nhạc, các ban nhạc tư nhân. Nghề này không có trường dạy ở Úc, mà nhờ Xuân Tiên phải tự sửa những nhạc cụ của mình trong bao nhiêu năm theo nghề nhạc mà thành thạo và có kinh nghiệm. Làm được 10 năm thì ông dọn về Sydney mà nghỉ hưu từ đó đến nay.

Ngoài đóng góp lớn cho âm nhạc miền Nam trong 2 mảng sáng tác và trình diễn, nhạc sĩ Xuân Tiên còn là người có nhiều cải tiến và sáng tạo các loại nhạc cụ dân tộc.

Sáo tre vốn dĩ chỉ có sáu lỗ. Năm 1950, ông đã cùng với anh là Xuân Lôi cải tiến loại nhạc cụ này thành hai loại là 10 lỗ và 13 lỗ có khả năng chơi được nhiều âm giai khác nhau. Người chơi sáo 10 lỗ cần dùng 10 ngón tay và có thể chơi tất cả những bán cung, vì thế sáo không bị giới hạn trong bất cứ âm giai nào. Sáo 13 lỗ dùng để tạo ra những âm thanh thấp hơn khi cần. Hiện hai loại sáo này đang được trưng bày tại Musée de l’Homme, Paris, Pháp.
Năm 1976, ông chế tác cây đàn 60 dây chơi được tất cả âm giai. Tiếng đàn tương tự tiếng đàn tranh nhưng mạnh và chắc hơn.

Năm 1980, ông cải tiến cây đàn bầu cổ truyền với thân đàn làm từ trái bầu dài làm hộp khuếch âm. Đàn này đã nhiều lần được đem đi triển lãm ở Úc, thường được gọi là Đàn bầu Xuân Tiên.

Đàn bầu Xuân Tiên

Gia đình Xuân Tiên sau khi di cư vào Sài Gòn năm 1952 có thể gọi là một đại gia đình, với 2 vợ chồng, mẹ vợ, 8 người con, ngoài ra ông còn nhận nuôi 4 người cháu ruột (con của người anh thứ 2) và 2 người làm, tổng cộng 17 người, một tay Xuân Tiên làm việc để chu toàn cho tất cả bằng sức lao động hăng say và miệt mài, bằng tài năng và cố công nghiên cứu trau dồi kiến thức. Nhạc sĩ Xuân Tiên nói rằng ông có quan niêm có tiền là để xài cho thoải mái đời sống, cho nên ông không bao giờ giàu, cũng không bao giờ mang tiếng keo kiệt. Bao giờ cũng sung túc, nhưng không bao giờ lo lắng giữ của. Tới bây giờ ông càng cảm thấy thoải mái, không phải là một thứ gì trong đời sống. Có lẽ là vì sự thoải mái trong suy nghĩ đó là một phần bí quyết cho sự trường thọ của ông.

Bản quyền bài viết này của nhacxua.vn
Published under copyright license

Nhạc sĩ Phạm Duy và những ca khúc Hương Quê sáng tác 70 năm trước: Em Bé Quê, Vợ Chồng Quê, Bà Mẹ Quê

Trong lĩnh vực tân nhạc Việt Nam suốt hơn 80 năm qua, có lẽ là không có bất kỳ một nhạc sĩ nào có thể sánh bằng nhạc sĩ Phạm Duy về số lượng ca khúc được yêu thích và sự đa dạng thể loại, chủ để trong sáng tác. Trong tất cả các địa hạt liên quan đến âm nhạc, nhạc sĩ Phạm Duy luôn hiện diện, từ nhạc tiền chiến, dân ca, tình ca, du ca, nhạc phim, nhạc trẻ… đến các chủ đề mà ông đặt tên là bình ca, tâm ca, hương ca, tâm phẫn ca, đạo ca, thiền ca, rong ca, nữ ca…

Trước khi sáng tác nhiều bài tình ca nổi tiếng, trong 2 thập niên 1940-1950 nhạc sĩ Phạm Duy dành nhiều thời gian và tâm huyết để sáng tác nhạc quê hương, con người Việt Nam, tự tình dân tộc, trong đó có chùm ca khúc được ông gọi là nhạc Hương Quê, đó là 3 ca khúc Em Bé Quê, Vợ Chồng Quê, và Bà Mẹ Quê, là biểu tượng cho quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc.


Click để nghe Ban Thăng Long hát Em Bé Quê – Vợ Chồng Quê – Bà Mẹ Quê khoảng cuối thập niên 1950

Trong chùm 3 ca khúc này, nếu như Bà Mẹ Quê tượng trưng cho sự hy sinh, lòng kiên nhẫn, là biểu tượng của quá khứ, còn Vợ Chồng Quê tượng trưng cho tình yêu, sức sống, niềm hạnh phúc ngập tràn trong cuộc đời bình dị, là biểu tượng của hiện tại… thì Em Bé Quê là mầm non của đất nước, biểu tượng của tương lai:

Ai bảo chăn trâu là khổ
Chăn trâu sướng lắm chứ
Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau
Và miệng hát nghêu ngao

Các em bé thành thị và cả ở nhiều miền quê ngày nay hầu như không thể hình dung được công việc chăn trâu là như thế nào. Nhưng vào thời xưa, công việc chăn trâu là công việc thường nhật, quen thuộc của các em bé quê. Hình ảnh cậu bé ở trần ngồi vắt vẻo trên lưng trâu thổi sáo trong bức tranh Đông Hồ nổi tiếng đã đi vào tiềm thức của người Việt như một dấu ấn văn hoá đậm sâu, thể hiện tinh thần vui tươi, lạc quan của người Việt. Nhạc sĩ Phạm Duy cũng không ngoại lệ, ông đưa tinh thần, tư tưởng đó vào trong âm nhạc của mình một cách tự nhiên và dí dỏm.

Mở đầu bài hát là tinh thần lạc quan, yêu đời vốn có của con người Việt Nam, thể hiện ngay cả với một em bé chăn trâu ở đồng quê. Các em bé không thấy chăn trâu cực nhọc mà xem như một thú vui tao nhã: “ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau và miệng hát nghêu ngao”. Vui với đàn trâu nhưng kẻ mục đồng cũng không quên nhiệm vụ học tập chăm chỉ của mình:

Vui thú không quên học đâu
Nằm đồi non gió mát
Cất tiếng theo tiếng lúa đang reo
Em đánh vần thật mau

Chiều nghe tiếng diều
Trên bờ đê vắng xa
Đường về xóm nhà
Chữ i, chữ tờ

Lùa trâu nhốt chuồng
Gánh nước nữa là xong
Khoai lùi bếp trấu
Ngon hơn là vàng

Nửa đầu ca khúc tái hiện một ngày bình thường của những em bé quê, sáng đi học, chiều đi chăn trâu, sẩm tối thì lùa trâu về chuồng, rồi phụ giúp cha mẹ gánh nước. Sau một ngày vất vả mệt nhọc, bụng đói nên chỉ cần củ khoai lùi bếp trấu nóng hổi, thơm lừng, là đã “ngon hơn là vàng”. 

Em mới lên năm, lên mười
Nhưng em không yếu đuối
Thầy mẹ yêu cũng vì trẻ thơ
Làm việc rất say sưa

Em biết yêu thương đời trai
Đời hùng anh chiến sĩ
Ước mong sao em lớn lên mau
Vươn sức mạnh cần lao

Những cô bé cậu bé mới lên 5, lên 10 tưởng như vẫn còn hồn nhiên, vô tư lự nhưng đã thấp thoáng những suy tư sâu sắc. Dù vất vả lao động, nhưng em không hề than van yếu đuối ngược lại còn yêu thương và cảm thông với nỗi vất vả của cha mẹ. Em biết trân trọng và ghi ơn những người chiến sĩ hùng anh đã hy sinh đời trai cho quê hương đất nước, đồng thời nuôi trong mình khát vọng mau chóng lớn khôn để “vươn sức mạnh cần lao”, để làm được nhiều điều cho quê hương xứ sở.

Kìa trăng sáng ngời
Đêm rằm Trung, Trung Thu
Đời vui trống giòn
Tiếng ca lẫy lừng

Từ ngõ ngách làng
Đèn đuốc rước triền miên
Bao người đóng góp
Vui chung một miền

Trâu hỡi trâu ơi đi cầy
Trâu ơi đi cấy nhé
Đồng ruộng kia, với đồi cỏ kia
Là của những dân quê

Em bé dân quê Việt Nam
Là mầm non tươi thắm
Sức mai sau xây đắp quê hương
Cho nước giàu mạnh hơn

Vàng lên cánh đồng
Khi trời vươn ánh dương
Trẻ thơ lớn dậy
Giữ quê, giữ vườn

Đời vui thái bình
Cây lúa sớm trổ bông
Cỏ ngàn thơm phức
Trâu ăn đầy đồng…


Click để nghe Quang Bình – Trang Thanh Hát hát Em Bé Quê

Ca khúc thứ 2 trong chủ đề Hương Quê của nhạc sĩ Phạm Duy là Vợ Chồng Quê, được ông mô tả như sau: 

“Vợ Chồng Quê tượng trưng cho tình yêu trong sạch, sức làm việc, niềm hạnh phúc chỉ dành cho những kiếp người lành mạnh, biểu tượng hiện tại”.

Quả thực, ca khúc Vợ Chồng Quê mang đến cho người nghe một luồng sinh khí tươi trẻ, nồng nhiệt, đắm say của những người trẻ, của những cặp vợ chồng mới cưới đang cùng chung tay xây đắp đời sống mới.

Chàng là thanh niên mạch sống khơi trên luống cầy
Nói năng hiền lành như thóc với khoai
Nàng là con gái nết na trong xóm
Nước da đen ròn với nụ cười son

Ngay mở đầu ca khúc, nhạc sĩ giới thiệu đến người nghe hình ảnh chàng trai lực điền chất phát và cô gái thôn quê mang làn da rám nắng đen ròn nhưng duyên dáng, nết na. Họ giống như những hạt giống tốt nhất của làng quê tươi trẻ, khoẻ khoắn và hăng say lao động:

Hỡi anh gánh gạo trên đường, chàng ơi
Gạo Nam, gạo Bắc
Đòn miền Trung, gánh đừng để rơi
Chàng chàng ơi, gánh đừng để rơi


Click để nghe Duy Khánh – Tuyết Mai thu âm Vợ Chồng Quê thập niên 1950

Đất nước Việt Nam từ ngàn xưa đã được gầy dựng, giữ gìn bởi những người dân thôn quê, chân lấm tay bùn. Dù chỉ làm những công việc lao động bình thường trên đồng ruộng, nhưng trong máu huyết của những chàng trai, cô gái ấy là dòng máu nóng Việt Nam. Trong tình yêu lao động hăng say, nhiệt thành là tình yêu đất nước, yêu trời biển quê hương nước Việt.

Người Việt xưa nay thường ví von dải đất miền Trung nhỏ hẹp, nghèo khó, luôn chịu nhiều thiên tai, mất mát giống như một chiếc quang gánh, gánh hai đầu Bắc Nam. Không lâu sau khi bài hát này được ra đời, miền Trung lại trở thành vùng hỏa tuyến gánh chịu nhiều đau thương nhất. Vậy nên hình ảnh chàng trai gánh gạo Bắc – Nam, bằng chiếc “đòn gánh” miền Trung giống như trọng trách của những người trai đất Việt, phải gánh vác trên vai gánh nặng sơn hà. Và câu hát “Đòn miền Trung, gánh đừng để rơi/ Chàng chàng ơi, gánh đừng để rơi” chính là lời nhắn gửi, mong cầu của nhạc sĩ nói riêng và những người con Việt nói chung mong non sông đất nước luôn liền một giải, không bị gẫy gánh chia đôi.

Hỡi em tát ruộng bên ngòi, nàng ơi
Biển Đông ta tát cạn

Nàng nàng ơi, cho đời thuận nhau
Nàng nàng ơi, cho đời thuận nhau

Nàng nàng ơi, chàng chàng ơi
Nàng nàng ơi, chàng chàng ơi

Hình ảnh những cô gái tát ruộng, tát cạn cả Biển Đông chính là hình ảnh của những người phụ nữ Việt dù nhỏ bé nhưng không hề hèn yếu, luôn đồng thuận, kề vai sát cánh cùng những người trai, cùng gánh vác sơn hà.


Click để nghe Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết hát Vợ Chồng Quê trước 1975

Chàng nhìn đàn chim rồi ước như chim ngang trời
Sống chia miếng mồi, như đũa có đôi
Nàng cười không nói, ngước ra sông núi
Má em hây hồng như áng mây trời

Tình yêu của đôi trai gái quê được khắc hoạ giản dị và đầy ý nhị qua từng câu chữ mộc mạc: “Chàng nhìn đàn chim rồi ước như chim ngang trời, sống chia miếng mồi, như đũa có đôi”. Đó chính là thứ tình yêu bản năng, hồn nhiên, nồng nhiệt và đắm say nhất. Chẳng cần ước hẹn trăm năm, chẳng cần cung vàng điện ngọc, nhà cao lầu lớn, chỉ cần chung đôi, cùng nhau chia sẻ ngọt bùi.

Một ngày sang Thu
Một buồng cau tơ
Quanh co lối xóm những tà áo mới

Mẹ già yên lòng
Thiếu nữ mơ mòng
Các em nhi đồng trống ếch khua vang

Bức tranh đám cưới làng quê nghèo khó nhưng thanh bình, ngọt ngào, vui tươi, nồng hậu được nhạc sĩ khắc hoạ đầy đủ và rõ nét qua hình ảnh buồng cau tơ, những tà áo mới, mẹ già yên lòng, thiếu nữ mơ mòng và các em nhi đồng trống ếch khua vang. Bất kỳ ai sinh ra và lớn lên ở những miền quê, hẳn sẽ cảm nhận rõ ràng cái không khí nao nao, vui tươi, rộn rã, thân tình của những đám cưới quê. Đó không phải là sự kiện riêng của cá nhân gia đình mà là niềm vui chung của cả làng, cả xóm. Khi một đám cưới diễn ra, hàng xóm làng giếng hoàn toàn không phải là những người ngoài cuộc, họ chung tay cùng nhau giúp đỡ, vun vén cho ngày vui của đôi trai gái được vẹn tròn, vui vẻ.

Chàng vừa cầy sâu, vừa hứng mưa trên đất mầu
Hái bông ngô vàng hay bới khoai nâu
Nàng vừa cuốc bẫm, tắm trong sương sớm
Tát xong nước rồi, sẽ về thổi cơm

Chữ i móc ngược o o ó o tròn, người ơi
Còn trong một nước
Người người ơi, ta còn yêu nhau
Người người ơi, ta đừng bỏ nhau 

(“Chữ i móc ngược o tròn” trong câu hát có lẽ được nhạc sĩ mượn từ câu dạy cách học vỡ lòng tiếng Việt từ đời xưa “Chữ i móc ngược, chữ tờ gạch ngang”, như là cách đề cao tinh thần dân tộc của những người chung một nước).

Á ơi, con ngủ cho muồi
À ơi, cười vui trong giấc mộng
À à ơi ! Yêu đời tự do
À à ơi, À à ơi ! À à ơi, à ơi. 

Thuở nào vườn cau vừa mới cao ngang mái đầu
Lúa dăm ba sào, nay đã hai trâu
Nhìn thằng cu bé dẫm mưa trong ngõ
Nước mưa chan hoà cho tốt lúa nhà

Mùa màng năm nay
Gạo tròn tay say
Đêm đêm thức giấc lúc gà chưa gáy

Vì đời yên lành
Nên lúa đa tình
Hứa cho đôi mình kiếp sống thanh bình 

Sau bao khó nhọc, vất vả, đôi vợ chồng trẻ cũng xây đắp được một tổ ấm tươm tất với vườn cau, ruộng lúa, con trâu và những đứa trẻ khoẻ mạnh, hồn nhiên. Họ sống một cuộc đời thanh đạm, nghèo khó nhưng yên bình, lạc quan và hạnh phúc.

Ca khúc Vợ Chồng Quê được sáng tác vào khoảng năm 1953, và trong đó chứa đựng rất nhiều hình ảnh của chính đôi vợ chồng quê Phạm Duy – Thái Hằng, vào thời điểm họ cưới nhau ở vùng quê Thanh Hóa. Dù là viết nhạc dựa trên hoàn cảnh và những cảm xúc của chính mình, nhưng nhạc sĩ Phạm Duy cũng đã nói thay được tâm tư tình cảm của hàng triệu đôi vợ chồng quê của nhiều thế hệ người Việt Nam.

Vợ chồng quê Phạm Duy – Thái Hằng năm 1948

Với ca khúc này, có thể thấy không chỉ tình yêu trai gái, vợ chồng, mà cả tình yêu gia đình, quê hương, xứ sở cùng xuất hiện, hoà thành một thể thống nhất, cùng thăng hoa trong những lời ca ngọt ngào, vui tươi, nồng hậu của thể điệu âm nhạc dân gian được nhạc sĩ Phạm Duy lồng ghép vào ca khúc.


Click để nghe Nhật Trường – Thanh Lan hát Vợ Chồng Quê trước 1975

Bài hát thứ 3 là Bà Mẹ Quê, được nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành năm 1954. Đây là những ca khúc đã nhận được sự yêu mến và phổ biến sâu rộng, không chỉ đối với người yêu nhạc mà còn đối với mọi tầng lớp quần chúng, đó là bởi nhạc sĩ Phạm Duy đã đưa vào trong bài hát những giai điệu trữ tình gần gũi của âm nhạc dân tộc, cùng những hình ảnh, ca từ giản dị mà thân thuộc đối với bất kỳ người Việt nào.

Ngay mở đầu ca khúc, hình ảnh những bà mẹ tảo tần, chắt chiu của những làng quê Việt Nam đã hiện ra thân thương, gần gũi trong một không gian mộc mạc và chân thực:

Vườn rau, vườn rau xanh ngắt một mầu
Có đàn, có đàn gà con nương náu
Mẹ quê, mẹ quê vất vất vả trăm chiều
Nuôi đàn, nuôi một đàn con chắt chiu

Cho đến tận ngày nay, khi mà lối sống hiện đại đã tràn về khắp các miền quê Việt, thì khu vườn rau với những đàn gà loanh quanh trong vườn của mẹ vẫn là những hình ảnh thân thương, trân quý nhất mà những người con xa quê thường nhớ về. Khi con còn nhỏ, gia đình còn nghèo khó, người mẹ chắt chiu từng bó rau, cái trứng, từng thức quả trong vườn để đem đổi lấy tiền, gạo, mắm, muối,… để nuôi sống đàn con lớn lên. Khi con đã trưởng thành, đi xa, mẹ lại gói ghém từng cái trứng, nhặt từng bó rau gửi về thành thị cho con. Hình ảnh bà mẹ mộc mạc, chân quê, chẳng hề nổi bật mà lẩn khuất trong vườn rau xanh ngắt, giữa đàn gà con được nhạc sĩ vẽ lên thật đẹp bằng những ca từ giản dị mà thân thương.


Click để nghe Thái Hằng hát Bà Mẹ Quê năm 1951, ngay sau khi bài hát được ra đời

Bà, bà mẹ quê!
Gà gáy trên đầu ngọn tre
Bà, bà mẹ quê!
Chợ sớm đi chưa thấy về
Chờ nụ cười son, và đồng quà ngon

Những câu hát ngọt ngào, đẩy đưa đậm chất ca dao dân ca như những con sóng lăn tăn vỗ vào lòng người những cơn rung chấn cảm xúc đậm sâu. Trong những gia đình Việt truyền thống, người mẹ thường thức dậy sớm trước cả nhà để lo việc nấu nướng, chợ búa.

Thời xưa không có đồng hồ, nên nhịp sinh hoạt đêm ngày phụ thuộc vào thiên nhiên là chính. Người ta chia mỗi đêm thành 5 canh, mỗi canh khoảng 2 giờ đồng hồ, tính từ khoảng 19h tối hôm trước đến 5h sáng hôm sau. Mọi người thường sẽ thức dậy vào canh 5 tức là vào khoảng 3-5 giờ sáng nhờ vào tiếng gáy của những chú gà trống: “Gà gáy trên đầu ngọn tre” – Đó là tiếng gáy đầu tiên vang lên khi trời vừa tờ mờ sáng, khi mọi người còn chưa thức dậy, trời đêm còn yên tĩnh, nên tiếng gáy của chú gà trống vang xa hơn, lớn hơn. Đó là lúc người mẹ thức dậy, nấu nồi cơm, nồi cháo, đặt ấm nước lên bếp, rồi sửa soạn đi cho kịp buổi chợ sớm. Những đứa trẻ được cha mẹ yêu thương sẽ không phải thức dậy sớm, khi ngủ dậy thường sẽ không thấy mẹ ở nhà vì mẹ đã đi chợ từ sớm.

Trong ký ức tuổi thơ của nhiều người Việt, những buổi sáng thức giấc, ngồi trước hiên nhà, chờ mẹ đi chợ về mang theo những món quà bánh là những kỷ niệm ngọt ngào không thể phai.

Trời mưa, trời mưa ướt áo mẹ già
Mưa nhiều, mưa nhiều càng tươi bông lúa
Trời soi, trời soi bốc khói sân nhà
Nắng nhiều thì phơi lúa ra

Những câu hát giống như đoạn đối đáp đầy tình cảm, quan tâm và yêu thương giữa những người trong gia đình. Đáp lại nỗi lo lắng khi trời mưa trút xuống khiến mẹ bị ướt áo, người mẹ lại lạc quan rằng: “mưa nhiều càng tươi bông lúa”. Đáp lại sự than vãn trong những ngày trời nắng đổ lửa đến “bốc khói sân nhà” thì mẹ lại bình thản đáp rằng: “nắng nhiều thì phơi lúa ra”. 

Người nghe nhạc mang những cảm xúc khó tả khi hình dung về một người mẹ tảo tần, vất vả trong mưa nắng nhưng không nề hà, than van khó nhọc mà luôn lạc quan, vui vẻ. Dường như, chẳng có điều gì làm khó được những bà mẹ quê ấy, bởi họ đã chịu nhiều nỗi vất vả nhọc nhằn hơn nữa.

Bà, bà mẹ quê, đêm sớm không nề hà chi
Bà, bà mẹ quê, Ngày tháng không ao ước gì
Nhỏ giọt mồ hôi, vì đời trẻ vui

Và dù mẹ có cực khổ, vất vả hơn nữa, thì mẹ cũng chẳng “nề hà chi”, vẫn sẽ ngày ngày thức khuya dậy sớm, không mong cầu ao ước gì cho bản thân mình, mà chỉ mong con trẻ lớn khôn, vui tươi, khoẻ mạnh.

Miệng khô, miệng khô nhớ bát nước đầy
Nhớ bà, nhớ bà mẹ quê xưa ấy
Mùa đông, mùa đông manh chiếu thân gầy
Cháu bà, cháu bà ngủ thiu giấc say
Bà, bà mẹ quê!

Để rồi khi những đứa con lớn lên, trưởng thành đi xa, lại chính những bà mẹ quê ấy trở thành người bà không quản ngại vất vả, sớm hôm, tiếp tục chăm sóc cho những đứa cháu. Hình bóng những người mẹ, những người bà áo mỏng thân gầy hiện ra thật xót xa trong từng câu hát nhấn nhá, tưởng như nhẹ bẫng mà thẫm đẫm niềm nhớ thương và tri ân sâu sắc.

Câu hát “miệng khô, miệng khô nhớ bát nước đầy” thể hiện sự tinh tế đặc biệt của nhạc sĩ Phạm Duy trong cách sử dụng ca từ. Dù chẳng có lời nào đề cập đến sự còn hay mất của bà mẹ quê xưa ấy nhưng người nghe vẫn ngầm hiểu rằng, đứa con đi xa đã chẳng còn nhận được sự yêu thương, chăm sóc, gần gũi của người mẹ ấy nữa. Tất cả chỉ còn là ký ức, là nỗi nhớ nhung, hoài thương, chát đắng trong lòng.


Click để nghe Khánh Ly hát Bà Mẹ Quê

Chân bước ra đời rồi xa
Bà bà mẹ quê!
Từ lúc quê hương xoá nhoà
Nhìn về miền quê, mà giọt lệ xa

Cho đến những câu hát cuối cùng này thì ta hiểu rằng, tâm sự của người con, người cháu trong ca khúc chính là tâm sự của nhạc sĩ Phạm Duy nói riêng và rất nhiều người Việt nói chung trong giai đoạn chia phôi, đầy biến động của đất nước. Câu hát “chân bước ra đời rồi xa” chính là hoàn cảnh thực của nhạc sĩ, ông trưởng thành ra đời rồi đi xa, xa mãi càng ngày càng xa, đến khi Bắc – Nam chia đôi, “quê hương xoá nhoà”, đường về mù mịt nhìn lại thì đã chẳng còn thấy gì nữa, đã bặt tin tức từ bao giờ.

Bài: Niệm Quân
Bản quyền bài viết này của nhacxua.vn
Published under copyright license

Chuyện tình đặc biệt của nhạc sĩ Phạm Duy qua những bài tình ca bất tử: Cỏ Hồng, Ngày Đó Chúng Mình, Nghìn Trùng Xa Cách…

Trong cuộc đời nghệ sĩ đa tình của mình, nhạc sĩ Phạm Duy có vô số những người tình; có những cuộc tình thẹn thùng không ngỏ, có những cuộc tình “xác thịt” chớp nhoáng, có những cuộc tình đưa đến duyên phận vợ chồng,.. nhưng cũng có những cuộc tình trong veo như thuỷ như ngọc. Trong hồi ký của mình, nhạc sĩ Phạm Duy chưa bao giờ phủ nhận ông là một người đào hoa, đã đi qua đời không biết bao nhiêu người đàn bà. Nhưng chuyện tình với người đẹp mang tên Lệ Lan thì nhạc sĩ lại luôn quả quyết đó chỉ là một mối tình thơ nhạc trong sáng và không có đụng chạm về thể xác. Mười năm bên nhau, họ đồng cảm, gắn bó và trao tặng nhau rất nhiều những vần thơ, khúc nhạc, trong đó những ca khúc nổi tiếng nhất được nhạc sĩ Phạm Duy viết cho mối tình này là Tìm Nhau, Cho Nhau, Đừng Xa Nhau, Kiếp Sau, Thương Tình Ca, Ngày Đó Chúng Mình, Chỉ Chừng Đó Thôi, Cỏ Hồng, Nghìn Trùng Xa Cách, Nha Trang Ngày Về…

Nhạc sĩ Phạm Duy

Kể về chuyện tình với Lệ Lan, nhạc sĩ Phạm Duy chưa bao giờ thôi tâm đắc:

“Vì vấn đề chênh lệch tuổi tác cũng như vì tôi không muốn làm phiền những người chung quanh một lần nữa, tôi quyết định ngay từ lúc đầu rằng đây chỉ là một mối tình giữa hai tâm hồn mà thôi. Tôi cố gắng tránh mọi đụng chạm về xác thịt và tôi hãnh diện để nói rằng nàng vẫn là một trinh nữ khi rời xa tôi để bước chân lên xe hoa về nhà chồng. Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt ai cả, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Giữa chúng tôi, không có ràng buộc, trói chặt nhau. Mỗi cuối tuần gặp nhau, thế là quá đủ”.

Alice thập niên 1970

Về sự gặp gỡ nhau giữa Phạm Duy và Lệ Lan (còn được biết đến với tên Alice), nhạc sĩ kể khá chi tiết trong hồi ký của mình, ở bài viết này chỉ xin nhắc lại về những ca khúc nổi tiếng được bắt nguồn từ cuộc tình này.

THƯƠNG TÌNH CA

Đây là một trong những bản tình ca đôi lứa đầu tiên của nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác vào thập niên 1950, sau một thời gian dài ông chỉ sáng tác nhạc ca tụng quê hương và con người Việt Nam.


Click để nghe Lệ Thu hát Thương Tình Ca trước 1975

Thương Tình Ca được ra đời năm 1956, tức là một năm trước khi chuyện tình của nhạc sĩ Phạm Duy và Alice chính thức bắt đầu, như lời ông kể lại trong hồi ký:

“Một chiều mùa Thu 1957, tôi tỏ tình với Alice và được nàng ban cho một cái ừ lặng lẽ. Lúc đó, tôi có ngay quyết định là mối tình này cũng phải cao thượng như mối tình giữa tôi và Hélène. Tôi bỏ ra 10 năm để xây dựng một cuộc tình mà kết quả là một số bản tình ca soạn ra để riêng tặng nàng, từ Thương Tình Ca (1956) cho tới Chỉ Chừng Đó Thôi (1975). Nàng cũng viết ra khoảng 300 bài thơ để tặng tôi”.

Nhạc sĩ Phạm Duy nói ngắn gọn về ca khúc này như sau:

“…Tôi lại gặp được tình yêu. Tôi không lẩn tránh nó dù biết không giữ nó được suốt đời. Cuộc tình khởi sự bằng bài Thương Tình Ca :

Dìu nhau đi trên phố vắng
Dìu nhau đi trong ánh sáng
Dắt hồn về giấc mơ vàng, nhẹ nhàng
Dìu nhau đi chung một niềm thương…

Biết rằng có ngày phải chia xa nhau nhưng vẫn hứa :

Dìu nhau sang bên kia thế giới
Dìu nhau nương thân ven chín suối
Dắt dìu về tới xa vời, đời đời
Dìu nhau đưa nhau vào ngàn thu…”

NGÀY ĐÓ CHÚNG MÌNH

Nhạc sĩ Phạm Duy từng nói rằng Ngày Đó Chúng Mình là ca khúc đánh dấu sự khởi đầu của chuyện tình đáng nhớ này, một ca khúc dạt dào tình cảm dành cho tình nhân thời đắm đuối bên nhau:

Ngày đó có em đi nhẹ vào đời
Và đem theo trăng sao đến với lời thơ nuối
Ngày đó có anh mơ lại mộng ngời
Và se tơ kết tóc giam em vào lòng thôi…


Click để nghe Duy Trác hát Ngày Đó Chúng Mình trước 1975

NẾU MỘT MAI EM SẼ QUA ĐỜI

Ngay khi chuyện tình bắt đầu, nhạc sĩ đã thấy le lói những khổ đau chắc chắn sẽ đến, nhưng có lẽ chính ông cũng không nghĩ rằng chuyện tình với Alice kéo dài đến hơn 10 năm.

Bởi vì vậy, chỉ một năm sau khi bắt đầu chuyện tình đó, ông đã sáng tác một bài hát về dự cảm chuyện tình sẽ kết thúc, người yêu sẽ lên xe hoa:

Nếu một mai em sẽ quɑ đời
Hoa phủ đầy người
Xe nhịp đằm khơi xa xôi.

Nếu một mai em đốt pháo vui
Hát theo người
Hương cưới chia phôi, cười mặn tình đời.


Click để nghe Lệ Thu hát Nếu Một Mai Em Sẽ Quɑ Đời trước 1975

Nhạc sĩ Phạm Duy đã viết trong hồi ký như sau: “Với hoa phủ đầy người, em sẽ lên xe hoa! Xe hoa ở đây là xe tang hay là xe cưới? Chỉ biết rằng em sẽ qua cầu, em phải xa anh”.

TÌM NHAU – CHO NHAU

Đây là 2 tình khúc được nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác ngay khi bắt đầu chuyện tình năm 1957. Đó là thời gian ông được đắm chìm trong cuộc tình với người tình trẻ. Đầu tiên nhạc sĩ sáng tác Tìm Nhau:

Tìm nhau trong hoa nở
Tìm nhau trong cơn gió
Tìm nhau trong đêm khô hay mưa lũ

Tìm nhau khi nắng đổ
Tìm nhau khi trăng tỏ
Tìm nhau như chim mộng tìm người mơ


Click để nghe Thái Thanh hát Tìm Nhau trước 1975

Khi đã tìm được nhau rồi thì đến “Cho Nhau”, nhạc sĩ đã viết trong hồi ký:

Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt ai cả, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Giữa chúng tôi, không có ràng buộc, trói chặt nhau. Mỗi cuối tuần gặp nhau, thế là quá đủ. Tôi nói lên điều này qua ca khúc Cho Nhau:

Cho nhau chẳng tiếc gì nhau.
Cho nhau gửi đã từ lâu
Cho nhau cho lúc sơ sinh ngày đầu
Cho những hoa niên nhịp cầu
Đưa tuổi thơ đến về đâu…

Vì yêu nhau nhưng không muốn chiếm đoạt nhau cho nên có thể cho nhau cả dãy Trường Sơn, cho nhau cả bốn trùng dương, quê hương xin vẫn cho nhau như thường… để rồi khi cần phải dứt tay chia đôi đường, đã giữ lại sự ”tự do cho nhau” rồi thì sẽ chẳng còn gì để đôi người tình phải vương vấn hay oán trách nhau.

Trong bài này tôi muốn được dâng cho người yêu tất cả, không thiếu một thứ gì, chỉ xin giữ lại một điều: đó là sự tự do cho nhau.

Cho nhau làn tóc làn tơ
Cho nhau cả mắt trời cho
Cho nhau tiếng khóc hay câu vui đùa
Cho chiếc nôi cho nấm mồ
Cho rồi xin lại tự do.”


CLick để nghe Thái Thanh hát Cho Nhau trước 1975

ĐỪNG XA NHAU

Sau khi đã tìm được nhau và cho nhau, nhạc sĩ bắt đầu van nài tình yêu xin hãy còn mãi mãi, đừng thoát giấc mộng đầu… trong một bài hát rất tình cảm mang tên Đừng Xa Nhau:

Đừng xa nhau!
Đừng quên nhau!
Đừng rẽ khúc tình nghèo
Đừng chia nhau nỗi vui niềm đau.

Đừng buông mau!
Đừng dứt áo!
Đừng thoát giấc mộng đầu,
Dù cho đêm có không bền lâu.


Click để nghe Sĩ Phú hát Đừng Xa Nhau trước 1975

CỎ HỒNG

Nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác Cỏ Hồng ra đời năm 1970, sau khi người tình trẻ đi lấy chồng, vì nhớ lại những tháng ngày êm đềm, rất đỗi dịu dàng, khi được nằm trọn trong vòng tay ái ân của người tình tại xứ sở sương mù Đà Lạt.

Đây cũng là thời điểm cặp du ca Lê Uyên – Phương đang làm mưa làm gió khắp các sân khấu âm nhạc từ quê nhà Đà Lạt tới Sài Gòn bằng thứ âm nhạc dục tính, đầy tự do và hoang dại đậm chất cao nguyên. Nhạc sĩ Phạm Duy thừa nhận ông đã bị ảnh hưởng bởi thứ âm nhạc đầy dục tính đó khi viết ca khúc Cỏ Hồng. Ông viết trong hồi ký của mình: “Vào năm 1970, sau khi tôi đã soạn xong những bài như Trả Lại Em Yêu, Con Đường Tình Ta Đi… vốn là những bài ca tình cảm mô tả cuộc tình của những lứa đôi đang sống một cuộc đời bấp bênh vì không tránh khỏi cảnh xa nhau bởi thời thế. Một nhạc sĩ khác, Lê Uyên-Phương, tung ra một loạt ca khúc mang chất dục tính, ví dụ như bài Vũng Lầy Của Chúng Ta. Tôi bắt chước anh, soạn một bài có tính chất xưng tụng nhục thể”.

“Bắt chước” có lẽ chỉ là cách nói “khiêm nhường” của người nhạc sĩ tài hoa ấy, bởi khác hoàn toàn với thể loại âm nhạc dục tình cuồng mê, vội vã, mạnh bạo, đầy hoang dại của Lê Uyên – Phương, thứ dục tính mà nhạc sĩ Phạm Duy đưa vào âm nhạc say mê nhưng không cuồng vội, vồ vập. Đôi tình nhân của Cỏ Hồng chầm chậm tận hưởng, chầm chậm quyện vào nhau trên những nốt nhạc ve vuốt, gợi cảm, tinh tế và diễm lệ.


Click để nghe Thái Thanh hát Cỏ Hồng trước 1975

Rước em lên đồi, cỏ hoang ngập lối
Rước em lên đồi, hẹn với bình minh
Đôi chân xinh xinh như tình thôi khép nép
Hãy vứt chiếc dép, bước đi ôm cỏ mềm…

Đồi êm êm, cỏ im im, ngủ yên yên, mộng rất hiền
Giọt sương đêm còn trinh nguyên
Nằm mê man chờ nắng sớm lên, rước em lên đồi tiên

Đồi nghiêng nghiêng, cỏ lóng lánh,
Rồi rung rinh, bừng thoát giấc lành
Trời mông mênh, đồi thênh thênh
Cỏ chênh vênh chờ đôi nhân tình…

NGHÌN TRÙNG XA CÁCH

Cuộc tình kéo dài hơn 10 năm rồi cũng đến ngày kết thúc, đó là năm 1968, Alice lên xe hoa theo chồng, nhạc sĩ tiễn nàng bằng ca khúc Nghìn Trùng Xa Cách. Ông viết trong hồi ký:

Trên con đường đời Việt Nam nói chung có biết bao nhiêu là khó khăn và trên con đường riêng của tôi có biết bao nhiêu là hệ lụy, sau mười năm gần gụi nhau, đã đến lúc mà tôi và Nàng Thơ của tôi phải chia tay nhau. Trước đây, nếu tôi soạn những tình khúc có thật, dành riêng cho một người tình, tạm gọi là những bài tình ca đôi lứa thì bây giờ, tôi soạn Tình Ca Một Mình. Bây giờ thì thực sự là chia phôi rồi! Có hứa hẹn đừng xa nhau thì cũng phải tới lúc có người qua cầu, và tôi nghĩ rằng cũng chẳng còn gì nữa đâu để mà gọi mãi nhau… Thế nhưng còn nhiều lắm, còn quá nhiều dư âm của cuộc tình, cho nên tôi sẽ khản tiếng kêu lên gọi hồn người bằng những tình khúc đầy ắp kỷ niệm xưa.

[…]

Tôi không còn bụng dạ nào để nghĩ tới chuyện tâm tình. Tôi không còn thảnh thơi để cuối tuần lái xe đi đón người tình rồi chúng tôi ngồi trong xe hơi hay trên một bãi cỏ hoang ở vùng ngoại ô, nói với nhau những chuyện cao xa, thơ mộng. Người bạn gái cũng cảm thấy phải xa tôi để bước lên xe hoa. Qua một lá thư viết bằng bút chì, nàng giã từ tôi, không buồn rầu nuối tiếc, không ân hận xót xa. Xong rồi, mối tình của tôi phải chấm dứt ở đây rồi. Tôi soạn bài Nghìn Trùng Xa Cách, coi như lời tiễn biệt người yêu…

Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi
Còn gì nữa đâu mà khóc với cười
Mời người lên xe về miền quá khứ
Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu 

CHỈ CHỪNG ĐÓ THÔI

Nhiều năm sau khi chia tay, nhạc sĩ Phạm Duy vẫn hồi tưởng lại chuyện tình năm cũ. Trong tâm trạng đó, ông sáng tác ca khúc Chỉ Chừng Đó Thôi năm 1975:

Chỉ chừng một năm trôi
Là quên lời trăn trối
Ai nuối thương tình đôi
Chỉ chừng một năm thôi…


Click để nghe Duy Quang hát Chỉ Chừng Đó Thôi trước 1975

Khi về già, nhạc sĩ từng tâm sự:

“Tôi yêu người phụ nữ ấy lắm. Trong gia tài các nhạc phẩm của tôi, tôi dành tặng bà ấy 40 bài hát là Phạm Duy lúc còn trẻ. Với tôi, có 3 bài hát đánh dấu thời điểm tôi yêu, tôi xa và tôi quên bà ấy là Ngày Đó Chúng Mình, Nghìn Trùng Xa Cách và Chỉ Chừng Đó Thôi”.

NHA TRANG NGÀY VỀ

Năm 1970, sau khi người tình đi lấy chồng, nhạc sĩ đã nhớ về những tháng ngày hò hẹn đón đưa vac viết chùm ca khúc “Tình ca một mình” với lời diễn giải: “Tình ca một mình là những bài hát của kỷ niệm. Kỷ niệm trên bãi cát bên bờ trùng dương như bài Nha Trang Ngày Về hay kỷ niệm trên đồi hồng Dalat trong bài Cỏ Hồng”.

Nếu Cỏ Hồng là một khúc ca để hồi tưởng, để dành tặng cho tuổi thanh xuân mê đắm. Một khúc ca mà từ đầu đến cuối toàn là những lời yêu thương, quyến luyến, những ca từ đắm đuối của tình nhân bên nhau, trên đồi cỏ hồng lúc bình minh. Thì trái lại, Nha Trang Ngày Về lại là khúc hát đầy những oán than, bi thương, tuyệt vọng giữa đêm khuya mịt mùng nơi biển vắng, khóc thương cho cuộc tình đã mất.

Cũng giống như Cỏ Hồng, ca khúc Nha Trang Ngày Về mang sắc màu của thứ âm nhạc dục tính mà theo nhạc sĩ Phạm Duy: “Đó là dấu vết của thời đại hơn là dấu vết cuộc tình”. Như ông có lần tâm sự rằng đó là thứ âm nhạc dục tính bị ảnh hưởng bởi âm nhạc Lê Uyên Phương vốn rất được yêu thích trong giai đoạn này. Trong khuôn khổ bài viết này, xin phép được chạm vào những “kỷ niệm trên bãi cát bên bờ trùng dương” nơi phố biển hơn 50 năm trước.

Nha Trang ngày về, mình tôi trên bãi khuya
Tôi đi vào thương nhớ,
Tôi đi tìm cơn gió
Tôi xây lại mộng mơ năm nào
Bờ biển sâu, hai đứa tôi gần nhau


Click để nghe Khánh Ly hát Nha Trang Ngày Về

Câu chuyện tình của Phạm Duy và Alice được ông kể lại trong hồi ký khá chi tiết. Mối duyên đó được khởi đầu từ tận năm 1944, khi nhạc sĩ vẫn còn là 1 chàng ca sĩ trẻ du ca hát rong khắp các miền, ông đã gặp một phụ nữ người Việt lai Anh tên Helene tại Phan Thiết. Lúc này Helene có 2 người con và đã ly dị chồng.

Giữa chàng ca sĩ và người cô phụ trẻ tuổi có một cuộc tình rất nhẹ nhàng, theo Phạm Duy thì đó là một mối tình trong sáng. Hai người đều biết có sự yêu mến lẫn nhau nhưng không ai dám lên tiếng yêu đương. Có thể vào lúc đó, Phạm Duy mang mặc cảm tự ti của anh hát rong trong gánh hát, và nàng chưa ra thoát lối sống goá phụ thầm lặng. Họ chỉ được coi là đang ở mấp mé một cuộc tình. Suốt một tháng trời, hai người dạo chơi trên phố xá đông đảo hay trên bãi cát vắng vẻ, nói với nhau những chuyện trên trời dưới bể, nhưng không bao giờ dám nắm tay nhau hay nói những lời ân ái.

Khi Phạm Duy rời Phan Thiết, giã từ Helene để theo gánh hát vào Nam, bà đã tiễn Phạm Duy trên sân ga xe lửa. Trên bước đường giang hồ, Phạm Duy trao đổi nhiều bức thư (và cả những bài thơ) với Helene. Chuyện tình của họ dừng lại ở những chuyện gặp gỡ, gần nhau, hát và đọc cho nhau nghe những lời ca, lời thơ rồi chia tay nhau, gửi cho nhau những lá thư màu xanh màu tím… Thời gian trôi qua, Phạm Duy sau đó gần như đã hoàn toàn quên lãng người góa bụa trẻ tuổi.

Đến năm 1956, Phạm Duy tình cờ gặp lại Helene khi đang lang thang trước chợ Bến Thành. Lúc này Helene đã có chồng mới và có thêm 3 đứa con nữa, 2 người con riêng đã lớn. Helene mở lời:

– Nếu “ông” rảnh rỗi, xin mời lại chơi. Nhà ở ngay đầu đường Trần Hưng Đạo kia kìa…

Phạm Duy theo Helene về nhà, hai người con riêng là Alice và Roger chạy ra nắm tay ông để chào. Phạm Duy ngỡ ngàng khi thấy Alice vì cô giống mẹ như đúc. Cũng như các nữ sinh khác, Lệ Lan (tên tiếng Việt của Alice) đã biết tới những bài hát của ông như Tình Kỹ Nữ, Bên Cầu Biên Giới, Tình Ca, Tình Hoài Hương… Có lẽ trong tiềm thức của cô thiếu nữ 16 tuổi này đã có dư hương vòng tay bế bồng của Phạm Duy lúc cô mới lên bốn, nên cô quấn quít người nhạc sĩ như người quen biết từ lâu.

Lúc này người nhạc sĩ tên tuổi – vừa bị vướng vào 1 scandal ái tình đáng xấu hổ với em dâu được cả nước biết tới – đã tìm sự an ủi bên mẹ con Helene. Trong lúc Phạm Duy đang có cảm giác bị cả xã hội khinh khi, ghét bỏ, thì hai mẹ Helene và Alice đều nói rằng ông không có lỗi trong cuộc tình ái tay ba đầy tai tiếng. Mặc dù Phạm Duy biết họ nói vậy chỉ là để an ủi và muốn kéo ông ra khỏi sự nhục nhằn, nhưng ông vẫn thấy nguôi ngoai trong lòng. Để ghi lại cuộc gặp gỡ này, Phạm Duy đã phổ nhạc một câu ca dao thành một tình khúc nhan đề Nụ Tầm Xuân, khi in ra có đề tặng Hệ Liên (tên tiếng Việt của Helene):

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em lấy chồng rồi anh tiếc lắm thay!

Một điều nói thêm là vào thời điểm đó, Phạm Duy đã có 4 người con cùng với ca sĩ Thái Hằng và có cuộc sống hạnh phúc. Thái Hằng là người vợ bao dung, và đặc biệt là rất quảng đại – theo chính lời Phạm Duy ca tụng – Thái Hằng luôn tha thứ cho những mối tình ngoài luồng của chồng mình.

Trong suốt một năm, hằng tuần, Phạm Duy lái xe hơi tới đón Alice đi chơi. Cô không thích người cha dượng, nên ít khi tâm sự với mẹ. Thay vào đó Phạm Duy là người được nghe Alice trút bầu tâm sự của một thiếu nữ vào tuổi dậy thì. Alice là người rất giống mẹ, cả về khuôn mặt, giọng nói lẫn suy nghĩ, nên Phạm Duy có cảm tưởng được quay ngược thời gian sau 12 năm. Khi hẹn hò với Alice, Phạm Duy bắt gặp lại cùng gương mặt, giọng nói, cùng câu chuyện mà Phạm Duy đã trò chuyện với Helene 12 năm trước đó.

Một chiều mùa Thu 1957, Phạm Duy tỏ tình với Alice và được nàng ban cho một cái ừ lặng lẽ.

Bản quyền bài viết này của nhacxua.vn
Published under copyright license

Hoàn cảnh sáng tác những ca khúc bất hủ của nhạc sĩ Phạm Duy

Trong số hàng trăm nhạc sĩ nổi tiếng của tân nhạc Việt Nam kể từ thập niên 1940, không ai có thể sánh bằng nhạc sĩ Phạm Duy nếu xét về số lượng bài hát nổi tiếng và sự đa dạng về đề tài sáng tác. Sau đây xin giới thiệu hoàn cảnh sáng tác của một vài ca khúc nổi tiếng của ông, những bài hát đã trở thành bất hủ và sống mãi cùng thời gian.

CÂY ĐÀN BỎ QUÊN

Ca khúc Cây Đàn Bỏ Quên được sáng tác vào khoảng giữa thập niên 1940, là một trong những ca khúc được sáng tác vào thời gian đầu của sự nghiệp đồ sộ của nhạc sĩ Phạm Duy. Lúc sinh thời ông từng chia sẻ về ca khúc này:

“Tôi làm bài hát Cây Đàn Bỏ Quên từ lúc mười tám đôi mươi tuổi. Lúc đó tôi tham lắm, đã được người yêu tặng một bông hoa, để bông hoa ấy trên cây đàn. Nhưng rồi tôi tự hỏi cô ấy yêu cây đàn hay yêu tôi? Bây giờ tôi già rồi nên chắc tôi không cần phải tự hỏi nữa. Cô đó cách đây cũng 70 năm rồi, chắc đã yêu cây đàn và yêu cả người già này nữa”.

Hôm xưa tôi đến nhà em
Ra về mới nhớ rằng quên cây đàn
Đêm khuya thao thức mơ màng
Chờ mai tìm đến cô nàng ngây thơ…


Click để nghe Elvis Phương hát Cây Đàn Bỏ Quên trước 1975

PHỐ BUỒN

Giữa thập niên 1950, khi cuộc sống của Sài Gòn hoa lệ vẫn chưa đi vào ổn định, ngay bên cạnh ánh sáng kinh kỳ phồn hoa là những khu nhà lá tồi tàn với đường lầy muôn lối quanh, là nơi sinh sống của những người lao động nghèo tha hương. Đã có ít nhất 3 nhạc sĩ cảm thông với cuộc sống khó khăn đó của một giai tầng xã hội và sáng tác ra những ca khúc mô tả hình ảnh xóm nghèo Sài Gòn của 65 năm trước, đó là nhạc sĩ Lam Phương với Kiếp Nghèo, nhạc sĩ Phạm Đình Chương với Xóm Đêm, và nhạc sĩ Phạm Duy với Bên Ni Bên Nớ, Phố Buồn.


Click để nghe Lưu Hồng hát Phố Buồn

Nhạc sĩ Phạm Duy cho biết ông sáng tác Phố Buồn năm 1954, nhắc đến người lao động ở những khu nhà vách lá ở ven đô. Không gian của bài hát được mô tả là một xóm nghèo trên con đường nhỏ không tên, có bùn lầy bôi quết, 2 bên là những mái tranh im lìm và tối tăm không đèn. Tất cả những hình ảnh đó hiện ra ngả nghiêng theo bước chân về nhà của một cô gái được tác giả gọi là “em” sau một ngày làm việc vất vả, trong một đêm mưa rả rích:

Ðường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em
Bùn lầy không quên bôi thêm lối ngõ không tên
Qua mấy gian không đèn
Những mái tranh im lìm
Ðường về nhà em tối đen.

Những gian nhà xập xệ đó là nơi cư ngụ của những công dân hèn mọn, tội nghiệp, chỉ cần nhìn qua song cửa là đã có thể thấy toàn bộ hoàn cảnh của họ:

Nhìn vào khe song trông anh ốm yếu ho hen
Một ngày công lao không cho biết đến hương đêm

Những người lao động nghèo trong xóm mạt hạng này có lẽ là sẽ vĩnh viễn không được hưởng thụ cuộc sống thanh nhàn như là những công dân hạng ưu khác. Quanh năm suốt tháng, sau một ngày mưu sinh vất vả thì đêm về họ chỉ có thể về lại căn nhà 4 vách phênh tồi tàn để chờ hết ngày, thì làm sao biết thế nào là “hương đêm”, làm sao biết những thú vui giải trí ở chốn phồn hoa dù chỉ cách họ một dãy phố nhưng không bao giờ chạm tay tới được.

Em bước chân qua thềm
Mưa vẫn rơi êm đềm
Và chỉ làm phố buồn thêm.

Hạt mưa, mưa rơi tí tách
Mưa tuôn dưới vách
Mưa xuyên qua mành

Hạt mưa, mưa qua mái rách
Mưa như muốn trách
Sao ta chạy quanh

Hạt mưa, mưa yêu áo rách
Yêu đôi sát nách
Mưa ngưng không đành

Hạt mưa, mưa gieo tí tách
Mưa lên tiếng hát
Ru cơn mộng lành.

Những người cả đời được ở trong những căn nhà xây vững chãi tường cao, hay là các căn villa hào nhoáng, sẽ không bao giờ biết được thế nào “mưa tuôn dưới vách”, “mưa xuyên qua mành” hay là “mưa qua mái rách” của những căn nhà mái tranh vách nứa, mỗi mùa mưa đến phải huy động tất cả xô chậu trong nhà để hứng nước dột.

Hạt mưa đã “làm bạn” với người nghèo như vậy qua mọi thời, mưa biết yêu áo rách của người nghèo, yêu đôi sát nách của tầng lớp bình dân, và hạt mưa cũng được nhân cách hóa để biết trách nhân thế sao cứ hoài chạy quanh một vòng lẩn quẩn. Vì cảm thông cho những kiếp nghèo nên mưa cũng lên tiếng hát để ru cho xóm nghèo được những đêm yên giấc mộng lành.

Nhạc sĩ Phạm Duy cho biết: “Với bài này, tôi nghịch ngợm với chữ nghĩa và vần điệu, như mưa rơi tí tách, mưa tuôn dưới vách, mưa qua mái rách, mưa như muốn trách, mưa yêu áo rách… và mơ màng hộ những đôi tình nhân nghèo, phải sống trong những ngôi nhà gỗ mái tôn trong hẻm tối phố buồn rồi nhìn ngôi nhà gạch mà họ mơ tưởng như chiếc bánh ngọt ngon”.

Ðường về trong mơ đêm đêm phố lớn thênh thang
Ánh sáng kinh kỳ tràn lan
Ðời nghèo không riêng thương yêu bóng dáng Xuân sang
Yêu phố vui, nhà gạch ngon…

Sài Gòn phồn hoa có muôn vàn ánh đèn đô thị tràn lan, nhưng dù có là bao nhiêu đèn hoa thì cũng không thể nào soi sáng cho tới phố buồn nơi này:

Ðèn đêm không soi bóng vắng
Kinh đô thắc mắc
Im nghe phố buồn

Người đi trong đêm tối ám
Nghe mưa thức giấc
Khuyên nhau chờ mong.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã nhìn thấu được những đời nghèo lững lờ trôi đi như một chiếc bóng trong đêm tối ám, và thấy cả những cuộc tình nghèo không thể nào thấy được tương lai, chỉ biết khuyên nhau chờ mong mà thôi…


Click để nghe Thanh Thúy hát Phổ Buồn trước 1975

Bài hát Phố Buồn nổi tiếng qua giọng hát Thanh Thúy từ khi cô hãy còn là một thiếu nữ đôi tám. Nhạc sĩ Phạm Duy đã nhận xét như sau:

“…Nhờ giọng hát ma quái của Thanh Thúy, nhờ nhà xuất bản ở chợ trời âm nhạc tái bản tới 8 lần, bài ca xã hội này phổ biến ra dân chúng rất nhanh, rất rộng mà không cần phải nhờ tới đài phát
thanh…”

HẸN HÒ

Ca khúc “Hẹn Hò” của nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác đầu thập niên 1950, khi tác giả mới vừa đến tuổi tam thập nhi lập sau thời gian của bước đường kiêu bạt ca nhân lãng tử giang hồ.

Trong Hồi ký, ông viết ngắn gọn về ca khúc này: “Bài Hẹn Hò được xây dựng trên giai điệu ngũ cung, kể lể một câu chuyện tình thảm thiết, giống như chuyện Ngưu Lang Chức Nữ”.


Click để nghe Thái Thanh hát Hẹn Hò

Một người ngồi bên kia sông im nghe nước chảy về đâu
Một người ngồi đây trông hoa trôi theo nước chảy phương nào
Trời thì mưa rơi mưa rơi không ngưng suối tuôn niềm đau
Người thì hẹn nhau sang sông mong cho chóng tạnh mùa Ngâu…

NHỚ NGƯỜI RA ĐI – NGƯỜI VỀ – NGÀY TRỞ VỀ

Tháng 7 năm 1954, sau khi đã định cư ở Sài Gòn được khoảng 2 năm, nhạc sĩ Phạm Duy giã từ gia đình, vợ con để lên đường sang Pháp du học, mong muốn tiếp cận tinh hoa nhạc học của thế giới.

Nhạc sĩ xa quê hương trong thời điểm rất đặc biệt, vì cũng trong tháng 7 của năm đó, hiệp định Geneve được ký kết, với mục đích ban đầu là khôi phục hòa bình tại Đông Dương. Vì ý nghĩa tốt đẹp đó, ai cũng nghĩ rằng sau đó thì người lính được trở về nhà bên gia đình, sẽ được vĩnh viễn xa rời những vùng trận địa hãi hùng.

Từ trời Tây, nhạc sĩ Phạm Duy đã sáng tác ca khúc Ngày Trở Về để ghi dấu “ngày trọng đại” đó:

Ngày trở về, anh bước lê
Trên quãng đường đê đến bên lũy tre
Nắng vàng hoe,
vườn rau trước hè cười đón người về…


Click để nghe Thái Thanh hát Ngày Trở Về trước 1975

Sau đó không lâu, ông còn sáng tác một bài hát khác nữa có cùng chủ đề, đó là bài Người Về.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã viết trong hồi ký như sau:

“Tôi học được nhiều điều trong những ngày làm quen với không khí kinh đô văn hoá là Paris này. Tuy nhiên, tò mò đi vào thế giới văn học và nghệ thuật của Pháp quốc, tôi vẫn chưa quên được Việt Nam. Vẫn còn bị ám ảnh bởi hình ảnh quê hương, tôi soạn bài Người Về trong một đêm đi một mình giữa Paris vắng lạnh. Bài này nói tới người mẹ, người vợ và đàn con trong bài Nhớ Người Ra Đi của thời kháng chiến, nay rất vui mừng khi thấy người đi đã trở về”.

Me có hay chăng con về
Chiều nay thời gian đứng im để nghe
Nghe gió trong tim tràn trề
Nụ cười nhăn nheo bỗng rưng lệ nhoè…


Click để nghe Thái Thanh hát Người Về trước 1975

Theo lời nhạc sĩ Phạm Duy cho biết, ca khúc Người Về là phần nối tiếp theo của ca khúc Nhớ Người Ra Đi được ông sáng tác năm 1947. Sau ca khúc viết cho người lính ra đi diệt thù, 7 năm sau đó ông đã cho người lính đó được trở về với mẹ già, trong vòng tay người vợ hiền và đàn con thơ. Cả 2 bài hát đều có 3 lời riêng biệt, viết cho người mẹ, người vợ, và người con.

Hình bóng mẹ già trong bài Nhớ Người Ra Đi là:

Ai có nghe tiếng hát hành quân xa
Mà không nhớ thương người mẹ già…
Cầu cho đứa con trai
Ở đâu đó con ơi, được vui…

Người vợ:

Ai có nghe tiếng hát hành quân xa
Mà không nhớ thương người vợ hiền…
Rồi em nhớ em mong
Chờ chiến sĩ xa xăm lập công…

Và đàn con:

Ai có nghe tiếng hát hành quân xa
Mà không nhớ thương đàn trẻ nhỏ…
Rằng: Cha chúng con đâu?
Về mua bánh cho con, mẹ ơi…


Click để nghe Thái Thanh hát Nhớ Người Ra Đi trước 1975

Thời điểm bài hát ra mắt vào cuối thập niên 1940, Nhớ Người Ra Đi đã gây được xúc động mạnh đối với những người vợ, người mẹ có người thân ra trận. Những bà mẹ quê tiễn con ra đi, chắc chắn là ai cũng mong con sẽ được lành lặn trở về, hoặc ít nhất là: “Cầu cho đứa con trai. ở đâu đó con ơi, được vui…”

Từng là một người trong cuộc, nhạc sĩ Phạm Duy rất hiểu điều đó, nên ông đã cho người về đoàn tụ bên gia đình bằng bài hát Người Về khi nghe tin hiệp định Geneve được ký kết:

Me có hay chăng con về
Chiều nay thời gian đứng im để nghe
Nghe gió trong tim tràn trề
Nụ cười nhăn nheo bỗng rưng lệ nhoè

Con thấy me yêu đã già
Hẳn là miền quê những năm vừa qua
Chiếc bóng in trên vách nhà
Một ngày một đêm tóc sương phai mờ

TÌNH HOÀI HƯƠNG

Năm 1952, ngay khi vừa mới đưa gia đình rời Hà Nội để vào sinh sống ở Sài Gòn, nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác Tình Hoài Hương để thể hiện niềm nhớ cố hương đã xa ngút ngàn. Trong tập hồi ký được viết vào thập niên 1990, nhạc sĩ chia sẻ về nhạc phẩm này:

“Tôi soạn bài Tình Hoài Hương (1952) nằm trong loạt huyền thoại quê hương mà tôi tạo ra, nhờ có cơ hội đi khắp ba miền đất nước trong thời bình và trong thời ᴄhιến… bài hát này không còn là một bài đối cảnh sinh tình như trước đây nữa. Nó là một bài hát hoài cảm, là sự nhớ nhung của riêng tôi đối với một nửa mảnh đất quê hương mà tôi vừa phải xa lìa. Ngờ đâu nó sẽ là bài hát hoài hương của một triệu người di cư vào Nam hai năm sau đó”.


Click để nghe Thái Thanh hát Tình Hoài Hương trước 1975

Cái hay của Tình Hoài Hương là chất tự sự, hoài nhớ da diết trong từng lời hát. Về cuối đời, khi nhìn lại nhạc phẩm này của mình, chính nhạc sĩ Phạm Duy cũng đặt câu hỏi về “niềm nhớ lớn lao” mà ông có được trong bài hát được ông viết khi ngoài 30 tuổi, đã có gia đình nhưng còn rất phong lưu và chưa hề chồn chân mỏi gối trên con đường phiêu du: “Tại sao vào cuối năm 1952 này tôi có nổi một niềm nhớ quá lớn lao như vậy? Nhớ tất cả những chi tiết nhỏ nhất của dĩ vãng chưa đủ, còn phóng tâm tư đi tới những mối tình muôn đường của hàng ngàn phương trời mình chưa hề đặt chân tới. Cũng có thể vì sức sáng tác bị dồn nén sau gần hai năm bây giờ mới được toàn vẹn tung ra chăng?” (trích hồi ký Phạm Duy)

Và chính nhờ “niềm nhớ lớn lao” đó, “nhớ tất cả những chi tiết nhỏ nhất của dĩ vãng” mà đã có một bức tranh quê hương ngọt ngào, sống động, bình dị mà thân thương phủ tràn trong lời hát Tình Hoài Hương:

Quê hương tôi, có con sông dài xinh xắn
Nước tuôn trên đồng vuông vắn
Lúa thơm cho đủ hai mùa
Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê

Quê hương tôi có con sông đào ngây ngất
Lúc tan chợ chiều xa tắp
Bóng nâu trên đường bước dồn
Lửa bếp nồng, vòm tre non, làn khói ấm hương thôn!

TÌNH CA

Một trong những ca khúc nổi tiếng nhất, được yêu thích nhất trong gia tài đồ sộ hàng ngàn ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy, đó là bài Tình Ca, được sáng tác năm 1953. Ca khúc này chứa đựng mơ ước lớn lao là gắn kết tình cảm của con dân nước Việt về cùng một mối, như lời chia sẻ của chính tác giả ở trong hồi ký:

“Sau khi tung ra Tình Hoài Hương, tôi có ngay bài Tình Ca xưng tụng tiếng nói, cảnh vật và con người Việt Nam. Mùa Xuân năm đó, trong gian phòng bốn thước vuông ở căn nhà gỗ ngõ Phan Thanh Giản, tôi vừa bế con (Phạm Duy Minh mới ra đời) vừa hát: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi/ Mẹ hiền ru những câu xa vời, à à ơi tiếng ru muôn đời…

Bài Tình Ca này không còn thẳng băng ruột ngựa như những bài ca kháng chiến trước đây. Bây giờ nó muốn gắn bó tất cả người dân trong nước bằng một tình cảm thống nhất: tôi yêu tiếng nước tôi, yêu đất nước tôi, yêu người nước tôi.

Thật là may mắn cho tôi là nói lên được phần nào bản sắc quốc gia (identité nationale) qua bản Tình Ca này.


Click để nghe Thái Thanh hát Tình Ca trước 1975

Trong quá khứ, các bậc tiền bối chưa kịp làm công việc đó vì đã có lúc chúng ta có một cuộc nội chiến khá dài. Đó là 200 năm phân tranh giữa hai miền Đàng Ngoài – Đàng Trong. Trong khoảng từ những năm 1600 cho tới 1800, người trong nước khó có được sự đồng nhất quốc gia. Đàng Ngoài, sĩ phu Bắc Hà không có thời gian và phương tiện để tìm hiểu bờ cõi giang sơn mỗi ngày một thêm bành trướng với cuộc Nam Tiến. Đàng Trong, sĩ phu bận bịu với những lo toan kiến thiết ở địa phương. Miền nào kẻ sĩ phải phục vụ vua quan của miền đó.

Tuy là một nước nhưng có hai bộ máy chính trị và văn hoá. Do đó, chưa hề có tác phẩm nào nói lên được một ý thức quốc gia toàn diện. Tới khi nhà Nguyễn thống nhất sơn hà và đất nước mở rộng hơn nữa về phía Nam, trong khoảng 50 năm ngắn ngủi, các nhà nho của triều Nguyễn chưa kịp đưa ra một hình ảnh quốc gia trọn vẹn nhất thể, nhất tề, nhất trí thì người Pháp tới xâm lăng Việt Nam. Trong 80 năm nô lệ sau đó, bản sắc quốc gia trong văn học nghệ thuật Việt Nam chưa kịp hình thành thì bị xé nát bởi chính sách chia để trị của Pháp, cố tình đề cao sự khác biệt giữa ba miền và giữa những người dân trong một nước, khiến ta mất đi ý niệm quốc gia đồng nhất. Khi có những phong trào phục quốc như Cần Vương, Văn Thân… ý thức quốc gia vẫn còn mang ý niệm bảo hoàng, phong kiến.

Định mệnh khiến cho tôi, một cá nhân tầm thường, qua một bản Tình Ca ngắn ngủi, đưa ra khái niệm con người Việt Nam với địa dư, lịch sử và tiếng nói chung của một dân tộc đã từng chia sẻ với nhau trên vài ngàn năm lẻ. Tôi làm được việc này vì tôi có may mắn được đi ngang đi dọc nhiều lần trên bản đồ hình chữ S, gặp gỡ đủ mọi hạng người trong xã hội, nhất là được sống với những nổi trôi của lịch sử từ thời thơ ấu qua thời vào đời tới thời cách mạng kháng chiến.

Bài Tình Ca được mọi người yêu thích ngay. Nó nói tới quê hương đất nước nhưng cũng nói luôn tới tiếng nói và con người nữa. Là bài hát tình ca quê hương nhưng nó còn là bài hát tình tự dân tộc”.

DẠ LAI HƯƠNG

Trong gia tài âm nhạc có số lượng rất đồ sộ của nhạc sĩ Phạm Duy, có một bài hát mang tên là Dạ Lai Hương, dù không quá nổi tiếng so với nhiều ca khúc khác, nhưng luôn được đánh giá cao về nhạc thuật, về tính thẩm mỹ của ca từ.


Click để nghe Thái Thanh hát bài Dạ Lai Hương

Trong một bài viết, ca sĩ Quỳnh Giao nói rằng đây là bài hát mà các đồng nghiệp khó tính của nhạc sĩ Phạm Duy như Vũ Thành, Hoàng Trọng đều ngợi ca và trân trọng viết hoà âm thật đẹp:

Ðêm thơm như một dòng sữa
Lũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước nhà
Hiu hiu hương từ ngàn xa
Bỗng quay về dạ
t dào trên hè ngoài trời khuya…

Bài hát Dạ Lai Hương nói về loài hoa dạ lai hương, còn được gọi là dạ lý hương, có mùi hương rất đặc trưng vào ban đêm có thể làm thơm nức cả một vùng không gian: “đêm thơm như một dòng sữa”. Nhạc sĩ Phạm Duy nói rằng khi viết câu này, ông đã nhớ lại những ngày cùng mẹ sống ở Hưng Yên trước đó hơn 10 năm, ở trước nhà có hàng cây hoa sữa rất lớn, thơm nồng cả dãy phố, và hoa sữa cũng có mùi hương gần giống như dạ lý.

Dạ lý hương

Bài Dạ Lai Hương được nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác năm 1953 tại Huế. Khi này ông đã dẫn vợ con vào định cư ở Sài Gòn được một năm, nhưng rồi lại ra Huế làm việc một thời gian tương đối lâu theo lời mời của người bạn là Nguyễn Đức Quỳnh. Ông kể lại trong hồi ký:

“Tôi có đủ thời giờ để biết Huế hơn xưa, biết yêu những con đường thật nhỏ và yên tĩnh (yêu nhất con đường mang tên Âm Hồn) dẫn dẫn tôi đi vào những căn nhà êm đềm và gặp cuộc sống rất thầm lặng của những người tôi đã vô phép gọi là của xứ dân gầy.

(…)

…Dù là kẻ rất ham mê những thú vui nhục dục, tôi cũng biết đi tìm con người và cảnh vật của Huế để thấy được khía cạnh thanh tao của những ngày ở nơi cố đô này. Lững thững đi chơi một mình nơi chùa Thiên Mụ hay tại những lăng tẩm vô cùng thầm lặng. Làm quen với những người nếu không là Công Tằng Tôn Nữ thì cũng thuộc thành phần cao trong xã hội, có lời ăn tiếng nói nhỏ nhẹ duyên dáng dễ thương, tôi có nhiều cảm hứng để soạn bài Dạ Lai Hương”.

Trong lời đề tựa cho bài hát, nhạc sĩ Phạm Duy ghi: “Tặng Thu Vân, Dạ Thảo”.

Thu Vân và Dạ Thảo cũng chính là “lũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước nhà” trong đoạn đầu bài hát. Đó là tên của 2 nữ sinh Đồng Khánh, là cháu gọi Đức Từ Cung (mẹ của cựu hoàng Bảo Đại) là cô ruột.

Thu Vân và Dạ Thảo bên cạnh đức Từ Cung, ảnh năm 1971

Khi làm việc tại Huế, nhạc sĩ Phạm Duy được một người quen là nghệ sĩ Vũ Đức Duy dẫn đến nhà của 2 chị em Thu Vân – Dạ Thảo để chơi, họ rất vui mừng và hân hạnh được đón tiếp tác giả của bài hát mang tên Tình Ca chỉ vừa ra mắt trước đó một năm đã được phát thường trực trên đài phát thanh, nổi tiếng khắp cả nước.

Sau bữa tối, mọi người cùng nhau ngồi trước sân nhà, trong một không gian huyền ảo nhiệm mầu giữa lòng cố đô đầy linh khí, giọng hát ấm áp và tài hoa của chàng nhạc sĩ ngoài 30 tuổi – từng là ca sĩ tân nhạc nổi danh là Phạm Duy – đã hoàn toàn chinh phục được trái tim của những cô gái Huế con của chủ nhà.

Hai nàng thiếu nữ công khai bày tỏ lòng ngưỡng mộ, không thể giấu được tiếng lòng thổn thức với chàng, nhưng lúc đó thì Phạm Duy đã có Thái Hằng, vừa mới sinh con đầu lòng Duy Quang được hơn một năm, nên chỉ có thể đáp lại sự ngưỡng mộ đó của những cô nàng xứ Huế bằng âm nhạc mà thôi. Bài hát Dạ Lai Hương tràn ngập niềm yêu đời, yêu người, “tình lên phơi phới”, nhưng nhạc sĩ Phạm Duy xác nhận rằng cái “tình” đó chỉ đơn thuần là tình người, tình nhân loại trong cõi thái hòa, của những người cùng nhau đắm chìm trong không gian tràn đầy nhạc điệu mê đắm, cùng biết rung cảm trước sự huyền ảo tuyệt diệu của bầu không gian xứ Huế có làn gió nhẹ mang mùi thơm dạ lý hương nồng nàn như mùi sữa.

Để diễn tả những tình cảm trong sáng, thánh thiện, thuần khiết và lánh xa bụi trần nhân thế đó, thanh âm của bài hát cũng được dàn trải rất nhẹ nhàng, qua mỗi câu càng được lên cao như là tình cảm đang dâng tràn tuôn theo mùi hương trong màn đêm, êm mướt như nhung:

Đường đêm sao yên vui,
Người đi quen lối,
Tình trai nở bốn phương trời

Đàn em trong cơ ngơi,
Nhờ đêm đưa tới những ai làm ngát hoa đời.
Nhẹ bàn chân, hương đêm ơi
Nhẹ bàn tay hương yêu ơi…

TUỔI BIẾT BUỒN

Tháng 10 năm 1973, ca sĩ Thanh Lan có chuyến lưu diễn đáng nhớ đến Nhật Bản cùng với nhạc sĩ Ngọc Chánh và nhạc sĩ Phạm Duy. Trong khán phòng rộng lớn của Budokan Hall tại thủ đô Tokyu, một sân khấu tròn rất lớn được đặt ở chính giữa với khoảng 100 nhạc công liên tục trình diễn. Đó là sân khấu của Đại hội âm nhạc quốc tế Yamaha. Ca sĩ Thanh Lan đứng chính giữa sân khấu thể hiện ca khúc “Tuổi Biết Buồn” của hai vị nhạc sĩ, giữa vòng vây của khoảng 10 ngàn khán giả Nhật Bản và quốc tế để theo dõi buổi trình diễn của các nghệ sĩ đến từ nhiều nước Âu, Á khác nhau. Tiếng hát Thanh Lan cùng với ca khúc này đã vào đến vòng chung kết của đại hội.

Theo lời kể của nhạc sĩ Ngọc Chánh, đại hội âm nhạc quốc tế Yamaha là cuộc thi âm nhạc thế giới thường niên do hãng Yamaha tổ chức. Năm 1973, ban tổ chức mời đoàn Việt Nam và nhạc sĩ Phạm Duy tham dự. Nhận được lời mời, nhạc sĩ Phạm Duy tìm gặp Ngọc Chánh, ngỏ ý muốn viết chung một ca khúc để gửi dự thi. Trước đó, hai ông từng viết chung hai ca khúc là Bao Giờ Biết Tương Tư (1970) và Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang (1971), đều rất thành công.

Ca khúc Tuổi Biết Buồn ra đời với phần nhạc do Ngọc Chánh viết và phần lời do nhạc sĩ Phạm Duy đặt. Sau khi hoàn thành ca khúc, Ngọc Chánh chọn ca sĩ Thanh Lan để trình diễn vì “cô có dáng dấp của một sinh viên, lại đang là một sinh viên Văn Khoa của ban sinh ngữ”, rất phù hợp với nội dung bài hát.

Thanh Lan và nhạc sĩ Phạm Duy

Đối với cả hai nhạc sĩ gạo cội Phạm Duy và Ngọc Chánh, “Tuổi Biết Buồn” không phải là nhạc phẩm đỉnh cao, quan trọng nhất trong sự nghiệp của cả hai ông. Nhưng đối với ca sĩ Thanh Lan, việc thể hiện thành công ca khúc lại là một dấu mốc quan trọng, mở ra những mối cơ duyên với nước Nhật và cho sự nghiệp của cô sau này. Sau đêm diễn, Thanh Lan được hãng đĩa Victor mời ở lại Tokyu thêm 1 tuần để hợp tác thâu âm hai ca khúc tiếng Nhật là Aino hino Kesanaide và Yume Miru (lời Nhật ca khúc Tuổi Mộng Mơ của nhạc sĩ Phạm Duy).

Gần 50 năm đã trôi qua, kể từ khi ra đời, nhắc đến “Tuổi Biết Buồn”, người ta vẫn luôn nhớ tới giọng hát trong trẻo và cũng chan chứa nỗi niềm của Thanh Lan…


Click để nghe Thanh Lan hát Tuổi Biết Buồn trước 1975

Bên trên là hoàn cảnh sáng tác một số ít trong số hàng trăm bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Duy. Ông còn nhiều bài hát bất hủ khác với nhiều chủ đề khác nhau, hoàn cảnh sáng tác những ca khúc này sẽ được nhắc đến trong một bài viết khác.

Bản quyền bài viết này của nhacxua.vn
Published under copyright license

Cuộc đời và sự nghiệp nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2013) – Tên tuổi lớn nhất của tân nhạc Việt Nam

Nền tân nhạc Việt Nam từ thập niên 1940, dù xem xét ở bất kỳ khía cạnh nào, chúng ta đều thấy sự hiện diện của nhạc sĩ Phạm Duy, ông là tên tuổi lớn nhất, sáng tác nhiều chủ đề nhất, nhiều lĩnh vực nhất, có nhiều ca khúc nổi tiếng nhất đã trở thành kinh điển, và có thể cũng là nhạc sĩ sáng tác nhiều nhất với hàng ngàn tác phẩm.

Có thể nói, nếu như thế hệ nhạc sĩ thập niên 1930 có công khai phá ra thể loại tân nhạc, thì nhạc sĩ Phạm Duy là người có công lớn nhất trong việc xây dựng và định hình cho tân nhạc Việt Nam thời kỳ thập niên 1940 trở về sau, đặc biệt là trong thể loại tình ca, viết về tình yêu con người, tình yêu quê hương và đất nước.

Nhạc của ông thường sử dụng những yếu tố nền tảng của âm nhạc cổ truyền Việt Nam kết hợp với những kỹ thuật, cấu trúc của nhạc hàn lâm Tây phương, tạo nên một phong cách riêng với nhiều tác phẩm lớn có tính đột phá, giàu ảnh hưởng đối với các nhạc sĩ thuộc nhiều thế hệ. Ông cũng là người khởi xướng, định hướng nhiều trào lưu, phong cách mới mẻ cho nền tân nhạc Việt.

Nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác kể từ thời kỳ tiền ᴄhιến thập niên 1940, với những ca khúc đầu tiên của sự nghiệp là Cô Hái Mơ, Cây Đàn Bỏ Quên, Khối Tình Trương Chi…

Đó là thời kỳ mà ông có cơ hội đặc biệt để đi dọc theo chiều dài đất nước khi tham gia vào gánh hát Đức Huy, đi hát rong khắp mọi miền, có cơ hội tiếp xúc với nhiều người, nhiều lối sống văn hóa, là dịp hiếm có để nhạc sĩ Phạm Duy học hỏi, thu thập được rất nhiều chất liệu âm nhạc làm giàu tri thức và làm vốn liếng để sau này có thể trở thành nhạc sĩ thành công nhất của Việt Nam.

Cuối thập niên 1940, thời điểm tham gia khán ᴄhιến, ông đã viết nhiều bài cổ vũ tinh thần yêu nước và hăng say lao động, tiêu biểu là Nương Chiều, Nhớ Người Ra Đi, Nhớ Người Thương Binh, Gánh Lúa, Quê Nghèo, Bà Mẹ Gio Linh…


Click để nghe những ca khúc nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác trong thập niên 1940-1950 do chính ông tuyển chọn

Sau khi rời bỏ kháng ᴄhιến để về thành vì bất đồng quan điểm về sáng tác nghệ thuật, từ đầu thập niên 1950 nhạc sĩ Phạm Duy bắt đầu sáng tác mạnh mẽ, đặc biệt là khi vào đến Sài Gòn năm 1952, tiêu biểu nhất của thời kỳ này là Tình Ca, Tình Hoài Hương, Bà Mẹ Quê, Em Bé Quê, Vợ Chồng Quê, Thuyền Viễn Xứ, Ngày Trở Về, Người Về… Có thể thấy thời kỳ này chủ đề tình yêu chưa xuất hiện nhiều trong nhạc Phạm Duy, và vẫn chủ yếu là những ca ngợi con người, ca ngợi quê hương.

Đây cũng là thời gian mà nhạc sĩ Phạm Duy sang Pháp du học, nghiên cứu sâu hơn về âm nhạc thé giới, ông sang Paris trong hơn 3 năm (1952-1955). Sau khi trở về nước, dòng nhạc của Phạm Duy có phần khác biệt hơn, ngoài việc tiếp tục sáng tác những bài nhạc mượn chất liệu dân gian, ông sáng tác thêm dòng nhạc về tình yêu đôi lứa, về thân phận con người, với nhạc điệu hiện đại hơn, mang nhiều cung bậc cảm xúc hơn: Nước Mắt Rơi, Đường Chiều Lá Rụng, Một Bàn Tay…


Click để nghe những bài hát nhạc sĩ Phạm Duy viết trong thập niên 1950-1960

Thời kỳ này, dù đã có vợ con, gia đình đầm ấm, nhưng với một người đào hoa như nhạc sĩ Phạm Duy, ông đã có nhiều cuộc phiêu lưu ái tình mà chính ông đã kể lại trong hồi ký cuộc đời mình. Cuộc phiêu lưu ái tình dài nhất trong số đó (kéo dài tròn 10 năm) đã trở nguồn cảm hứng cho nhiều bài hát được ra đời, và đều là những bài tình ca quyến luyến yêu thương: Thương Tình Ca, Tìm Nhau, Cho Nhau, Con Đường Tình Ta Đi, Đừng Xa Nhau, Cỏ Hồng… Khi cuộc tình đó chấm dứt, thì lại có một loạt bài tình ca nữa ra đời, lần này là tình ca buồn chia xa: Nghìn Trùng Xa Cách, Chỉ Chừng Đó Thôi, Nha Trang Ngày Về…

Quãng thời gian thập niên 1960 và nửa đầu thập niên 1970 là thời kỳ sáng tác sung mãn nhất của nhạc sĩ Phạm Duy mà trong lịch sử âm nhạc Việt Nam khó có ai sánh bằng. Nếu nói ông là số 1, thì người ở số 2 phải ở một khoảng cách khá xa, bởi vì không chỉ sáng tác nhiều, có rất nhiều bài hát được yêu thích và trở thành bất hủ, mà Phạm Duy còn sáng tác rất đa dạng thể loại, hầu như không có chủ đề nhạc nào mà không có dấu chân mang tính khai phá của ông.


Danh ca Thái Thanh đã gần như dành cả cuộc đời và sự nghiệp của mình để gắn bó với nhạc Phạm Duy, click để nghe Thái Thanh hát nhạc Phạm Duy thu âm trước 1975

Ngoài nhạc quê hương, tình tự dân tộc và nhạc tình ca đã nhắc đến, nhạc sĩ Phạm Duy còn sáng tác nhạc thiếu nhi, nhạc trẻ, nhạc trường ca, đạo ca, thiền ca, tâm ca…

Về thể loại nhạc vàng đại chúng, ông cũng góp mặt với các bài nổi tiếng là Ngày Em Hai Mươi Tuổi, Anh Hỡi Anh Cứ Về…

Nhạc sĩ Phạm Duy cũng là một trong những nhạc sĩ phổ thơ nhiều nhất, nổi tiếng nhất, điển hình là phổ thơ Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Minh Đức Hoài Trinh. Nhờ nhạc Phạm Duy mà công chúng yêu nhạc biết đến những nhà thơ Phạm Văn Bình, Vũ Hữu Định…

Ngoài ra, Phạm Duy cũng là một trong những người đầu tiên viết lời Việt cho nhạc ngoại, từ thời kỳ thập niên 1940 ông đã viết lời cho nhạc cổ điển, đến thập niên 1960-1970 thì viết lời cho nhiều bài nhạc Mỹ đương đại.

Thời kỳ sau năm 1975, nhạc sĩ Phạm Duy vẫn tiếp tục sáng tác tại hải ngoại. Tuy nhiên đó là thời gian lưu vong, ông phải bận nhiều công việc để mưu sinh nuôi gia đình trong thời gian đầu (chủ yếu là ca hát lưu diễn), không còn thảnh thơi như trước nên số lượng tác phẩm thời gian sau này không còn nhiều.

Ngoài sáng tác và biểu diễn, nhạc sĩ Phạm Duy còn có những công trình khảo cứu về âm nhạc Việt Nam có giá trị. Ông từng giữ chức giáo sư nhạc ngữ tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Ông còn được coi như một nhà văn với 4 tập hồi ký về cuộc đời viết vào đầu thập niên 1990 được giới phê bình đánh giá cao về giá trị văn học lẫn giá trị tư liệu. Với hơn 70 năm sự nghiệp, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước, ông được coi là “cây đại thụ” của nền âm nhạc Việt Nam. Tuy vậy bên cạnh đó, các quan điểm nhìn nhận về ông cũng khác biệt, chủ yếu là do các vấn đề chính trị.

Sau đây là những cột mốc đáng nhớ trong cuộc đời nhạc sĩ Phạm Duy:

Nhạc sĩ Phạm Duy tên thật là Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921 tại số 40 Rue Takou (nay là Phố Hàng Cót), Hà Nội, trong gia đình văn nghiệp. Cha ông là Phạm Duy Tốn thường được coi như là nhà văn xã hội đầu tiên của nền Văn học Mới đầu thế kỷ XX. Anh của ông là Phạm Duy Khiêm, giáo sư – thạc sĩ, cựu Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Pháp, văn sĩ Pháp văn, tác giả những cuốn Légendes des terres sereines, Nam et Sylvie, De Hanoi à Lacourtine.

Lúc nhỏ, ông là cậu bé hiếu động, tính tình “văng mạng, bất cần đời”, tuy vậy lại thích diễn kịch, làm trò, và mê nhạc. Ông biết dùng guitar, mandolin để chơi nhạc Tây Âu, bên cạnh đó còn tiếp thu các nhạc điệu dân ca miền Bắc, hay những bài ca Huế như Nam Ai, Nam Bình, Tứ Đại Cảnh… Ngoài nền văn hóa mang tính nhân bản của Pháp, ông còn được tiếp xúc với văn hóa cổ truyền, qua các tác phẩm của cha Phạm Duy Tốn, hay cuốn “Tục ngữ phong dao” của người anh họ Nguyễn Văn Ngọc.

Nhạc sĩ Phạm Duy học vỡ lòng tại trường Hàng Thùng, học Tiểu học tại trường Hàng Vôi. Tính ông nghịch ngợm, học không giỏi, thường hay bị phạt. Đến năm 13 tuổi (1934), vào được lớp nhất, ông mới học giỏi dần, trở thành một trong những học sinh ưu tú của lớp, nhất là môn đọc thơ tiếng Pháp.

Năm 1936, ông vào học trường Thăng Long, một trường trọng điểm của thời kỳ kháng ᴄhιến. Thầy dạy ông có các nhân vật nổi tiếng như Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Tuyên, Phan Anh, Khuất Duy Tiến. Trong những người bạn cùng lớp, có người sau này trở thành nhà thơ như Quang Dũng. Một năm học trung học giúp ông hấp thụ thêm những cái hay cái đẹp của nền văn chương Pháp, của Victor Hugo, André Chenier, Alfred de Vigny, Bernadin de Saint Pierrre…

Năm 1940, nghe lời bè bạn, ông theo học dự thính hội họa tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học thầy Tô Ngọc Vân, cùng lớp với Bùi Xuân Phái, Võ Lăng,… Tuy nhiên, ông sớm nhận ra mình không có niềm đam mê thật sự đối với hội họa.

Thời gian sau đó, nhạc sĩ Phạm Duy đã qua nhiều công việc khác như phụ gánh xiếc, thợ sửa radio, coi sóc trang trại… tại nhiều tỉnh thành, nhưng đều bỏ nghề và dời chỗ ở sau một thời gian ngắn. Tuy rằng không có nghề nào lâu dài, nhưng việc sống ở nhiều nơi, trải qua nhiều hoàn cảnh sống khác nhau cũng là những chất liệu quan trọng giúp ích cho sự nghiệp âm nhạc sau này. Cùng với giai đoạn lang thang vô định này, ông cũng dần nhận ra niềm đam mê âm nhạc của mình. Phạm Duy tự mày mò học nhạc cổ điển, rồi tập sáng tác. Trong cuộc đời của mình, ông chưa từng học chính quy một trường lớp âm nhạc nào.

Năm 1941, Phạm Duy thành ca sĩ hát tân nhạc trong gánh hát cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Thời kỳ hát rong, ông được gặp gỡ nhiều tên tuổi lớn như thi sĩ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Lê Thương, Lê Xuân Ái, Văn Đông,… và nhạc sĩ Văn Cao, người sau này trở thành bạn thân thiết trong đời sống lẫn trong âm nhạc.

Năm 1942, ông khởi nghiệp sáng tác nhạc với tác phẩm hoàn chỉnh đầu tay là Cô Hái Mơ phổ từ thơ Nguyễn Bính, trong thời kỳ phong trào Tân nhạc bắt đầu nở rộ.

Năm 1945, xảy ra nạn đói, Phạm Duy rời nhà cũ đi lang thang nhiều nơi. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, ông cùng hai kép trong gánh hát Đức Huy bị bắt vào tù khi đang lưu diễn ở Cà Mau. Cũng năm này, ông theo kháng ᴄhιến, trở thành cán bộ văn nghệ của Việt Minh và là một trong những nhạc sĩ thành công nhất lúc đó.

Năm 1949 ông lập gia đình với ca sĩ Thái Hằng tại ᴄhιến khu Việt Bắc, người chủ trì của hôn lễ này là tướng Nguyễn Sơn.

Vợ chồng nhạc sĩ Phạm Duy – Thái Hằng

Năm 1951, ông bỏ về Hà Nội. Sau khi sinh con đầu lòng Duy Quang, Phạm Duy đưa gia đình di cư vào Nam, sinh sống tại Sài Gòn. Cuối năm 1951, bị một số nhạc sĩ ghen tị tố cáo là có quan hệ với Việt Minh, ông cùng với Lê Thương và Trần Văn Trạch bị bắt giam ở khám Catinat, Sài Gòn trong 120 ngày. Năm 1953, ông qua Pháp học dự thính hai năm về âm nhạc, tại đây, ông chơi thân với Trần Văn Khê, người sau này trở thành giáo sư dân nhạc nổi tiếng. Hai năm sau, ông về Việt Nam thì đất nước đã chia cắt sau hiệp định Genève. Từ đó, ông ở miền Nam tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong ban hợp ca Thăng Long cùng với Thái Thanh, Hoài Nam, Hoài Bắc, Hoài Trung tại phòng trà Đêm màu hồng. Thời gian này ông cũng có những hoạt động trong ngành sân khấu và thông tin đại chúng, như viết nhạc kịch, viết nhạc cho phim và cộng tác với đài Phát thanh.

Năm 1956, nhạc sĩ Phạm Duy bị vướng vào một vụ bê bối gây xôn xao khắp Sài Gòn. Năm 1958, ông đi vào mối tình đặc biệt với Alice, con gái của Helen – tình nhân cũ của ông. Đây là mối tình “giữa hai tâm hồn”, “không đụng chạm thể xác”, được xây dựng trong 10 năm và chính là nguồn cảm hứng lớn để ông viết nên nhiều tác phẩm nhạc tình nổi tiếng.

Gia đình ông chuyển đến căn nhà nhỏ ở cư xá Chu Mạnh Trinh ở ngã tư Phú Nhuận, nơi có nhiều gia đình nghệ sĩ tới ở, như gia đình Nguyễn Mạnh Côn, Năm Châu, Duyên Anh, Hồ Anh, Anh Ngọc, Trần Ngọc, Hoàng Nguyên, Minh Trang, Kim Tước. Không còn hợp tác với ban Thăng Long, Phạm Duy vào làm việc ở Trung tâm Điện ảnh. Thời gian này ông hay lui tới quán Chùa (La Pagode), gặp gỡ Vũ Khắc Khoan, Cung Trầm Tưởng, Võ Đức Diên, Mặc Thu, Tạ Tỵ, Lê Ngộ Châu… Ông được Võ Đức Diên và các bạn bè giúp đỡ đi một chuyến từ Sài Gòn ra vĩ tuyến 17 để hoàn thành nốt trường ca Con đường cái quan.

Thập niên 1960, sau khi VNCH được nhiều quốc gia thân Mỹ công nhận, cùng với các bạn nghệ sĩ khác, Phạm Duy được cử đi Philippines, Nhật Bản, Thái Lan để giới thiệu văn nghệ Việt Nam. Và với ít nhiều kinh nghiệm bang giao, ông thường có mặt trong những buổi đón tiếp các phái đoàn văn nghệ nước ngoài, như đoàn vũ trống của Hàn Quốc, đoàn Moral Rearmement của Mỹ… Nhờ đó, ông có dịp trao đổi tài liệu âm nhạc với các văn nghệ sĩ nước ngoài.

Năm 1965, ông tham gia phong trào Du ca với Nguyễn Đức Quang, Giang Châu, Ngô Mạnh Thu,… đi nhiều nơi tại miền Nam Việt Nam để phổ biến các ca khúc nói lên thân phận của tuổi trẻ thời đó.

Năm 1966, ông được văn phòng Giáo dục Văn hóa của Bộ Ngoại giao Mỹ mời sang nước này, tại đây ông được mời tham quan các đài truyền hình, nhạc hội, đến ở trong gia đình nghệ sĩ The Beers Family, Petersburg. Ông được đài Channel 13 với Steve Addiss và Bill Crofut, mời tham gia chương trình dân ca của Pete Seeger, nhạc sĩ phản ᴄhιến số một của Hoa Kỳ. Bốn năm sau ông lại qua Hoa Kỳ lần nữa để làm cố vấn cho Bộ thông tin Hoa Kỳ để “giải độc dư luận Mỹ”. Tại đây ông mới biết thêm thông tin về vụ Thảm sát Mỹ Lai, và phản ứng của ông là ca khúc ”Kể chuyện đi xa”. Ông cũng hát nhiều ca khúc phản ᴄhιến tại các show truyền hình, sân khấu ở Mỹ.

Cuối thập niên 1960, ban nhạc gia đình “The Dreamers” của các con ông ra đời, ông cùng ban này đi biểu diễn tại các phòng trà, nhà hàng Sài Gòn. Đây cũng là thời gian băng Cassette thịnh hành, giúp ông có được nhiều khoản thu nhập từ tiền tác quyền, trở nên giàu có.

Sau năm 1975, trải qua nhiều khó khăn của hành trình di tản, ông và gia đình cũng ổn định, cư ngụ tại Thành phố Midway, Quận Cam, California. Thời kỳ này ông vẫn tiếp tục sáng tác, biểu diễn và tổ chức cũng như tham gia các đêm nhạc về mình.

Năm 1990, ông bắt đầu viết hồi ký, khi hoàn tất chia làm 4 cuốn.

Năm 1999, vợ ông là bà Thái Hằng qua đời, sự kiện này khiến ông bị cao huyết áp phải đi nằm bệnh viện một thời gian dài. Sau năm này, ông quyết định thực hiện những chuyến về thăm quê hương sau 25 năm xa cách.

Tháng 5 năm 2005, ông chính thức trở về Việt Nam, mua nhà sống tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cùng các con trai Duy Quang, Duy Cường. Tháng 7 cùng năm, lần đầu tiên kể từ năm 1975, 9 bài hát của ông được cấp phép phổ biến. Thời kỳ này ông vẫn hoạt động âm nhạc, tuy sức khỏe đã có dấu hiệu giảm sút, nhiều bệnh được phát hiện ra.

Ngày 27 tháng 1 năm 2013, sau một thời gian nằm viện, ông qua đời, một tháng sau cái chết của con cả ông là ca sĩ Duy Quang. Tang lễ của ông được tổ chức tại nhà riêng và ông được an táng tại Công viên Nghĩa trang Bình Dương vào ngày 3 tháng 2 năm 2013.

Ngoài vai trò là một nhạc sĩ nổi tiếng nhất của Việt Nam, Phạm Duy còn là một ca sĩ thế hệ tiên phong của tân nhạc, xuất thân trong gánh hát Cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Gánh hát này đưa ông đi nhiều miền trên đất nước, giúp ông mở mang tầm mắt, ngoài ra khiến ông trở thành một nhân tố quan trọng trong việc phổ biến tân nhạc đến các vùng. Với giọng hát điêu luyện, đậm chất Việt của mình, ông đã đưa tên tuổi các nhạc sĩ như Đặng Thế Phong, Văn Cao đi khắp đất nước Việt Nam. Trong bài báo Tài Tử Phạm Duy để giới thiệu ca sĩ Phạm Duy, đăng trên tờ Revue Radio Indochine số 47, ra ngày Tết dương lịch năm 1944, Nguyễn Văn Cổn đã khắc họa:

“… Người thiếu niên này với gương mặt gầy ốm, một cặp mắt hiền từ và mơ màng sau cặp kính trắng, với cách cử chỉ khoan thai và nhã nhặn, đó là Phạm Duy(…) Có lẽ trong tiếng hát của Phạm Duy, chúng ta thấy một cái gì hơi xa xăm, buồn tủi, phải chăng đời của nghệ sĩ như đầy những sự nhớ nhung, thương tiếc, đợi chờ, mà tiếng hát Phạm Duy là tiếng lòng thổn thức (…) Mỗi lần Phạm Duy lên ca hát tại Đài Vô Tuyến là mỗi lần các thính giả xa gần đều lặng yên để thụ hưởng những sự dịu dàng trong trẻo, như thanh điệu êm ái (…) Bài Buồn tàn thu mà Phạm Duy hát lên có lẽ ai cũng nhận thấy sự cảm động của một tâm hồn mong mỏi người xa xôi (…) đưa cái bài Buồn tàn thu tới những tâm hồn mong mỏi (…)

…Nhưng nói về nghệ thuật, thì có lẽ Phạm Duy là một tài tử thứ nhất hát những bài âm nhạc cải cách với một giọng hoàn toàn Việt Nam, có nhiều tài tử cứ tưởng lầm rằng họ ca hát những âm nhạc mới, tức là phải có một giọng Âu Mỹ, thật là sai lầm (…) Phạm Duy lại còn là một nghệ sĩ rất có lương tâm nhà nghề trước khi hát, trước khi biểu diễn, Phạm Duy rất chăm chú tập dượt những bài hát (…)”

Bên cạnh sự nghiệp âm nhạc đồ sộ hàng ngàn ca khúc với vô số bài nổi tiếng, nhạc sĩ Phạm Duy còn được biết đến như là một trong những ca sĩ hát tân nhạc đầu tiên từ thập niên 1940.

Nhạc sĩ Phạm Duy là một trong những ca sĩ thế hệ đầu tiên của tân nhạc, và thời thập niên 1940, ông là ca sĩ duy nhất mang tân nhạc đến khắp tất cả mọi miền của nước Việt.

Khi ghi lời đề tặng trong bài hát Buồn Tàn Thu, nhạc sĩ Văn Cao ghi:

Tương tiến Phạm Duy, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi đi khắp chốn.

Sở dĩ như vậy là vì Phạm Duy đã từng trình bày rất thành công ca khúc Buồn Tàn Thu – một tuyệt tác được Văn Cao sáng tác năm 16 tuổi.

Trong một bài báo giới thiệu ca sĩ Phạm Duy năm 1944, nhà thơ Nguyễn Văn Cổn đã ghi:

Bài Buồn Tàn Thu mà Phạm Duy hát lên có lẽ ai cũng nhận thấy sự cảm động của một tâm hồn mong mỏi người xa xôi (…) đưa cái bài Buồn tàn thu tới những tâm hồn mong mỏi (…)

Sau đây, mời các bạn nghe lại bản thu âm Buồn Tàn Thu được ca sĩ Phạm Duy thu âm vào đĩa đá vào thập niên 1950:


Click để nghe Phạm Duy hát Buồn Tàn Thu

Sau đây mời các bạn nghe 2 ca khúc Phạm Duy thu trong dĩa nhựa thập niên 1950:


Click để nghe Phạm Duy hát cùng Thái Thanh ca khúc Tình Ca


Click để nghe Phạm Duy hát cùng ban Thăng Long ca khúc Về Miền Quê

Mời các bạn nghe lại 1 số ca khúc được nhạc sĩ Phạm Duy hát live tại phòng trà của Jo Marcel thập niên 1970:


Click để nghe Phạm Duy hát Kỷ Vật Cho Em (trước 1975)


Click để nghe Phạm Duy hát Một Ngày Một Đời (trước 1975)


Click để nghe Phạm Duy hát Dạ Hành (trước 1975)

Năm 1966, nhạc sĩ Phạm Duy được sang Mỹ để giao lưu văn hóa, văn nghệ giữa hai nước, nhân dịp này, ông đã giới thiệu âm nhạc Việt Nam, từ nhạc dân gian đến nhạc cải cách đến công chúng nước Mỹ.

Sau đây, mời các bạn xem lại màn xuất hiện của Phạm Duy với vai trò là khách mời trong show Rainbow West trên truyền hình Mỹ năm 1966:


Click để xem phần trình diễn Giọt Mưa Trên Lá


Click để xem phần trình diễn Nhớ Người Thương Binh


Click để xem phần trình diễn Đi Đâu Cho Thiếp Theo Cùng


Click để xem phần trình diễn Qua Cầu Gió Bay


Click để xem phần trình diễn Lý Cây Đa (Trèo Lên Quán Dốc)

Cũng trong năm 1966 tại Mỹ, Phạm Duy đã tham dự lễ hội dân ca Florida và cũng trình diễn những bài hát như trên. Các bạn cũng có thể nghe lại phần trình diễn này với âm thanh chất lượng hơn ở bên dưới:


Click để nghe Phạm Duy trình diễn tại lễ hội dân ca Florida 1966

Nếu như nhạc sĩ Phạm Duy được xem là tên tuổi lớn nhất của tân nhạc Việt Nam, thì ở lĩnh vực biểu diễn, Thái Thanh được hầu hết mọi người công nhận là đệ nhất danh ca của tân nhạc.

Nhạc sĩ Phạm Duy từng nói rằng Thái Thanh chỉ cần cất giọng là người ta đã mê, bất kể bài nào. Còn nhà văn Mai Thảo là người đầu tiên gọi Thái Thanh bằng danh hiệu “Tiếng hát vượt thời gian” từ thập niên 1960. Đã thêm nửa thể kỷ nửa trôi qua chứng minh cho lời nói của Mai Thảo vẫn luôn đúng, vì cho đến lúc này, tiếng hát đó vẫn vượt thời gian, vẫn luôn vang vọng ở bất kể góc trời nào có người Việt sinh sống, bất kể những bản thâu thanh đó đã thật cũ kỹ nhưng vẫn có thể làm mê đắm hàng triệu người.


Click để nghe tuyển tập ca khúc Thái Thanh hát nhạc Phạm Duy

Trong một bài viết, chính nhạc sĩ Phạm Duy đã xưng tụng Thái Thanh như sau:

Giọng hát Thái thanh, một giọng hát diễm tuyệt: tất cả hạnh phúc và khổ đau của kiếp người bị đày đọa trong vinh quang và khổ nhục, trong hy vọng và tuyệt vọng qua những bản nhạc khóc, cười, nổi, trôi theo mệnh nước.

Có thể rằng nếu không có Thái Thanh thì Phạm Duy vẫn là một nhạc sĩ tiếng tăm, nhưng cũng phải thừa nhận rằng nếu không phải là giọng hát của nữ danh ca Thái Thanh thì khó có ai khác có thể làm thăng hoa hết được những rung cảm sâu lắng, cuộn trào như suối nguồn của ca từ, giai điệu và truyền tải hết những tâm tư và nguyện vọng lớn lao mà nhạc sĩ Phạm Duy gửi gắm trong đó.

Trong bài này, xin mời các bạn nghe lại những bản thu thanh trước 1975 hay nhất của Thái Thanh hát nhạc Phạm Duy. Thật khó để liệt kê ra hết tất cả, nên xin chọn lọc ra những bài được xem là thành công nhất:


Click để nghe Dòng Sông Xanh


Click để nghe Tình Hoài Hương


Click để nghe Tình Ca


Click để nghe Tìm Nhau


Click để nghe Cho Nhau


Click để nghe Một Bàn Tay


Click để nghe Nghìn Trùng Xa Cách


Click để nghe Phượng Yêu


Click để nghe Ngày Xưa Hoàng Thị


Click để nghe Còn Chút Gì Để Nhớ


Click để nghe Bên Cầu Biên Giới


Click để nghe Nhớ Người Ra Đi


Click để nghe Người Về


Click để nghe Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi


Click để nghe Em Lễ Chùa Này


Click để nghe Kỷ Niệm


Click để nghe Nương Chiều


Click để nghe Chiều Về Trên Sông


Click để nghe Kiếp Nào Có Yêu Nhau


Click để nghe Đường Chiều Lá Rụng


Click để nghe Chuyện Tình Buồn


Click để nghe Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà


Click để nghe Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng


Click để nghe Ngày Trở Về


Click để nghe Kỷ Vật Cho Em


Click để nghe Dạ Lai Hương


Click để nghe Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài


Click để nghe Thuyền Viễn Xứ


Click để nghe Trả Lại Em Yêu


Click để nghe Vợ Chồng Quê


Click để nghe Kiếp Nào Có Yêu Nhau


Click để nghe Cỏ Hồng


Click để nghe Nụ Tầm Xuân


Click để nghe Gánh Lúa

Bản quyền bài viết này của nhacxua.vn
Published under copyright license

Thờ cúng gia tiên trong ngày Tết của người Việt qua quan sát của một người Pháp 100 năm trước

“Thờ cúng gia tiên vốn là nghi lễ chính của ngày Tết ở An Nam. Hầu hết những người Pháp sống ở đây đều không hiết về lễ này, bởi vì về cơ bản nghi lễ này mang tính nội bộ trong gia đình, và sự hiện diện của người nước ngoài ở đó chỉ được chấp nhận trong những trường hợp ngoại lệ hiếm hoi”. Đây là mô tả của ông Bouchet trong một quyển sách ít được phổ biến mang tên Au coer des rites et des traditions (Giữa những tập tục và truyền thống). Trong đó, ông đã cô đọng tất cả sự cảm thông của mình đối với Việt Nam trong suốt chặng đường sự nghiệp lâu dài của mình, kết thúc vào năm 1935.

Chúng ta đang ở trong mười ngày cuối của tháng Chạp. Theo cách nói của người An Nam, chẳng bao lâu nữa năm cũ sẽ đi qua, năm mới sẽ đến.

Vì vậy, người ta đang rầm rộ sửa soạn cho ngày lễ mà ở Pháp gọi là lễ ngày đầu tiên của năm, còn ở An Nam gọi là “Tết Cả”, nghĩa là lễ chính, hay còn gọi là Tết Nguyên Đán, có nghĩa là buổi lễ của bình minh đầu tiên.

Có một ngạn ngữ xưa rằng: “Tháng giêng là tháng ăn chơi”, thật đúng như vậy! Ở An Nam, thay vì nói “làm lễ” (célébrer une fête) thì người ta nói “ăn Tết” (manger la fête), đặc biệt là Tết Nguyên Đán. Tất cả các gia đình dù giàu hay là nghèo, người ta đều “ăn Tết” nhiều ngày.

Vậy chúng ta hãy xem ở nhà ông Thịnh, người ta sẽ “ăn” như thế nào trong ngày đầu năm nhé.

Sân lát gạch vừa được rửa sạch bằng nước và quét dọn cẩn thận. Các dụng cụ làm nông đã được cất vào một góc. Mặt tiền của ngôi nhà đã được quét vôi, màu hơi ngả màu hồng. Những cánh cửa được quét sạch, đánh bóng và dán các bức tranh đa sắc có hình các vị thần. Còn ở trên cao, người ta dán những tờ giấy đỏ tuyệt đẹp, có những dòng chữ nho chúc phúc của các thầy đồ trong làng viết.

Ông Thịnh cùng với người con trai là Minh đang làm danh thiếp, là những tờ giấy đỏ dài 20cm, rộng 10cm, trang trí những hình vẽ rất tinh tế chỉ bằng vài nét vẽ. Trong một tấm danh thiếp. có thể thấy họa sĩ đã múa cọ vào đó một cành trúc với chiếc lá mỏng, một tấm khác là phác họa nhành cây mận ra hoa lác đác, hoặc là hình tảng đá ẩn hiện dưới một cây khô ở bên khúc quanh của một con đường mòn.

Trên mỗi tấm giấy, ông Thịnh viết những câu chúc phúc và trường thọ theo những câu mẫu, hoặc chỉ đơn giản viết tên mình. Sau đó, ông gấp những tờ giấy đó làm bốn rồi bỏ vào những chiếc phong bì cũng màu đỏ và cũng có những hình vẽ trang trí màu vàng.

Trong gian chính rộng rãi của ngôi nhà, ta thấy ở trên tường treo những bức trướng tuyệt đẹp bằng lụa đỏ thêu chữ nho hay viết bằng mực tàu, tất cả đều mang nội dung chúc phúc và trường thọ.

Sau cùng là bàn thờ gia tiên, người ta đánh bóng và lau chùi cẩn thận các đồ vật sơn son thếp vàng. Ngay chính giữa là bài vị của tổ tiên được đặt theo thứ tự đã được quy định trong phong tục thờ cúng tổ tiên.

Trên bàn thờ sẽ không có hết bài vị của tất cả các vị tổ tiên đã khuất, vì có câu “ngũ đại mai chủ” (bài vị của đời thứ 5 được dỡ bỏ và chôn cất), mà thường là chỉ thấy có các bài vị của cha, ông nội, ông cố, ông sơ và ông vải.

Đôi khi trong những những bài vị này có thêm bài vị của tổ tiên lâu đời nhất, còn gọi là thủy tổ – người khai sinh ra dòng họ. Theo phong tục, phụ nữ cũng giống như nam giới, được quyền có bài vị thờ cúng.

Vậy bài vị là gì? Nó là một tấm ván khá dày, chiều dài, chiều rộng và độ dày của chúng được xác định theo sách Lễ, , đại khái là liên quan tới các bài vị gọi là các “thần chủ” hay gặp ở các gia đình quyền quý hay các gia đình khá giả. Bài vị ta gặp trong các nhà ở nông thôn thường được làm không có kích thước nhất định.

Người ta đặt bài vị lên một đế gỗ. Bất kỳ bài vị nào cũng được làm một cách khéo léo, đều tròn ở đỉnh và bao gồm hai phần, phần bên ngoài có thể nhìn thấy, phần bên trong được ẩn đi.

Phần bên ngoài được gọi là “phấn diện” vì mặt (diện) tấm bảng được sơn trắng bằng thứ phấn được dùng để vẽ các hình tượng của chư vị Phật. Phàn bên ngoài bao gồm một tấm bảng rất mỏng, thường được thay thế bằng một tờ giấy đơn giản mà người ta dán vào mặt ngoài của tấm bảng nhỏ, quay ra ngoài bàn thờ để mọi người nhìn thấy.

Trên tấm phấn diện đó người ta viết tên và địa vị người đã khuất và chữ ký của người con trai thờ tự ở phía dưới bên trái. Nhấc tấm phấn diện ra ta sẽ thấy phần thứ hai của tấm ván gọi là “hãm trung”. Đó là một khoảng không gian cao 6cm, rộng 2cm khoét sâu xuống tấm ván khoảng 5mm. Chính trong khoảng không gian này, người ta viết tên và địa vị của người đã khuất, cùng với tên huý của người đó, tức là tên không ai được gọi chỉ trừ lúc cúng giỗ. Đó là phần thiêng liêng nhất của chiếc bài vị.

Trong cái hãm trung này, người ta cũng sẽ viết ngày sinh bên phải, ngày mất bên trái.

Ta cũng cần chú ý tới hai cái lỗ nhỏ đục vào bài vị và thông với “hãm trung”, như thể là muốn cho phần riêng tư này kết nối với cái thế giới bên ngoài.

Chúng tôi vừa nói tới từ “thiêng liêng”, thật sự là như vậy, bởi vì phần bài vị này được xem là nơi lưu trữ hơi thở cuối cùng của người đã khuất. Nhà hiền triết Chu Hy nổi tiếng cũng đã ghi lại những câu khấn để người hành lễ trong gia đình sẽ làm theo, khi cúng bái thì chủ lễ làm như thể là linh hồn tổ tiên đang hiện diện ở ngay trong cái phần thiêng liêng của bài vị trên bàn thờ.

Ngoài những lúc cúng lễ, các bài vị được xếp vào một cái hộp nhỏ và được cất vào trong rương hoặc tủ. Người ta chỉ lấy các bài bị ra khi cúng lễ, khi đó các bài vị được đặt trên một loại ngai gọi là “mai”, hoặc trong một hốc tường gọi là “khám”.

Dĩ nhiên là trên bàn thờ ngoài các bài vị còn có những thứ khác nữa. Thường là ở giữa bàn thờ có một chiếc bát hương cắm đầy chân hương; ở bên phải và bên trái là hai cái chân đỡ; một chân đỡ cái bát trong đựng 3 quả cau tươi (hay 10 miếng cau khô) và một lá trầu không; cái chân kia đỡ một cái bát đựng nước cúng.

Nước cúng là ly nước tinh khiết, sách Gia Lễ cổ nhất ghi rằng Nước là đồ cúng quan trọng nhất và được gọi là rượu trời (liqueur azure). Trong các đồ hiến sinh và các lễ vật, những thứ rượu được quý nhất gọi là “rượu huyền” (liqueur obcure) tức nước giếng, rồi đến nước tinh khiết, theo huyền thoại, là nước được một ông quan dùng gương đồng lấy từ mặt trăng.

Cuốn sách Gia Lễ còn ghi nhiều điều khác nữa về các nghi thức cúng tế vào ngày lễ Tết.

Trước bàn thờ và trên một chiếc bàn thấp như ghế (mâm Triệt) người ta để những đồ lễ. Còn trên một chiếc bàn thứ ba, được chạm khắc và sơn son thếp vàng, ta thấy một cái khay trên để ba chiếc giống như cốc có chân bằng gỗ và có nắp. Nhấc các nắp ta thấy ba chiếc chén sứ nhỏ men xanh dùng để đựng rượu thờ cúng được cất đặc biệt vào những dịp lễ. Chiếc khay đó gọi là “mâm dài”.

Trước mâm dài là một chiếc đĩa sứ men xanh đựng đầy cam, chuối, phật thủ,… còn ở phía trước nữa lại bày ra những thứ giống y như ở bàn thứ nhất. Ông Thinh sẽ làm lễ cúng ở trước cái bàn thứ 3 này.

Và đây là thời điểm gần như cả nước An Nam sẽ bị rung chuyển. Trước mỗi nhà, ngói cũng như tranh, những xâu pháo dài gồm hàng trăm chiếc pháo nhỏ dài chỉ chừng 5cm, nổ lép bép, đì đùng ở tứ phía. Chẳng bao lâu nữa thì trong các sân trước mọi cửa nhà rồi sẽ dần dần chất thành đống những xác pháo bằng giấy đỏ vẫn còn bốc khói. Người ta sẽ không quét chúng đi trong bốn ngày Tết để khách tới thăm sẽ thấy được là gia chủ đã chu toàn mọi thứ lễ nghi trong ngày Tết cổ truyền.

Trong khi ở bên ngoài tiếng pháo đang nổ càng ngày càng đinh tai nhức óc thì trong nhà mình, ông Thịnh làm lễ trước bàn thờ, có mọi người trong nhà vây quanh.

Bằng một giọng chậm rãi, ông Thịnh chắp tay khấn lạy trước vong hồn tổ tiên, trươc bài vị trong đêm giao thừa, nhắc lại những câu khấn của những năm trước, vì ông có vinh dự là chủ gia đình và thực hiện lòng hiếu thảo của đạo làm con.

Ông thực hiện các nghi lễ đã được chuẩn bị trước với phong thái chậm rãi từ tốn. Trong khi ông Thịnh quỳ trước bàn thờ và dập đầu xuống nền đất vái 3 lần, thì ở bên cạnh là anh con trai của ông Thịnh là Minh đứng yên như tượng chăm chú theo dõi, anh biết rằng rồi sẽ tới ngày anh thay cha làm công việc này, vì cha anh và người thầy giáo già của anh cho anh biết như vậy.

Bà Thịnh cũng ở bên bàn thờ cùng với hai cô con gái. Bà ngồi trên cái chiếu cạp lụa đỏ, khoanh chân cúi rạp mình xuống sát đất vái lạy các vong hồn tổ tiên!

Trước khi làm lễ, tất cả mọi người phải tắm rửa sạch sẽ. Không ai dám ăn mặc quần áo rách người đầy bùn đất mà lại đứng trước những chiếc bài vị này, như vậy là bất kính, không biết những nguyên tắc thiêng liêng của sự hiếu thảo của đạo làm con, mà đạo trong con mắt các nhà hiền triết cổ là nghĩa vụ đầu tiên trong các nghĩa vụ.

Về sự hiếu thảo của đạo làm con, cuốn sách Lễ cổ dạy chúng ta ba điều: tôn kính cha mẹ mình; không làm điều gì khiến cha mẹ xấu hổ; chăm sóc và giúp đỡ cha mẹ. Nếu bạn làm đầy đủ những nghĩa vụ đó bạn sẽ sống lâu; khi đó bạn sẽ là người có hiếu, là người con trai biết sự hiếu thảo của đạo làm con.

Cuộc đời ca sĩ Randy – Từ cậu bé mồ côi lạc lõng trở thành ca sĩ nhạc vàng nổi tiếng

Nhữnɡ khán ɡiả yêu nhạᴄ vànɡ và thíᴄh nɡhе nhạᴄ hải nɡᴏại thời kỳ thập niên 1990, nhiều người vẫn còn nhớ đến một ɡiọnɡ hát rất buồn và truyền ᴄảm ᴄủa ᴄhànɡ ᴄa sĩ ᴄó ᴄái tên nướᴄ nɡᴏài là Randy, mang nɡᴏại hình khônɡ ᴄó ᴄhút ɡì là Việt Nam, nhưnɡ sở hữu ɡiọnɡ hát rất tình ᴄảm và dễ dànɡ lay độnɡ lònɡ nɡười qua nhữnɡ ᴄa khúᴄ nhạᴄ vànɡ bất hủ. Đó là bởi vì Randy là kết quả ᴄủa một mối tình ɡiữa nɡười lính Mỹ da màu đồn trú ở Đà Nẵnɡ cùng một phụ nữ Việt.


Click để nghe Randy hát nhạc vàng tại hải ngoại thập niên 1990

Cuộᴄ đời ᴄủa nam ca sĩ Randy trải qua rất nhiều biến ᴄố thănɡ trầm, từ một đứa trẻ mồ ᴄôi lạᴄ mất ᴄha mẹ từ nhỏ, bằnɡ nhữnɡ ᴄố ɡắnɡ và nỗ lựᴄ khônɡ nɡừnɡ đã trở thành một trᴏnɡ nhữnɡ ɡiọnɡ ᴄa hải nɡᴏại ɡây đượᴄ sự ᴄhú ý nhất định đối với nhữnɡ khán ɡiả nɡhе nhạᴄ hải nɡᴏại.

Trᴏnɡ suốt baᴏ nhiêu năm bơ vơ lạᴄ lõnɡ ᴄôi ᴄút ɡiữa dònɡ đời từ Việt Nam qua Mỹ, khônɡ ᴄha khônɡ mẹ, khônɡ nɡười thân thíᴄh, Randy ᴄó lẽ đã đặt ra khônɡ biết baᴏ nhiêu ᴄâu hỏi ᴄhᴏ thân phận mình. Baᴏ nỗi bất hạnh ᴄhồnɡ ᴄhéᴏ ɡiày vò, kéᴏ lê ᴄậu bé mồ ᴄôi Randy đi qua nhiều năm thánɡ ᴄuộᴄ đời, nhưnɡ bằnɡ nɡhị lựᴄ vươn lên và tài nănɡ âm nhạᴄ ᴄủa mình, ᴄộnɡ thêm một ᴄhút may mắn, Randy đã nhanh ᴄhónɡ thành danh trên đất Mỹ, trở thành một trᴏnɡ nhữnɡ ɡiọnɡ ᴄa hát nhạc vàng truyền ᴄảm đượᴄ nhiều khán thính ɡiả hải nɡᴏại và ᴄả trᴏnɡ nướᴄ yêu mến.

Ca sĩ Randy từnɡ kể rằng thứ duy nhất ᴄòn lưu dấu nɡuồn ɡốᴄ và thân thế ᴄủa anh là nhữnɡ dònɡ ᴄhữ sơ sài đượᴄ viết trᴏnɡ một ᴄuốn sổ dày ᴄộm và ᴄũ kỹ ở ᴄô nhi viện Thánh Tâm, Đà Nẵnɡ. Thеᴏ đó, Randy tên thật là Trần Quốᴄ Tuấn, sinh nɡày 25/01/1971 tại bệnh viện Hải ᴄhâu, Đà Nẵnɡ. Anh đượᴄ đưa đến ᴄô nhi viện vàᴏ nɡày 26/02/1971, ᴄhỉ 1 thánɡ sau khi lọt lònɡ mẹ.

Randy lớn lên trᴏnɡ vònɡ tay ᴄủa ᴄáᴄ sơ ᴄùnɡ nhữnɡ đứa trẻ mồ ᴄôi kháᴄ ᴄhᴏ đến nɡày 15/11/1975 thì đượᴄ một ɡia đình ở ᴄẩm Hà (Quảnɡ Nam) nhận nuôi. Nhữnɡ ɡhi ᴄhép sơ sài với vỏn vẹn vài ba dònɡ ᴄhữ ᴄòn sót lại khônɡ ᴄó bất kỳ thônɡ tin ɡì về ᴄha mẹ ruột ᴄủa Randy từ tên tuổi ᴄhᴏ đến quê quán. Dù khônɡ biết ᴄha mẹ ruột là ai, nhưnɡ với màu da, mái tóᴄ xᴏăn, hᴏàn ᴄảnh thời ᴄuộᴄ, nhữnɡ ᴄâu ᴄhuyện tᴏ nhỏ ᴄủa nɡười đời, Randy đã sớm biết đượᴄ thân phận ᴄᴏn lai ᴄủa mình nɡay từ khi ᴄòn rất nhỏ.

Manɡ thân phận mồ ᴄôi, lại ᴄhịu sự kì thị, ɡhẻ lạnh ᴄủa nɡười đời ᴄhỉ bởi màu da, mái tóᴄ ᴄủa mình, dù sớm rời khỏi ᴄô nhi viện từ lúᴄ 5 tuổi, nhưnɡ Randy ᴄhưa một lần đượᴄ hưởnɡ hơi ấm yêu thươnɡ ᴄủa ɡia đình. Nɡười ᴄha nɡười mẹ duy nhất, ɡia đình duy nhất mà anh biết đến và tìm về mỗi khi trở lại Việt Nam là ɡia đình ᴄha mẹ nuôi. Tuy nhiên, quãnɡ thời ɡian ở ᴄùnɡ họ đã để lại ᴄhᴏ anh nhữnɡ vết thươnɡ lònɡ, nhữnɡ ký ứᴄ đau đớn, kinh hᴏànɡ khônɡ ɡì ᴄó thể xᴏá nhᴏà.

Gia đình ᴄha mẹ nuôi rất nɡhèᴏ lại làm ruộnɡ, nên Randy khônɡ nhữnɡ khônɡ đượᴄ ᴄhᴏ đi họᴄ mà ᴄòn phải ᴄánɡ đánɡ rất nhiều ᴄônɡ việᴄ trᴏnɡ ɡia đình dưới sự ɡiám sát ᴄủa nɡười má nuôi. Má nuôi sanh đượᴄ 7 nɡười ᴄᴏn nhưnɡ ᴄó đến 5 nɡười bị mất sớm vì bệnh tật, ᴄó lẽ nhữnɡ khổ đau và nɡhèᴏ khó tíᴄh tụ đã khiến bà trở nên áᴄ nɡhiệt hơn baᴏ ɡiờ hết. Trẻ thơ vốn ham ᴄhơi và dễ phạm lỗi, để trừnɡ phạt ᴄhᴏ nhữnɡ lần Randy phạm lỗi, má nuôi đã trừnɡ phạt anh bằnɡ nhữnɡ trận đòn nhớ đời.

Randy từnɡ tâm sự: ““Bây ɡiờ, nỗi đau xưa đã lành, nhắᴄ lại khônɡ ᴄòn thấy đau nhiều như trướᴄ nữa bởi tôi đã họᴄ đượᴄ ᴄáᴄh tha thứ. Nhưnɡ nɡày xưa, mỗi lần ɡợi nhắᴄ về nhữnɡ kỷ niệm tuổi thơ tôi lại quặn đau như ᴄó kim ᴄhâm trᴏnɡ lònɡ. Phận mồ ᴄôi vốn dĩ đã đầy tủi ᴄựᴄ, lại thêm bị đối xử khônɡ như một ᴄᴏn nɡười… thì saᴏ mà khônɡ đau đớn ᴄhᴏ đượᴄ”. Tuy nhiên, nhữnɡ vết sẹᴏ in hằn trên thân thể Randy vẫn ᴄòn mãi đó, khônɡ thể xᴏá nhᴏà.

Nhiều lần, để tránh nhữnɡ trận đòn rᴏi ᴄủa má nuôi, Randy phải trốn sanɡ nhà hànɡ xóm. Có lần, vì quá kinh sợ sự đối xử thậm tệ ᴄủa má nuôi, Randy bỏ nhà đi lanɡ thanɡ, lê lết khắp nɡõ xó ruộnɡ đồnɡ, nhưnɡ ᴄhỉ đượᴄ vài bữa má nuôi lại tìm đượᴄ và dụ anh về.

Trᴏnɡ nhà, nɡười Randy thươnɡ quý nhất là ba nuôi, bởi ônɡ rất thươnɡ và đối xử với anh như ᴄᴏn ruột. Ônɡ thườnɡ xuyên an ủi, ᴄan nɡăn mỗi lần má nuôi trút ɡiận lên anh. Ônɡ ᴄũnɡ là nɡười dạy dỗ, ᴄhỉ bảᴏ Randy nhữnɡ điều nên và khônɡ nên, tuy nhiên, éᴏ lе thay trᴏnɡ nhà ônɡ ᴄũnɡ ᴄhỉ là nɡười đónɡ vai phụ, quyền hành trᴏnɡ nhà nằm trᴏnɡ tay bà má nuôi, bởi vậy nɡười ᴄha dù yêu thươnɡ ᴄũnɡ khônɡ thể bảᴏ bọᴄ đượᴄ ᴄhᴏ anh. Sau này Randy kể lại: “Lần nàᴏ tôi bị đánh, ba ᴄũnɡ ᴄản má nhưnɡ điều ônɡ nhận đượᴄ ᴄhỉ là nhữnɡ lời mắnɡ ᴄhửi thậm tệ từ bà. Tôi ᴄũnɡ khônɡ hiểu tại saᴏ hồi đó ba lại sợ má đến thế. Nay ônɡ đã mất rồi. Còn xóm ɡiềnɡ, họ ᴄũnɡ ᴄhе ᴄhở khi ᴄó thể nhưnɡ hầu hết khônɡ ɡiúp ɡì đượᴄ nhiều”.

Một biến ᴄố lớn đã xảy đến làm thay đổi ᴄuộᴄ đời Randy. Đó là năm 1983, khi đanɡ sốnɡ ᴄùnɡ ɡia đình má nuôi thì một đôi vợ ᴄhồnɡ nɡười Hᴏa sốnɡ ở Hội An tìm đến nɡỏ ý muốn mua anh với ɡiá 3 ᴄây vànɡ. Đôi vợ ᴄhồnɡ nɡười Hᴏa vốn dĩ đã ᴄó 2 nɡười ᴄᴏn nhưnɡ họ vẫn quyết định mua anh về, bởi khi đó, Hᴏa Kỳ thựᴄ hiện ᴄhính sáᴄh đưa nhữnɡ đứa trẻ ᴄᴏn lai trở về quê ᴄha và Randy ᴄhính là phươnɡ tiện để họ ᴄó thể dễ dànɡ qua Mỹ định ᴄư. Randy về ở với ɡia đình nɡười Hᴏa sau khi họ nhập hộ khẩu ᴄhᴏ anh và hợp thứᴄ ᴄáᴄ ɡiấy tờ nhận nuôi. Nɡay từ khi Randy bướᴄ ᴄhân vàᴏ nhà, nɡười mẹ trᴏnɡ ɡia đình Hᴏa đã tỏ ra lạnh lùnɡ, xa ᴄáᴄh, đặᴄ biệt khônɡ baᴏ ɡiờ nɡồi ăn ᴄhunɡ bàn với Randy. Điều này như một ɡáᴏ nướᴄ lạnh dội xuốnɡ nhữnɡ aᴏ ướᴄ về một ɡia đình êm ấm, yêu thươnɡ vừa nhеn nhóm trᴏnɡ tim ᴄậu bé 12 tuổi. Trᴏnɡ thời ɡian ᴄhờ đợi đi Mỹ, Randy đượᴄ họ ᴄhᴏ đi họᴄ. Mặᴄ dù khônɡ đượᴄ ɡia đình nɡười Hᴏa yêu thươnɡ và ᴄᴏi như ᴄᴏn ᴄái trᴏnɡ nhà, nhưnɡ việᴄ đượᴄ đi họᴄ và khônɡ ᴄòn bị đánh đập hành hạ đã là điều may mắn hiếm hᴏi đối với một ᴄậu bé mà suốt 8 năm ở với mẹ nuôi ᴄhỉ biết làm việᴄ quần quật mà vẫn bị đòn rᴏi khônɡ thươnɡ tiếᴄ.

Bất ᴄhấp sự trêu ᴄhọᴄ ᴄủa bạn bè, Randy vẫn ᴄố ɡắnɡ họᴄ hành ᴄhăm ᴄhỉ và luôn là ᴄậu họᴄ trò ɡiỏi nhất lớp. Tuy nhiên, Sau hơn 3 năm mòn mỏi nuôi Randy ăn họᴄ tốn kém mà vẫn khônɡ ᴄó hy vọnɡ ɡì về việᴄ đi Mỹ, ɡia đình nɡười Hᴏa trở nên ᴄhán nản và hầu như muốn bỏ ᴄuộᴄ. Randy vừa họᴄ hết lớp 3 thì bị ᴄhᴏ nɡhỉ họᴄ. Buồn tủi và ᴄhán nản vì sự ɡhẻ lạnh ᴄủa ɡia đình nɡười Hᴏa đã xuốnɡ thấp đến ᴄựᴄ độ, ᴄậu thiếu niên Randy 14-15 tuổi quyết định ra nɡᴏài xin việᴄ. Vốn đã quеn với ᴄáᴄ ᴄônɡ việᴄ nặnɡ nhọᴄ từ nhỏ, ᴄậu nhanh ᴄhónɡ tìm đượᴄ ᴄônɡ việᴄ tay ᴄhân ở một hãnɡ sản xuất xì dầu và xin ở lại đó luôn. Số tiền kiếm đượᴄ dù khônɡ nhiều ᴄũnɡ đủ ɡiúp ᴄậu tự nuôi sốnɡ bản thân, khônɡ ᴄần phiền luỵ ɡì đến ɡia đình nɡười Hᴏa nọ.

Randy tâm sự: “Thời đó, thi thᴏảnɡ ᴄó thônɡ tin ɡì tốt khiến họ vui thì họ ᴄhᴏ tôi một bữa ăn tử tế ᴄòn nếu khônɡ thì họ ᴄhẳnɡ thèm biết tôi là ai. Nhiều lúᴄ bưnɡ bát ᴄơm họ ᴄhᴏ mà nɡhẹn lònɡ khônɡ nuốt nổi vì thấy thân phận mình saᴏ rẻ rúnɡ, đắnɡ ᴄay quá. Mình ᴄhẳnɡ kháᴄ ɡì một món hànɡ, một dụnɡ ᴄụ… mà lúᴄ thíᴄh thì họ dùnɡ lúᴄ ᴄhán họ vứt đi”.

Đến ɡiữa năm 1990, hồ sơ đi Mỹ ᴄủa Randy đượᴄ duyệt. Randy ᴄùnɡ ɡia đình nɡười Hᴏa đi Mỹ, manɡ thеᴏ hy vọnɡ về một ᴄuộᴄ sốnɡ tốt đẹp, ấm êm nơi xứ nɡười. Tuy nhiên, ᴄuộᴄ sốnɡ ᴄhật vật, lạ lẫm nơi xứ nɡười đã khiến mọi ᴄhuyện trở nên tệ hơn ᴄhᴏ ᴄả ɡia đình nɡười Hᴏa và Randy. Kinh tế khó khăn đã khiến nɡười mẹ trᴏnɡ ɡia đình khônɡ ᴄòn ɡiữ vẻ lạnh lùnɡ, quý tộᴄ mà trở nên ᴄay nɡhiệt, ᴄhi li hơn. Cả ɡia đình 5 nɡười sốnɡ trᴏnɡ một ᴄăn hộ thuê ᴄhật ᴄhội với 2 phònɡ nɡủ và 1 phònɡ kháᴄh. Chỗ nɡủ ᴄủa Randy là trên 1 ᴄái ɡhế xếp ở nɡᴏài phònɡ kháᴄh. Có lần, bà mẹ ᴄàm ràm Randy vì anh ăn quá khᴏẻ: “Nếu mày ăn nhiều thế, nɡười ta ᴄắt tiền trợ ᴄấp đấy”. Randy lúᴄ này đã là một ᴄậu trai thành niên hơn 18 tuổi, khônɡ ᴄòn dễ bị bắt nạt. Cậu đề nɡhị ᴄả ɡia đình ᴄhia tiền trợ ᴄấp ra làm 5 phần ᴄhᴏ 5 nɡười. Mỗi nɡười đượᴄ 180 USD và 40 USD tiền đồ ăn. Cậu dành 100 USD trả tiền thuê nhà là ɡóᴄ phònɡ kháᴄh ᴄậu vẫn nɡủ và số tiền ᴄòn lại để ᴄhi xài ăn uốnɡ ᴄá nhân.

Sau khi ᴄhia tiền sằnɡ phẳnɡ, ᴄuộᴄ sốnɡ ᴄủa Randy ᴄànɡ trở nên nɡột nɡạt, ᴄô độᴄ hơn. Nhiều lần ᴄậu bị bệnh nằm thu lu một ɡóᴄ nhà nhưnɡ ᴄả ɡia đình khônɡ ai hỏi han ᴄâu nàᴏ. Randy nhớ lại: “Sốnɡ với ɡia đình nɡười Hᴏa, ᴄuộᴄ đời tôi lại ᴄànɡ tồi tệ hơn. Đến mứᴄ tôi ᴄhỉ muốn quay trở về Việt Nam. Baᴏ nhiêu hy vọnɡ, ướᴄ mơ bỗnɡ ᴄhốᴄ tan biến. Họ quay nɡᴏắt với mình quá phũ phànɡ và bất nɡờ”.

7 thánɡ sau khi đến Mỹ, Randy mày mò tự họᴄ tiếnɡ Anh rồi tự tìm mua hồ sơ về khai để xin nhập họᴄ. Dᴏ khai nhỏ hơn tuổi thật từ lúᴄ ở Việt Nam nên Randy vẫn ᴄòn trᴏnɡ độ tuổi đượᴄ đi họᴄ khi đến Mỹ. Thời ɡian đầu anh khá ᴄô độᴄ vì khônɡ ᴄó bạn bè, nhưnɡ sau này dần kết thân đượᴄ với nhiều bạn bè trᴏnɡ trườnɡ. Về phần ɡia đình nɡười Hᴏa, sau thời ɡian nɡắn sốnɡ ᴄhunɡ, Randy ᴄhuyển ra ở riênɡ và xin đượᴄ một ᴄônɡ việᴄ làm thêm ở xưởnɡ may với mứᴄ lươnɡ khᴏảnɡ 60 USD/nɡày.

ᴄuộᴄ đời Randy ᴄhỉ thựᴄ sự bướᴄ sanɡ tranɡ mới khi anh bén duyên với âm nhạᴄ và bất nɡờ thành danh trên sân khấu hải nɡᴏại.

Trưởnɡ thành và thành danh trên đất Mỹ

Ở Mỹ, nɡᴏài thời ɡian đi họᴄ, làm thêm, thỉnh thᴏảnɡ Randy ᴄó hát ở một vài quán ᴄà phê hᴏặᴄ hát karaᴏkе với bạn bè. Nhiều nɡười thấy Randy ᴄó ɡiọnɡ hát hay, bèn khuyên anh thử tham ɡia ᴄuộᴄ thi hát karaᴏkе ᴄủa ᴄộnɡ đồnɡ nɡười Việt tại Mỹ. Lần đầu đănɡ ký tham ɡia, Randy đượᴄ ɡiải khuyến khíᴄh và đến lần thứ hai thì anh ẵm trọn ɡiải ᴄaᴏ nhất ᴄủa ᴄuộᴄ thi khi trình diễn ᴄa khúᴄ “Lần Đầu ᴄũnɡ Là Lần ᴄuối” ᴄủa nhóm Lê Minh Bằnɡ.

Sau ᴄuộᴄ thi, thеᴏ lời ɡiới thiệu ᴄủa nhạᴄ sĩ Thu Hồ khi đó là thành viên ban ɡiám khảᴏ, Randy nhanh ᴄhónɡ trở thành ᴄa sĩ độᴄ quyền ᴄủa trunɡ tâm âm nhạᴄ Hải Âu. Từ năm 1992, tên tuổi ᴄủa Randy xuất hiện khá nhiều trên ᴄáᴄ sân khấu ᴄa nhạᴄ hải nɡᴏại. Randy và nữ ᴄa sĩ Mỹ Huyền (ᴄᴏn ɡái nhạᴄ sĩ Thu Hồ) trở thành ᴄặp sᴏnɡ ᴄa rất đượᴄ yêu thíᴄh nɡay từ ᴄa khúᴄ đầu tiên hát ᴄùnɡ nhau là “Ai ᴄhᴏ Tôi Tình Yêu”. Thời ɡian ᴄộnɡ táᴄ với trunɡ tâm âm nhạᴄ Hải Âu, Randy đã phát hành 6 album đơn ᴄa và 3 album sᴏnɡ ᴄa với Mỹ Huyền, đượᴄ biết đến với ᴄái tên Hợp Khúᴄ Tình Yêu, với nhữnɡ bản thu âm đến nay vẫn ᴄòn đượᴄ nhiều nɡười tìm nɡhе là Biển Mặn, ᴄhuyện Tình Nɡười Đan Áᴏ, Ônɡ Lái Đò…


Cliᴄk để nghe CD Hợp Khúᴄ Tình Yêu

Tâm sự về niềm đam mê ᴄa hát ᴄủa mình, Randy nói: “Thật ra, làm ᴄa sĩ là ɡiấᴄ mộnɡ mà bấy lâu tôi ấp ủ, rất may nó đã thành sự thật. Sở dĩ tôi ôm mộnɡ làm ᴄa sĩ vì từ bé đến lớn, tôi ɡặp quá nhiều ᴄhuyện buồn, manɡ nhiều tâm sự đắnɡ ᴄay… nhưnɡ khônɡ biết ᴄhia sẻ với ai. Chᴏ nên, tôi thíᴄh hát và muốn đượᴄ đi hát để ᴄó thể trút hết nỗi lònɡ ᴄủa mình vàᴏ từnɡ lời ᴄa tiếnɡ hát” .

Thời ɡian từ năm 1992-1995 là nhữnɡ năm thánɡ đỉnh ᴄaᴏ trᴏnɡ sự nɡhiệp ᴄa hát ᴄủa Randy. Nɡᴏài biểu diễn tại Mỹ, Randy ᴄòn đượᴄ mời đi lưu diễn khắp ᴄhâu Âu và sanɡ tận ᴄả Úᴄ ᴄhâu. Chỉ bằnɡ ᴄa hát, ᴄuộᴄ sốnɡ ᴄủa Randy bất nɡờ đượᴄ mở sanɡ một ᴄhươnɡ mới, hᴏàn tᴏàn xa lạ với quá khứ bị hành hạ, ɡhẻ lạnh, ᴄô độᴄ và phải bươm ᴄhải kiếm tiền. Nhiều khán ɡiả yêu mến ɡiọnɡ hát buồn, và da diết đầy tự sự ᴄủa nam ᴄa sĩ Randy và đặt ᴄhᴏ anh biệt danh “nɡười đàn ônɡ lấy nướᴄ mắt phụ nữ”.

Randy kể, thời đó, thu nhập ᴄủa anh mỗi thánɡ lên tới hơn 20.000 USD. Nɡᴏài Mỹ Huyền, Randy ᴄòn sᴏnɡ ᴄa với Tuấn Vũ và Phượnɡ Mai trᴏnɡ nhiều album ᴄa nhạᴄ. Nhữnɡ ᴄa khúᴄ Randy trình diễn trᴏnɡ thời ɡian này và ᴄả sau này đa phần là nhữnɡ ᴄa khúᴄ buồn, tự sự như ᴄhính nhữnɡ tâm sự và ᴄuộᴄ đời ᴄủa mình, đặᴄ biệt là nhữnɡ ᴄa khúᴄ viết về Mẹ:

Thằnɡ bé âm thầm đi vàᴏ nɡõ nhỏ
Tuổi ấu thơ đã manɡ nhiều âu lᴏ
Nɡày nó sốnɡ kiếp lanɡ thanɡ
Nɡẩn nɡơ như ᴄhim xa đàn
Nɡhĩ mình tủi thân muôn vàn

Mẹ nó qua đời khi ᴄòn tấm nhỏ
Một ᴄhén ᴄơm ᴄhiều nên lònɡ ᴄhưa nᴏ
ᴄuộᴄ sốnɡ đói ráᴄh bơ vơ
Hỏi ai ai ᴄhᴏ nươnɡ nhờ
ᴄhuỗi nɡày tăm tối vô bờ  (Nó – Anh Bằnɡ)


Cliᴄk để nghe Randy hát bài Nó

Hành trình tìm mẹ

Suốt tuổi thơ mình, Randy ᴄó lẽ đã khônɡ nɡừnɡ ᴏán hận mẹ ᴄha đã lỡ sinh anh ra rồi bỏ anh bơ vơ, lạᴄ lõnɡ ɡiữa ᴄuộᴄ đời. Nhưnɡ ᴄànɡ về sau này, ᴄùnɡ với sự từnɡ trải và dày dặn trᴏnɡ đời sốnɡ, tình mẫu tử thiênɡ liênɡ trᴏnɡ trái tim nam ᴄa sĩ ᴄũnɡ thеᴏ đó mà thứᴄ dậy, thôi thúᴄ anh tìm lại mẹ. Nɡười mẹ mà anh nɡhĩ hẳn đã rất đau đớn, khổ sở khi phải từ bỏ đi ɡiọt máu ruột thịt ᴄủa mình, anh tâm sự: “Trᴏnɡ tôi vẫn luôn tin, ᴄhẳnɡ ᴄó nɡười mẹ nàᴏ lại tàn nhẫn đến mứᴄ vứt bỏ ᴄᴏn mình ở vàᴏ thời điểm đó ᴄả, nhưnɡ ᴄó thể dᴏ ᴄhiến tranh hᴏặᴄ áp lựᴄ ɡia đình mà mẹ buộᴄ phải manɡ mình ɡửi vàᴏ ᴄô nhi viện. Tôi khônɡ tráᴄh bà bởi tôi biết ᴄhắᴄ bà ᴄũnɡ khổ tâm lắm khi buộᴄ phải làm như thế”.

Khi nhữnɡ lưu dấu duy nhất về ᴄuộᴄ đời, thân phận ᴄủa Randy tại ᴄô nhi viện Thánh Tâm, Đà Nẵnɡ khônɡ ᴄhᴏ anh biết bất kỳ thônɡ tin nàᴏ về ᴄha mẹ. Cuộᴄ tìm kiếm nɡười thân ᴄủa Randy ɡiốnɡ như một nɡười lần mò đi trᴏnɡ màn sươnɡ mù. Randy đã dùnɡ rất nhiều ᴄáᴄh để tìm mẹ. Anh nhờ bạn bè khán ɡiả thân thiết hỏi thăm tin tứᴄ về nhữnɡ trườnɡ hợp tươnɡ tự như mình với mᴏnɡ ướᴄ, ở đâu đó mẹ anh sẽ nɡhе đượᴄ tin và mẹ ᴄᴏn nhận lại nhau. Mỗi khi nɡhе đượᴄ ᴄâu ᴄhuyện kể nàᴏ ɡiốnɡ với ᴄâu ᴄhuyện ᴄủa mình, Randy đều thu xếp ᴄônɡ việᴄ tìm đến nɡười mẹ mất ᴄᴏn xa lạ để traᴏ ɡửi niềm hy vọnɡ. Với mỗi nɡười mẹ mà anh ɡặp, nhữnɡ ᴄâu ᴄhuyện, nỗi lònɡ ᴄủa họ luôn khiến anh xót xa khi nɡhĩ về mẹ ᴄủa mình. Dẫu vậy, sau ɡần ᴄhụᴄ lần thử ADN, đi lại tốn kém, Randy vẫn ᴄhưa thể tìm ra mẹ ᴄủa mình. Nɡười mẹ mà trᴏnɡ linh ᴄảm ᴄủa mình, anh luôn nɡhĩ bà vẫn ᴄòn sốnɡ, đâu đó trên dải đất hình ᴄhữ S, từnɡ nɡày dằn vặt, mᴏnɡ nɡónɡ tìm lại ᴄᴏn.

Mặᴄ dù khát khaᴏ tìm lại mẹ, nhưnɡ Randy lại khônɡ thiết tha với việᴄ tìm ᴄha, bởi thеᴏ anh: “Với tôi tìm ᴄha khônɡ khó bởi tôi là ᴄᴏn lai và ᴄha tôi là một nɡười da màu. Tôi ᴄhỉ ᴄần đi xét nɡhiệm máu rồi ᴄầm ᴄái kết quả đó lên Hội ᴄựu ᴄhiến binh Mỹ là biết đượᴄ nɡay. Chắᴄ ᴄhắn trên đó vẫn ᴄòn danh sáᴄh nhữnɡ nɡười lính da màu đượᴄ ᴄử sanɡ ᴄhiến trườnɡ Quảnɡ Nam – Đà Nẵnɡ vàᴏ năm tôi sinh và ᴄhỉ ᴄần đối ᴄhiếu kết quả nhóm máu là tìm ra nɡay. Tuy nhiên, nhiều nɡười ᴄᴏn lai như tôi đã tìm ra ᴄha đẻ ᴄủa mình nhưnɡ ᴄó nɡười nhận ᴄᴏn, ᴄó nɡười khônɡ nhận. Bởi ai ᴄũnɡ đã ᴄó một ɡia đình riênɡ. Thế nên tôi khônɡ muốn đi tìm”.

Trᴏnɡ lời tâm sự ᴄủa nɡười ᴄa sĩ đã thành danh, đượᴄ nhiều nɡười nɡưỡnɡ mộ, dườnɡ như đâu đó vẫn ᴄhấp ᴄhới nhữnɡ uẩn ứᴄ rất riênɡ về thân phận mồ ᴄôi ᴄủa mình. Nɡười ᴄha rõ rànɡ đã ở nɡay trên đất Mỹ, ᴄó thể dễ dànɡ tìm ɡặp nhưnɡ Randy lại khônɡ muốn tìm, ᴄó lẽ bởi anh khônɡ tin nɡười ᴄha ấy ᴄòn nhớ đến mình, hay ᴄòn muốn nhận lại mình khi suốt ᴄhừnɡ đó năm anh sốnɡ trên đất Mỹ, ônɡ ᴄhưa một lần tìm lại anh hᴏặᴄ khônɡ biết đến sự tồn tại ᴄủa anh như nhiều trườnɡ hợp ᴄᴏn lai kháᴄ. Anh ᴄhỉ ᴄòn niềm hy vọnɡ mãnh liệt vàᴏ tình yêu ᴄủa nɡười mẹ, nɡười mẹ đã một thân một mình manɡ nặnɡ đẻ đau suốt ᴄhín thánɡ mười nɡày, và ᴄó lẽ đã khổ sở, dằn vặt rất nhiều khi phải rời xa ᴄᴏn. Vậy nên, cho đến nay anh vẫn ᴄứ mải miết đi tìm, dù mất baᴏ nhiêu năm thánɡ, tiền ᴄủa…

Ca sĩ Randy và người vợ thứ 4

Bài: Niệm Quân – nhacxua.vn
Published under copyright license

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng và những ca khúc bất tử: Trộm Nhìn Nhau, Bài Hương Ca Vô Tận, Kinh Khổ…

Trầm Tử Thiêng là một trong những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của dòng nhạc vàng trước năm 1975 với rất nhiều sáng tác được công chúng yêu thích suốt gần 60 năm qua, tiêu biểu là các bài Đưa Em Vào Hạ, Trộm Nhìn Nhau, Bài Hương Ca Vô Tận, Lời Của Mẹ…

Không chỉ được yêu thích với những ca khúc nhạc vàng phổ thông, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng còn nổi tiếng với thể loại nhạc tình ca êm đềm, những ca khúc như Mây Hạ, Mộng Sầu, Một Thời Để Nhớ, Một Thời Uyên Ương, Tưởng Niệm, Kinh Khổ… vẫn còn sống mãi cùng năm tháng.

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng và ca nhạc sĩ Duy Khánh, người đã trình bày thành công nhiều ca khúc Trầm Tử Thiêng

Nhắc đến ca khúc Kinh Khổ, một bài hát nổi tiếng được nhạc sĩ viết chủ yếu chỉ bằng 4 nốt nhạc là Re, Fa, Sol, La (nếu không kể nốt Do xuất hiện 1 lần ở cuối bài hát). Có thể nói trong lịch sử tân nhạc, đó là lần duy nhất có một ca khúc nổi tiếng chỉ được xây dựng cơ bản ở trên 4 nốt nhạc. Cũng vì vậy mà nhịp bài hát đều đều giống như một lời kinh cầu, lời cầu nguyện cho quê hương bị tan hoang vì lửa binh.

Đầu thập niên 1970, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cũng tham gia phong trào du ca và đã phát hành băng nhạc mang tựa đề Tình Ca Dọc Đường để giới thiệu những ca khúc thể loại này với tiếng hát Thanh Lan.

Có thể nói dòng nhạc đa dạng của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đã chinh phục được mọi giới và tầng lớp khán giả, từ bình dân đại chúng cho đến giới trí thức.

Không chỉ có vậy, cùng với nhạc sĩ Anh Bằng thì Trầm Tử Thiêng là 1 trong 2 nhạc sĩ có sức sáng tác mạnh mẽ nhất vào thời kỳ sau năm 1975. Trong vòng 15 năm kể từ khi rời quê hương năm 1985, ông đã sáng tác thêm hàng trăm ca khúc, tiêu biểu nhất là Bài Tình Ca Mùa Đông, Đêm Nhớ Về Sài Gòn, Mười Năm Yêu Em, Gửi Em Hành Lý, Đò Dọc, Tưởng Không Còn Nhìn Thấy Nhau, Người Ở Lại Đưa Đò…

Cho đến lúc gần cuối đời, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng vẫn cùng với một nhạc sĩ thế hệ sau này là Trúc Hồ hợp soạn nên nhiều bài nhạc trẻ như Cơn Mưa Hạ, Đã Qua Thời Mong Chờ…

Lúc sinh thời, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng nói rằng hầu hết những bài hát của ông, chủ yếu là viết về tình yêu, thân phận, có xuất phát từ cuộc sống tình cảm riêng tư của ông đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm.

Cố nhạc sĩ nhạc sĩ Anh Bằng cũng đã chia sẻ: “Trầm Tử Thiêng có một khả năng đặc biệt, đó là khả năng nhậy bén của một nhạc sĩ viết được những ca khúc giá trị cho chiến dịch. Trầm Tử Thiêng không chỉ là kẻ viết sử bằng âm nhạc, mà còn chính là nhân chứng của từng giai đoạn lịch sử đa đoan, hàm hỗn của đất nước.”

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có tên thật là Nguyễn Văn Lợi, sinh năm 1937 tại Quảng Nam (trên giấy tờ ghi năm 1940). Ông bắt đầu ca hát từ năm lên 10 ở các thôn quê miền Nam Việt Nam từ 1945 đến 1949, sau đó theo gia đình lên Sài Gòn học trung học. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đã bắt đầu sáng tác từ khi còn đi học, khoảng năm 1955-1956, nhưng thuở đó không có cơ hội được phổ biến tác phẩm, phải chờ đến 10 năm sau đó, ông mới có dịp trình làng ca khúc đầu tiên là Lời Của Mẹ (Có tên khác là Rồi Hai Mươi Năm Sau, viết năm 1957 cùng với Tấn An). Ca khúc này còn có phần 2 là Lời Của Con, nhưng đã bị tuyệt bản.

Năm 1958, Trầm Tử Thiêng tốt nghiệp trường Sư phạm và bắt đầu đi dạy học. Năm 1966, ông gia nhập quân ngũ, phục vụ ngành tâm lý ᴄhιến, bắt đầu sáng tác nhiều ca khúc về đời lính như Mưa Trên Poncho, Quân Trường Vang Tiếng Gọi…

Từ năm 1970, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng làm việc cho chương trình Phát Thanh Học Đường chung với các nghệ sĩ, nhạc sĩ lừng danh là Lê Thương, Hùng Lân, Vĩnh Bảo, Tống Ngọc Hạp, Xuân Điềm, Đắc Đăng…

Cũng vào lúc này, ông đã trải qua một câu chuyện tình trắc trở trong một thời gian rất dài. Người phụ nữ duy nhất gắn với cuộc đời ông là bà Đỗ Thái Tần, là một tiểu thư con nhà giàu. Họ yêu nhau từ thời trẻ, nhưng sự môn đăng hộ đối đã nhiều lần ngăn cản họ đến với nhau. Đến năm 1970, khi nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đã 33 tuổi thì họ mới chính thức chung sống với nhau, nhưng lúc này bà Tần đã có 2 con với người chồng trước. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng vẫn chấp nhận và thương như con ruột của mình.

Hạnh phúc chỉ được vài năm thì biến cố 1975 ập đến, lần này là thời cuộc chia lìa đôi người, bà Tần di tản, Trầm nhạc sĩ ở lại, lặng lẽ tiễn chân vợ và hai con chia phôi biền biệt, cách một đại dương. Cuộc tình lại đi vào ngõ cụt, người ở lại nhớ nhung dày vò, tưởng chừng bị chìm đuối. Sau đó, vì những nỗ lực vượt biển nên có một thời gian nhạc sĩ bị ở tù. Đến năm 1985 được tự do, ông đã sáng tác ca khúc Mười Năm Yêu Em để nói về cuộc tình trắc trở của mình để kỷ niệm tròn 10 năm xa vợ:

“Mười năm gian nan, ta ngỡ mình sắp đuối”

Cùng trong năm 1985, đến cuối cùng thì họ cũng được gặp lại sau tròn 10 năm chia ly. Lúc đó nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng được ca sĩ Thanh Thúy bảo lãnh sang Hoa Kỳ. Nhưng cuộc đời thật trớ trêu, 10 năm dâu bể trôi qua, ở trên đất khách, người xưa đã không thể chờ đợi và đã tìm được một tổ ấm yên vui khác.

Họ gặp lại nhau với tư cách là người cũ, và nhạc sĩ đã sáng tác Bài Tình Ca Mùa Đông như là để từ biệt mối tình tuyệt vọng. Từ đó trở về sau, ông không bao giờ còn tay trong tay với bất kỳ bóng hồng nào nữa…

Để rồi sắp gặp nhau, mới biết em không đợi nữa
Trời lại thêm mùa đông, cho tuyết than trên đầu non
Kỷ niệm giăng ngập đêm nay trong mưa
anh hứng nốt những giọt cuối mùa.

Sau khi sang tới Mỹ, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng trở lại sáng tác mạnh mẽ, cộng tác với nhiều trung tâm băng đĩa, đặc biệt là gắn bó chặt chẽ với trung tâm Asia cho tận đến khi qua đời năm 2000, hưởng thọ 63 tuổi.

Sau đây mời các bạn nghe lại những sáng tác tiêu biểu nhất của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng:

Đưa Em Vào Hạ

Bài hát Đưa Em Vào Hạ được nhạc sĩ viết theo một hình thức tương đối khác biệt so với những ca khúc nhạc vàng khác, đó giống như là một câu chuyện kể hành trình, một cuộc du hành trong tâm tưởng. Tác giả dùng 2 nhân vật “anh” và “em” để dẫn dắt người nghe nhạc đi dọc non sông.


Click để nghe Duy Khánh hát Đưa Em Vào Hạ trước 1975

Mùa Hè năm nay anh sẽ đưa em vòng khắp cả hý trường.
Nghe người ca bài ca lời thương lời nhớ.
Chén tiễn chén đưa cho rã rời một đêm hẹn ước.
Rứt áo tìm vui nơi chiến trường có bạn có thù.

7000 Đêm Góp Lại

Bài hát 7000 Đêm Góp Lại, có nội dung ca ngợi tuổi đôi mươi của những người trẻ đã lớn lên trong thời ly loạn:

Bảy ngàn đêm góp lại thành lời tường tận tình đời.
Qua bảy ngàn đêm, những người trai thành sử rạng ngời.
Những người em thấm ngọt son môi.

Vì sao là 7000 đêm? Vì qua 7000 đêm cũng là gần tròn 20 năm, để những người trai thành sử rạng ngời và những người em thấm ngọt son môi. Qua 7000 đêm, những chàng trai cô gái sẽ trưởng thành và gánh vác thế hệ. Nhưng cũng qua hai mươi năm đó, những suy tư thời cuộc đương thời cũng làm cho họ có những sự già dặn trong suy nghĩ, với những trăn trở khôn nguôi.


Click để nghe Phương Dung hát 7000 Đêm Góp Lại trước 1975

Trong lời đề tựa cho bài hát, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng ghi: 7000 đêm, gần hai mươi năm. Thời gian đó đủ cho ta sự trường thành, đủ cho ta sự… già nua…

Lời Của Mẹ (Rồi Hai Mươi Năm Sau)

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng viết nhạc từ rất sớm, từ khi còn ở trường trung học, nhưng thuở đó không có cơ hội được phổ biến tác phẩm. Phải chờ đến 10 năm sau đó, ông mới có dịp trình làng ca khúc đầu tiên là Lời Của Mẹ (Có tên khác là Rồi Hai Mươi Năm Sau, viết năm 1957 cùng với Tấn An). Ca khúc này còn có phần 2 là Lời Của Con, nhưng đã bị tuyệt bản.

Bài hát được diễn tả như là lời ru của một người mẹ tuổi đời 20, sinh con trong lời loạn, vợ xa chồng, con xa cha. Qua lời hát ru của người mẹ,

Con ơi à ơi
Đây là giấc ngủ ban đầu
Mẹ ru con, bên ngoài gió thổi năm non
Hai mươi tuổi đời, mẹ sinh con yêu dấu à ơi…


Click để nghe Thanh Tuyền hát Lời Của Mẹ trước 1975

Bài Hương Ca Vô Tận

Trước nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, hình như chưa từng có ai sử dụng chữ Hương Ca trong tên bài hát Bài Hương Ca Vô Tận để nói về những lời hát quê hương. Đó không phải là một bài hương ca thông thường, mà là một bài hương ca vô tận.

Bài Hương Ca Vô Tận đã từng được nhiều danh ca nhạc vàng cất lên tiếng hát, điển hình là Duy Khánh, Hoàng Oanh, hay Thanh Tuyền, nhưng nó được yêu thích nhất bởi một danh ca khác nữa, một đệ nhất danh ca, đó là Thái Thanh. Bà đã từng nói về bài hát này như sau:

“Khi nói chuyện với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng tôi mới biết ý của ông trong những lời ca. Trong bài có những câu như “Hát nữa đi hương…”, nhiều khán giả tưởng “hương” là tên một người con gái, nhưng có nói chuyện với ông mới biết chữ “hương” là ông muốn nói đến Quê Hương”.


Click để nghe Thái Thanh hát Bài Hương Ca Vô Tận trước 1975

Hát nữa đi Hương hát điệu nhạc buồn điệu nhạc quê hương.
Hát nữa đi Hương hát lại bài ca tiễn anh lên đường.
Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu,
cuộc phân ly may lắm thì qua mau
Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ.

Trộm Nhìn Nhau

Ca khúc Trộm Nhìn Nhau được chia làm 3 phần, để cho ca sĩ “nhìn trộm” 3 người khác nhau. Đó là nhìn trộm em, nhìn trộm anh, và nhìn trộm mẹ.

Vì sao phải nhìn trộm? Có lẽ vì như vậy thì mới thấy được người yêu thương của mình trong một hình tượng tự nhiên nhất, không hoa mỹ, không hào nhoáng.

Đôi khi trộm nhìn em
Xem dung nhan đó bây giờ ra sao


Click để nghe Hoàng Oanh & Thanh Phong hát Trộm Nhìn Nhau trước 1975

Trong dòng nhạc rất đa dạng về thể loại và chủ đề của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, không thể không nhắc đến nhạc viết về mùa Xuân với 2 ca khúc tiêu biểu là Ta Đã Gặp Mùa Xuân (viết chung với Nhật Ngân) và Mùa Xuân Trên Cao:

Anh đã thấy mùa xuân trong lòng chị
Tôi đã gặp mùa xuân trong mắt em
Chị hân hoan say đêm dài mộng mị
Em cười vui thơm khói pháo bên thềm


Click để nghe Sơn Ca hát Ta Đã Gặp Mùa Xuân trước 1975

Trời bây giờ trời đã sang Xuân
Anh và mai ngủ bên bìa rừng
Trở giấc ba mươi mộng ảo
Ngày thơ vẫn đẹp vô cùng
Nếu xuân này môi em còn hồng.


Click để nghe Dạ Hương hát Mùa Xuân Trên Cao trước 1975

Sau biến cố tang thương năm 1968 tại Huế, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đã tiên phong viết về cuộc đời và phận người tại vùng đất cố đô, đó là Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy và Những Con Đường Trắng (thơ Tô kiều Ngân).

Ngày nào cầu đã đưa anh qua phố tìm em
Cầu đã đưa ta sang chỗ hẹn nhau
Cầu tha thiết khuyên anh giữ trọn tình đầu
Nước dưới cầu vẫn trong veo
Như cuộc tình duyên nghèo…


Click để nghe Hoàng Oanh hát Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy trước 1975


Click để nghe Hương Lan hát Những Con Đường Trắng trước 1975

Tôn Nữ Còn Buồn

Bài hát được nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng viết cho xứ Huế nhân một mùa ngập lụt:

Lụt về làm sạch nương ta
Ai đi ngăn nổi gió mưa của trời
Ðường mô Tôn Nữ sang chơi
áo trắng quên cười nát dạ sông Hương…

Có thể thấy dù sáng tác mang một đề tài mang tính thời sự, nhưng bài hát vẫn có nét lãng mạn ca ngợi người Tôn Nữ, người con gái Huế thướt tha vương buồn.


Click để nghe Hương Lan hát Tôn Nữ Còn Buồn trước 1975

Con Quốc Việt Nam

Bài hát Con Quốc Việt Nam có thể xem là tiêu biểu nhất trong thể loại ca khúc viết về đất nước trong một giai đoạn đau đớn vì thời cuộc.

Con quốc Việt Nam ca bài sông núi hờn căm
Từ khi từ khi quốc kêu điêu tàn, thương người ở tận biên ngàn…


Click để nghe Hà Thanh hát Con Quốc Việt Nam trước 1975

Cách Biệt

Ý nghĩa của bài hát này nghĩa là cách biệt thế hệ giữa 2 nhân vật trong bài hát: Người 16, kẻ 30, một bài hát nói về tình yêu, nghĩa đồng bào, là tâm sự của 1 ngươi di cư gửi đến cô thiếu nữ bản xứ.

Em với ta đâu thành hai thế hệ
Dù em tròn mười sáu, ta ba mươi
Em với ta nếu là hai thế hệ
Sao cùng đang sống giữa nước non này


Click để nghe Duy Khánh hát Cách Biệt trước 1975

Vùng Trước Mặt

Một ca khúc viết về đời lính


Click để nghe Duy Khánh hát Vùng Trước Mặt trước 1975

Ngày Xưa Lên 5 Lên 3

Với nhiều người yêu nhạc vàng, ca khúc “Ngày Xưa Lên 5 Lên 3” đã gắn với một thời kỷ niệm xa xưa. Bài hát có những hình ảnh gợi về thời quá khứ, về tuổi ấu thơ tươi đẹp lúc còn yêu trăng yêu hoa với những kỷ niệm ngọc ngà. Bài hát này được 2 nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng và Duy Khánh hợp soạn.


Click để nghe Duy Khánh & Thanh Lan hát Ngày Xưa Lên 5 Lên 3 trước 1975

Ngày xưa lên năm lên ba
Tuổi thơ yêu trăng yêu hoa
Giữa đêm mơ hoa mơ trăng vào nhà
Mình thường hay chơi quanh cây đa
Có em em là Hằng Nga, có anh anh là Cuội già

Trong Cơn Hy Vọng

Tôi vẫn tin rằng em còn đó chứ đi đâu
Dù với cuộc đời bao bể cả
biển nương dâu đoạn trường qua cầu

Tôi vẫn tin mãnh liệt của ngày mai
Thái bình tôi về đây với em
trọn mộng giấc dài

Một ca khúc hay nhưng không nhiều người biết đến, và cũng có ít người hát lại. Cùng nghe lại phiên bản thu âm trước 1975 của Thái Châu và Phương Dung:


Click để nghe Thái Châu và Phương Dung hát Trong Cơn Hy Vọng trước 1975

– – –

Ngoài những ca khúc nhạc vàng nổi tiếng này, ngay từ trước năm 1975 nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đã sáng tác nhiều ca khúc thuộc thể loại nhạc tình ca không phải là nhạc đại chúng:

Tưởng Niệm

Trầm Tử Thiêng viết Tưởng Niệm năm 1972, năm của Mùa Hè Đỏ Lửa kinh hoàng. Những phận người ngã xuống như rơm như rạ. Những ai oán, xót xa thống thiết trên phận người, trên tình người và cả trong tình yêu đã được người nhạc sĩ 35 tuổi nén lại, dồn chặt trong nội tâm sâu thẳm “khép kín” của mình, không thể chia sẻ, không thể kêu gào, chỉ có thể bùng nổ trong âm nhạc.

Đúng như tên gọi của ca khúc, “Tưởng Niệm” là dành để tưởng niệm. Nhưng không chỉ để tưởng nhớ người nằm xuống mà để tưởng niệm đời sống, tưởng niệm tình yêu đã mất đi, thứ của cải vô giá mà con người vừa chợt nhận ra trong những giây phút cuối cùng hiện diện trên đời sống. Toàn bộ ca khúc giống như một thước phim quay chậm, soi rọi tâm tư thầm kín của những số phận con người trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời.


Click để nghe Thanh Lan hát Tưởng Niệm trước 1975

Ta nghiêng tai nghe lại cuộc đời,
thì hãi hùng hoàng hôn trờ tới
Ta nghiêng vai soi lại tình người,
thì bóng chiều chìm xuống đôi môi 

Kinh Khổ

Bài hát được sáng tác chủ yếu chỉ bằng 4 nốt nhạc là Re, Fa, Sol, La (nếu không kể nốt Do xuất hiện 1 lần ở cuối bài hát). Có thể nói trong lịch sử tân nhạc, đó là lần duy nhất có một ca khúc nổi tiếng chỉ được xây dựng cơ bản ở trên 4 nốt nhạc. Cũng vì vậy mà nhịp bài hát đều đều giống như một lời kinh cầu, lời cầu nguyện cho quê hương bị tan hoang vì lửa binh:

Mẹ ngồi nguyện cầu hằng bao đêm
Lời kinh vọng xa thật êm đềm
Mẹ cầu cho con vượt qua ngày tròn
Mẹ cầu cho em tuổi trời xanh còn nguyên đừng biến mất


Click để nghe Khánh Ly hát Kinh Khổ trước 1975

Tình Cuối Tình Đầu

Một bài hát mang đầy tâm trạng lúc đêm về:

Đêm lắng sâu cho hồn rơi vỡ từng cơn mưa
Tình yêu đó phải chăng người
Từ đêm nay sao bơ vơ lạ đời…


Click để nghe Khánh Ly hát Tình Cuối Tình Đầu trước 1975

Mộng Sầu

Tình mình bây giờ như mưa trên sông
Mưa đầu sông, mưa cuối sông
Tình mình bây giờ như cơn gió đông,
Gió đầu đông, gió cuối đông


Click để nghe Thanh Lan hát Mộng Sầu trước 1975

Hối Tiếc

Còn gì nữa đâu mà bảo nhau đợi chờ
Tình em hút sâu cho đến muôn đời sau
Còn gì nữa đâu mà khuyên nhau hẹn hò
Tình như vó câu một bước trăm ngàn sầu


Click để nghe Lệ Thu hát Hối Tiếc trước 1975

Bài: Đông Kha
Bản quyền bài viết của nhacxua.vn
Published under copyright license

Hình ảnh hiếm về Sài Gòn 100 năm trước (Phần 1)

Mời các bạn xem lại những hình ảnh được chụp tròn 100 năm trước ở Sài Gòn (khoảng thời gian 1921-1922). Qua những tấm ảnh đặc biệt này, bánh xe thời gian như là được xoay ngược lại để chúng ta có thể nhìn được về một thế kỷ trước và ôn cố tri tân.

Tác giả của phần lớn những tấm ảnh trong bài này là Ludovic Crespin – nhà nhiếp ảnh nổi tiếng nhất ở Sài Gòn vào thời điểm đó. Từ khoảng năm 1910, Crespin đã mở một tiệm nhiếp ảnh ở số 136 của đường Catinat.

Đó là tiệm ảnh mang tên Photo Studio trong hình ở bên trên, nằm ngay sát bên cạnh Continental Palace trên đường Catinat (sau này là đường Tự Do). Đây là một cơ sở nhiếp ảnh lâu đời, từ cuối thế kỷ 19 thuộc sở hữu của nhà nhiếp ảnh Louis Talbot. Sau đó Louis Talbot rời Sài Gòn thì giao cửa tiệm lại cho người làm thuê thân tín là Jean-Pierre Trong. Sang đến đầu thế kỷ 20, tiệm ảnh này của bà Terray, sau đó nhượng lại cho Ludovic Crespin.

Bên trên là một hình ảnh của Ludovic Crespin chụp cảnh lễ hạ thuỷ tàu chở hàng (cargo) Albert Sarraut tại xưởng đóng tàu Ba Son ngày 16-4-1921.

Tàu Albert Sarraut được đặt theo tên của Toàn quyền Đông Dương, người đã có hai nhiệm kỳ nắm quyền, lần đầu là 1911-1914, lần 2 từ 1917 đến 1919.

Đây là con tàu bọc thép dài 90m, rộng 12m, trọng lượng 3100 tấn, được xưởng Ba Son chế tạo theo mô hình Marie – Louise, nghĩa là hoàn thành theo kiểu càng nhanh càng tốt (có lẽ vì vậy mà tàu không đảm bảo về chất lượng, thường bị hư hỏng khi sau khi được đưa vào sử dụng).

Tàu Albert Sauraut là con tàu đầu tiên trong 3 con tàu nổi tiếng được đóng là Việt Nam, lần đầu tiên ở đây đóng được con tàu hiện đại như vậy. Tuy nhiên nồi hơi của tàu (thiết bị sử dụng năng lượng của chất đốt để cung cấp hơi nước cho động cơ) thì được nhập từ Pháp. Sau khi con tàu được hoàn thành thì doanh nhân người Việt nổi tiếng Bạch Thái Bưởi là người đầu tiên thuê được tàu Albert Sarraut.

Bạch Thái Bưởi là nhà tư sản nổi tiếng kinh doanh trong lĩnh vực hàng hải, là một trong những người giàu nhất Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Hình bên trên là cổng thành Ông Dèm, ngày nay vẫn còn, nằm ở 2 bên đường Đinh Tiên Hoàng đoạn giao với đường Lê Duẩn – Tô Đức Thắng, nay 1 bên là một phần của trường ĐH KHXN&NV, một bên là khoa Dược, trường ĐH Y Dược.

Vị trí này từng là cổng thành Gia Định (thành Phụng) của triều Nguyễn, được vua Minh Mạng cho xây dựng sau khi dẹp loạn Lê Văn Khôi và san bằng thành Quy (thành Phiên An) được vua Gia Long xây trước đó.

Khi đánh chiếm Gia Định, quân Pháp hạ thành Phụng và hỏa thiêu tan tành. Trên đống gạch vụn của phế thành, người Pháp đã xây dựng 1 thành mới có quy mô bằng 1/2 của thành Gia Định, nằm trong phạm vi thành cũ, dân Sài Gòn gọi đây là thành Ông-Dèm, đọc trại từ chữ Pháp onzième (nghĩa là thứ 11). Sở dĩ như vậy là do thành này là nơi đồn trú của Trung đoàn bộ binh thuộc địa thứ 11 của Pháp.

Thành Ông Dèm gồm 3 dãy nhà, ngoài 2 dãy nhà bên ngoài (như trong hình) thì có thêm 1 dãy ở bên trong khi đi vào cổng.

Hình này là tòa nhà nằm bên trong thành Ông-Dèm, doanh trại Trung đoàn 11 Bộ binh Thuộc địa. Sau năm 1955, tòa nhà này là 1 trong 3 khối của thành Cộng Hòa. Đến năm 1963, thành Cộng Hòa bị phế bỏ, tòa nhà trong hình được cắt ra làm đôi để đường Đinh Tiên Hoàng đi xuyên qua chính giữa, một bên tòa nhà thành trụ sở trường Đại học Văn Khoa, bên còn lại là trường ĐH Canh Nông. Lưu ý là trước năm 1955, khi thành Cộng Hòa vẫn còn thì đường Cường Để (nay là Tôn Đức Thắng) không nối liền với đường Đinh Tiên Hoàng như hiện nay, mà bị ngăn cách bởi thành Cộng Hòa. Nói cách khác, tòa nhà trong hình bên trên nằm chắn ngang giữa hai đường Cường Để và Đinh Tiên Hoàng.

Phòng Canh Nông ở góc đường Chasseloup Laubat – Massiges (tên thường thời điểm năm 1922. Từ năm 1955-1975, đây là trụ sở Cảnh Sát Quốc Gia ở góc đường Hồng Thập Tự – Mạc Đĩnh Chi, nay là góc Nguyễn Thị Minh Khai – Mạc Đĩnh Chi.

Phòng Thương Mại Sài Gòn trên Quảng trường Rigault de Genouilly (nay là Công trường Mê Linh). Tòa nhà này nằm khoảng giữa hai đầu đường Hồ Huấn Nghiệp và Phan Văn Đạt (thời Pháp là Rue Turc và Rue Doudart de Lagrée), ngày nay vẫn còn và là một quán bar. Tòa nhà này được xây dựng vào năm 1867, là tòa nhà cơ quan quản lý thương mại đầu tiên của Sài Gòn. Đến năm 1927, ᴄhính qᴜyền thuộc địa qᴜyết định xây 1 tɾụ sở ρhònɡ thươnɡ mại lớn hơn, hᴏành tɾánɡ hơn ở nɡay bên ɾạᴄh Bến Nɡhé νà khánh thành năm 1928, đượᴄ thiết kể ρhᴏnɡ ᴄáᴄh tân ᴄổ điển, ᴄó ᴄhút ảnh hưởnɡ từ ᴄả kiến tɾúᴄ Chăm νà Khmеɾ, đó chính là tòa nhà Hội trường Diên Hồng – trụ sở Thượng Nghị Viện của thời đệ nhị cộng hòa (nay là sở giao dịch chứng khoán).

Tòa nhà này thường được biết đến với tên gọi Dinh Thượng Thơ, nằm ở góc đường Catinat – Lagrandiere (Tự Do – Gia Long), nay là Đồng Khởi – Lý Tự Trọng.

Ngày nay, tòa nhà này nằm ở địa chỉ số 59-61 Lý Tự Trọng, trụ sở của Sở Thông Tin – Truyền Thông. Tòa nhà được xây chỉ vài năm sau khi Pháp chiếm được Nam Kỳ, là trụ sở Nha giám đốc Nội vụ, có vai trò điều hành trực tiếp của các thanh tra sự vụ bản xứ về toàn bộ vấn đề dân sự, tư pháp và tài chính của thuộc địa.

Đến năm 1888, chức năng của cơ quan này được nhập vào Thơ Ký Thống đốc Nam kỳ ở góc đường Catinat – d’Espagne (nay là Lê Thánh Tôn) sát bên Dinh xã Tây (Tòa Đô Chánh), bản đồ năm 1890 cho thấy một tòa nhà quy mô lớn hơn được xây dựng như hiện nay, thành một khối nhà liền kề với Dinh Xã Tây. Vào đầu thế kỷ 20, cơ quan này còn có tên là Văn phòng Chính phủ.

Từ sau năm 1955, nơi này là trụ sở Bộ Kinh tế của chính quyền VNCH.

Đường quai de Belgium (nay là đại lộ Võ Văn Kiệt) nhìn về phía cột cờ Thủ Ngữ. Bên trái là kho kiểm hàng hóa của Sở quan thuế, nằm ở vị trí sát cần Khánh Hội ngày nay.

Hình này chụp cùng một hướng với hình bên trên, nhưng ở góc nhìn xa hơn, có thể thấy được lối vô cầu Khánh Hội ở bên tay phải hình (chỗ cột đèn). Hình này chụp góc đường quai de Belgium (Bến Bỉ Quốc – nay là Võ Văn Kiệt) và đường Georges Guynemer (nay là Hồ Tùng Mậu). Thời đó cầu Khánh Hội cũ không nối qua bến Bạch Đằng như hiện nay, mà nối đường Georges Guynemer với đường Jean-Eudel (nay là Hồ Tùng Mậu – Nguyễn Tất Thành) để sang Cảng Sài Gòn.

Ở giữa hình là xe buýt Lộ trình A: Tân Định – Xưởng Ba Son – Chợ Sài Gòn.

Một hình khác có cột cờ Thủ Ngữ, đường trong hình lúc này mang tên là quai Le Myro de Vilers, đến 1955 đổi tên thành Bến Bạch Đằng).

Cầu Mống bắc qua rạch Bến Nghé, là cây cầu xưa nhất còn lại cho đến nay vẫn giữ nguyên được kiến trúc nguyên thủy.

Cây cầu bằng thép kiên cố này được công ty vận tải hàng hải Messageries Maritimes bỏ vốn xây dựng vào năm 1893, dài 128m, rộng 5.2m, lề bộ hành rộng 0.5m, có kiểu dáng mang phong cách cổ điển Âu châu, trông giống cái vòng mống nên dân gian gọi là cầu Mống.

Y viện Phước Kiến được cộng đồng người Hoa thành lập năm 1909 ở Chợ Lớn, chữa bệnh theo phương pháp Đông y. Đến năm 1959, y viện mở rộng thực hiện điều trị theo phương pháp Âu – Mỹ và đổi tên thành bệnh viện Phước Kiến. Từ 1978 đến nay, bệnh viện lấy tên là bệnh viện Nguyễn Trãi.

Thời điểm này, Y Viện Phước Kiến nằm trên đường Cây Mai, sau đó đường đổi tên thành Marechal Joffre, đến năm 1955 đổi tên thành Nguyễn Trãi. Trước khi đại lộ Gallieni (Trần Hưng Đạo) được xây dựng vào khoảng cuối thập niên 1910 thì đường Cây Mai là con đường duy nhất nối Sài Gòn – Chợ Lớn, thời xưa gọi là đường Cái Quan hướng đi về lục tỉnh.

Quân Pháp diễu binh trên đại lộ Norodom (nay là đường Lê Duẩn), trong hình là loại xe tăng hạng nhẹ.

Một số hình ảnh Nhà Thờ Đức Bà 100 năm trước:

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn bắt đầu được xây dựng năm 1877 và hoàn thành cơ bản trong 3 năm, có tên chính thức là Vương cung thánh đường Chính toà Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, tên tiếng Anh là Immaculate Conception Cathedral Basilica, tên tiếng Pháp: Cathédrale Notre-Dame de Saigon. Đây được xem là một “phiên bản kiến trúc” của Nhà Thờ Đức Bà Paris.

Từ gần 150 năm qua, Nhà Thờ Đức Bà trở thành một trong những biểu tượng không chính thức của Sài Gòn. Trong các bộ tranh ảnh giới thiệu Sài Gòn cả xưa và nay không bao giờ thiếu được sự hiện diện của kiến trúc tôn giáo này. Vì vậy có thể nói “Vương Cung Thánh Đường” là niềm tự hào chung của người Sài Gòn, chứ không phải của riêng người Công Giáo nữa.

Hình ảnh bên trong nhà nguyện của Nhà Thờ

Mặt trước của Nhà Thờ là đầu đường Catinat. Trước nhà thờ là một quảng trường, thời Pháp có tên là Place de la Cathédrale (Quảng trường Nhà Thờ Lớn), ở giữa chính quyền thuộc địa cho dựng bức tượng đồng thể hiện hình tượng giáo sĩ Bá Đa Lộc che chở Hoàng tử Cảnh. Tượng này tồn tại từ năm 1903 đến tháng 10 năm 1945 thì bị phá đi, để lại bệ tượng bỏ trống. Đến năm 1959, tín đồ Công giáo Rôma dựng tượng Đức Bà Hòa Bình tại đây, từ đó khu đất này còn được gọi Công trường Hòa Bình.

Mời các bạn chờ xem phần tiếp theo của loạt bài viết về khung cảnh Sài Gòn 100 năm trước.

Bài: Đông Kha – fb.com/1xuaxua
Hình ảnh của manhhai flickr

Bài viết xưa năm 1934 – Bảo tồn lễ Tết cổ truyền

Bài viết sau đây đã được viết vào khoảng trên dưới 90 năm trước, nói về một vấn đề mà cả thế kỷ qua cứ được người ta nhắc đi nhắc lại mỗi khi Tết đến Xuân về, đó là việc bảo tồn Tết cổ truyền, là việc có nên bỏ Tết Nguyên Đán hay không.

Có người đã viện vì lẽ xa xỉ, mất thì giờ mà bảo nên bỏ cái lễ Tết Nguyên Đán. Vậy ý kiến ấy nên theo hay không? Nên là vì lẽ gì? Không nên là vì lẽ gì?

Tết Nguyên Đán là một lệ cổ mà nước Việt Nam ta gìn giữ kể đã mấy ngàn năm rồi.

Gần đây, có người thấy ngày Tết người ta ăn tiêu xa xỉ quá thì cho là ngày vô ích, bảo nên bỏ đi. Bỏ đi cũng phải, vì ngày Tết cũng như bao nhiêu ngày khác trong năm, mà làm gì cho mọi người nô nức tiệc tùng, rượu chè linh đình, biết bao là tốn công của, đời là đời cạnh tranh, người kiệm của hiếm, nào có dư dụ đâu như đời cổ mà cũng “ăn Tết” cho nghèo dân, nghèo nước. Giữ Tết cũng không ích gì cho non sông đất nước, mà bỏ Tết nghĩ cũng không hại gì cho non sông đất nước.

Giữ lại hay bỏ đi thì non sông đất nước cũng vẫn là non sông đất nước này. Tết nó không đủ làm cho hơn thua được gì đâu, mà bỏ đi thì người ta khỏi phải một lần ăn tiêu quá độ “gánh vàng đem đổ sông Ngô”, chẳng hay là dư? Nếu Tết nó chỉ có ngần ấy chuyện thì cũng nên bỏ phăng nó đi chớ còn tiếc thương làm gì nữa! Nhưng nói ra rồi nghĩ lại, Tết chẳng phải chỉ có cái hình thức ấy mà thôi, Tết nó còn là cái tinh thần của nó.

Không! Tết nào phải là ngày vô nghĩa, ngày Tết nào phải là ngày để ăn tiêu xa xỉ, chơi bời quá độ. Ngày Tết đối với dân tộc Việt Nam là một ngày đầm ấm vui vầy, có hàm một cái ý nghĩa rất là thâm trầm cao thượng. Dùng sức óc tưởng tượng một chút thì thấy cuộc đời là một cuộc lữ hành, nếu cuộc lữ hành ấy mà vô cùng vô tận “chân trời góc bể, biết đâu là nhà”, mà phải cái tình cảnh “lỡ độ đường” thì tất sinh biết bao nhiêu lòng thất vọng. Ở đời mà đã đến thất vọng thì còn gì là sinh thú nữa. “Đã không biết sống làm vui. Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương!” thì đời cũng không còn gì là đời nữa. Nên cổ nhân mới đặt ra một năm có một lần Tết. Một lần Tết tức là một “độ đường” để người đi trong cuộc đời, dần dần một độ qua một độ, cho khỏi sinh buồn chán. Ngày Tết tức là ngày để ghi cho biết rằng cuộc đời người ta đã đi khỏi được một độ trong con đường dài vô hạn vô cùng. Hết một độ đường cũ, qua một độ đường mới, đường dẫu dài mà hy vọng không cùng; khách lữ hành vẫn vui bước, bước lên quãng đường cảnh mới…

Ngày Tết lại là ngày cúng giỗ, phụng sự tổ tiên để kẻ con cháu nhớ lại cái công đức “cây cội nước nguồn”. Có người vì mưu lấy hạnh phúc cho cuộc đời phải xa cách quê hương, nếu không có ngày Tết, này nặng nghĩa tôn giáo gia tộc khiến cho lòng khắc khoải vì tiếng thiêng liêng của hồn nòi giống gọi về, về cho cha con, anh em, họ hàng sum họp vui vầy để thoả tấm lòng du tử, thì đời người còn gì là thú vị nữa.

Một ngày đã có ý nghĩa hay như thế mà lại nỡ huỷ đi hay sao? Xét về hình thức thì nên bỏ, bỏ đi là phải, nhưng xét về tinh thần thì lại nên bảo tồn lắm. Tết, nó có điều dở là tự mình làm cho nó dở, chơi bời quá độ, ăn tiêu xa xỉ là tự mình, chứ Tết nào bảo ta như thế!

Bỏ hình thức mà giữ tinh thần, Tết há không phải là một cái tệ hay đáng nên bảo tồn lắm ru? Bỏ Tết là huỷ đi mất một cái phong vị rất hay riêng của nước Việt Nam, trừ nước Việt Nam ta, không có nước nào có cái phong vị ấy, cái phong vị khiến cho quả tim người và quả tim trời đất như đập cùng một nhịp.

Tác giả: T.M
Đã đăng trong tập Lời Hoa do Đông Hồ nhuận sắc, Tri Đức học xã xuất bản năm 1934