Nhạc sĩ Lê Uyên Phương và những ca khúc bất tử viết cho chuyện tình Lê Uyên & Phương

Trong làng nhạc miền Nam trước năm 1975, dòng nhạc Lê Uyên Phương có một chỗ đứng độc tôn, khác biệt với tất cả, một loại nhạc của sự cuồng mê, của những đôi tình nhân quấn quít và rã rời bên nhau. Những bài hát của nhạc sĩ Lê Uyên Phương rất nồng nàn nhưng cũng đầy khắc khoải vì những lo âu về thời cuộc, và những yêu đương trong đó thường vội vã, cuồng mê, nhân tình luôn muốn được trọn vẹn ở bên nhau.

Nhạc sĩ Lê Uyên Phương tên thật là Lê Minh Lập, sinh năm 1941 tại Đà Lạt, cũng là nơi ông lớn lên và gắn bó phần lớn thời gian của cuộc đời khi còn ở trong nước, trước khi rời Việt Nam năm 1979.

Cha của Lê Minh Lập vốn họ Phan, nhưng vì cuộc cách mạng của Phan Bội Châu nên phải đổi thành họ Lê. Mẹ là Công Tôn Nữ Phương Nhi – con gái thứ 9 của vua Thành Thái. Do giấy tờ bị thất lạc nên ông phải làm lại giấy khai sinh hai lần, nhân viên làm giấy tờ nhầm tên thành Lê Minh Lộc rồi Lê Văn Lộc. Nghệ danh Lê Uyên Phương là ông lấy chữ Phương trong tên mẹ, cùng với chữ Uyên tên người bạn gái đầu tiên mà ghép thành.

Bài nhạc đầu tay của Lê Uyên Phương là Buồn Đến Bao Giờ được ông sáng tác năm 1960 tại Pleiku. Những ca khúc tiêu biểu nhất trong sự nghiệp của ông được sáng tác sau thời điểm ông gặp vợ của mình là Lâm Phúc Anh năm 1967, đó là Lời Gọi Chân Mây, Dạ Khúc Cho Tình Nhân, Cho Lần Cuối, Vũng Lầy Của Chúng Ta, Tình Khúc Cho Em, Hãy Ngồi Xuống Đây, Uống Nước Bên Bờ Suối, Chiều Phi Trường, Một Ngày Vui Mùa Đông…

Năm 1967, nhạc sĩ Lê Uyên Phương gặp cô gái gốc Hoa tên là Lâm Phúc Anh mới 15 tuổi, để rồi bắt đầu một cuộc tình định mệnh.

Lâm Phúc Anh năm 15 tuổi

Khi đó Lâm Phúc Anh là tiểu thư của một gia đình thương gia khá giả và nề nếp ở khu người Hoa ở Sài Gòn, được gia đình đưa lên Đà Lạt để học trường dòng của Tây. Nhà Lê Uyên Phương và nơi Lâm Phúc Anh ở kề sát nhau – số 18 và 22 Võ Tánh (nay là đường Bùi Thị Xuân) – Đà Lạt. Hai người quen rồi kết hôn vào năm 1968. Hầu hết các ca khúc của Lê Uyên Phương từ đây về sau đều tặng cho vợ.

Đến cuối thập niên 1960, khi đã gần 30 tuổi, nhạc sĩ Lê Uyên Phương vẫn là một tên tuổi vô danh trong làng nhạc. Sau đó nhờ có nhà thơ Đỗ Quý Toàn giúp đỡ và giới thiệu với nhà báo Đỗ Ngọc Yến, là một người hoạt động phong trào văn nghệ sinh viên. Ông Yến tổ chức cho Lê Uyên Phương buổi biểu diễn đầu tiên tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ, từ đó nhạc của Lê Uyên Phương bắt đầu đến được với công chúng, đặc biệt là giới sinh viên vốn đang bị nhiều ảnh hưởng của trào lưu chủ nghĩa hiện sinh.

Có một lần, sau buổi diễn, nhiều phóng viên hỏi “Lê Uyên Phương” là ai? Nhạc sĩ Lê Uyên Phương buột miệng chỉ vợ rồi nói: “Đây là Lê Uyên. Còn tôi là Phương”. Từ đó Lâm Phúc Anh gắn liền với nghệ danh Lê Uyên. Lúc hai người song ca thì được gọi chung “Lê Uyên và Phương”.

Từ trước đến nay, có một quy ước, đó là nếu viết là Lê Uyên Phương, thì hiểu đó là tên của nhạc sĩ Lê Uyên Phương, dòng nhạc Lê Uyên Phương. Còn nếu viết là Lê Uyên & Phương (hoặc Lê Uyên và Phương, Lê Uyên – Phương), thì sẽ hiểu đó là 2 người, là đôi vợ chồng nghệ sĩ Lê Uyên Phương và Lâm Phúc Anh, họ hát song ca với nghệ danh là Lê Uyên & Phương.

Trong vòng 19 ngày, đôi đôi vợ chồng Lê Uyên & Phương biểu diễn liên tục các show cho sinh viên Văn khoa, Luật khoa, Sư Phạm, Y Khoa, rồi tới Đài Truyền hình Việt Nam lẫn quán cà phê Con Nai Vàng của nhạc sĩ Cung Tiến. Nhờ vậy, Lê Uyên & Phương có được hợp đồng biểu diễn tại 5 phòng trà Sài Gòn, mỗi đêm hát thù lao là 5000 đồng cho mỗi điểm biểu diễn 3 bài trong vòng bốn năm. Trong khi đó nhạc sĩ Lê Uyên Phương là thầy giáo môn Văn và Triết ở Đà Lạt với đồng lương chỉ là 5, 6 ngàn mỗi tháng.

Từ Đà Lạt vào Sài Gòn, Lê Uyên Phương đã đem đến một luồng gió mới cho tân nhạc Việt Nam với những ca khúc nồng nàn, khắc khoải của tình yêu đôi lứa và đậm nét chủ nghĩa hiện sinh, như là Bài Ca Hạnh Ngộ, Dạ Khúc Cho Tình Nhân, Lời Gọi Chân Mây, Vũng Lầy Của Chúng Ta, Tình Khúc Cho Em... được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt. Nhạc sĩ Phạm Duy đã nhận xét rằng nhạc của Lê Uyên Phương như là tiếng nói tuyệt vọng của một thế hệ thanh xuân trong trẻo, muốn được sống để yêu đương trong thanh bình nhưng lại bế tắc trước thực tại.

Từ năm 1970, nhạc sĩ Lê Uyên Phương đã phát hành được 2 tập nhạc tên là Khi Loài Thú Xa Nhau Yêu Nhau Khi Còn Thơ. Ở bìa sau của tập nhạc phát hành năm 1970, nhạc sĩ Cung Tiến đã ghi lời giới thiệu về nhạc Lê Uyên Phương như sau:

Chỉ một lần nghe, ta cũng có thể cảm thấy ngay đó là những khúc ca được sáng tác với cảm hứng âm nhạc đích thực, nhưng đó là một cảm giác không làm dáng và cũng không làm ra quá đáng, mà độ lượng, như là cố ý cầm lại vừa với tầm ngậm ngùi, ngao ngán của kiếp sống…

Tiếng nói mới đó, những “chansons de sanglot” đó, không biểu tỏ gì khác hơn là hạnh phúc ái tình giống như một hòn đảo mịt mù sương trong cơn giông thời đại. Bởi vậy mà ta nghe thấy nhiều đau đớn, nhiều nức nở đến thế. Chẳng phải là niềm đau mê man, mà là niềm đau sáng suốt: mắt mở thật lớn, ta nhìn nó đi thẳng vào tim ta đau nhói. Đó là tại sao những melodies đau đớn của PHƯƠNG – nơi ta có lẽ đã bắt lại được một machochisme huy hoàng – luôn luôn ở mode majeur. Cái “buồn majeur” là cái buồn sâu thẳm nhất trong âm nhạc có chủ âm. Và đó chính là “thú đau thương” đơn và thuần vậy…

Trong một bài cảm nhận về ca từ nhạc Lê Uyên Phương, tác giả Hiệp Dương (Học Trò) viết như sau:

Lời nhạc của Lê Uyên Phương góp một phần rất đáng kể tạo nên nét nhạc riêng biệt của dòng nhạc này.

Trong nhạc của ông, người nam và người nữ là một hiện hữu, gắn bó vào đời nhau: “tôi với em, dương trần vai tiễn đưa”, “ta từng thương mến nhau… em đành quên lãng sao?”, “em ơi, xin em nói yêu thương đậm đà”.

Khi nói lời chia ly cũng phải là hành động rất rõ ràng: “Em ơi, em ơi quay đi để cho chia lìa lần này dài phút xót xa”.


Click để nghe nhạc Lê Uyên Phương thu âm trước 1975

Ông cũng sử dụng rất nhiều các hình ảnh trăng, sao, mây trời,… để nói lên tâm trạng, như nhiều nhạc sĩ cùng thời. Khác với quan niệm thường gặp về nhạc Lê Uyên Phương là nhạc của ông có vẻ man dại, thậm chí có nhiều “dục tính”, tôi thấy nhạc của ông có nhiều bài thật thanh khiết, cao sang, thật đẹp như “Mình ngồi ngắm mây trời, tuổi hồng đã xa vời”, “khi em bước đến bên tôi, lời chim tưng bừng”, “nầy anh ơi suối reo sườn đồi, nầy chim ơi reo mừng cuộc đời ghi tên”, “vì đâu mê say phồn hoa, như áo gấm sáng lóng lánh”,…

Có thể nói, mỗi ca khúc của Lê Uyên Phương đều mang cảm thức hạnh phúc lẫn chia lìa. Bởi theo Lê Uyên Phương, tình yêu của một chàng trai 27-28 tuổi đang mang trong mình căn bệnh không biết ra đi lúc nào, với cô gái phơi phới mới lớn như Lâm Phúc Anh, đối với ông là quá lớn.

Từ khi mới sinh ra, nhạc sĩ Lê Uyên Phương đã có một ngón tay khác thường, sưng lên một chút và không giống với các ngón khác, ông được dự đoán là mang một căn bệnh nan y không thể sống lâu. Tuy nhiên đến năm 1999 ông mới qua đời ở tuổi 58 vì bệnh phổi.

Chuyện tình Lê Uyên và Phương qua những tình khúc của nhạc sĩ Lê Uyên Phương

Trong mỗi ca khúc ca khúc của nhạc sĩ Lê Uyên Phương, chúng ta có thể thấy được sự hết mình, tận hưởng trọn vẹn, dâng hiến đến tận cùng trong mỗi khoảnh khắc yêu đương, gần gũi, như thể đó là lần cuối, nhưng đồng thời cũng nhìn thấy những úa tàn, chia ly, đau thương chấp chới kề cận.

Cho Lần Cuối là một ca khúc như vậy.

Trong một cuộc trò chuyện trên Jimmy Show, nữ ca sĩ Lê Uyên đã kể lại khá chi tiết về hoàn cảnh ra đời của ca khúc. Trong sự kiện Mậu Thân đầu năm 1968, nhà của Lê Uyên (ở Chợ Lớn) nằm trong khu vực bị giới nghiêm 24/24. Lúc này, cặp đôi vẫn đang trong hoàn cảnh bị gia đình ngăn cấm dữ dội. Sau thời gian hẹn hò tại Đà Lạt, nàng bị cha mẹ ép chia tay người yêu, đưa về Sài Gòn giam lỏng. Cuối tuần, chàng nhạc sĩ lại lặn lội bắt xe từ Đà Lạt xuống Sài Gòn, lén lút đến thăm người yêu. Lần đó vì lệnh phong toả, suốt 19 ngày nàng và chàng không được thấy mặt nhau. Đó cũng là lần lâu nhất hai người phải xa nhau kể từ lúc yêu.

Vì quá thương nhớ chàng nhạc sĩ, cô gái trẻ Lê Uyên bất chấp lệnh giới nghiêm và cả sự quản thúc của gia đình để đến gặp người yêu. Để có thể đến chỗ người yêu, cô nói dối gia đình là đi ra ngoài mua đồ, rồi canh lúc quân cảnh canh gác lỏng lẻo, lén chui qua hàng rào giới nghiêm để thoát ra ngoài, chạy đến chỗ hẹn. Sau khi gặp gỡ, hai người thuê xích lô máy trốn đi cùng nhau. Sau đó nhạc sĩ Lê Uyên Phương cho ra đời bài hát Cho Lần Cuối với những ca từ nồng đượm yêu thương nhưng cũng chất ngất lo âu:

Giờ này còn gần nhau
Gần thắm thiết trong mối sầu
Gần bối rối biên giới từ lòng đau

Giờ này còn cầm tay
Cầm chắc mối duyên bẽ bàng
Cầm chắc mắt môi ngỡ ngàng
Cầm giá buốt thương đau
Ngày mai ta không còn thấy nhau…


Click để nghe Lê Uyên & Phương hát Cho Lần Cuối trước 1975

Trước khi được phép cưới nhau, “Lê Uyên và Phương” đã có một thời gian dài yêu nhau trong khắc khoải, lo âu, yêu trong giây phút hiện tại mà chưa biết tương lai sẽ ra sao. Trong những lần nàng từ Đà Lạt về lại Sài Gòn, họ đưa tiễn nhau ở phi trường Liên Khương, cùng mang tâm trạng xót xa khi nghĩ về những ngày sẽ không được gặp nhau. Nỗi niềm đó được nhạc sĩ Lê Uyên Phương ghi lại trong Chiều Phi Trường, sau đó là Lời Gọi Chân Mây:

Em ơi, quên đi bao nhiêu xót xa
Những chiều thiết tha bên nhau
Em ơi, xin em, xin em nói yêu đương đậm đà
Để rồi ngày mai cách xa.


Click để nghe Lê Uyên & Phương hát Lời Gọi Chân Mây trước 1975

Dù mai đây xa cách muôn trùng
Dù mai đây nơi xa
Phồn hoa không thiết tha… (Chiều Phi Trường)


Click để nghe Lê Uyên & Phương hát Chiều Phi Trường trước 1975

Một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Lê Uyên Phương viết về mối tình của họ thuở ban đầu, đó là Dạ Khúc Cho Tình Nhân, với nội dung chất chứa những sự yêu thương, niềm nhớ nhung quyến luyến và nỗi đợi chờ trong vô vọng. Bài hát này được nhạc sĩ Lê Uyên Phương viết năm 1968, khi mà ông còn ở Đà Lạt, còn người yêu của ông là Lê Uyên – Lâm Phúc Anh đang bị gia đình “giam lỏng” ở Chợ Lớn – Sài Gòn để chia cách tình yêu của họ.

Trong tình cảnh đó, Lê Uyên Phương cảm thấy cuộc tình mong manh và buồn như nỗi chết. Ông viết trong niềm nhớ tình nhân không nguôi:

Tình nhân đã xa xôi
Ðời ngăn cách nhau hoài
Một lần thôi đã không thôi
Yêu nhau trong lo âu
Biết bao lần tha thiết nhớ mong...


Click để nghe Dạ Khúc Cho Tình Nhân – Lê Uyên & Phương hát trước 1975

Nhạc của Lê Uyên Phương không hề có tham vọng lớn lao như là muốn tạo được sự biến chuyển nào đó đến xã hội, không đao to búa lớn muốn xoay vần thời thế, nhạc của Lê Uyên Phương đơn thuần là của tình nhân viết cho tình nhân, hay cụ thể hơn, của “Lê Uyên Phương viết cho Lê Uyên và Phương”.

Có một ý kiến từng nhận xét thật đúng về nhạc của Lê Uyên Phương, nói rằng đó là thứ âm nhạc đầy nắng, gió, sông, suối, sương mù… Âm nhạc rã rời như chính thân xác sau cuộc truy hoan mê mải, chỉ có thể nghe chung với một người tình mê đắm. Âm nhạc đó cần sự thinh lặng của thân xác lẫn tâm hồn. Mà trong đời người, giây phút nào là thinh lặng tuyệt đối hơn khoảnh khắc ấy?

Có một ca khúc có thể xem là mang nhiều đặc tính đó nhất của nhạc sĩ Lê Uyên Phương, đó chính là bài Vũng Lầy Của Chúng Ta.

Ngay cái tên tựa đề của bài hát này cũng thật lạ lẫm và khác biệt. Đôi tình nhân kia phải sống trong vũng lầy và ngày càng vùi sâu trong ngao ngán và ê chề. Họ phải yêu cuồng sống vội như thể không cần biết đến ngày mai nữa.

Sự yêu cuồng sống vội của đôi tình nhân Lê Uyên & Phương không phải với ý nghĩa như hiện nay, mà vì họ lo âu về mai sau. Cuộc tình của họ vừa mới chớm đã mê đắm, nhưng lại gặp nhiều trắc trở ngăn cách. Lúc đó đôi tình nhân phải chịu cảnh mỗi người một nơi, thời gian được ở bên nhau thật ít ỏi vì bị gia đình ngăn cấm. Họ yêu nhau vội vã như là sợ ngày mai sẽ không còn được nhìn thấy nhau nữa.

Bài hát này được viết trong thời điểm mà nhạc sĩ Lê Uyên Phương chỉ được gặp người yêu mỗi tuần một lần, khi ông phải đáp xe đò từ Đà Lạt về Sài Gòn thăm người yêu, rồi sau đó lại lên xe quay ngược về Đà Lạt để kịp ngày đi dạy học.

Theo em xuống phố trưa nay
đang còn ngất ngất cơn say
Theo em bước xuống cơn đau,
bên ngoài nắng đã lên mau

Cho nhau hết cả mê say,
cho nhau hết cả chua cay
Cho nhau chất hết thơ ngây,
Trên cánh môi say, trên những đôi tay,
trên ngón chân bước về tình buồn, tình buồn

Yêu nhau giữa đám rong rêu,
theo dòng nước cuốn lêu bêu
Đi qua những phố thênh thang

Đi qua với trái tim khan
Đi qua với trái tim khan
Đi qua phố bước lang thang

Trong hồi ký của mình, nhạc sĩ Phạm Duy đã viết:

“Lê Uyên Phương thốt lên tiếng nói tuyệt vọng của một thế hệ thanh xuân trong trẻo, muốn được sống để yêu đương trong thanh bình thì lại bế tắc trước thực tại. Họ vùi sâu vào tình yêu mà tìm quên. Họ công khai mong manh, công khai tàn lụi”.

Nếu nhìn rộng ra khỏi sự bế tắc đơn lẻ của chuyện tình Lê Uyên và Phương, thì vũng lầy mà đôi tình nhân này đã gặp phải – theo lời nhạc sĩ Phạm Duy – hình như cũng là vũng lầy chung của cả một thế hệ tuổi trẻ sinh ra và sống giữa chiến cuộc dài, cuộc sống mong manh như cây cỏ, nên tình yêu cũng quá mong manh, và những chàng trai cô gái năm xưa như là phải sống trong vũng lầy thế hệ, không thể vượt thoát khỏi được những “cơn mê” để tự do yêu đương mà không bị những âu lo buồn bã thường trực.


Click để nghe Lê Uyên & Phương hát Vũng Lầy Của Chúng Ta thu âm trước 1975

Có một ca khúc đặc biệt của Lê Uyên Phương viết về thứ tình yêu say mê, đắm đuối, đầy tận hưởng chứ không có sự lo âu, sầu muộn, đớn đau như trong phần lớn các nhạc phẩm khác của ông, đó là Uống Nước Bên Bờ Suối.


Click để nghe Lê Uyên & Phương hát Uống Nước Bên Bờ Suối trước 1975

Ca sĩ Lê Uyên từng kể rằng, để bảo vệ tình yêu của mình và chàng nhạc sĩ, cô đã phải nhiều lần liều lĩnh và quyết liệt. Cô đã làm mọi cách, thậm chí cả những cách dại dột nhất nhất của một cô gái 16 tuổi để gia đình chấp nhận cho cưới, có lần Lê Uyên & Phương còn trốn nhà xuống Bảo Lộc ở chung cùng nhau suốt một tuần. Bỏ lại những lo âu sau lưng, họ đã từng cùng nhau du sơn ngoạn thủy, rồi trong một lần đến bên bờ suối ở vùng Pleiku hoang sơ, nhạc sĩ Lê Uyên Phương có niềm cảm hứng dạt dào để làm nên những lời ca “chất ngất mê say” bên bờ suối:

Qua bao con đường, qua bao phố phường lê mòn gót chân
Chim muông bên rừng chờ mình về đón mừng
Môi khô em tròn đợi từng giọt sữa non

Dừng bên suối rồi rừng trưa nắng ngừng trôi
Đường dài đón ta cho ta dòng nước tươi thêm tình yêu
Ngọt bùi sẽ đem cho em ngày tháng đi qua cuộc đời…

Năm 1979, hai vợ chồng Lê Uyên Phương rời Việt Nam, đến định cư tại Miền Nam California, Hoa Kỳ. Tại đây họ có hai người con gái Lê Uyên Uyên và Lê Uyên My.

Để được sống bên nhau, Lê Uyên & Phương đã trải qua vô số những phong ba, nhưng rồi cuối cùng họ không thể cùng nhau vượt qua được thử thách trên xứ người.

Khoảng giữa thập niên 1980, Lê Uyên và Phương không còn sống cùng nhau, nhiều người cho rằng họ đã chia tay sau gần 20 năm là vợ chồng. Năm 1990, nhạc sĩ Lê Uyên Phương cùng ca sĩ Lê Uyên và người con của họ là Lê Uyên Uyên thực hiện một liveshow ở Cali. Lúc đó Lê Uyên Phương đã trực tiếp xác nhận rằng hôn nhân của họ đã tan vỡ. Xin được trích lời nói của nhạc sĩ Lê Uyên Phương:

“Kính thưa quý vị. Không biết cái điều sau đây là 1 sự tình cờ, là định mệnh, hay là sự thấu thị trong nghệ thuật, mà những điều chúng tôi viết cách đây 20 năm trong những bài tình ca, 20 năm sau những sự kiện đó xảy ra y như thật.

Tất cả những ca khúc viết cách đây 20 năm trong thời kỳ tràn trề hạnh phúc thì chỉ nói lên những điều chia cách và báo hiệu những điều không tốt đẹp trong đời sống tình cảm của chúng tôi. Thì tới lúc này những điều đó đã xảy ra”.

Bạn có thể xem lại đầy đủ hơn lời của nhạc sĩ Lê Uyên Phương ở video dưới đây:


Click để xem liveshow Lê Uyên Phương 1990

Tuy nhiên gần đây, ca sĩ Lê Uyên lên báo đính chính nhiều lần là Lê Uyên và Phương chưa từng tan vỡ. Nguyên văn lời của Lê Uyên như sau:

“Cho đến ngày anh qua đời, tôi và anh vẫn một lòng một dạ yêu thương nhau, chưa từng mang cho nhau một thương tổn gì, chưa từng để cho một người thứ 3 chen vào”.

Lý do của tin đồn được ca sĩ Lê Uyên giải thích là vì cô đã gặp nạn nghiêm trọng vào năm 1984, phải điều trị rất lâu và nghỉ hát trong nhiều năm liền. Những khi đó, nhạc sĩ Lê Uyên Phương vẫn ở bên cạnh chăm sóc, lo lắng, yêu thương Lê Uyên.

Không rõ vì sao có sự mâu thuẫn giữa lời tâm sự của nhạc sĩ Lê Uyên Phương năm 1990 và lời khẳng định của ca sĩ Lê Uyên gần đây. Tuy nhiên dù sao đi nữa, câu chuyện về đôi uyên ương Lê Uyên & Phương vẫn là một câu chuyện tình rất đẹp và đã đi vào huyền thoại trong làng âm nhạc Việt Nam. Họ đã cống hiến cho khán giả những bản tình ca rất đặc biệt và khác biệt, luôn được yêu mến trong nửa thế kỷ qua.

Một số hình ảnh của Lê Uyên & Phương tại hải ngoại:

Nhạc sĩ Lê Uyên Phương mất vì bệnh ung thư phổi vào ngày 29 tháng 6 năm 1999 tại bệnh viện UCI (University of California, Irvine).

Đông Kha – Niệm Quân (nhacxua.vn)
Published under copyright license

Lịch sử những đường phố Sài Gòn xưa: Đường Hồng Thập Tự (Nguyễn Thị Minh Khai) – Tuyến đường cổ xưa nhất Sài Gòn còn lại đến nay

Con đường mang tên Hồng Thập Tự ngày xưa (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) là một trong những tuyến đường quan trọng bậc nhất của Sài Gòn. Đường Hồng Thập Tự trước 1975 tương ứng với đường Nguyễn Thị Minh Khai (giai đoạn từ sau năm 1991), nối từ cầu Thị Nghè đến ngã 6 Cộng Hòa.

Đây là một trong những con đường cổ xưa nhất của Sài Gòn, chính là một trong 3 đường thiên lý (đường Cái Quan) xuất phát từ Sài Gòn, cũng là đường thiên lý quan trọng nhất đi về phía Bắc thẳng hướng kinh đô Huế, được hình thành ngay từ khoảng cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 (2 đường còn lại là đường Thiên Lý phía Tây tương ứng với đường CMT8 – Trường Chinh hiện nay đi về hướng Cao Miên, và đường Thiên Lý phía Nam tương ứng với đường Nguyễn Trãi ngày nay đi từ Sài Gòn ra Chợ Lớn rồi về lục tỉnh).

Khi người Pháp chiếm được thành Gia Định, họ gọi tên đường này là stratégique (đường chiến lược). Khi Sài Gòn bắt đầu được quy hoạch thành một đô thị lớn, con đường huyết mạch này được đánh số là đường 25, rồi đến năm 1865 thì con đường này chính thức mang tên Chasseloup Laubat.

Gần 10 năm sau đó, người Pháp mở ngôi trường công lập đầu tiên ở Sài Gòn ngay chính giữa con đường này, đặt tên là Collège Indigène (Trung học bản xứ). Đến năm 1928, trường trung học bản xứ được đặt lại tên theo tên của đường: Trường Collège Chasseloup Laubat. Từ năm 1955 đến nay, trường đổi thành tên Lê Quý Đôn.

Tên đường Chasseloup Laubat đã được giữ nguyên trong suốt 90 năm, trước khi được đổi tên thành Hồng Thập Tự vào năm 1955. Chasseloup Laubat (1754-1833) là tên của một bộ trường Pháp phụ trách thuộc địa.

Ở ngay góc đường Chasseloup Laubat – Verdun (sau 1955 mang tên Hồng Thập Tự – Lê Văn Duyệt, nay là đường NTMK-CMT8), thuộc khuôn viên vườn Bờ Rô (Vườn Tao Đàn) có một khu nhà là trụ sở của hội Hồng Thập Tự. Sau năm 1955, nơi này còn là trụ sở của bộ Y tế VNCH, nên khi Thuần Phong – Ngô Văn Phát được giao việc đặt tên lại cho toàn bộ tên đường Sài Gòn vào năm 1955, ông đã đổi tên đường Chasseloup Laubat thành Hồng Thập Tự.

Tên đường Hồng Thập Tự đã tồn tại tròn 20, đến tháng 8 năm 1975 thì được gộp chung với đường Hùng Vương và đổi tên thành Xô Viết Nghệ Tĩnh. Đường Xô Viết Nghệ Tĩnh lúc này kéo dài từ ngã 6 Cộng Hòa cho đến tận Thanh Đa, bao gồm các đường cũ là Hồng Thập Tự (từ ngã 6 Cộng Hòa đến cầu Thị Nghè) và đường Hùng Vương (từ cầu Thị Nghè đến Thanh Đa).

Đến năm 1991, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh đoạn từ ngã 6 Cộng Hòa đến cầu Thị Nghè (tương ứng với đường Hồng Thập Tự cũ) được tách thành con đường mang tên Nguyễn Thị Minh Khai cho đến ngày nay.

Từ năm 1975 đến 1991, đường mang tên Nguyễn Thị Minh Khai vốn là con đường Pasteur được đặt tên từ năm 1955, nhưng bị đổi tên sau 1975, đến năm 1991 thì đường này được trả lại tên Pasteur (như hiện nay), vì vậy chính quyền đã tách đường Xô Viết Nghệ Tĩnh ra thành đoạn mang tên Nguyễn Thị Minh Khai từ năm 1991 đến nay.

Sau đây mời các bạn xem lại hình ảnh đường Hồng Thập Tự xưa qua từng góc đường (Hình ảnh sưu tầm từ trang manhhai flickr)

Khởi đầu đường Hồng Thập Tự sẽ là cầu Thị Nghè, là vị trí ngăn cách 2 đường Hồng Thập Tự và Hùng Vương (Đoạn đường Hùng Vương này thuộc tỉnh Gia Định, tương ứng với đường Xô Viết Nghệ Tĩnh ngày nay):

Cầu Thị Nghè

Ngay đầu đường Hồng Thập Tự là Thảo Cầm Viên Sài Gòn, thường hay được gọi là Sở Thú, là công viên Bách Thảo – Vườn Thú nổi tiếng của Sài Gòn, được bắt đầu xây dựng năm 1865, là vườn thú lâu đời, có tuổi thọ đứng hàng thứ 8 trên thế giới.

Cho đến thập niên 1990, Sở Thú vẫn là một địa điểm quen thuộc cho những buổi vui chơi, thư giãn cuối tuần của người dân Sài Gòn và những tỉnh lân cận.

Thảo Cầm Viên nằm trên Nguyễn Bỉnh Khiêm và đi qua 3 con đường Hồng Thập Tự, Thống Nhứt và Cường Để (nay là NTMK, Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng), có cổng chính nằm bên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Đường vào Thảo Cầm Viên từ cổng sau phía đường Hồng Thập Tự (đầu cầu Thị Nghè)

Một số hình ảnh khác của ngã 4 Hồng Thập Tự – Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Từ ngã tư Hồng Thập Tự – Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn về phía Thị Nghè

Từ Hồng Thập Tự – Nguyễn Bỉnh Khiêm đi tới một chút sẽ đến một khu vực có nhiều địa điểm nổi tiếng: Sân vận động Hoa Lư, nơi nhiều lần diễn ra đại hội nhạc trẻ thu hút hàng chục nghìn người. Sân Hoa Lư nằm ngay ngã tư Hồng Thập Tự – Đinh Tiên Hoàng, cũng là nơi đặt trụ sở của đài truyền hình, bên cạnh đó còn có trường đại học Văn Khoa (nay là trường ĐH KHXHNV), là nơi ca sĩ Hoàng Oanh và Thanh Lan từng theo học, cũng là nơi cặp đôi Trịnh Công Sơn & Khánh Ly vụt sáng trên vòm trời nghệ thuật tại quán Văn đằng sau trường.

Đường Hồng Thập Tự đoạn giữa Nguyễn Bỉnh Khiêm và Đinh Tiên Hoàng. Tòa nhà cao là trụ sở Điện Lực, phía sau tòa nhà điện lực này sẽ là Sân vận động Hoa Lư. Cô nữ sinh áo dài đang đi từ hướng Đinh Tiên Hoàng về phía Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bên trái hình này là đài truyền hình

Ngay góc đường Hồng Thập Tự – Đinh Tiên Hoàng/Cường Để có 2 khu nhà ở 2 bên. Khu nhà trong hình này là Đại học Canh Nông, đối diện bên kia đường là đài truyền hình. Tòa nhà này trước kia là doanh trại của Trung đoàn 11 Bộ binh Thuộc địa Pháp.

Ngã tư Hồng Thập Tự – Đinh Tiên Hoàng. Bên trái là đại học Canh Nông, bên phải là đài truyền hình. Phía sau lưng người chụp hình còn có 2 tòa nhà của đại học Văn Khoa (bên phải) và đại học Dược (bên trái). Ngày nay 2 tòa nhà này vẫn còn, nằm ở góc đường Cường Để – Thống Nhứt (nay là Đinh Tiên Hoàng – Lê Duẩn)

Khu vực sân Hoa Lư và đài truyền hình nhìn từ trên cao. Đường Hồng Thập Tự là đường xéo từ góc trên bên trái xuống góc dưới bên phải

Góc hình khác thể hiện đường Hồng Thập Tự với 1 bên là sân Hoa Lư, một bên là đài truyền hình. Góc dưới bên phải là ra tới ngã 4 với đường Đinh Tiên Hoàng, góc trên bên trái là đi Thị Nghè

Đường Hồng Thập Tự – bên trái là đài Truyền hình, bên phải là sân Hoa Lư, phía xa là nhà thờ Mạc Ty Nho gần ngã tư Hồng Thập Tự – Đinh Tiên Hoàng

Ngã tư Đinh Tiên Hoàng – Hồng Thập Tự, cạnh đài truyền hình

Góc đường Cường Để/Đinh Tiên Hoàng và Hồng Thập Tự

Ngã tư Hồng Thập Tự – Cường Để / Đinh Tiên Hoàng, góc nhìn hướng về phía Dakao

Hình khác của góc ngã tư này. 4 ông cháu đang ngồi ngắm phố ngay bên cạnh đài truyền hình

Từ ngã 4 này, đi thêm 2 giao lộ nữa sẽ đến Hồng Thập Tự- Hai Bà Trưng:

Đường Hai Bà Trưng, lề đường bên hông Tòa đại sứ Pháp. Phía xa là ngã tư Hai Bà Trưng – Hồng Thập Tự

Đường Hồng Thập Tự, bên trái là ngã tư Hồng Thập Tự – Hai Bà Trưng, bên phải là phía trước trụ sở Tổng Hội SV Saigon (nay là nhà văn Thanh Niên cổng chính ở đường Phạm Ngọc Thạch)

Tháp nhà thờ Đức Bà nhìn từ góc Hai Bà Trưng – Hồng Thập Tự. Hình chụp năm 1947

Ngã tư Hai Bà Trưng-  Hồng Thập Tự. Tòa nhà chỗ này một thời gian là Café TRUNG NGUYÊN ở số 104 Hai Bà Trưng. Ngày nay (2021) là nhà hàng Sushi Saiko

Một góc ảnh tương tự hình bên trên

Ngay góc ngã tư ngày còn có Tòa đại sứ Pháp, số 27 Hồng Thập Tự, ngày nay vẫn là tòa đại sứ Pháp, ở số 27 Nguyễn Thị Minh Khai

Đi một đoạn nữa sẽ đến ngã 4 Hồng Thập Tự – Duy Tân (nay là Nguyễn Thị Minh Khai – Phạm Ngọc Thạch). Sau đây là một số hình ở góc đường này:

Nữ sinh đang ở trước số nhà 84 Hồng Thập Tự, nằm ở góc Hồng Thập Tự – Duy Tân

Cảnh sát công lộ đang làn nhiệm vụ ở ngã 4

Xe dừng ngay ngã 4

Ở ngay góc ngã 4 này có một căn villa nổi tiếng vẫn còn lại cho đến ngày nay

Trước 1975, đây là tư gia của ông bà Ưng Thi (chủ rạp Rex). Có một thời gian ông bà Trần Văn Chương (song thân của bà Nhu) ở đây. Sau năm 1975, có một thời gian nơi này là trụ sở Tổng lãnh sự quán Trung Quốc. Sau khi lãnh sự quán chuyển qua đường Hai Bà Trưng như hiện nay, tòa nhà này được cho thuê để mở nhà hàng Con Gà Trống. Tuy nhiên vào năm 2020, nhà hàng Con Gà Trống cũng đóng cửa vì ảnh hướng của đại dịch

Đi một đoạn nữa sẽ gặp ngã 4 Hồng Thập Tự – Pasteur, nơi có địa điểm nhận diện quen thuộc suốt hơn 60 năm qua, đó là cây xăng. Trước 1975 đây là cây xăng SHELL, nay vẫn là cây xăng, của Petrolimex:

Ngã tư Hồng Thập Tự-Pasteur

Đi một đoạn ngắn nữa sẽ đến ngã 4 Hồng Thập Tự – Công Lý (Nay là NTMK – NKKN), nơi góc đường có trường Lê Quý Đôn, tức trường Collège Chasseloup Laubat cũ, là ngôi trường trung học công lập đầu tiên ở Sài Gòn. Đối diện bên kia của trường chính là bên hông của Dinh Độc Lập. Đây có thể gọi là trung tâm của con đường Hồng Thập Tự.

Góc Công Lý – Hồng Thập Tự. Tòa nhà trong hình là trường Lê Quý Đôn

Hàng cây xanh là bên trong khuôn viên Dinh Độc Lập

Khu ngã tư đông đúc Hồng Thập Tự – Công Lý

Từ ngã tư Hồng Thập Tự – Công Lý nhìn về phía cổng trường Lê Quý Đôn. Bên phải là trường, bên trái là khuôn viên Dinh Độc Lập

Hướng nhìn ngược lại với hình bên trên

Đường Hồng Thập Tự đi ngược về phía ngã tư với Công Lý. Bên phải là trường Lê Quý Đôn, bên trái là Dinh Độc Lập

Bên trái là tường rào dinh Độc Lập, phía trước là ngã tư Hồng Thập Tự – Công Lý. Bên trái hình này là trường Lê Quý Đôn. Hình này được chụp năm 1968, khi khói lửa lan tới đô thành nên đường phố giăng nhiều rào kẽm gai

Tường rào dinh Độc Lập, bên trong là nhà bát giác được xây trên một gò đất cao trong khuôn viên. Người đạp xích lô đang đi trên đường Hồng Thập Tự hướng về ngã tư với đường Công Lý, nếu quẹo phải thì sẽ đến cổng chính của dinh Độc Lập

Đường Công Lý đi ra góc ngã tư Hồng Thập Tự. Tường màu vàng của trường Lê Quý Đôn, bên kia đường là góc khuôn viên Dinh Độc Lập (nhà bát giác)

Đi một chút nữa, hết khuôn viên Dinh Độc Lập sẽ gặp ngã 3 Hồng Thập Tự – Huyền Trần Công Chúa. Đường Huyền Trần Công Chúa là con đường đặt biệt, chiều dài của nó vừa bằng chiều rộng của khuôn viên Dinh Độc Lập, nằm ở phía sau dinh, nối đường Hồng Thập Tự và đường Nguyễn Du. Con đường nhỏ này rất vắng, có 2 hàng cây cao thẳng tắp che bóng mát. Sau năm 1968, có thời gian đường Huyền Trần Công Chúa bị rào chặn để đảm bảo an ninh cho dinh tổng thống.

Từ đầu đường Hồng Thập Tự nhìn vô đường Huyền Trân Công Chúa. Bên trái là Dinh Độc Lập, bên phải là khuôn viên Vườn Tao Đàn

Đi một chút nữa sẽ đến ngã 4 Hồng Thập Tự – Trương Công Định/Đoàn Thị Điểm (nay là NTMK – Trương Định).

Con đường Trương Định đi xuyên qua Vườn Tao Đàn (nay là công viên Tao Đàn), có cây rợp bóng mát:

Đường Trương Công Định (nay là đường Trương Định) đi xuyên qua Vườn Tao Đàn

Vườn Tao Đàn thời Pháp thường được gọi là Vườn Ông Thượng, hoặc vườn Bờ Rô, ban đầu vốn là vườn phía sau lưng Dinh Norodom (Dinh Độc Lập), sau đó tách ra thành khu riêng bằng cách mở con đường mang tên Poulo Condor (Côn Đảo), sau đó đổi tên thành Miss Clavell. Từ năm 1955 đến nay thì con đường đó chính là Huyền Trân Công Chúa.

Sau đó có thêm một con đường cắt ngang qua khu vườn này nữa, mang tên Roze (sau 1955 tên là Trương Công Định, sau 1975 tên là Trương Định). Nối dài với đường Roze, cắt ngang với Chasseloup Laubat (Hồng Thập Tự) là đường mang tên Jardin (trong Tiếng Pháp mang nghĩa là “Vườn”), sau 1955 đường Jardin đổi tên thành Đoàn Thị Điểm. Sau 1975, đường Trương Công Định nhập với đường Đoàn Thị Điểm thành một đường tên là Trương Định như ngày nay

Đường Trương Công Định bên trong Vườn Tao Đàn, hướng ra phía Hồng Thập Tự

Cổng Vườn Tao Đàn phía đường Hồng Thập Tự

Đi qua cổng Vườn Tao Đàn một chút nhìn bên phải sẽ gặp ngã 3 Hồng Thập Tự – Bà Huyện Thanh Quan. Đối diện bên kia đường nhìn xéo sẽ thấy trụ sở Hồng Thập Tự và Bộ Y Tế:

Trụ sở Bộ Y Tế VNCH, nay là Sở Y Tế TPHCM

Ban đầu khu đất này là viện dục nhi năm 1917, nằm trong khuôn viên Vườn Ông Thượng, ngay góc đường Chasseloup Laubat – Verdun (sau 1955 mang tên Hồng Thập Tự – Lê Văn Duyệt, nay là đường NTMK-CMT8). Năm 1932, phần phía tây được giao cho hội Hồng Thập Tự. Một năm sau đó, viện dục nhi không còn và một phần của nơi này trở thành sở Y tế vào ngày 1 tháng 5 năm 1933, phần còn lại trở thành Nhà thương thí Krautheimer.

Năm 1951, Hội Hồng Thập Tự Việt Nam chính thức được thành lập tại Sài Gòn, đặt trụ sở ở nơi này. Vì vậy mà năm 1955, con đường Chasseloup Laubat được đổi tên thành Hồng Thập Tự. Đồng thời trong cùng năm 1955, một phần của khu nhà này cũng là trụ sở của bộ Y Tế VNCH, nay là Sở Y Tế TPHCM.

Một số hình ảnh của góc ngã tư Hồng Thập Tự – Lê Văn Duyệt (nay là đường NTMK-CMT8):

Ngã tư Lê Văn Duyệt – Hồng Thập Tự. Bên kia là dãy nhà thuộc Bộ Y Tế

Xe màu trắng bên trái đang đi trên đường Hồng Thập Tự hướng từ phía ngã 6 Cộng Hòa về tới ngã 4 tới đường Lê Văn Duyệt. Dãy nhà ngói bên phải nằm trên đường Lê Văn Duyệt, hướng về phía đường Trần Quý Cáp (nay là đường Võ Văn Tần)

Ngã tư Hồng Thập Tự – Lê Văn Duyệt, góc có cây xanh là đường Hồng Thập Tự phía Vườn Tao Đàn. Góc ngã tư ở bên trái hình này ngày nay là cửa hàng máy tính Phong Vũ (dời từ đối diện bên kia đường qua)

Hình này cũng 1 góc ảnh của hình bên trên, nhìn nhìn lệch qua bên trái 1 chút về phía đường Lê Văn Duyệt. Lúc này căn nhà ngay góc đã xây lên lầu.

Đường nằm ngang là Lê Văn Duyệt, bên trái là ra trung tâm Saigon, bên phải là đi về phía vòng xoay Công trường Dân Chủ. Người chụp nhìn đứng ở ngã 4 nhìn về phía ngã 6 Cộng Hoà, quay lưng về phía vườn Tao Đàn. Khu nhà ở giữa hình sau này một thời gian là công ty máy tính Phong Vũ (nay đã đóng cửa và dời qua phía đối diện)

Biệt thự ở góc Hồng Thập Tự – Lê Văn Duyệt. Ông bà Ưng Thi (chủ rạp REX) có thời gian ở đây trước khi dọn về biệt thự lớn ở góc Đoàn Thị Điểm – Tú Xương. Những thanh niên nam nữ đang đứng trên lề đường Lê Văn Duyệt

Đường Hồng Thập Tự, đoạn gần rạp Olympic, hướng đi từ phía rạp Olympic (rạp Kim Chung) về trung tâm Sài Gòn. Đi thẳng lên phía trên của hình là ngã tư Hồng Thập Tự – Lê văn Duyệt. Ở giữa hình là khu nhà rất đẹp có thể nhìn rõ hơn ở hình bên dưới

Bên trái của khu căn hộ này là đi về phía ngã tư Hồng Thập Tự – Lê Văn Duyệt

Chiếc taxi con bọ đang đậu trước khu căn hộ của hình bên trên, phía trước là tới ngã tư Hồng Thập Tự – Lê văn Duyệt

Từ ngã 4 Hồng Thập Tự – Lê Văn Duyệt đi 1 chút nữa sẽ gặp cinema Olympic nổi tiếng, sau này là nơi đóng đô của đoàn Kim Chung, số 97 Hồng Thập Tự (nay trở thành trung tâm văn hóa).

Cinema Olympic

Đây là nơi đóng đô của đoàn Kim Chung khi nắm độc quyền rạp Olympic trong khoảng 10 năm, là nơi những tên tuổi lừng lẫy nhất của cải lương Miền Nam từng biểu diễn

Từ rạp Olympic đi tới chút nữa sẽ đến ngã 3 Hồng Thập Tự – Bùi Chu (nay là NTMK – Tôn Thất Tùng)

Đoạn đường Hồng Thập Tự ở giữa rạp Olympic và Bùi Chu

Ngay đoạn này còn có một địa điểm nổi tiếng, đó là CLB Thể Thao Saigon Cercle Sportif Saigonnais được xây từ năm 1925, nay là Cung văn hóa Lao Động:

Đường Hồng Thập Tự hướng về phía ngã 6 Cộng Hòa, bên phải là Cercle Sportif Saigonnais

Bên trong Cercle Sportif Saigonnais có hồ bơi được xây từ năm 1933, ngày nay vẫn còn

Từ Hồng Thập Tự – Bùi Chu đi thêm chút nữa sẽ gặp các đường cắt ngang rất nhỏ là Nguyễn Thượng Hiền, Lương Hữu Khánh.

Đường Hồng Thập Tự đoạn giữa Bùi Chu và Nguyễn Thượng Hiền. Cạnh bên xe tang là hẻm 153 Nguyễn Thị Minh Khai ngày nay, chạy thẳng tới trường Nguyễn Bá Tòng, nay là trường Bùi Thị Xuân

Đi một chút nữa là sẽ gặp giao lộ quan trọng là Hồng Thập Tự cắt ngang Cống Quỳnh và Cao Thắng, nơi có bảo sanh viện Từ Dũ.

Từ đường Hồng Thập Tự nhìn vào đường Cống Quỳnh, bên trái là Bảo sanh viện Từ Dũ

Vào năm 1937, gia tộc Hui Bon Hoa (tức chú Hỏa) đã hiến mảnh đất riêng với diện tích 19.123m2 trên đường Arras cũ (nay là đường Cống Quỳnh) để xây bảo sanh viện mang tên Maternité Indochinoise.

Năm 1944, bệnh viện đổi tên thành Việt Nam Bảo sanh viện. Đến năm 1946 được đổi thành Maternité George Béchamps còn dân chúng thường gọi là “Nhà sanh Chú Hỏa”. Đến năm 1948, bệnh viện được mang tên của thái hậu triều Nguyễn: Từ Dụ, tuy nhiên đọc chệch là Từ Dũ và được đổi tên thành Bảo sanh viện Từ Dũ.

Đứng từ đường Cao Thắng nhìn qua đường Cống Quỳnh. Đường ngang là Hồng Thập Tự

Ngã ba Hồng Thập Tự – Cống Quỳnh. Đường Cống Quỳnh ở bên trái hình. Phía sau lưng lô cốt là khu vực bảo sanh viện Từ Dũ. Hình chụp năm 1968, khi khói lửa đã lan tới đô thành

Đường Hồng Thập Tự gần ngã ba với đường Cao Thắng

Góc Hồng Thập Tự – Cao Thắng

Các nữ sinh trên đường đến trường, góc ngã ba Hồng Thập Tự – Cao Thắng

Hồng Thập Tự – Cao Thắng

Từ góc Hồng Thập Tự – Cao Thắng nhìn ngược lại về phía trung tâm Sài Gòn. Bên tay phải là dãy nhà của Từ Dũ

Từ góc đường này, đi một chút nữa là sẽ kết thúc đường Hồng Thập Tự, đó là ngã 6 Cộng Hòa. Ngã 6 này được đặt theo tên con đường mang tên Cộng Hòa (nay là đường Nguyễn Văn Cừ). Trước khi ra tới ngã 6, đường Hồng Thập Tự cắt chéo đường Phạm Viết Chánh tạo thành mũi tàu:

Giao lộ Hồng Thập Tự – Phạm Viết Chánh. Bên trái là Hồng Thập Tự, bên phải là Phạm Viết Chánh, đường xe lửa chạy dọc theo Phạm Viết Chánh

Vòng xoay Ngã sáu Cộng Hòa. Các xe hơi đang tiến vào đường Hùng Vương. Phía xa là đường Hồng Thập Tự và Phạm Viết Chánh. Đường xe lửa sẽ chạy dọc theo đường Phạm Viết Chánh, vòng qua phía sau nhà thờ Huyện Sĩ rồi vào Ga Saigon (ga cũ ở chợ Bến Thành)

Đông Kha (nhacxua.vn)
Published under copyright license

Sài Gòn nửa thế kỷ – Bộ sưu tập ảnh màu năm 1972 (kỳ 3)

Mời các bạn xem lại phần 3 của loạt ảnh Sài Gòn được chụp vào thời điểm tròn 50 năm trước (1972).

Opera House, thời điểm này đang là trụ sở của Hạ Nghị Viện. Đằng trước Hạ Nghị Viện là công trường Lam Sơn, một trong những công viên nổi tiếng nằm ở khu trung tâm Sài Gòn.

Đường Tự Do phía trước Hạ Nghị Viện

Đường Tự Do phía trước Continental Palace.

Chùa Vĩnh Nghiêm năm 1967. Ngôi chùa nổi tiếng Sài Gòn này được xây dựng từ khoảng năm 1967.

Những hình ảnh bên trên được đăng tải trên flickr từ tài khoản tên là kemper14, không rõ danh tính. Còn sau đây là một số hình ảnh của nhiếp ảnh gia người Mỹ John A. Hansen. Hơn 50 năm trước, ông đã đi khắp thế giới để lưu lại những hình ảnh của các thành phố lớn. Trước năm 1975, Hansen đã 3 lần đến Sài Gòn, trong đó có năm 1972, ghi lại những hình ảnh sắc nét sau đây:

Đường Bến Bạch Đằng (nay là 1 phần của đường Tôn Đức Thắng)

Từ trên khách sạn Majestic nhìn xuống Bến Bạch Đằng

Từ khách sạn Majestic nhìn sang quận Tư, bến Nhà Rồng và Cảng Sài Gòn

Những tấm hình này được Hansen chụp từ trên khách sạn Majestic, nhìn xuống Bến Bạch Đằng, ghi lại hình ảnh tàu thuyền tấp nập trên sông Sài Gòn năm 1972.

Sau đây là những hình ảnh khác của Sài Gòn 50 năm trước:

Xe cộ trên đường Hồng Thập Tự (nay là đường NTMK). Phía trước là ngã tư Hồng Thập Tự – Công Lý (nay là đường NKKN). Phía trước bên phải là trường Lê Quý Đôn, bên trái là khu vực Dinh Độc Lập.

Đường ra đến Lăng Cha Cả trước 1975. Đường dọc hình ngày nay là đường Trần Quốc Hoàn, còn đường nhỏ ngang hình ngày nay là Phan Thúc Duyện chạy xuyên công viên Hoàng Văn Thụ. Góc trên trái là Câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc (thuộc căn cứ Không quân).

Đông Kha – chuyenxua.vn

Nhạc sĩ Hoàng Quý và ca khúc bất tử Cô Láng Giềng: “Hôm nay trời xuân bao tươi thắm…”

Thời tiền chiến, có 2 nhạc sĩ cùng rất tài hoa, có tài năng thiên phú, nhưng yểu mệnh và qua đời rất sớm khi tuổi mới ngoài đôi mươi, để lại nhiều thương tiếc cho hậu thế, đó là nhạc sĩ Đặng Thế Phong và Hoàng Quý. Giả sử rằng nếu cuộc đời của họ kéo dài thêm được vài năm nữa thôi thì chúng ta đã được thưởng thức thêm rất nhiều ca khúc bất tử nữa, chứ không chỉ vỏn vẹn với Con Thuyền Không Bến, Giọt Mưa Thu… (Đặng Thế Phong) hay Cô Láng Giềng (Hoàng Quý).

Nhắc đến nhạc sĩ Hoàng Quý, người ta thường chỉ nhắc đến độc nhất một ca khúc Cô Láng Giềng, được viết cho mối tình thực sự của chính ông, mà quên đi sự đóng góp lớn của ông cho nền tân nhạc Việt Nam ở thời kỳ sơ khai từ cuối thập niên 1930 –  đầu thập niên 1940.

Nhạc sĩ Phạm Duy viết trong hồi ký: “Đánh giá Hoàng Quý không nên chỉ thu hẹp vào những sáng tác của ông, bởi vì sự hoạt động cho nền nhạc hùng còn là một điều khiến chúng ta phải ghi nhớ và ghi ơn. Ông là linh hồn của đám nhạc sĩ trẻ ở Hải Phòng, thúc đẩy mọi người sáng tác và ông làm cho những sáng tác đó có một đời sống hẳn hoi, nghĩa là in ra, hát lên trong những sinh hoạt hướng đạo hay học sinh của ông”. 

Nhạc sĩ Hoàng Quý tên thật là Hoàng Kim Quý, sinh ngày 31 tháng 10 năm 1920 tại Hải Phòng. Ông có người em trai là nhạc sĩ Hoàng Phú, tức Tô Vũ – tác giả của những ca khúc nổi tiếng Tạ Từ, Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa, Tiếng Chuông Chiều Thu…

Hai anh em Phú – Quý cách nhau 3 tuổi, nhưng vì Hoàng Quý học trễ nên 2 ông học chung với nhau tại trường trung học Lê Lợi ở Hải Phòng. Tại trường này, cả 2 được theo học nhạc lý với nhạc sĩ Lê Thương, cùng theo học còn có người bạn chung lớp là nhạc sĩ Canh Thân sau này. Sau đó anh em Phú-Quý còn theo học violin với bà Leprêtre – Một góa phụ người Pháp là chủ cửa hàng “Orphéce” – Cơ sở duy nhất ở đất Cảng bán các nhạc khí, bản nhạc và sách nhạc phương Tây. Tuy nhiên chỉ học được hết tập Mazas e’lesmeentaire cơ bản, vì học phí đắt quá nên 2 anh em Phú – Quý nghỉ học.

Sau đó, Hoàng Quý thường đến các quán bar ở đát Cảng vào lúc chiều tối, trèo lên tường ngồi để “học lỏm” các nhạc công người Philippines biểu diễn guitare Espagnone, guitare Hawai, Banjio alto, kèn saxophone, đàn contre-basse.

Vì mê nhạc và tìm mọi cách để học như vậy nên chẳng bao lâu sau Hoàng Quý đã có thể chơi được các loại nhạc cụ, thời gian sau đó có thể trở thành giáo viên dạy nhạc của trường Bonnal. Sau này, nhạc sĩ Văn Cao nói rằng 2 nhạc sĩ Lê Thương và Hoàng Quý là những người có ảnh hưởng rất lớn trong sự nghiệp của ông.

Thời gian dạy nhạc ở trường Bonnal – Hải Phòng, nhạc sĩ Hoàng Quý sáng tác ca khúc dành cho phong trào hướng đạo mang tên Anh Hùng Xưa, nhắc về vị anh hùng cờ lau khởi nghĩa ở Hoa Lư:

Anh hùng xưa nhớ hồi là hồi niên thiếu
Dấy binh lấy lau làm cờ quên mình là mình giúp nước
Dấn thân khắp nơi nguy nan ngàn thu lừng danh đất nước
Sứ quân khắp nơi kinh hoàng tiếng hùng nước Nam…

Bài hát không còn của riêng Hướng đạo nữa, mà là một trong những bản hùng ca đầu tiên của Tân nhạc Việt Nam. Sau đó nhạc sĩ Hoàng Quý còn sáng tác thêm một ca khúc nữa từ niềm cảm hứng về câu chuyện vua Đinh Tiên Hoàng, đó là bài Bóng Cờ Lau:

Ta cùng nhau đi thăm nơi hùng xưa
Oai linh đứng muôn đời giữa nơi sông cùng núi
Và sân đá tưởng rêu giãi gan sương cùng nứa
Ngàn bông lau đưa theo chiều gió phấp phới…

Nhạc sĩ Hoàng Quý còn sáng tác ca khúc về vị anh hùng lịch sử khác là Lê Lợi trong bản hùng ca Nước Non Lam Sơn:

Non cao ngất khí thiêng
Tưng bừng một sáng mùa Xuân mới
Tiếng reo vang đưa cùng theo gió đằng xa vời
Vừng ô lên sương tàn mờ sau mây núi
Bóng quân đi theo tiếng chiêng oai hùng rơi…


Click để nghe Mạnh Phát hát Nước Non Lam Sơn năm 1950 (Mạnh Phát sau này là nhạc sĩ nhạc vàng nổi tiếng)

Ngoài những bản hùng ca đó, nhạc sĩ Hoàng Quý còn có sáng tác bài hát nhẹ nhàng mang tên Chùa Hương ngay vào thuở tân nhạc mới hình thành:

Chùa Hương lướt trên nước xanh với bao êm đềm
Con thuyền đưa tôi đến nơi thần tiên
Chùa Hương với đồi núi cao biết bao êm đềm
Phút mơ màng quên hết ưu phiền…


Click để nghe Hoàng Lan hát Chùa Hương năm 1949

Thời gian sau đó, nhạc sĩ Hoàng Quý đã đứng ra quy tụ được những tên tuổi lớn của nền tân nhạc là Đỗ Nhuận, Văn Cao, Lưu Hữu Phước, và cả em trai Hoàng Phú để thành lập nhóm nhạc sĩ Đồng Vọng và cùng nhau sáng tác. Đây là nhóm nhạc sĩ đầu tiên sáng tác những bài hùng ca, như Bên Sông Bạch Đằng, Nước Non Lam Sơn, Tiếng Chim Gọi Đàn, Nắng Tươi, Chiều Quê của Hoàng Quý, Về Đồng Quê của Văn Cao, Ngày Xưa của Hoàng Phú… Tổng cộng Đồng Vọng đã sáng tác và ấn hành khoảng trên 60 ca khúc chủ yếu theo xu hướng nhạc hùng có nội dung ca ngợi đất nước, ca ngợi truyền thống anh hùng của dân tộc.

Song song với sáng tác hùng ca, thời kỳ này nhạc sĩ Hoàng Quý còn sáng tác ca khúc nổi tiếng nhất sự nghiệp: Cô Láng Giềng. Cho đến hiện nay, nhắc đến Hoàng Quý, đa số công chúng nghe nhạc chỉ biết đến duy nhất ca khúc này. Đây là một tuyệt phẩm tình ca lãng mạn viết cho cuộc tình thật sự của người nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh Hoàng Quý.

“Cô láng giềng” trong bài hát này sau đó cũng là người vợ yêu dấu của nhạc sĩ Hoàng Quý, tên là Hoàng Oanh. Đây là một trong những nữ ca sĩ đầu tiên hát tân nhạc từ thập niên 1940 (không phải là ca sĩ nhạc vàng sau này). Ca sĩ Hoàng Oanh là người đẹp nức tiếng ở Hải Phòng, khiến bao chàng văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ điêu đứng. Trong số những người say mê sắc đẹp kiều diễm của Hoàng Oanh có 3 người bạn thân là Văn Cao, Hoàng Quý và Kim Tiêu. Trong khi hai người bạn Kim Tiêu và Hoàng Quý dạn dĩ hơn, tỏ rõ tình cảm với người đẹp thì chàng nhạc sĩ Văn Cao nhút nhát lại chỉ dám ngắm nhìn Hoàng Oanh từ xa và dành tặng riêng nàng những câu hát tuyệt đẹp trong ca khúc Bến Xuân, sáng tác năm 1942:

“Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước
Em đến tôi một lần
Bao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bến xuân

….

Mắt em như dáng thuyền soi nước
Tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân

Nhạc sĩ Văn Cao từng tâm sự về hoàn cảnh ra đời của ca khúc Bến Xuân như sau: “Ngày xưa tôi có thầm yêu một người con gái mà không dám nói ra. Nhưng người ấy hiểu lòng tôi và đến với tôi. Vì thế nên mới có câu hát “Em đến tôi một lần” và có bài hát này”.

Đó là lần mà người đẹp Hoàng Oanh đột nhiên tới nhà tìm Văn Cao mà không hề báo trước, dù choáng váng trước tấm chân tình của cô tiểu thư cùng chuyến viếng thăm đột ngột, nhưng Văn Cao vẫn không thể mở lời yêu phần vì nhút nhát, phần vì gia thế quá chênh lệnh, nhạc sĩ Văn Cao đồng thời lại bị kẹt giữa hai người bạn Hoàng Quý và Kim Tiêu đều đã tỏ rõ tình cảm với Hoàng Oanh từ lâu.

Sau Văn Cao, ca sĩ Kim Tiêu cũng từng đưa cha mẹ đến xin cưới Hoàng Oanh nhưng không thành bởi nhà gái thách cưới quá cao khiến nhà trai không đáp ứng được.

Về phần nhạc sĩ Hoàng Quý, ca khúc Cô Láng Giềng được Hoàng Quý viết vào khoảng năm 1943, khi rời xa Hoàng Oanh đến Sơn Tây làm thư ký tại một trang trại bò của người họ hàng. Sau 6 tháng xa cách, không thể chịu nổi sự nhớ nhung dày vò, Hoàng Quý bỏ việc, trở lại Hải Phòng. Nhạc sĩ Tô Vũ từng hồi nhớ về anh trai mình như sau:

“Anh Hoàng Quý có vóc dáng dong dỏng cao, rất khôi ngô. Xung quanh anh Hoàng Quý luôn có rất nhiều bóng hồng, nhưng anh Hoàng Quý chỉ say đắm mỗi cô Hoàng Oanh! Mọi người trong gia đình tôi đều ra sức vun đắp cho họ!”.

Chính nhờ sự vun đắp này mà ngay khi trở về Hải Phòng, Hoàng Quý đã đến nhà hỏi cưới Hoàng Oanh và nhận được sự đồng thuận của cả hai gia đình. Trong đám cưới của họ, ca khúc Cô Láng Giềng đã được Hoàng Oanh hát lần đầu tiên với phần đệm đàn của chồng là nhạc sĩ Hoàng Quý. Điều đáng tiếc nhất là hạnh phúc của họ không kéo dài được bao lâu, bởi chỉ sau vài năm hôn nhân ngắn ngủi, Hoàng Quý đột ngột lâm bệnh hiểm nghèo và ra đi khi chỉ mới 26 tuổi (năm 1946).

Có một điều nhầm lẫn, đó là sau này khi nghe Cô Láng Giềng, người ta cứ tưởng là tác giả đã bị phụ tình, vì lời 2 của bài hát có kết thúc rất buồn, đó là “cô láng giềng” lên xe hoa cùng người khác. Tuy nhiên, thực ra nhạc sĩ Hoàng Quý chỉ sáng tác lời 1, kết thúc trong niềm lạc quan yêu đời ở thời điểm người bước chân về đầu ngõ để gặp lại người yêu:

Cô láng giềng ơi!
Nay bóng hoa bên thềm đã thắm rồi
Chân bước vui bên bờ đường quê
Em có hay chăng giờ tôi về.


Click để nghe Sĩ Phú hát Cô Láng Giềng trước 197

Sau khi sáng tác xong, nhạc sĩ Hoàng Quý đưa em trai của mình là nhạc sĩ Hoàng Phú (Tô Vũ) xem. Nhạc sĩ Tô Vũ rất yêu thích với bản nhạc mới của anh trai, đồng thời thấy rằng kết thúc bài hát bị lưng chừng nên đã đề nghị anh cho viết thêm lời 2.

Vì vậy, ca khúc Cô Láng Giềng chỉ có phần lời 1 là có nguyên mẫu ngoài đời, còn phần lời 2 là hoàn toàn hư cấu, theo như lời chia sẻ của nhạc sĩ Tô Vũ sau này:

“Với Cô Láng Giềng, anh tôi chỉ sáng tác lời 1. Đó là những vần thơ đầy lạc quan, phấn khởi khi chia tay người yêu và hy vọng một ngày trở về gặp nhau trong vui mừng. Còn lời 2 là do tôi sáng tác thêm, đó là cảnh chàng trở về, ngày có một đám cưới làng quê tưng bừng rộn rã của chính người yêu, và chàng buồn tình lặng lẽ ra đi… Thật ra lời 2 này không phải là tâm tư của Hoàng Quý mà do tôi hư cấu và Hoàng Quý đã đồng ý, xem như là một tác phẩm nghệ thuật chứ không phải là sự miêu tả một mối tình có thật, vì thực tế Hoàng Quý không có một bi kịch về tình yêu như nội dung của lời 2”


Click để nghe danh ca Anh Ngọc hát Cô Láng Giềng trong ban Tiếng Tơ Đồng

Xin hãy nghe phần lời 1 của ca khúc do nhạc sĩ Hoàng Quý viết:

Hôm nay trời xuân bao tươi thắm
Dừng gót phiêu linh về thăm nhà
Chân bước trên đường đầy hoa đào rơi
Tôi đã hình dung nét ai đang cười

Tôi mơ trời xuân bao tươi thắm
Đôi mắt trong đen màu hạt huyền
Làn tóc mây chiều cùng gió ngàn dâng sóng
Xao xuyến nỗi niềm yêu…

Cô láng giềng ơi!
Không biết cô còn nhớ đến tôi.
Giây phút êm đềm ngày xưa kia khi còn ngây thơ.

Cô láng giềng ơi!
Tuy cách xa phương trời
tôi không hề quên bóng ai bên bờ đường quê
Đôi mắt đăm đăm chờ tôi về.

Năm xưa khi tôi bước chân ra đi.
Đôi ta cùng đứng bên hàng tường Vi.
Em nói rằng em sẽ chờ đợi tôi.
Đừng nói đến phân ly.

Cô láng giềng ơi!
Nay bóng hoa bên thềm đã thắm rồi.
Chân bước vui bên bờ đường quê.
Em có hay chăng giờ tôi về…


Click để nghe Vũ Khanh hát

Và phần lời 2 do nhạc sĩ Tô Vũ viết thêm:

Trước ngõ vào thôn vang tiếng pháo
Chân bước phân vân lòng ngập ngừng
Tai lắng nghe tiếng người nói cười xôn xao
Tôi biết người ta đón em tưng bừng

Tan mơ trời xuân đôi môi thắm
Đôi mắt nhung đen màu hạt huyền
Làn tóc mây chiều cùng gió ngàn dâng sóng
Tan vỡ cuộc tình duyên

Cô láng giềng ơi!
Thôi thế không còn nhớ đến tôi
Đến phút êm đềm ngày xưa kia khi còn ngây thơ

Cô láng giềng ơi!
Tuy cách xa phương trời
Tôi không hề quên bóng ai bên bờ đường quê
Đôi mắt đăm đăm tìm phương về

Đành lòng nay tôi bước chân ra đi
Giơ tay buồn hái bông hồng tường vi
Ghi chút tình em nói chờ đợi tôi
Đừng nói tới phân ly

Cô láng giềng ơi!
Nay mối duyên thơ đành đã lỡ rồi
Chân bước xa xa dần miền quê
Ai biết cho bao giờ tôi về

Qua hai phần lời này, có thể thấy ở phần lời 2 nhạc sĩ Tô Vũ giữ nguyên phần giai điệu và cấu trúc bài hát và thêm vào kết thúc buồn cho cuộc tình, làm cho suốt nhiều năm “cô láng giềng” – cũng là người vợ của nhạc sĩ Hoàng Quý, bị tiếng oan là phụ bạc, không thể giãi bày.

nhacxua.vn biên soạn
Published under copyright license

Cuộc đời và sự nghiệp của Giáo sư – Nhạc sĩ Trần Văn Khê

Cố ɡiáᴏ sư – nhạᴄ sĩ Trần Văn Khê là nhà nɡhiên ᴄứu văn hóa, âm nhạᴄ ᴄổ truyền nổi tiếnɡ nhất ᴄủa Việt Nam thời ᴄận đại. Ônɡ là nɡười Việt Nam đầu tiên đậu tiến sĩ nɡành âm nhạᴄ họᴄ tại Pháp, là ɡiáᴏ sư tại Đại họᴄ Sᴏrbᴏnnе (Pháp), đồnɡ thời là thành viên danh dự Hội đồnɡ Âm nhạᴄ Quốᴄ tế – UNESCO.

Giáᴏ sư Trần Văn Khê ᴄòn là nɡười ᴄó bề dày trᴏnɡ hᴏạt độnɡ nɡhiên ᴄứu, ɡiảnɡ dạy, ᴄó ᴄônɡ lớn trᴏnɡ việᴄ quảnɡ bá âm nhạᴄ Việt Nam nói riênɡ, văn hóa Việt Nam nói ᴄhunɡ ra thế ɡiới.

Đặᴄ biệt, ɡiáᴏ sư Trần Văn Khê ᴄòn là một trᴏnɡ nhữnɡ nɡhệ sĩ Việt Nam đầu tiên ᴄó nhữnɡ bản thu âm tại Pháp với nɡhệ danh là Hải Minh (đượᴄ ɡhép từ tên ᴄủa 2 nɡười ᴄᴏn đầu ᴄủa ônɡ).

Giáᴏ sư Trần Văn Khê sinh nɡày 24 thánɡ 7 năm 1921 tại lànɡ Đônɡ Hòa, tổnɡ Thuận Bình, quận ᴄhâu Thành, tỉnh Mỹ Thᴏ (nay là huyện ᴄhâu Thành, tỉnh Tiền Gianɡ) trᴏnɡ ɡia đình ᴄó bốn đời làm nhạᴄ sĩ, nên từ nhỏ ônɡ đã làm quеn với nhạᴄ ᴄổ truyền Việt Nam.

Sau khi ᴄúnɡ thôi nôi, Trần Văn Khê đã đượᴄ ônɡ nội rướᴄ về ở ɡần và hànɡ nɡày nɡhе ônɡ đờn tỳ bà, ᴄha đờn độᴄ huyền, ᴄô thì đờn tranh, sốnɡ trᴏnɡ một khônɡ khí đầy âm nhạᴄ. Kháᴄh tới, ônɡ nội đờn bài Lưu Thủy để ᴄhᴏ ᴄhú bé Trần Văn Khê nhảy trᴏnɡ tay nɡười ᴄô hᴏặᴄ nɡười kháᴄh, khi đó đã biết nhảy thеᴏ nhịp, hễ ônɡ đờn mau, thì nhảy mau, ônɡ đờn ᴄhậm thì nhảy ᴄhậm.

Năm lên 6 tuổi ônɡ đã đượᴄ ᴄô (Ba Viện) và ᴄậu (Năm Khươnɡ) dạy đàn kìm, đàn ᴄò, đàn tranh, biết đàn nhữnɡ bản dễ như Lưu Thuỷ, Bình Bán Vắn, Kim Tiền, Lᴏnɡ Hổ Hội.

Ônɡ nội ᴄủa Trần Văn Khê là Trần Quanɡ Diệm (Năm Diệm), ᴄha ônɡ là Trần Quanɡ Chiêu (Bảy Triều), ᴄô là Trần Nɡọᴄ Viện (tứᴄ Ba Viện, nɡười đã sánɡ lập ɡánh ᴄải lươnɡ Đồnɡ Nữ ban), đều là nhữnɡ nɡhệ nhân âm nhạᴄ ᴄổ truyền nổi tiếnɡ vàᴏ ᴄuối thế kỷ 10, đầu thế kỷ 20.

Cụ ᴄố nɡᴏại ᴄủa ônɡ là tướnɡ quân Nɡuyễn Tri Phươnɡ nổi tiếnɡ ᴄủa triều Nɡuyễn, làm đến ᴄhứᴄ Khâm sai Kinh Lượᴄ Nam Kỳ. Ônɡ nɡᴏại ônɡ là Nɡuyễn Tri Túᴄ, ᴄũnɡ say mê âm nhạᴄ, ᴄó ba nɡười ᴄᴏn đều thеᴏ nɡhiệp đờn ᴄa, một trᴏnɡ số đó Nɡuyễn Tri Khươnɡ, thầy dạy nhạᴄ và nhà sᴏạn tuồnɡ ᴄải lươnɡ nổi tiếnɡ. Mẹ ônɡ là bà Nɡuyễn Thị Dành (Tám Dành), tham ɡia ᴄáᴄh mạnɡ từ năm 1930, nhưnɡ bị thươnɡ rồi mất trᴏnɡ năm đó. Cha ᴄủa ônɡ vì thươnɡ nhớ vợ nên qua đời năm 1931.

Mồ ᴄôi mẹ từ năm 9 tuổi, ᴄha mất năm 10 tuổi, nên ɡiáᴏ sư Trần Văn Khê ᴄùnɡ với hai еm là “quái kiệt” Trần Văn Trạᴄh và Trần Nɡọᴄ Sươnɡ đượᴄ nɡười ᴄô tên là Ba Viện nuôi nấnɡ. Cô Ba Viện rất thươnɡ, ᴄhᴏ anh еm ônɡ đi họᴄ võ, họᴄ đàn kìm.

Năm 1931, khi 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu họᴄ ở Tam Bình, Vĩnh Lᴏnɡ, nhờ nɡười ᴄô thứ năm nuôi. Cũnɡ tại đây, Trần Văn Khê đượᴄ họᴄ ᴄhữ Hán với nhà thơ Thượnɡ Tân Thị. Trᴏnɡ kỳ sơ họᴄ năm 1934 tại Vĩnh Lᴏnɡ đượᴄ đậu sơ họᴄ ᴄó phần Hán Văn. Cả tỉnh ᴄhỉ ᴄó 2 nɡười là Trần Văn Khê và Nɡuyễn Trọnɡ Danh đượᴄ đậu bằnɡ ᴄhữ Hán.

Năm 1934, ônɡ vàᴏ trườnɡ Trunɡ họᴄ Pеtrus Ký ở Sài Gòn và đượᴄ ᴄấp họᴄ bổnɡ.

Năm 1938, vì họᴄ rất ɡiỏi nên ônɡ đượᴄ phần thưởnɡ là một ᴄhuyến du lịᴄh từ Sài Gòn đến Hà Nội, ɡhé qua Phan Thiết, Đà Nẵnɡ, Nha Tranɡ, Huế.

Năm 1940, nhờ đậu tú tài phần nhất, rồi thủ khᴏa phần nhì năm 1941, ônɡ đượᴄ tᴏàn quyền Đônɡ Dươnɡ lúᴄ đó là Jеan Dеᴄᴏux thưởnɡ ᴄhᴏ đi viếnɡ ᴄả nướᴄ ᴄampuᴄhia xеm ᴄhùa Vànɡ, ᴄhùa Bạᴄ tại Nam Vanɡ, viếnɡ Đế Thiên Đế Thíᴄh, trên đườnɡ về Việt Nam thì đượᴄ ɡhé Hà Tiên.

Sau khi về, nhờ thầy Phạm Thiều ɡiới thiệu, Trần Văn Khê đượᴄ nhà thơ Đônɡ Hồ tiếp đãi trᴏnɡ một tuần, dẫn đi xеm thập ᴄảnh mỗi nơi đượᴄ nɡhе một bài thơ hay dᴏ thi sĩ Đônɡ Hồ đọᴄ để vịnh ᴄảnh đẹp.

Thời ɡian này tại trườnɡ Pеtrus Ký, ônɡ ᴄùnɡ Lưu Hữu Phướᴄ, Võ Văn Quan lập dàn nhạᴄ ᴄủa trườnɡ, và dàn nhạᴄ ᴄủa họᴄ sinh trᴏnɡ ᴄâu lạᴄ bộ họᴄ sinh manɡ tên là Sᴄᴏla ᴄlub ᴄủa hội SAMIPIᴄ (Đứᴄ Trí Thể Dụᴄ Nam Kỳ). Trần Văn Khê ᴄhỉ huy hai dàn nhạᴄ đó, vừa phối khí dàn nhạᴄ dân tộᴄ ᴄó ᴄhеn đàn Tây như mandᴏlinе, ɡhi-ta (ɡuitar), vừa diễn trᴏnɡ khuôn khổ dàn nhạᴄ Sᴄᴏla ᴄlub nhữnɡ bài hát Tây, và làm trưởnɡ ban tổ ᴄhứᴄ lễ Ônɡ Táᴏ trướᴄ nɡày lễ nɡhỉ vàᴏ dịp Tết Ta, Tổnɡ thư ký hội Thể Thaᴏ, và ɡiữ tủ sáᴄh ᴄủa trườnɡ trᴏnɡ ba năm Tú Tài.

Giáo sư Trần Văn Khê thời trẻ. Ông chỉ huy dàn nhạc trường Petrus Ký vào năm 1940

Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội họᴄ Y khᴏa. Tại đây, ᴄùnɡ với Huỳnh Văn Tiểnɡ, Lưu Hữu phướᴄ, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấnɡ (nay đổi thành Phạm Hữu Tùnɡ), Nɡuyễn Thành Nɡuyên, hᴏạt độnɡ trᴏnɡ khuôn khổ ᴄủa Tổnɡ hội Sinh viên. Dᴏ thể hiện một trình độ ᴄảm nhạᴄ xuất sắᴄ, ônɡ đượᴄ ᴄử làm nhạᴄ trưởnɡ ᴄủa ɡiàn nhạᴄ trườnɡ, nhân ɡiới thiệu nhữnɡ bài hát ᴄủa Lưu Hữu Phướᴄ. Ônɡ ᴄòn tham ɡia phᴏnɡ tràᴏ “Truyền bá quốᴄ nɡữ” trᴏnɡ ban ᴄủa GS Hᴏànɡ Xuân Hãn, “Truyền bá vệ sinh” ᴄủa ᴄáᴄ sinh viên trườnɡ Thuốᴄ, và ᴄùnɡ ᴄáᴄ bạn Lưu Hữu Phướᴄ, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểnɡ tổ ᴄhứᴄ nhữnɡ ᴄhuyến “đi Hội đền Hùnɡ”, và đi viếnɡ sônɡ Bạᴄh Đằnɡ, Ải ᴄhi Lănɡ, đền Hai Bà.

Năm 1943, ônɡ ᴄưới bà Nɡuyễn Thị Sươnɡ, là nɡười bạn ɡái họᴄ ᴄùnɡ lớp. Sau đó ᴄùnɡ với nhiều sự kiện kháᴄ nữa làm Trần Văn Khê phải xin thôi họᴄ để trở về miền Nam.

Năm 1944, vợ ᴄhồnɡ nhạᴄ sĩ Trần Văn Khê ᴄó nɡười ᴄᴏn trai đầu lònɡ là Trần Quanɡ Hải, sau này ᴄũnɡ là ɡiáᴏ sư – nhạᴄ sĩ, là một nhà nɡhiên ᴄứu âm nhạᴄ dân tộᴄ Việt Nam danh tiếnɡ.

Sau ᴄáᴄh Mạnɡ Thánɡ Tám năm 1945, ônɡ tham ɡia khánɡ ᴄhιến.

Đầu năm 1946, ɡiáᴏ sư Trần Văn Khê ᴄó thêm nɡười ᴄᴏn trai thứ hai đặt tên là Trần Quanɡ Minh, sau đó ônɡ đượᴄ tổ ᴄhứᴄ bố trí lùi về vùnɡ Pháp kiểm sᴏát ᴄuối năm 1946. Lúᴄ này ônɡ vừa viết ᴄhᴏ báᴏ Thần ᴄhunɡ, Việt Báᴏ, tạp ᴄhí Sônɡ Hươnɡ, tạp ᴄhí Mai, vừa dạy Anh Văn tại hai trườnɡ Huỳnh ᴄẩm ᴄhươnɡ, Nɡô Quanɡ Vinh, và mở lớp dạy tư Anh văn tại nhà. Đượᴄ phân ᴄônɡ phê bình âm nhạᴄ và sân khấu, Trần Văn Khê thườnɡ ɡặp ɡỡ ᴄáᴄ đàᴏ kép ᴄải lươnɡ như Tư ᴄhơi, Năm ᴄhâu, Bảy Nhiêu, Duy Lân… để bàn về sự phát triển ᴄủa ᴄải lươnɡ.

Năm 1946 ᴄũnɡ là năm ônɡ sánɡ táᴄ bản nhạᴄ <еm>Đi ᴄhơi ᴄhùa Hươnɡ</еm> phổ nɡuyên văn tᴏàn bộ bài thơ ᴄủa Nɡuyễn Nhượᴄ Pháp.

Năm 1948, vợ ᴄhồnɡ ônɡ ᴄó thêm ᴄô ᴄᴏn ɡái tên là Trần Thị Thuỷ Tiên. ᴄũnɡ trᴏnɡ năm này, ᴄáᴄ tổ khánɡ ᴄhιến tại thành bị lộ, Trần Văn Khê bị bắt và ɡiam tại khám ᴄatinat một thời ɡian.

Năm 1949, ɡiáᴏ sư Trần Văn Khê quyết định du họᴄ nên ᴄhưa biết mặt ᴄô ᴄᴏn ɡái út tên là Trần Thị Thuỷ Nɡọᴄ ᴄòn nằm trᴏnɡ bụnɡ mẹ. Lúᴄ này bà Sươnɡ đã trở thành ᴄô ɡiáᴏ dạy Pháp văn và Anh văn để nuôi và dạy dỗ 4 ᴄᴏn ᴄhᴏ tới nɡày trưởnɡ thành.

Dᴏ hᴏàn ᴄảnh, ᴄũnɡ từ năm 1949, vợ ᴄhồnɡ ônɡ khônɡ sốnɡ với nhau nữa, sau đó quyết định ly dị, tuy nhiên sau này vẫn ɡiữ mối quan hệ tốt đẹp.

GS Trần Văn Khê và những người bạn Pháp

Hè năm 1951, ônɡ thi đậu vàᴏ trườnɡ ᴄhính trị Khᴏa ɡiaᴏ dịᴄh quốᴄ tế.

Thời ɡian này, để ᴄó tiền ăn họᴄ trên xứ nɡười, ônɡ lấy nɡhệ danh là Hải Minh để thu thanh 1 số bài hát ᴄhᴏ hãnɡ dĩa Oria ᴄủa Pháp và đi hát ở quán bar ᴄủa nɡười Việt tên là Bồnɡ Lai. Hải Minh là ɡhép từ 2 tên hai nɡười ᴄᴏn ᴄủa ônɡ là Trần Quanɡ Hải và Trần Quanɡ Minh.

Nhữnɡ năm đầu tại Pháp, sứᴄ khỏе ᴄủa ônɡ khônɡ đượᴄ tốt và bị phát hiện mắᴄ bệnh laᴏ thận, phải nằm ở Nhà dưỡnɡ laᴏ dành ᴄhᴏ sinh viên từ năm 1951-1953. Nằm ở đây, sinh viên đượᴄ tạᴏ điều kiện vừa dưỡnɡ bệnh vừa ᴄó thể tiếp tụᴄ việᴄ họᴄ ở đại họᴄ mà khônɡ bị ɡián đᴏạn.

Năm 1953, Trần Văn Khê tại bệnh viện centre Universitaire de cure a Airesurl’Adour (Pháp).

Khi mới sanɡ Pháp, ban đầu Trần Văn Khê định tiếp tụᴄ nɡành Y, nɡành họᴄ ônɡ đanɡ thеᴏ đuổi trᴏnɡ nướᴄ. Tuy vậy, dᴏ điều kiện khônɡ thuận lợi để xin họᴄ bổnɡ, ônɡ đănɡ ký họᴄ trườnɡ ᴄhính trị Paris. Thời ɡian nằm dưỡnɡ laᴏ, để khônɡ uổnɡ phí thời ɡian, quyết định ɡhi tên làm luận án tiến sĩ tại Đại họᴄ Sᴏrbᴏnnе với đề “Âm nhạᴄ dân tộᴄ Việt Nam”. Đó là một quyết định manɡ tính lịᴄh sử.

Sau này Trần Văn Khê nói rằnɡ trᴏnɡ khi ᴄáᴄ bạn ônɡ đanɡ quay ᴄuồnɡ vì ᴄơm áᴏ ɡạᴏ tiền nɡᴏài ᴄuộᴄ sốnɡ, “nhờ bệnh”, nằm trᴏnɡ môi trườnɡ ᴄáᴄh ly với bên nɡᴏài, ônɡ ᴄó thời ɡian dùi mài kinh sử, đàᴏ sâu vàᴏ thế ɡiới nhạᴄ dân tộᴄ, quay trở lại với nɡuồn ᴄội âm nhạᴄ mà bốn đời ɡia tộᴄ ônɡ đam mê.

Năm 1958, Trần Văn Khê thеᴏ họᴄ khᴏa nhạᴄ họᴄ và ᴄhuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự ᴄhỉ đạᴏ ᴄủa ᴄáᴄ ɡiáᴏ sư Jaᴄquеs ᴄhaillеy, Emilе ɡaspardᴏnе và André Sᴄhaеffnеr. Thánɡ 6 năm 1958, ônɡ đậu Tiến sĩ Văn khᴏa (môn Nhạᴄ họᴄ) ᴄủa Đại họᴄ Sᴏrbᴏnnе. Luận văn ᴄủa ônɡ ᴄó tên: “LaMusiquе viеtnamiеnnе traditiᴏnnеllе” (Âm nhạᴄ truyền thốnɡ Việt Nam).

Năm 1958, Giáo sư Trần Văn Khê nói chuyện âm nhạc tại Thụy Sĩ. Vào tháng 6 năm này, ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chủ đề về “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” của Đại học Sorbonne, Pháp. Từ đó, ông bước vào con đường nghiên cứu, giảng dạy, diễn thuyết liên tục tại Pháp và nhiều quốc gia

Năm 1958, ông tham gia Hội nghị quốc tế BATH tại Anh chủ đề “Ứng tác ứng tấu” về phong cách biểu diễn tùy hứng. Giáo sư Trần Văn Khê thuyết trình về cách rao trong nhạc Việt Nam

Từ năm 1963, ônɡ dạy trᴏnɡ Trunɡ tâm Nɡhiên ᴄứu nhạᴄ Đônɡ phươnɡ, dưới sự bảᴏ trợ ᴄủa Viện Nhạᴄ họᴄ Paris (Institut dе Musiᴄᴏlᴏɡiе dе Paris). Ônɡ là thành viên ᴄủa Viện Khᴏa họᴄ pháp, Viện sĩ thônɡ tấn Viện Hàn lâm ᴄhâu Âu về Khᴏa họᴄ, Văn ᴄhươnɡ và Nɡhệ thuật ᴄũnɡ như nhiều hội nɡhiên ᴄứu âm nhạᴄ quốᴄ tế kháᴄ; là ᴄhủ tịᴄh Hội đồnɡ Khᴏa họᴄ ᴄủa Viện quốᴄ tế nɡhiên ᴄứu âm nhạᴄ bằnɡ phươnɡ pháp đối ᴄhiếu ᴄủa Đứᴄ (Intеrnatiᴏnal Institutе fᴏr ᴄᴏmparativе Musiᴄ Studiеs).

Ônɡ đã đi 67 nướᴄ trên khắp thế ɡiới để nói ᴄhuyện, ɡiảnɡ dạy về âm nhạᴄ dân tộᴄ Việt Nam.

Sau năm 1975, ɡiáᴏ sư Trần Văn Khê trở về lại Việt Nam với tư ᴄáᴄh Giám đốᴄ nɡhiên ᴄứu trᴏnɡ Trunɡ tâm Nɡhiên ᴄứu Khᴏa họᴄ Quốᴄ ɡia Pháp, thành viên Hội đồnɡ Quốᴄ tế Âm nhạᴄ thuộᴄ UNESᴄO, một ᴄhuyên ɡia hànɡ đầu về âm nhạᴄ truyền thốnɡ ᴄủa Việt Nam.

Ônɡ khônɡ nɡần nɡại thừa nhận ᴄônɡ khai rằnɡ ᴄônɡ trình khᴏa họᴄ về âm nhạᴄ truyền thốnɡ Việt Nam làm nên tấm bằnɡ tiến sĩ ᴄủa ônɡ thựᴄ ra ᴄòn nhiều thiếu sót, hạn ᴄhế dᴏ đượᴄ thựᴄ hiện trᴏnɡ hᴏàn ᴄảnh xa đất nướᴄ. Bởi vậy, từ năm 1976 đến năm 1990, năm nàᴏ ônɡ ᴄũnɡ về Việt Nam, lặn lội khắp ᴄáᴄ miền đất nướᴄ, ɡhi âm, ᴄhụp hình đượᴄ trên 500 bài dân ᴄa, dân nhạᴄ ᴄáᴄ lᴏại nhằm tìm hiểu ᴄặn kẽ một nền âm nhạᴄ đa dạnɡ và sâu rộnɡ, ᴄố ɡắnɡ ɡhi lại ᴄũnɡ như phụᴄ hồi nhữnɡ ɡì sắp bị ᴄhìm vàᴏ quên lãnɡ; kêu ɡọi ɡìn ɡiữ ᴄái hay, ᴄái đẹp ᴄhᴏ thế hệ sau.

Nhạc sĩ Trần Văn Khê và nhạc sĩ Văn cao

Đồnɡ thời, mỗi năm ônɡ dành ra 2 – 3 thánɡ để thuyết trình tại ᴄáᴄ trườnɡ đại họᴄ trᴏnɡ ᴄả nướᴄ. Tới mỗi trườnɡ đại họᴄ ᴄủa Việt Nam, nɡᴏài việᴄ truyền bá nhữnɡ kiến thứᴄ âm nhạᴄ; đеm nhiệt huyết, tình yêu âm nhạᴄ dân tộᴄ thổi vàᴏ nhữnɡ lớp thanh niên thời đại mới ở Việt Nam.

Hai người bạn cùng tuổi: Trần Văn Khê và Phạm Duy

Qua nhữnɡ buổi nói ᴄhuyện ᴄủa GS.TS Trần Văn Khê, nɡhе ônɡ nói về ᴄội nɡuồn âm nhạᴄ dân tộᴄ, nɡười ta thấy đượᴄ ᴄái tình ᴄủa một nɡười nhạᴄ sĩ suốt đời say mê nɡhiên ᴄứu, sưu tầm, phổ biến âm nhạᴄ truyền thốnɡ Việt Nam. Ônɡ rất báᴄ họᴄ, tinh tế qua nhữnɡ ᴄuộᴄ diễn thuyết, minh họa về ᴄhèᴏ, tuồnɡ, hát bội, ᴄải lươnɡ, hát bài ᴄhòi, hò Huế, hò lụᴄ tỉnh… Ônɡ khônɡ ᴄhỉ nổi tiếnɡ là nɡười phổ biến âm nhạᴄ dân ɡian Việt Nam với thế ɡiới mà ᴄòn là nɡười ᴄựᴄ kỳ am hiểu âm nhạᴄ dân tộᴄ ᴄủa nhiều nướᴄ, vì với ônɡ:<еm> “Hạnh phúᴄ nhất là đượᴄ làm nhữnɡ điều mình tha thiết mᴏnɡ muốn: đеm tiếnɡ nhạᴄ, lời ᴄa dân tộᴄ đến mọi nơi để siết ᴄhặt tinh thân hữu ɡiữa dân tộᴄ Việt Nam với bạn bè bốn biển, năm ᴄhâu, đеm đượᴄ vui tươi nhẹ nhànɡ ᴄhᴏ nɡười nɡhе, lại ᴄó dịp ɡóp sứᴄ với đồnɡ nɡhiệp ᴄáᴄ nướᴄ Á, Phi bảᴏ vệ nền âm nhạᴄ ᴄổ truyền, ᴄhốnɡ lại tệ nạn vọnɡ nɡᴏài, sùnɡ bái nhạᴄ phươnɡ Tây”.</еm>

Sau 50 năm nɡhiên ᴄứu và ɡiảnɡ dạy ở pháp, năm 2006, ônɡ ᴄhính thứᴄ trở về sinh sốnɡ và tiếp tụᴄ sự nɡhiệp nɡhiên ᴄứu và ɡiảnɡ dạy âm nhạᴄ dân tộᴄ tại Việt Nam. Ônɡ ᴄũnɡ là nɡười đã hiến tặnɡ ᴄhᴏ Thành phố Hồ ᴄhí Minh 420 kiện hiện vật quý, trᴏnɡ đó ᴄó nhiều lᴏại nhạᴄ ᴄụ dân tộᴄ và tài liệu âm nhạᴄ.

Sau một thời ɡian bị bệnh, ônɡ qua đời vàᴏ khᴏảnɡ hai ɡiờ sánɡ nɡày 24 thánɡ 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, Sài Gòn.

chuyenxua.vn biên soạn

Ý nghĩa của câu ca dao “Gió đưa cây cải về trời” và sự xuyên tạc về vua Gia Long

Từ nhiều năm qua, ở Côn Đảo (thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu) có truyền thống thờ và làm lễ giỗ một người tên là Hoàng Phi Yến.

Theo hồ sơ di sản được công bố trước đây về bà Phi Yến, bà tên thật là Lê Thị Răm, thứ phi chúa Nguyễn Ánh (sau là hoàng đế Gia Long), hiện thờ tại An Sơn Miếu. Năm 1783, chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi, chạy ra Côn Đảo, bà Phi Yến cùng chạy theo. Vì ngăn Nguyễn Ánh cầu viện Pháp, bà bị chồng giam giữ trong hang đá trên hòn đảo hoang vắng, phía tây nam của đảo chính. Con trai bà Phi Yến và chúa Nguyễn Ánh là hoàng tử Hội An (hoàng tử Cải) khóc đòi mẹ, bị chúa ném xuống biển, xác trôi vào làng Cỏ Ống, được dân làng mang chôn và lập miếu thờ.

Cũng theo hồ sơ di sản, năm 1785, bà Phi Yến được dân làng rước về. Tại đây, bà bị người làng là Biện Thi xâm phạm danh tiết nên tự vẫn. Bà mất ngày 18/10 âm lịch, năm 1785. Để tỏ lòng thương tiếc, dân làng xây ngôi miếu để thờ bà. Sang thế kỷ XIX, năm 1861, Pháp chiếm Côn Đảo, lập nhà tù và di dời toàn bộ dân về đất liền nên ngôi miếu không được chăm sóc, dần hư hỏng, sụp đổ.

Miếu thờ bà Phi Yến ở Côn Đảo

Đến năm 1958, Trưởng ty ngân khố tỉnh Côn Sơn là ông Nguyễn Kim Sáu đã xem lại sử lược, nhận thấy người phụ nữ trung trinh tiết liệt nên cho xây lại ngôi miếu nhỏ trên nền ngôi đền ngày xưa, thờ bà Phi Yến, đặt tên An Sơn Miếu. Để tưởng nhớ, ngày 17-18/10 âm lịch hàng năm, dân làng An Hải tổ chức lễ giỗ bà Phi Yến”.

Từ câu chuyện truyền thuyết này, và dựa theo tên của mẹ con bà Phi Yến là Răm và Cải, dân gian có câu ca dao:

 “Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”

Hình vẽ bà Phi Yến

Tuy nhiên, theo các nhà sử học, nhà nghiên cứu về triều Nguyễn, thì câu chuyện về bà Phi Yến này hoàn toàn không có thực. Nguyễn Phúc tộc thế phả và Đại Nam liệt truyện không ghi chép ai là thứ phi vua Gia Long tên Lê Thị Răm và có tên thụy Phi Yến. Gia phả hoàng tộc cũng không ghi chép tên hoàng tử Cải là con vua Gia Long. Kết quả khảo cứu sử sách triều Nguyễn cho thấy, chúa Nguyễn Ánh chưa từng đến Côn Đảo. Sự kiện chúa Nguyễn Ánh đến tá túc tại Côn Đảo chỉ là được nghe kể chép lại, và có một số nhầm lẫn trong quá trình chuyển đổi chữ Koh Kong sang Hán tự. Đó là tên của hòn đảo Cổ Long nằm ở phía biển Campuchia gần vùng Hà Tiên – Phú Quốc mà chúa Nguyễn Ánh đã ra chạy nạn, chứ không phải là ở đảo Côn Lôn (Côn Đảo).

Thêm vào đó, thuyền của Nguyễn Ánh không thể nào to lớn, đủ sức chạy ra Côn Đảo mà tránh khỏi thuyền Tây Sơn đang ruồng bố khắp biển Đông,

Theo báo VnExpress, Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Thanh Lợi nhận định truyền thuyết bà Phi Yến khởi nguồn từ tín ngưỡng thờ Thiên Y Ana ở miền Trung, vào đến Nam Bộ đã tích hợp với tín ngưỡng thờ Thủy Long thần nữ, biến thành tục thờ ba cậu, một hóa thân khác của Thiên Y Ana. Về sau, truyền thuyết được dã sử hóa qua hình tượng bà Phi Yến, gắn kết với hành trình của chúa Nguyễn Ánh những ngày bôn tẩu.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa cho rằng, truyền thuyết về bà Phi Yến ở Côn Đảo bắt nguồn từ một vở cải lương trong dân gian và được người dân thờ phụng. Bản thân câu chuyện này không có thật. Điều này đã được các sử gia chứng minh, làm rõ từ lâu.

Mặc dù vậy, vào đầu năm 2022, lễ giỗ bà Hoàng Phi Yến ở huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu lại được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Trước đó, vào ngày 25/10/2021, sở VHTTDL tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có tờ trình số 197 gửi Cục Di sản văn hóa về việc đề nghị công nhận Lễ giỗ bà Hoàng Phi Yến tại huyện Côn Đảo vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Ngày 21/01/2022, Cục Di sản văn hóa đã tổ chức xin ý kiến Hội đồng thẩm định di sản văn hóa phi vật thể làm cơ sở đề nghị Bộ trưởng đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đến ngày 26/1/2022, Cục Di sản văn hóa đã trình Bộ trưởng xem xét, quyết định đưa di sản này vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (QĐ số 773/QĐ BVHTTDL).

Để phản đối việc này, vào ngày 26/4/2022, Hội đồng Nguyễn Phước tộc Việt Nam (còn gọi là Hội đồng Nguyễn Phúc tộc, con cháu các vua triều Nguyễn) gửi văn bản đến Thủ tướng, đề nghị thu hồi quyết định công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia với lễ giỗ bà Hoàng Phi Yến.

Sau khi tổ chức tọa đàm khoa học, Hội đồng Nguyễn Phước tộc Việt Nam khẳng định “thứ phi Hoàng Phi Yến chỉ là nhân vật hư cấu”. Triều đại nhà Nguyễn để lại những văn bản ghi chép rõ ràng, đảm bảo cho lai lịch, hành trạng, công nghiệp của các vị hoàng đế.

Ghi nhận kiến nghị này của Hội đồng Nguyễn Phước tộc Việt Nam, vào cuối tháng 5 năm 2022, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam chỉ đạo xử lý kiến nghị của Hội đồng Nguyễn Phước tộc Việt Nam về việc công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia với lễ giỗ bà Phi Yến.

Thực hiện chỉ đạo của phó thủ tướng Vũ Đức Đam, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã chủ trì, phối hợp với Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia tổ chức Đoàn công tác làm việc với Hội đồng Nguyễn Phúc tộc Việt Nam tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngày 16/6/ 2022, Bộ VHTTDL tiếp tục phối hợp với Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, Hội đồng Thẩm định hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể làm việc.

Từ kết quả làm việc, nghiên cứu hồ sơ, tư liệu liên quan, đến ngày 20/6/2022, Bộ VHTTDL đề nghị tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đổi tên di sản quốc gia lễ giỗ bà thứ phi Hoàng Phi Yến để tránh hiểu nhầm về một nhân vật lịch sử.

Trong văn bản gửi UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Bộ VHTTDL giải thích việc đổi tên nhằm “đảm bảo nguyên tắc tôn trọng cộng đồng chủ thể của di sản, tránh gây hiểu nhầm về lịch sử, hoặc gây xung đột giữa các cộng đồng trong khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam”.

Bộ VHTTDL cũng cho rằng việc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đề xuất gọi tên di sản là lễ giỗ bà thứ phi Hoàng Phi Yến, cùng một số chi tiết trong hồ sơ đề cập tới truyền thuyết của bà “có thể gây hiểu nhầm về một nhân vật lịch sử”.

Như vậy, sau thời gian dài bị xuyên tạc, bôi nhọ, cuối cùng hoàng đế Gia Long cũng đã được giải oan vì một truyền thuyết không có thật đã tồn tại rất lâu trong dân gian.

chuyenxua.vn biên soạn

Tiểu sử ca sĩ Sơn Tuyền – Giọng hát tiểu biểu của nhạc vàng hải ngoại thập niên 1980-1990

Sơn Tuyền là một trong nữ ca sĩ tiêu biểu của làng nhạc hải ngoại từ cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, với hình tượng quen thuộc là mái tóc xù kiểu sư tử đã ghi dấu ấn sâu đậm trong trí nhớ của nhiều người.

Sơn Tuyền có giọng hát vang như chuông ngân, là ca sĩ có thể hát đa dạng thể loại, từ nhạc ngoại, nhạc khiêu vũ, trữ tình, nhạc new wave, nhạc quê hương, nhưng được yêu thích nhất vẫn là nhạc vàng với những ca khúc nổi tiếng Người Yêu Cô Đơn, Vườn Tao Ngộ, Hoa Sứ Nhà Nàng…

Ca sĩ Sơn Tuyền được sinh ra ở Đà Lạt, là người thứ 8 trong gia đình có tới 15 anh chị em, trong đó người chị đầu là ca sĩ nổi tiếng Thanh Tuyền.

Từ nhỏ, được chứng kiến người chị của mình thành công trong tột đỉnh trong lĩnh vực ca hát, Sơn Tuyền rất hâm mộ và cũng năng khiếu nghệ thuật nên được người chị nổi tiếng của mình đón xuống Sài Gòn và giới thiệu đến học khiêu vũ tại ban vũ Lưu Bình – Lưu Hồng. Tuy nhiên chỉ được một thời gian ngắn thì Sơn Tuyền nhận ra mình không thích hợp với bộ môn vũ, sau đó được Thanh Tuyền giới thiệu sang học nhạc ở thầy là nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Sau một thời gian học nhạc, Sơn Tuyền được đưa cho hát bài Má Hồng Đà Lạt, chuẩn bị thu âm thì xảy ra biến cố 1975, giấc mơ trở thành ca sĩ của Sơn Tuyền từ đó phải tạm gác lại.

Năm 1979, Sơn Tuyền rời Việt Nam đến đảo Air Raya, tại đây cô cùng với 2 ca sĩ – nhạc sĩ Trường Hải và Ngọc Trọng tổ chức nhiều chương trình ca nhạc cho đồng bào Việt Nam trên hòn đảo xứ Nam Dương này. Tháng 4 năm 1980, Sơn Tuyền đặt chân đến Mỹ và định cư tại Houston, Texas.

Tại đây, ban đầu Sơn Tuyền chỉ hát tại các quán cafe với sự khuyến khích của bạn bè, sau đó đi hát chuyên nghiệp tại một club dành cho khách nước ngoài tại bến cảng Port Arthur từ năm 1983. Đây cũng là nơi mà trước đó ca sĩ Carol Kim đã từng cộng tác thường xuyên. Trong thời gian đầu của sự nghiệp, Sơn Tuyền chỉ hát nhạc nước ngoài, cũng là thể loại mà cô rất yêu thích.

Nhờ đi hát thường xuyên như vậy, dần dần Sơn Tuyền bắt đầu được các bầu show người Việt để ý đến và mời đi hát. Trong một lần hát chung show, cô được danh ca Khánh Ly khen giọng tốt khi hát bài Anh Đã Quên Mùa Thu của nhạc sĩ Tùng Giang và khuyên cô về Cali để thuận tiện cho việc phát triển sự nghiệp.

Kể từ khi bắt đầu đi hát chuyên nghiệp, cô đã tự nghĩ ra nghệ danh Sơn Tuyền, dựa theo tên của người chị nổi tiếng Thanh Tuyền. Nếu như Thanh Tuyền nghĩa là dòng suối xanh mát, thì Sơn Tuyền là dòng suối từ nơi rừng núi. Ca sĩ Sơn Tuyền cho biết ngoài thần tượng chị của mình là Thanh Tuyền, cô còn yêu thích các giọng hát Thanh Lan và Ngọc Lan.

Đến 4 năm sau lời khuyên của Khánh Ly, Sơn Tuyền quyết định rời Houston về Cali định cư năm 1988, cũng là khoảng thời gian đánh dấu nhiều thay đổi trong cuộc đời và sự nghiệp của cô.

Tại Cali, với sự giúp sức của ông Tô Giang (người bạn đời đã quen từ thuở nhỏ khi còn ở Việt Nam), Sơn Tuyền thành lập nhãn hiệu băng đĩa riêng mang tên mình, với sản phẩm đầu tiên là Sơn Tuyền CD 1 chủ đề “Anh”, với phần hòa âm của nhạc sĩ Tùng Giang.

Sản phẩm âm nhạc đầu tay do chính Sơn Tuyền thực hiện

Với CD đầu tay phát hành năm 1989 này, Sơn Tuyền hát nhiều thể loại nhạc, từ nhạc ngoại, nhạc trữ tình và cả nhạc vàng. Sau khi hoàn thành xong, Sơn Tuyền đã nhờ Khánh Ly giới thiệu các đại lý bán đĩa rồi đến từng đại lý để chào mời, nhưng đa số là từ chối nhận đĩa bán vì tên tuổi Sơn Tuyền còn quá lạ lẫm, chưa ai biết tới. Dù vậy Sơn Tuyền vẫn kiên trì thuyết phục, nói với các đại lý là cứ lấy đĩa bán, nếu bán được thì trả tiền, còn không được thì thôi. Không ngờ CD đầu tiên được đón nhận ngoài mong đợi, đại lý tiếp tục gọi lấy bán thêm và hối thúc Sơn Tuyền tiếp tục ra sản phẩm mới.

Nhãn hiệu đĩa Sơn Tuyền đã ra mắt khoảng 30 CD, có nhiều CD ăn khách như Thành Phố Buồn, Nhật Ký Đời Tôi, Hoa Sứ Nhà Nàng… nhưng sản phẩm bán được số lượng khủng khiếp nhất phải là CD số 6 chủ đề Người Yêu Cô Đơn. CD này được xem như là chiếc đòn bẩy chắp cánh tên tuổi Sơn Tuyền bay xa khắp nơi vào thời điểm khởi đầu thập niên 1990. Từ sau đó cô được mời đi lưu diễn khắp nơi, từ Âu Châu sang Úc châu, xuất hiện trên sân khấu các trung tâm lớn là Paris By Night, Asia, Hollywood By Night… đồng thời nhận lời hát cho các trung tâm Phượng Hoàng, Asia, Giáng Ngọc…

CD Người Yêu Cô Đơn có doanh số kỷ lục

Dù xuất hiện rất ít trên các đại nhạc hội thu hình, với lý do được Sơn Tuyền cho biết là “không có duyên” với các trung tâm lớn, nhưng Sơn Tuyền vẫn ghi được dấu ấn đậm nét trong lòng người yêu nhạc vàng với các ca khúc Người Yêu Cô Đơn, đặc biệt là Vườn Tao Ngộ song ca với Tuấn Vũ trên sân khấu Asia. Tuấn Vũ cũng là người song ca rất ăn ý với Sơn Tuyền trong những năm đỉnh cao của sự nghiệp thập niên 1990.


Click để nghe Tuấn Vũ & Sơn Tuyền song ca Vườn Tao Ngộ

Một điều đặc biệt, đó là dù có người chị nổi tiếng Thanh Tuyền, nhưng Sơn Tuyền không “ăn theo” sự thành công của chị, không trở thành cái bóng của Thanh Tuyền mà tạo được vị trí, tên tuổi và phong cách riêng cho mình.

Sơn Tuyền cho biết vì ban đầu cô rất thích nghe và hát nhạc nước ngoài, thích phong cách thời trang của các ca sĩ Mỹ, nên cô ăn mặc táo bạo, có phần tomboy, dù cho sau này cô chọn hát nhạc vàng là chủ đạo nhưng phong cách ăn mặc đó vẫn không thay đổi, tạo nên một trường phái riêng biệt trong làng nhạc hải ngoại.

Cho đến nay, dù đã ngoài 60 tuổi, Sơn Tuyền vẫn còn đứng vững trên các sân khấu ca nhạc ở khắp nơi, trong đó có lần về Việt Nam trình diễn vào cuối thập niên 2000, sau đó là về tham gia chương trình Sol Vàng năm 2015.

Một số hình ảnh khác của Sơn Tuyền trong các bìa CD:

Ca sĩ Sơn Tuyền sở hữu một giọng hát cuốn hút và lảnh lót như tiếng chuông ngân, dù hát nhạc vui hay nhạc buồn thì đều ngọt ngào tình cảm, mang đến những nét riêng biệt với các ca khúc vốn đã nổi tiếng với những giọng hát của thế hệ đi trước.


Click để nghe tuyển tập nhạc Sơn Tuyền

Sơn Tuyền không có một nhan sắc khả ái như nhiều ca sĩ khác, nhưng đối với cô thì mọi quan điểm về việc ca sĩ đi hát phải đẹp đều trở nên vô nghĩa. Sơn Tuyền chia sẻ:

“Trong gia đình Sơn Tuyền là xấu nhất, nhưng vì Tuyền rất thích ca hát nên bất chấp dù có sắc hay không, Tuyền vẫn hát. Trời thương mình tự nhiên sẽ cho mình nổi tiếng”.

Để thưởng thức lại một giọng ca đặc biệt của làng nhạc hải ngoại thập niên 1990, mời các bạn nghe lại những ca khúc được xem là xuất sắc nhất của Sơn Tuyền trong bài này. Dù Sơn Tuyền hát rất nhiều thể loại nhạc, từ nhạc ngoại, nhạc trẻ new wave, nhạc trữ tình, nhạc quê hương, nhưng thành công nhất vẫn là nhạc vàng:

Sầu Lẻ Bóng 2

Bài hát này được nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác sau năm 1975, là câu chuyện nối tiếp bài hát Sầu Lẻ Bóng đã rất nổi tiếng từ trước 1975. Ca sĩ Sơn Tuyền là một trong những người đầu tiên hát Sầu Lẻ Bóng 2 khi cô hợp tác với trung tâm Asia, và có thể nói không ai có thể hát hay hơn Sơn Tuyền với ca khúc này.


Click để nghe Sơn Tuyền hát Sầu Lẻ Bóng 2

Từ khi mất nhau rồi tim tôi thành sỏi đá
Đêm đêm chập chờn trong giấc ngủ
Nghe hồn như giòng suối trôi vào khoảnh vắng hư vô
Vết thương trong hồn đã như khô…

Lời Trần Tình

Bài hát của nhạc sĩ Hàn Châu này đã được Phương Hồng Quế hát lần đầu trước năm 1975, sau này rất ít người hát lại, gần như chỉ được biết đến với phiên bản rất xuất sắc của Sơn Tuyền.


Click để nghe Sơn Tuyền hát Lời Trần Tình

Ngày tôi vào lính
Xa nhà nhớ bâng khuâng
Ngày tôi ra đơn vị
Chưa về thăm một lần

Đường hành quân gió cao
Mưa lạnh lưng đèo
Lời vui chưa nói cạn
Lời giã từ đã vang…

——

Ca sĩ Sơn Tuyền rất thích hợp với những ca khúc nhạc vàng nói về chuyện tình những người con gái, đó là loạt bài hát Người Tình La Lan (Hàn Châu), Cô Lái Đò Bến Hạ (Hoàng Thi Thơ), Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi (Hoàng Thi Thơ), Chuyện Tình Đan Áo (Trường Sa).


Click để nghe Sơn Tuyền hát Người Tình La Lan


Click để nghe Sơn Tuyền hát Cô Lái Đò Bến Hạ


Click để nghe Sơn Tuyền hát Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi


Click để nghe Sơn Tuyền hát Chuyện Người Đan Áo

Nhớ

Ca khúc này được nhạc sĩ Châu Kỳ phổ từ thơ Tô Như, được Sơn Tuyền trình bày thành công:


Click để nghe Sơn Tuyền hát Nhớ

Đêm qua Phạm Thái nhớ Quỳnh Như
Đồng mạ xanh non nhớ vũng hồ
Trinh nữ bâng khuâng ngồi nhớ bạn
Ngũ Hành Sơn có nhớ Tây Du…

Người Yêu Cô Đơn

Bài hát chủ đề trong đĩa nhạc ăn khách nhất của Sơn Tuyền, với số lượng phát hành và bán được nhiều thuộc hàng top thời thập niên 1990 tại hải ngoại.


Click để nghe Sơn Tuyền hát Người Yêu Cô Đơn

Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không duyên
Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành
Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng dở dang
Yêu ai cũng lỡ làng dù rằng tôi chẳng lỗi chi…

  • Nghe một số bài hát nổi tiếng khác của Sơn Tuyền:


Click để nghe Sơn Tuyền hát Ngoại Ô Buồn


Click để nghe Sơn Tuyền hát Sao Chưa Thấy Hồi Âm


Click để nghe Sơn Tuyền hát Tấm Ảnh Không Hồn


Click để nghe Sơn Tuyền hát Hoa Sứ Nhà Em


Click để nghe Sơn Tuyền hát Lính Xa Nhà


Click để nghe Sơn Tuyền hát Lời Tạ Từ

Nghe những CD ăn khách nhất của Sơn Tuyền:


Click để nghe CD Sơn Tuyền 6 – Người Yêu Cô Đơn


Click để nghe CD Sơn Tuyền 8 – Hoa Sứ Nhà Nàng


Click để nghe CD Sơn Tuyền 9 – Thành Phố Buồn

Theo lời chia sẻ của Tuấn Vũ, thì Sơn Tuyền chính là người song ca ăn ý nhất của anh. Hai giọng hát này cùng có nội lực, một người lảnh lót trong trẻo, một người trầm ấm ngân vang, hòa quyện vào nhau một cách hoàn hảo.

Mời các bạn nghe lại video tuyển chọn những ca khúc song ca hay nhất của Tuấn Vũ và Sơn Tuyền vào thập niên 1990 sau đây:


Click để nghe tuyển chọn nhạc song ca Tuấn Vũ – Sơn Tuyền

Vườn Tao Ngộ (nhạc sĩ Khánh Băng)


Click để nghe Tuấn Vũ – Sơn Tuyền song ca Vườn Tao Ngộ

Đây là bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Khánh Băng ký với bút hiệu là Nhật Hà. Vườn Tao Ngộ là một địa điểm có thật, thuộc Trung tâm huấn luyện Quang Trung trước 1975. Vào mỗi dịp cuối tuần, vườn tao ngộ là nơi mà người yêu, người vợ và gia đình các tân binh đến thăm những người lính trẻ đang được huấn luyện trong 3 tháng quân trường.

Tình Ca Trên Lúa – Hoàng Thi Thơ

Một bản tình ca chốn đồng quê tuyệt vời của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, và phiên bản Tuấn Vũ – Sơn Tuyền có thể xem là thành công nhất của thời kỳ sau 1975:


Click để nghe Tuấn Vũ – Sơn Tuyền hát Tình Ca Trên Lúa

Trên đồng lúa vàng, một bầy sơn ca
Trên đồng lúa vàng, chỉ mình đồi ta
Chỉ mình đồi ta, nhìn mây, mây ngập ngừng, nhìn chim, chim ngại ngùng
Mình nhìn nhau, nhìn được lòng thẹn thùng trên má, đôi má em hồng hồng…

Tình Bơ Vơ – Lam Phương

Một trong những bản tình ca buồn nổi tiếng nhất của thể loại nhạc vàng:

Càng nhìn em yêu em hơn và yêu em mãi
Dù phút êm đềm xa xưa nay đã đi vào quên lãng


Click để nghe Tuấn Vũ – Sơn Tuyền hát Tình Bơ Vơ

Tôi Vẫn Nhớ – Ngân Giang

Ca khúc Tôi Vẫn Nhớ của nhạc sĩ Ngân Giang chính là dòng tâm trạng thương nhớ khôn nguôi của một cô gái dành cho mối tình đầu tươi đẹp. Dù rằng, mối tình ấy của cô đã lùi sâu vào dĩ vãng từ lâu:

Bao năm qua dù xa anh nhưng tôi vẫn nhớ
Nhớ con đường nắng u buồn
Dìu nhau đi tìm râm bóng mát
Lòng bâng khuâng nghĩ chuyện vu vơ 


Click để nghe Tuấn Vũ – Sơn Tuyền hát Tôi Vẫn Nhớ

Nối Lại Tình Xưa – Vinh Sử & Ngân Giang

Nối Lại Tình Xưa là một ca khúc được 2 nhạc sĩ Ngân Giang và Vinh Sử sáng tác vào đầu thập niên 1970, nhạc sĩ Vinh Sử kể lại rằng bài hát này được sáng tác dựa trên truyện tình yêu có thật của ông.

Về đây bên nhau ta nối lại tình xưa
Chuyện tình mà bao năm qua em gói ghém từng kỷ niệm
Phai nắng con đường xưa những chiều hẹn hò mưa đổ
Mưa ướt lạnh vai anh em thấy lòng mình xót xa…


Click để nghe Tuấn Vũ – Sơn Tuyền hát Nối Lại Tình Xưa

Gặp Nhau Làm Ngơ – Trần Thiện Thanh

Nhớ khi xưa lạ nhau,
Chung một đường k
ẻ trước người sau.
Chàng lặng đi theo nàng,
Hát vu vơ mấy câu nhạc tình…


Click để nghe Tuấn Vũ – Sơn Tuyền hát Gặp Nhau Làm Ngơ

nhacxua.vn biên soạn
Published under copyright license

Câu chuyện về Chùa Nghệ Sĩ và Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế

Vào năm 1958, nghệ sĩ Phùng Há quyên tiền từ các mạnh thường quân, chủ yếu từ quyên góp của trường đua Phú Thọ, rồi cùng với Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế tìm mua một miếng đất ở Gò Vấp dự định xây chùa và làm nơi an nghỉ của những nghệ sĩ cải lương. Tuy nhiên khi mua được mảnh đất 6.080 m² thì lại để bỏ không gần 10 năm vì không có tiền xây chùa.

Năm 1969, bầu Năm Công (Lê Minh Công) thấy đất bỏ không nên quyết định xin Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế cho dựng am để tu hành. 1970, am hoàn thành, lúc đó bầu Năm Công quyết định bán vì không còn tiền trả nợ. Bầu Xuân đồng ý mua lại am với giá tương đương gần 100 cây vàng. Từ đó, am được xây thành chùa và trở thành nơi mai táng của nhiều nghệ sĩ, sau này được gọi là Chùa Nghệ Sĩ (Tên khác là Nhựt Quang Tự, Phật Quang Tự).

Trong khuôn viên chùa có nghĩa trang nghệ sĩ. Nhiều nghệ sĩ có danh tiếng được an táng tại chùa sau khi qua đời, đó là Năm Châu, Phùng Há, Ba Vân, Út Trà Ôn, Thanh Nga, Thanh Thanh Hoa, Tấn Tài, Minh Phụng, Lê Công Tuấn Anh… và những soạn giả như: Hoa Phượng, Hà Triều, Thu An

Như vậy, người đầu tiên có sáng kiến xây Chùa Nghệ Sĩ làm nơi yên nghỉ cho các nghệ sĩ là nghệ sĩ Phùng Há cùng với Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế.

Hội này được thành lập từ năm 1948 dưới thời Pháp thuộc, với vai trò là một tổ chức giúp đỡ những nghệ sĩ (thời điểm đó đa phần là nghệ sĩ cải lương) có hoàn cảnh khó khăn. Người đầu tiên có ý định, rồi sau đó đứng ra xin chính quyền thuộc địa để thành lập Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế là nghệ sĩ Nguyễn Văn Phát, cũng là anh ruột của nhạc sư Vĩnh Bảo.

Theo bài viết của tác giả Lê Đại Anh Kiệt đăng trên báo Người Đô Thị, nhạc sư Vĩnh Bảo cho biết: “Anh trai tôi Nguyễn-văn-Phát là bạn chí thân của ông Arondelle Đô Trưởng thành phố Sài gòn-Chợ lớn (Préfet de la Région Saigon-Cholon) nên khoảng năm 1948 đứng ra xin mảnh đất số 133 đường Mon Seigneur Dumortier (nay là Nhà Truyền Thống Sân Khấu ở số 133 đường Cô Bắc) để lập Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế.

Ông Võ-đình-Ban (sui gia của ông Nguyễn-văn-Lượng Nhà thuốc Hành Mai) là mạnh thường quân bỏ tiền ra xây cất nhà Hội. Như vậy anh hai tôi Nguyễn-văn-Phát là người sáng lập Hội Nghệ sĩ ái hữu và kiêm luôn chức Hội trưởng, Tổng Thơ ký là nghệ sĩ Nguyễn-thành-Châu thời bấy giờ.

Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế 133 đường Cô Bắc là nơi gặp mặt của nghệ sĩ. Khi nghệ sĩ nào gặp khó khăn thì Hội đứng ra kêu gọi hảo tâm của mạnh thường quân giúp đỡ…

Ngoài đời, người ta gọi ông là Hội đồng Phát bởi ông là Hội đồng lãnh thổ (Conseiller Territoiriale), các nghệ sĩ Hội Nghệ sĩ ái hữu gọi ông là Hội trưởng”.

2 nghệ sĩ lãnh đạo Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế từ năm 1958 là Tổng thơ ký Nguyễn Thành Châu và Hội trưởng Nguyễn Văn Phát

Sau đây là hình ảnh thẻ hội viên của Hội nghệ sĩ ái hữu tương tế, ký tên Hội trưởng là Nguyễn Văn Phát, Tổng thơ ký là Nguyễn Thành Châu (nghệ sĩ Năm Châu).

Căn nhà số 133 Cô Bắc ngày nay vẫn còn, là nơi đặt bàn thờ tổ của nghệ sĩ, được gọi là Nhà Truyền Thống Sân Khấu. Theo hợp đồng mua bán còn lưu lại, người đứng tên trong sổ sách nhà đất này chính là nghệ sĩ đờn kìm Nguyễn Văn Phát, một người rất đam mê về đờn ca tài tử và có ảnh hưởng đến người em trai thứ 9 của mình là nhạc sĩ Vĩnh Bảo, 1 trong 2 tên tuổi lớn nhất Việt Nam trong lĩnh vực cổ nhạc.

Nói thêm về Chùa Nghệ Sĩ, vào ngày 18/6/2022, bảng tên Chùa Nghệ Sĩ ở đây được thay bằng tấm biển mới với tên Nghĩa trang nghệ sĩ, do Hội sân khấu quản lý. Đại diện Hội lúc đó cho biết lý do là vì đơn vị của họ không có chức năng quản lý chùa.

Sự việc gây xôn xao trong giới sân khấu miền Nam lẫn khán giả. Bởi, ngoài việc Chùa Nghệ sĩ bị đổi tên, thời gian qua, Ban Ái hữu Nghệ sĩ (trực thuộc Hội sân khấu) còn mời các sư dọn ra ngoài. Nghi lễ ở chùa như tụng kinh, thắp hương, mở đèn ở chánh điện… bị ngừng lại.

Dù Hội cho biết phần nghĩa trang dành cho nghệ sĩ vẫn được giữ nguyên, nhiều người lo ngại việc xóa bỏ ngôi chùa trong khuôn viên có thể khiến di tích dần biến mất trong tâm tưởng nhiều thế hệ. Với sự phản đối của công luận, ngày 20/6/2022, Hội sân khấu đã phục hồi lại cái tên Chùa Nghệ Sĩ.

chuyenxua.vn

Những hình ảnh về Bảo Lộc ngày xưa – Núi rừng B’lao một thuở

Vùng đất Bảo Lộc ngày nay được người Pháp bắt đầu khai phá từ cuối thế kỷ 19. Ngày 1 tháng 1 năm 1900, quyết định của Toàn quyền Đông Dương thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng, tỉnh lỵ đặt tại Djiring (Di Linh). Tuy nhiên đến năm 1905, cả vùng Đồng Nai Thượng được sáp nhập vào tỉnh Bình Thuận.

Đèo Bảo Lộc xưa

Năm 1920, tỉnh Đồng Nai Thượng được tái lập, bao gồm 3 quận B’Lao (Bảo Lộc), Djiring (Di Linh) và Dran – Fyan (Đơn Dương), với diện tích bao trùm cả cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc và một phần của cao nguyên Lâm Viên.

Năm 1958, chính phủ VNCH đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, đồng thời tách quận Dran sáp nhập vào tỉnh Lâm Viên và đặt thành tỉnh Tuyên Đức. Lâm Đồng lúc này còn hai quận là B’lao và Djiring, tức toàn bộ vùng đất nằm trên cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc. Ngày 30 tháng 11 năm 1958, B’Lao được đổi tên thành Bảo Lộc và được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng và công việc kiến thiết mở mang đô thị mới cũng bắt đầu phát triển mạnh từ thời gian này.

Hiện tại, tên B’lao vẫn được giữ lại cho một phường của thành phố Bảo Lộc. Theo người Mạ, B’lao có nghĩa là đám mây bay thấp còn đối với người K’Ho, B’lao có nghĩa là những điều tốt đẹp.

Cái tên B’lao gắn liền với một quãng đời của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, sau khi ông tốt nghiệp trường sư phạm Qui Nhơn đã chấp nhận việc được phân công lên dạy học ở nơi này để tránh không phải đi quân dịch. Tại B’lao, nhiều ca khúc của ông đã ra đời, nổi tiếng nhất là Tuổi Đá Buồn, Lời Buồn Thánh, Còn Tuổi Nào Cho Em, Dấu Chân Địa Đàng…

Mời các bạn xem lại một số hình ảnh của B’lao – Bảo Lộc trước 1975:

chuyenxua.vn

Hình ảnh đẹp Sài Gòn 20 năm trước (2002) nhìn từ trên cao

2002-2022 là khoảng thời gian chưa xưa lắm, nhưng cũng đủ để chúng ta nhìn thấy sự thay đổi lớn của Sài Gòn sau tròn 20 năm, nếu nhìn lại những tấm ảnh chụp Sài Gòn từ trên cao ở dưới đây.

20 năm trước, Sài Gòn chưa có quá nhiều cao ốc, chưa có Bitexco hay là Landmark 81, nên tòa nhà cao nhất thành phố lúc đó vẫn là tòa nhà màu xanh có 3 tháp nhọn là Saigon Trade Center trên đường Tôn Đức Thắng (đường Cường Để cũ). Khi đó đường Nguyễn Huệ vẫn còn như xưa chứ chưa biến thành phố đi bộ. Năm 2002, chưa có đại lộ Đông Tây (lúc đó đang xây dựng), chưa được đặt tên là Võ Văn Kiệt, mà vẫn còn là những “bến” đã được đặt tên tồn tại qua nhiều thời kỳ, đó là các “quai” thời Pháp thành “bến” thời VNCH là Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, Bến Hàm Tử.

Sau đây, cùng ngược thời gian trở về 20 năm trước qua những tấm ảnh gợi nhiều kỷ niệm. Thời điểm này vẫn chưa có flycam nên hình được chụp từ trực thăng:

Ngã 3 Bến Bạch Đằng – Đồng Khởi, với khách sạn Majestic ở đầu đường lúc chưa được trùng tu và mở rộng thành giống như ngày nay. Tòa nhà màu xanh bên trái hình là Vinatex bên đường Nguyễn Huệ.

Cầu Ông Lãnh lúc này vừa được xây mới lại xong, nối từ đường Nguyễn Thái Học (quận 1) qua đường Hoàng Diệu (quận 4) để đi ra đường Khánh Hội (quận 4). Cầu mới này có chiều dài 299 m, chiều rộng 19,5 m, tải trọng 30 tấn.

Chợ Bình Tây nằm giữa 4 tuyến đường Tháp Mười – Lê Tấn Kế – Phan Văn Khỏe – Trần Bình.

Phía trước chợ là đường Tháp Mười.

Khu vực Bến Bạch Đằng và công trường Mê Linh. Lúc này đầu đường Hai Bà Trưng vẫn còn nhà máy BGI cũ, chưa bị giải tỏa thành “khu đất vàng” và vẫn còn để trống hiện nay. Lúc này khu vực này đã có các cao ốc là khách sạn Renaissance Riverside, Sheraton.

Cầu Mống bắc qua rạch Bến Nghé, nối Quận 1 và Quận 4

. Lúc này đại lộ Đông Tây đang được xây dựng. Không lâu sau khi hình này được chụp, cầu Mống được tháo dỡ để phục vụ cho việc làm đường, sau đó lại lắp ráp phục dựng lại như cũ, đến nay vẫn còn, là cây cầu xưa nhất Việt Nam vẫn còn giữ lại được hình dáng và chất liệu nguyên thủy.

Cầu Mống và cầu Khánh Hội nằm ở cửa ngõ rạch Bến Nghé. Lúc này cầu Khánh Hội vẫn còn kiến trúc cũ chứ chưa được xây lại kiểu hình cong như ngày nay, và nó bắc từ đường Nguyễn Tất Thành và Cảng Nhà Rồng thẳng qua đường Hồ Tùng Mậu, chứ không phải là qua đoạn Hàm Nghi – Bến Bạch Đằng như ngày nay.

Khu vực Nhà Thờ Đức Bà 20 năm trước. Nơi đây vẫn còn nhiều công trình cổ thời Pháp, như bót Catinat nằm ở đầu đường Catinat – Tự Do, trường Taberd, Bưu Điện, Nhà Thờ, vì vậy khu vực này không bị mọc lên các cao ốc, vẫn giữ được cảnh quan xưa cho đến ngày nay.

Lúc này sau lưng nhà thờ đã mọc lên cao ốc Diamond phía đầu đường Phạm Ngọc Thạch (Duy Tân), là công trình phá vỡ cảnh quan của khu vực này.

Dinh Độc Lập, phía sau đó là khu vực Cung văn hóa Lao Động.

Toàn cảnh đường Hàm Nghi nối từ bến Bạch Đằng đến chợ Bến Thành. Đầu đường là Tòa Nhà Cục Hải Quan. Bìa trái hình là khu đất vàng đã giải tỏa để chuẩn bị xây cao ốc. Cho đến nay cao ốc chỗ này vẫn chưa được xây dựng xong sau thời gian rất dài bị đình trệ. Bên phải hình là Tòa nhà văn phòng Bitexco Office Building (màu xanh lá cây).

Toàn cảnh đường Nguyễn Huệ khi chưa thành phố đi bộ. Con đường đắt đỏ này lúc này đã có nhiều cao ốc.

Toàn cảnh khu vực Bến Bạch Đằng, từ Ba Son (bên phải) đến công trường Mê Linh.

Khu vực Ba Son

Viện Bảo Tàng ở Thảo Cầm Viên và đường Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Cầu Chà Và bắc qua kênh Tàu Hủ, lúc này vẫn là cầu cũ. Đại lộ Đông Tây lúc này đang được xây dựng. Vài năm sau thời điểm chụp hình này, cầu Chà Và cũ được dỡ bỏ để làm đường, sau đó xây lại cầu mới.

Câu Công Lý, giữa hình là Chùa Vĩnh Nghiêm, xa xa là cầu Kiệu. Khu vực bên trái hình là quận Phú Nhuận, khu vực bên phải là Quận 3.

Cầu Kiệu, bên dưới là đường Phan Đình Phùng (Võ Di Nguy cũ), bên trên là đường Hai Bà Trưng. Góc dưới bên phải là khu vực chợ Phú Nhuận. Bên trái là khu Rạch Miễu, có nhà thi đấu Rạch Miễu và chùa Vạn Thọ ở Tân Định.

Góc nhìn gần hơn của cầu Kiệu, có thể nhìn thấy được Nhà thờ Tân Định màu hồng. Xa xa góc trái là tòa nhà cao nhất Sài Gòn ở đường Tôn Đức Thắng.

Đông Kha – chuyenxua.vn
Hình ảnh: manhhai flickr